Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

81 Pages«<6364656667>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Nam  
#1281 Posted : Saturday, May 29, 2021 10:07:24 AM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 6,082

Thanks: 778 times
Was thanked: 318 time(s) in 253 post(s)

46 năm sau và họ là ai?


May 27, 2021
Lão Gà Tre

Bài viết cũ, có hiệu đính và xin đăng lại: Bốn mươi sáu năm (46) so với chiều dài lịch sử của một triều đại thời xưa thì ngắn, nhưng với một đời người thì dài lắm, nhất là đối với những ai quan tâm đến thời cuộc, đến vận mệnh khổ đau của dân tộc Việt Nam thì nó lại càng dài hơn.
30 Tháng Tư: Chương trình định cư người tị nạn lớn nhất trong lịch sử Canada

UserPostedImage

Bốn Mươi Sáu Năm trôi qua quả thật như một giấc mơ hãi hùng! Máu, nước mắt, khổ lụy, nghiệt ngã vẫn còn đây! Những cuộc vượt thoát vô tiền khoáng hậu của người Việt trốn chạy cộng sản — mà cả thế giới đều biết — vẫn còn ghi đậm trong lịch sử nhân loại. Riêng đối với người Việt tị nạn, làm sao có thể quên được những ngày tháng hãi hùng ấy. Có lẽ nó sẽ nằm sâu, nằm mãi trong tiềm thức của mỗi chúng ta.

46 năm rồi mà người đi vẫn đi, không còn đi được bằng cách vượt biển, vượt biên thì cũng tìm cơ hội khác để đi: ODP (đoàn tụ), lấy vợ, lấy chồng, du học, chạy chọt làm sao để rời xa cái gọi là “thiên đường xã hội chủ nghĩa” . Chính ngay những người theo cộng sản cả đời, những người được hưởng ơn mưa móc như núi, nhưng nếu có cơ hội ra đi là họ đi ngay để trốn khỏi cái “thiên đường” quái đản ấy.

Chừng đó thôi cũng đủ để chứng minh một cách hùng hồn rằng con người không thể sống dưới chế độ cộng sản. Khổ thay, Việt Nam là một trong bốn nước cộng sản còn lại mà loay hoay mãi vẫn không thể nào thoát khỏi cái thiên đường mù đầy oan nghiệt ấy! Nếu miền Nam Việt Nam không bị bán đứng vào tay cộng sản vào 1975, thì chắc chắn, sau sự sụp đổ của khối cộng sản Đông Âu và Nga Sô, thì toàn cõi Việt Nam bây giờ đã là một xứ tự do, giàu mạnh như bao nhiêu quốc gia văn minh khác. Ít ra cũng bằng Nam Hàn với nền văn minh nhân bản như ngày nay.

Khỏi cần phải tố cáo hay chê bai chế độ; khỏi cần luận tội tập đoàn cộng sản lãnh đạo đất nước đã tàn phá quê hương như thế nào sau 46 năm thống nhất hai miền Nam-Bắc; khỏi cần so sánh với các nước láng giềng và các quốc gia khác trên thế giới — cũng bằng ấy thời gian đã vươn lên như đi hia bảy dặm — mà cứ nhìn vào xã hội tan nát, luân thường đạo lý tiêu tan, thị trường cung cầu quái dị, con người chạy theo vật chất một cách điên cuồng là biết ngay.

Khỏi cần phải nghe những luận điệu vì cảm tính của một số người về thăm quê hương rồi trở lại hồ hởi ca ngợi: “Đất nước ngày nay khá rồi, thôn quê đã có điện nước, người dân có quyền đi lại và có quyền chửi luôn cán bộ cộng sản”. Thế sao? Chỉ có ba bóng đèn thắp sáng trong vài túp lều thô sơ, nghèo khổ, lạc hậu; chỉ có vài người vụt miệng chửi đổng cán bộ là đã có tự do, là đất nước khá rồi hay sao? Trong khi đó đa số các quốc gia tự do trên thế giới đã và đang tiến vào một đời sống sung túc và văn minh nhất của con người lại không đem ra so sánh!

Đúng! Việt Nam đã có tự do, nhưng đó là thứ tự do của giai cấp cai trị được “tự do” ăn trên ngồi trước, “tự do” trấn lột quần chúng để thụ hưởng những xa hoa, phù phiếm trên nỗi thống khổ của toàn dân, vốn đã quá khổ trong một thế kỷ qua vì chiến tranh bom đạn. Phải, Tự là “tự” họ quyết định sự sống của người khác bằng họng súng và Do là “do” họ tạo nên những thủ đoạn đê hèn để áp đảo người dân, tước đoạt mọi thứ quyền tự do căn bản của con người.

Đúng! Có tiến bộ, nhưng là thứ tiến bộ lừa đảo, mưu mô xảo quyệt, cướp giựt để đàn áp mọi sự chống đối của người dân — khao khát hít thở không khí tự do — đã và đang đứng lên đòi tự do tôn giáo, tự do được sống làm người.

Nói tới chính trị là phải chứng minh bằng dữ kiện, bằng đường lối cai trị của một chế độ đang điều hành guồng máy quốc gia. Chế độ ấy như thế nào thì chúng ta đã thừa biết, khỏi cần nhắc lại làm gì cho tốn giấy tốn mực. Nếu họ thật tâm lo lắng cho quyền lợi của quê hương đất nước, cho người dân được hưởng những quyền tối thiểu của con người thì 46 năm qua đất nước đã giàu lên rồi. Nếu họ có thật tâm xây dựng đất nước thì tại sao chúng ta phải bỏ nước ra đi, phải tiếp tục ra đi cho đến ngày nay, và phải chấp nhận sống chết trong đường tơ kẽ tóc để tìm tự do? Vì thế, những luận điệu nông cạn thiếu suy nghĩ ấy chỉ là mớ lý luận có lợi cho cục tuyên vận của CSVN.

Vậy, họ là ai?

Họ là những thành phần ích kỷ, chỉ biết sống cho mình, miễn sao có một đời sống sung túc trên xứ người là đã thỏa mãn. Còn quê nhà, bà con làng xóm có sống như thời kỳ “đồ đá” thì cũng mặc. Miễn sao lâu lâu ta về thăm cái xứ lạc hậu ấy để thí cho một vài đồng đô-la, vừa được tiếng, vừa được những người thọ ơn ca tụng cho thỏa mãn cái tự ái vị kỷ của mình.

Họ là ai?

Họ là thành phần cán bộ được cộng sản cấy theo đoàn người tỵ nạn, nằm vùng khắp mọi nơi, đóng vai quốc gia trá hình, chờ cơ hội là bò dậy tấn công vào hàng ngũ người Việt Quốc Gia, vốn đã chia rẽ trầm trọng do bản chất vị kỷ, phi chính trị của những người sinh hoạt ngoài công cộng. Họ có mặt sinh hoạt nội gian, nội gián trong mọi tổ chức, đảng phái chính trị. Mục tiêu chính của họ là phá nát các tổ chức chính trị chống cộng, bày mưu, chước kế đâm bên này, thọc bên kia, gây mâu thuẫn nội bộ, tung những nguồn tin giật gân ra ngoài làm cho quần chúng mất niềm tin… Mục tiêu của họ chỉ có thế thôi. Khi đã thành công vì phá được các tổ chức chính trị đi đến tình trạng gần như bị tê liệt thì họ đi đâu và làm gì? Dĩ nhiên là họ lặn thật kỹ, viện cớ chán ngán thế sự, lui về ngồi rung đùi đếm tiền và hưởng nhàn, ôm theo một đống tiền, gọi là công tác phí trọn đời.

Họ là ai?

Thà rằng tỏ rõ thái độ đầu hàng như một ông tướng, ông nhạc sĩ “nhớn” đã quay về với đảng và nhà nước, ăn năn sám hối để được hưởng “lộc” cuối đời. Dù xú danh muôn thuở, người đời nguyền rủa, nhưng ít ra họ đã biểu lộ thái độ chính trị dứt khoát theo cộng để người ta phân biệt lằn ranh biên giới rõ ràng giữa họ và chúng ta. Còn hơn những tên nằm vùng sống với nhiều mặt nạ khác nhau để quậy phá các tổ chức chính trị, hội đoàn, cộng đồng; thậm chí trong giới cầm bút cũng không thiếu những tên tự xưng là người cầm bút, nhưng bất xứng, lại háo danh, hám lợi. Chính họ là một thứ bồi bút không hơn không kém, viết lách theo đơn đặt hàng, núp bóng trong tổ chức Văn Bút, để “cố đấm ăn xôi” một cách quyết liệt với mục đích xé nát tổ chức nhằm xóa bỏ dấu tích còn lại của người Việt quốc gia trên diễn đàn quốc tế. Họ cố đấm, dù không ăn được xôi, đến độ một cách phi lý, phi văn hóa mà bất cứ ai có chút suy nghĩ cũng phải nghi ngờ chắc chắn đàng sau họ phải có một sức đẩy nào đó. Họ chính là “những kẻ vô lại may mắn” như nhà văn PNY đã đặt tên trong một loạt bài tố cáo đích danh những tên vô lại này trước công luận vào năm 2008.

Họ là ai?

Họ cũng là những người vượt biển vượt biên ra đi tìm tự do, nhưng sống “với vật chất và vì vật chất” nên theo thời gian, thời thế thế thời phải thế. Họ đã quay lưng, cúi đầu phục vụ trực tiếp, hay gián tiếp cho cục tuyên vận CSVN, sẵn sàng đâm vào vết thương lòng của tập thể người Việt tỵ nạn để kiếm lợi mà không cần suy nghĩ tới giống nòi dân tộc.

Họ là ai?

UserPostedImage

Họ là những nhà “làm chính trị” theo kiểu lập dị, với mớ lý luận thiên tả, ưa bềnh bồng, không định hướng như con thuyền không bến. Họ sống bên này với thế giới tự do văn minh, phủ phê vật chất nhưng luôn luôn mơ mộng ở một “thiên đường” khác: thiên đường của hoang tưởng, thiên đường của không tưởng. Nhưng nếu họ được sống thực trong cái “thiên đường” ấy, chắc chắn là họ phải lên cơn điên và trở thành người điên sớm nhất. Tiếc thay, khi va chạm với thực tế trong cái xã hội tha hóa ấy thì hối hận cũng đã muộn màng!

Họ là ai?

Họ là thành phần làm chính trị theo kiểu salon, thích đọc diễn văn “xa đấm, gần đâm”. Nghĩa là ở xa thì hô hào “Đấm” đá, những ở gần thì “Đâm” đầu bỏ chạy. Họ cứ tưởng sẽ hòa hợp được với cộng sản bằng một mớ kiến thức về kỹ thuật mà họ học được từ hải ngoại. Về nước họ sẽ được trọng dụng và đảng cộng sản sẽ nghe theo họ. Đúng là hoang tưởng!

Họ là ai?

Họ là những thương gia, với quan niệm “chỉ làm thương mại, không làm chính trị”. Giấc mơ của họ là giấc mơ của những “đại gia” thời mới, được nhà nước ca tụng và tâng bốc lên tận mây xanh. Trước khi đặt vấn đề đầu tiên là “tiền đâu”; dĩ nhiên là họ phải chạy theo giai cấp thống trị, làm theo lệnh của bạo quyền để kiếm lợi. Vì vậy, với thành phần chỉ biết mua bán để kiếm lợi thì trách họ làm gì cho bận tâm. Với họ. quê hương dân tộc không bằng một quả chanh, khi vắt hết nước là liệng vỏ ngay. Gần đây, nhiều “đại gia” đổ tiền về làm ăn vì được đảng nâng bi ca tụng hết mình, nhưng chỉ một thời gian sau thì những đại gia này đều bị trấn lột sạch sành sanh…kêu Trời không thấu! Cái giá “không làm chính trị, chỉ biết làm ăn” họ đã phải trả một cách cay đắng.

Lời kết:

May thay, dân tộc Việt trường tồn qua mấy ngàn năm nay cũng nhờ vào hồn thiêng tổ tiên phù trợ, nên thành phần “Họ Là Ai” nói trên chỉ là thiểu số ung nhọt, sâu mọt trong đại gia đình dân tộc Việt mà thời nào cũng có trong lịch sử. Còn đại đa số những người bỏ nước ra đi tìm tự do thật sự từ năm 1975 đến nay, vẫn một lòng, một chí hướng, đó là giải thể chế độ cộng sản để đưa đất nước tiến lên trong tự do dân chủ. Ngày nào còn bóng dáng cộng sản là còn đấu tranh đòi quyền sống cho đồng bào ruột thịt đang chịu đựng trăm đắng ngàn cay ở quê nhà.

Bốn Mươi Sáu Năm rồi, mặc dù những hiện tượng chia rẽ trong hàng ngũ của chúng ta đã xảy ra vì địch và vì chính chúng ta tạo nên cũng có, nhưng những chiến sĩ can trường đã và đang âm thầm hay công khai đấu đầu với CSVN ở khắp mọi nơi vẫn kiên trì, bất khuất, vẫn một lòng với đại cuộc đấu tranh chống cộng. Ở quốc nội, các vị chân tu của các tôn giáo, các nhà đấu tranh cho dân chủ vẫn không sờn lòng đang đứng lên đòi quyền sống, quyền hành đạo, quyền được phát biểu tư tưởng, mặc dù bị bắt bớ giam cầm dã man trong hơn 46 năm qua. Ở hải ngoại, vẫn những chiến sĩ xung trận ngăn chặn mọi sự xâm nhập của CSVN trên mọi chiến tuyến. Xin cầu chúc “chân cứng đá mềm” tới những tấm lòng bất khuất mà thời nào họ cũng đứng lên trong dòng sinh mệnh của dân tộc Việt.

Là những người may mắn thoát khỏi nanh vuốt của tập đoàn cộng sản, chúng ta không thể nào ngồi yên để hưởng thụ, mà đã đến lúc phải góp sức vào công cuộc chung, tiếp tay với những anh hùng đang xả thân vì nước bằng cách vận động, góp tinh thần — dù chỉ là lời nói — cho quí vị lãnh đạo tinh thần, những nhà đấu tranh cho dân chủ ở trong nước đang ngày đêm gian khổ, sống chết trước sự đàn áp dã man của bạo quyền cộng sản.

Có như thế thì chúng ta mới không phụ lòng những anh hùng liệt sĩ đã nằm xuống cho chính chúng ta được sống. Có như thế thì mới không hổ thẹn với chính lương tâm mình mỗi khi nhìn lại chặng đường lưu lạc gian khổ suốt Bốn Mươi Sáu Năm qua: “Hãy tự mình nhắc nhở: Ta đã làm được gì cho quê hương dân tộc”?

Có như thế mới làm gương cho thế hệ trẻ trong việc gìn giữ nguồn gốc và tinh thần trách nhiệm đối với sự sinh tồn của dân tộc. Một Nguyễn, một Lý,một Lê, một Trần… cũng chỉ là một thiểu số nhỏ bé, bé hơn cả những hòn sỏi khi ném xuống mặt hồ yên lặng, vẫn chưa đủ sức làm gợn sóng lăn tăn.

Thế nhưng, mặt khác của vấn đề giờ đây là sự tỉnh thức của chúng ta, của tập thể người Việt không cộng sản, đó là đoàn kết và cố gắng chăm sóc cho thế hệ nối tiếp gìn giữ truyền thống giáo dục gia đình, bởi qua nhiều thử thách về mặt xã hội, chính trị trong những năm gần đây, họ đã bị ảnh hưởng sâu đậm bởi hệ thống giáo dục của Hoa Kỳ, một số không nhỏ thế hệ trẻ gốc Việt thứ hai, thứ ba đã và đang bị lún sâu vào quan niệm Xã Hội Chủ Nghĩa – một bước tiến nguy hiểm đó là Chủ Nghĩa Cộng Sản đang lấn sân xảy ra nơi chúng ta sinh sống: Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Cuối cùng, xin được thắp nén hương lòng gửi đến hồn thiêng của các anh linh tử sĩ, đồng bào vượt biển, vượt biên đã anh dũng nằm xuống cho đất mẹ sớm nở hoa tự do. Đồng thời cũng xin được nguyện cầu bình an cho những anh hùng dân tộc đang ngày đêm chiến đấu một mất một còn với CSVN trên mọi mặt trận.

Hiệu đính bài viết cũ: 35 năm, 46 năm hay 50 năm sau và bao nhiêu năm nữa…, nếu còn cộng Tàu, cộng Việt thì bài viết này vẫn mãi mãi không sai dù chỉ một chữ.

Họ là ai? Chắc quý vị đã biết hơn chúng tôi nhiều. Bó tay!

Lão Gà Tre, tháng 4 năm 2021

Edited by user Saturday, May 29, 2021 10:12:15 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Nam  
#1282 Posted : Saturday, May 29, 2021 10:42:29 AM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 6,082

Thanks: 778 times
Was thanked: 318 time(s) in 253 post(s)

Truyền Thông, Big Tech và Trung Cộng Trong Chính Trị Hoa Kỳ


May 28, 2021
Kim Nguyễn

Đại dịch cúm Wuhan đã gây tử vong cho hơn nửa triệu người tại Hoa Kỳ, đồng thời đã gây ra khủng hoảng kinh tế, xáo trộn đời sống dân chúng vì trẻ em không được đi học, người lớn không được đi làm, tất cả phải ở nhà để tránh đại dịch. Hơn thế nữa, đại dịch này là một trong những nguyên nhân đã phá cuộc bầu cử Tổng Thống năm 2020, gây thiệt hại không những cho cá nhân TT Trump mà còn thay đổi cả hướng đi của Hoa Kỳ từ một quốc gia thịnh vượng, an bình xuống một quốc gia phải đối mặt với nhiều vấn nạn: di dân, lạm phát, thất nghiệp, bất ổn, . . . Đối ngoại thì phải trực diện với Nga, Trung Cộng và Iran. Đồng minh Đức giờ đây cũng chạy theo Nga vì Joe Biden đã hủy lệnh cấm áp đặt lên Nga của TT Trump. Joe Biden còn xuống nước xin được gặp Putin, và hai nhà lãnh đạo này sẽ gặp nhau vào trung tuần tháng Sáu sắp tới tại Geneva.

UserPostedImage

Ngay từ khi đại dịch bắt đầu bộc phát tại Hoa Kỳ, TT Trump đã ra lệnh cấm du khách tới từ Trung Cộng. Căn cứ vào những xác chết bị bỏ la liệt trong bệnh viện và trên đường phố của Wuhan, TT Trump gọi đại dịch là “cúm Wuhan”. Bằng chứng rõ ràng như vậy nhưng đảng Dân Chủ và truyền thông đã chế nhạo, cho rằng TT Trump đã xuyên tạc nhằm bài ngoại Trung Cộng . Sau hơn một năm, dựa vào tin tức của tình báo Hoa Kỳ, nhiều chính trị gia và giới báo chí đã nhìn nhận rằng vi khuẩn đại dịch rất có thể xuất phát từ phòng thí nghiệm Wuhan có liên hệ tới quân đội Trung Cộng . Ngày 25/5 mới đây, TT Trump đã nói trên một vài cơ quan truyền thông và trên trang mạng donaldjtrump.com là “Bây giờ thì mọi người đã đồng ý rằng tôi đã nói đúng, ngay từ khi còn rất sớm tôi đã nói là nguồn gốc của Covid 19 hoặc cúm Tầu tới từ Wuhan. Tôi đã thấy rất rõ như vậy nhưng tôi đã bị chỉ trích thậm tệ.”

Trung Cộng là thủ phạm gây ra đại dịch

Khi Hoa Kỳ bắt đầu bị đại dịch hoành hành, đảng Dân chủ và truyền thông đã không hợp tác với TT Trump chống đại dịch, họ đã làm ngơ vì sợ mất lòng Trung Cộng. Tệ hại hơn nữa là đảng Dân Chủ và truyền thông thiên tả đã thông đồng với đảng cộng sản Trung Cộng (ĐCSTQ) trong chiến dịch tuyên truyền che đậy nguồn gốc của đại dịch. Cuối tháng Giêng năm 2020, sau khi TT Trump ra lệnh cấm du khách tới từ Trung Cộng , Joe Biden đã nắm bắt cơ hội để vận động tranh cử, ông ta gay gắt chỉ trích TT Trump là bài ngoại. Truyền thông báo chí đã đồng loạt hùa theo, họ cho rằng bệnh cúm không có gì đáng lo ngại, TT Trump muốn làm lớn chuyện để kỳ thị người Trung Cộng . Nhà báo Farhad Manjoo của New York Times viết “Cúm Wuhan thì không đáng sợ hãi như bệnh dịch SARS năm 2003 hoặc bệnh MERS năm 2012, không tới một ngàn người trên khắp thế giới bị chết vì những bệnh này. Bệnh cúm mới chỉ làm cho khoảng 130 người chết trong khi mùa cúm mỗi năm có tới 15 triệu người bị bệnh.” CNN nói “Đây là việc làm đổ thêm dầu vào lửa cho mục đích kỳ thị và bài ngoại.” Đa số truyền thông báo chí khác cũng có những lập luận tương tự nhằm chỉ trích TT Trump.

Chủ Tịch Hạ Viện Nancy Pelosi đã xé thông điệp của TT Trump đọc tại Quốc Hội vào tháng Hai năm 2020, thông điệp này nói tới vấn đề cần đối phó với cúm Wuhan. Bà Nancy Pelosi này còn chế nhạo TT Trump bằng cách mời gọi “hãy tới thăm Chinatown ở San Francisco vì nơi đây rất an toàn và thức ăn thì tuyệt vời.” Khi tình hình trở nên tệ hại vào cuối tháng Tư, mọi người đã nhận ra rằng đây là một đại dịch chứ không phải là một dịch cúm thường, lúc đó bà Nancy Pelosi vội đổi giọng, quay ngược lại chỉ trích TT Trump là đã không ra lệnh cấm du lịch sớm hơn và rộng rãi hơn. Trong chương trình của Joy Reid trên MSNBC, bà ta gọi đại dịch cúm là “Trump Virus.” Truyền thông báo chí cũng không bỏ lỡ cơ hội, ngày nào họ cũng lên án TT Trump, cho rằng Tổng Thống không có kế hoạch chống đại dịch. Joe Biden khoe là ông ta có kế hoạch chống đại dịch rất hữu hiệu. Thật ra Joe Biden chẳng có kế hoạch gì, ông ta đã trốn dưới hầm nhà suốt một năm trời, và khi đắc cử đã ra lệnh đóng cửa toàn quốc trong nhiều tháng.

UserPostedImage

Trong mấy ngày qua giới truyền thông đã bắt đầu tin rằng Trung Cộng chính là thủ phạm gieo rắc đại dịch cho thế giới. Wall Street Journal đưa tin “Theo một báo cáo của cơ quan tình báo Hoa Kỳ, có 3 nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên Cứu Sinh Học Wuhan (phòng thí nghiệm Wuhan) đã bị bệnh vào cuối tháng 11 năm 2019. Những người này có nhiều dấu hiệu như bị dịch Covid 19, và phải tới bệnh viện điều trị. Đây là thêm một lý do cần có cuộc điều tra.” Thượng Nghị Sĩ (TNS) Tom Cotton (R-AR) đã nhiều lần tố cáo rằng rất có thể đại dịch đã phát xuất từ một phòng thí nghiệm ở Wuhan. Một số phóng viên đã gán cho TNS Tom Cotton là người tung ra thuyết âm mưu. Bây giờ những nhà báo này có xin lỗi TNS Tom Cotton vì những phán đoán sai lầm của họ?

Ngày 11/5 vừa qua, BS Anthony Fauci đã lên tiếng rằng ông ta không tin đại dịch là do bộc phát tự nhiên mặc dù trước đây rất nhiều lần ông ta khẳng định rằng đại dịch là do bộc phát tự nhiên, và đã bác bỏ nghi vấn nguồn gốc đại dịch tới từ phòng thí nghiệm Wuhan. TNS Rand Paul (R-KY) nghi ngờ có sự thông đồng của BS Fauci với ĐCSTQ và đề nghị lấy khẩu cung BS Fauci. Một chi tiết cần lưu ý là Phòng Thí Nghiệm Wuhan đã nhận được tiền của Hoa Kỳ trong nhiều năm do Viện Dị Ứng và Bệnh Truyền Nhiễm Quốc Gia tài trợ mà BS Fauci là Giám Đốc của viện nghiên cứu này.

Thứ Ba vừa qua, CNN đưa tin là “Chính quyền Biden ra lệnh ngưng một cuộc điều tra đã được bắt đầu từ thời chính quyền Trump nhằm tìm hiểu về nguồn gốc của đại dịch bị nghi ngờ nó phát xuất từ một phòng thí nghiệm Trung Cộng .” Nhà báo Frances Martel viết trên Fox News: “Một thành viên chính thức của ĐCSTQ cho hay nguồn gốc của Chinese virus có thể bị rò rỉ từ phòng thí nghiệm của căn cứ quân đội Hoa Kỳ tại Fort Detrick, Maryland.” Trong khi ĐCSTQ tung tin xuyên tạc, cáo buộc quân đội Hoa Kỳ đã gây ra đại dịch cúm thì Joe Biden và đảng Dân Chủ lại cố gắng bằng mọi cách bảo vệ Trung Cộng. Phải chăng Joe Biden muốn bảo vệ lợi ích riêng tư cá nhân và cho đảng Dân Chủ. (Tin giờ chót: Joe Biden đã đồng ý cho mở lại cuộc điều tra sau khi bị nhiều áp lực từ truyền thông cũng như từ nhiều nhà lập pháp Cộng Hòa và Dân Chủ.)

UserPostedImage

Trong cuộc phỏng vấn trên Newsmax tối Thứ Ba ngày 25/5, TT Trump nói “Tôi đã có một quyết định táo bạo nhất trong đời là quyết định chi số tiền 12 tỷ để đặt mua thuốc chủng ngừa trước khi biết nó có hiệu quả hay không, và không biết khi nào mới có thuốc. BS Fauci và nhiều người nói rằng phải đợi tới 5 năm và cũng có thể sẽ không bao giờ có thuốc. Tôi đã đánh cược, và quyết định đánh cược này đã cứu được hàng chục triệu người trên thế giới. Kết quả phát minh được thuốc chủng ngừa trong thời gian kỷ lục 9 tháng là một kỳ công.” Nhờ vậy, hiện nay đã có khoảng 50% dân chúng được chích ngừa, Joe Biden và Kamala Harris là những người được chích ngừa sớm nhất vào tháng 12 năm vừa qua. Đạt được kết quả có thuốc chủng ngừa là do công trình của TT Trump và các thành viên trong chiến dịch Operation Warps Speed.

Truyền thông, Big Tech và Trung Cộng đã chế ngự chính trị Hoa Kỳ

Ứng cử viên Tổng Thống Michael Bloomberg thuộc đảng Dân Chủ là một doanh nhân rất thành công, ông ta nắm giữ công ty tài chánh Bloomberg, một công ty hàng đầu trên thế giới, có doanh thu mỗi năm khoảng 10 tỷ, hoạt động trong nhiều lãnh vực như tài chánh, truyền thông, công nghệ cao, . . . Michael Bloomberg đã chi 100 triệu vận động cho tù nhân sau khi mãn hạn tù được quyền đi bầu, sau đó ông ta còn đóng góp hơn 18 triệu cho đảng Dân Chủ.

UserPostedImage

Alex Marlow, tác giả của tài liệu điều tra “Breaking the News: Exposing the Establishment Media’s Hidden Deals and Secret Corruption” đã đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy Michael Bloomberg làm ăn với Trung Cộng từ 30 năm nay. Alex Marlow viết: Michael Bloomberg thường công khai ca tụng ĐCSTQ trên nhiều phương tiện truyền thông. Ông ta khẳng định Tập Cận Bình không phải là nhà độc tài vì đương sự biết lắng nghe quần chúng. Trong một hội nghị về Kinh Tế Mới của Bloomberg tổ chức tại Singapore năm 2018, Michael Bloomberg đã giới thiệu Phó Chủ Tịch Trung Cộng Vương Kỳ Sơn bằng những lời khen ngợi nhiệt tình nhất. Truyền thông Bloomberg luôn luôn đăng những tin tức có tính cách bảo vệ ĐCSTQ. Báo New York Times và nhiều truyền thông khác đã thấy rõ hướng đi của Bloomberg khi một nhân viên của Bloomberg lộ tin ra ngoài là “Nếu chúng tôi đăng những tin tức đó (bất lợi về ĐCSTQ) thì chúng tôi sẽ bị tống cổ ra khỏi Trung Cộng.” Thật ra không riêng gì truyền thông Bloomberg có liên hệ chặt chẽ với Trung Cộng mà ĐCSTQ đã tung tiền ra mua chuộc đa số truyền thông Hoa Kỳ.

Trước đại dịch, kinh tế Hoa Kỳ được phát triển mạnh nhất, trong 50 năm, tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp nhất, những điều kiện thuận lợi này đã có thể giúp TT Trump dễ dàng tái đắc cử. Đảng Dân Chủ và truyền thông thiên tả hoảng sợ và họ đã liên kết với nhau tìm cách chiếm đoạt cuộc bầu cử cho Joe Biden. Một bài báo của New York Times hồi đầu năm 2021 của ký giả Molly Ball với tựa đề “Những hoạt động bí mật trong bóng tối đã cứu cuộc bầu cử 2020” Molly Ball khẳng định: “Những nỗ lực như thuyết âm mưu, guồng máy hoạt động chính trị của đảng, lãnh đạo các nghiệp đoàn, và những doanh nghiệp khổng lồ đã hỗ trợ cho những cuộc biểu tình bạo loạn, cộng thêm chiến dịch bỏ phiếu bằng thư, tất cả những nỗ lực này đã dẫn đến việc đánh bại Donald Trump, đem lại chiến thắng cho đảng Dân Chủ.”

Khoảng tháng Mười năm 2020, ngay trước thời gian bầu cử, New York Post đã đưa tin về lap top của Hunter Biden. Lap top này chứa đựng nhiều tin tức về những vụ làm ăn bê bối, tham nhũng với Trung Cộng và Ukraine của Hunter và chính cha của anh ta là Joe Biden, lên tới hàng nhiều trăm triệu dollars. Nhưng tất cả nhóm truyền thông thiên tả đã phủ nhận hoặc không nói gì tới tin động trời này vì họ biết rằng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho cuộc tranh cử của Joe Biden. Đa số cử tri đã xác nhận rằng nếu họ biết về vụ lap top này, họ đã không bỏ phiếu cho Joe Biden. Trong ngày đầu nhậm chức, Joe Biden đã mau chóng chỉ định luật sư chuyên về hình sự của Hunter Biden là luật sư Nicholas McQuaid làm Thứ Trưởng Bộ Tư Pháp. TNS Chuck Grassley (R-Iowa), TNS Ron Johnson (R-Wis) và một số nhà lập pháp Cộng Hòa khác đã phản đối quyết định của Joe Biden nhưng không thành công.

CEO của Facebook là Mark Zuckerberg đã có nhiều đóng góp rất lớn giúp Joe Biden thắng cử. Trong cuộc điều trần tại Thượng Viện hồi tháng Mười năm 2020, Giám Đốc Amistad Project của tổ chức Thomas More Society là Phill Kline đã tố cáo Mark Zuckerberg chi 350 triệu dollars cho cuộc bầu cử 2020. Điều quan trọng là hầu hết tiền của anh ta đã đổ vào những khu vực thuộc đảng Dân Chủ. Ngoài ra, Mark Zuckerberg còn ngăn chặn không cho những quan điểm khuynh hữu hoặc ủng hộ TT Trump được phổ biến rộng rãi trên Facebook, trong khi đó thì những bài viết ủng hộ Joe Biden được tự do phổ biến. CEO của Twitter là Jack Dorsey cũng kiểm soát như Mark Zuckerberg. TT Trump đã bị Twitter cấm không cho xử dụng vĩnh viễn. Hai ông CEO này đã hành xử như những ông Vua của thời đại.

Cuộc bầu cử năm 2020 là chiến thắng của nhóm truyền thông thiên tả và Big Tech, nhiều nhân viên hoặc những người có liên hệ với những công ty Big Tech như Amazon, Google và Microsoft đã được chỉ định vào những chức vụ quan trọng trong chính quyền Joe Biden. Một vài nhân vật điển hình là Jeff Zients, cựu thành viên Hội Đồng Quản Trị (HĐQT) của Facebook được Joe Biden chỉ định làm chỉ huy lực lượng chống Covid-19, và hai cựu thành viên HĐQT khác của Facebook là Erskine Bowles và Jessica Hertz được làm cố vấn trong nhóm chuyển giao quyền lực Tổng Thống, chức vụ này giúp họ có ảnh hưởng giới thiệu người vào nội các. Cuối năm 2020, nhà báo Nandita Bose của Reuters đã đưa tin: “Thung lũng Silicon hoạt động trong bí mật nhằm đưa người vào làm việc trong nhiều bộ phận quan trọng của chính quyền Joe Biden. Cụ thể là Eric Schmidt, cựu Giám Đốc Điều Hành của Google, một nhà tỷ phú đã đề nghị nhiều người đảm trách một số chức vụ quan trọng trong Bộ Quốc Phòng.”

Sức mạnh tài chánh và quyền lực của truyền thông, Big Tech vốn bị Trung Cộng chi phối, giờ đây đã và đang chế ngự sân khấu chính trị Hoa Kỳ.

Kim Nguyễn, May 27-2021

Edited by user Saturday, May 29, 2021 10:47:04 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Nam  
#1283 Posted : Saturday, May 29, 2021 11:59:04 AM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 6,082

Thanks: 778 times
Was thanked: 318 time(s) in 253 post(s)

Nguồn gốc Covid-19 là Phòng thí nghiệm Vũ hán


May 19, 2021
Nguyễn thị Cỏ May

–khởi phát vào cuối năm 2019 tại Vũ Hán, trở thành đại dịch nhanh chóng lây lan ra toàn cầu. Đến nay, nó đã gây nhiễm gần 160 triệu người, giết hại hơn 3,3 triệu người. Một tổ chức nghiên cứu của Mỹ mới đây ước tính số tử vong rất có thể gấp đôi.

Sự xuất hiện các biến chủng (le variant) khiến nhiều quốc gia phải khó khăn đối phó để bảo vệ sức khỏe dân chúng. Nay Mỹ, tâm dịch lớn nhứt thế giới, sắp kiểm soát được Covid-19 nhờ chương trình tiêm chủng. Tiếp theo, Ấn Độ liền trở thành tâm dịch lớn thứ hai mà tình hình chống dịch vẫn chưa thấy dấu hiệu lạc quan. Mỗi ngày, Ấn Độ có hàng trăm ngàn người bị bệnh và hàng ngàn người chết. Một số nước ở gần đó như Thái lan, Miên, Lèo và Việt nam đang bị dịch Ấn Độ lây lan.

Virus vũ hán đã ác ôn mà nó còn biến thể nhanh chống và những loại mới lại còn ác hơn.

UserPostedImage

Tiến sĩ Sebastian Maurer-Stroh, Giám đốc Viện Nghiên Cứu Sinh Học của Cơ quan Khoa học Singapore, cho biết Covid-19 đã biến thể 6.600 lần kể từ khi nó được phát hiện lần đầu tiên vào cuối năm 2019 ở Vũ hán. Ông giải thích: «Covid-19 biến đổi bất cứ khi nào xảy ra “sai sót” trong quá trình sao chép. Điều này có thể dẫn đến việc thêm vào, xóa đi hoặc thay đổi bộ gen di truyền của virus. Nếu sai sót đó làm tăng khả năng sinh tồn của virus thì virus bản sao của những sai sót đó sẽ tồn tại lâu hơn, thậm chí áp đảo phiên bản ban đầu».

Để đối phó với tầm nguy hại của virus Vũ hán, nhà báo Brice Perrier (tuần báo Marianne), dành phần cuối quyển sách điều tra về nguồn gốc Covid-19 (Sars-CoV-2. Aux origines, Paris, 5/2021) đưa ra lời kêu gọi các nhà khoa học trên thế giới hảy hợp tác cùng nhau mở cuộc điều tra khoa học rốt ráo, đến nơi đến chốn về nguồn gốc Covid-19 để có biện pháp ngăn ngừa bệnh dịch mới trong tương lai. Lời kêu gọi vừa phổ biến, có ngay 27 nhà khoa học của nhiều quốc gia khác nhau hưởng ứng ký tên.

Sau thời gian dài điều tra tỉ mỉ, ông kết luận Covid-19 đúng là virus Vũ hán, do một sơ suất nào đó, nó từ phòng thí nghiệm Vũ hán thoát ra và lây lan khắp nơi cho tới ngày nay như ta biết.

Người thứ hai là Giáo sư Joseph Tritto, người Ý, trong quyển sách của ông xuất bản hồi nửa năm rồi, gây nhiều tranh cãi chỉ vì ông xác nhân Covid-19 đến từ phòng thí nghiệm Vũ hán (China Covid 19. La chimère qui a changé le monde – Edizioni Cantagalli, Sienne, 2020).

Từ phòng thí nghiệm Vũ hán

Trong một buổi tối váo cuối năm 2019, Cơ quan Y tế của Thành phố Vũ hán phổ biến khẩn một báo cáo điều trị một trường hợp bệnh sưng phổi mà nguyên nhân chưa biết. Hôm sau, Cơ quan Y tế khám phá ra một thứ Corona mới ở hai bệnh nhân khác. Bà Giám đốc Phòng thí nghiệm Vũ hán vội báo tin cho nhà vi trùng học «người dơi», bà Zhengli Shi. Theo Bác sĩ Zhengli Shi, «chưa bao giờ bà nghĩ bệnh sưng phổi do Coronavirus gây ra lại có thể xảy ra ở Vũ hán, trung tâm nước Tàu. Vì nó phải xảy ra nơi có con vật có thể gây truyền nhiểm thì mới hợp lý».

Coronavirus của dơi là đối tượng nghiên cúu của Bác sĩ Zhengli Shi trong phònh thí nghiệm vũ hán từ năm 2017, đem kết hợp nó với một virus khác để tạo ra một con khác quái ác có thề xâm nhập vào tế bào con người qua đường hô hấp. Mục đích của thí nghiệm là tìm hiểu tình trạng của người bị nhiểm virus để từ đó nghiên cúu cách chửa trị và đề phòng. Nhưng thế nào đi nữa thì việc nghiên cúu tìm ra thứ virus này vẫn là việc làm có hậu quả nguy hiểm chết người khó kiểm soát.

Khi công trình nghiên cứu đăng trên báo Nature nhiều nhà khoa học liền phản ứng, bảo rằng rủi con virus thoát ra ngoài do sơ suất thì khó ai biết được nó sẽ lây lan như thế nào và đi tới đâu. Có người nhớ lại lời bà Zhengli Shi nói với chính bà sau khi nhận được tin từ bà Giám đốc phòng thí nghiệm Vũ hán «Nếu đúng con coronavirus là nguyên nhân trường hợp bịnh sưng phổi đó, thì có lẽ nào nó từ phòng thí nghiệm của ta thoát ra sao?».

Covid-19 không phải từ thiên nhiên, do người chuyên môn tạo ra

Đây là lời xác nhận về nguồn gốc virus Vũ hán của Giáo sư Joseph Tritto trong quyển sách của ông. Và ông «xác nhận lập luận của Giáo sư người Pháp, ông Luc Montagnier, Covid-19 do phòng thí nghiệm Vũ hán thoát ra là đúng» (Báo France Soir).

UserPostedImage

Quyển sách của ông viết về nguồn gốc con virus Vũ hán đang gây đại dịch cho cả thế giới xuất bản ở Ý vào giữa năm rồi gây tranh cãi sôi nổi và làm đảo lộn thế giới trong sáu tháng qua. Lập luận trước đây của Giáo sư Luc Montagnier của Pháp, giải Nobel Y khoa năm 2008, là Covid-19 do con người làm ra trong phòng thí nghiệm Vũ hán nay được Gs Tritto xác nhận là đúng qua nhiều phân tích khoa học của ông. Nhưng nó không phải chỉ do Tàu làm ra, mà có sự hợp tác của Hoa kỳ và Pháp nữa. Ông cắt nghĩa rõ nguồn gốc virus, tiên khởi là do ý của Tàu muốn nghiên cứu vaccins chống bệnh SRAS (bệnh hô hấp), ghép bộ gène VIH làm cho nó trở thành dữ hơn, thêm vào yếu tố coronavirus tìm được trên dơi, theo hệ thống di truyền đảo ngược 2. Nhà khoa học người Tàu làm việc có kết quả với bộ gène VIH nhờ học hỏi ở những nhà khoa học pháp của Viện Pasteur gởi qua huấn luyện.

Hoa Kỳ cũng giúp bằng ngân quỹ của USAID và nhân sự, có Giáo sư Ralph Baric của Trường Đại học Caroline du Nord cùng với một số đồng nghiệp của ông tới Vũ hán. Các nhà khoa học người Mỹ rất quan tâm tới việc nghiên cúu virus Corona vì việc này bị cấm ở Hoa Kỳ từ năm 2017 (nhà báo Steve Hilton v/v Giáo sư Anthony Fauci hợp tác và tài trợ phòng thí nghiệm vũ hán nghiên cúu coronavirus để tạo ra một thứ virus dữ nên bị Chánh quyền Obama cấm nhưng ông vẫn tiếp tục. Và Covid-19 ra đời).

Theo Gs Joseph Tritto, Phòng thí nghiệm P4 Vũ hán, ban đầu làm việc nhằm phục vụ Y tế nhưng sau đó từ từ thay đổi trở thành Phòng nghiên cứu «kỹ thuật sinh học» (bio-ingénierie), nhận nhiều tài trợ của chánh quyền Bắc kinh, đặt dưới sự kiểm soát của Hàn lâm Viện khoa học và chánh phủ Tàu, sản xuất vũ khí sinh học giết người hàng loạt.

Gs Tritto nghĩ «Gs Zhengli Shi chắc không có quyền lợi gì mà nghiên cúu Coronavirus cho quân đội tàu nếu bà không bị bắt buộc phải làm». Một Trung tướng của Quân đội, bà Chen Wei, chuyên môn về vũ khí sinh hóa và sinh học khủng bố, liền được đề cử vào chức vụ chỉ huy viện vi trùng học vũ hán, làm việc với một ê-kiếp gồm có Zhong Nanshan, chuyên về bệnh phổi, nổi tiếng với 2 nghiên cúu dài về bệnh sưng phổi do virus.

Điều lạ là từ khi phòng thí nghiệm Vũ hán do quân đội kiểm soát, người ta không ai còn nghe nói tới Giáo sư Zhengli Shi nữa. Bà đã bị mất tích?

Trong sách, Gs Tritto nhận xét những nhà khoa học Tàu lúc đầu làm việc vì nhu cầu hiểu biết khoa học nhưng sau đó, vì ham quyền lực, sự thăng tiến nghề nghiệp, và sau cùng, ham tiền!

UserPostedImage

Ông dành một phần sách nói về việc nghiên cúu tìm vaccins. Trong việc làm này, Viện và Phòng thí nghiệm cạnh tranh nhau, nhưng không vì tìm thuốc cứu người khỏi chết vì bệnh dịch, mà chỉ nhằm đưa ra trước vaccins để tung ra bán khắp thế giới. Trung Cộng xưa nay vẫn nổi tiếng về nghề đầu cơ tích trử lượm bạc cắc! Và cũng vì vậy mà cho tới nay, Trung Cộng chỉ đưa ra báo cáo về Covid-19 từng phần, chưa hề đưa ra «virus mẹ». Vì khi có «virus mẹ», người ta sẽ làm ra được vaccin phổ quát, hiêu quả ngăn ngừa bệnh dịch cho mọi người. Nhưng trái với mục tiêu bạc cắc và chánh trị của họ Tập.

Và đây cũng là lý do để hiểu tại sao Bác sĩ Ai Fen lên tiếng báo động có một thứ «cúm lạ» xuất hiện vào tháng 11/2019 ở nhà thương Vũ hán liền bị an ninh nhà thương cô lập. Tiếp theo Bác sĩ nhản khoa Li Wenliang cũng bị cưỡng bách im lặng và ông chết vì Covid-19 vài ngày sau đó.

Giáo sư Tritto không quên nhắc lại Tổ chức Y tế Thế giới đã không giữ đúng vai trò khoa học của mình mà lại biến mình làm con rối cho Tàu cộng. Nên ông thiết tha mong muốn thế giới có những qui định cứng rắn về việc nghiên cúu vi trùng học, về sự hợp tác lương thiện, minh bạch giữa phòng thí nghiệm dân sự và quân sự. Riêng Trung Cộng phải ký kết Qui ước về võ khí sinh học và các chất độc khác.

Nhưng ông không nói thêm hảy kêu gọi các nước dân chủ văn minh trên thế giới bắt tay nhau chặt chẽ, luận tội giết người hàng loạt của Tập và đảng cộng sản trung cộng, truy tố tội phạm ra trước Tòa án Pháp lý Quốc tế, và đòi bồi thường thiệt hại về nhân mạng và tài sản do virus Vũ hán gây ra.

Nguyễn thị Cỏ May

Edited by user Saturday, May 29, 2021 12:36:23 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Nam  
#1284 Posted : Saturday, May 29, 2021 12:50:18 PM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 6,082

Thanks: 778 times
Was thanked: 318 time(s) in 253 post(s)

Covid: TQ phản bác việc Mỹ xét lại thuyết virus
đến từ phòng thí nghiệm


28 tháng 5 2021

UserPostedImage

Trung Quốc bác bỏ bất kỳ mối liên hệ nào giữa Covid-19 và một phòng thí nghiệm nghiên cứu virus ở Vũ Hán

Trung Quốc kịch liệt phản đối nỗ lực của Mỹ trong việc điều tra thêm xem Covid-19 có phải đến từ một phòng thí nghiệm của Trung Quốc không.

Tổng thống Mỹ Joe Biden nói ông hy vọng sẽ công bố kết quả của một báo cáo tình báo về nguồn gốc của virus.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc cáo buộc Mỹ "thao túng chính trị và chuyển hướng sự đổ lỗi" và bác bỏ bất kỳ mối liên hệ nào giữa Covid-19 và một phòng thí nghiệm nghiên cứu virus ở thành phố Vũ Hán, Trung Quốc.

Covid-19 được phát hiện đầu tiên ở Vũ Hán cuối năm 2019. Kể từ đó, hơn 168 triệu ca nhiễm và khoảng 3,5 triệu ca tử vong được xác nhận trên toàn thế giới.

Giới chức Trung Quốc ghi nhận các ca nhiễm Covid đầu tiên liên quan đến với một chợ hải sản ở Vũ Hán, khiến các khoa học gia tin rằng virus này lần đầu lây truyền sang người từ động vật.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sau chuyến thăm Vũ Hán vào đầu năm nay để điều tra nguồn gốc của sự bùng phát virus corona, nói khả năng virus đến từ một phòng thí nghiệm "cực kỳ khó xảy ra".

Nhà virus học của WHO, Marion Koopmans, người tham gia chuyến thăm đó, nói với BBC rằng nếu các nhà chức trách Hoa Kỳ nên chia sẻ thông tin liên quan, nếu có.

Nhưng các báo cáo gần đây của truyền thông Mỹ đã đưa ra bằng chứng ngày càng nhiều là virus này có thể xuất hiện từ một phòng thí nghiệm ở Trung Quốc, có thể là do một sự rò rỉ.

Tại sao tranh cãi xảy ra trong lúc này?

Trong một văn bản được Nhà Trắng công bố hôm thứ Tư, Tổng thống Biden cho biết sau khi nhậm chức ông đã yêu cầu được báo cáo về nguồn gốc của Covid-19, "gồm cả việc virus xuất hiện vì con người tiếp xúc với động vật bị nhiễm bệnh, hay từ một tai nạn trong phòng thí nghiệm".

Khi nhận được báo cáo trong tháng này, ông Biden đã yêu cầu được "báo cáo thêm".

UserPostedImage

Tổng thống Biden yêu cầu các cơ quan tình báo phải nộp báo cáo mới về nguồn gốc của virus trong vòng 90 ngày

Ông Biden nói đa số trong cộng đồng tình báo xoay quanh hai kịch bản có thể xảy ra nhưng vẫn không nghĩ là có đủ thông tin để nghiêng hẳn về giả thuyết nào.

Ông cho biết hiện ông đã yêu cầu các cơ quan "tăng gấp đôi nỗ lực để thu thập và phân tích thông tin có thể đưa chúng tôi đến gần hơn một kết luận chính xác".

Hôm thứ Năm, Biden nói với các phóng viên rằng ông dự định công bố báo cáo "trừ khi có điều gì đó mà tôi chưa biết".

Thủ tướng Canada Justin Trudeau sau đó lên tiếng ủng hộ nỗ lực của Mỹ và các nước khác để tìm hiểu rõ hơn về nguồn gốc của virus.

Công bố hôm thứ Tư khiến các quan chức Trung Quốc tức giận.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Triệu Lập Kiên nói điều đó cho thấy Mỹ "không quan tâm đến những gì đã xảy ra hay sự thật, và không quan tâm đến một nghiên cứu nghiêm túc dựa trên khoa học về nguồn gốc của virus".

"Mục đích của họ là sử dụng đại dịch để theo đuổi chính sách kỳ thị, thao túng chính trị và đổ lỗi. Họ đang thiếu tôn trọng khoa học, vô trách nhiệm với cuộc sống của con người và làm những điều phản tác dụng với những nỗ lực phối hợp chống lại virus," ông nói.

Người phát ngôn Trung Quốc cũng nói các cơ quan tình báo Mỹ có một "lịch sử đen tối" về việc phát tán thông tin sai lệch.

Một tuyên bố từ đại sứ quán Trung Quốc tại Mỹ, không đề cập trực tiếp đến mệnh lệnh của ông Biden, cho biết "các chiến dịch bôi nhọ và chuyển hướng đổ lỗi đang trở lại".

UserPostedImage

Người đọc lâu nay đã quen với các bài báo bác bỏ lý thuyết rò rỉ phòng thí nghiệm như một âm mưu nguy hiểm, có thể hơi ngạc nhiên khi thấy nó lại đột nhiên xuất hiện trên trang nhất, được trình bày như một giả thuyết hoàn toàn chính đáng.

Sự thật là, luôn có rất nhiều bằng chứng gián tiếp để hỗ trợ cả hai lý thuyết cạnh tranh. Nguồn gốc từ động vật, trong đó virus truyền tự nhiên từ dơi sang người, được hỗ trợ bởi thực tế là các virus corona trước đây đã vượt qua hàng rào từ vật đến người y như vậy.

Cũng có rất nhiều tiền lệ về việc rò rỉ từ phòng thí nghiệm, trong đó các nhà nghiên cứu vô tình bị nhiễm virus mà họ đang nghiên cứu. Vụ bùng phát ở Vũ Hán xảy ra ngay trước cửa phòng thí nghiệm hàng đầu thế giới chuyên thu thập, nghiên cứu và thử nghiệm về virus corona từ dơi.

Điều thay đổi không phải là bằng chứng - mà cho đến nay vẫn chưa có gì để chứng minh một trong hai giả thuyết - mà là chính trị. Thuyết rò rỉ phòng thí nghiệm, được sinh ra trong một môi trường bị nhiễm độc bởi thông tin sai lệch, không bị suy yếu bởi sự phủ nhận của Trung Quốc, mà là bởi thực tế giả thuyết này được cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump cổ súy.

Các cơ quan truyền thông khắp nơi lúc đó đã cho thuyết này một nhún vai lạnh lùng. Nỗ lực của riêng tôi để xem xét một cách nghiêm túc lý thuyết rò rỉ trong phòng thí nghiệm vào tháng 5 năm ngoái đã phải trải qua các cuộc thảo luận biên tập dài và căng thẳng trước khi nó được đăng tải.

Giả thuyết phổ biến là virus đến từ động vật cũng đã lấn át khoa học. Bất chấp tiếng nói thống trị của một số nhà virus học hàng đầu nhấn mạnh rằng chỉ cần điều tra nguồn gốc từ động vật, một nhóm các nhà khoa học kiên quyết vẫn tiếp tục tranh luận rằng cả hai kịch bản vẫn nên được xét đến.

Tất nhiên có thể là quá muộn. Dù cuộc tranh luận đi đến đâu, thì Trung Quốc cũng rất khó cho phép một cuộc điều tra khác trên đất của mình.

Chúng ta biết gì về thuyết phòng thí nghiệm?

Suy đoán về Viện Virus Vũ Hán - một trong những phòng thí nghiệm nghiên cứu virus hàng đầu của Trung Quốc - bắt đầu từ năm ngoái và được ông Trump tuyên truyền.

Các bức điện của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ được đưa ra ánh sáng vào tháng 4/2020 cho thấy qgiới chức đại sứ quán lo lắng về an ninh sinh học ở đó.

Đầu năm nay, WHO công bố một báo cáo viết chung với các nhà khoa học Trung Quốc về nguồn gốc của Covid-19, nói rằng khả năng virus đến từ một phòng thí nghiệm "cực kỳ khó xảy ra".

Báo cáo cũng nói rằng virus có lẽ đã truyền từ dơi qua người qua một thú vật trung gian khác, nhưng cho biết phải nghiên cứu thêm.

Người phát ngôn của WHO hôm thứ Năm nhắc lại với BBC rằng cần có các nghiên cứu sâu hơn "trong một số lĩnh vực, gồm việc phát hiện các ca nhiễm lúc đầu và các cụm bệnh, và vai trò tiềm năng của thị trường bán động vật, sự lây truyền qua chuỗi thức ăn và giả thuyết sự rò rỉ từ phòng thí nghiệm" .

UserPostedImage

Chợ bán buôn hải sản Huanan ở Vũ Hán có liên quan đến các trường hợp nhiễm Covid-19 đầu tiên

Giả thuyết phòng thí nghiệm đã ngày càng được công chúng Hoa Kỳ chú ý trong bối cảnh các báo cáo gần đây từ nguồn tin tình báo cho biết ba thành viên của Viện virus học Vũ Hán phải nhập viện vào tháng 11/2019, vài tuần trước khi Trung Quốc thừa nhận ca nhiễm đầu tiên của căn bệnh mới ở cộng đồng.

Anthony Fauci, cố vấn y tế chính của Tổng thống Biden, từng khẳng định rằng ông tin virus truyền từ động vật sang người, mặc dù tháng này ông thừa nhận không còn tin là Covid-19 đã phát triển một cách tự nhiên.

Lệnh của ông Biden về các cuộc điều tra thêm được đưa ra một ngày sau khi Xavier Becerra, Bộ trưởng Y tế và Dịch vụ con người Hoa Kỳ, thúc giục WHO đảm bảo một cuộc điều tra "minh bạch" về nguồn gốc của virus.

"Giai đoạn 2 của nghiên cứu nguồn gốc Covid phải được đưa ra với các điều khoản tham chiếu minh bạch, dựa trên cơ sở khoa học và cung cấp cho các chuyên gia quốc tế sự độc lập để đánh giá đầy đủ nguồn gốc của virus và những ngày đầu đại dịch bùng phát." Ông Becerra nói.

Trong khi vẫn chưa có bằng chứng nào cho thấy virus do con người tạo ra, Facebook hôm thứ Năm nói dựa trên các cuộc điều tra đang diễn ra và tham khảo ý kiến ​​của giới chuyên gia y tế công cộng, công ty này sẽ "không còn loại bỏ tuyên bố Covid-19 là do con người tạo ra khỏi nền tảng của mình."

"Chúng tôi tiếp tục làm việc với các chuyên gia y tế để bắt kịp với bản chất chuyển biến của đại dịch và thường xuyên cập nhật các chính sách của công ty khi các sự kiện và xu hướng mới xuất hiện". Facebook nói.

Edited by user Saturday, May 29, 2021 12:55:37 PM(UTC)  | Reason: Not specified

hongvulannhi  
#1285 Posted : Monday, May 31, 2021 1:10:46 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,708

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
ĐTC Phanxicô (30/5): Sự hiệp nhất là thiết yếu đối với Kitô hữu


5/31/2021 1:33:07 PM

UserPostedImage

Trưa Chúa Nhật 30/5, Lễ Chúa Ba Ngôi, ĐTC đã cùng đọc Kinh Truyền Tin với các tín hữu hiện diện tại quảng trường thánh Phêrô. Trước khi đọc Kinh, Đức Thánh Cha có một bài huấn dụ ngắn. Ngài nói: sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu, theo khuôn mẫu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, không phải là một thái độ hay một lối nói, nhưng là thiết yếu đối với Kitô hữu.

http://conggiao.info/dtc...doi-voi-kito-huu-d-60474

Bài huấn dụ của Đức Thánh Cha trước khi đọc Kinh Truyền Tin

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Trong lễ hôm nay, chúng ta ca tụng Thiên Chúa: mầu nhiệm về một Thiên Chúa, và Thiên Chúa này là: Cha và Con và Thánh Thần, ba ngôi vị. Nhưng Thiên Chúa là một! Nhưng, Cha là Thiên Chúa, Con là Thiên Chúa, Thánh Thần là Thiên Chúa. Nhưng không phải là ba vị chúa: Ngài là một Thiên Chúa Duy nhất và ba Ngôi vị. Đây là một mầu nhiệm mà Chúa Giêsu Kitô đã mặc khải cho chúng ta: Thiên Chúa Ba Ngôi. Hôm nay chúng ta cử hành mầu nhiệm này, bởi vì các Ngôi vị không phải là một tính từ của Thiên Chúa: không. Nhưng là các Ngôi vị, thực sự, khác biệt và tách biệt; các Ngôi vị không phải là – nói theo một triết gia – “sự phát toả của Thiên Chúa”: không, không phải! Nhưng là các Ngôi vị. Có Chúa Cha, Đấng mà tôi cầu nguyện với Kinh Lạy Cha, Đấng đã ban cho tôi ơn cứu độ và ơn công chính hoá; có Chúa Thánh Thần ngự trong chúng ta và cư ngụ trong Giáo hội. Và điều này nói nơi con tim của chúng ta, bởi vì mầu nhiệm này chúng ta tìm thấy trong cách diễn đạt của Thánh Gioan, vốn tóm toàn bộ mạc khải: “Thiên Chúa là tình yêu”. Chúa Cha là tình yêu, Chúa Con là tình yêu, Chúa Thánh Thần là tình yêu.

Và với tình yêu, Thiên Chúa, tuy là một, nhưng không cô độc mà là hiệp thông, giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Bởi vì tình yêu tự bản chất tự thân là một món quà, và trong thực tại nguyên thủy và vô hạn là Chúa Cha, đã tự trao ban sinh ra Chúa Con, Đấng, đến lượt mình, tự hiến cho Chúa Cha và tình yêu lẫn nhau giữa Cha và Con chính là Thánh Thần, mối dây hiệp nhất giữa Cha và Con. Điều này không dễ hiểu, nhưng người ta có thể sống mầu nhiệm này, tất cả chúng ta; người ta có thể sống mầu nhiệm này rất nhiều.

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi này đã được chính Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta. Ngài đã cho chúng ta biết dung nhan của Thiên Chúa là Cha nhân từ; Ngài đã tự giới thiệu mình, là con người thật, là Con Thiên Chúa và là Lời của Cha, là Đấng Cứu Độ đã hiến mạng sống mình cho chúng ta; và Ngài đã nói về Chúa Thánh Thần, Đấng phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con, là Thần Chân lý, là Đấng Bào chữa – mà chúng ta đã nói trong Chúa nhật tuần trước, về từ “Bào chữa” - tức là Đấng An ủi và Đấng Bênh vực. Và khi Chúa Giêsu hiện ra với các Tông đồ sau khi phục sinh, Chúa Giêsu đã sai các ông đi loan báo Tin Mừng cho “muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19).

Do đó, ngày lễ hôm nay giúp chúng ta chiêm ngắm về mầu nhiệm tuyệt diệu này của tình yêu và ánh sáng, nơi nguồn cội của chúng ta và định hướng cho cuộc hành trình trần thế của chúng ta.

Trong việc loan báo Tin Mừng và trong mọi hình thức của sứ vụ Kitô giáo, chúng ta không thể bỏ qua sự hiệp nhất này mà Chúa Giêsu kêu gọi, giữa chúng ta, theo sự hiệp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần: chúng ta không thể bỏ qua sự hiệp nhất này; vẻ đẹp của Tin Mừng đòi hỏi phải được sống – sự hiệp nhất - và được làm chứng trong sự hòa hợp giữa chúng ta, những con người rất khác biệt! Và sự hiệp nhất này tôi dám nói là điều thiết yếu đối với Kitô hữu: đây không phải là một thái độ, một cách nói: không. Nhưng là điều thiết yếu, bởi vì sự hiệp nhất sinh ra từ tình yêu, từ lòng thương xót của Thiên Chúa, từ sự công chính hoá của Chúa Giêsu Kitô và từ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn chúng ta.

Trong sự đơn sơ và khiêm nhường, Mẹ Maria đã phản ánh Vẻ đẹp của Thiên Chúa Ba Ngôi, vì Mẹ đã hoàn toàn đón Chúa Giêsu vào cuộc đời mình. Mẹ nâng đỡ đức tin của chúng ta; làm cho chúng ta trở nên những người thờ phượng Thiên Chúa và là tôi tớ của anh em mình.

Văn Yên, SJ
(vaticannews.va 30.05.2021)

Edited by user Monday, May 31, 2021 1:12:09 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1286 Posted : Monday, May 31, 2021 1:26:00 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,708

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Đối thoại trong Chúa


5/28/2021 1:44:23 PM

29 18 X Thứ Bảy Tuần VIII Thường Niên. (Tr) Thánh Phao-lô VI, Giáo hoàng. (Tr) Lễ Đức Mẹ ngày thứ Bảy. (Hc 51,12-20; Mc 11,27-33)

UserPostedImage

Bối cảnh đoạn Tin mừng Mác-cô hôm nay cho chúng ta thấy một cuộc đối thoại đầy ẩn ý giữa Chúa Giêsu với các nhà hữu trách tôn giáo.

Đối thoại là một trong những phương thế giải quyết mâu thuẫn, đem lại sự hiểu biết và trân quý nhau hơn. Tuy thế, đối thoại chỉ mang lại hiệu quả khi đôi bên đến với nhau với lòng chân thành, cởi mở và tinh thần tôn trọng sự thật. Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và giới lãnh đạo Do thái trong bài Tin Mừng hôm nay xảy ra sau khi Chúa Giêsu thanh tẩy Đền thờ (Mc 11,15-19), một sự kiện náo động đụng chạm trực tiếp đến quyền hành của những người đứng đầu Ír-ra-en. Vì thế, cuộc gặp gỡ này đã không diễn ra trong bầu khí của một cuộc đối thoại đúng nghĩa, bởi lẽ các thượng tế, kinh sư và kỳ mục đã đến với thái độ ganh ghét, thù nghịch.

Kết quả là sự thật về Chúa Giêsu đã không được vén mở cho họ, hay nói đúng hơn, chính họ đã khép kín mình và không muốn đón nhận sự thật. Bi kịch của giới lãnh đạo Do thái nằêm ở chỗ họ đã không có đủ lòng chân thành và khiêm tốn. Nỗi sợ mất uy tín, địa vị đã khiến họ không dám nhìn nhận sự thật, đẩy họ đến một câu trả lời vô trách nhiệm: “chúng tôi không biết.” Cuộc đối thoại giữa họ và Chúa Giêsu đã đi vào chỗ bế tắc.

Đã đến lúc Chúa Giêsu tỏ hiện cho muôn dân biết Ngài là ai, Chúa Giêsu cùng các môn đệ lên Giêrusalem và Ngài thấy cảnh tượng ô uế của đền thờ. Đền thờ là nơi thợ phượng tôn vinh Thiên Chúa, nhưng giờ đây chốn thánh thiêng này đã trở nên lộn xộn và bát nháo bởi cảnh mua bán, đổi chác, trộm cắp và gian lận, cảnh tượng của một cái chợ. Thấy lòng dạ dân chúng trở nên chai đá, một cuộc sống đầy tục hóa nơi chốn thánh thiêng, Chúa Giêsu đã nổi cơn giận dữ, Ngài đã lấy dây thừng đánh đuổi tất cả mọi người ra khỏi đền thờ, nơi mà chỉ để dành riêng cho việc tôn thờ và gặp gỡ Giavê Thiên Chúa.

Chính hành động ấy của Chúa Giêsu càng làm cho các thượng tế, kinh sư và kỳ mục càng thêm thù ghét Chúa Giêsu. Các nhà hữu trách tôn giáo đã để cho cảnh tượng buôn bán, đổi chác bát nháo ấy xảy ra, bởi họ cho rằng, cần có thêm một khoản lợi tức cho đền thờ, nhưng họ lại quên đi giá trị thánh thiêng của nơi thờ tự. Chính hành động của Chúa Giêsu sẽ làm cho Đền thờ mất đi mối lợi tức ấy.

Do vậy, họ đã chặn Chúa Giêsu lại để gài bẩy lên án và kết tội Ngài. Họ chặn Chúa Giêsu và hỏi: “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy, hay ai đã cho ông quyền làm các điều ấy?” Họ hỏi thế, không phải vì lòng chân thành muốn biết rõ Chúa Giêsu có phải là Đấng Mê-si-a hay không, nhưng đúng hơn là với một giả tâm muốn gài bẩy để giết Chúa Giêsu. Biết được ác ý của họ, thay vì trả lời câu hỏi thì Chúa Giêsu lại hỏi ngược lại họ. “Phép rửa của ông Gio-an là do Trời hay do người ta? Các ông trả lời cho tôi đi!” Trước một tình thế bất ngờ, họ trở nên luống cuống nên đã họp bàn nhau để tìm câu trả lời. “Nếu mình nói: ‘Do Trời’, thì ông ấy sẽ vặn lại: ‘Thế sao các ông lại không tin ông ấy?’ 32 Nhưng chẳng lẽ mình nói: ‘Do người ta’?” Họ sợ dân chúng, vì ai nấy đều cho ông Gio-an thật là một ngôn sứ”.

Quả vậy, trong đời sống con người thường hay tìm cho mình sự tư lợi, tìm cho mình một địa vị trong xã hội. Khi mục đích đời họ là đi tìm những thứ phù phiếm của tiền tài danh vọng, họ rất ghét những ai có và sẽ có tầm ảnh hưởng hơn họ. Bởi lẽ, họ không muốn mình là hạng hai và thứ yếu so với kẻ khác và cũng vì đó mà họ khó đón nhận sự hiện diện của những điều thánh thiêng, và càng khó hơn khi đón nhận những “ngôn sứ” của Thiên Chúa.

Các thượng tế, kỳ mục và kinh sư đã rơi vào vòng “kim cô” của thế tục ấy, nên họ càng ghét Chúa Giêsu hơn, bởi Ngài có một tầm ảnh hưởng lớn lao trong dân chúng. Chính thái độ và cung cách ấy mà họ đâm ra sợ hãi, họ mới trả lời với Chúa Giêsu rằng: “Chúng tôi không biết”. Họ trả lời không biết không phải vì họ không biết mà là họ không dám biết và không muốn biết, bởi cái biết ấy sẽ ảnh hưởng trên thế lực, địa vị và quyền lợi của họ.

Do vậy, Chúa Giêsu cũng không nói cho họ biết Ngài lấy quyền gì để làm điều ấy, vì lẽ, chính Ngài đã nói rõ ràng với họ rồi “Đừng biến nhà Cha ta thành nơi sào huyệt của trộm cướp”, nhưng họ đã không dám đón nhận sự thật ấy.

Chúng ta thường quan niệm rằng “kẻ không biết không có tội”, vì họ không ý thức được điều họ làm là sai. Tuy nhiên, nếu người đó biết rõ nhưng vì lợi ích cá nhân của mình mà giả vờ như không biết, kẻ đó càng đáng tội nhiều hơn. Các trưởng tế, luật sĩ và kỳ lão trong bài Tin Mừng hôm nay chính là những người như vậy. Họ muốn chất vấn về quyền hạn của Chúa Giêsu là từ đâu mà có, nhưng lại chẳng muốn chấp nhận sự thật rằng Người là Con Thiên Chúa. Để rồi, họ tự dối mình và dối người khi thốt lên “Chúng tôi không biết”.

Có phải thực sự họ không biết hay không? Không hề. Họ không chỉ nhận biết được quyền năng của Chúa Giêsu mà còn nhận ra sự hiện diện của quyền năng ấy sẽ gây bất lợi cho mình. Chính vì thế, họ thà tự nhận mình là những kẻ không biết gì còn hơn là chấp nhận sự thật về quyền thế của Người. Lời nói đó tưởng chừng như vô thưởng vô phạt nhưng thực sự đã tố cáo lòng tin chai đá của những người có uy tín, những người đại diện cho tầng lớp trên trong xã hội Do Thái và sự nhỏ nhen, vị kỉ của họ.

Tuy nhiên, đừng vội xét đoán vì biết đâu được, chính chúng ta cũng là những người như họ. Đôi lúc chúng ta đặt cái tôi của mình quá cao, xem trọng lợi ích của mình một cách quá đáng để rồi im lặng trước bất công của xã hội, hay chọn cách như các luật sĩ, trưởng tế và kỳ lão trong đoạn Kinh Thánh trên – vờ như không biết những điều đó. Quả thật, khi mỗi người đều tự đề cao cái tôi của mình một cách thái quá, những giá trị chung của xã hội sẽ chẳng còn gì quan trọng.

Huệ Minh

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1287 Posted : Monday, May 31, 2021 1:40:07 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,708

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Tiểu luận của Đức Cha James Sean Wall:
Vì phần rỗi các linh hồn


J.B. Đặng Minh An dịch 22/May/2021

UserPostedImage

Một số chính trị gia Hoa Kỳ luôn tự hào mình là người Công Giáo rất sùng đạo nhưng lại công khai ủng hộ phá thai quyết liệt hơn cả những người không Công Giáo. Trước gương mù tỏ tường này, Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ dự định trong kỳ họp khoáng đại vào tháng 6 tới, sẽ thảo luận viễn ảnh đưa ra một tuyên bố về việc rước lễ của các chính trị gia phò phá thai cũng như “phò” nhiều vấn đề khác mâu thuẫn gay gắt với giáo huấn của Hội Thánh.

Đức Cha James Sean Wall, giáo phận Gallup có bài nhận định nhan đề “For the Care of Souls” nghĩa là “Vì sự chăm sóc cho các linh hồn”. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Trong vài tháng qua, một số giám mục Công Giáo đã đưa ra tuyên bố đối với câu hỏi liệu có nên công khai từ chối Bí tích Thánh Thể đối với các chính trị gia ủng hộ phá thai hay không. Tôi biết ơn tất cả các giám mục anh em của tôi, những người đã can đảm lên tiếng về chủ đề hóc búa này. Khi các giám mục chia sẻ theo lương tâm của mình và lắng nghe quan điểm của người khác, họ thúc đẩy đối thoại chân chính — là một bước cần thiết trên con đường dẫn đến sự hiệp nhất.

Do đó, tôi muốn trả lời bài luận gần đây của Đức Cha Robert McElroy. Ngài nói rằng: “Bí tích Thánh Thể đang được dùng như một vũ khí vì mục đích chính trị. Điều này không được xảy ra”. Tiêu đề của ngài gợi ý rằng các động cơ chính trị đang thúc đẩy cuộc thảo luận hiện tại của các giám mục về các chính trị gia ủng hộ phá thai và sự tiếp nhận xứng đáng bí tích Thánh Thể. Mặc dù tôi không giả định là mình biết điều gì trong tâm trí và trái tim của các giám mục anh em của tôi, bản thôi tôi không bị thúc đẩy bởi các mục đích chính trị, và cả những người mà tôi đã thảo luận về chủ đề này với họ cũng vậy. Mối quan tâm của chúng tôi không phải là chính trị mà là mục vụ; là nhằm cứu rỗi các linh hồn. Vấn đề này có thể có những hệ quả chính trị, nhưng không vì thế mà chúng ta phải trốn tránh vào thời điểm quan trọng này.

Đức Cha McElroy cũng lo ngại rằng việc loại trừ các chính trị gia ủng hộ phá thai ra khỏi tình hiệp thông Thánh Thể sẽ làm suy yếu sự hiệp nhất của Giáo hội. Chúa Giêsu cầu nguyện rằng tất cả các Kitô hữu có thể nên một (Ga 17:21), và đây là nghĩa vụ mà tất cả chúng ta phải nghiêm túc thực hiện. Tuy nhiên, Chúa Giêsu cũng nói, “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ” (Lc 12:51). Đôi khi việc nói ra sự thật dường như tạo ra sự chia rẽ, nhưng thường thì nó chỉ đơn giản là phơi bày sự chia rẽ đã tồn tại rồi. Nếu người Công Giáo không thể đồng ý về việc bảo vệ những đứa trẻ vô phương tự vệ, thì sự hiệp nhất của chúng ta nói nhẹ nhàng một chút là hời hợt, còn nói tệ hơn thì đó là ảo tưởng.

Đức Cha McElroy sau đó phê bình cái mà ngài gọi là “thần học về sự không xứng đáng”. Ngài lập luận rằng những người từ chối không cho các chính trị gia ủng hộ phá thai được rước lễ đang áp dụng một thử nghiệm “cực kỳ tùy tiện” khi “áp dụng các biện pháp trừng phạt rất có chọn lọc và không nhất quán”. Tôi tự hỏi có đúng như thế không?

Giáo luật quy định: “Ai ý thức mình phạm tội nặng và chưa xưng tội trước, thì không được làm lễ và không được rước lễ, nếu chưa đi xưng tội” (Giáo luật 916). Vì phá thai là một trong số những tội lỗi mang vạ tuyệt thông tiền kết (xem Giáo luật 1398), nên chắc chắn rằng một chính trị gia tích cực bảo vệ việc phá thai và cố gắng làm cho nó dễ tiếp cận hơn rất có nguy cơ đối với phần rỗi linh hồn. Chắc chắn không phải là quá “tùy tiện” khi xếp tệ nạn này vào loại các tội nghiêm trọng.

Thật công bằng khi đặt vấn đề liệu chúng ta có chọn lọc không khi chỉ tập trung vào việc phá thai. Tại sao chúng ta không tìm kiếm các biện pháp trừng phạt thánh thể đối với các tệ nạn khác đang tràn lan trong xã hội? Câu trả lời là mặc dù có nhiều tội trọng làm giảm đi sự xứng đáng của chúng ta khi lãnh nhận Bí tích Thánh Thể, nhưng chỉ những tội trọng nhất mới dập tắt hoàn toàn sự xứng đáng đó. Với tư cách là một nhóm các giám mục, chúng tôi đã đọc “những dấu chỉ của thời đại” (Gaudium et Spes), và nhận ra rằng phá thai là một tệ nạn lớn trong nền văn hóa của chúng ta, và đã gọi nó như vậy trong nhiều thập kỷ. Trở lại năm 1998, Hội Đồng Giám Mục của chúng tôi đã nêu đích danh phá thai là “mối đe dọa hàng đầu” và vào năm 2019, chúng tôi tái khẳng định rằng “mối đe dọa phá thai vẫn là âu lo hàng đầu của chúng tôi vì nó tấn công trực tiếp vào chính sự sống”. Các nhà lãnh đạo chính trị ủng hộ phá thai đã không chú ý đến những lời kêu gọi này, và bây giờ chúng tôi tìm cách áp dụng phương án chữa bệnh cuối cùng và nghiêm khắc nhất mà chúng tôi có: đó là các biện pháp trừng phạt thánh thể.

Đức Cha McElroy khi xem xét các lý lẽ từ chối không cho các chính trị gia ủng hộ phá thai được rước lễ đã đặt câu hỏi “Có bao nhiêu nhà lãnh đạo chính trị Công Giáo của hai đảng có thể vượt qua được bài kiểm tra đó?” Tôi cho rằng đây là câu hỏi sai. Chúa Giêsu không quan tâm đến những con số, nhưng đến sự cứu rỗi các linh hồn. Một câu hỏi hay hơn có thể là “Liệu tôi đã làm hết tất cả những gì một Giám Mục có thể làm để cố gắng đưa tất cả các chính trị gia Công Giáo ủng hộ việc phá thai trong đàn chiên của tôi trở lại tình trạng ân sủng hay chưa?”

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1288 Posted : Monday, May 31, 2021 1:47:27 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,708

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Đức Tổng Giám Mục Aquila báo động về
Con đường Đồng nghị của Đức với các Giám Mục thế giới


Vũ Văn An 30/May/2021

UserPostedImage

Con đường đồng nghị của Đức bị chính các giáo phẩm Đức cực lực phê phán. Theo Catholic News Service, trong bản tin ngày 25 tháng 5, Đức Hồng Y Rainer Maria Woelki của Cologne phê phán tiêu chuẩn thần học của một số tài liệu làm việc của Con Đường này, gọi nó là thiếu khả năng. Ngài nói: “cả thế giới hiện đang chăm chú nhìn vào Giáo Hội tại Đức và Con Đường Đồng Nghị này, nên một cách đơn giản, chúng ta không thể để mình bị xấu hổ về phương diện thần học vì sự thiếu khả năng này”.

UserPostedImage

Ngài thúc giục các nhà thần học bên trong và bên ngoài Con Đường Đồng Nghị nên can dự vào cuộc tranh luận. Ngài cũng hy vọng rằng diễn trình này sẽ thành công trong việc “khởi diễn cuộc cải tổ đích thực, một điều nhất định đang rất cần trong Giáo Hội”.

Nhưng cuộc cải tổ này phải “sửa lại mọi biểu hiện và thực tại từng dẫn người ta ra ngoài bản chất của Giáo Hội”. Phải hiểu Giáo Hội không như “một thực thể hoàn toàn có tính xã hội” mà phải như “công trình của Thiên Chúa. Mục tiêu của bất cứ cải tổ Giáo Hội nào cũng phải dẫn người ta tới Chúa Kitô và sứ điệp của Người”.

Ngài nhấn mạnh rằng nhiều người Công Giáo hiện nay không còn biết “Chúa Kitô là ai, Giáo Hội của Người là gì... bí tích là chi, cơ cấu bí tích của Giáo Hội là gì”.

Ngài nói thẳng điều tệ hại sẽ diễn ra nếu “một điều gì đó giống như một Giáo Hội quốc gia được tạo dựng ở đây”.

Đó chính là âu lo của Đức Tổng Giám Mục Aquila của tổng giáo phận Denver, Hoa Kỳ. Theo John Lavender của CruxNow, trong bản tin ngày 27 tháng 5, Đức Tổng Giám Mục Denver đã công bố một lá thư dài 15 trang tựa là “A Response to ‘Forum I” of the German Catholic Synodal Path: An Open Letter to the Catholic Bishops of the World” [Trả lời ‘Diễn Đàn I’ của Con Đường Đồng Nghị Đức: Thư ngỏ kính gửi Các Giám Mục Công Giáo Thế Giới] đề cập đến những điều được ngài coi như các đề nghị “cấp tiến” của con đường này, nhằm bàn tới việc dân chủ hóa việc bầu các Giám Mục, phong chức cho nữ giới, bãi bỏ luật độc thân linh mục...

Về việc phong chức cho phụ nữ, Đức Tổng Giám Mục Aquila cho hay Con Đường Đồng Nghị vừa hiểu phiến diện và đầy thiên kiến về nguồn gốc và bản chất thừa tác vụ thụ phong, vừa khai thác một lối giải thích đầy tính lọc lựa và sai lạc các văn kiện của Vatican II về bản chất Giáo Hội và tương quan của Giáo Hội với thế giới và việc Giáo Hội xây nền trên mạc khải Thiên Chúa.

Sai lầm khác của Con Đường Đồng Nghị là đề nghị thay đổi cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội. Theo Đức Tổng Giám Mục Aquila, Con Đường Đồng Nghị đòi cải tổ việc thi hành quyền lực “bằng cách phân tán nó qua hệ thống kiểm soát và cân bằng”... Ngài cho rằng cải tổ kiểu này chỉ nhằm phục vụ tư lợi, chứ không hề đặt cơ sở trên các hồng ơn và ý muốn minh nhiên của Chúa Giêsu. Vì, theo Vatican II, cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội là “ý hướng tỏ tường của Chúa Giêsu Kitô và Chúa Thánh Thần... Nên Giáo Hội, ở Đức hay ở bất cứ đâu, không có năng quyền thay đổi nó”.

Lời Đức Tổng Giám Mục Aquila: “Đọc Bản Văn Nền Tảng một cách chăm chú trong toàn bộ của nó cho thấy khó có thể không kết luận rằng Con Đường Đồng Nghị hy vọng tạo ra một Giáo Hội, thay vì sẵn sàng chịu bị thế gian khinh khi vì đã trung thành với Chúa Kitô, sẽ trổi vượt trong việc bị thế gian đặt điều kiện và được nó chấp nhận một cách thoải mái như một định chế đáng kính giữa các định chế khác”

Đức Tổng Giám Mục Aquila cho rằng dù tác dụng tài chánh đối với Giáo Hội quả có nặng nề, nhưng nó không thể là động lực đệ nhất đẳng đòi phải cải tổ.

Ngài đặt một số câu hỏi cho các Giám Mục thế giới: “Chúng ta có sẵn lòng nói về Thập Giá không? Chúng ta có can đảm bước theo đường Thập Giá, chịu sự khinh khi của thế gian vì sứ điệp Tin Mừng không? Chúng ta có chịu lắng nghe lời kêu gọi thống hối của Chúa Giêsu Kitô, và có can đảm làm nó vang vọng tới thế gian bất tín không?”

Trong khi đó, viết trên First Things ngày 26 tháng 5, Francis X. Maier, chuyên viên nghiên cứu cao cấp tại Trung Tâm Đạo Đức Học và Chính Sách Công, cho hay trước khi cho công bố lá thư, Đức Tổng Giám Mục Aquila đã đệ trình nó lên Đức Giáo Hoàng Phanxicô.

Theo Maier đây không phải là lá thư đọc cho vui mà “có một mục đích nghiêm túc hơn: một tháo dỡ có phương pháp và thấu đáo các sai lạc của diễn trình đồng nghị Đức. Bản văn là một bài phê phán thần học có mạch lạc và đích nhắm. Nó đặt cơ sở sâu rộng trong Kinh Thánh, Vatican II và giáo huấn thường hằng của Giáo Hội. Và trong khi có giọng tôn kính một cách nghiêm ngặt, nội dung của nó quả kết án nặng nề”.

Theo Maier, Đức Tổng Giám Mục Aquila liệt kê khá nhiều đề nghị đòi thay đổi triệt để cơ cấu Giáo Hội của Con Đường Đồng Nghị:

"... Dù cho rằng mình dựa vào Công đồng Vatican II, Con đường Đồng nghị khai thác lối giải thích có tính lọc lựa và sai lạc các văn kiện của công đồng để đưa ra những quan điểm không vững vàng về bản chất của Giáo hội (Lumen Gentium), mối liên hệ của Giáo hội với thế giới (Gaudium et Spes), và việc Giáo Hội đặt nền tảng trên mạc khải Thiên Chúa (Dei Verbum), những quan điểm không thể nào đứng vững khi đọc công đồng cách trọn vẹn. Kết quả là một viễn kiến về Giáo hội có nguy cơ bác bỏ Đấng duy nhất có ‘những lời ban sự sống đời đời’ (Ga 6:68)”.

Và ở chỗ khác, “... Cách tiếp cận được [Bản Văn bản Nền tảng của Con Đường Đồng Nghị] chấp nhận dường như được tính toán để làm suy yếu đặc tính dứt khoát và vĩnh viễn của Bí tích Truyền chức thánh... [và] cho thấy một lượng tham chiếu quá ít ỏi đến ngỡ ngàng các sách Tin Mừng, những sách, theo Dei Verbum số 18, ‘làm chứng chính cho đời sống và việc giảng dạy của Ngôi Lời nhập thể, Đấng cứu rỗi của chúng ta’".

Và ở chỗ khác nữa, ngài viết: “... Bản Văn Nền Tảng giả định rằng cách tốt nhất hoặc duy nhất để cải tổ việc thực thi quyền lực [trong Giáo hội] là phân tán nó qua một hệ thống kiểm soát và cân bằng. Những giả định đằng sau một hệ thống như vậy rất đáng được đưa ra ánh sáng. Các giáo sĩ và giáo dân là các thành viên của Thân thể duy nhất của Chúa Kitô, tìm kiếm cùng một ích chung là sự cứu rỗi đời đời, hay họ là những nhóm lợi ích riêng biệt, cần theo đuổi các nghị trình riêng của họ để cạnh tranh với nhau? Quyền lực có luôn luôn là vấn đề tìm kiếm bản thân, hay nó có thể được thanh tẩy bởi ơn thánh Thiên Chúa trong Chúa Kitô? Thay vì đưa ra lời hiệu triệu nên thánh, như được đề xuất bởi Công đồng Vatican II (Lumen Gentium, số 5) và được Đức Giáo Hoàng Phanxicô củng cố trong Tông huấn Gaudete et Exsultate, bản văn này nại tới những mô hình thế gian không được định hình bởi Chúa Kitô hoặc được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần".

Và cuối cùng, về cái giá không thể tránh của đời sống Kitô hữu Công Giáo chân chính:

“... Bản văn Nền tảng hầu như không cho thấy một sự đánh giá cao nào về việc các đòi hỏi chuyên biệt của Tin Mừng, như đã được Giáo hội công bố trong đức tin và đức ái, có thể và quả đã cổ vũ ra sao sự đối nghịch gay gắt mà Tân ước luôn đặt ra giữa tinh thần thế gian và lòng trung thành với Chúa Giêsu Kitô. Hơn nữa, bản văn bỏ qua cái giá phải trả của việc làm môn đệ như Chúa Kitô đã trình bày rõ trong Tin mừng”.

Cuối cùng, lá thư của Đức Tổng Giám Mục Aquila nhận định, Con Đường Đồng Nghị Đức “hình dung lại vai trò của Huấn quyền Giáo hội,” giản lược nó thành một cơ quan “phối hợp đối thoại”.

Như thế, Bản văn Nền tảng từ đầu đến cuối có đặc điểm của “một thuyết duy tương đối minh nhiên và triệt để về tín lý”. Kết quả là, “Hội nghị Con Đường Đồng Nghị khiến chúng ta tự hỏi: Thiên Chúa nói với hay không nói với dân Người?”.

Theo Maier, một lá thư như của Đức Tổng Giám Mục Aquila, nghĩa là của một giám mục hoặc các giám mục ở một quốc gia gửi cho một giám mục hoặc các giám mục ở một quốc gia khác, hầu như không phải là điều mới lạ trong lịch sử Giáo hội. Hợp đoàn giám mục dù sao cũng mang tính hoàn cầu, và các phương tiện thông tin đại chúng và truyền thông nhanh chóng ngày nay có nghĩa là “những gì xảy ra ở Đức” chắc chắn, và nhanh chóng, sẽ như diều gặp gió bay tới Denver, Nairobi, Calcutta và mọi nơi khác trên hành tinh với kết nối internet. Luther có máy in. Ngày nay, ta có mạng lưới hoàn cầu.

Edited by user Monday, May 31, 2021 1:48:30 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thao ly  
#1289 Posted : Thursday, June 3, 2021 6:19:46 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,688
Woman

Thanks: 484 times
Was thanked: 445 time(s) in 342 post(s)

Quá độ — nói phét vượt thời gian!


June 2, 2021
Phạm Trần

“Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, trong đó có tư tưởng xét lại, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã trở thành vấn đề căn bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. “Báo Quân đội Nhân dân (QĐND), cơ quan ngôn luận của Bộ Quốc phòng CSVN đã cảnh giác như thế trong bài viết ngày 26/05/2021. Nhưng tại sao lại có hiện tượng “xét lại” và “xét lại cái gì” sau 35 năm đổi mới, bắt đầu từ năm 1986 và sau 131 năm ngày sinh ông Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2021), người thành lập đảng CSVN ngày 3/2/1930?

NGUYÊN NHÂN XÉT LẠI

Trước tiên, việc đòi “xét lại” là nhằm tấn công vào sào huyệt “tư tưởng Đảng”, theo đó toàn đảng, tòan quân phải tuyệt đối trung thành với Chủ nghia Mác-Lênin, tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh và chủ trương, chính sách của đảng để lãnh đạo nhân dân “quá độ” lên Xã hội chủ nghĩa.

Vậy mầm mống đòi “xét lại” ở đâu? Theo giải thích của QĐND thì: “Gần đây, nếu quan tâm theo dõi tình hình, có thể thấy sự xuất hiện của một vài ý kiến đòi xem xét lại nội dung cốt lõi nền tảng tư tưởng của Đảng. Có người thì tỏ ra nhẹ nhàng “hiến kế”, “tâm thư”, “góp ý” rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, nên thay bằng những thứ mà họ gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, rằng nội dung Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không có gì mới, vẫn là “bổn cũ soạn lại”, “sao chép theo lối mòn”, thiếu tầm tư duy chiến lược, không biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại. Có người thì công khai phủ định, phản bác Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Họ đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng chế độ xã hội theo mô hình phương Tây…”.

UserPostedImage

Phe đòi “xét lại” có 2 khuynh hướng, đó là: “Chủ nghĩa xét lại “tả khuynh” tìm cách đánh tráo những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng những quan điểm vô chính phủ, duy ý chí có tính tiểu tư sản, phủ nhận tính tất yếu đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân, phủ nhận vai trò của đảng cộng sản và chuyên chính vô sản. Chủ nghĩa xét lại “hữu khuynh” thì đòi bác bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, muốn thay thế những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng những quan điểm, cải cách tư sản.”

“Ở Việt Nam”, the QĐND, “trong quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, phức tạp, ở những bước ngoặt, chúng ta cũng thấy xuất hiện tư tưởng cơ hội, xét lại dưới nhiều màu sắc “hữu khuynh”, “tả khuynh”. Dù chỉ tồn tại với tính cách là quan điểm, tư tưởng chứ chưa định hình rõ như “chủ nghĩa”; biểu hiện ở lời nói, trang viết và hành động nhỏ lẻ của một số người, một nhóm người nhưng tư tưởng xét lại cũng gây nhiều khó khăn cho cách mạng.”

Vì vậy QĐND đã cảnh báo “ Những quan điểm mang tư tưởng xét lại, chống phá nói trên nếu không được phản bác, ngăn chặn sẽ gây hoang mang trong nhân dân, làm suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào CNXH và con đường đi lên CNXH.”

Nhưng chuyện đòi Đảng “xét lại” không chỉ có vài ý kiến riêng lẻ mà đã biến thành một phong trào xa đảng dưới dạng “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” lan rộng trong nội bộ.

Bởi vì, sau hơn 60 năm có chủ trương “qúa độ lên Xã hội Chủ nghĩa” từ thập niên 60 của ông Hồ Chí Minh được cổ võ, thực hiện và học tập ở miền Bắc (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), và từ sau 1975 trên cả nước, nhằm tiến lên Xã hội Chủ nghĩa, nhiều lãnh đạo CSVN dù đã vất vả “qúa độ” trăm chiều mà vẫn chưa biết “ngưỡng cửa Thiên đàng của Xã hội Chủ nghĩa” ở đâu.

Bằng chứng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thú nhận với cử tri Hà Nội ngày 23/10/2013. Ông nói:” Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.” (theo báo Thanh Niên, ngày 24/10/2013)

Người đứng đầu đảng cầm quyền duy nhất mà còn mơ hồ như thế thì cán bộ, đảng viên hoang mang đến chừng nào. Vậy nên việc đảng phải báo động đề phòng tình trạng “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Quân đội và lực lượng Công an là điều không lạ. Hiện tượng chán đảng, muốn xa lìa Chủ nghĩa Cộng sản còn lan nhanh trong một số cấp Lãnh đạo, nhân dân, Trí thức và nhiều tầng lớp người trẻ trong Tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, lớp dự bị của đảng, đã công khai lạnh nhạt với Chủ nghĩa Mac-Lênin không chỉ trong lời nói mà cả trong học tập và hành động. Hàng ngàn du học sinh ở nước ngoài đã không muốn quay về giúp nước sau khi đã tốt nghiệp thì đảng phải biết họ đã thèm sống tự do và chán chính sách cai trị của mình đến chừng nào.

XÉT LẠI MUỐN GÌ?

Vậy những người đòi “xét lại” muốn gì? Họ yêu cầu đảng phải can đảm nhìn lại cái bóng của mình sau 35 năm đổi mới để thay đổi tư duy cầm quyền độc tài, phi dân chủ và không có tự do như mong muốn của ông Hồ.

Khi còn sống, ông Hồ từng nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc: là làm sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.”

BÌNH LUẬN QUÂN SỰ: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là giá trị vững bền

Nhưng sau 52 năm ông Hồ qua đời, người dân Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn có tự do, chưa phải ai cũng có cơm ăn áo mặc đầy đủ hay được học hành như nhau. Sự cách biệt giầu nghèo mỗi ngày một giãn ra giữa dân thường và cán bộ, đảng viên, nhất là những kẻ có chức, có quyền. Sự cách biệt giữa thành thị và thôn quê cũng sâu thêm, nhất là ở những vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên và vùng xa hải đảo.

Một Báo cáo của Bộ Lao động – thương binh và xã hội cho biết:”Chênh lệch giàu nghèo không được thu hẹp mà còn giãn ra, phân hóa giàu nghèo gia tăng. Chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% dân số giàu nhất và nhóm 20% dân số nghèo nhất vào năm 2014 là 9,7 lần, đến năm 2018 tăng lên 10 lần”. (theo báo Tuổi Trẻ online, ngày 25/7/2019)

Nguyên Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ (bây giờ là Chủ tịch Quốc hội) từng nhìn nhận :” Kết quả giảm nghèo chưa thực sự mang tính bền vững, tỉ lệ hộ nghèo phát sinh còn cao. Cứ một trăm hộ thoát nghèo lại có khoảng 18 hộ nghèo phát sinh mới, tỉ lệ phát sinh hộ nghèo là 17,8%. Bên cạnh đó, tỉ lệ các xã thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn rất thấp, chỉ 44/292 xã thoát khỏi tình trạng xã đặc biệt khó khăn” (Tuổi Trẻ online, ngày 25/7/2019)

Vẫn theo Tuổi Trẻ: ”Tính đến cuối năm 2018, tỉ trọng hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm trên 55% tổng số hộ nghèo cả nước, thu nhập bình quân của hộ dân tộc thiểu số chỉ bằng 2/5 mức thu nhập bình quân của cả nước. Vùng nghèo nhất cả nước hiện nay là vùng tây các tỉnh duyên hải miền Trung như phía tây các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi.”

Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam thì: ”Thu nhập bình quân một người/tháng chung cả nước năm 2020 theo giá hiện hành đạt khoảng 4,230 triệu đồng, giảm khoảng 2% so với năm 2019. (183.93 US Dollars) (Theo TTXVN, ngày 28/5/2021)

Thu nhập bình quân một người/tháng chung cả nước năm 2020 theo giá hiện hành đạt khoảng 4,230 triệu đồng, giảm khoảng 2% so với năm 2019.

Vẫn theo tin chính thức thì:”Bình quân mỗi năm trong thời kỳ 2016-2020, thu nhập bình quân một người/tháng chung cả nước tăng bình quân 8,1%. Trong đó, thu nhập bình quân một người/tháng năm 2020 ở khu vực thành thị đạt 5,538 triệu đồng, cao gấp gần 1,6 lần khu vực nông thôn (3,480 triệu đồng). (233.93 US Dolars)

Nhóm hộ giàu nhất có thu nhập năm 2020 bình quân 9,108 triệu đồng/người/tháng (396.03 US Dolars)
, cao gấp hơn 8 lần so với nhóm hộ nghèo nhất với mức thu nhập đạt 1,139 triệu đồng/người/tháng (49.53 US Dollars).“

”Tính về GDP bình quân đầu người thì con số của Việt Nam cực kỳ khiêm tốn”, theo một nghiên cứu của World Bank (WB, Ngâ hàng Thế giới). Theo WB, “Singapore có GDP bình quân đầu người trên 58.000 USD/người, Brunei trên 23.000 USD, Malaysia trên 10.000 USD, Thái Lan 7.300 USD, Indonesia trên 4.000 USD… GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2020 chỉ cao hơn được Lào, Campuchia và Myanmar .”(Burma–Miến Điện)

GIÁO DỤC-DÂN CHỦ


Nguyên nhân đòi “xét lại” thứ hai là trong lĩnh vực giáo dục.

Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở (Tổng điều tra) năm 2019 của Tổng cục Thống kê cho thấy :” Tỷ lệ đi học chung của cấp tiểu học là 101,0%; cấp THCS là 92,8% và THPT là 72,3%. Ở cấp tiểu học, không có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn về tỷ lệ đi học chung (100,9% so với 101,0%). Cấp học càng cao thì khoảng cách chênh lệch về tỷ lệ đi học chung giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn càng lớn, cụ thể: Cấp THCS, tỷ lệ đi học chung của khu vực thành thị cao hơn tỷ lệ đi học chung của khu vực nông thôn là 3,4 điểm phần trăm; mức chênh lệch này ở cấp THPT là 13,0 điểm phần trăm.”

Báo cáo công bố kết quả từ Tổng điều tra năm 2019 cũng cho biết: ”Hầu như không có sự khác biệt giữa các vùng kinh tế – xã hội về mức độ phổ cập giáo dục tiểu học nhưng có chênh lệch ở cấp THCS và THPT. Tỷ lệ đi học chung cấp THCS và THPT cao nhất là ở Đồng bằng sông Hồng (lần lượt là 97,4% và 87,0%) và thấp nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long (lần lượt là 86,8% và 59,6%). Chênh lệch cao nhất giữa các vùng kinh tế – xã hội là 10,6điểm phần trăm ở cấp THCS và 27,4% ở cấp THPT.

Tỷ lệ đi học đúng tuổi cao nhất ở Đồng bằng sông Hồng ở tất cả các cấp học: Tiểu học là 98,8%, THCS là 94,9%, THPT là 83,7%. Tỷ lệ đi học đúng tuổi thấp nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên.

Kết quả Tổng điều tra năm 2019 cho thấy, mặc dù tỷ lệ trẻ em không đến trường trên phạm vi cả nước chỉ còn 8,3% nhưng sự khác biệt vẫn còn khá lớn giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị, cũng như giữa các vùng kinh tế – xã hội. Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường ở khu vực nông thôn cao hơn gần hai lần so với khu vực thành thị (9,5% so với 5,7%). Chênh lệch cao nhất về tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường giữa các vùng kinh tế – xã hội là 10,1 điểm phần trăm. Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường thấp nhất (3,2%), thấp hơn khoảng bốn lần so với Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long (cả hai vùng này đều bằng 13,3%). Đáng chú ý, Đông Nam Bộ là một trong hai vùng kinh tế phát triển nhất cả nước nhưng có tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường thuộc nhóm cao (sau Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long), chiếm 9,5%.”

Với mức chênh lệch từ Tiểu lên Trung Học cho ta thấy đường vào Đại học của con nhà nghèo, đa phần ở nông thôn và vùng cao rất khó khăn nếu không được học bổng và mượn tiền ngân hàng.

Nguyên nhân đòi “xét lại” thứ ba thuộc về lãnh vục dân chủ. Ông Hồ Chí Minh từng khoe:” “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. Ông còn nói:”
“Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân..Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới biết làm thầy học dân”.

Đảng cũng ra rả tuyên truyền “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền do dân làm chủ, của dân và vì dân”. Nhưng thực tế, đảng cầm quyền độc tài đã coi dân như tôm tép, cán bộ tha hồ bóc lột bằng đường tham nhũng và ăn trên, ngồi trốc mọi người. Tư pháp không độc lập mà phần lớn các bản án, đặc biệt án chính trị đều đã quyết sẵn từ trước bởi đảng bên ngoài tòa án. Nhân dân đã mất tự do còn không được lập hội để sinh hoạt, hay biểu tình chống bất công, chống âm mưu xâm lược của Trung Quốc vì nhà nước sợ Tầu hơn sợ ma.

Vậy mà ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng còn gay gắt dọa “không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động” khi ông nói về nan đề “xây dựng chỉnh đốn đảng” hồi cuối năm 2020 và đầu năm 2021.

Ông nói: ”Xác định rõ tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta là kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và những nguyên tắc xây dựng Ðảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ðây là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Ðảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động .” (theo báo Chính phủ, ngày 28/12/2020)

Sau đó, trong Diễn văn “Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về các Văn kiện trình Đại hội XIII” sáng ngày 26/01 (2021), ông Trọng lại chỉ đạo:” Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. (báo Trung ương đảng CSVN).

THÁI ĐỘ CỦA NHÀ NƯỚC

Mặc cho ông Trọng cảnh giác, một số không nhỏ cán bộ và nhân dân vẫn công khai chán đảng, muốn lãnh đạo phải thay đổi và chấp nhận cạnh tranh dân chủ với các lực lượng quần chúng để xây dựng đất nước phồn vinh.

Đòi hỏi chân chính này đã bị Ban Tuyên giáo Trung ương của đảng và Cục Chính trị Quân đội quy kết là “âm mưu chống đảng của các thế lực thù địch cấu kết trong-ngoài giữa các phần tử người Việt lưu vong ở nước ngoài, đặc biệt ở Mỹ”, và bởi những “phần tử cơ hội, thoái hóa, biến chất và mất bản lĩnh trong nước”. Tất cả hình thức chống đảng đều được Đảng quy kết cho “diễn biến hòa bình” do phương Tây, chủ yếu là Hoa Kỳ, cầm đầu nhằm xóa bỏ Chế độ do đảng lãnh đạo.

UserPostedImage

Phạm Trần: Đó là lý do tại sao QĐND đã nhìn ra khó khăn khi bảo: “Đấu tranh với chủ nghĩa xét lại diễn ra ngay trong nội bộ những người cộng sản nên nó đòi hỏi sự kiên trì, khả năng thuyết phục, chứ không thể cực đoan, vội vã phân chiến tuyến, áp đặt phải đứng về bên này hay bên kia. Đặt ra vấn đề này bởi có lúc giáo điều, chủ quan, duy ý chí đã cản trở, gây tâm lý ngần ngại trước những thay đổi, hoặc nhìn nhận, đánh giá chưa hết những sáng tạo phát triển, đổi mới.

Đây là việc làm không dễ dàng nhưng lịch sử cho thấy Đảng ta luôn biết vượt qua khó khăn, thử thách trong những thời điểm mà thực tế đòi hỏi phải có những đổi mới, phát triển mà không sa vào xét lại, chệch hướng bằng sự nhạy cảm chính trị và động cơ trong sáng vì nước, vì dân.”

Cái loa tuyên truyền của Cục Chính trị, Bộ Quốc phòng Việt Nam nói thế chỉ để che đậy những yếu kém trong nội bộ đang lung lay tận gốc rễ “tư tưởng đảng”. Cũng có người còn mơ màng rằng: “Đổi mới chính là để hướng tới chủ nghĩa xã hội, để hiện thực quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác lập rõ ràng hơn. Đổi mới như một dòng chảy vận động liên tục cả guồng máy xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, phát động, lãnh đạo, tổ chức thực hiện từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đến nay.” (theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân, ngày 28/05/2021)

Mồm loa mép giải như thế nhưng Tác giả của bài viết, GS-TS Vũ Văn Hiền, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, vẫn không thể hình dung được hình thù của cái Xã hội chủ nghĩa lý tưởng mà đảng CSVN đang “quá độ” tiến tới như thế nào và ở đâu.

Vì vậy ông Hiền cũng chỉ biết hô hoán: “Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là định hướng đúng vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, vừa có sự chắc chắn, vững tin…Do đổi mới phù hợp giữa “ý Đảng” và “lòng dân”, nên khi Đảng ta phát động, nhân dân nhiệt tình hưởng ứng tạo thành động lực to lớn thực hiện có hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước.”

Nhưng nếu việc làm nào của đảng cũng là “ý Đảng lòng dân” thì làm gì có chuyện đòi “xét lại” như báo QĐND đã cảnh báo.

Đúng là các “Dư luận viên ”đã nói phét vượt thời gian. -/-

Phạm Trần
(06/021)

Edited by user Thursday, June 3, 2021 6:23:02 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thao ly  
#1290 Posted : Thursday, June 3, 2021 6:56:52 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,688
Woman

Thanks: 484 times
Was thanked: 445 time(s) in 342 post(s)

Trung Quốc một trăm năm cô đơn


May 29, 2021 cập nhật lần cuối May 29, 2021

Hiếu Chân/Người Việt

Chỉ một tháng nữa ở Trung Quốc sẽ diễn ra sự kiện chính trị lớn nhất trong nhiều năm: đại lễ kỷ niệm đệ bách chu niên (100 năm) ngày thành lập đảng Cộng Sản Trung Quốc – đảng chính trị lớn nhất và quyền lực nhất hành tinh. Chưa bao giờ Trung Quốc giàu mạnh như lúc này, nhưng cũng chưa bao giờ đất nước 1.4 tỷ dân lại cảm thấy cô đơn và bị thế giới xa lánh như lúc này.

UserPostedImage

Cái nhìn tiêu cực đối với Trung Quốc của người Mỹ đã tăng vọt từ 47% vào năm 2017 lên mức đáng kinh ngạc 73% vào năm 2020. Trong hình, người biểu tình Hồng Kông và những người ủng hộ Đài Loan giẫm lên quốc kỳ Trung Quốc. (Hình minh họa: AP Photo/Chiang Ying-ying, File)

Hoa Kỳ là một đất nước bị chia rẽ trầm trọng. Hầu như mọi ý tưởng, đề nghị đưa ra nghị trường đều có hai luồng tư tưởng ủng hộ và phản đối, quyết liệt như nhau, bất phân thắng bại, từ chuyện trợ cấp cho người thất nghiệp đến vụ điều tra cuộc bạo loạn tấn công tòa nhà Quốc Hội. Nhưng có một chuyện cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa đều đồng ý với nhau cao độ: mối đe dọa từ Trung Quốc.

Tổng Thống Joe Biden có lần nói: “Người Trung Quốc đang ăn mất bữa trưa của chúng ta.” Thượng Nghị Sĩ Josh Hawley (Cộng Hòa-Missouri) thì cho rằng Trung Quốc đang đi gần tới mục tiêu thống trị cả thế giới.

Có một vấn đề thời sự rất nóng mà quan điểm của hai đảng đang tiệm cận với nhau: nguồn gốc của đại dịch COVID-19. Từ chỗ cho rằng virus SARS-Cov-2 gây đại dịch có nguồn gốc tự nhiên, truyền nhiễm sang con người một cách ngẫu nhiên từ động vật, cụ thể là con dơi, giới khoa học dần dần chuyển sang giả thuyết SARS-Cov-2 bị rò rỉ ra cộng đồng từ một phòng thí nghiệm ở thành phố Vũ Hán, Trung Quốc.

Từ đầu dịch đến nay, giả thuyết “rò rỉ từ phòng thí nghiệm” luôn bị giới khoa bảng và truyền thông cho là sai lầm, là “thuyết âm mưu” nhằm đổ tội cho Trung Quốc dù cựu Tổng Thống Donald Trump và các giới chức hàng đầu của đảng Cộng Hòa nhiều lần nói bóng gió rằng Hoa Kỳ “có bằng chứng” rằng virus gây đại dịch COVID-19 đã sổng ra từ phòng thí nghiệm ở Vũ Hán sau một tai nạn.

Đảng Dân Chủ – vốn bác bỏ mọi tuyên bố của ông Trump bất kể đúng sai – cho rằng giả thuyết “phòng thí nghiệm” chẳng qua chỉ là thủ đoạn đánh lạc hướng dư luận khỏi thành tích kém cỏi của chính quyền Trump trong việc ứng phó với cuộc khủng hoảng đại dịch COVID-19.

Thế nhưng, quan điểm của đảng Dân Chủ đã thay đổi, chuyển sang ủng hộ giả thuyết virus bị rò rỉ từ phòng thí nghiệm, gần với quan điểm của đảng Cộng Hòa. Sau khi nhiều nhà khoa học nổi tiếng thế giới đăng thư ngỏ yêu cầu tổ chức cuộc điều tra độc lập, toàn diện và minh bạch về nguồn gốc của virus Corona, đặc biệt sau khi chính phủ Bắc Kinh bác bỏ đề nghị của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) tổ chức một cuộc điều tra như vậy, lần thứ hai, thì chính phủ Biden đã lên tiếng.

Hôm Thứ Tư, 26 Tháng Năm, Tổng Thống Joe Biden yêu cầu cộng đồng tình báo Hoa Kỳ phải “nỗ lực gấp đôi” để xác định nguồn gốc của virus COVID-19 và báo cáo cho ông trong vòng 90 ngày. Dù ông Biden chưa xác quyết trong hai giả thuyết về nguồn gốc virus, “tự nhiên” và “phòng thí nghiệm,” giả thuyết nào là đúng, nhưng quyết định đẩy mạnh điều tra ngụ ý bản thân ông đang tin rằng giả thuyết phòng thí nghiệm là có cơ sở, cần được tiếp tục theo đuổi.

Áp lực của dư luận và Quốc Hội có thể buộc ông Biden đi đến quyết định như vậy, nhưng cũng có phần do thái độ của Trung Quốc, bất hợp tác, phòng thủ và cản trở các nhà khoa học điều tra nguồn gốc đại dịch, buộc mọi người phải nghĩ rằng Bắc Kinh đang ra sức giấu giếm, che đậy một sự thật nào đó bất lợi cho họ.

Thử tưởng tượng, nếu một cuộc điều tra độc lập của các chuyên gia tổ chức WHO xác nhận virus COVID-19 đã bị sổng khỏi phòng thí nghiệm của Viện Nghiên Cứu Virus Vũ Hán (WVI) vào cuối năm 2019, truyền bệnh cho một số nhân viên của viện này trước khi lan ra cộng đồng dân cư và gây nên đại dịch COVID-19 như thông tin hiện nay thì phản ứng của các nước trên thế giới sẽ như thế nào? Hàng triệu gia đình có thân nhân tử vong vì con virus quái ác sẽ nghĩ sao về hành vi của Trung Quốc che đậy nguồn gốc đại dịch và vô trách nhiệm trong việc ngăn chặn nó từ đầu?

Bởi vậy, quyết định của chính phủ Mỹ điều tra tình báo về nguồn gốc COVID-19 có thể coi là một cái tát vào mặt chính phủ Bắc Kinh, làm Trung Quốc giãy nãy lên phản bác.

Vụ nguồn gốc virus COVID-19 chỉ là một ví dụ mới nhất cho thấy quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc đã rơi xuống tận đáy, khó mà hồi phục. Có thể kể ra rất nhiều sự kiện khác đang diễn ra cho thấy Trung Quốc đã đánh mất lòng tin của Hoa Kỳ, của các chính trị gia lẫn thường dân Mỹ, chẳng hạn như những tuyên bố của ông Kurt Campbell – điều phối viên về chính sách Châu Á của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ – rằng “thời kỳ gắn bó giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đã vĩnh viễn chấm dứt;” hay cuộc điện đàm căng thẳng giữa Đại Diện Thương Mại Mỹ Katherine Tai với Phó Thủ Tướng Trung Quốc Lưu Hạc (Liu He) chung quanh cung cách làm ăn không công bằng của Bắc Kinh.

***
Nhưng quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc xấu đi chỉ là một phần trong một xu hướng lớn, trên toàn cầu, theo đó Trung Quốc bỗng thấy mình rơi vào cảnh “thập diện mai phục” khi các nước chung quanh đều nhìn Bắc Kinh với con mắt e dè và cảnh giác.

Thứ Năm tuần trước, ngày 20 Tháng Năm, Nghị Viện Châu Âu – cơ quan lập pháp chung của 27 nước thành viên Liên Minh Châu Âu (EU) – bỏ phiếu đồng thuận “đóng băng” việc xem xét phê chuẩn hiệp định đầu tư toàn diện Trung Quốc-EU, gọi tắt là CAI (Comprehensive Agreement on Investment).

CAI là một hiệp định đầu tư và thương mại đầy tham vọng, cho phép các công ty của hai bên đi vào thị trường của nhau một cách thuận lợi, không bị rào cản; dù xét về thực lực nó mang lại cho Trung Quốc nhiều lợi ích hơn trong việc khai thác thị trường và năng lực công nghệ vượt trội của Châu Âu. Hiệp định được ký kết vào ngày cuối cùng của năm 2020 sau bảy năm đàm phán, bất chấp sự can ngăn của ông Jake Sullivan, cố vấn An Ninh Quốc Gia trong chính phủ Joe Biden sắp nhậm chức ở Hoa Kỳ.

Các phân tích gia cho rằng, Trung Quốc cố sống cố chết để ký cho được hiệp định CAI với EU vì ngoài giá trị về kinh tế-thương mại, đây là một nước cờ chiến lược quan trọng của Bắc Kinh: nó sẽ đóng một “cái nêm” vào mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương, đẩy Hoa Kỳ và EU ra xa nhau. Không có thời điểm nào thích hợp để làm việc đó hơn là những ngày cuối nhiệm kỳ tổng thống của ông Trump, khi quan hệ Hoa Kỳ-EU đang lạnh nhạt vì chính sách “American First” của ông cựu tổng thống.

Quyết định của EU đình chỉ tiến trình phê chuẩn hiệp định CAI gây sốc cho giới chính trị và kinh doanh Trung Quốc. Nhưng xét cho cùng, chính thái độ ngạo mạn của Bắc Kinh đã dẫn tới hậu quả đó. Hồi Tháng Ba, EU – cùng với Hoa Kỳ, Canada – ban hành một loạt biện pháp trừng phạt nhỏ đối với bốn quan chức địa phương và cơ quan an ninh tỉnh Tân Cương (Xinjiang) của Trung Quốc do hành vi đàn áp người thiểu số Duy Ngô Nhĩ (Uighur) theo Hồi Giáo, giam cầm hàng triệu người trong các trại tập trung trá hình. Dù vậy, EU không tán thành việc mô tả các hành động của Trung Quốc ở Tân Cương là “tội diệt chủng” như quan điểm của Hoa Kỳ.

Giới khoa học dần dần chuyển sang giả thuyết SARS-Cov-2 bị rò rỉ ra cộng đồng từ một phòng thí nghiệm ở thành phố Vũ Hán, Trung Quốc. Trong hình, phụ nữ đeo khẩu trang để chống lại sự lây lan của virus Corona đi bộ tại một trung tâm mua sắm ở Bắc Kinh, Trung Quốc, hôm Thứ Hai, 24 Tháng Năm, 2021. (Hình minh họa: AP Photo/Andy Wong)

Bắc Kinh đã phản ứng một cách dữ dội: áp đặt lệnh cấm vận đối với nhiều cá nhân và tổ chức của EU, trong đó có Ủy Ban An Ninh và Chính Trị EU, Tiểu Ban Nhân Quyền của Nghị Viện Châu Âu, năm nghị sĩ hàng đầu của Nghị Viện và một số học giả nghiên cứu về Trung Quốc. Biện pháp cấm những người này nhập cảnh vào lãnh thổ Trung Quốc, Hồng Kông và Macau chẳng có ý nghĩa thực tế gì nhưng đã làm cho EU thức tỉnh về một Trung Quốc hung hăng và ngạo mạn, khó có thể là một đối tác bình đẳng và đáng tin cậy; số phận của hiệp định CAI vì vậy đi vào ngõ cụt.

Trong EU, có lẽ Ý và Đức là hai nước có quan hệ gần gũi với Trung Quốc nhất. Ý là nước EU duy nhất tham gia vào dự án “Vành Đai và Con Đường” của Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình; còn Đức là nước có lợi nhất trong buôn bán với Trung Quốc, thị trường Trung Quốc mang lại 40% doanh số và lợi nhuận cho các hãng xe hơi Đức.

Hôm 17 Tháng Năm, Thủ Tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường (Li Keqiang) đã điện đàm với Thủ Tướng Ý Mario Draghi, yêu cầu Ý tác động với Nghị Viện EU sao cho “hiệp định về đầu tư Trung Quốc-EU được phê chuẩn và có hiệp lực sớm nhất có thể.” Tuy nhiên ông Draghi đã không ngăn cản được xu thế chống Trung Quốc của các thành viên Nghị Viện và tiến trình phê chuẩn hiệp định bị “đóng băng” như vừa nói.

Nước Đức dưới thời Thủ Tướng Angela Merkel theo đuổi chiến lược gắn bó với Trung Quốc, vừa để mở thị trường cho các công ty xuất cảng hàng hóa – nhất là xe hơi của Đức, vừa hy vọng kinh tế phát triển sẽ mang lại dân chủ tự do cho người Trung Quốc. Hiệp định CAI nói trên được bà Merkel thúc đẩy ký kết vội vàng vào ngày cuối cùng nước Đức giữ vai trò chủ tịch luân phiên của Hội Đồng Châu Âu như là một biểu hiện của chiến lược gắn bó đó.

Nhưng niềm hy vọng của Đức đã tàn phai theo chính sách ngày càng độc tài của ông Tập Cận Bình và người Đức đang tính tới sự thay đổi. Thủ Tướng Merkel sẽ mãn nhiệm vào Tháng Chín tới và nếu trong cuộc bầu cử Quốc Hội (Bundestag) sắp diễn ra, đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo của bà bị mất ghế vào tay các đảng đối lập vốn chống lại việc kết thân với Bắc Kinh thì quan hệ Đức-Trung Quốc sẽ đi vào một bước ngoặt lớn, khó cứu vãn được.

***

Ở Châu Á, hình ảnh của Trung Quốc cũng không sáng sủa gì hơn. Hãy xem mối quan hệ của Trung Quốc với Úc, một trong những đối tác thương mại chính của họ. Úc đã quyết đoán hơn đối với Trung Quốc về cả thương mại và nhân quyền nhưng vẫn luôn nỗ lực để duy trì các mối quan hệ mang tính xây dựng.

Năm ngoái, Canberra đã kêu gọi một cuộc điều tra độc lập về nguồn gốc của COVID-19. Và đáp lại, Bắc Kinh đã tấn công Úc bằng tất cả các loại hạn chế thương mại, cáo buộc chính phủ Úc “đầu độc quan hệ song phương” và đòi Úc phải ngăn cấm báo chí và các viện nghiên cứu của nước này đăng những bài viết tiêu cực về Trung Quốc.

Đại sứ quán Trung Quốc tại Canberra còn công bố yêu sách 14 điểm lên án chính sách của chính phủ Úc. Mới đây nhất, Bắc Kinh tuyên bố đình chỉ “vô thời hạn” mọi hoạt động trong khuôn khổ Đối Thoại Kinh Tế và Chiến Lược Trung Quốc-Úc.

Hậu quả của chính sách đe dọa của Trung Quốc là Úc quyết định hủy bỏ các thỏa thuận về “Vành Đai và Con Đường” mà tiểu bang Victoria của nước này đã ký kết với Bắc Kinh, đồng thời tham gia tích cực hơn cùng Hoa Kỳ, Nhật Bản và Ấn Độ trong liên minh Bộ Tứ (QUAD), chống lại sự bành trướng của Trung Quốc ở Đông Á và Đông Nam Á.

Ấn Độ là một trường hợp khác. Năm ngoái, binh lính Trung Quốc xâm nhập và đụng độ với binh lính Ấn Độ ở biên giới trên dãy Hi Mã Lạp Sơn băng giá, chiếm cho Trung Quốc khoảng 100 cây số vuông đất hoang. Nhưng kết quả là Ấn Độ, từ lâu đã không muốn tham gia vào một liên minh chống Trung Quốc, hiện đã sẵn sàng thay đổi. Ấn Độ đã cấm hàng loạt ứng dụng điện toán của Trung Quốc, loại trừ các công ty Trung Quốc ra khỏi mạng 5G của Ấn Độ và đã cùng Hoa Kỳ, Úc và Nhật Bản thực hiện các cuộc tập trận Hải Quân lớn nhất của họ trong hơn một thập niên qua.

Ở Đông Á, Đài Loan, Nhật Bản và các quốc gia xung quanh Biển Đông có rất nhiều câu chuyện của riêng họ về việc Trung Quốc sử dụng các cuộc tuần tra quân sự hung hăng và các hình thức đe dọa khác để khẳng định lợi ích của mình chung quanh các quần đảo Đài Loan, đảo Senkaku của Nhật Bản và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, thậm chí đi sâu xuống quần đảo Natuna của Indonesia và củng cố việc chiếm đóng các bãi cạn Mischief, Scarborough của Philippines…

Tất cả những chính sách hung hăng và ngạo mạn của Bắc Kinh đã và đang gây ra những hậu quả trầm trọng cho hình ảnh toàn cầu của nước này, làm giảm đáng kể sức mạnh mềm mà Trung Quốc đã cố công xây dựng.

Cái nhìn tiêu cực đối với Trung Quốc của người Mỹ đã tăng vọt từ 47% vào năm 2017 lên mức đáng kinh ngạc 73% vào năm 2020. Đây không phải là hiện tượng riêng ở Mỹ mà là xu thế chung của thời đại, của thế giới.

Cái nhìn tiêu cực đối với Trung Quốc của người Canada đã tăng 40% lên 73%, từ 37% lên 74% ở Vương Quốc Anh, từ 32% lên 81% ở Úc, từ 61% lên 75% ở Nam Hàn và từ 49% lên 85% ở Thụy Điển. “Nếu có một chủ đề duy nhất trong đời sống quốc tế ngày nay thì đó là sự thù địch của công chúng đối với Trung Quốc,” nhà bình luận chính trị Fareed Zakaria của báo The Washington Post và đài CNN nhận định.

***

Cổ tích Việt Nam có câu chuyện về anh học trò và con chó đá: một con chó bằng đá trước cổng đình cứ vẫy đuôi mừng anh học trò nghèo mà nó biết sắp đỗ đạt làm quan to; nhưng từ khi được con chó đá cho biết mình sắp thi đỗ, anh học trò bèn lên mặt đe nẹt hàng xóm láng giềng. Không chấp nhận sự hung hăng và ngạo mạn như vậy, ông Trời bèn rút lại quyết định cho anh ta thi đỗ, thế là hoạn lộ của anh bị đứt, anh ta mãi là anh học trò nghèo và con chó đá không còn vẫy đuôi mừng anh nữa. Câu thành ngữ “Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng” là từ câu chuyện này, để chỉ những kẻ hợm hĩnh lên mặt với đời một cách vô lối.

Trung Quốc dưới sự cai trị của ông Tập Cận Bình hành xử như một kẻ “chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng.” Thời mới mở cửa dưới quyền Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc theo chính sách ngoại giao khiêm tốn, kiên nhẫn, và ôn hòa với mục đích bảo đảm bảo rằng sự trỗi dậy kinh tế vượt bậc của đất nước sẽ không gây ra sự bất bình và phản ứng tiêu cực từ các quốc gia khác. Đặng dạy các đồng chí “thao quang, dưỡng hối” (che chỗ sáng, nuôi chỗ tối) để tận dụng thời gian, giả nghèo giả khổ để chờ cơ hội, làm cho cả thế giới ngộ nhận về một nước Trung Quốc đang “trỗi dậy hòa bình.”

Chủ Tịch Tập Cận Bình đã thay đổi đường lối của Trung Quốc, cả đối nội và đối ngoại. Ông ta đã củng cố quyền lực cho đảng Cộng Sản và cho bản thân. Ông ta củng cố quyền kiểm soát của đảng đối với chính sách kinh tế-xã hội, thiết lập một chế độ công an trị trong đó mọi người dân đều bị theo dõi, kiểm soát và trừng trị mỗi khi có lời nói hoặc hành động trái với ý muốn của đảng.

Đối ngoại, Bắc Kinh tận dụng lợi thế của một thị trường đông đảo nhất thế giới và sức mạnh kinh tế-quân sự ngày càng lớn để hành xử một cách hung hăng, trịch thượng qua cái gọi là “ngoại giao chiến binh chó sói” (Wolf Warrior Diplomacy) đặt nền tảng trên chủ nghĩa dân tộc Đại Hán cực đoan, theo đó bất kỳ nước nào cũng bị coi là “thế lực thù địch” để Bắc Kinh không ngần ngại xỉ vả, đe nẹt và cưỡng bức.

Hậu quả của lối hành xử đó là Trung Quốc ngày càng bị thế giới văn minh xa lánh, hoặc chỉ duy trì quan hệ ở mức tượng trưng với những lời lẽ lịch sự mà không thực chất.

Trong 100 năm kể từ ngày đảng Cộng Sản Trung Quốc được thành lập, Trung Quốc chỉ có một giai đoạn ngắn hòa đồng với thế giới khi thực hiện phương châm của Đặng Tiểu Bình, còn trước và sau đó là những thời kỳ phô trương sức mạnh, bành trướng thế lực. Và đó cũng là những thời kỳ Trung Quốc bị cô lập, bị xa lánh trên thế giới.

“Khi làm tất cả những việc ấy, ông Tập đang phá bỏ danh tiếng khó kiếm được của Trung Quốc như là một tay chơi khôn ngoan, ổn định và hữu ích. Tất cả gợi nhớ đến một thời kỳ chính trị tập trung và chính sách đối ngoại hiếu chiến – thời đại Mao Trạch Đông. Và điều đó sẽ không có kết thúc tốt đẹp đối với Trung Quốc,” ông Zakaria nhận định. [qd]

thao ly  
#1291 Posted : Thursday, June 3, 2021 1:49:09 PM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,688
Woman

Thanks: 484 times
Was thanked: 445 time(s) in 342 post(s)

Cờ Vàng Trong Xã Hội Đa Văn Hóa Tại Úc Và
Vụ Nhóm Du Học Sinh Xúc Phạm Lá Cờ –


Nguyễn Quang Duy

June 2, 2021 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Cờ Vàng Trong Xã Hội Đa Văn Hóa Tại Úc Và Vụ Nhóm Du Học Sinh Xúc Phạm Lá Cờ

Trên trang của Viện Bảo Tàng Quốc Gia Úc (The National Museum of Australia) có bài viết “Chấm dứt chính sách nước Úc của người da trắng” (End of the White Australia policy), với bức hình lá cờ Việt Nam Cộng Hòa bên cạnh lá cờ các quốc gia khác, và Thủ tướng Úc Harold Gorden, bên cạnh ông Nguyễn Văn Thiệu, ông Nguyễn Cao Kỳ và lãnh đạo các quốc gia khác trong Tổ chức Liên Phòng Đông Nam Á (SEATO).

(https://www.nma.gov.au/defining-moments/resources/end-of-white-australia-policy)

Tại sao bức hình với lá cờ Vàng được lấy làm biểu tượng cho việc chấm dứt chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tại Úc?

Tại sao việc xúc phạm lá cờ Vàng cần được hiểu đến nơi đến chốn?

Chúng ta có gì để học hỏi từ chủ nghĩa đa văn hóa tại Úc (Multiculturalism)?

Xin được ngắn gọn giải thích các câu hỏi nói trên trong bài viết dưới đây.

Hình thành chủ nghĩa quốc gia Úc

Cuối thế kỷ thứ 19, người Úc bắt đầu bàn luận để hình thành một chủ nghĩa quốc gia, vừa ôn hòa đấu tranh giành độc lập từ nước Anh, vừa xây dựng một nước Úc độc lập và thịnh vượng.

Lúc ấy, lên đến 90% dân số Úc là người da trắng, có nguồn gốc từ hai sắc tộc Anh và Ái Nhĩ Lan, đều nói tiếng Anh, theo Thiên Chúa Giáo và cùng gốc văn hóa Anglo Saxon.

Dân số khi ấy chỉ trên 3 triệu người, nên người Úc da trắng lo sợ là người Á Châu sẽ di cư cướp công ăn việc làm và xóa bỏ văn hóa và tôn giáo của họ.

Vì thế, ngay khi được Anh Quốc trao trả độc lập, năm 1901 Chính phủ Úc đã ban hành các Đạo luật xác định nước Úc của người da trắng.

Chủ nghĩa quốc gia nước Úc thuộc người da trắng là một chủ nghĩa phân biệt chủng tộc vì những người Úc thuộc các sắc dân Á châu và hải đảo Thái Bình Dương đang sống tại Úc bị đối xử khác biệt với người Úc da trắng, và có trên 250 bộ tộc thổ dân không được xem là công dân Úc, không được đối xử bình đẳng hay được đi bầu.

Chính sách di dân và đồng hóa

Sau thế chiến thứ 2 Chính phủ Úc thay đổi cách suy nghĩ, với một dân số chỉ trên 7 triệu nếu bị quốc gia khác xâm lăng người Úc khó có thể bảo vệ và muốn đất nước phát triển cần phải có di dân.

Chính phủ Úc thay đổi chính sách di trú bắt đầu nhận di dân từ các quốc gia Âu châu, đồng thời đề ra chính sách đồng hóa và chính sách hội nhập, buộc di dân phải chấp nhận Anh ngữ là ngôn ngữ sinh hoạt và chấp nhận văn hóa của người Úc da trắng.

Nhiều di dân từ các quốc gia Âu châu không cảm thấy nước Úc là “ngôi nhà” để họ định cư nên về lại Âu Châu và hậu quả người từ Âu châu không còn muốn di dân đến Úc.

Kết thúc chủ nghĩa nước Úc của người da trắng

Sau Thế Chiến thứ 2, Trung Hoa lục địa, rồi Bắc Hàn và Bắc Việt lọt vào tay cộng sản, du kích quân cộng sản nổi dậy khắp các quốc gia Đông Nam Châu Á (Thái Lan, Malaysia, Indonesia).

Chính phủ Úc tin rằng phải tích cực ngăn chặn được sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tại Á châu nên thay đổi chính sách quốc phòng gia nhập Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á (SEATO), xem Úc như một quốc gia có lợi ích gắn liền với Châu Á.

Chính phủ Úc gởi 60,000 binh sĩ Úc tham chiến tại miền Nam Việt Nam, với 521 binh sĩ hy sinh và chừng 3,000 binh sĩ bị thương.

Như vậy, lá cờ Vàng ba sọc đỏ không chỉ là di sản của người miền Nam Việt Nam, mà còn là di sản là một phần của lịch sử nước Úc nên mới được Viện Bảo tàng Quốc Gia Úc chính thức ghi nhận.

Chủ nghĩa đa văn hóa (Multiculturalism)

Khi chủ nghĩa quốc gia nước Úc của người da trắng chấm dứt thì cần có một hệ tư tưởng mới làm nền tảng xây dựng văn hóa, giáo dục, xã hội, kinh tế, chính trị và nhất là luật pháp cho nước Úc.

Chính phủ Úc từng bước xây dựng chủ nghĩa đa văn hóa nhìn nhận mọi công dân Úc bình đẳng về quyền và trách nhiệm, nên công nhận mọi tư tưởng, cách sống, văn hóa của từng cá nhân.

Nhưng đồng thời mỗi cá nhân phải chấp nhận và tôn trọng văn hóa của các thành viên khác trong xã hội và sinh hoạt trong phạm vi mà luật pháp Úc cho phép.

Mỗi cá nhân lại thuộc về một hay nhiều văn hóa khác nhau, như một người có thể thuộc về một nhóm văn hóa sắc tộc và đồng thời thuộc về nhóm văn hóa của người đồng tính, hay trẻ em có cha mẹ thuộc hai sắc tộc có thể được ảnh hưởng bởi 2 nền văn hóa khác nhau.

Cùng một sắc tộc lại có nhiều nhóm văn hóa khác nhau như người Việt tới Úc từ miền Nam hay miền Bắc, hay người thổ dân có đến hơn 200 văn hóa bộ tộc khác nhau.

Nói cách khác trong xã hội đa văn hóa mỗi người mỗi khác, nên một người muốn được người khác tôn trọng và được xã hội tôn trọng, thì họ phải tôn trọng sự khác biệt của người khác và của xã hội.

Ngày nay Chủ nghĩa đa văn hóa đã trở thành chủ nghĩa quốc gia cho nước Úc, nhưng đương nhiên vẫn còn những điều chưa được hoàn mỹ cần tiếp tục tìm ra những giải pháp cụ thể và tránh bị tái diễn như trường hợp của nhóm học sinh xúc phạm cờ Vàng trong ngày 30/4/2021 vừa qua.

Cộng đồng Người Việt tự do tại Úc

Sau khi chủ nghĩa nước Úc của người da trắng bị bãi bỏ, người Đông Timor, người Lebanon và người Việt là 3 nhóm tị nạn đầu tiên được nhận đến Úc định cư, khi ấy chủ nghĩa đa văn hóa còn rất sơ khai.

Người Việt tị nạn đã nhanh chóng thích ứng với chủ nghĩa đa văn hóa, lập hội đoàn sinh hoạt, tổ chức hội chợ Tết, xây Chùa, lập Trung tâm sinh hoạt Công giáo, Hội Thánh Tin Lành, mở trường dạy tiếng Việt, tổ chức tết Trung Thu, mở khu vực buôn bán và tổ chức biểu tình biểu lộ chính kiến.

Các sinh hoạt về văn hóa, giáo dục, thương mãi và chính trị của người Việt tị nạn nói trên đều không được cho phép trong giai đoạn chủ nghĩa nước Úc của người da trắng còn tồn tại.

Đặc biệt, người Việt tị nạn luôn tìm mọi cách để vinh danh lá cờ Vàng, nên đến nay đã có tới 10 thành phố và hầu như tất cả các chính trị gia Úc công nhận cờ Vàng vừa là di sản và vừa là biểu tượng của người Việt tự do.

Người Việt tị nạn xem nước Úc như một miền đất mới nên sẵn sàng nhận bất cứ công việc, từ làm ở nông trại đến các hãng xưởng, nhiều người đi học lại, nhanh chóng mua nhà hay mở doanh nghiệp.

Sự thành công của người Việt tị nạn đã thúc đẩy các Chính Phủ Úc sau này hoàn chỉnh các chính sách đa văn hóa, xây dựng thành công một nước Úc với trên 200 bộ tộc thổ dân và cả trăm cộng động sắc tộc từ khắp nơi trên thế giới đến định cư.

Ba bài viết dưới đây về Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc xin gởi đến bạn đọc:

https://www.bbc.com/vietnamese/forum-51489281

https://www.bbc.com/vietnamese/forum-51585546

https://www.bbc.com/vietnamese/forum-51694763

Vụ xúc phạm cờ Vàng

Ngày 30/4 được người Việt tị nạn xem là ngày Quốc Hận, ý nghĩa ở đây không phải là hận thù mà là hận chính mình đã không làm tròn trách nhiệm để quê nhà lọt vào tay cộng sản nên phải bỏ nước ra đi.

Hận như thế không mang bản chất bạo động như tổ chức tấn công tòa Đại Sứ cộng sản hay tấn công những du học sinh.

Nhưng ngày 30/4 năm nay một nhóm học sinh từ Việt Nam sang đã xúc phạm lá cờ Vàng, với những hành vi và lời lẽ đầy bạo động, đe dọa và hận thù làm dấy lên tranh luận từ nhiều phía.

Ngay khi nhận được thông tin về hành vi phạm pháp của nhóm học sinh, Cộng Đồng đã viết thư và gởi video đến trường Trung Học Marrickville.

Nhà trường đã thấy rõ mức độ nghiêm trọng nên đã đình chỉ việc học và quyết định đuổi nhóm học sinh này, cũng như đã chuyển cho cảnh sát điều tra.

Trong phạm vi luật lệ hiện hành, cảnh sát đang truy tố tội hủy hoại tài sản cộng đồng và tiến hành điều tra xem đây là hành động của cá nhân hay có tổ chức hoặc chính quyền đứng đằng sau thu xếp hay xúi dục.

Cộng Đồng còn xét thấy nhóm học sinh vi phạm chính sách đa văn hóa Úc nên có bổn phận phải làm rõ vấn đề, tránh những hành vi phạm pháp tiếp tục xảy ra gây thiệt hại cho nước Úc.

Bởi thế Cộng Đồng mới làm việc với chính giới Úc, đích thân ông David Elliott Bộ Trưởng Cảnh Sát tiểu bang New South Wales đã điều động đơn vị Chống Khủng Bố và Hận Thù mở cuộc điều tra và hồ sơ đã được chuyển sang Bộ Nội Vụ để thẩm vấn và điều tra các đối tượng.

Cộng Đồng cho biết đã vận động được trên 16,000 chữ ký, vào ngày thứ ba 24/5/2021 đã chính thức gửi văn thư đến Tổng Trưởng Di Trú Alex Hawke để yêu cầu xem xét hủy visa của nhóm học sinh.

Nói một cách dễ hiểu, một người đến nhà bạn ở tạm, nhưng lại vừa phá hoại vừa xúc phạm đến giá trị di sản của gia đình bạn, việc đuổi người này là việc không có gì phải bàn cãi, nhưng nước Úc có luật pháp nên ngay cả đuổi người thuê nhà cũng phải đuổi cho đúng với luật pháp.

Còn một rừng thông tin và tranh cãi trên các mạng xã hội, thì vừa biểu hiện phong cách “đa văn hóa” lại vừa nói lên sự quan tâm của dư luận đối với sự kiện xúc phạm lá cờ Vàng.

Việt Nam một xã hội đa văn hóa…

Trước năm 1945, sự khác biệt về văn hóa và chính trị giữa 3 miền Bắc, Trung và Nam đã rất lớn, chưa kể có trên 50 các sắc tộc thiểu số với đặc thù văn hóa rất khác biệt.

Trong thời Việt Nam Cộng Hòa sự khác biệt về văn hóa và chính trị cũng đã được tôi trình bày qua bài viết “Chủ nghĩa nào đã làm Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ năm 1975?”.

Ý kiến nói VNCH thiếu chủ nghĩa quốc gia nên bị chủ nghĩa tự do phá hoại, như TV quân đội Mỹ ở Sài Gòn chiếu hì…

Cho đến 30/4/1975, miền Bắc theo chủ nghĩa cộng sản còn miền Nam theo chủ nghĩa tự do, và di sản đó cho đến nay vẫn để lại sự khác biệt giữa Bắc và Nam rõ rệt.

Hai thành phố Sài Gòn lẫn Hà Nội đều tiếp nhận những đợt di dân nên nhìn chung cả hai đều là những thành phố đa văn hóa.

Nhưng văn hóa ở Sài Gòn rất khác với văn hóa ở Hà Nội và văn hóa các vùng miền trên đất nước Việt Nam, nên nhìn chung xã hội Việt Nam cũng là một xã hội đa văn hóa.

Trong khi ấy thì hệ thống chính trị vẫn đơn nguyên (nghĩ một chiều) và độc đảng nên càng ngày khoảng cách giữa đảng Cộng sản và người dân càng xa cách.

Thể chế từ chính trị đến pháp luật tại Việt Nam vẫn khô cứng, bảo thủ và giới lãnh đạo tìm mọi mưu mô né tránh cải cách chân thực nên bộ máy càng ngày càng lỗi thời trước sức tiến của xã hội ngày một đa dạng.

Già rồi vẫn nghèo…

Ngày nay chủ nghĩa đa văn hóa đã trở thành nền tảng tư tưởng được nhiều quốc gia trên thế giới, như Úc, Canada, New Zealand, Singapore, Đài Loan, Anh,… giúp các quốc gia này vừa xây dựng một xã hội khoan dung và đoàn kết, vừa để thu hút người trẻ di dân.

Trong khi ấy do những chính sách lạc hậu tại Việt Nam, những làn sóng người Việt không ngừng bỏ nước ra đi tìm đến những xứ sở tự do, nơi mà mọi người được đối xử bình đẳng và được tôn trọng.

Ở mỗi miền đất mới người Việt lại học hỏi để thích ứng với văn hóa ở xứ người, nên có thể thấy người Việt ở Úc suy nghĩ và cách sống rất khác với người Việt ở Việt Nam, và khác với người Việt ở các xứ sở khác trên thế giới.

Việt Nam hiện đang đối đầu với nạn “chưa giàu đã già”, nói đúng hơn là “già rồi vẫn nghèo”, vì người già càng ngày càng đông trong khi người trẻ, kể cả những người là con em của đảng viên đảng cộng sản, rất muốn bỏ nước ra đi.

Nếu nhà cầm quyền Việt Nam không chịu nhìn nhận xã hội đa văn hóa thì đừng nói đến việc người trẻ ở hải ngoại trở về, mà phải nghĩ đến việc người trẻ bằng mọi giá sẽ tiếp tục bỏ nước ra đi.

Bài học từ nước Úc

Nước Úc đã thành công trong việc chuyển đổi từ chủ nghĩa quốc gia phân biệt chủng tộc nước Úc của người da trắng sang chủ nghĩa quốc gia đa văn hóa (Multiculturalism) là một bài học cho người Việt tìm hiểu và học hỏi.

Chấp nhận chủ nghĩa đa văn hóa là chấp nhận nối kết mọi tư tưởng, tình cảm, truyền thống, ước mong, ý hướng trong tâm trí của mọi người Việt từ khắp nơi trên thế giới, còn quan tâm đến vận mệnh quốc gia và dân tộc Việt Nam.

Edited by user Thursday, June 3, 2021 2:14:08 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#1292 Posted : Thursday, June 3, 2021 11:37:09 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,663

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

“Văn Hóa Không Tên” Tạo Nên Linh Hồn Của Sài Gòn Xưa –


Văn Quang

September 2, 2020 | by Ban Tu Thư |  0

UserPostedImage

Buổi sáng thứ Sáu tuần vừa qua, tôi được một ông bạn điện thoại đến rủ ra Givral uống cà phê. Tôi rất ngạc nhiên vì từ hơn 2 năm nay Givral nằm trong thương xá Eden đã bị đập phá tan tành để… làm một cái gì đó ở Sài Gòn này, chắc cũng “vĩ đại” như tòa nhà Vincom chiếm trọn khu vườn hoa trước mặt. Mỗi lần đi ngang qua đường Đồng Khởi, tôi không thể nào quên đó là đường Tự Do xưa kia của chúng tôi. Nhìn toàn bộ khu tứ giác Eden chỉ còn là đống gạch vụn với những hàng rào kiên cố xung quanh cứ như nhìn thấy cái gọi là “trại cải tạo”. Thì ra, sau hơn 12 năm, cái “trại cải tạo” ấy vẫn còn ám ảnh tôi ngay cả trong vô thức, đôi khi ngay cả trong giấc mơ. Thế nên mỗi khi đi qua khu Eden bị tàn phá đó, tôi bỗng cúi đầu, chẳng muốn nhìn lâu và cũng chẳng muốn tìm hiểu xem trong thời gian tới, nó sẽ mọc lên cái gì. Tôi cứ nghĩ Gival đã thuộc hẳn về quá khứ, như những người bạn tôi ra lò hỏa thiêu, không bao giờ gặp lại.

Đường Tự Do.

Ông bạn thấy tôi khựng lại, bèn giải thích: “Nó mở lại Givral hôm qua (10-10-2012) ở chỗ cũ rồi ông ạ. Cũng điểm tâm, cà phê như xưa. Ra ngồi xem cho biết, nhớ lại chút kỷ niệm xưa.” Nghe bùi tai, tôi đồng ý ngay. Dù biết rằng ra đó ngồi sẽ rất ngậm ngùi nhớ bạn, nhớ tình, nhớ thời trai trẻ, nhớ đủ thứ… trong cái không gian ấy. Nói đến Gival là nhớ đến La Pagode, Brodard… chắc chắn những người đã từng sống, từng ghé qua Sài Gòn chưa ai quên. Nhất là những văn nghệ sĩ, nhà báo, dân biểu, thường ngồi ở đấy làm nơi trao đổi tin tức nghề nghiệp. Còn một số lớn khách du lịch, sĩ quan, quân nhân, công tư chức làm việc tại “thủ đô miền Nam” và các bạn trẻ Sài Gòn thập niên 60-75 cũng hay lui tới nơi này. Đây là một địa điểm trung tâm thành phố, rất thuận tiện cho mọi việc, từ hẹn hò, mua sắm vài thứ, đợi giờ vào rạp chiếu phim, hoặc chỉ đi “bát phố” mà hồi đó chúng tôi gọi là đi “hittuking”, tức là đi “hít tủ kính” chứ không mua bán gì. Hơn thế, thương hiệu bánh ngọt Gival rất nổi tiếng, thu hút nhiều khách sành ăn. Mấy bà đi ngang qua Lê Lợi – Tự Do ghé vào mua vài cái bánh mang về cho chồng con là chuyện bình thường. Givral, La Pagode, Brodard đã trở thành một cái “trục văn hóa không tên” phảng phất mà rất sâu đậm trong cái hồn của Sài Gòn.

Sau năm 1975, Givral vẫn còn sống sót cho đến khi khu này bị “giải tỏa”, nhưng khách không còn “chọn lọc” như thời xưa. Khách hàng đủ mọi loại, ông Tây bà Đầm, ông Hàn Quốc bà Đài Loan, chân dài đẹp, chân dài xấu, nghệ sĩ thập cẩm ra vô thong thả và giá cả cũng vào loại trung bình, không “mềm” cũng không “cắt cổ”.

Givral ngày ấy bây giờ

Trong khi ông bạn tôi tìm chỗ gửi xe, tôi đứng trên đường Lê Lợi nhìn qua khung kính vào nhà hàng Gival mới. Nó vẫn ở cái góc Lê Lợi – Đồng Khởi, mấy cái cửa kính lớn vẫn cho khách có thể nhìn ngắm hai mặt đường phố và tất nhiên khách đường phố cũng Givral nằm trong thương xá Edencó thể chiêm ngưỡng những khách hàng “đẳng cấp” ngồi bên trong. Điếu đáng tiếc nhất là cái cột to tướng đúng vào góc đẹp nhất che lấp mất tầm nhìn nơi cửa chính trước kia, làm cho không gian có vẻ như chật chội hơn, không thể nhìn thẳng ra nhà hát lớn, khách sạn Continental với phong cách rất Tây và khách sạn Caravelle cùng cái vòng xoay và những con đường chảy vào giữa lòng thành phố.

Chúng tôi bước vào nhà hàng với một vẻ lạ lẫm. Những chiếc bàn ghế mới toanh, những bộ salon kê hai bên góc khá đẹp. Tất cả đều mang dáng vẻ sang trọng như bất cứ một nhà hàng cà phê, điểm tâm “có hạng” nào ở những thành phố lớn. Khoảng 9 giờ sáng, khách đã chiếm hết số bàn trong tiệm. Số còn lại ngồi rải rác quanh chiếc comptoir hình móng ngựa. Những người hoàn toàn xa lạ ngồi riêng biệt, chẳng ai nhìn ai. Cái không khí ấy khiến tôi không thể quên những ngày xưa. Tuy ngồi khác bàn nhưng chúng tôi vẫn có thể biết xung quanh mình có những ai. Bàn bên kia là bốn năm anh ký giả chuyên làm tin hành lang Quốc Hội, bàn góc trái là mấy ông dân biểu Hạ Nghị Viện thời Đệ Nhị Cộng Hòa đang say sưa bàn về những “ý kiến” đã và đang chuẩn bị lên diễn đàn. Bàn giữa nhà là mấy “dân chơi” quen mặt, có lẽ ngồi đợi người đẹp… Thỉnh thoảng một cái gật đầu, một cái vẫy tay, một ánh mắt thân thiện. Sự gần gụi, quen thuộc ấy chính là cái linh hồn của Givral trước 1975. Bây giờ không tìm lại được nữa.

Cái “trục văn hóa” từ La Pagode, Givral đến Brodard khác nhau thế nào?

Nằm chung trên đường Tự Do xưa, có ba quán café cùng nổi tiếng như nhau. Bắt đầu từ nhà hàng La Pagode ở góc Lê Thánh Tôn – Tự Do, qua vài nhà hàng đến tiệm sách Xuân Thu, đến hành lang Eden, trong đó có rạp Ciné Eden từ hồi cựu hoàng Bảo Đại mới lên ngôi. Đến góc đường này là Givral nằm đối diện với khách sạn Continental, sát bên trụ sở Hạ Nghị Viện (nhà hát lớn TP cũ), nhìn chéo sang phải là khách sạn Carvelle sinh sau đẻ muộn. Đi quá chút nữa là nhà hàng Brodard. Ba tiệm cùng nằm trên một con đường rất gần nhau, chỉ cách khoảng trên dưới 100m và gần như có kiểu kinh doanh giống nhau.. Nhưng thật ra, nếu để ý kỹ, khách hàng thường chia làm 3 loại khác nhau. Ở đây tôi chỉ kể riêng về mặt “sinh hoạt văn hóa”.

Trước hết phải kể đến nhà hàng La Pagode, tôi cho là “cổ kính” nhất. Ngay từ những năm 1953, khi tôi mới biết taxi là “cái giống gì” (bởi ở miến Bắc hồi đó chưa có taxi), tôi đã biết La Pagode.

Hồi đó Pagode còn bày hàng ghế salon bọc da ra ngoài hành lang, theo lời ông Nguyên Sa thì nó giống hệt nhiều nhà hàng ở Paris. Ngồi ở đây thoáng đãng. Khách đến thường chỉ dùng một ly cà phê, ngồi từ chiều đến tối mịt. Phía trong có một bàn đánh “tin” dành cho khách giải trí chứ không có mục đích cờ bạc kiếm tiền. Ông Hoàng Hải, anh ruột của cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, có thể kể là một “nhà vô địch về môn giải trí này. Chúng tôi chỉ cần mua một chục cái jeton, như đồng xu, bỏ vào khe là chơi triền miên. Cứ sắp hết lại kêu ông ông Hoàng Hải “cứu giá”, bonus lại đổ xuống hàng đống jeton tha hồ chơi. Khách hàng của La Pagode hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ. Cứ vào buổi chiều, sau giờ tan sở là tụ tập lại đây. Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm.

Những ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp các anh Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Đình Toàn… Quá nhiều, tôi không thể nhớ hết. Thật sự cái nhu cầu chính là đến đây gặp nhau, để… nói dóc, “bình loạn” vài cái tin văn nghệ, thời sự chính trị cho vui thôi. Cả ba nhà hàng này với những cái “loa ngầm, loa không ai kiểm chứng” nên có thời người ta gọi những tin tức ấy là “radio catinat” (bởi con đường Tự Do, thời Pháp được đặt tên là đường Catinat). Tuy nhiên cũng có những nguồn tin “bí mật quốc gia” rất chính xác bên cạnh những nguồn tin chẳng bao giờ là sự thật. Nó cứ nhập nhằng như thế nên “radio Catinat” chưa chắc đã là “láo toét” như nhiều người kết tội nó. Vậy tạm gọi Pagode dành cho giới viết lách gặp nhau, xả stress.

Còn Givral đông nhất và đáng kể nhất vào mỗi buổi sáng. Phóng viên trẻ thường tụ tập ở nhà hàng này vì nó ở ngay trước trụ sở Hạ Nghị Viện, các ông dân biểu thường ra ngồi giải lao tại đây và “thảo luận” đủ thứ chuyện bên lề. Và chuyện bên lề bao giờ cũng hấp dẫn hơn chuyện trong nghị trường. Chuyện “bí mật quốc gia”, chuyện phe nhóm, “gia nô” và không “gia nô”, chuyện tình bà nghị ông nghị…, cứ nghe mấy ông này là có đủ tin “giật gân” trong ngày. Cánh phóng viên thường bắt mối rất chặt chẽ với các ông bà dân biểu và nghị sĩ thượng hạ nghị viện. Thật ra họ có quyền lợi “hỗ tương”, anh cho tôi tin, báo tôi yểm trợ lập trường của anh.

Trong số những phóng viên, ngoài người Việt Nam còn có một số phóng viên người Mỹ, Pháp từ khách sạn Continental trước mặt ghé sang. Hoặc cũng có một số phóng viên người Việt làm cho các đài truyền hình, truyền thanh nước ngoài săn tin tại đây. Có một nhà thơ hàng đầu Việt Nam thời đó là thi sĩ Đinh Hùng, bình thường ông hay ngồi ở La Pagode, nhưng khi “hữu sự” ông lại ngồi ở Givral. Dáng người “thanh thoát” nhỏ nhắn rất thư sinh. Lúc nào ông cũng chải chuốt, complet, cravate, đầu chải mượt gọn gàng, tay luôn xách chiếc cặp da, ông còn giữ nguyên vẻ đỏm dáng, lịch lãm của “công tử Hà Nội” những năm 50. Ông thường hẹn gặp những người ái mộ ở đây. Tôi để ý thấy hầu hết là những nữ độc giả rất trẻ, đẹp. Khi ông ngồi cùng 3-4 cô, khi ông lại rù rì với một người đẹp duy nhất. Đúng là ông có số đào hoa và dù đã ngoại ngũ tuần nhưng trái tim vẫn còn rất trẻ. Những lúc nhìn ông “say” như thế, tôi có cảm tưởng như ông cũng giống như những cậu trai 20 ngồi bên cô gái 18. Ông sống thật với rung cảm của mình. Có lẽ vì vậy thơ ông bao giờ cũng mang cái óng mượt, thần thoại rất đặc trưng. Có thể, Givral chính là nơi bắt ngưồn cho những cánh thơ thăng hoa của cảm xúc này.

Hôm nay ngồi ở Givral, hình bóng anh Đinh Hùng vẫn quanh quẩn đâu đây. Nhớ lại, khi tôi viết truyện dài “Đời chưa trang điểm”, tiêu đề này chính là đã mượn trong câu thơ “đời chưa trang điểm mà xuân đã về” của anh. Lúc gặp nhau, anh Đinh Hùng nói với tôi: “Ừ, cái tít ấy có vẻ tiểu thuyết lắm, cứ lấy xài đi, đóng thuế cho tớ một cuốn thôi”.

Mới đây mà đã hơn nửa thế kỷ rồi anh Đinh Hùng ơi! Còn nhà hàng Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, nhìn sang bên kia là vũ trường Tự Do của ông Cường lùn và chị “tài pán” Nhựt, bà chị này hành nghề cai quản các em “ca nhe” từ vũ trường Ritz Hà Nội vào Nam. Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”. Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những anh hùng “hảo hớn” như Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ. Các “đại gia, tiểu gia” thời đó không nhiều, chỉ vỏn vẹn một số ông dược sĩ, tu bíp, doanh nhân có “xế bốn bánh” đủ để chở các em đi ăn đêm. Thỉnh thoảng một vài em vũ nữ, thường là loại có hạng như Lệ Hằng, Thủy Điên, Mỹ Khùng… ở mấy cái vũ trường gần đó như Tự Do, Mỹ Phụng, Olympia cũng la cà vào đây tán dóc.

Ba nhà hàng ấy là 3 sắc thái riêng biệt làm nên cái trục “văn hóa không tên”, cái linh hồn của Sài Gòn, khó phai mờ trong ký ức của những người Sài Gòn.

Còn một địa chỉ nữa ở gần chợ Bến Thành là nhà hàng Thanh Thế, nơi này là chỗ gặp nhau của những ký giả thể thao như đàn anh Huyền Vũ, Thiệu Võ và một số những nhà báo miền Nam

Không thể tìm lại dĩ vãng

Tóm lại, trong bài này, tôi chỉ muốn thông tin đến bạn đọc một nét “văn hóa xưa” vừa được khơi gợi lại giữa thành phố Sài Gòn. Nhưng với tôi, nó chỉ còn cái tên Givral của thời xa xưa thôi. Tất cả đều khác trước, giá cả lại quá cao không phù hợp chút nào với cánh phóng viên Việt Nam. Nó sẽ chỉ còn thích hợp với khách du lịch ghé ngang qua thành phố này. Dù sao cũng xin gửi đến bạn đọc nặng lòng với những hoài niệm cũ, với Sài Gòn xưa, một cái gì đã mất đi không thể tìm lại được.

Văn Quang

Mắt Buồn  
#1293 Posted : Friday, June 4, 2021 12:46:16 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,663

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

‘Que Sera Sera’ – Ca Khúc Bất Hủ Qua Giọng Hát Doris Day


Minh Nguyễn

December 12, 2020 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Doris Day qua đời tại nhà riêng vào ngày 13/5/2019 ở tuổi 97. Hôm nay, ‘Que sera sera’ – ca khúc bất hủ gắn liền với giọng hát của bà vang lên khắp nơi trên thế giới, như một lời chào tạm biệt.

https://www.tvvn.org/que...t-doris-day-minh-nguyen/

'Que sera sera’ - Ca khúc bất hủ qua giọng hát Doris Day

*Que sera sera (Whatever will be, will be) được viết theo điệu Valse, gồm 3 phần xoay quanh 3 giai đoạn trong đời người. Thời thơ ấu, tuổi trẻ với tình yêu và trở thành cha mẹ. Giữa mỗi đoạn sẽ có một câu hỏi vang lên “Tôi sẽ trở thành ai?” hoặc “Điều gì ở phía trước?”. Câu trả lời chính là tựa bài hát được lặp lại nhiều lần: Điều gì đến sẽ đến.

Đây là sáng tác của bộ đôi nhạc sĩ Ray Evans và Jay Livingston, trước đó từng giành được 2 giải Oscar cho hạng mục nhạc phim xuất sắc nhắc. Livingston nhận được đề nghị sáng tác bài hát này từ đạo diễn Alfred Hitchcock cho bộ phim The Man Who Knew Too Much của ông đang khởi quay, có sự tham gia của Doris Day. “Bài hát này sẽ được Doris Day thể hiện trong cảnh phim khi cô ấy hát ru cho cậu con trai. Quan trọng hơn, tựa bài hát nên là tiếng nước ngoài, không nên lấy tựa tiếng Anh vì chồng của Doris trong phim là một vị đại sứ đã đi rất nhiều nơi trên thế giới” – Hitchcock nói với Livingston như thế qua điện thoại.

Thời điểm này, Doris Day đã là ca sĩ nổi danh, đóng hai bộ phim và là con cưng của hãng đĩa Columbia Records. Việc đưa Doris ghé qua nghệ thuật thứ 7 nằm trong chiến lược phát triển song hành tài năng của Doris trong âm nhạc và điện ảnh. Thế nhưng, Doris không phải là diễn viên Hitchcock mong muốn. Ông nhận Doris vào phim vì sức ép của hãng phim để có được sự tham gia của nam diễn viên James Stewart. Và khi cảm thấy không thể nào điều khiển được khả năng diễn xuất của Doris, ông đã nghĩ ra cách đặt viết một bài hát để cứu lấy bộ phim.

Evans và Livingston đã suy nghĩ rất nhiều sau cú điện thoại của Hitchcock. Bất chợt, Livingston nhớ đến bộ phim Italia ông đã xem trước đó hai năm, The Barefoot Contessa, mà trong đó ông vô cùng ấn tượng với khẩu hiệu của nhân vật Rossano Brazzi – Che Sera, Sera (Điều gì đến sẽ đến). Evans và Livingston quyết định lấy khẩu hiệu trong phim làm tựa đề bài hát nhưng đổi chữ “Che” trong tiếng Ý thành “Que” trong tiếng Tây Ban Nha. Bài hát được gửi tới Hitchcock và hãng Paramount và được Hitchcock chọn trở thành bài hát chủ đề cho phim.

Nhưng Doris kiên quyết không bước vào phòng thu vì cho rằng bài hát quá trẻ con, khác với những bản nhạc tình từng thể hiện. Không điều gì lay chuyển được, cả ekip cầu cứu hãng phim. Doris Day miễn cưỡng thu âm với điều kiện chỉ hát đúng một lần, còn chất lượng thì hãy để như tựa bài hát “que sera, sera”. Doris Day nói với hai nhạc sĩ: “Đây là lần đầu tiên cũng là sau cùng các vị nghe tôi hát bài này”. Evans và Livingston nghe xong chỉ biết thở dài ngao ngán khi nghĩ đến tương lai của một ca khúc được viết riêng cho một ca sĩ và bị chính cô hắt hủi ngay từ khi bắt đầu.

*Nghe ca khúc Que sera sera:

Năm 1956, The Man Who Knew Too Much ra rạp. Với số vốn 1,2 triệu USD, phim nhanh chóng thu về 12 triệu USD – một con số lợi nhuận khổng lồ. Mặc dù phim bị chê tơi tả, Doris Day vẫn được khen ngợi hết lời. Que sera sera thoát khỏi đời sống của một bài hát nhạc phim, trở thành ca khúc nổi tiếng nhất trong năm 1956, đứng thứ 2 tại Mỹ trên bảng xếp hạng Billboard và hạng nhất ở Anh trong suốt nhiều tuần liền.

Que sera sera mang về cho Evans và Livingston giải Oscar thứ ba ở hạng mục nhạc phim hay nhất, còn Doris Day bắt đầu xem nó như một tấm bùa hộ mệnh cho sự nghiệp. Bài hát được dịch ra nhiều thứ tiếng, tiếng Anh là Whatever will be, will be. Bản Việt ngữ do nhạc sĩ Phạm Duy viết lời có tựa: Biết ra sao ngày sau, được công chúng yêu nhạc Việt thuộc đến tận hôm nay.

https://www.tvvn.org/que...t-doris-day-minh-nguyen/

*Qua những dòng giới thiệu trên, nhạc phẩm ‘ Que Sera sera ‘ đã được nhạc sĩ Phạm Duy dịch sang lời Việt là ‘ Biết ra sao ngày sau ? ‘ với giọng hát truyền cảm của ca sĩ Thanh Lan vào thập niên 60.

Nhạc phẩm được giới trẻ ưa thích, đồng thời cùng thuyết hiện sinh (Lưu ý đến thực tại hơn là tư duy và cụ thể hơn là lý thuyết) mà tiêu biểu nhất qua 2 nhà văn trẻ Jean Paul Sartre và Francois Sagan nổi danh bên Pháp, tràn vào VN với những tác phẩm như Bonjour Tristrsse (Buồn Oi Chào Mi) hay La Nausee (Buồn Nôn)- Theo đúng phong trào các bạn trẻ nam tóc để dài, nữ cắt cao, tay thường cầm mấy tác phẩm của Sartre hay Sagan…

Trong khi thuyết nhân vị đang mờ nhạt dần, tuổi trẻ ham vui bị cuốn hút theo phong trào hiện sinh dễ nổi loạn và chủ trương tận hưởng cuộc sống hiện tại…

*Tôi lợi dụng mấy ngày phép hòa mình vào cuộc sống vội vã đang cuốn hút lớp người trẻ. Hai chúng tôi chọn chiếc bàn trống ngoài vỉa hè để nhìn dòng người qua lại.
Tôi mặc đồ rằn ri, ngực mang bằng dù. Cầu vai là huy hiệu Binh chủng, con cọp chồm qua cánh dù lộng gió cùng 3 tia chớp biểu tượng xâm nhập bằng Không- Thủy- Bộ. Chiếc mũ xanh lá rừng nghiêng trên mái tóc- Em nữ sinh viên sĩ quan sắp ra trường trong bộ đồ xanh gọn gàng thẳng nếp, vóc dáng tươi trẻ còn e lệ, nhưng tự hào sánh bước cùng nam nhi ra giúp quê hương.

(Nữ nhi từ giã sân trường, dẹp yên việt cộng lên đường chiến chinh )

Nhiều bạn trẻ nhìn chúng tôi thì thầm to nhỏ vì lạ mắt và hơi mặc cảm…

Tiếng ca sĩ Thanh Lan vang lên trầm buồn trong nhạc phẩm ‘Biết ra sao ngày sau’ làm tôi bừng tỉnh nhớ lời khuyên nhủ của người mẹ quá cố.Tôi đốt thuốc, nhìn làn khói bay lên trong gió cuốn theo những dòng thơ chợt đến :

Ồ, hút thuốc tại sao tôi hay hút ?
Thả khói buồn cho loang nhẹ vào không.
Nhìn khói bay lên, cuốn cuộn thành vòng,
Tôi chợt nghĩ ý gì xuyên qua đó.
Người ta bảo thi nhân thường mơ mộng,
Nhìn cuộc đời với tâm hồn sôi động.
Nhưng chọn gì, lựa một để mà say ?
Xưa không hiểu nhìn mẹ níu cánh tay,
Và khẽ hỏi :’Tại làm sao thế mẹ ?’
Mẹ tôi mỉm cười, cúi đầu bảo nhẹ:
‘Mai lớn rồi con sẽ hiểu lời này.’
Khi trưởng thành tôi cũng chưa dám say,
Say lối sống quay cuồng trong men rượu,
Mê giai nhân đuổi theo đời lãng tử.
Sống lang thang một viễn khách phiêu du,
Chen chúc thân trong đêm tối sa mù,
Phá tan cả tuổi trẻ đầy tươi đẹp.
Nhưng mai sau cuộc đời nào ai biết ?
Sống bồng bềnh trôi dạt như áng mây,
Nhớ lời mẹ vươn lên sống từng ngày,
Xua nỗi buồn tôi: Thả thơ vào khói.

ĐINH VĂN TIẾN HÙNG

Edited by user Friday, June 4, 2021 12:51:37 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#1294 Posted : Friday, June 4, 2021 1:29:52 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,663

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Sức quyến rũ kỳ lạ của những thành phố đã mất
trong huyền thoại


Jen Rose Smith

BBC Travel
4 tháng 5 2021

UserPostedImage

'Nụ cười Bayon', có từ thế ký 12, vẫn tỏa sáng từ ngay giữa khu đền Angkor của Campuchia

Mặt trời chiều muộn phủ bóng dài trên hàng trăm mặt đá được khắc vào Đền Bayon khi tôi cố gắng đi sâu hơn vào thánh tích thế kỷ 12 ở ngay giữa khu đền Angkor trải rộng của Campuchia.

Những hình ảnh đê mê nổi lên từ những chiếc tháp và các bức tường, mỗi hình tượng có đôi môi đầy đặn uốn cong thành nụ cười nhức nhối.

'Thành phố trong mơ'

Đó là ngày đầu tiên của tôi ở Angkor, và lúc đó tôi hầu như không biết gì về lịch sử của thành phố.

Nhưng bước lang thang từ đền này sau đền khác, tôi dễ dàng rơi vào cơn mơ màng giàu tưởng tượng.

Trong đầu tôi hình dung ra đông đảo tín đồ mang theo những lễ vật tươi sáng. Tiếng đục vang lên khi các nghệ nhân sáng tạo những kiệt tác tuyệt mỹ xung quanh tôi, trong khi các vị vua oai phong diễu hành qua những con đường rộng lớn trải dài với những bức tượng.

"Vì lý do tại sao một nơi nào đó không còn tồn tại, nó có thể được biến thành thành phố lý tưởng, thành phố trong mơ," Aude de Tocqueville viết trong cuốn sách của bà hồi năm 2014 'Atlas các thành phố đã mất: Hướng dẫn du lịch đến các địa điểm bị bỏ hoang'. "Do đó, thành phố đã mất là thơ ca, thế giới mơ ước và là bối cảnh cho đam mê và bước đi lang thang của chúng tôi."

Thật vậy, những nơi mất tích và bị bỏ hoang có sức hút mạnh mẽ đối với trí tưởng tượng. Chúng là chất gây nghiện cho những người đam mê xê dịch, khơi gợi một cảm giác phiêu lưu vốn nuôi dưỡng các cuộc thám hiểm vĩ đại và những câu chuyện to lớn.

Chúng ta thấy cuộc sống của mình phản ánh trên đá, hãy tưởng tượng những bộ phim ngôn tình mà chúng ta đã xem trong bối cảnh lãng mạn, đổ nát. Và nếu thảm họa treo lơ lửng trên nhiều thành phố mất tích, thậm chí thời gian trôi qua làm nó dịu đi.

"Trong có lẽ hàng ngàn năm, mọi người đã kể những câu chuyện phiêu lưu về những miền đất kịch tính ngoài biên giới chúng ta - những câu chuyện về nền văn minh cổ đại," Annalee Newitz, tác giả của 'Bốn thành phố đã mất: Lịch sử bí mật của Kỷ nguyên Đô thị', nói.

Cuốn sách nhảy qua các lục địa và các thiên niên kỷ, trình bày về bốn địa điểm cổ xưa như những bài học đối tượng trong cuộc sống đô thị: Angkor của Campuchia; thành phố Cahokia người Mỹ bản địa; thành phố Pompei của La Mã; và Çatalhöyük thời Đồ Đá Mới ở Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay.

Biện minh cho chủ nghĩa thực dân

Trong khi các mạch truyện về thành phố đã mất làm nên những câu chuyện du lịch cuốn hút, Newitz lập luận rằng chúng thường che khuất những câu chuyện thật sự đằng sau những nơi tráng lệ nhất của nhân loại.

UserPostedImage

Những cách diễn giải thời hiện đại thường che khuất đi những câu chuyện thực sự đằng sau các địa điểm huy hoàng nhất mà con người từng xây dựng được từ thời xa xưa

Điều đó đã xảy ra ở Angkor, nơi tôi dành những buổi chiều đầy nắng ở giữa đống đổ nát.

Newitz giải thích rằng thành phố này thực sự có người sinh sống khi nhà thám hiểm người Pháp Henri Mouhot đặt chân đến vào năm 1860 - thực sự nó chưa bao giờ bị bỏ hoang phế hoàn toàn - nhưng du khách không thể tưởng tượng được tổ tiên của người Campuchia có khả năng tạo dựng công trình hùng vĩ như vậy.

"Ngay từ cái nhìn đầu tiên, người ta tràn đầy sự ngưỡng mộ sâu sắc, và không thể không hỏi điều gì đã tạo nên dân tộc hùng mạnh này, rất văn minh, rất khai sáng, tác giả của những công trình vĩ đại này?" Mouhot viết về khu thành quách trải rộng trong rừng này.

Ông suy đoán Angkor được người Hy Lạp hoặc Ai Cập cổ đại xây dựng. Tại Pháp, Newitz giải thích, chuyến thăm của ông được ca ngợi là 'khám phá'.

"Những câu chuyện thành phố mất tích đã trở nên hết sức phổ biến trong thời hiện đại - bắt đầu từ thế kỷ 19 hoặc thế kỷ 18 - bởi vì chúng thật sự là cách tốt để che giấu chủ nghĩa thực dân." Newitz nói. "Nó cho phép biện minh cho tất cả các cuộc xâm nhập thuộc địa. Họ sẽ nói rằng 'đây không phải là nền văn minh tự thân nó phát huy được. Và bằng chứng chúng ta thấy từ đây là dân tộc này đã xa lìa một quá khứ vĩ đại, bí ẩn nào đó mà nay đã biến mất."

UserPostedImage

Sau khi núi lửa Mount Vesuvius phun trào, người dân Pompei đã tái thiết nơi ở mới tại địa điểm gần thành phố đã bị thiêu hủy

Tìm kiếm các thành phố và nền văn minh mất tích là nỗi ám ảnh đối với một số nhà thám hiểm và thực dân châu Âu.

Sự mê đắm của họ được thúc đẩy một phần bởi cuộc tìm kiếm thành phố đã mất nổi tiếng nhất trong lịch sử: quốc đảo Atlantis, lần đầu tiên xuất hiện trong ghi chép của Plato.

Atlantis hư cấu của ông đã có thời thịnh vượng trước khi sự suy đồi đạo đức khiến nó bị Thượng Đế trừng phạt.

Những người cùng thời của ông sẽ công nhận câu chuyện là một câu chuyện ngụ ngôn, nhà sử học cổ đại Greg Woolf, tác giả cuốn 'Cuộc sống và Cái chết của Các thành phố Cổ xưa: Lịch sử Tự nhiên', nói.

"Kề về một huyền thoại để minh họa sự thật to tát hơn là điều đã được hiểu rộng rãi," Woolf nói. "Tôi không nghĩ có ai đó nghiêm túc tin rằng Atlantis có thật, nhưng đó là một huyền thoại tiện nghi." Tuy nhiên, khi những trang viết của Plato về Atlantis được phát hành trong các bản dịch hiện đại, nó đã đến được với những độc giả cả tin hơn.

Phủ nhận sự thật

"Mọi người đã đọc điều này cùng lúc với việc thành lập các thuộc địa ở Tân Thế giới," nhà cổ điển học Edith Hall giải thích trong một cuộc phỏng vấn gần đây với chương trình History Extra Podcast của BBC.

Hiểu lầm tác phẩm của Plato, nhiều người đọc câu chuyện ngụ ngôn này theo nghĩa đen, Hall nói. "Nó đánh động tâm trí của họ. Mọi người đều nói Atlantis phải là ở Mỹ."

Khi những người định cư châu u đó gặp các nền văn minh bản địa, Newitz viết, họ cố gắng để kết nối nó với một quá khứ bí ẩn, và thường bỏ qua những người dân rất thật vào thời đó.

UserPostedImage

Vào năm 1050 sau Công nguyên, người Mỹ bản địa đã xây dựng đô thị Cahokia, có diện tích lớn hơn Paris

Đó là những gì đã xảy ra ở Cahokia, một đô thị cổ nằm gần thành phố St Louis ngày nay của Mỹ.

Những gò đất cao ngất ở đó có thể sánh ngang với các kim tự tháp Ai Cập về chiều cao, và vào thời kỳ đỉnh cao của nó vào năm 1050 sau Công nguyên, thành phố Cahokia còn lớn hơn Paris. Những người mới đến từ châu u sẽ cảm thấy khó chấp nhận điều này.

"Du khách và nhà thám hiểm sẽ tự kể cho mình tất cả những câu chuyện điên rồ, giống như phải là những người Ai Cập cổ đại đã đến đây để xây dựng những thứ này," Newitz cho biết.

Đó là huyền thoại để biện minh cho việc đánh cắp các vùng đất bản địa vốn được mô tả rộng rãi là 'không có một bóng người', họ giải thích.

Trong khi đó, cũng giống như ở Angkor, hậu duệ của những người đã xây nên Cahokia đã bị phủ nhận rằng họ không có khả năng xây những công trình như vậy.

Khởi đầu mới

Những câu chuyện về các thành phố đã mất cũng có thể che đậy những sự thật khác, Newitz viết, chẳng hạn như cách người cổ đại hồi sinh trở lại khi họ bỏ lại một nơi ở phía sau.

Thảm họa và sự sụp đổ thường được cho là sự chấm hết, nhưng ở Pompeii và Çatalhöyük, Newitz tìm thấy tia sáng của khởi đầu mới giữa những biến động xã hội.

UserPostedImage

Hơi nóng khủng khiếp từ núi lửa phụt ra đã biến Pompeii thành một khu nghĩa địa hồi năm 79 sau Công nguyên

Sau khi khí núi lửa quá nóng biến Pompeii thành nghĩa địa vào năm 79 sau Công nguyên, người Pompei đau thương ngay lập tức bắt đầu xây dựng lại cuộc sống mới ở Naples và Cumae gần đó.

Dẫn lại tác phẩm của nhà cổ điển học Steven Tuck, Newitz kể rằng nhiều người tị nạn mà các nhà sử học biết đến có tên gọi vốn đánh dấu họ là liberti, tức nô lệ được giải phóng.

Mặc các quy ước đặt tên La Mã thường bảo thủ, giữ một tên từ thế hệ này qua thế hệ khác, Tuck đã quan sát thấy một xu hướng thú vị trong các gia đình tị nạn Pompei. Bỏ đi tên cũ của họ, một số người đã chọn gọi tên con cái của họ theo những địa điểm mới mà họ đã đến, chẳng hạn như thị trấn cảng tấp nập Puteoli. Ở đó, một số gia đình mới đến đặt tên cho con trai của họ là Puteolanus.

Nó giống như chuyển đến London từ một trại tị nạn và gọi con bạn là 'Londoner' vậy, Tuck giải thích với tôi qua email. "Việc chuyển đi đã cho họ cơ hội này và họ đã nắm bắt."

Và trong chính các thành phố đang suy tàn này, Newitz cho thấy những con người có quyền tự chủ sống động, không phải là người xưa bị trói buộc vào sự tùy tiện của lịch sử.

Đó là điều họ nhìn thấy trong tàn tích của Çatalhöyük, khu định cư thời đồ đá mới vốn cực thịnh vào 9.000 năm trước trên đồng bằng Konya ở miền trung Thổ Nhĩ Kỳ.

UserPostedImage

Çatalhöyük là khu định cư Thời Đồ Đá Mới, rất thịnh vượng hồi 9.000 năm trước

Những ngôi nhà ở đó nằm sát rạt với nhau như các ô trong tổ ong, họ viết trong sách, với những lối đi hướng lên mái nhà và lối vào qua trần nhà.

Vào những buổi tối ấm áp, cư dân tụ tập trên mái nhà, cùng nhau nấu nướng và làm đồ thủ công. Nhưng bất chấp mọi chất men sáng tạo của cuộc sống thành phố, đó là sự đánh đổi. Theo thời gian, ở lại Çatalhöyük trở nên khó khăn hơn: khí hậu trở nên bất lợi hơn và căng thẳng xã hội tăng lên.

Ký ức vẫn còn

Trong khi nhiều câu chuyện về thành phố mất tích nghe mơ hồ và huyền ảo, Newitz khắc họa việc từ bỏ những nơi như Çatalhöyük là kết quả của một quá trình có lý do chính đáng.

Theo thời gian, dân Çatalhöyük chỉ đơn giản là chọn quay trở lại những nơi thôn dã hơn, một quá trình quen thuộc với bất kỳ cư dân thành thị nào ngày nay, vốn kéo xuống một cách thèm thuồng danh sách rao bán nhà cửa gợi lên cuộc sống thôn dã.

"Chúng tôi sẽ đi tìm một nơi tốt hơn và thử lại, thử thí nghiệm mới, thử xây dựng khác đi, thử sống khác đi," Newitz nói, gợi lại những cuộc nói chuyện có thể đã diễn ra xung quanh lò sưởi thời đồ đá mới. Các nhà rời đi từng nhà một, đến khi cuối cùng Çatalhöyük không còn ai.

Nhưng khi cư dân rời đi, mỗi người lấy đi những gì quan trọng nhất đối với họ. Nghệ thuật, ý tưởng và văn hóa vật chất tỏa ra khắp vùng đồng bằng Konya khi các gia đình xây dựng cuộc sống mới cách xa những khu dân cư đông đúc.

Mặc dù Cahokia và nhiều thành phố khác có thể bị bỏ hoang, nhưng theo nghĩa quan trọng, đối với chúng ta, chúng hoàn toàn không bị mất đi.

"Chúng ta vẫn còn tất cả những ký ức văn hóa về nhưng nơi chúng ta đã sống," Newitz nói. "Đó là sự tiếp nối liên tục, xuyên suốt."

Edited by user Friday, June 4, 2021 1:34:40 AM(UTC)  | Reason: Not specified

linhphuong  
#1295 Posted : Friday, June 4, 2021 11:02:20 AM(UTC)
linhphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 3,385

Thanks: 327 times
Was thanked: 364 time(s) in 256 post(s)
Tin Tong Hop
Bài Giáo lý hàng tuần của Đức Phanxicô:
Lời cầu nguyện của ta chắc chắn được khứng nghe


Vũ Văn An

02/Jun/2021

UserPostedImage


Theo VaticanNews, buổi yết kiến chung trực tiếp tuần này của Đức Thánh Cha vẫn diễn ra tại Sân San Damaso vào lúc 9 giờ 30 sáng Thứ 4, ngày 2 tháng 6 năm 2021. Trong buổi yết kiến này, Đức Thánh Cha đã dạy bài giáo lý thứ 36 của Người về cầu nguyện, nhấn mạnh tới khía cạnh Chúa Giêsu là mô hình và linh hồn của cầu nguyện.

https://vietcatholic.net/News/Html/268922.htm

Sau đây là nguyên văn bài giáo lý của ngài, dựa vào bản tiếng Anh do Tòa Thánh cung cấp:

Anh chị em thân mến, chúc anh chị em một buổi sáng tốt đẹp!

Các sách Tin Mừng cho chúng ta thấy sự cầu nguyện là nền tảng ra sao trong mối liên hệ giữa Chúa Giêsu và các môn đệ của Người. Điều này thấy rõ trong việc lựa chọn người sẽ trở thành Tông đồ. Thánh Luca đặt việc lựa chọn các ngài chính trong bối cảnh cầu nguyện, và ngài viết: “Trong những ngày này, Người lên núi cầu nguyện; và suốt đêm Người tiếp tục cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Và khi đến sáng, Người gọi các môn đệ của Người, và chọn trong số họ mười hai người, những người mà Người đặt làm tông đồ ”(6: 12-13). Chúa Giêsu chọn các tông đồ sau một đêm cầu nguyện. Dường như không có tiêu chuẩn nào trong sự lựa chọn này ngoài lời cầu nguyện, cuộc đối thoại của Chúa Giêsu với Chúa Cha. Dựa vào cách cư xử của những người đó, dường như sự lựa chọn này không phải là sự lựa chọn tốt nhất, vì tất cả bọn họ đều chạy trốn, bỏ mặc Người trước cuộc Khổ nạn; nhưng chính điều này, đặc biệt là sự hiện diện của Giuđa, kẻ phản bội trong tương lai, chứng tỏ rằng những cái tên đó đã được ghi sẵn trong kế hoạch của Thiên Chúa.

Lời cầu nguyện cho bạn hữu của Người liên tục tái xuất hiện trong cuộc đời Chúa Giêsu. Các Tông đồ đôi khi trở thành lý do khiến Người lo lắng, nhưng Chúa Giêsu, vì Người tiếp nhận họ từ Chúa Cha, sau khi cầu nguyện, nên Người mang họ trong lòng, ngay cả khi họ sai lầm, ngay cả khi họ sa ngã. Trong tất cả những điều này, chúng ta khám phá được việc Chúa Giêsu vừa là thầy vừa là bạn ra sao, luôn sẵn lòng kiên nhẫn chờ đợi sự hoán cải của môn đệ. Điểm cao nhất của sự chờ đợi kiên nhẫn này là “mạng lưới” tình yêu mà Chúa Giêsu dệt quanh Thánh Phêrô. Trong Bữa Tiệc Ly, Người nói với ngài những lời chúng ta đã nghe ở đầu buổi tiếp kiến: “Simon, Simon, kìa Satan đòi lấy anh, để nó sàng anh như sàng lúa mì, nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để đức tin của anh không sai phạm, và khi trở lại, anh hãy củng cố anh em mình” (Lc 22:31-32). Quả là ấn tượng khi biết rằng vào lúc đó, lúc yếu đuối, tình yêu của Chúa Giêsu không ngừng nghỉ. "Nhưng thưa cha, nếu con phạm tội trọng, Chúa Giêsu có yêu con không?" - "Có" - "Và Chúa Giêsu có tiếp tục cầu nguyện cho con không?" - “Có” - “Nhưng nếu con đã làm những điều tồi tệ nhất, và hơn thế nữa, phạm quá nhiều tội lỗi… Chúa Giêsu có tiếp tục [cầu nguyện] cho con không?” - "Có". Tình yêu của Chúa Giêsu, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu cho mỗi người chúng ta không bao giờ ngừng, nó không bao giờ ngừng, mà còn trở nên mãnh liệt hơn, và chúng ta nằm ở trung tâm lời cầu nguyện của Người! Chúng ta phải luôn ghi nhớ điều này: Chúa Giêsu cầu nguyện cho tôi, Người đang cầu nguyện trước mặt Chúa Cha và làm Chúa Cha nhìn thấy các thương tích mà Người mang bên mình, để Chúa Cha thấy cái giá của ơn cứu rỗi chúng ta, đó là tình yêu Người dành cho chúng ta. Nhưng trong giờ phút này, mỗi người chúng ta hãy suy nghĩ xem: trong giờ phút này, Chúa Giêsu có cầu nguyện cho tôi hay không? Có. Đây là sự chắc chắn tuyệt vời mà chúng ta phải có.

Việc cầu nguyện của Chúa Giêsu trở lại rất đúng lúc ở một thời điểm quan trọng trong cuộc hành trình của Người, đó là sự xác minh đức tin của các môn đệ Người. Chúng ta hãy nghe lại thánh sử Luca: “Khi [Chúa Giêsu] cầu nguyện một mình, các môn đệ ở với Người; và Người hỏi họ, 'Người ta nói Thầy là ai?' Và họ trả lời, 'Gioan Tẩy Giả; nhưng có những người khác nói, Êlia và những người khác nữa nói rằng Thầy là một trong những tiên tri xưa sống lại'. Và Người hỏi họ, ‘Nhưng các con nói thầy là ai?’ Và Phêrô thay mặt họ trả lời, là ‘Đấng Kitô của Thiên Chúa’. Nhưng Người buộc và truyền cho họ không được nói điều này cho ai” (9: 18-21). Nghĩa là, những bước ngoặt lớn lao trong sứ mệnh của Chúa Giêsu luôn được đi trước bằng việc cầu nguyện, nhưng không chỉ qua loa, mà bằng lời cầu nguyện mãnh liệt và kéo dài. Luôn luôn có việc cầu nguyện trong những khoảnh khắc đó. Sự thử thách đức tin này dường như là một mục tiêu, nhưng thực ra, nó là một khởi điểm mới cho các môn đệ, bởi vì từ đó trở đi, dường như Chúa Giêsu sở đắc một sắc thái mới trong sứ mệnh của Người, nói một cách công khai với họ về cuộc khổ nạn, cái chết và sự sống lại của Người.

Với viễn cảnh trên, một viễn cảnh, theo bản năng, phát sinh sợ hãi kinh khiếp cả nơi các môn đệ lẫn nơi chúng ta, những người đọc Tin Mừng, cầu nguyện là nguồn ánh sáng và sức mạnh duy nhất. Cần phải cầu nguyện một cách mãnh liệt hơn, mỗi khi con đường gặp những khúc quanh lên dốc.

Và quả thật, sau khi loan báo cho các môn đệ biết điều gì đang chờ đợi Người ở Giêrusalem, thì biến cố Hiển Dung diễn ra. Chúa Giêsu “đem theo các ông Phêrô, Gioan và Giacôbê và lên núi để cầu nguyện. Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói loà. Và kìa, có hai nhân vật đàm đạo với Người, đó là ông Môsê và ông Êlia. Hai vị hiện ra, rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem” (9: 28-31), nghĩa là Cuộc Khổ Nạn. Do đó, sự biểu lộ vinh quang được mong đợi này của Chúa Giêsu đã diễn ra trong khi cầu nguyện, trong khi Chúa Con đang trầm mình trong sự hiệp thông với Chúa Cha và hoàn toàn thuận theo ý muốn đầy yêu thương của Người, thuận theo chương trình cứu rỗi của Người. Và từ việc cầu nguyện đó, có lời rõ ràng nói với ba môn đệ có mặt: “Đây là Con Ta, Người được Ta tuyển chọn; hãy lắng nghe Người ”(Lc 9:35). Từ việc cầu nguyện, phát xuất lời mời gọi lắng nghe Chúa Giêsu, luôn luôn phát xuất từ việc cầu nguyện.

Từ việc duyệt qua Sách Tin Mừng nhanh chóng này, chúng ta biết rằng Chúa Giêsu không chỉ muốn chúng ta cầu nguyện như Người cầu nguyện, mà còn bảo đảm với chúng ta rằng, ngay cả khi các nỗ lực cầu nguyện của chúng ta hoàn toàn vô dụng và vô hiệu, chúng ta luôn có thể trông cậy vào lời cầu nguyện của Người. Chúng ta phải ý thức điều này: Chúa Giêsu cầu nguyện cho tôi. Có hồi, một vị giám mục tốt bụng nói với tôi rằng vào một thời điểm rất tồi tệ trong cuộc đời ngài, một thử thách rất, rất, rất lớn, trong đó mọi sự chìm trong bóng tối, ngài nhìn lên Vương cung thánh đường và thấy câu này được viết rõ ràng: “Tôi, Phêrô, sẽ cầu nguyện cho bạn”. Và điều này đã tiếp thêm sức mạnh và an ủi cho ngài. Và điều an ủi này xảy ra bất cứ khi nào mỗi người chúng ta biết rằng Chúa Giêsu đang cầu nguyện cho mình. Chúa Giêsu cầu nguyện cho chúng ta. Ngay thời điểm này, ngay chính khoảnh khắc này. Anh chị em hãy làm thao tác trí nhớ này, lặp đi lặp lại điều này. Khi gặp khó khăn, khi anh chị em cảm thấy sức hút quỹ đạo kéo vào xao lãng, hãy nhớ: Chúa Giêsu đang cầu nguyện cho tôi. Nhưng thưa cha, điều này có đúng không? Đúng như thế! Chính Người đã nói điều đó. Chúng ta đừng quên rằng điều nâng đỡ mỗi chúng ta trong cuộc sống là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu cho mỗi người chúng ta, với tên và họ của chúng ta, trước mặt Chúa Cha, chỉ cho Người các thương tích vốn là giá mua ơn cứu rỗi cho chúng ta.

Ngay cả khi những lời cầu nguyện của chúng ta chỉ là lời lắp bắp, nếu chúng ta bị lung lay bởi một đức tin dao động, chúng ta đừng bao giờ ngừng tín thác nơi Người: Tôi không biết cầu nguyện như thế nào nhưng Người cầu nguyện cho tôi. Được nâng đỡ bởi lời cầu nguyện của Chúa Giêsu, những lời cầu nguyện rụt rè của chúng ta dựa trên đôi cánh đại bàng và bay lên Thiên đường. Anh chị em đừng quên: Chúa Giêsu đang cầu nguyện cho tôi. Ngay lúc này? Đúng, ngay lúc này. Trong giây phút thử thách, trong giây phút phạm tội, ngay cả trong tội lỗi đó, Chúa Giêsu đang cầu nguyện cho tôi với rất nhiều yêu thương. Cảm ơn anh chị em.

Đức Thánh Cha: Hãy dạy cho người trẻ biết hướng lên cao


6/2/2021 5:00:33 PM

Trong buổi tiếp 70 thành viên của Liên đoàn Bóng rổ Ý nhân dịp kỷ niệm 100 năm thành lập, vào sáng thứ Hai 31/5, Đức Thánh Cha nhấn mạnh, qua thể thao, hãy dạy cho các bạn trẻ biết hướng lên cao.

UserPostedImage

ĐTC tiếp đại diện Liên đoàn Bóng rổ Ý (Vatican Media)

Được thành lập nào năm 1921, Liên đoàn Bóng rổ Ý là thành viên của Liên đoàn Bóng rổ thế giới (FIBA) và chịu trách nhiệm tổ chức các cuộc thi bóng rổ ở Ý.

Trong bài diễn văn sau lời chào mừng của ông Giovanni Petrucci, Chủ tịch Liên đoàn Bóng rổ Ý, trước hết, Đức Thánh cha nhắc đến lịch sử của Liên đoàn và ký ức đẹp về một trận đấu tại Quảng trường Thánh Phêrô vào năm 1955, trước sự hiện diện của Đức Giáo Hoàng Piô XII; cũng như tương quan giữa Giáo hội và thế giới thể thao luôn được vun đắp trong sự nhận thức rằng, cả hai trong những cách thức khác nhau, đều phục vụ cho sự phát triển toàn diện của con người và có thể đóng góp một phần quý báu cho xã hội

Tiếp đến, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến các khía cạnh quan trọng của hoạt động thể thao. Khía cạnh đầu tiên là tinh thần đồng đội. Đức Thánh Cha giải thích rằng, mặc dù có những môn thể thao được gọi là “cá nhân”, nhưng thể thao luôn giúp mọi người đến với nhau, tạo nên các tương quan giữa những người khác nhau, và thậm chí không biết nhau, nhưng lại cùng chiến đấu vì một mục đích chung. Trong thể thao có hai điều quan trọng: hiệp nhất và có một mục đích. Theo nghĩa này, thể thao là phương dược cho cá nhân chủ nghĩa trong xã hội chúng ta. Một xã hội thường tạo ra một cái tôi cô lập và buồn bã, khiến chúng ta không thể “làm việc nhóm” và vun trồng say mê cho các ý tưởng tốt.

Khía cạnh thứ hai là tinh thần kỷ luật trong thể thao. Đức Thánh cha lưu ý rằng kỷ luật giúp ích cho đời sống thiêng liêng, vì vậy không thể để cảm xúc thống trị. Theo nghĩa này, cần phải có kỷ luật nội tâm được tạo nên từ sự trung thành, kiên định và cầu nguyện. Bởi vì, nếu không huấn luyện nội tâm liên tục, sẽ có nguy cơ mất đức tin.

Khía cạnh sau cùng, Đức Thánh Cha nói riêng đến môn bóng rổ. Ngài giải thích: “Bóng rổ là môn thể thao hướng lên trời. Đây là một thử thách thực sự cho những ai đã quen sống hướng về mặt đất”. Đức Thánh Cha mong muốn rằng đây cũng là một nhiệm vụ cao cả cho các vận động viên của môn thể thao này. Đó là khuyến khích các thiếu nhi và người trẻ ngước mắt hướng lên trên, không bao giờ bỏ cuộc, khám phá ra rằng cuộc sống là một hành trình bao gồm những thất bại và chiến thắng, và điều quan trọng là không bao giờ đánh mất ước muốn “chơi một trận bóng”.

Đức Thánh Cha nói thêm về việc dạy cho người trẻ khi đối diện với những thất bại: “Hãy dạy cho người trẻ đón nhận thất bại cách trưởng thành. Bởi vì thất bại giúp chúng ta lớn lên, giúp chúng ta hiểu rằng cuộc sống không phải lúc nào cũng ngọt ngào, không phải lúc nào cũng chiến thắng”. (CSR_4011_2021)

Ngọc Yến
(vaticannews.va 01.06.2021)

Ý cầu nguyện của ĐTC trong tháng 6: cầu nguyện cho hôn nhân


6/4/2021 4:20:47 PM

Trong video ý cầu nguyện của tháng 6, Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu trong tháng 6 cầu nguyện cho những người trẻ đang chuẩn bị cuộc hành trình hôn nhân dài suốt cuộc đời. Ngài khuyến khích người trẻ bước vào hành trình đầy đòi hỏi này, bởi vì “kết hôn và chia sẻ đời sống của mình quả là một điều gì đó thật tốt đẹp”, và đó là thực hiện ước mơ yêu thương mà Thiên Chúa dành cho chúng ta.

UserPostedImage

Mở đầu video ý cầu nguyện, Đức Thánh Cha nói: “Một số người cho rằng các bạn trẻ không còn muốn kết hôn nữa, đặc biệt là trong thời điểm khó khăn này. Điều này có đúng không?”.

Tỷ lệ kết hôn giảm

Vấn đề có liên hệ với thực tế hiện nay. Thống kê cho thấy, tại châu Mỹ, vào năm 2019, tỷ lệ kết hôn xuống thấp đến mức kỷ lục và tại châu Âu xuống gần 1/2 so với năm 1964, trong khi đó tỷ lệ ly dị tăng gần gấp đôi. Những thời gian cách ly của đại dịch tạo nên sự căng thẳng và các xung đột trong gia đình và khiến việc sống chung trở nên khó khăn hơn bình thường. Tuy nhiên Đức Thánh Cha khuyến khích: “Hôn nhân là một hành trình đòi hỏi, đôi khi khó khăn, và đôi khi phức tạp, nhưng đáng để nỗ lực.”

Hôn nhân là một ơn gọi

Ngài đề cao vẻ đẹp của hôn nhân và gia đình: không chỉ là một hành vi xã hội, “nó là một ơn gọi phát xuất từ trái tim; là một quyết định có ý thức cho phần còn lại của cuộc đời của một người, điều đòi hỏi sự chuẩn bị cụ thể”. Và ngài khẳng định: “Trên hành trình dài này, người chồng và người vợ không đơn độc” vì “Chúa Giê-su đồng hành với họ”.

Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu: “Chúng ta cùng cầu nguyện cho các bạn trẻ đang chuẩn bị kết hôn, với sự nâng đỡ của cộng đoàn Ki-tô hữu, được lớn lên trong tình yêu với lòng quảng đại, thuỷ chung và nhẫn nại. Bởi lẽ nhẫn nại thật nhiều là điều thật cần thiết để yêu thương. Nhưng tình yêu cũng thật đáng để nỗ lực đấy chứ, phải không?”

Chuẩn bị cho hôn nhân như một ơn gọi

Bà Gabriella Gambino, Phó Tổng Thư ký của Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống, cơ quan đã đóng góp vào việc xuất bản video của tháng này như một phần của “Năm đặc biệt về gia đình”, nhận định rằng: “chuẩn bị cho người trẻ và các cặp đính hôn cho một ơn gọi thật sự, không chỉ cho việc cử hành hôn lễ, là một ưu tiên.” Bà nói: “Trong một xã hội tục hóa không còn tin vào hôn nhân, điều cơ bản là loan báo sức mạnh và quyền năng của bí tích như một ơn gọi và cho thấy rằng các mối quan hệ gia đình có thể có giá trị cứu độ cho con người và là con đường nên thánh. Đó là vấn đề đưa Chúa Giê-su Ki-tô vào đời sống của các gia đình cách cụ thể.” (CSR_3946_2021)

Hồng Thuỷ
(vaticannews.va 02.06.2021)

ĐHY Tagle: Đại dịch làm thức tỉnh tinh thần truyền giáo


6/4/2021 5:13:11 PM

Phát biểu tại Hội nghị thường niên của Các Hội Giáo hoàng Truyền giáo diễn ra từ ngày 01 đến 03/06, Đức Hồng y Luis Antonio Tagle, Tổng trưởng Bộ Loan báo Tin Mừng cho các Dân tộc xác nhận rằng, đại dịch đã làm thức tỉnh tinh thần truyền giáo, dạy chúng ta một bài học về sự khiêm nhường, vì nhiều kế hoạch và chương trình mục vụ đã không thể thực hiện được. Nhờ vậy, tinh thần phó thác nơi Chúa được củng cố.

UserPostedImage

Thức tỉnh

Đức Hồng y Tagle nói: “Trong thời điểm đau thương của đại dịch, sứ vụ gần gũi những người đau khổ là điều không thể thiếu trong sứ vụ của chúng ta. Qua các cuộc trao đổi liên tục, kể cả trực tuyến, Các Hội Giáo hoàng Truyền Giáo đã tiếp tục chia sẻ kinh nghiệm, có thể hiểu được nỗi đau của nhiều dân tộc. Tuy nhiên, nếu như một gia đình nhân loại chúng ta đau khổ rất nhiều, thì đại dịch đã không ngăn cản chúng ta dấn thân vào các hoạt động truyền giáo”.

“Hoạt động truyền giáo bắt nguồn từ một linh đạo sâu sắc, như Đức Thánh Cha đã nói: chúng ta không được quên rằng đó là ân sủng đầu tiên của Chúa”, Đức Hồng y nhắc lại, đồng thời lưu ý rằng đại dịch đã cho chúng ta một bài học lớn về sự khiêm nhường. Nhiều kế hoạch và chương trình mục vụ đã không thể thực hiện được, và nhờ vậy, tinh thần phó thác cho Sự Quan phòng và ân sủng Chúa được lớn lên.

Sau khi nói đến cầu nguyện là điều thiết yếu cho sự linh hoạt và hoạt động truyền giáo, điều thấy rõ nơi Đấng đáng kính Pauline Jaricot, Đức Hồng y Tổng trưởng nhắc lại, Các Hội Giáo hoàng Truyền giáo không chỉ là “một tổ chức gây quỹ”, nhưng có nhiệm vụ “làm thức tỉnh tinh thần truyền giáo”, vốn là trung tâm của những ai đã được rửa tội. Hơn thế nữa, dấn thân loan báo Tin Mừng không chỉ được thực hiện nơi một nhóm người trong Ngày Thế giới Truyền giáo, với hoạt động gây quỹ.

Liên quan đến việc loan báo Tin Mừng qua các phương tiện truyền thông, Đức Hồng y mời gọi mọi người sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để kể những câu chuyện và kinh nghiệm của những người trẻ và giáo dân truyền giáo “đang là những chứng tá truyền cảm hứng tuyệt vời cho xã hội”. Ngài cho biết trong thời điểm đại dịch đã có sự gia tăng chung về yêu cầu chia sẻ các tài liệu và nội dung Kinh Thánh và thiêng liêng trong thế giới kỹ thuật số và do đó Các Hội Giáo hoàng Truyền giáo có thể sử dụng những công cụ này cho công cuộc loan báo Tin Mừng.

Ngài còn nhắc nhở rằng, khi sử dụng các công cụ truyền thông, phải ý thức rằng đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật, hiệu suất hoặc chiến lược để thu hút công chúng, bởi vì nếu truyền giáo chỉ là vấn đề này, nó sẽ trở thành truyền bá, truyền thông xuyên tạc, sai lầm hoặc chỉ là sự hùng biện. Truyền thông truyền giáo bắt đầu từ Thiên Chúa, Đấng nói với dân Người, trong một tương quan tình yêu.

Ngọc Yến
(vaticannews.va 04.06.2021)

MÌNH MÁU CHÚA: THẦN LƯƠNG NUÔI DƯỠNG


Lm. Nguyễn Xuân Trường
04/06/2021

Trong đời, chúng ta nhiều lần mời nhau ăn uống. Cùng nhau ăn uống không chỉ để sống, mà hơn nữa để bày tỏ tình cảm quý mến dành cho nhau. Kinh nghiệm này giúp ta hiểu hơn ý nghĩa Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô: Chúa mời chúng ta ăn uống chính Mình Máu Chúa là thần lương nuôi dưỡng nhờ tình yêu và sự sống của Ngài.

1. Tình yêu Chúa. Yêu nhau người ta luôn thích gần nhau, gần đến độ con sà vào lòng mẹ, em ngồi vào lòng anh. Chúa yêu nên cũng muốn ở gần đến độ Ngài đi vào trong lòng dạ con người nơi bàn tiệc Thánh Thể. Yêu thích gần và cũng thích cho đi: Yêu nhau thì thích tặng quà cho nhau. Yêu ít thì tặng ít, yêu nhiều thì tặng nhiều, yêu hết mình thì trao tặng tất cả. Chúa yêu đến độ trao tặng cả thịt máu Ngài, nghĩa là trao tặng trọn vẹn con người của Ngài cho chúng ta. Chúa trao tặng tất cả, sạch sành sanh!

2. Sự sống Chúa. Khi chúng ta ăn cơm canh cá thịt vào trong cơ thể, thì các đồ ăn ấy phải tan biến để trở thành chất dinh dưỡng làm nên sự sống của ta. Cũng vậy, khi Chúa trao ban Mình Máu Ngài làm của ăn uống là lúc Chúa chấp nhận hy sinh tan biến để cho chúng ta được sống. Hơn nữa, cơm canh cá thịt có giúp nuôi sống nhưng rồi thân xác ta vẫn phải chết, còn Mình Máu Thánh Chúa là thần lương giúp ta có sự sống đời đời vì ta được hiệp thông sự sống thần linh Chúa.

Lễ Mình Máu Chúa giúp chúng ta ý thức sống động hơn việc tham dự Thánh lễ là dự tiệc Thánh Thể. Dự tiệc thì phải đẹp đẽ tươi vui chứ. Đồng thời, lễ Mình Máu Chúa mời gọi chúng ta sống lối sống Thánh Thể, nghĩa là sống yêu thương quảng đại đến độ dám trao ban cả cuộc đời mình cho người khác, sống trở nên tấm bánh thơm ngon trao tặng cho nhau niềm vui, tình yêu và sự sống. Amen.

“SHIP” MÌNH THÁNH CHÚA

Bề trên ban lệnh: Do dịch bệnh, lễ Mình Máu Thánh Chúa năm nay chỉ mình các cha dâng lễ, bà con giáo dân dự lễ online.

Bà cụ thắc mắc: Dự lễ online thì rước Mình Thánh Chúa thế nào nhỉ?

Anh chồng giải thích: Thì mình hiệp lễ thiêng liêng mẹ à?

Cô vợ góp lời: Mẹ thắc mắc đúng đấy. Em làm nội trợ em hiểu. Xem hay nghe thì còn online được, chứ Chúa bảo ăn thịt và uống máu Ngài thì làm sao mà ăn uống online được!

Đứa con tuổi trẻ xen vào: Sao các cha không “ship” Mình Thánh Chúa đến cho nhà mình như tiệm ăn ship đồ nhỉ.

Cả nhà đồng thanh ồ lên: Con này thế mà sáng kiến hay!

----- Thực ra thì từ lâu Giáo hội đã làm việc đem Mình Thánh Chúa cho các bệnh nhân rồi. Trong lúc dịch bệnh thế này, ai cũng bị coi như “bệnh nhân” nằm liệt ở nhà, đang mong có người “ship” Mình Thánh Chúa đến.

10,000 tình nguyện viên bỏ việc, chưa tới 50 ngày trước Olympic Tokyo


June 4, 2021

TOKYO, Nhật (NV) – Trong bối cảnh chỉ còn chưa tới 50 ngày nữa là Olympic Tokyo khai mạc, hôm Thứ Năm, 3 Tháng Sáu, lại nảy sinh thêm một vấn đề mới để hoãn lại.

Theo AP, khoảng 10,000 trong số 80,000 tình nguyện viên không lương làm việc cho sự kiện này nói với các nhà tổ chức rằng họ sẽ không tham gia khi các trò chơi thể thao khai mạc vào ngày 23 Tháng Bảy.

UserPostedImage

Một người đi qua bảng quảng cáo Olympic Tokyo. (Hình minh họa: AP Photo/Koji Sasahara)

Các nhà tổ chức cho biết một số đã bỏ cuộc vì sợ dính COVID-19.

Theo dự trù, rất ít tình nguyện viên sẽ được chích vaccine vì hầu hết sẽ không tiếp xúc với các vận động viên hoặc nhân viên chủ chốt khác.

Hiện chỉ có khoảng từ 2% đến 3% dân số Nhật chích ngừa đầy đủ trong đợt đầu với tiến độ rất chậm chạm và hiện nay tiến trình đang được gia tăng tốc độ. Ngược lại, Ủy Ban Thế Vận Quốc Tế (IOC) hy vọng ít nhất 80% vận động viên và những người làm việc ở Làng Thế Vận được chích ngừa đầy đủ.

“Chúng tôi chưa xác nhận lý do cá nhân,” ban tổ chức cho biết trong một tuyên bố. “Ngoài những lo lắng về việc nhiễm COVID-19, một số đã bỏ cuộc vì họ nhận thấy khó có thể làm việc sau mỗi ca hoặc do những thay đổi trong môi trường của họ.”

Ban tổ chức cho biết việc các tình nguyện viên bỏ cuộc sẽ không làm cho Olympic bị hoãn.

Các tình nguyện viên không được trả lương là lực lượng lao động chủ chốt trong việc tổ chức Olympic và tiết kiệm cho các nhà tổ chức hàng triệu đô la tiền lương.

Họ thường được mặc đồng phục, ăn uống vào những ngày họ làm việc, và được đài thọ chi phí đi lại hàng ngày. Họ tự trả tiền chỗ ở của mình.

Một nghiên cứu được thực hiện cho IOC về các tình nguyện viên tại Olympic Sydney 2000 cho biết chi phí cho khoảng 40,000 tình nguyện viên tốn ít nhất là $60 triệu.

Trong ngày đánh dấu 50 ngày nữa là tới Olympic, ban tổ chức cho công bố các bục, trang phục, và âm nhạc sẽ được sử dụng trong lễ trao huy chương. Chủ tịch ban tổ chức, bà Seiko Hashimoto, một lần nữa hứa Olympic sẽ diễn ra an toàn cho các vận động viên.

“Ban tổ chức Tokyo 2020 cam kết sẽ bảo vệ sức khỏe của các vận động viên,” bà nói.

Sự ủng hộ của người dân Nhật cho Olympic Tokyo tiếp tục giảm, ít nhất từ 50% đến 80% không ủng hộ.

UserPostedImage

Hai thành viên ban tổ chức Olympic Tokyo họp báo. (Hình minh họa: Nicolas Datiche/Pool Photo via AP)

Hiện Tokyo đã chi $15.4 tỷ để tổ chức sự kiện này. Con số này sẽ còn tăng, theo các cơ quan kiểm toán của chính phủ. Trong số này, có $6.7 tỷ tiền đóng góp của tư nhân. IOC đóng góp khoảng $1.5 tỷ.

Nhật chỉ có hơn 13,000 ca tử vong vì COVID-19, thấp hơn nhiều so với hầu hết các quốc gia có số tử vong cao, nhưng cao hơn nhiều nước láng giềng Á Châu.

Cũng trong ngày Thứ Năm, 3 Tháng Sáu, Liên Đoàn Bóng Đá Nhật cho biết một cầu thủ của đội tuyển Ghana có kết quả dương tính khi đến Tokyo. Cầu thủ này đang bị cách ly.

Hồi đầu tuần, các cầu thủ bóng đá Jamaica không thể đến Nhật vì các vấn đề của thủ tục xét nghiệm COVID-19.

(KV) [đ.d.]

Đông Nam Á trong cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung Quốc


June 4, 2021
Hiếu Chân/Người Việt

Ngay từ trước khi lên cầm quyền, Tổng Thống Joe Biden đã xác định cuộc cạnh tranh toàn diện với Trung Quốc là trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở khu vực Châu Á. Quan điểm đó đã nhiều lần được nhấn mạnh trong các phát biểu và bài viết của ông Biden, của Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Jake Sullivan và của Ngoại Trưởng Antony Blinken. Ông Biden cũng đã bổ nhiệm một nhà ngoại giao kỳ cựu, rất am hiểu Trung Quốc là ông Kurt Campbell làm điều phối viên chính sách Châu Á của mình.

UserPostedImage

Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Wendy Sherman (trái) gặp Thủ Tướng Thái Lan Prayuth Chan-ocha hôm Thứ Tư, 2 Tháng Sáu, thông báo Mỹ viện trợ cho Bangkok $30 triệu giúp Thái Lan chống dịch COVID-19 nhưng không cam kết chia sẻ vaccine mà Thái Lan đang cần. (Hình: Government Spokesman Office via AP)

Trong xu hướng đó, Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm tới mối quan hệ với Nhật và Nam Hàn. Cho đến nay, Thủ Tướng Nhật Yoshihide Suga và Tổng Thống Nam Hàn Moon Jae-in là hai nguyên thủ quốc gia đầu tiên được đón tiếp trọng thị ở Tòa Bạch Ốc. Thế nhưng đối với khu vực Đông Nam Á thì chính sách của Mỹ có phần chậm chạp và kém hiệu quả. Các nguyên thủ quốc gia Đông Nam Á xếp cuối trong danh sách những nhà lãnh đạo nước ngoài được trò chuyện với tân tổng thống Hoa Kỳ qua điện thoại và còn rất lâu mới có những cuộc tiếp xúc trực tiếp để bàn về chính sách của Hoa Kỳ ở khu vực có tầm quan trọng vô cùng lớn đối với lợi ích của Mỹ trong cuộc ganh đua với Trung Quốc. Nếu chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á không được thay đổi theo hướng tích cực hơn thì có thể một lần nữa Washington bỏ lỡ cơ hội.

***

Mãi đến tuần này, bốn tháng rưỡi sau ngày tiếp nhận quyền lực ở Washington, chính quyền Biden mới cử một quan chức cấp cao tới Đông Nam Á. Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Wendy Sherman đã viếng thăm Thái Lan, Cambodia và Indonesia, trở thành quan chức đầu tiên của chính phủ Biden đến khu vực này. Nhưng chuyến công du của bà Sherman bị một trục trặc ngoại giao đáng tiếc trước đó phủ bóng.

Số là Ngoại Trưởng Antony Blinken có kế hoạch mở hội nghị trực tuyến, qua điện thoại truyền hình với lãnh đạo 10 quốc gia ASEAN vào ngày 25 Tháng Năm vừa qua. Đây là cuộc đàm đạo cấp cao đầu tiên Mỹ-ASEAN mà các nước Đông Nam Á mong đợi. Thế nhưng, đến ngày hội nghị, ông Blinken lại bị vướng vào nhiều việc quan trọng khác như chuyến công du tới Châu Âu để chuẩn bị cho hội nghị thượng đỉnh nhóm bảy nước công nghiệp phát triển G-7 sắp diễn ra tại Anh, rồi đến Trung Đông dàn xếp cuộc ngừng bắn giữa Israel và lực lượng Hamas của Palestine – một chuyện không định trước. Hội nghị trực tuyến Mỹ-ASEAN phải hủy bỏ vào phút chót và chưa ấn định được khi nào sẽ được tổ chức lại. Phía Mỹ cho rằng hội nghị không diễn ra được vì một trục trặc về kỹ thuật, nhưng nhiều nhà lãnh đạo Đông Nam Á vẫn cảm thấy mình bị xúc phạm. Trong ngoại giao, vụ này là một điểm trừ cho cách ứng xử của Washington.

Tại Thái Lan, Thứ Trưởng Sherman đã gặp Thủ Tướng Prayuth Chan-ocha hôm Thứ Tư, 2 Tháng Sáu, thông báo Mỹ viện trợ cho Bangkok $30 triệu giúp Thái Lan chống dịch COVID-19 nhưng không cam kết chia sẻ vaccine mà Thái Lan đang cần. Quan hệ Mỹ-Thái Lan hiện thời không còn nồng ấm như trước một phần do chính giới Mỹ vẫn quan niệm chính phủ của ông Prayuth Chan-ocha, lên cầm quyền sau một vụ đảo chính quân sự Tháng Năm, 2014, và một cuộc bầu cử bị coi là không công bằng năm 2019, là không có tính đại diện. Quan điểm đó đã cản trở việc thắt chặt quan hệ giữa hai nước.

Tại Cambodia, bà Sherman gặp thủ tướng đầy quyền lực Hun Sen và công bố khoản viện trợ $11 triệu giúp Cambodia chống dịch COVID-19. Cuộc đàm luận giữa bà Sherman và ông Hun Sen có tính tượng trưng cao độ vì trong suốt bốn năm nhiệm kỳ Tổng Thống Donald Trump vừa qua không có một quan chức nào của Mỹ, từ cấp thứ trưởng trở lên, đặt chân tới Nam Vang. Tuy nhiên, theo truyền thông, cuộc đàm luận giữa bà Sherman và ông Hun Sen không được suôn sẻ lắm do cái bóng của Bắc Kinh.

Bà Sherman viết trên Twitter rằng cuộc nói chuyện với ông Hun Sen là “thành thật” nhưng theo bản tin của đại sứ quán Mỹ tại Nam Vang, tại cuộc gặp bà Sherman đã bày tỏ “mối quan tâm nghiêm túc” của Washington về “sự hiện diện quân sự” của Trung Quốc tại một căn cứ Hải Quân đang được Bắc Kinh giúp mở rộng trên bờ vịnh Thái Lan.

Hồi Tháng Ba, 2021, điều trần trước Ủy Ban Quân Vụ Thượng Viện, tư lệnh lực lượng Mỹ tại Ấn Độ-Thái Bình Dương khi ấy là Đô Đốc Philip Davidson cho biết, vào Tháng Chín, 2020, chính phủ Cambodia đã cho san bằng các cơ sở do Hoa Kỳ xây dựng, đang được dùng làm trụ sở Ủy Ban Quốc Gia Về An Ninh Hàng Hải Cambodia, tại căn cứ Hải Quân Ream gần thành phố cảng Sihanoukville. Dẫn báo cáo cho biết hành động của Cambodia là nhằm mở đường cho việc thiết lập một căn cứ Hải Quân của Trung Quốc tại đây, Đô Đốc Davidson nói: “Hoa Kỳ và các nước trong vùng lo ngại về sự mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc ở Cambodia và tác động của nó đối với an ninh khu vực.” Bà Sherman đã chuyển tải mối lo ngại đó của Mỹ tới nhà lãnh đạo Cambodia.

Thứ Trưởng Sherman còn yêu cầu Cambodia hủy bỏ “các cáo buộc có động cơ chính trị chống lại thành viên của các đảng đối lập, các nhà báo và nhà hoạt động xã hội dân sự.” Cả hai mối quan tâm của Washington đều là những chuyện mà phía Cambodia không muốn nghe, không muốn đề cập tới.

Bà Sherman cũng đã đến Jakarta, nơi đặt trụ sở Ban Thư Ký ASEAN, gặp Ngoại Trưởng Indonesia Retno Marsudi để bàn về việc thúc đẩy đầu tư và thương mại. Trong một sự trùng hợp tình cờ hay cố ý, giữa lúc Thứ Trưởng Sherman đàm đạo với các nhà lãnh đạo Đông Nam Á, Trung Quốc đã cho 16 chiến đấu cơ bay vào không phận của Malaysia trên Biển Đông, ngụ ý nhắc nhở Bắc Kinh vẫn là một thế lực bao trùm của khu vực mà không ai được quên lãng.

***

Đông Nam Á đã từng rất thất vọng với cách đối xử của chính phủ Hoa Kỳ dưới thời Tổng Thống Donald Trump. Trong bốn năm cầm quyền, ông Trump đã bỏ qua tất cả các Hội Nghị Thượng Đỉnh Đông Á (East Asia Summit) với các nhà lãnh đạo ASEAN, Nhật và Trung Quốc. Ông Trump đã đến Singapore, Việt Nam nhưng chỉ để tham dự Diễn Đàn Kinh Tế APEC và để gặp nhà lãnh đạo độc tài xứ Bắc Hàn Kim Jong Un chứ không phải để hội đàm với các nguyên thủ ASEAN về những mối quan tâm chung của Mỹ và Đông Nam Á.

Khi người Mỹ vắng bóng thì người Trung Quốc gia tăng sự hiện diện. Với sáng kiến Vành Đai và Con Đường của Chủ Tịch Tập Cận Bình, với chính sách viện trợ, cho vay và đầu tư mà không ràng buộc với các điều kiện dân chủ nhân quyền, Trung Quốc đã bành trướng rất mạnh ảnh hưởng của họ ở Đông Nam Á.

Cambodia là một ví dụ nổi bật. Chỉ trong vài năm, Cambodia đã chuyển từ một nước nhận viện trợ và ưu đãi thương mại của Mỹ và Châu Âu sang một “chư hầu” của Trung Quốc. Trung Quốc là người bảo trợ chính trị chính, là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho Cambodia, đã đổ hàng tỷ đô la vào các dự án hạ tầng của nước này. Dấu ấn và hình ảnh của Trung Quốc tràn ngập đất nước Chùa Tháp, thủ đô Nam Vang và thành phố biển đã lột xác thành những đô thị Trung Quốc, với cộng đồng cư dân, công nhân và du khách Trung Quốc hết sức đông đảo. Chinh phục được Cambodia, Trung Quốc đã có điều kiện phá vỡ sự đồng thuận trong nội bộ 10 quốc gia ASEAN, ngăn chặn tổ chức này phản đối các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông và sông Mekong. Sự kiện các hội nghị thượng đỉnh ASEAN không đưa ra được tuyên bố chung lên án hành động của Trung Quốc do vấp phải sự phản đối của Cambodia là một ví dụ.

Nhưng xét cho cùng, Cambodia có lựa chọn của họ. “Nếu tôi không dựa vào Trung Quốc thì tôi sẽ dựa vào ai? Nếu tôi không hỏi Trung Quốc thì tôi biết hỏi ai?” Thủ Tướng Hun Sen bộc bạch tại diễn đàn Tương Lai Châu Á do báo Nikkei tổ chức cuối Tháng Năm vừa qua. Ông Hun Sen cho rằng, phê phán ông quá phụ thuộc hoặc khấu đầu trước Bắc Kinh là “không công bằng.”

Ông Joe Biden của đảng Dân Chủ đắc cử tổng thống Mỹ đã mang lại niềm hy vọng cho ASEAN; các thủ đô Đông Nam Á chào đón các nỗ lực của chính quyền Biden thúc đẩy mối quan hệ đồng minh và đối tác với Hoa Kỳ trong lúc Trung Quốc càng ngày càng tỏ ra hung hăng và lấn lướt các nước láng giềng nhỏ hơn. Nhưng, theo nhận định của các nhà phân tích chính trị, ngay cả khi Hoa Kỳ đẩy mạnh chiến lược thu phục nhân tâm thì Washington vẫn bị chậm chân trong lúc Bắc Kinh đã tiến rất xa trên con đường chinh phục của họ.

Cho đến nay, viện trợ và đầu tư của Hoa Kỳ tại khu vực này chỉ là một con số rất nhỏ so với Trung Quốc. Đại dịch COVID-19 càng làm nổi bật sự chênh lệch giữa Mỹ và Trung Quốc trong việc hỗ trợ khu vực Đông Nam Á. Sau khi khống chế được về căn bản đại dịch COVID-19, Bắc Kinh đã cử Ngoại Trưởng Vương Nghị (Wang Yi) đi tới chín nước ASEAN, cam kết viện trợ và bán rẻ các loại vaccine do Trung Quốc bào chế, trong cái gọi là chính sách “ngoại giao vaccine.” Đến nay các nước này đã dựa phần lớn vào nguồn vaccine Trung Quốc để thực hiện chương trình tiêm chủng cho dân chúng bên cạnh một số ít vaccine AstraZeneca từ chương trình COVAX của Liên Hiệp Quốc mà Hoa Kỳ hậu thuẫn. Việt Nam, nước duy nhất trong ASEAN không nhận vaccine Trung Quốc, thì rất khốn đốn, đến ngày 3 Tháng Sáu chỉ mới có 1.2% dân số Việt Nam được tiêm chủng ít nhất một mũi vaccine, 0.03% dân số đã tiêm đầy đủ, thấp xa so với cả Lào (12.7% và 3.5% dân số) và Cambodia (29% và 12.7% dân số), vì không tìm được nguồn cung cấp vaccine ngoài Trung Quốc. Chỉ riêng vụ vaccine đủ thấy vai trò của Trung Quốc ở khu vực này quan trọng như thế nào.

***

Bốn năm dưới thời cựu Tổng Thống Trump là thời kỳ Trung Quốc bành trướng ở Đông Nam Á mạnh nhất, từ lấn chiếm và xâm lấn trên Biển Đông xuống tận Indonesia và Malaysia, đến chặn dòng sông Mekong, đẩy mạnh đầu tư và di dân tới các nước láng giềng. Đây cũng là thời kỳ Đông Nam Á cảm thấy rõ ràng họ đang bị Hoa Kỳ bỏ rơi, không chỉ các nước Đông Nam Á lục địa (Việt Nam, Lào, Cambodia, Thái Lan và Miến Điện) vốn gần gũi về địa lý và gắn kết sâu sắc về lịch sử, về mô hình thể chế với Trung Quốc mà cả các nước Đông Nam Á hải đảo (Philippines, Malaysia, Indonesia, Singapore và Brunei) vốn xa cách Trung Quốc, cũng cảm thấy suy giảm mạnh lòng tin vào chính sách của Hoa Kỳ.

Trước đó nữa, khi nhận ra Trung Quốc – dưới sự cai trị độc tài của đảng Cộng Sản – không thể là một đối tác tốt của Hoa Kỳ, không hy vọng tăng trưởng kinh tế sẽ đưa đất nước Trung Quốc vào con đường dân chủ hóa, trở thành “một cổ đông có trách nhiệm” trong cộng đồng thế giới, chính phủ của Tổng Thống Barack Obama đã kích hoạt một chiến lược “xoay trục” (pivot) sang Châu Á, còn gọi là chính sách “tái cân bằng” (rebalance) – tập trung hỗ trợ các nước nhỏ ở Đông Nam Á chống lại sự chèn ép của Bắc Kinh. Khi Ngoại Trưởng Hillary Clinton công bố chiến lược “xoay trục” của Mỹ tại Hội Nghị Thượng Đỉnh ASEAN ở Hà Nội năm 2010, các nước Đông Nam Á đã không giấu được sự hài lòng, làm cho ngoại trưởng Trung Quốc khi ấy là ông Dương Khiết Trì (Yang Jiechi) tức giận, xô ghế đứng dậy bỏ ra khỏi phòng họp.

Nhưng rồi, cuộc chiến tranh ở Syria, ở Iraq và Afghanistan, cùng nhiều cuộc khủng hoảng khác ở Trung Đông đã thu hút phần lớn sự quan tâm và nguồn lực của chính phủ Obama. Tận dụng cơ hội đó, Bắc Kinh đẩy mạnh cuộc bành trướng ảnh hưởng tại Châu Á cho tới thời của chính quyền Trump. Nỗ lực cuối cùng của ông Obama nhằm hạn chế ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực là Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (Trans Pacific Partnership, TPP) cũng bị ông Trump vứt vào sọt rác ngay trong tuần đầu tiên chuyển giao quyền lực.

Tất cả những biến động đó, dù đã đi vào lịch sử, vẫn để lại một nỗi hoài nghi và cay đắng trong giới chính trị và trí thức Đông Nam Á về ý định chiến lược của Hoa Kỳ. Giáo Sư Mohamad Rosyidin, nhà phân tích chính sách đối ngoại tại đại học Diponegoro University của Indonesia chua chát nhận xét: “Nếu chúng ta nhìn vào khuynh hướng về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dưới quyền Tổng Thống Joe Biden, chúng ta sẽ thấy dường như Hoa Kỳ ưu tiên cho vùng Trung Đông hơn là khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương… Đó là vì truyền thống ngoại giao Mỹ từ lâu đã luôn đặt Trung Đông thành một chỗ đứng quan trọng trong chính sách đối ngoại.” Ông Rosyidin giải thích, sở dĩ như vậy vì người Mỹ quan tâm nhiều tới dầu mỏ, Israel, Iran và Saudi Arabia hơn là vùng Đông Nam Á chẳng có gì hấp dẫn.

Sự kiện Ngoại Trưởng Antony Blinken hủy bỏ hội nghị với các nguyên thủ ASEAN để bay sang Trung Đông giải quyết vụ xung đột Israel-Hamas vừa qua cũng được nhìn nhận ở quan điểm hoài nghi như vậy.

Để đối phó với ảnh hưởng của Trung Quốc, trước tiên Washington phải có biện pháp xây dựng lòng tin của các đồng minh và đối tác tại Đông Nam Á – khu vực “chiến trường” của cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung Quốc.

***

Nhờ thành công sớm trong việc khống chế đại dịch COVID-19 và khôi phục nền kinh tế, Bắc Kinh dường như đã đi trước Washington một chặng đường dài trong việc thu phục các nước Đông Nam Á. Trong khi Thứ Trưởng Wendy Sherman là quan chức cao cấp nhất, đầu tiên của chính quyền Biden đi tới Thái Lan, Cambodia và Indonesia sau một thời gian dài Hoa Kỳ vắng mặt thì ngoại trưởng Trung Quốc thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với các nhà lãnh đạo Đông Nam Á để củng cố các mối quan hệ. Ông Vương cũng đã mời các ngoại trưởng ASEAN đến thành phố Trùng Khánh trong tuần tới để dự hội nghị Trung Quốc-ASEAN, ở đó theo dự kiến Trung Quốc sẽ công bố các chương trình trợ giúp Đông Nam Á khôi phục nền kinh tế từ sự tàn phá của đại dịch. Chưa rõ Bắc Kinh sẽ đưa ra sự trợ giúp như thế nào nhưng đây rõ ràng là một biện pháp thu phục nhân tâm rất hữu hiệu.

Hoa Kỳ dường như vẫn chưa có một kế hoạch như vậy.

Các nước Đông Nam Á từ lâu đã tuyên bố không muốn lựa chọn theo Mỹ hay theo Trung Quốc nhưng nếu xu hướng hiện thời cứ tiếp diễn thì sẽ không khó biết tương lai của Đông Nam Á sẽ về đâu. [qd]

Câu chuyện An Sinh Xã Hội và Bảo Hiểm Y Tế


June 5, 2021
Vũ Linh

Trong một bài tham luận mới đây của cụ Chu Tất Tiến, cụ đã viết đại ý đảng CH mỗi lần nắm quyền đều cắt bớt các trợ cấp, bảo hiểm y tế và cả tiền già của thiên hạ. Kẻ này xin cụ cho biết một ví dụ cụ thể nào, cho biết ông tổng thống CH nào đã cắt, khi nào, bao nhiêu,… nhưng dĩ nhiên cụ tảng lờ, làm thinh.


DĐTC đã vạch ra nhiều lần đây là loại bài ca con cá vàng mà phe cấp tiến đã nhai đi nhai lại để hù dọa thiên hạ từ cả mấy chục năm nay mà không thấy nhàm chán. Mà cái lạ là họ nhai không biết bao nhiêu lần trong nhiều năm qua, trong khi trong thực tế từ hồi ra đời đến giờ, những trợ cấp hay bảo hiểm y tế nêu trên trên chưa hề bị cắt một xu nào dưới bất cứ ông tổng thống CH nào. Hiển nhiên, họ chỉ là những tên học trò chăm chỉ nhưng thiếu sáng kiến của Goebbels, tay tổ tuyên truyền của Hitler, nhai miết có ngày sẽ có người tin là thật.

Dù sao, đây cũng là dịp ta xem lại những chương trình giúp đỡ này.

Trước hết phải nói ngay, trong khuôn khổ giới hạn của Diễn Đàn Trái Chiều, sẽ không đủ chỗ để viết trọn vẹn tất cả mọi chương trình, mà bài này chỉ bàn về hai chuyện, nôm na gọi là tiền già và bảo hiểm y tế, vì lý do giản dị là hai thứ ‘quà’ của Nhà Nước này, hầu như tất cả mọi người đều nhận, trong khi các loại trợ cấp khác có tính hạn hẹp hơn, dành cho từng tình trạng cá nhân, chẳng hạn trợ cấp thất nghiệp chỉ có những người thất nghiệp mới nhận được, hay trợ cấp đông con chỉ có các gia đình đông con mới nhận được.

UserPostedImage

Ngay cả hai vấn đề phức tạp và quan trọng này, cũng không đủ chỗ để bàn về mọi chuyện liên hệ, mà chỉ có thể viết một cách đại cương về những vấn đề chính. Do đó, kẻ này cũng có kèm theo link chi tiết của Wikipedia để quý độc giả tham khảo.

Kẻ này cũng xin nói ngay vì tính phức tạp của vấn đề, bất chấp mọi cố gắng của tác giả, bài viết dưới đây không thể tránh khỏi thiếu sót hay thậm chí sai lầm nghiêm trọng. Quý độc giả thấy những điểm đó, xin chỉ giáo để tác giả có thể sửa chỉnh hay bổ túc.

TIỀN GIÀ

Trước hết ta bàn về chuyện thiên hạ thường gọi là tiền già.

Cuộc khủng hoảng tài chánh lớn nhất lịch sử Mỹ trong những năm cuối thập niên 1920, đầu thập niên 1930, đã mang ra ánh sáng quá nhiều lỗ hổng của chính sách dân sinh của chính phủ Mỹ. TT Roosevelt, một vị tổng thống được coi như một trong những tổng thống vĩ đại nhất Mỹ, đã phải đối phó với đại khủng hoảng tài chánh này, nên đã thấy rõ những kẽ hở, và tìm cách cải tiến.

Một trong những khám phá của ông là dân Mỹ chẳng có tiền hưu dưỡng gì, đến khi về già không đi làm nữa đều có cuộc sống hết sức chật vật. Chỉ có một số rất nhỏ các đại công ty mới có các chương trình cấp tiền hưu cho nhân viên về hưu.

Franklin D Roosevelt: The man who conquered fear | The Independent | The Independent

TT Roosevelt ra luật tạo ra một chế độ hưu dưỡng do Nhà Nước quản trị, có tên là Social Security Act 1935. Tóm tắt lại, mỗi người khi đi làm, bị bắt buộc phải để dành ít tiền cho ngày về hưu, và các công ty thuê họ làm, cũng phải có một đóng góp vào tiền hưu đó. Số tiền đóng góp sẽ được gửi cho Nhà Nước giữ, đến khi về hưu, 65 tuổi, sẽ được lãnh tiền mỗi tháng để sống cho đến khi qua đời. Đó là nguyên tắc tổng quát chứ trên thực tế, suốt gần 100 năm qua, chế độ hưu dưỡng này đã có rất nhiều thay đổi trong chi tiết.

Ngay từ nguyên tắc thành lập quỹ hưu, ta cũng thấy ngay đó phản ảnh quan điểm Nhà Nước Vú Em của đảng DC: Nhà Nước bắt buộc mọi người phải để dành tiền cho ngày hưu, và Nhà Nước giữ giùm số tiền đố, rồi trả lại dần dần luôn. Nói trắng, ra, Nhà Nước không tin mọi cá nhân biết tự lo cho mình, nên lo giùm, từ đầu vào tới đầu ra.

Hiện nay, chương trình hưu dưỡng có một số đặc điểm:

– Chương trình được quản trị bởi cơ quan Social Security Administration -SSA-, nên thường được gọi là tiền SSA. Ở đây, cần phải hiểu rõ chương trình này khác xa chương trình SSI, tức là chương trình Supplemental Security Income, trợ cấp những người già yếu, bệnh tật, không có lợi tức hay lợi tức rất thấp. Một số khá lớn dân HO qua đây, sống bằng tiền SSI.

– Mỗi người đi làm bị khấu trừ trong phiếu lương khoảng 6% và hãng cũng phải đóng thêm 6%. Những con số này có thể thay đổi ít nhiều, tùy chính sách của tổng thống và đảng nắm quyền. Số tiền này cho vào quỹ Social Security, tức là quỹ an sinh xã hội, mà nhiều người bôi bác là quỹ ‘ăn xin’ xã hội, dùng để trả tiền hưu sau khi người đóng tiền đã về hưu ở tuổi chính thức 65. Số tiền thuế này được gọi là ‘payroll tax’.

– Thực tế, payroll tax cao hơn mức 6%, vì còn phải đóng thêm khoảng 1,5% lương cho quỹ bảo hiểm y tế Medicare, là bảo hiểm y tế dành cho người 65 tuổi trở lên.

– Đóng góp này giới hạn mức lương tối đa nào đó, hiện nay là 142.800 đô một năm, nghĩa là mức lương cao hơn sẽ không bị đóng thêm thuế payroll. Tùy tổng số tiền đóng góp, khi đến tuổi hưu, sẽ nhận lại được ‘tiền già’ mỗi tháng, xấp xỉ đâu từ 800 đến hơn 2.000 đô một tháng, lãnh cho tới chết. Những giới hạn này có nghĩa đây chỉ là tiền già tối thiểu Nhà Nước bắt mọi người phải có để giúp đỡ phần nào thôi, không có nghĩa là có thể bảo đảm một cuộc sống thoải mái về già. Muốn về già được khấm khá hơn, tất nhiên mỗi người tự ý tiết kiệm, dành dụm thêm cho chính mình.

– Mọi người đều có quyền về hưu non, lãnh tiền già sớm hơn, từ 62 tuổi, tuy lãnh mỗi tháng ít hơn là nếu chờ đến đúng 65 tuổi. Nếu về hưu non, thì có thể được đi làm lãnh thêm ít tiền, nhưng số lương lãnh thêm này bị giới hạn ở mức tối đa (mức tối đa của năm 2021 là 18.960 đô một năm), nếu làm hơn thì sẽ phải đóng thuế payroll phạt khá nặng, làm 2 đô đóng 1 đô. Nếu muốn tránh thuế ‘phạt’ này thì phải hoàn trả lại tất cả số tiền hưu non đã nhận được trước khi đi làm việc, trả một lần một. Qua 65 tuổi thì không còn giới hạn, lãnh đủ tiền già mà vẫn có quyền đi làm kiếm thêm bao nhiêu lợi tức cũng được.

– Hai vợ chồng cùng lãnh tiền già, nếu một người qua đời, người còn lại sẽ hưởng một phần tiền già của người quá vãng.

– Những người làm nghề độc lập, trên căn bản phải tự nguyện đóng payroll tax, nhưng trên thực tế, rất nhiều người không đóng, với hậu quả dĩ nhiên, khi về hưu sẽ không nhận được bao nhiêu tiền già.

Thuế payroll lúc sau này, đã trở thành một thứ công cụ cho chính sách kinh tế. Khi muốn kích cầu, tức là muốn cho người dân có thêm tiền trong túi để xài, kích động sản xuất kinh tế, thì Nhà Nước cho phép giảm tỷ lệ 6% đóng góp vào payroll, hay miễn luôn, như TT Bush con và TT Obama đã làm. Dân bớt phải đóng ít tiền thuế, mừng rỡ mà quên mất quỹ hưu của mình cũng sẽ bớt đi ít tiền, về già lãnh ít hơn.

Quỹ tiền già này đang gặp nạn lớn. Nếu tiếp tục không có thay đổi gì, thì quỹ sẽ giảm lần trong vài năm tới, và trong hai ba chục năm tới có thể sẽ cạn, hết tiền và thiên hạ sẽ lãnh ngày một ít đi, cho đến khi cạn quỹ, không còn ai lãnh đồng nào nữa.

Có hai yếu tố gây nên khủng hoảng dài hạn này:

– Thứ nhất, tình trạng dân số Mỹ thay đổi, đi đến tình trạng nhờ những tiến bộ y khoa cũng như lối sống, cách ăn uống, tập thể dục,… số người già ngày càng nhiều, càng sống lâu, trong khi giới trẻ ham vui, ngày càng ít chịu đẻ. Nói cách khác, số người lãnh tiền già càng ngày càng nhiều, lãnh tiền càng lâu năm, trong khi những người đóng tiền vào quỹ ngày càng ít đi.

– Thứ nhì, tiền quỹ được quản trị một cách cực kỳ bảo thủ, muốn tránh rủi ro tối đa để bảo đảm không bị mất tiền, tránh việc nhiều người mất tiền dành dụm oan. Tiền trong quỹ được đầu tư vào công khố phiếu quốc gia -US Treasury bonds- với lãi suất hết sức thấp, khoảng 2% cho công khố phiếu dài hạn 30 năm, hay 0,13% cho công khố phiếu ngắn hạn 2 năm (lãi suất hiện hành). Trong khi đó, số tiền hưu mỗi người nhận được lại tự động được điều chỉnh theo chỉ số lạm phát do Nhà Nước ấn định, mỗi năm tăng một ít, khoảng vài chục đồng một tháng. Trong vấn đề này, TT Bush con trước đây đã có ý định cho phép mỗi người trích ra một phần tiền của mình để tự đầu tư vào những chỗ lãi suất cao hơn, với hy vọng khi về già sẽ lãnh được nhiều tiền hơn, nhưng ý kiến không được ủng hộ vì có quá nhiều rủi ro.

Vấn nạn này cho đến nay, vẫn chưa ai có giải pháp. Không phải vì thực sự không có giải pháp, mà chỉ vì mọi giải pháp đều đòi hỏi một sự hy sinh nào đó của dân chúng, chẳng hạn như tăng tuổi lãnh tiền già lên (chẳng hạn 67 hay 70 tuổi mới được lãnh đầy đủ), hay giảm số tiền mỗi người được lãnh, hay tăng số tiền mỗi người phải đóng mỗi tháng,… Trong thể chế chính trị dân chủ của Mỹ, mỵ dân là phương cách hữu hiệu nhất để được cử tri bầu, cho nên không có một chính trị gia nào, tổng thống hay dân biểu hay nghị sĩ nào có cái gan bằng trời, dám đề nghị những giải pháp ‘mích lòng’ trên. TT Bush con chỉ đề nghị một giải pháp tương đối rất nhẹ, mà cũng bị đánh tơi bời đến độ không dám đưa đề nghị ra trước quốc hội để làm luật nữa.

Dù muốn hay không, cải tổ hệ thống tiền già SSA bắt buộc sẽ phải thực hiện nếu không muốn thấy chương trình này xập tiệm hoàn toàn trong hai ba chục năm nữa.

Một vấn đề khá đặc biệt của payroll tax. Các đại gia Mỹ thích thuê di dân lậu làm người giúp việc trong nhà như tài xế, vú em, đầu bếp,… Lương rất rẻ mà di dân lậu rất siêng năng, phần lớn khá lương thiện, vì sợ phạm luật sẽ bị bắt và trục xuất. Các đại gia, nhất là tại Cali, thuê di dân lậu thường không khai báo và không trả thuế payroll 6% cho Nhà Nước, và di dân lậu dĩ nhiên cũng không khai báo và đóng thuế, do đó về già thì trắng tay, không có tiền hưu gì.

Cái mánh này của các đại gia nổi bật dưới thời TT Clinton khi hai bà bộ trưởng của ông bị bắt quả tang đã thuê di dân lậu không khai báo và không đóng payroll tax, khiến cả hai bà đều phải rút lui trước khi thượng viện phê chuẩn.

Chẳng phải các đại gia không mà nhiều cơ sở kinh doanh nhỏ, kiểu như các tiệm phở Việt, cũng thích thuê di dân lậu, không khai báo, khỏi cấp bảo hiểm cũng chẳng đóng thuế payroll tax gì hết.

https://en.wikipedia.org...y_Administration#History

BẢO HIỂM Y TẾ

UserPostedImage

Đây là chương trình bảo hiểm y tế do Nhà Nước cung cấp và quản trị. Có hai loại: Medicaid và Medicare. Dưới đây là tóm lược sơ sài về hai chương trình, một cách tổng quát. Muốn biết chi tiết, quý độc giả phải tham khảo chuyên gia, nhất là về Medicaid, luật lệ có nhiều khác biệt tùy tiểu bang.

Dĩ nhiên đây là hai chương trình đặc biệt cho người nghèo và người cao niên, những người khác có thể có bảo hiểm tập thể của công ty mình làm việc, nếu không có thì phải tự mua qua các công ty bảo hiểm y tế tư nhân, hay qua hệ thống Obamacare.

Cả hai chương trình Medicaid và Medicare đều ra đời năm 1965, dưới thời TT Johnson. Điều mỉa mai lớn là ngày nay, đảng DC luôn luôn hù dọa dân chúng là các tổng thống CH sẽ cắt bớt cả Medicare lẫn Medicaid, trong khi phe DC lại là phe trước đây chống các luật này rất mạnh, và TT Johnson đã phải trông cậy vào hậu thuẫn của đảng CH mới ra được những luật này.

Cả hai chương trình đều là bảo hiểm y tế, có bệnh mới được chữa trị qua hai chương trình này, chứ không có ai sống bằng Medicaid hay Medicare hết.

MEDICAID

UserPostedImage

Là chương trình bảo hiểm y tế cho những người có lợi tức thấp. Chương trình này có hai phần, một phần do liên bang gánh chịu và phần còn lại do tiểu bang nhận. Ở cấp liên bang, gọi chung là Medicaid, trong khi ở cấp tiểu bang có thể là Medicaid, nhưng cũng có thể có tên khác như MediCal của Cali chẳng hạn.

Tiêu chuẩn được nhận có thể khác biệt khá nhiều, tùy tiểu bang, nhất là sau khi có Obamacare, vì Obamacare muốn mở rộng tiêu chuẩn, nhận nhiều người vào hơn, nhưng có nhiều tiểu bang không chấp nhận làm chuyện này vì tiểu bang không có đủ tiền, nhất là những tiểu bang nghèo miền nam nước Mỹ.

Một khi được nhận, Medicaid đáp ứng hầu hết nhu cầu y tế, kể cả việc trả tiền cho các bệnh tinh thần, răng và mắt, mang bầu và sanh đẻ, nằm bệnh viện lâu dài,…

Chương trình Medicaid thực tế đã giúp rất nhiều người có lợi tức thấp, nhưng bù lại cũng bị lạm dụng, khai thác, gian lận nhiều nhất.

https://en.wikipedia.org/wiki/Medicaid

MEDICARE

Một cách tổng quát, đây là bảo hiểm y tế cho tất cả công dân từ 65 tuổi trở lên, bất kể tình trạng giàu nghèo. Không cần xin gì, khi đến tuổi là tự động có, tuy cũng phải làm thủ tục giấy tờ cần thiết. Tuy nhiên, dân đại gia nhiều tiền thường không cần vì dư tiền tự lo cho mình đi bác sĩ và nhà thương đắt tiền, tốt hơn.

Đây là chương trình của chính phủ liên bang, áp dụng đồng loạt cho tất cả công dân, bất kể tiểu bang nào.

Medicare trên căn bản có 4 phần:

– Part A: căn bản là trả tiền bệnh viện, các trung tâm phục hồi -rehab- lâu dài, tiền chữa trị tại gia, và các y tá chuyên môn.

– Part B: căn bản là trả tiền bác sĩ, dụng cụ trợ giúp như xe lăn, máy móc tại gia, việc phòng bệnh như chích ngừa.

– Part C: chương trình này bao gồm cả hai chương trình trên.

– Part D: giúp trả tiền thuốc. Chương trình này do các công ty bảo hiểm tư phụ trách dưới sự chỉ đạo của luật y tế của Nhà Nước.

Medicare một phần do mỗi người tự trả bằng cách đóng phụ thu thuế payroll mỗi lần lãnh lương, khoảng 1,5% số tiền lương.

Một chuyện ít người biết vì được giấu nhẹm khá kỹ, Medicare thật ra là sáng kiến của tổng thống CH, Eisenhower. Ông bắt đầu thử nghiệm bằng cách sáng chế ra loại bảo hiểm do Nhà Nước quản trị này để áp dụng với gia đình các quân nhân Mỹ. Vì thành công lớn, nên sau đó, TT Johnson bành trướng cho tất cả dân cao niên. Thế mới nói những người nói các chương trình ‘dân sinh là của đảng DC’ chỉ là những người không biết gì mà thích nói bừa.

https://en.wikipedia.org/wiki/Medicare_(United_States)#History

————-

Nhân đây, DĐTC xin phép bàn thêm về các chương trình trên.

Tuần rồi, Vũ Linh có viết bài tham luận về cụ Chu Tất Tiến, trong đó có nêu lên 13 điểm cụ CTT xuyên tạc hay viết nhảm.

Tuần qua, qua hệ thống email của cộng đồng tị nạn, đã có một người ‘phản bác’ giùm cụ CTT, ký tên là Lê Minh Tú, mà tôi chẳng biết là ai, biết đâu chừng là tên bí mật của cụ CTT không chừng? Ai cũng biết cụ CTT là vua dùng đủ thứ tên trên các emails gởi tứ tung. Email này giúp cụ CTT phản bác điều số 1 trong bài tham luận của VL. 13 điều mà chỉ phản bác một, nghĩa là 12 điều còn lại đều đúng hết, không thể phản bác được sao? Cũng đủ vui rồi!

Dù sao, kẻ này cũng cám ơn phản bác này vì giúp có dịp làm rõ vấn đề hơn.

Đây là nguyên văn tiết mục này (chữ nghiêng là nguyên văn của cụ CTT, chữ thẳng là lời bàn của VL).

1. Đảng [CH] không muốn người nghèo cứ dựa dẫm mãi vào sự yểm trợ của chính phủ, do đó, trong thời kỳ mà đảng cầm quyền, các chính sách về Medical, tiền hưu dưỡng cho người già đều bị cắt bớt.

MediCal là chương trình bảo hiểm y tế cho những người có lợi tức thấp của tiểu bang Cali, nằm trong chương trình chung của liên bang gọi là Medicaid. Tên MediCal là tên riêng của tiểu bang Cali, các tiểu bang khác có thể có những tên khác. Kẻ này chưa bao giờ nhận được Medicaid hay MediCal, cũng mới nhận được tiền già được ít năm nên không rõ tiến trình lịch sử của hai thứ này. Xin cụ CTT vui lòng liệt kê giùm cho thiên hạ biết các tổng thống CH nào đã ‘cắt bớt’ tiền Medical và hưu dưỡng được không? Medicaid ra đời 1965, từ đó tới nay đã có 6 tổng thống CH: Nixon, Ford, Reagan, Bush cha, Bush con, và Trump, xin cụ CTT vui lòng cho biết ông nào hay tất cả 6 ông đều đã cắt bao nhiêu, qua luật nào, ngày nào. Nếu cụ không nêu ra được thì xin phép hỏi có phải cụ đang tung fake news không?

Cái anh chàng LMTú này phản bác bằng cách đưa ra một cái link của một bản tin nào đó, cho thấy trong ngân sách của năm 2020, TT Trump đã đề nghị cắt cả mấy trăm tỷ tiền Medicare và Medicaid, có luôn cả đề nghị cắt giảm ngân sách của quỹ tiền già, trong mục đích chứng minh VL đã viết sai, TT Trump đã cắt Medicare, Medicaid, và SSA/SSI.

Hiển nhiên, cái phản bác này không những chẳng phản bác được gì mà còn phơi bày sự thiếu hiểu biết căn bản của tác giả phản bác.

Không sai là trong đề nghị ngân sách 2020, TT Trump có đề nghị cắt ngân sách các chương trình trên. Tuy nhiên có nhiều chuyện tác giả LMT không biết hay cố tình không nêu ra, mà kẻ này phải bàn thêm để mọi người hiểu rõ hơn.

– Thứ nhất, đây chỉ là đề nghị, chưa được thảo luận gì với quốc hội thì ông Trump đã không còn làm tổng thống nữa, đề nghị này bị vào thùng rác. Moi một đề nghị nằm trong thùng rác ra để tranh cãi thấy có vẻ… thật gượng ép, có lẽ vì quá bí.

– Thứ nhì, tác giả hiển nhiên không hiểu gì nhiều về khác biệt giữa ngân sách nói chung và những quyền lợi thực tế người dân được hưởng. Cái anh ta trình làng là đề nghị về ngân sách, tuyệt đối không đụng chạm gì đến quyền lợi của mỗi người dân trong các chương trình đó.

Trong cả 3 ngân sách cho Medicare, Medicaid, và tiền an sinh xã hội, đều có hai phần tiền: một là tiền thật sự dùng để giúp thiên hạ, mà thiên hạ được hưởng, gọi là ‘benefits’, chẳng hạn tiền hoàn trả bệnh viện, thuốc men, số tiền già lãnh mỗi tháng; và hai là chi tiêu chung có tính cách hành chánh, như tiền lương cho công chức lo những chuyện này, tiền giấy tờ, thủ tục này nọ,… Ngoài ra còn có một số tiền rất lớn mà lại vô hình, không ai có con số chính xác, đó là tiền do gian lận, khai gian, biển thủ, lạm dụng, phí phạm trong các thủ tục hành chánh…

Điều TT Trump đề nghị cắt bỏ bớt là ‘ngân sách’ chứ không phải ‘benefits’, nghĩa là cắt bớt tiền thuộc nhóm tiền cuối cùng trên. Nói trắng ra, TT Trump muốn thanh lọc để giảm lạm dụng, bớt gian lận,… Số tiền lớn nhất là tiền hoàn trả cho các bệnh viện và bác sĩ, mà TT Trump muốn cắt giảm bớt qua một số thủ tục chi trả mới, vì hầu hết các bệnh viện và bác sĩ đều tính tiền chính phủ quá cao -overcharged-. Nói cho rõ, Ủy Ban Kiểm Tra Ngân Sách viết TT Trump đề nghị giảm ‘chi phí’ chứ không cắt quyền lợi (nguyên văn “Committee for a Responsible Federal Budget said the Medicare proposals “represent reductions in costs not cuts to benefits.”)

Tình trạng overcharged đã có thật và kéo dài từ đời này qua đời nọ cả mấy chục năm nay, nhưng vì tiền Medicare và Medicaid là loại tiền ‘cha chung chết, không ai khóc’ nên chẳng ai để ý, hay có để ý nhưng cũng không đi đến đâu, chẳng làm được gì. Các bác sĩ và bệnh viện rất giàu đã đấm mõm các dân biểu, nghị sĩ quá kỹ khiến đám này không dám hó hé làm luật cắt quyền lợi của bệnh viện và bác sĩ.

Nếu nói về cắt giảm ngân sách thì phải nói ngay ông Obama trong 8 năm làm tổng thống, cũng như hai ông tiền nhiệm TT Clinton và TT Bush con, cũng đã liên tục đề nghị cắt giảm ngân sách Medicare và Medicaid, chứ không phải chỉ có TT Trump. Và trong đề nghị cắt giảm của TT Trump, cũng đã có khá nhiều đề nghị do chính TT Obama đã đưa ra trước đây.

Tất cả các tổng thống đều muốn cắt bớt những phí phạm, những gian lận, trong ngân sách, nhưng tuyệt đối không có một ông nào muốn đụng đến cái phần ‘benefits’ của mỗi người. Và thực tế là chưa một người nào từ ngày 2 bảo hiểm này và SSA/SSI ra đời, đã bị cắt một xu benefits nào.

Một phần trong đề nghị cắt giảm của TT Trump cũng thật sự không phải là cắt giảm, mà chỉ là chuyển tiền qua một trương mục khác của ngân sách thôi.

Một điều quan trọng cuối cùng không thể không nói tới: quỹ Medicare Part A được dự tính là sẽ kẹt tiền kể từ năm 2026, trên căn bản vì đóng góp thuế với 1,5% lương như đã bàn ở trên, quá ít. Trong tương lai rất gần, sẽ cần phải cải tổ, kiểu như tăng thuế hay giảm benefits. Để xem tổng thống nào có gan làm chuyện này.

Tóm lại, nói TT Trump cắt giảm Medicare, Medicaid và tiền già là xuyên tạc, nói láo, hay nói bừa mà chẳng hiểu gì rõ ràng.

ĐỌC THÊM:

Kiểm chứng sự thật trong vụ Trump cắt tiền – Factcheck:

https://www.factcheck.or...umps-budget-and-seniors/

Obama cắt ngân sách bảo hiểm y tế – KHN.org:

https://khn.org/morning-...akout/obama-health-cuts/

Vũ Linh, 5/6/2021

VN: 'Đốt lò' có tác dụng nhưng tân nội các cần
tăng cường minh bạch


4 tháng 6 2021

UserPostedImage

Tiền đô - hình minh họa

Công cuộc chống tham nhũng do nhà nước và đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành trong nhiều năm qua đã có những tín hiệu cho thấy phát huy tác dụng, với nạn tham nhũng trở nên 'dè dặt' hơn và những người có hành vi chống tham nhũng đã trở nên 'thận trọng' hơn.

Tuy vậy, mặc dù những tín hiệu trên, trước áp lực của công luận, ban lãnh đạo mới của đảng và nhà nước Việt Nam, trong đó có cả tân Chính phủ lẫn Quốc hội, được kỳ vọng tiếp tục và tiếp nối hiệu quả hơn công cuộc chống tham nhũng này.

Đó là ý kiến của Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Quản lý Trung ương (CIEM) và cựu thành viên Ban tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ Việt Nam trong những nhiệm kỳ trước đây, chia sẻ với BBC News Tiếng Việt hôm 04/6/2021 từ Hà Nội.

Mở đầu cuộc trao đổi này, ông Lê Đăng Doanh đưa ra quan sát về tình hình và chuyển động của nạn tham nhũng tại Việt Nam:

"Qua công cuộc chống tham nhũng, các chỉ dấu cho thấy một tình trạng là tham nhũng của Việt Nam bây giờ đã trở nên dè dặt hơn.

"Và những người có liên quan tham nhũng đã có những hành động một cách thận trọng hơn, nhưng vấn đề trầm trọng nhất hiện nay là nạn lạm dụng chức quyền lợi dụng đất đai và tài nguyên thiên nhiên để ăn chênh lệch giá.

"Bởi vì giá đất của nhà nước là chủ sở hữu mà định giá thì lại rất thấp, trong khi giá đất của thị trường cao hơn đến cả trăm lần và khoản chênh lệch đó là một khoản thu nhập rất là lớn.

"Chiến dịch chống tham nhũng hay đốt lò đã có một tác động nhất định, đó là chỉ số về cảm nhận tham nhũng đã được điều chỉnh.

"Tuy vậy, Việt Nam vẫn còn ở vào một nhóm nước mà được xếp thuộc loại thấp về chỉ số đó trong các nền kinh tế thế giới."

'Cần công khai, minh bạch cụ thể, chi tiết hơn'

UserPostedImage

Cựu Bộ trưởng Công, thương Việt Nam, ông Vũ Huy Hoàng là một trong những quan chức bị xử lý trong chiến dịch 'đốt lò' trong thời gian gần đây

Về kỳ vọng chống tham nhũng trong nhiệm kỳ mới, giai đoạn mới đối với ban lãnh đạo nhà nước và đảng Cộng sản cầm quyền tại Việt Nam, trong đó có tân Chính phủ và Quốc hội, ông Lê Đăng Doanh nhấn mạnh vấn đề tăng cường 'công khai, minh bạch' cụ thể, chi tiết hơn nữa.

"Theo tôi, điều quan trọng nhất trong việc chống tham nhũng ở Việt Nam là phải tiếp tục thực hiện công khai, minh bạch một cách rất cụ thể, rất chi tiết.

"Nếu như ông Vua Thụy Điển sang thăm Việt Nam, đi máy bay thương mại, rồi ăn trưa ở ngoài sân bay và đến Việt Nam bằng phi cơ thương mại và toàn bộ chi phí đó được đưa lên mạng công khai, thì mức công khai minh bạch ở Việt Nam, tuy là đã có một số tiến bộ nhất định, hiện nay vẫn chưa cụ thể, chưa làm rõ rằng chi cho ai, những việc gì, ai ký cái gì.

"Nếu như bây giờ thực hiện công khai, minh bạch một cách rất cụ thể, chi tiết và kịp thời, tôi nghĩ rằng tham nhũng ở Việt Nam có thể được ngăn chặn một cách có hiệu quả hơn.

"Vì vậy, tôi rất hy vọng là Quốc hội Việt Nam trong thời gian tới đây quan tâm tới những việc cụ thể hóa khung pháp luật để kiềm chế và đẩy lùi tham nhũng.

"Còn tân Chính phủ cần chuẩn bị những luật pháp đề ra để trình Quốc hội và tôi cũng hy vọng là tân Chính phủ sẽ thực hiện những biện pháp rất cụ thể và hiệu quả để ngăn ngừa tham nhũng, bằng cách công khai, minh bạch một cách rất cụ thể, thiết thực."

'Viễn kiến và kỳ vọng cho chặng đường lâu dài'

Thời gian qua, cuộc chiến chống tham nhũng ở Việt Nam mà hay được biết đến với tên gọi công cuộc 'đốt lò, củi lửa' chống tham nhũng, được cho là có dấu ấn của nhà lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Nêu viễn kiến và kỳ vọng thêm cho chặng đường dài lâu có tính tiếp nối, ông Lê Đăng Doanh nói với BBC:

"Tôi tin chắc chắn rằng áp lực của công luận và nguyện vọng của người dân là rất lớn.

"Áp lực và nguyện vọng đó là gì? Đó là tiếp tục công cuộc chống tham nhũng.

"Còn có thể việc chống tham nhũng đó sẽ ở dưới sự chỉ đạo của một người khác.

"Và công cuộc đó khi tiếp nối sẽ được tiến hành với những phương pháp khác, bên cạnh những bước đi khác.

"Nhưng theo tôi, dù được chỉ đạo bởi ai, tiến hành bằng phương pháp nào và có những bước đi ra sao, thì công cuộc chống tham nhũng đó phải được tiếp tục."

* Tiến sỹ Lê Đăng Doanh có nhiều bài viết về kinh tế Việt Nam, trong đó có nhiều bài phân tích, đề cập vấn đề tham nhũng. Từ năm 2007 đến 2009, ông là thành viên sáng lập của Viện nghiên cứu Phát triển IDS, một Think Tank độc lập về phản biện chính sách đã tự giải thể.

Ông từng được Liên Hiệp Quốc bổ nhiệm vào cương vị thành viên Ủy ban chính sách phát triển của LHQ trong nhiệm kỳ từ đầu năm 2016 đến cuối năm 2018.

Mỹ : Chính quyền Biden trừng phạt thêm 28 tập đoàn Trung Quốc


Đăng ngày: 04/06/2021 - 12:38

UserPostedImage

Thanh Hà 3 phút

Tiếp tục chính sách trừng phạt Trung Quốc của người tiền nhiệm, hôm 03/06/2021, tổng thống Mỹ Joe Biden phê chuẩn một sắc lệnh bổ sung 28 công ty Trung Quốc vào danh sách những doanh nghiệp bị coi là có quan hệ với quân đội Trung Quốc. Bắc Kinh giận dữ thông báo sẽ đáp trả bằng những « biện pháp cần thiết ».

Tháng 11/2020, tổng thống Donald Trump đã ban hành sắc lệnh đưa 31 tập đoàn Trung Quốc vào danh sách đen, với lý do các công ty này có liên hệ hoặc hỗ trợ các hoạt động của quân đội Trung Quốc.

Như vậy cho tới nay, với 28 công ty bổ sung, tổng cộng có tới 59 công ty của Trung Quốc bị cấm nhận vốn đầu tư từ các doanh nghiệp Hoa Kỳ, trong số này có những doanh nghiệp tầm cỡ của Trung Quốc như tập đoàn dầu khí CNOOC, hãng đường sắt China Railway, và nhiều tập đoàn viễn thông như Hoa Vi, China Mobile…

Trong danh sách bổ sung, có nhiều công ty sản xuất hoặc triển khai công nghệ theo dõi các công dân. Theo Hoa Kỳ, những công nghệ này có thể được Bắc Kinh sử dụng nhằm đàn áp cộng đồng thiểu số Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương và các nhà bất đồng chính kiến trên lãnh thổ Trung Quốc và ở khắp mọi nơi.

Thông cáo của Nhà Trắng giải thích : quyết định của chính quyền Biden nhằm « tăng cường và củng cố » sắc lệnh từng được Donald Trump ban hành nhằm « cấm vốn của Mỹ đầu tư vào các tập đoàn công nghiệp – quân sự » của Trung Quốc, qua đó bảo đảm rằng « đầu tư của Mỹ không nhằm tài trợ cho các hoạt động có thể đe dọa an ninh và những giá trị của Hoa Kỳ cũng như của các nước đồng minh ».

Từ thủ đô Washington thông tín viên Anne Corpet giải thích thêm :

« Như vậy là từ nay trở đi có đến 59 công ty Trung Quốc bị cấm nhận vốn đầu tư của Hoa Kỳ do có liên hệ với quân đội Trung Quốc hoặc chuyên hoạt động trong lĩnh vực cung cấp công nghệ theo dõi. Biện pháp này nhằm trừng phạt các tập đoàn đã tham gia vào chiến dịch đàn áp các thiểu số tôn giáo hay các nhà đối lập chính trị, như người Hồi Giáo Duy Ngô Nghĩ ở Tân Cương hay các nhà dân chủ Hồng Kông.

Chính quyền Mỹ đánh giá việc Trung Quốc sử dụng những công nghệ để theo dõi này là những mối đe dọa khủng khiếp nhắm vào các quyền của con người. Danh sách các doanh nghiệp bị trừng phạt bao gồm nhiều tập đoàn lớn trong ngành xây dựng và viễn thông, như Hoa Vi. Các biện pháp trừng phạt mới này đánh dấu một bước leo thang trong cuộc đọ sức tay đôi giữa Washington với Bắc Kinh, mở màn dưới thời tổng thống Donald Trump. Cho đến nay, Joe Biden ít khi nào đơn phương đưa ra những hành động cụ thể nhắm vào Trung Quốc ».

Edited by user Saturday, June 5, 2021 1:10:24 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Nam  
#1296 Posted : Sunday, June 6, 2021 1:02:51 AM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 6,082

Thanks: 778 times
Was thanked: 318 time(s) in 253 post(s)

Trung Cộng Là Mối Nguy Hàng Đầu Của Hoa Kỳ


June 3, 2021
Kim Nguyễn:

Trước ngày lễ Chiến Sĩ Trận Vong vừa qua, TT Joe Biden đã tới thăm căn cứ Langley Eustis tại Hampton, Virginia, trong phần phát biểu, Joe Biden nói rằng “Cuộc chiến giữa nền dân chủ và chính thể chuyên chế càng ngày càng phức tạp và khó khăn. Tôi đã tiếp xúc với Tập Cận Bình nhiều hơn bất cứ một nhà lãnh đạo nào trên thế giới, tôi đã có những cuộc hội họp trong 24 giờ chỉ riêng tôi với Tập Cận Bình và một người thông ngôn, và đã có những cuộc hành trình dài hơn 17 ngàn dặm với ông ta tại Trung Quốc và tại đây. Tập Cận Bình tin rằng Trung Quốc sẽ chiếm trọn Hoa Kỳ trước năm 2030 hoặc 2035…” (theo New York Post)

ĐCSTC là mối đe dọa cho kinh tế và an ninh quốc gia Hoa Kỳ

UserPostedImage

Trong cuộc điều trần vào tháng Tư vừa rồi tại Ủy Ban Tình Báo Thượng Viện, Giám Đốc Tình Báo Quốc Gia Avril Haines đã nói “Trung Cộng là một đối thủ đáng gờm của Hoa Kỳ trên mọi phương diện.” Năm 2020, Giám Đốc FBI Chris Wray đã đưa ra lời cảnh báo tương tự: “Đảng cộng sản Tàu Cộng (ĐCSTC) là mối đe dọa lớn nhất và ảnh hưởng lâu dài nhất. Sản phẩm trí tuệ và nền kinh tế của chúng ta bị gián điệp Trung Cộng xâm nhập, kinh tế và an ninh quốc gia của chúng ta bị đe dọa. Năm 2017, gián điệp Trung Cộng đã đột nhập vào mạng lưới điều hành của công ty tín dụng Equifax, đánh cắp dữ liệu cá nhân của 150 triệu người Hoa Kỳ, tức là một nửa dân số. Gián điệp Trung Cộng không những đã đánh cắp tin tức cá nhân mà còn đánh cắp những tin tức về bí mật thương mại và an ninh quốc gia nữa.” Chris Wray cho hay cứ mỗi 10 tiếng thì FBI lại mở thêm một vụ điều tra về tội gian lận, ăn cắp của gián điệp Trung Cộng.

Mùa hè năm vừa qua, chính quyền TT Trump đã ra lệnh đóng cửa Tòa Tổng Lãnh Sự Trung Cộng tại Houston, TX. Đây là trung tâm gián điệp lớn nhất, quy mô nhất của ĐCSTC, đã đánh cắp nhiều sản phẩm trí tuệ, an ninh quốc gia của Hoa Kỳ. Sau khi Tòa Tổng Lãnh Sự này bị đóng cửa, đã có 10 ngàn sinh viên Trung Cộng bị trục xuất. Mỗi năm có khoảng hơn 300 ngàn sinh viên Trung Cộng theo học tại các trường đại học nổi tiếng tại Hoa Kỳ. Một số những sinh viên này là gián điệp trá hình, là quân nhân của ĐCSTC được gởi đi du học nhằm mục đích đánh cắp tài liệu an ninh quốc phòng, kỹ thuật công nghệ, sản phẩm trí tuệ, . . . Cuối năm 2020, TT Trump đã ra lệnh cắt giảm số sinh viên du học của Trung Cộng xuống 100 ngàn mỗi năm, nhưng Joe Biden đã đảo ngược lệnh này, và ông ta đã cho phép 300 ngàn du học sinh tới từ Trung Cộng được nhập cảnh Hoa Kỳ.

Khi được gia nhập vào tổ chức Thương Mại Quốc Tế (WTO), ĐCSTQ đã đổ ra hàng trăm tỷ dollars hỗ trợ các công ty quốc doanh, bất chấp những quy luật của tổ chức WTO là tôn trọng cạnh tranh công bằng, chính phủ không yểm trợ tài chánh cho các doanh nghiệp, không đánh cắp kỹ thuật công nghệ, không sản xuất hàng giả… Sau hơn hai thập niên, nhờ tổ chức WTO, hàng hóa của Trung Cộng được lan tràn khắp nơi, giúp cho nền kinh tế yếu kém của quốc gia này trở nên một nền kinh tế phát triển đứng thứ hai trên thế giới. Năm 2015, Tập Cận Bình đã đưa ra sáng kiến “Made in China 2025.” Đây là một tham vọng muốn nắm trọn thị trường quốc tế. Nhằm đẩy mạnh nỗ lực này, ĐCSTQ đã khuyến khích các doanh nghiệp xâm nhập vào các công ty ngoại quốc qua việc đầu tư.

Bí kíp di chuyển thuận tiện, giá rẻ tại Mỹ

Nhiều công ty quốc doanh của Trung Cộng đã mua lại công ty của Hoa Kỳ, trị giá hơn 45 tỷ dollars trong năm 2016. Chính quyền Obama-Biden đã tạo điều kiện thuận lợi cho ĐCSTC có cơ hội sở hữu công ty của Hoa Kỳ, ngay cả một số công ty có ảnh hưởng tới an ninh quốc gia cũng được Obama-Biden chấp thuận mặc cho sự phản đối của một số nhà lập pháp Cộng Hòa. TT Trump đã nhìn ra vấn đề Trung Cộng là mối nguy hàng đầu của Hoa Kỳ và thế giới nên Tổng Thống đã có chính sách cứng rắn, đã đánh thuế tới 250 tỷ trên hàng hóa nhập cảng từ Trung Cộng và cấm một số công ty có liên hệ với quân đội Trung Cộng không được phép hoạt động tại Hoa Kỳ, cũng như không được niêm yết trên sàn chứng khoán.

Tường trình của Giám Đốc Tình Báo Quốc Gia Avril Haines còn cho hay “Bắc Kinh không quan tâm tới những thỏa thuận về giới hạn vũ khí hạt nhân. Họ đang phát triển mạnh hàng loạt vũ khí, và kho vũ khí hạt nhân của Trung Cộng sẽ được tăng lên gấp đôi trong thời gian tới.” Chắc chắn Trung Cộng đang chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh.

Trung Cộng chủ trương xử dụng vũ khí sinh học

Tới nay đã có thêm nhiều bằng chứng bổ túc cho nghi vấn ĐCSTC đã gây ra đại dịch. Một số báo chí cũng như Washington Times loan tin “Có một nhà ly khai khỏi quân đội của Trung Cộng đã cung cấp tin tức cho cơ quan tình báo của Hoa Kỳ về những tin tức liên quan tới chương trình vũ khí sinh học của ĐCSTQ, quốc gia Á Châu này đang phát triển vũ khí sinh học, và đây là mối đe dọa cho an ninh thế giới.” Nhiều báo chí đã đưa tin: trong tháng 12 năm 2019, vợ của một nhà nghiên cứu tại PTN Wuhan bị chết vì Covid 19. Và tin của giới điều tra, vào cuối tháng 11 năm 2019, có ba nhà nghiên cứu của PTN Wuhan đã phải đi bệnh viện vì nhiễm Covid 19.

UserPostedImage

Nhóm nghiên cứu của Hoa Kỳ do Tiến Sĩ David Asher hướng dẫn đã đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy Trung Cộng chủ trương phát triển vũ khí sinh học từ nhiều năm nay. Ngày 17/3/2021, Viện Nghiên Cứu Hudson đã phổ biến tường trình của Tiến Sĩ David Asher và Tiến Sĩ Miles Yu, một vài điểm chính được ghi nhận như sau:

“Tập Cận Bình đã từng tuyên bố “chiến tranh sinh học là tương lai của chiến tranh, theo một tiêu chuẩn nào đó còn vượt xa hơn cả chiến tranh hạt nhân.” Năm 2016, tạp chí khoa học Nature đã phổ biến tài liệu của Tiến sĩ Shi còn được gọi là “Bat Lady” nghiên cứu về phiên bản cực mạnh của SARS-coronavirus-2. Trong 15 năm, bà khoa học gia này đã nghiên cứu loại coronavirus sinh ra từ dơi và những kỹ thuật tăng khả năng gây chết của nó. Thực tế có thể hiểu rằng Tiến Sĩ Shi cho biết là lần đầu tiên trong lịch sử có một loại coronavirus do dơi sinh ra trực tiếp xâm nhập vào con người, và lây nhiễm từ người qua người. Đây là một loại sinh học truyền bệnh có thể được xử dụng làm vũ khí sinh học. Cũng trong năm 2016 này, trên đài truyền hình Quốc Gia Trung Quốc có một bài bình luận đáng chú ý là: “Trung Cộng đã tham gia vào một lãnh vực chiến tranh sinh học, bao gồm cả việc xử dụng những loại virus.” Như vậy họ đã công khai thông báo đến người dân rằng vũ khí sinh học là ưu tiên mới trong chính sách an ninh quốc gia của Tập Cận Bình.” Tài liệu của Viện Nghiên Cứu Hudson: www.hudson.org/research/...d-lessons-for-the-future

Cựu TT Trump, cựu Ngoại Trưởng Mike Pompeo và Thượng Nghị Sĩ Tom Cotton luôn luôn khẳng định rằng đại dịch cúm phát xuất từ Wuhan. Một nghiên cứu mới của Giáo sư Angus Dalgleish người Anh và khoa học gia Tiến Sĩ Birger Sorensen người Na Uy cho thấy “Các nhà khoa học Trung Quốc đã tạo ra Covid 19 trong một phòng thí nghiệm và sau đó đã thiết kế ngược lại cho nó có tiến hóa tự nhiên như từ loài dơi.” (theo Daily Mail.) Tình báo Anh cho biết sẽ hợp tác với Hoa Kỳ trong việc điều tra nguồn gốc của đại dịch cúm Wuhan. Không còn nghi ngờ gì nữa, quả thực đại dịch là do Trung Cộng gây ra.

Trong nhiều năm nay, lực lượng quân sự của Trung Cộng đã gia tăng đáng kể. Quân đội Trung Cộng có lực lượng hải quân hùng mạnh với hơn 350 tầu chiến, có vũ khí hạt nhân, có phi cơ chiến đấu, hàng không mẫu hạm, tầu ngầm,… Tuy nhiên ông Antoine Bondaz, một chuyên gia tại Pháp vẫn cho rằng “Trung Cộng chưa có thể đương đầu với Hoa Kỳ trên mặt trận quân sự vì có sự cách biệt quá rõ ràng.” (theo RFI)

Trung Cộng đã nhận ra rằng lực lượng quân sự của họ còn thua xa Hoa Kỳ nên đã xử dụng vũ khí sinh học gây tổn thất cho Hoa Kỳ trước khi tiến hành một cuộc chiến tranh vũ trang toàn diện.

Kim Nguyễn, 3/6/2021

Edited by user Sunday, June 6, 2021 1:05:43 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Nam  
#1297 Posted : Sunday, June 6, 2021 1:38:38 AM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 6,082

Thanks: 778 times
Was thanked: 318 time(s) in 253 post(s)

Anthony Fauci: Những cuộc tấn công cá nhân bóp méo và bịa đặt


June 5, 2021

UserPostedImage

Tiến sĩ Anthony Fauci vào tối thứ Sáu bỏ ngoài tai, phớt lờ những cuộc tấn công “không phù hợp” và “bóp méo” chống lại ông.

Khi được hỏi liệu ông có lo lắng về làn sóng chỉ trích ứng phó COVID 19 của quốc gia và cuộc điều tra nguồn gốc đại dịch, cố vấn y khoa hàng đầu của Tổng thống Joe Biden cho biết, ông quan ngại nhiều hơn về cuộc tấn công vào khoa học.

“Như vậy đó. Tôi là người của công chúng. Tôi sẽ không nắm lấy mũi tên và cây cung. Nhưng chúng bịa đặt,” Fauci chia sẻ trên chương trình Rachel Maddow của MSNBC. “Nhưng chúng tôi sẽ chỉ phải làm công việc của mình. Công việc của tôi là tạo ra vaccine và sử dụng viện quốc gia và những nhà khoa học tài năng chúng tôi có ở đó, và chúng tôi cấp ngân quỹ cho nhiều trường đại học khác nhau để tạo ra thuốc chủng ngừa an toàn cao, và hiệu quả cao, và chúng tôi đã thành công.”

Viện trưởng Quốc gia về Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm hàng đầu qua nhiều đời tổng thống, Fauci thường xuyên là mục tiêu của giới bảo thủ trong thời gian đại dịch, nhưng các cuộc tấn công nhắm vào ông nóng trở lại trong tuần này, sau khi một lượng email khổng lồ của ông được công bố theo đạo luật Tự do Thông tin do một số cơ quan truyền thông yêu cầu. Vài giờ sau khi email của ông được tung lên mạng trực tuyến, #FauciLeaks trở thành xu hướng thịnh hành trên Twitter, tố cáo ông khai man hữu thệ về nguồn gốc COVID 19.

Vào tối thứ Sáu, Fauci nhắc lại, ông nghĩ điều quan trọng là điều tra nguồn gốc dịch bệnh sau khi chính trị gia lưỡng đảng, khoa học gia, và truyền thông thổi hồn vào giả thuyết virus lây lan sau một tai nạn phòng thí nghiệm ở Trung Quốc.

“Nhưng nó lại theo hướng dữ dội, theo cách bị bóp méo rất nhiều, tôi tin, bằng cách tấn công tôi,” Fauci nói. “Tôi nghĩ câu hỏi đặt ra hoàn toàn chính đáng. Người ta muốn biết chuyện này xảy ra như thế nào, vì vậy chúng ta phải bảo đảm nó sẽ không xảy ra lần nữa. Nhưng những gì xảy ra, giữa tất cả những điều đó, tôi trả thành đối tượng bị tấn công, tôi tin, đó là những cuộc tấn công hoàn toàn không phù hợp, bóp méo, gây hiểu lầm, và sai sự thật.”

Một trong những tiếng nói chỉ trích Fauci mạnh mẽ nhất, Thượng nghị sĩ Rand Paul (Cộng hoà – Kentucky) đăng một mẩu quảng cáo trên mạng xã hội, đòi “sa thải Fauci,” trong khi cựu Tổng thống Donald Trump vào thứ 5 gởi ra tuyên bố bảo rằng, “Thật may mắn là tôi đã không làm những gì Tiến sĩ Fauci muốn tôi làm về kiểm soát biên giới.”

Ông Trump trong bài phát biểu ở North Carolina vào thứ 7, chắc chắn sẽ lôi Fauci ra chỉ trích tiếp.

Hương Giang (Theo Politico)
Hoàng Nam  
#1298 Posted : Sunday, June 6, 2021 2:25:49 AM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 6,082

Thanks: 778 times
Was thanked: 318 time(s) in 253 post(s)

Di Sản VNCH: Khi Nền Văn Minh đã Thắng ‘Chế độ Man Rợ’


Mạnh Kim

June 5, 2021 | by Ban Tu Thư |  0

UserPostedImage

Những ai sống ở miền Nam giai đoạn sau 30-4-1975 không thể nào quên những gì từng trải qua. Đó là những chuỗi ngày không chỉ khốn khổ về vật chất. Biết bao người không thể cầm được nước mắt khi chứng kiến cảnh hàng đống sách vở và băng đĩa nhạc bị đốt. Một cuộc thảm sát văn hóa đã xảy ra. Không chỉ sản phẩm văn hóa, con người của văn hóa cũng bị tận diệt. Nhà văn bị bỏ tù. Nhà báo bị “học tập cải tạo”. Nhà thơ đi đạp xích lô… Bất luận bị “tra tấn” và “truy diệt” tàn bạo như vậy, văn hóa VNCH vẫn không chết!

Trong Hồi Ký dang dở, cựu đại tá VNCH Dương Hiếu Nghĩa (từ trần ngày 14-4-2019) kể:

“Ngày mồng 3 tháng 5/1975. Không có chuyện gì làm, tôi lang thang tản bộ quanh khu chợ Sài Gòn, và đi lần về Thư Viện Quốc Gia, trong thâm tâm chỉ muốn gặp lại một người bạn của tôi là anh Hữu, quản thủ Thư viện Quốc Gia (ông Phan Văn Hữu – chú thích của MK). Có đến nơi mới thấy được cảnh mà cộng sản Bắc Việt gọi là bài trừ “văn hóa đồi trụy”: Sau ngày 30/4/75, một ủy ban gọi là “Ủy ban bài trừ văn hóa đồi trụy” ra đời. Thành phần gồm một cán bộ Đảng CSVN và sinh viên học sinh chít khăn đỏ trên tay (mà người dân Sài Gòn gọi là mấy con “cọp 30”)…

“Văn hóa đồi trụy” được định nghĩa là tất cả những ấn phẩm thuộc mọi lãnh vực chánh trị, kinh tế, lịch sử (nhất là lịch sử), giáo dục, khoa học kỹ thuật, văn hóa, văn nghệ, phim, ảnh. v.v… đang được lưu hành và sử dụng tại Việt Nam Cộng Hòa từ ngày 30/4/1975 trở về trước, được in, chép hay thu vào băng nhựa, bằng tiếng Việt Nam hay bất cứ loại sinh ngữ ngoại quốc nào (trừ chữ Tàu và chữ Nga). Mục tiêu mà các “ông cọp 30” nhắm vào trước tiên là Thư viện Quốc gia (National Library) ở đường Gia Long. Tất cả sách bìa cứng bìa mềm, gáy tím gáy vàng, dày mỏng gì cũng đều được mang ra đường xé nát và đốt hết. Tội nghiệp cho mấy bộ tự điển và encyclopédia chữ Anh chữ Pháp (trên 100 cuốn), và rất nhiều bộ sách quý thuộc các ngành công pháp quốc tế, khoa học kỹ thuật, hàng không và cả khoa học không gian v.v… mà anh Hữu đã tốn công sưu tầm trên 10 năm dài để làm giàu cho thư viện của đất nước, trong phút chốc bị “cọp 30” xơi tái hết! Chúng tôi đến gần lượm từng tờ của bộ encyclopédia lên xem mà ứa nước mắt nhưng không dám hỏi thêm vì bị ngay một “cọp 30” khoảng 16 tuổi tới đuổi: “Đi đi, tiếc gì mà coi, xé bỏ hết, đốt bỏ hết, nó là tiếng nước ngoài, của thực dân, của đế quốc đồi trụy, ru ngủ đầu độc dân tộc. Ta độc lập rồi thì ta cần gì ba cái thứ nầy nữa!”…

“Về văn nghệ thì tất cả các bản nhạc in hoặc thu vào băng nhựa, nếu không phải loại nhạc lai căn (lai nhạc Tàu) từ nhóm văn công miền Bắc mang vào, đều được liệt vào loại “nhạc vàng của đế quốc Mỹ và tay sai”, cấm lưu hành, xé đốt, hủy bỏ, ai lưu giữ sẽ có tội. Các kịch bản hay các vở tuồng cải lương, hát bộ v.v… cũng phải được duyệt xếp loại lại. Nói tóm lại Bắc Việt chủ trương hủy bỏ tất cả những gì mà họ cho là tàng tích của “Mỹ Ngụy” từ 75 trở về trước, để đem thay thế vào đó những gì mà miền Bắc đang có và đang áp dụng… Có nghĩa là thay vì đẩy miền Bắc tiến lên để theo kịp đà phát triển của miền Nam, họ làm mọi cách nhằm kéo lùi miền Nam thụt lùi lại vài chục năm, sao cho trình độ văn minh tiến bộ của hai miền Nam Bắc phải ở cùng nằm ở một trình độ kém phát triển như nhau”…

Câu chuyện của ông Dương Hiếu Nghĩa là một chi tiết rất nhỏ trên bức tranh kinh khủng mà miền Nam chứng kiến giai đoạn sau 30-4-1975. Hàng ngàn câu chuyện khác đã dệt nên tấm thảm kịch mà ngày nay vẫn gây nhức nhối mỗi khi được nhắc lại. Nhà văn Dương Thu Hương từng thốt lên trong uất nghẹn: “Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ… nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải” (trích từ Ký 2, Đinh Quang Anh Thái, trang 178).

Tuy nhiên, văn hóa VNCH đã không chết. Di sản văn hóa của một nền văn minh đã không hoàn toàn thua “chế độ man rợ”. Sự kéo lùi lại “sao cho trình độ văn minh tiến bộ của hai miền Nam Bắc phải ở cùng nằm ở một trình độ kém phát triển như nhau” đã không thành công! Sau 44 năm, người ta có thể thấy rõ điều này hơn bao giờ hết. Chưa bao giờ mà văn hóa VNCH – sản phẩm của nền giáo dục khai phóng, của tinh thần sáng tạo tự do, của những tinh hoa kết tụ từ ba miền Bắc-Trung-Nam – lại trỗi dậy mạnh mẽ đến như vậy. Những nhà sách lớn giờ đây đầy tác phẩm trước 1975 được in lại (dù không ít quyển bị cắt xén kiểm duyệt). Những quyển sách về miền Nam được ghi chép lại một cách tỉ mỉ và công phu cũng xuất hiện liên tục. Nhạc “ngụy” đã chẳng còn được hát và nghe lén lút. Nó được hát trên truyền hình và phát thanh, trong các cuộc thi “bolero đi cùng năm tháng”. Phải! Văn hóa VNCH chưa bao giờ ngưng “đi cùng năm tháng” với dân tộc. Nó cho thấy dân tộc luôn lớn hơn cái gọi là “Đảng”. Nó cho thấy kiểm duyệt chẳng có chút giá trị nào đối với tâm hồn và cảm thụ của người dân. Nó, cuối cùng, cho thấy một điều lớn nhất mà muốn hay không cũng phải thừa nhận: nền văn hóa nào có tính vượt trội hơn thì nó thắng!
Internet và mạng xã hội đã hỗ trợ rất nhiều trong làn sóng hồi sinh văn hóa VNCH. Nhiều trang web sách cũ đã mọc ra. Các “fan page” sách VNCH, nhạc vàng, Sài Gòn xưa… cũng xuất hiện nhan nhản. Một khảo sát nhỏ cho thấy cụ thể hơn. Trong khi trang “Nhạc Đỏ chọn lọc ”(facebook.com/nhacdochonloc/) có 72 người like và 81 follow thì trang “Nhạc Vàng” (facebook.com/nhacvang/) có 188.737 like và 209.515 follow (khảo sát được truy cập lúc 8 am giờ VN, ngày 26-4-2019). Việt Nam sau “ngày thống nhất 1975” đã không thể giống miền Bắc sau 1945. Người ta đã hoàn toàn thất bại trong việc “chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người”, ít nhất về văn hóa.

Một Việt Nam cộng sản, dù rập khuôn mô hình chính trị Trung Quốc, đã không thể giống Trung Quốc. Chế độ Cộng Sản Việt Nam không thể biến người dân Việt Nam thành một “đám ngu dân” như cách cộng sản Trung Quốc muốn. Khi thống nhất đất nước, Trung Quốc chẳng có một “miền Nam dân chủ” nào cả. Nỗ lực bắt chước Trung Quốc, đối với cộng sản Việt Nam, là bất khả thi. Nền dân chủ non trẻ mà miền Nam thụ hưởng, sau “ngày thống nhất”, đã trở thành một thứ “kháng thể” giúp chống lại, bằng cách này cách kia, những áp đặt phi dân chủ và phi tự do, đặc biệt trong văn hóa. Yếu tố kháng thể này đã âm thầm lan rộng. Nó tạo ra những ảnh hưởng nhất định. Nó ngấm ngầm nhưng nó mạnh mẽ. Nó hồi sinh và nó phát triển tự nhiên. Không ai có thể chặn nổi luồng gió trong lành này. Nó tạo ảnh hưởng ngay cả trong hệ thống của chế độ toàn trị. Đã có lúc người ta “kiếm chuyện” bằng cách “đặt vấn đề” rằng “chiến trường anh bước đi là chiến trường nào” (trong ca khúc “Con Dường Xưa Sm Di” của nhạc sĩ Châu Kỳ) nhưng rồi cũng bất thành. Khi tuyên bố “cấp phép” cho ca khúc “Ly Rượu Mừng”, người ta chắc hẳn đã uống một ly cồn đắng nghét bởi phải đầu hàng trước sự tồn tại hiển nhiên không chỉ của một ca khúc mà cả một nền văn hóa.

Ánh sáng văn minh luôn lấn át bóng tối mọi rợ. Và bản năng tự nhiên của con người là luôn tìm đến ánh sáng.

Edited by user Sunday, June 6, 2021 2:26:44 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#1299 Posted : Sunday, June 6, 2021 9:35:59 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,663

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

Cho Những Người Vừa Nằm Xuống Chiều Qua


Tuấn Khanh

April 27, 2015 | by TVVN |

Tháng 4/1975 là cột mốc thay đổi rất nhiều thứ của người miền Nam Việt Nam. Đối với giới âm nhạc, đó cũng là một giai đoạn đầy biến động nhưng ít được ghi lại,. Những biến động đó bao gồm ly tán, tuyệt vọng, cái chết và sự nhục nhằn của kiếp người từ một chế độ này, bước sang một chế độ khác.

Rất nhiều nhạc sĩ, ca sĩ của miền Nam đã tìm đường di tản, vượt biên… với hy vọng rằng rồi mình sẽ lại được sống với nghiệp dĩ của mình ở đâu đó. Thật buồn, không phải ai ra đi cũng đã toại nguyện. Nhưng với nhiều người ở lại, cuộc đời đầy những bất ngờ sau đó, có thể còn buồn bã hơn nhiều.

Một trong những nhạc sĩ ở lại trong nước sau 1975 là nhạc sĩ Hoài Linh. Ông là tác giả của vô số những bài bolero có lời lẽ đẹp và sâu sắc như Sầu Tím Thiệp Hồng, Căn Nhà Màu Tím, Xin Tròn Tuổi Loạn… Vốn là trung uý ở Nha Cảnh Sát Quốc Gia, nhạc sĩ Hoài Linh cũng mang nhiều nỗi lo về chuyện chế độ mới sẽ thanh trừng mình. Ngay trong những ngày di tản, ông đã dự định cùng gia đình đưa nhau xuống tàu, thế nhưng quá tiếc nuối căn nhà kỷ niệm ở đường Trương Minh Giảng, nơi ông dành dụm qua nhiều năm mới có được, nên rồi ở lại.

Ngày thường, nhạc sĩ Hoài Linh sống rất khiêm tốn và nhã nhặn với mọi người, ít phô trương. Chính vì vậy mà trong hẻm nhà, nên ai cũng thương mến. Khi những nhóm công an khu vực đầu tiên vào Sài Gòn đi điều tra nhân thân của ông Hoài Linh, hàng xóm luôn nói đỡ cho ông, không ai khai chuyện ông là trung úy cảnh sát. Chính vì vậy mà ông Hoài Linh tránh được chuyện đi tù (hay nói theo kiểu nhà nước Việt Nam là đi học tập cải tạo).

Vốn là một nhạc sĩ thành danh, được trọng vọng, cũng như đang sung sức làm việc, bất ngờ bị đảo lộn mọi thứ, nhạc sĩ Hoài Linh mang một tâm trạng bất đắc chí cho đến tận lúc qua đời. Sau năm 1975, nhạc sĩ Hoài Linh dành trọn tâm huyết của mình cho việc viết thánh nhạc, phục vụ cho nhà thờ. Gia đình cho biết ông cũng từ bỏ y định vượt biên khi thấy số người tuyệt mạng trên biển quá nhiều.

Một lần đón các em nhỏ đến nhà tập hát thánh ca cho nhà thờ, nhạc sĩ Hoài Linh bị công an khu vực đến yêu cầu chấm dứt “tụ tập đông người”, ông buồn bực vô cùng nhưng cũng phải đành làm theo. Đầu năm 1995, ông trở bệnh nặng. Thật là ngẫu nhiên nhưng cũng đầy ý nghĩa, ngày 30-4-1995, nhạc sĩ Hoài Linh lìa đời, để lại một sự thương tiếc cho nhiều người miền Nam. Dĩ nhiên, báo chí của chế độ mới không hề đưa một dòng tin nào.

Do không đi học tập, nên nhạc sĩ Hoài Linh bị nhiều người cho rằng có thể ông là Việt Cộng nằm vùng, thế nhưng khi còn sống, nhạc sĩ Hoài Linh không bao giờ buồn đính chính. Một trường hợp khác tương tự là nhạc sĩ Anh Việt Thu. Dù nhạc sĩ Anh Việt Thu mất năm 1973, nhưng ông vẫn bị mang tiếng là Việt Cộng nằm vùng do có một người em đi tập kết theo Cộng Sản ở miền Bắc, cũng như có bạn là nhà thơ Thiên Hà, là Việt Cộng. Nhưng giờ thì điều đó có thể lý giải được: sau năm 1975, rất nhiều bài hát của nhạc sĩ Anh Việt Thu cũng đã không được phép lưu hành.

Không ai có thể hình dung được đời mình và người Cộng Sản từ miền Bắc đã gây ảnh hưởng như thế nào. Chẳng hạn như nhạc sĩ Lê Văn Thiện không bao giờ hình dung được người vợ không hôn thú của mình (bà Ngọc) là thành phần khủng bố ở nội đô. Bà Ngọc đem mìn hẹn giờ đến cài ở nhà hàng Liberty, đường Tự Do, để giết một vài lính Mỹ. Thế rồi bị trục trặc, chính bà cũng bị mìn giết chết tại chỗ, còn chỉ huy của bà là ông Sáu Hỏi (sau 1975 về làm quan chức ngành văn hoá ở Quận 5) thì cao chạy xa bay.

Tâm trạng trầm uất và chỉ cầu mong sống để làm việc, lo cho gia đình là khuynh hướng chung của rất nhiều nhạc sĩ miền Nam đã sống trong chế độ VNCH. Nhạc sĩ Thanh Sơn, Mặc Thế Nhân, Hoàng Trang… tìm cách quy ẩn. Còn những nhạc sĩ như Lê Hựu Hà, Y Vân… thì được tuyển dụng làm cho các đoàn ca nhạc mới. Có miễn cưỡng nhưng chỉ còn đó là sinh lộ cuối cùng nên các ông đành nương theo mà sống. Lúc sinh thời, nhạc sĩ Y Vân cũng rất buồn bã sau ngày 30-4, nhất là khi một người bạn thân đi vượt biển mất tích. Ông tâm sự với vợ con rằng giờ chỉ còn biết làm để gia đình không lâm vào cảnh đói khổ mà thôi. Và có lẽ cũng do làm việc lao lực ngày đêm, năm 1992 nhạc sĩ Y Vân qua đời. Nhạc sĩ Lê Hựu Hà cũng không khác gì. Những năm ông đi trình diễn trên sân khấu, rất nhiều khán giả gửi giấy lên yêu cầu các bài hát thời ban nhạc Phượng Hoàng của ông. Thế nhưng Lê Hựu Hà đành từ chối khéo, sau đó quay vào trong với ánh mắt buồn thăm thẳm: Nhiều bài hát của ông cho đến năm 2003, tức năm ông qua đời, vẫn chưa được những người Cộng Sản cho phép lưu hành trở lại.

Nhiều nhạc sĩ không thích nghi được đời sống của chế độ mới nên cũng qua đời trong nghèo khổ như nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang, Trúc Phương, Thanh Bình, Châu Kỳ… Nhiều năm bị bạc đãi ở các phòng văn hoá kiểm duyệt theo chính sách thanh lọc văn hoá của chế độ cũ, hầu hết những nhạc sĩ của miền Nam Việt Nam còn bị báo chí nhà nước ghẻ lạnh vì tuân theo các chính sách tuyên truyền của Ban Tuyên Giáo. Trong khi đó, khác với giới biểu diễn của chế độ mới thì được tạo điều kiện để ca tụng, quảng bá lắm lúc trơ trẽn.

Khá nhiều nhạc sĩ trước 30-4 là sĩ quan Phòng Tâm Lý Chiến, là quân nhân VNCH, nên chuyện đi tù cải tạo là điều dễ hiểu. Những ngày tháng trong trại tù cải tạo Hà Tây, nhạc sĩ Vũ Thành An cũng vì đói, vì sợ đòn nên đã khuất phục, trở thành tai mắt của cán bộ quản giáo và bị anh em trong trại căm ghét. Mãi sau do quá ăn năn, ông đã xin được rửa tội đi tu theo đạo Công Giáo ngay trong trại tù. Đó là lý do mà nhiều năm sau khi xuất cảnh sang Mỹ, nhạc sĩ Vũ Thành An mới quay lại với âm nhạc, dùng Đời Đá Vàng như một lời tâm tình đầy đau đớn cho cuộc sống mà ông đã trãi qua.

Nói về kết thúc trong trại tù, không thể không kể đến nhạc sĩ Minh Kỳ. Vốn là đại uý cảnh sát, nhạc sĩ Minh Kỳ cũng bị dồn vào trại cải tạo ở Biên Hoà. Bốn tháng sau ngày 30-4, khi đang ngồi ăn trong trại, cả nhóm sĩ quan của ông bị ai đó ném lựu đạn vào giữa, khiến thương vong mười mấy người. Nhạc sĩ Minh Kỳ hấp hối, đẫm máu, chỉ có lời với anh em trong trại là nhắn giùm với gia đình rằng ông đã chết, rồi sau đó xuôi tay. Không rõ mộ của ông sau này có cải táng hay không, vì khi chôn cất sơ sài, cán bộ quản giáo chỉ để bảng ghi tên người chết là Vĩnh Mỹ, tức tên thật của ông, chứ không hề biết đó là một nhạc sĩ tài hoa hàng đầu của nước Việt.

30-4-1975 là một cột mốc của nhiều điều, mà có lẽ nhiều thập niên nữa người Việt mới biết tường tận sự thật. Và có lẽ cũng nhiều năm nữa, những trang sử nhạc còn phải ghi chú thêm những điều chưa kể hết, mà vốn nỗi buồn gần nửa thế kỷ vẫn phủ tối cả quê hương.

Tuấn Khanh
Mắt Buồn  
#1300 Posted : Sunday, June 6, 2021 10:52:08 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,663

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

Hoa Biển


Thạch Bích

August 8, 2020 | by Ban Tu Thư | 0

http://www.youtube.com/watch?v=eENZZWattu4

Sau tháng 4/75, nhạc miền Nam nhanh chóng vượt Bến Hải, tiến chiếm lĩnh vực nghe nhạc tại Hà Nội, Hải Phòng, lan tận ải Nam Quan. Thậm chí nhạc miền Bắc cũng dần dần mất định hướng, đành chịu để nhạc miền Nam giành dân lấn đất.

Đến nay, ba mươi hai năm trôi qua, rõ ràng là Đêm Nguyện Cầu đã phủ mờ Trường sơn đông Trường sơn tây. Và Tiếng Chày Trên Sóc Bam Bo đã chìm dần trong Tiếng hát hậu phương âm vang Trên bốn vùng chiến thuật.

Riêng nhạc lính của nhạc sĩ miền Nam Trần Thiện Thanh có cái lạ là sau cuộc đổi đời, không chỉ lấn lướt nhạc lính của tất cả nhạc sĩ miền Bắc mà còn làm thay đổi cả cảm nhận của chính người miền Nam. Trước kia, rất nhiều người coi lời ca Trần Thiện Thanh là cường điệu, là hào nhoáng nhưng khi quê hương sỏi đá biết buồn, những lời đó lại gây nhức nhối tận tâm can.

Tôi cũng không thoát khỏi sự chuyển hướng này mà không chừng còn … sâu đậm hơn. Trước đây, tôi không chỉ cho lời ca Trần Thiện Thanh là đầu môi chót lưỡi mà còn thích nghêu ngao những câu sửa đổi cợt đùa, như “trên ngôi cao chín tầng hoàng hậu đẹp… không giống ai” ! Vậy mà khi từng trải những đêm dài trong tù, dù chỉ với một giọng ca làng nhàng, chỉ với từng tiếng đàn lập dập mà lạ lùng sao chính những lời chót lưỡi đầu môi đó lại thắm thía gợi về những buồn vui đời lính, về những vùng biển mặn xa khơi.

Tôi bắt đầu yêu nhạc Trần Thiện Thanh từ đó. Cho nên khi an cư lạc nghiệp xứ người, tôi đã tìm mua bất cứ băng nhạc, CD và DVD nào có giọng ca hoặc nhạc của Nhật Trường Trần Thiện Thanh. Một là để thưởng thức trọn vẹn hàng trăm tác phẩm đa dạng của anh, hai là như một lời xin lỗi…

Khi được tin anh đã qua Mỹ 1993, tôi rất vui mừng. Tôi muốn nhìn lại hình ảnh Nhật Trường trên Tiếng Hát Đôi Mươi mà hai mươi năm trước tôi không mấy quan tâm. Quả nhiên, qua cuốn video Holywood Night, tôi đã vô cùng thích thú gặp lại Nhật Trường trong phong thái diễn tả rất đặc thù. Hình ảnh của anh trong bộ quân phục trắng hải quân gợi nhớ hình ảnh của chính tôi ngày nào. Thêm vào đó là bài Hoa Biển mang tôi trở về những kỷ niệm với nhạc sĩ Anh Thy …

Cuối năm 1967, đang chỉ huy toán giang đỉnh hoạt động vùng sông Măng Thít, tôi bất ngờ được lệnh thuyên chuyển về Phòng Tâm Lý Chiến Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Tôi chắc là nhờ “uy tín” mấy bài thơ, mấy truyện ngắn đăng trên tờ nguyệt san “Lướt Sóng” mà được ban biên tập “triệu hồi” tăng cường. Vào trình diện vị trưởng phòng, tôi không giấu vẻ thất vọng khi ông lại giao cho cái chức hoàn toàn ngoài năng khiếu : Trưởng ban văn nghệ Hải quân. Tôi viện lý do không rành đờn ca xướng hát để từ chối. Ông cười, bảo tôi có máu văn nghệ mà được giao cho nguyên ban văn nghệ thì còn đòi hỏi gì !

Ban văn nghệ Hải quân lúc đó có khoảng 20 người, gồm ban tân nhạc và ban kích động nhạc, ban kịch, hai nhân viên chuyên trị cổ nhạc và một ảo thuật gia. Đó là lần đầu tôi thấy “dung nhan” ba nhạc sĩ thành danh là Nguyễn Vũ, Mặc Thế Nhân và Anh Thy. Riêng với Anh Thy, tôi vốn thích các bản Biển Tuyết, Tâm tình Người Lính Thủy, Lời Nguyện Cầu Nửa Đêm nên có ngay cảm tình.

Nguyễn Vũ vóc dáng nhỏ con, chững chạc, ít cười. Mặc Thế Nhân ngang tầm Nguyễn Vũ, nếu không tía lia thì luôn chúm chím. Còn Anh Thy, người cân đối, cao ráo, khuôn mặt điểm vài anh hoa phát tiết, miệng rộng môi dầy, cười hở hai hàm răng đều đặn. Ba nhạc sĩ thành danh nhưng chỉ mình Nguyễn Vũ ôm đàn trên sân khấu, còn Mặc Thế Nhân thì giữ vai kịch sĩ, Anh Thy làm hoạt náo viên. Đó cũng là lần đầu tôi biết mặt ca sĩ kích động Elvis Phương, lúc đó anh biết chỉ mỗi bản tân nhạc Mộng Dưới Hoa mà dân làng xã đều ….ngáp khi anh trình diễn. Còn đỡ hơn là khi anh hát kích động Anh Mỹ họ bỏ ra về. Có lẽ vì vậy mà năm sau anh xin qua Biệt đoàn văn nghệ trung ương.

Ban văn nghệ thường tháp tùng trên một trong hai chiếc y tế hạm, phối hợp thực hiện công tác có tên gọi chung là dân sự vụ. Công tác gồm trình diễn văn nghệ, khám bệnh phát thuốc, phát quà và truyền đơn. Đối tượng là các đơn vị Hải quân, gia đình binh sĩ và dân chúng ở các làng xã vùng xôi đậu, các hải đảo xa khơi… Mỗi chuyến kéo dài từ một đến hai tháng.

Sau chuyến công tác đầu tiên vùng Rạch Giá – Phú Quốc, tôi biết được tính tình và biệt danh của từng người. Như tay trống kích động tên Minh rất vui nhộn, có bộ mặt dài như mặt ngựa nên bạn bè gọi Minh ngựa. Hai tay đờn hiền hậu có cùng tên Đức nên được phân biệt Đức Cống, Đức Cạp. Riêng Anh Thy tuy dáng vẻ hào hoa, lịch lãm nhưng do mang tên thật là Phạm Văn Khổn nên bị anh em âu yếm tặng cho cái biệt danh khó nghe : Khổn Lò ! Dù vậy nhạc sĩ nhà ta lại tỏ ra thích thú.

Thời gian đó Sài Gòn đang lộn xộn với các cuộc đảo chánh, biểu tình nên dù vừa xa nhà cả tháng mới về, chúng tôi vẫn lãnh lệnh cấm trại 50%. Tôi và Anh Thy được chia cùng phiên trực nhật nên có cơ hội gặp nhau nhiều hơn. Một buổi tối, đang ngồi viết một truyện ngắn thì Anh Thy bước đến trước bàn, chân chập lại, tay đưa lên chào, nửa nghiêm nửa đùa. Anh tươi cười mở quyển Lướt Sóng đã cũ, chỉ bài thơ :

– Ông thầy ! Em viết bản nhạc khá lâu mà không đặt ra lời. Gặp cái tựa bài thơ của ông thầy em chịu quá. Xin phép cho em “chôm” cái tựa Hoa Biển để làm tựa cho bản nhạc.

Tôi vồn vã :

– Khỏi cần chôm cái tựa, hân hạnh tặng Anh Thy nguyên bài thơ để phổ nhạc.

Anh Thy đọc một đoạn trong tám đoạn :

– “Áo trắng em mang hoa bọt biển. Còn đêm nay nữa, sáng xong rồi. Áo trắng anh mang cho trọn kiếp. Còn em một buổi để rồi thôi” ! Rất tiếc ông thầy, nghe …thảm quá ! Em chỉ thích những gì vui vui…

Hai tuần sau, Anh Thy vừa đàn vừa hát cho tôi nghe lời ca đã hoàn chỉnh. Tôi thích thú với những ý tưởng hòa ái thật khớp với giai điệu nhịp nhàng. Lời bài hát đè bẹp lời bài thơ. Hoa Biển được tiếp nhận nồng nhiệt dù phát hành sau Tết Mậu Thân tang tóc…

Chừng tháng sau, khi được chỉ định làm trưởng trại tiếp cư Phạm Thế Hiển, tôi kéo trọn trung đội này qua bên kia cầu chữ Y để giữ an ninh trật tự… Nhiều tháng sau đó, toàn ban lại khăn gói xuống chiếc y tế hạm, trực chỉ miền Trung, ngược dòng Hương giang đến ủi bãi bên cầu Tràng Tiền và bắt đầu công cuộc cứu trợ đồng bào nạn nhân chiến cuộc.

Ở Huế trở về, tôi được thăng cấp, thăng chức phó phòng, bàn giao ban văn nghệ cho một sĩ quan tân đáo. Bẵng một thời gian, một buổi sáng, Anh Thy vào văn phòng tặng tôi bản nhạc mới ra lò Lính Mà Em. Anh cho biết đã sáng tác trong những ngày ở Huế. Tôi có dịp hỏi anh học nhạc với ai. Anh Thy tươi cười, nghe cái “air” thì biết là ai rồi. Tôi thú nhận không rành nhạc. Anh lại cười, là Nhật Trường sư phụ !

Ngoài Anh Thy, Mặc Thế Nhân, Nguyễn Vũ cũng thỉnh thoảng tặng tôi các bản nhạc và các dĩa hát mang giọng ca Lệ Thu, Hoàng Oanh, Thanh Tuyền… Tôi cứ áy náy nghĩ đến chuyện phải tặng lại cái gì. Thời may bỗng tới. Buổi chiều đang đọc văn thư, tôi bất ngờ nhận điện thoại từ nhà văn Huỳnh Văn Phú. Chúng tôi mất liên lạc nhau từ sau trung học. Anh đang làm trưởng phòng Tâm lý chiến Bộ Tư Lệnh Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến (TQLC) đồn trú cách chỗ tôi làm vài khu phố. Anh rủ đi nhậu ở một quán bên lề đường Phạm Ngũ Lão, tình cờ tôi ngồi cạnh nhà xuất bản Thiên Tứ. Ông Thiên Tứ thấy tôi mang hia đội mão hải quân nên trêu chọc : “Binh chủng nào cũng có truyện viết về binh chủng của họ như Đời Phi Công, Đời Pháo Thủ…, chắc Hải quân có người nhái nên lặn kỹ quá” ! Tôi khích lại : “Nếu ông in thì tôi viết.” Ông Thiên tứ tỉnh queo : “Nếu anh dám viết thì tôi dám in”. “Thật không” ? “Chỉ với một điều kiện : cái tựa phải là Đời Thủy Thủ”.

Tôi thấy cũng dễ… ăn tiền. Cứ dựa vào bốn năm đi tàu từ ngày ra trường, rồi thêm mắm thêm muối là thành truyện dài thỏa mãn điều kiện. Hăng hái, tôi miệt mài viết ba tháng liền nhưng vì ướt át quá nên trở ngại… phối hợp nghệ thuật. Mãi đến giữa năm 1969 tôi mới có sách để “đáp lễ” các nhạc sĩ của tôi. Khi đọc dòng đề tặng Mến tặng nhạc sĩ Anh Thi, anh gãi đầu xin sửa thành Thy. Vài hôm sau, Anh Thy chê : “Truyện viết về sĩ quan mà lại lấy cái tựa Đời Thủy Thủ”. Tôi bào chữa : “Thì quan đi tàu cũng là… thủy thủ” !

Chưa kịp hưởng cái thú chiều chiều dạo qua các nhà sách, sạp sách xem vị thế trình làng của Đời Thủy Thủ, tôi được lệnh tham dự hành quân tái lập quận Năm Căn. Toàn ban văn nghệ với sự tăng cường các chuyên viên tâm lý chiến gồm các nhà văn nhà thơ Võ Hà Anh, Phan Minh Hồng, Tống Minh Phụng, Tô Giang…, chúng tôi đảm trách phần nhiệm chiêu dụ dân chúng trở về quận cũ đang bỏ hoang. Ngày nào như ngày nào, cứ vừa ra khỏi căn nhà nổi trên sông Bồ Đề chừng vài trăm thước là bị tấn công. Tuần nào cũng có tử thương, bị thương nặng nhẹ. VC cũng không chừa cả chiếc y tế hạm có mang biểu tượng hồng thập tự to lớn hai bên hông.

Sau một tháng căng thẳng thần kinh, tôi may mắn trở về không bị sứt mẻ, lại đi nhậu với Huỳnh Văn Phú, lại bị nhà xuất bản khích tướng, rằng nếu tôi dám viết nữa thì ông sẽ dám in nữa. Tôi lại phải bỏ ăn, bỏ chơi, bỏ ngủ nhiều tháng. Nạp xong bản thảo cho Sở phối hợp nghệ thuật thì cũng vừa lúc tôi chia tay ban nhạc để về đơn vị mới vùng biên giới Việt-Miên. Ai cũng bùi ngùi. Riêng Anh Thy cười cười, mong sớm gặp lại ông thầy.

Gần Tết năm 71, lên Sài Gòn nhận sách biếu, tôi ghé Phòng tâm lý chiến ưu tiên gặp họa sĩ Vũ Thái Hòa (Nhiều thông tin trên interrnet cho rằng Anh Thy chính là Trần Thiện Thanh. Một bài viết của Vũ Thái Hòa cho rằng Phạm Văn Khổn không biết đàn và tiếm danh Anh Thy là của Trần Thiện Thanh. Còn Việt Dzũng cho biết Anh Thy soạn Hoa Biển chung với Trần Thiện Thanh), người phụ trách trình bày tờ Lướt Sóng và vẽ bìa cho các quyển truyện dài của tôi. Kế đến là tìm các nhạc sĩ hải quân. Nhìn tựa truyện Trong Cơn Bão Biển, Anh Thy đùa: “À, truyện về bão, không phải về quan… thủy thủ !” Tôi cười gượng : “Vẫn là truyện quan thủy thủ !”.

Về lại vùng hoạt động, lòng nhủ lòng nhất định phải viết một truyện về lính. Cuối tuần, tôi theo các giang đỉnh đi hành quân tuần tiểu. Một giang đỉnh thường được trang bị bốn nhân viên. Thuyền trưởng thâm niên nhất mang cấp hạ sĩ quan. Đây là một tập hợp các nhân vật lý tưởng cho quyển truyện tương lai. Tôi quan sát nghi nhận sinh hoạt. Tôi nghiền ngẫm nội dung, sắp xếp bố cục. Đầu năm 75, quyển Một Dòng Sông Cho Chiến Đỉnh ra đời. Tôi ghé phòng Tâm lý chiến, hy vọng ban văn nghệ chưa đi trình diễn xa để có dịp khoe “thành tích” với Anh Thy. Nhưng Vũ Thái Hòa lại báo tin Anh Thy đã tử nạn trong một chuyến công tác năm rồi…

Anh Thy để lại mươi bài hát mang niềm vui và hãnh diện cho Hải quân Việt Nam. Riêng nhạc phẩm Hoa Biển được in như một sử liệu trong Tuyển Tập Hải Sử, trang 205, do Tổng Hội Hải Quân Hàng Hải ấn hành năm 2004.… Ngoài những lần gặp lại Nhật Trường Trần Thiện Thanh trên cuốn video Holywood Night, tôi còn có dịp gặp tận mặt trao đổi vài câu khi anh và ca sĩ Mỹ Lan phụ trách phần văn nghệ cho buổi ra mắt sách của nhà văn Phan Nhật Nam tháng 11/1997 tại thủ đô Hoa Kỳ. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã ký tặng tôi CD mới nhất Gọi Tên Anh Là… Lính, và thật tình cờ trong đó lại có bài Hoa Biển tôi ưa thích.

Một hôm nghe tin Nhật Trường tuyên bố giải nghệ, tôi gửi mua ngay cái DVD cuối cùng của anh : Nhật Trường Giã Từ Sân Khấu. Ngày 13 tháng 5 năm 2005, các báo đồng loạt đưa tin Trần Thiện Thanh đã vĩnh viễn ra đi…. Gần một năm sau, gần thủ đô của người Viêt tỵ nạn, Trung tâm Asia tổ chức một đại nhạc hội quy mô trên một sân khấu tráng lệ để vinh danh chàng ca sĩ kiêm nhạc sĩ tài hoa. Tôi muốn về tham dự nhưng ở quá xa. Đành phải chờ DVD 50 Anh Không Chết Đâu Anh phát hành tháng 4/2006.

Từ nhạc bản đầu tiên của DVD 1, tôi đã bắt đầu rơi nước mắt. Tôi say mê thưởng thức từng bài hát qua những giọng ca hàng đầu, qua nghệ thuật hòa âm hiện đại, trong một khung cảnh huy hoàng và trong nỗi xúc động sâu xa. Tới DVD thứ nhì, sau liên khúc Không Bao Giờ Ngăn Cách và Mùa Đông Của Anh, MC Việt Dzũng giới thiệu mục kế tiếp : “Ca khúc Hoa Biển được viết chung với nhạc sĩ Anh Thy, cũng là một Trung uý Hải quân”. Đang tràn ngập xúc động, lời giới thiệu làm tôi tỉnh người. Tôi chưa từng nghe hoặc đọc thấy tác giả Hoa Biển là Trần Thiện Thanh dù là soạn chung với Anh Thy. Trên các tác phẩm tôi được tặng, từ Anh Thy cũng như từ Trần Thiện Thanh, từ các bài viết xưa tới nay đều ghi một tác giả duy nhất là Anh Thy. Tác phẩm này nổi tiếng đến độ nói đến Hoa Biển là người yêu nhạc nghĩ đến Anh Thy hoặc nói đến Anh Thy là thấy Hoa Biển. Thêm một ngạc nhiên nữa, nhạc sĩ Anh Thy không thể là Trung úy Hải quân. Cho đến ngày tôi rời ban văn nghệ năm 1970, Anh Thy còn mang cấp hạ sĩ. Vào năm anh tử nạn 1974, có thể anh được vinh thăng Thượng sĩ.

Trong khi tôi còn đang ngơ ngẩn về tiết lộ tác giả mới của bài Hoa Biển thì một tiết lộ khác, kế tiếp, làm tôi sững sờ. Ở tiết mục ngay sau đó, MC Nam Lộc gợi ý cho nữ ca sĩ Thanh Tuyền đứng bên cạnh, rằng theo mọi người biết thì nhạc phẩm Chuyến Đi Về Sáng là của nhạc sĩ Mạnh Phát nhưng theo gia đình Nhật Trường tiết lộ thì ca khúc này là của Trần Thiện Thanh. MC Nam Lộc yêu cầu Thanh Tuyền, trong tư cách là học trò của nhạc sĩ Mạnh Phát và cũng là bạn thân của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, hãy cho mọi người biết tác giả thực sự của Chuyến Đi Về Sáng. Thanh Tuyền xác nhận chính Trần Thiện Thanh sáng tác bản nhạc này nhưng vì do túng thiếu nên đem bán cho Mạnh Phát. Mạnh Phát góp phần hiệu đính nên tác giả là thực sự là cả hai người.

Hai tiết lộ liên tiếp, bất ngờ khiến tôi bực mình tắt máy và trằn trọc cả đêm. Trước Hoa Biển, Anh Thy đã là một nhạc sĩ nổi tiếng. Lời ca chắc chắn là của Anh Thy. Phần nhạc, rất có thể do Anh Thy sáng tác nhưng nhờ thầy Trần Thiện Thanh duyệt sửa ? Duyệt sửa thì có đáng gì nên “sư phụ” không muốn ghi tên mình vào. Lại nữa, có nên tin chăng sự việc “Trần Thiện Thanh hợp soạn cùng Anh Thy” khi mà ngay cấp bậc của Anh Thy đã được nêu lên không đúng ?

Trường hợp Chuyến Đi Về Sáng. Chuyện riêng giữa hai nhạc sĩ, làm sao Thanh Tuyền biết ? Có đáng tin không ? Sao Trần Thiện Thanh không bán thẳng cho nhà xuất bản mà lại bán cho Mạnh Phát ? Có thể đó là bản nhạc đã bị nhà xuất bản từ chối, nhưng vì đàn anh Mạnh Phát muốn giúp đàn em Trần Thiện Thanh có tiền thang thuốc cho con nên mới mua. Và dành quyền sửa chữa. Dù thế nào, việc đàn anh mua nhạc đàn em và đề riêng tên mình xem ra cũng không mấy tốt đẹp. Trần Thiện Thanh biết vậy nên đã tự trọng, biết ơn và giữ kín trọn đời. Vậy thì Thanh Tuyền lấy tư cách gì mà công khai phổ biến ? Chẳng lẽ Thanh Tuyền không hiểu làm như thế là bêu rêu cả hai nhạc sĩ ?

Việc chọn lựa nhạc để vinh danh Trần Thiện Thanh của Trung tâm Asia cũng lạ lùng. Trần Thiện Thanh nổi tiếng qua cả trăm bản nhạc, đâu cần phải “dựa hơi” hai bản chưa từng mang tên Trần Thiện Thanh. Vinh danh bằng hai bản nhạc “soạn chung” sao bằng hai bản của chính đương sự. DVD 50 chỉ mới sử dụng có 26 bản nhạc. Còn đến 80 bản. Như Mùa Xuân Lá Khô và Dấu Đạn Thù Trên Tường Vôi Trắng có phần mang nhiều ý nghĩa hơn cả Hoa Biển và Chuyến Đi Về Sáng!

Một năm đã trôi qua kể từ ngày phát hành Asia DVD 50 Anh Không Chết Đâu Anh, một quãng thời gian đủ để tránh mọi ngộ nhận. Công trình huy hoàng tráng lệ đã gặt hái thành quả tương xứng. Xúc động của hàng trăm ngàn khán giả cũng đã lắng dần. Tôi thấy đây là lúc cần đặt ra câu hỏi: “Tại sao Trung tâm Asia lại nêu lên sự việc quá xa xưa, chỉ người trong cuộc mới biết, khi mà cả ba tác giả liên hệ đều đã qua đời ?” Những gì do các MC và ca sĩ Thanh Tuyền tiết lộ lại chỉ là những lời nói suông. Đây không thể là vấn đề giải trí, mua vui mà là vấn đề danh dự, đạo đức. Nếu vì mục đích “sự thực” thì hãy trưng bằng cớ…

Thạch Bích (theo Vũ Thất)

Users browsing this topic
Guest (3)
81 Pages«<6364656667>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.