Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

44 Pages«<1112131415>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
hongvulannhi  
#241 Posted : Sunday, December 19, 2010 10:20:37 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
* Cám ơn anh Mạc Phương Đình.-hvln- ---------------------------------------------
Bùi Giáng

Sunday, December 19, 2010 11:58 AM

Cuối tuần một người bạn chuyển cho đọc một vài chuyện vui buồn trong đời riêng của Thi Sĩ Bùi Giáng, xin chuyển lại chia xẻ cùng bạn đọc trên phố ảo.
mpd.
Tình sử Bùi Giáng
Kim Cương: "Quyền lực" của Kim Cương


Phải nói là Kim Cương có "quyền lực" rất lớn đối với Bùi Giáng. Cứ nghe tên bà là ông trở lại ngoan ngoãn như một đứa trẻ con. Một lần, ông làm "chim bay cò bay" giữa phố, gây ách tắc giao thông, công an tới lôi ông vào cũng không được.

Tình cờ có ông bạn Đoàn Thạch Hãn trông thấy, thế là anh ta rỉ tai ông: "Kim Cương nhắn ông tới nhà kìa!". Lập tức ông riu ríu đi theo Đoàn Thạch Hãn.

Ông còn "ái mộ" bà theo kiểu "kinh khủng" của ông. Người ta ái mộ thì xin chữ ký, xin hình, còn ông thì xin... quần. Ông tới nhà nằng nặc đòi bà cho ông cái quần. Bà lấy quần của cậu Toro nay đã lớn cỡ ông mặc vừa. Ông giãy nảy không chịu, đòi cái quần của Kim Cương mới được. Bà bực quá, đưa thiệt. Lập tức ông mặc vô và rồi không chịu thay ra. Tắm xong, mặc lại. Tỉnh bơ.

Và sau này khi ông ở nhờ nhà anh Hoài - cháu gọi ông bằng bác họ - tại Gò Vấp, thì cũng chỉ Kim Cương là người phụ nữ duy nhất được ông cho phép bước vào nhà. Nhiều lần, các bạn thơ nữ có ghé thăm ông, nhưng vừa mới nghe cháu vô báo tin là ông đã la hét om sòm, đuổi họ như đuổi tà: "Chỉ có tiên nữ Kim Cương mới được bước tới đây. Đi ra! Đi ra hết!".

Nghệ sĩ Kim Cương nói: "Tôi rất trân trọng tài năng của ông, nhưng phải nói thật là ông điên nặng, nhưng là cái điên trí tuệ, nói ra nhiều câu cực kỳ sâu sắc". Thỉnh thoảng, khi ông hơi tỉnh thì Kim Cương cũng ngồi bàn chuyện thơ văn với ông cho ông vui. Những lúc ấy, ông gọi bà bằng "cô" đàng hoàng chứ không "nương tử", không "Hằng Nga" gì hết. Nhưng có một lần, ông làm bà hết hồn. Hai người bàn luận đến Kiều, bà đọc mấy câu lỡ có sai một chút, ông liền đập bàn, la hét, nhảy dựng lên: "Tại sao Kiều mà cô nói sai như vậy? Câu vậy mà cô nói là của Kiều hả?". Thấy ông trợn mắt giận dữ, bà cứ ngỡ ông sắp bóp cổ mình tới nơi. Bà quên mất rằng ông cũng yêu Kiều say đắm như yêu bà.

Có một chuyện nhỏ, nhưng cảm động. Kim Cương nói rằng Bùi Giáng có đóng phim gì nữa đó, chắc đóng vai phụ nho nhỏ thôi. Kim Cương nhớ khi ông lãnh tiền thù lao, liền mua hai trái xoài đem tới cho bà. Rất dễ thương.

Kim Cương bùi ngùi nhớ lại: "Suốt 40 năm, ông đối với tôi như một người yêu đơn phương, thì ngược lại, tôi đối với ông như chỗ dựa tinh thần, bất cứ lúc nào nghe ông đau ốm hay bị công an bắt, bị người ta đánh là tôi có mặt". Bởi đơn giản, trong đầu Bùi Giáng chỉ có một số điện thoại duy nhất, một địa chỉ duy nhất, đó là địa chỉ và số điện thoại của Kim Cương. Nhiều lần ông đứng giữa đường dang tay la hét, làm kẹt xe, công an tới bắt, hỏi cách gì ông cũng chỉ nói một câu: "Thân mẫu tôi là Kim Cương, ở số... Hoàng Diệu, điện thoại 844...". Thế là công an réo gọi Kim Cương. Bà đi lãnh ông ra. Chuyện đó xảy ra không biết bao nhiêu lần. Có khi ông bị té, bị thương, người ta chở vô bệnh viện, ông cũng chỉ "khai báo" y như vậy. Bệnh viện lại réo bà. Bà lại đến. Hoặc những lúc ông lên cơn, có khi vô quậy cả đám cưới nhà người ta, bị người ta đánh, bà lại đến đưa ông về. Có lần, ông xuất hiện trước nhà bà với tóc tai mặt mũi đầy máu vì mới bị ai đó đánh, bà hoảng hốt gọi xích lô cho ông đi cấp cứu. Ông không chịu: "Chừng nào cô đi với tôi thì tôi mới đi". Ừ, thì đi. Kim Cương gọi chiếc xích lô chở ông, vừa ngồi xe ông vừa nói vung vít, mặc cho Kim Cương chịu trận.

Và như thường lệ, trong cơn điên điên tỉnh tỉnh, ông lại tiếp tục làm thơ yêu qua cuốn sổ nhỏ nhét vào khe cửa nhà bà:

- Yêu nhau từ bấy tới nay
Xiết bao tâm sự từ ngày qua đêm
Thưa em nương tử dịu mềm
Bốn mươi năm lẻ êm đềm vô biên
- Đầu tiên tiên nữ Kim Cương
Cuối cùng muôn một phi thường Cương Kim
Cúi đầu bái tạ tình em
Về sau vĩnh viễn êm đềm thương nhau
- Làm thơ tiếp tục yêu em
Ồ Kim Cương ạ êm đềm vô song
Kể từ lịch kiếp long đong
Anh điêu tàn tới thong dong bây giờ
...
Hư vô và vĩnh viễn

Cũng vô lý như lần kia dưới lá
Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành
Đời đã mất tự bao giờ giữa dạ
Khi lỡ nhìn viễn tượng lúc đầu xanh

Buổi trưa đi vào giữa lòng lá nhỏ
Tiếng kêu kia còn một chút mong manh
Dòng nức nở như tia hồng đốm đỏ
Lạc trời cao kết tụ bóng không thành

Lá cũng mất như một lần đã lỡ
Trời đã xanh như tuổi ngọc đã xanh
Trời còn đó giữa tháng ngày lỡ dở
Hồn nguyên tiêu ai kiếm lại cho mình

Đường vất vả vó ngựa chồn lảo đảo
Cồn sương đi vào sương lạnh miên man
Bờ bến cũ ngậm ngùi sông nước dạo
Đêm tàn canh khắc ngợi nguyệt gương ngàn

Một lần đứng lên mấy lần ngồi xuống
Ngón trên tay và tóc xõa trên đầu
Tình đếm lại muôn vàn thôi đã uổng
Để bây giờ em có biết nơi đâu

Bờ trùng ngộ một phen này phen nữa
Tờ cảo thơm như lệ ứa pha hồng
Hồn hoa cỏ Phượng Thành Hy Lạp úa
Nghe một lần vĩnh viễn gặp hư không
Thơ Bùi Giáng
Hoàng Kim (báo Thanh Niên)
Tình sử Bùi Giáng - Kim Cương:
Ba lời cảm tạ của Kim Cương


Bùi Giáng về ở nhà của anh Hoài vào khoảng năm 1978, thì đến khoảng 1992 đã hơi tỉnh tỉnh. Nhà thơ Trụ Vũ thường ghé chơi với ông. Một lần Trụ Vũ bảo: "Kim Cương hẹn ngày mai lên thăm anh". Thế là suốt đêm ông không ngủ. Sáng dậy, ông đi tới đi lui, đứng ngồi không yên, và càu nhàu: "Cái thằng Trụ Vũ, chừng nào lên thì lên, nhắn nhe làm chi cho người ta sốt ruột".

Anh Hoài còn tiết lộ ông phải giả vờ uống một tí rượu để đóng vai "say", như thế khi Kim Cương lên thăm ông mới có cớ đi ngả nghiêng cho Kim Cương dìu đỡ. Nhưng có lần uống mãi, uống mãi, rồi say thật lúc nào chả biết, khi Kim Cương đến nơi thì ông đã... ngủ khò.

Một bữa, Kim Cương đến nhà, tặng ông đóa hoa hồng. Ông sung sướng quá. Kim Cương về rồi, ông hỏi anh Hoài: "Làm sao giữ được hoa tươi mãi hè?". "Ba ngày là nó héo thôi bác ơi!". "Trời ơi, của Kim Cương tặng tao, phải giữ hoài chớ bây!". "Con có cách. Đem hoa trút ngược xuống thì sẽ giữ giùm bác được vài tháng". Đúng là giữ được vài tháng, đến khi hoa đã khô nát ông mới đành lòng chia tay.

Gần 60 tuổi, ông tới nhà bà với đôi mắt nheo nheo không nhìn thấy rõ. Bà dắt ông đi mua cặp kính lão. Nhưng chỉ một tháng sau, ông xuất hiện với một bên tròng kính bị bể vì người ta đánh. Bà dỗ ngọt: "Tôi mua cho anh kính mới nghen". Ông lắc đầu: "Thôi cô, nhìn đời bằng một con mắt đủ rồi".

Bốn, năm năm cuối đời, ông gần như tỉnh hẳn, và cứ sáng mùng 1 Tết là ông xông đất nhà Kim Cương. Riết rồi biết ý, đêm giao thừa Kim Cương tự xông đất trước cho mình, để tảng sáng mở cửa đón ông vào. Ông vô nhà, ngồi bệt xuống nền, không bao giờ chịu ngồi trên ghế. Rồi ông lì xì cho Kim Cương, khi 5.000đ, khi 10.000đ. Bà xẻ dưa hấu đãi ông ăn. Ông hớn hở trong sự nâng niu của bà.

Kể ra, đâu chỉ có Bùi Giáng kiên nhẫn và thủy chung với kỳ nữ Kim Cương, mà chính Kim Cương cũng đã đáp lại mối tình đơn phương của Bùi Giáng một cách chân thành và kiên nhẫn, thủy chung suốt 40 năm, gần giống một người chị, một người mẹ. Cho nên, có người nói với bà: "Chắc kiếp trước Bùi Giáng mắc nợ bà!". Bà đáp vui trở lại: "Hổng biết ổng mắc nợ tui hay tui mắc nợ ổng!". Những lúc tỉnh táo, ông nói: "Cô nhơn hậu lắm cô mới chịu nói chuyện với tôi tới giờ này!". Nhân đó bạn bè hỏi: "Kim Cương có cái gì mà anh thương dữ vậy?". Ông đáp: "Lúc tôi gặp cô trong đám cưới của Hạnh - Thùy, cô mặc cái áo dài lụa trắng, tôi thấy hào quang tỏa tỏa ra, tới bây giờ vẫn còn tỏa".

15 ngày trước khi chết, Bùi Giáng đến nhà Kim Cương để lại mấy câu thơ như báo trước điềm chia ly:

- Thương yêu có lẽ như là
Nghi ngờ nhau mãi vẫn là Kim Cương

- Ông đi đau xiết vui buồn
Một mình ở lại muôn trùng em yêu

Rồi ông té, chấn thương sọ não, chở vào Bệnh viện Chợ Rẫy. Người đầu tiên gia đình gọi đến là Kim Cương. Kim Cương nói: "Lần đầu tiên tôi thấy Bùi Giáng sạch sẽ. Đầu cạo sạch, không còn mớ tóc bù xù nữa. Và quần áo bệnh viện thì trắng bong. Cho nên tôi nhìn ổng không ra, cứ chạy đôn chạy đáo khắp các phòng tìm ổng". Những đứa cháu xin bà cho ý kiến. Bà đồng ý để bác sĩ phẫu thuật cho ông dù chỉ còn 1% hy vọng.

Nhưng rồi Bùi Giáng đã ra đi. Trước mộ ông trước giờ hạ huyệt, Kim Cương nhẹ nhàng thủ thỉ:

"Thưa Bùi Giáng! Đời ông là một đời giang hồ, nhưng mọi người vẫn mến thương ông, chắc ông cũng mãn nguyện rồi. Riêng tôi có 3 điều cảm ơn ông. Thứ nhất, ông đã để lại một sự nghiệp thơ cho đời. Thứ hai, cảm ơn mối tình 40 năm ông dành tặng tôi, tới giờ tôi có thể nói đó là mối tình lớn, ông là người yêu tôi chung thủy nhất, lâu dài nhất. Thứ ba, cảm ơn vì ông đã cho tôi một bài học, rằng dù điên hay tỉnh, giàu hay nghèo, già hay trẻ, trong lòng mỗi người cũng phải có một mối tình để sống".

Nhưng chắc gì Bùi Giáng đã chịu xa lìa Kim Cương. Ông còn một lời nhắn nhủ viết trong cuốn sổ tay tại nhà Kim Cương:

Kiếp sau gặp lại nhau, anh Bùi Giáng chỉ mong được Kim Cương chấp thuận cho phép anh Bùi được làm đầy tớ trung thành tuyệt đối của Kim Cương.

Và:

Vô ngần tao ngộ đầu tiên
Em bao giờ biết anh phiền ưu sao
Yêu em từ những kiếp nào Về sau cũng niệm nguyên màu ban sơ.



Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Linh Phuong  
#242 Posted : Sunday, December 19, 2010 11:45:31 AM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

KHI NGƯỜI DÂN NỔI DẬY DÀNH QUYỀN LÀM LỊCH SỬ
Kim Trần sưu tầm Người chuyển bài: Kim Trần
DÂN THÁI NGUYÊN VẪN TIẾP TỤC NẰM CHỜ TRƯỚC CƠ QUAN TIẾP DÂN,CÁN BỘ TRỐN CHUI KHÔNG AI GIẢI QUYẾT

[img=left]http://namquoc.com/tinypic/pictures/0067656ef4eb0a5fca181dd1e48d340f.jpg[/img=left] Tin Thái Nguyên - Suốt hơn hai tuần lễ qua nhiều giáo dân tại giáo xứ Thái Nguyên tập trung trước Trụ sở Tiếp dân của tỉnh này mong được gặp ông bí thư tỉnh uỷ và giới chức thẩm quyền, tuy nhiên cơ quan chức năng không đáp ứng yêu cầu đó của người dân. Bà con giáo dân vẫn chờ đợi tại chỗ, ăn, ngủ ngay tại vỉa hè trước cơ quan tiếp dân, xin gặp cơ quan chức năng giải quyết vấn đề liên quan đất đai dẫn vào nhà thờ tại đó.

Nhiều người đã so sánh việc này với việc giáo dân ở Hà Nội hồi cuối năm 2007 sang đầu năm 2008 tập trung cầu nguyện tại khu đất Toà Khâm Sứ, và sau đó là giáo dân Xứ Thái Hà cầu nguyện tại khu đất 178 Nguyễn Lương Bằng để đòi lại quyền sử dụng những nơi nói trên, cả hai nơi cuối cùng đã bị nhà nước mau chóng đưa người đến xây thành hai vườn hoa. Vụ việc đất quảng trường Nhà thờ Thái Nguyên cũng được các cơ quan chức năng điạ phương ra thông tư về hướng giải quyết nhưng rồi qua thời gian hơn cả năm trời không thấy tiến hành, nên người dân tiếp tục thay nhau chờ trước Trụ sở Tiếp dân của tỉnh.
Sở Nội vụ tỉnh và đại diện Ban Tôn giáo Chính phủ đã đến gặp linh mục chính xứ Nguyễn Ðức Ðại với mục đích nhờ ngài khuyên bảo giáo dân giải tán, nhưng ngài từ chối. Sau vụ việc Toà Khâm sứ và Thái Hà, vào cuối năm 2008 Cộng sản Việt Nam ra chỉ thị số 1940 về nhà đất liên quan đến tôn giáo. Tuy nhiên trong thực tế những vụ việc cơ sở, đất đai tôn giáo bị trưng thu, bị lấn chiếm bất hợp pháp vẫn không được giải quyết thỏa đáng, như bao trường hợp nhà cửa đất đai khác của người dân bình thường.(SBTN)
langthang09  
#243 Posted : Sunday, December 19, 2010 2:27:57 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)

UserPostedImage

UserPostedImage
TÌNH THU MUÔN THUỞ

Mùa thu một thuở yêu nhau
Lá vàng rơi rụng mưa ngâu nghẹn ngào
Trong lòng bao nỗi xuyến xao
Con đường tình sử hoa sao rơi đầy

Tình yêu tha thiết đắm say
Cúc vàng hoa nở vàng mây một trời
Vần thơ tiếng nhạc buông lơi
Tình ca vang vọng vạn lời yêu thương

Mùa thu áo trắng vấn vương
Tung bay tà áo sân trường thân thương
Heo may gió thoảng mùi hương
Hương tình ngây ngất gọi thương yêu về

Tình yêu trong trắng đam mê
Mùa thu đậm nét câu thề ái ân
Nắng thu trải nhẹ ngoài sân
Em bên song cửa âm thầm mộng mơ

Mùa thu em dệt vần thơ
Cung đàn anh nắn thẫn thờ không gian
Tình ca tha thiết vang ngân
Tình thu một thuở muôn vàn thắm tươi
Phạm Sĩ Trung

hongvulannhi  
#244 Posted : Sunday, December 19, 2010 7:30:40 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Yêu nhau là cùng chung nhìn về một hướng
Ghi chép dọc đường của : Đòan Thanh Liêm

Tôi đang viếng thăm thành phố Austin là thủ phủ của tiểu bang Texas. Trời mùa đông ngập nắng hanh vàng, với cơn gió mạnh khiến làm tăng thêm độ lạnh xuống như tới khỏang 5 độ C vào buổi chiều lúc 3 – 4 giờ. Sau mấy ngày bận rộn tại Houston với Lễ Trao Giải Nhân Quyền Việt nam năm 2010 vào đúng ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10 tháng 12 trong tuần lễ vừa qua, lúc này tôi cảm thấy hết sức thỏai mái, dễ chịu với cảnh êm đềm tĩnh lặng nơi cộng đồng nhỏ bé của bà con người Việt tại thành phố Austin, mà tôi đã từng lui tới nhiều lần trong mấy năm gần đây.

Công chuyện chính yếu của tôi ở thành phố này là để thăm mấy bà con thân thiết, điển hình như gia đình cháu Hòang Thiên Lương & Nga là con của bà chị ruột của tôi. Rồi đến gia đình các cô chú Nguyễn Thanh Định & Yến, Hòang Bá Thông & Hồng, các cô là con của bà dì Vũ Ngọc Cẩn vừa mất vào đầu năm 2010. Chỉ còn ông cụ Cẩn là dượng của tôi, mà nay đã 91 tuổi và đau bệnh khá nặng. Và tôi cũng thăm hỏi cả gia đình em Nguyễn Thị Ngọc Nga & Hiếu là cộng sự viên sát cánh với tôi trong chương trình phát triển cộng đồng tại các quận 6,7 và 8 Saigon hồi trước năm 1975.

Và riêng lần này, qua anh bạn Nguyễn Bá Tùng trong Mạng Lưới Nhân Quyền, tôi lại được thêm quen biết thân thương với gia đình anh chị Nguyễn Văn Khôn ở đối diện với nhà anh Trần Văn Trụ anh ruột của chị Hiền là cháu dâu của tôi ở Houston, mà lại cũng gần kề với nhà chú Thông nữa. Vì thế mà sự đi lại thăm viếng bà con của tôi tại Austin đã trở thành rất dễ dàng, thuận tiện cho tôi dịp này trong có vài ngày ngắn ngủi ở đây.

Trong các cuộc vãng gia (home visit) tôi vẫn thực hiện trong các tiểu bang Hoa kỳ, nơi các gia đình bà con bạn hữu người Việt cũng như người Mỹ, tôi thường hay trao đổi thông tin về tình hình gia đình liên hệ, và thảo luận về những vấn đề của xã hội mà bản thân mình hay quan tâm đến. Lần này ở Austin, ngòai việc thăm hỏi bình thường với các thân nhân, tôi lại hay đề cập đến chuyện làm sao củng cố lại được cái nền móng của gia đình trước những nguy cơ làm băng họai đến truyền thống đạo đức lễ giáo cố hữu của dân tộc. Đó là lý do khiến cho tôi phải ghi lại một vài suy nghĩ nhằm trao đổi với bạn đọc qua những dòng chữ này.

Bài viết có nhan đề “ Yêu nhau là cùng chung nhìn về một hướng”, đó là tôi phỏng theo cái lối phát biểu của nhà văn Antoine de St Exupery nổi danh của Pháp, nguyên văn như sau : “Aimer, ce n’est pas regarder l’un l’autre, mais c’est regarder ensemble dans une même direction” (Yêu nhau không phải là chuyện người này ngắm nhìn người kia, mà là cùng ngắm nhìn chung về một hướng). Đây là một lối định nghĩa về tình yêu mà tôi rất tâm đắc và luôn ấp ủ trong suy nghĩ của mình, ngay từ cái thời còn là một sinh viên theo học tại đại học Luật khoa Saigon, lúc ở vào tuổi đôi mươi đày thơ mộng, cách nay đã trên nửa thế kỷ.

Cụ thể như trong tình yêu của hai vợ chồng, thì cái phương hướng, cái mẫu số chung đó chính là tương lai của lũ con là sản phẩm của tình yêu thương gắn bó, kết hợp nồng thắm của hai người. Với thời gian thì nhan sắc của người phụ nữ có thể tàn phai sa sút đi, nhưng vì cả hai người lại luôn chung sức với nhau để chăm lo tận tình cho các con của mình, thì cái tình nghĩa vợ chồng lại có cơ mỗi ngày một thêm keo sơn bền vững. Trong một gia tộc cũng vậy, nghĩa vụ của một người con trai khi lập gia thất là “ phải nối dõi tông đường”, và người con gái khi về nhà chồng thì “phải gánh vác giang sơn nhà chồng”. Tức là cả hai vợ chồng đều phải thuận thảo hợp tác với nhau, để cùng chăm lo giữ gìn và xây dựng vun đắp cho cái “gia nghiệp do ông cha để lại” (patrimony). Và chính cái sứ mệnh cao cả chung của đôi bạn như vậy sẽ luôn ràng buộc hai người trong suốt cuộc sống lứa đôi trên dương thế này. Nhờ có sự hy sinh cố gắng chung sức xây đắp cho tương lai như vậy, mà từ xa xưa trong các gia đình truyền thống ở nước ta, thì dễ có được sự êm thắm hài hòa hạnh phúc. Rồi cũng từ đó mà xã hội luôn được bền vững ổn định.
I – Những nguy hại cho sự bền vững của gia đình và xã hội.

Ngày nay, với sự tiến bộ về nhiều mặt khắp nơi trên thế giới, dân tộc chúng ta đã bước vào một kỷ nguyên mới, với sinh họat trong xã hội mỗi ngày một mở rộng ra cả về phương diện vật chất địa lý, cũng như về mặt khoa học kỹ thuật, về nhận thức của địa vị người công dân trong cơ cấu tổ chức của quốc gia, cũng như về phương diện văn hóa tinh thần và tâm linh. Nhưng tình trạng xã hội thay đổi quá nhanh chóng mạnh mẽ này, nhất là nơi những gia đình người Việt sinh sống tại các nước văn minh Âu Mỹ, thì cũng có cái mặt trái của nó : Đó là con cái khi trưởng thành thì dọn ra ở riêng, có khi phải sống cách biệt rất xa nhà của cha mẹ, đến nỗi gia đình ít khi có dịp quây quần xum họp với nhau. Và các thành viên trong thân tộc cũng phân ly tứ tán, bà con họ mạc đâm ra xa lạ với nhau, và nhất là thế hệ con cháu của họ lại không còn có dịp để mà gặp gỡ, nhận ra nhau là họ hàng thân thích, cùng phát xuất từ một cội nguồn tổ tiên chung với nhau. Lâu dần rồi đâm ra cái cảnh “ Xa mặt cách lòng”, làm phai lạt đi cái tình cảm thân thương gắn bó của gia tộc, mất hết cả tình liên đới huynh đệ của những người cùng một dòng họ, mà người xưa vẫn trân quý đề cao, như được phát biểu trong câu tục ngữ quen thuộc : “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”.

Đó là chưa kể đến ảnh hưởng tai hại của cái chủ trương “hận thù giai cấp” cực kỳ tàn bạo, độc ác do người cộng sản phát động trên khắp cả nước từ hơn nửa thế kỷ nay, nhằm thực hiện ‘một cuộc cách mạng long trời lở đất” qua các đợt “đấu tố cải cách ruộng đất”, rồi qua đến “phong trào hợp tác hóa nông nghiệp “ v.v…Hậu quả của chiến dịch do cán bộ cộng sản phát động này là : Trong các gia đình ở miền quê đã xảy ra nhiều sự đổ vỡ về luân thường đạo lý, vợ đi tố cáo chồng, con cái phản bội cha mẹ, anh chị em ruột thịt không còn nhìn mặt lẫn nhau, bạn bè cũng cắt đứt mọi liên hệ bằng hữu thân thiết với nhau…
Cái mối hận thù chồng chất này đã hằn sâu trong nếp sống ở nông thôn, làm băng họai đến tận gốc cái truyền thống đạo đức nhân nghĩa trong nội bộ của nhiều gia tộc, và biến con người thành lọai dối trá phản phúc ngay đối với bà con máu mủ ruột thịt của mình, cũng như đối với láng giềng kề cận vốn từng gắn bó thân thương với nhau nơi chòm xóm. Kết cục là xã hội đã mất hẳn đi cái tình keo sơn gắn bó, thuận hòa nơi các cộng đồng thôn xóm thuở xưa (social cohesion).
Cũng phải nói thêm về hậu quả bi thảm khắc nghiệt khác nữa, do cuộc chiến tranh đẫm máu kéo dài trên 30 năm giữa hai miền Nam Bắc, cũng như do ở chính sách độc tài tòan trị sắt máu, bất nhân thất đức của đảng cộng sản đã gây ra cho tòan thể đất nước và dân tộc kể từ năm 1975, khi họ chiếm được tòan bộ lãnh thổ miền Nam.

Nói chung, thì trong hơn 60 năm qua, người cộng sản đã và còn đang gây ra một vết thương tổn nặng nề đã hằn sâu trong lòng dân tộc Việt nam chúng ta. Tai hại điển hình nhất là họ đã phá hủy tòan bộ cái nền đạo đức luân thường và cái kho tàng tình cảm yêu thương cao quý vốn là cơ sở tinh thần do cha ông chúng ta đã vun đắp từ bao nhiêu đời, và truyền lại cho thế hệ chúng ta ngày nay. Điều này đã quá hiển nhiên rõ ràng, mà cũng được bao nhiêu thức giả đã nêu ra rồi, nên tôi thiết nghĩ không cần ghi ra những chi tiết tiêu cực như thế ở đây nữa. Tôi chỉ muốn lưu ý bạn đọc về nhu cầu cấp bách trong việc phục hồi chấn chỉnh lại cái cơ đồ đất nước đã bị làm cho tan nát thảm thương, cả về phương diên cá nhân mỗi con người, cũng như trong các gia tộc, và nhất là trong tòan thể cộng đồng xã hội như thế đó mà thôi.
II – Yêu thương Dân tộc bằng những Hành động cụ thể thiết thực

Nói chung, thì ai ai cũng đều yêu thương dân tộc và quê hương đất nước của mình cả. Vấn đề là làm sao mà diễn tả ra được cái tình cảm yêu mến đó một cách cụ thể và hữu hiệu đối với dân, đối với nước. Đây là một chuyện cũng đơn giản dễ dàng thôi, nếu chúng ta thật tâm muốn đóng góp vào công cuộc xây dựng lại đất nước, phục hồi lại cái truyền thống nhân bản và nhân ái đã có sẵn từ thời xưa của cha ông mình.

Trong bài này, tôi chỉ xin ghi ra một vài gợi ý vắn tắt theo mấy điểm chính yếu như sau :
1 / Thứ nhất : Đầu tiên là bắt đầu từ cơ sở của mỗi gia đình. Chúng ta cần phải tăng cường nền giáo dục cho thế hệ con cháu ngay trong phạm vi của mỗi gia đình, mỗi gia tộc. Việc này, ta không thể phó mặc cho chánh quyền nhà nước làm thay thế cho ta được. Mà đó là trách nhiệm chính yếu của từng đơn vị gia đình, với sự trợ giúp đắc lực của Xã hội Dân sự, trong đó phải kể đến các hiệp hội đòan thể, các nhóm phát xuất từ các tổ chức tôn giáo.

Đúng như dân gian ta thường hay nói : “ Phúc đức tại mẫu”, tức là xác nhận vai trò quan trọng của người mẹ đối với sự thành đạt của con cái. Và tục ngữ lại còn có câu : “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà “, tức là việc con cháu hư hỏng, thì đầu tiên phải kể đến trách nhiệm của người mẹ, người bà vốn thường hay quá nuông chiều các cháu nhỏ, mà sao lãng việc uốn nắn dậy bảo dẫn dắt các cháu. Chứ không phải đơn thuần là do ảnh hưởng xấu của môi trường xã hội xung quanh mà gây ra sự hư hỏng của đứa nhỏ.
2 / Thứ hai : Các tổ chức văn hóa xã hội tự nguyện là thuộc khu vực Xã hội Dân sự, chứ không phải là một thứ cơ sở của chính quyền, hay của một đảng phái chính trị nào. Do đó mà họ phải kiên quyết dành lại quyền chủ động của mình trong công cuộc xây dựng và phát triển xã hội từ hạ tầng cơ sở, chứ không thể thụ động để mặc cho đảng cộng sản “một mình một chợ, mà bao biện làm hết mọi chuyện trong xã hội”, như họ vẫn mãi mãi lũng đọan, tự tung tự tác từ bấy lâu nay được.
Trong một chế độ dân chủ đích thực, thì mỗi người công dân phải hành xử đúng cương vị của một vị “chủ nhân ông của đất nước”, chứ không thể hèn nhát sợ sệt đến nỗi phải thóai thác trách nhiệm, không dám ra tay hành động vì lợi ích của chính mình và của những người thân thương của mình.
3 / Thứ ba : Như dân gian thường nói : “Quan nhất thời, Dân vạn đại”, chế độ chính trị nào dù có chuyên chế độc đóan đến mấy đi nữa, thì cũng phải đến lúc lụi tàn, sụp đổ mà thôi. Vì thế, những người tranh đấu cho Dân chủ, Tự do và Phẩm giá của Dân tộc, thì cần phải có niềm tin vững chắc về tương lai tươi sáng của Đất nước chúng ta rồi chẳng bao lâu nữa cũng sẽ lọai bỏ dứt khóat được cái chế độ cộng sản ác nhân ác đức hiện nay, y hệt như các dân tộc tại Đông Âu, cũng như tại chính nước Nga đã thực hiện được từ hai chục năm qua. Để mà có thể bước qua tới giai đọan phục hồi và tái thiết lại quê hương đất nước, trong cái tinh thần hiếu hòa và nhân ái truyền thống mà cha ông chúng ta đã để lại.

Những người tự nhận mình là biết “ Yêu Nước Thương Nòi”, thì phải cùng chung với nhau mà nhìn về một phương hướng duy nhất, đó là tương lai hạnh phúc của tòan thể đồng bào thân thương của mình. Để mà biết nhẫn nhục, hy sinh chịu đựng và bao dung tha thứ lẫn cho nhau, trong khi cùng nhau sát cánh phục vụ cho quyền lợi tối thượng của đại khối dân tộc, của hết thảy mọi người chúng ta vậy./
Austin Texas, vào tiết Đông chí năm Canh Dần 2010
Đòan Thanh Liêm
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#245 Posted : Sunday, December 19, 2010 9:36:26 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,423

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
Cảm nghĩ về Buổi ca nhạc Phan Văn Hưng ở Melbourne


Thật chẳng uổng công chúng tôi chút nào đã lặn lội đường xa, lái xe thâu đêm để đi nghe nhạc sĩ Phan Văn Hưng hát ở Melbourne ngày thứ Bảy 11 tháng 12 vừa rồi.


Trong hội trường ấm cúng ở trường Đại Học Melbourne, sau nghi thức chào cờ, ông Nguyễn Thế Phong - Chủ Tịch CĐNVTD LB Úc Châu và cũng là đại diện cho ban tổ chức ban tổ chức gây quỹ cho Đền Thờ Quốc Tổ giới thiệu nhạc sĩ Phan Văn Hưng và mục đích của Buổi ca nhạc đặc biệt nầy. Nhạc sĩ Phan Văn Hưng bước ra sân khấu, anh cúi người chào khán giả và cầm đàn lên hát. Từng lời ca, từng tiếng nhạc trong bản nhạc anh hát như lời giới thiệu cho buổi ca nhạc hôm đó. Hát xong bản nhạc đầu anh mới nói những lời tâm tình với khán giả. Rất thân mật, đơn giản mà sâu sắc. Một giọng hát trầm ấm, với phong cách điềm đạm, nhã nhặn và giản dị của anh càng làm cho tôi mến mộ anh hơn.

Những bài hát kế tiếp đều được anh ân cần giới thiệu nguồn gốc của mỗi bài. Bài nào hầu như cũng từ những hoàn cảnh, những câu chuyện thương tâm làm anh xúc động [cảm kích] mà dệt thành lời ca như: Thằng bé tát dầu, Em bé và viên sỏi, Bài ca cho bé Thảo, v.v... Ngoài những bài hay rất cảm động đó, còn những bài ca bất khuất, oai hùng như Việt Nam Vinh Quang, Trả lại tôi, Đừng sợ nữa, .. Anh không viết những bài tình ca lãng mạn mà chỉ có những ca khúc phơi bầy những bất công, những khao khát tự do, những mơ ước rất đơn giản của người Việt chúng ta mà anh đã góp nhặt lại để diễn tả qua lời nhạc. Khán giả đã thích thú thưởng thức từng lời ca của anh với những tràng pháo tay vang dội cả hội trường.

Đến lúc nầy tôi nhận thấy anh không phải là người ít nói như tôi đã nghe và như tôi tưởng. Có lẽ anh ít nói những gì cho về anh nhưng anh chỉ nói thay và chỉ nói nhiều cho những người dân bất hạnh sống một cuộc sống lầm than trong một đất nước không có Tự Do và bất công. Anh viết lên và cất cao tiếng nói của anh qua những bản nhạc và giọng hát mong có một ngày người dân có được ấm no hạnh phúc.

Anh ngồi đàn hát bốn năm bản rồi anh đổi qua đứng đàn để hát, được vài bản rồi lại đổi qua ngồi hát. Anh thay đổi vị trí vài lần vậy anh đành thú thật với khán giả không phải anh điệu bộ gì mà là vì già rồi nên đứng lâu bị mỏi nên xin phép khán giả để đổi qua ngồi. Trông thật tội nghiệp cho một người có tấm lòng son sắt với đồng bào và quê hương.

Trước khi nghỉ giải lao, ông Nguyễn Thế Phong cho hay là những dĩa nhạc của anh không có bán ở các tiệm nhạc mà chỉ có bán trong buổi trình diễn này và đặc biệt số tiền bán được là để đóng góp cho Đền Thờ Quốc Tổ ở Melbourne. Liền sau đó những dĩa bán gần hết trong giờ nghỉ giải lao.

Trở lại chương trình phần hai, có phần đóng góp của hai em Nhân Mỹ và Nhân Ái, và anh Anh Tuấn. "Ai Trở Về Xứ Việt" được cất lên, thật là xúc động và tôi nghĩ là không riêng gì tôi mà cả hội trường đều cùng say đắm theo lời nhạc và giọng hát của anh. Dường như giọng của anh khàn và yếu đi hơn, tuy nhiên tôi cảm thấy nỗi xúc động của tôi lại càng cao hơn với tiếng đàn và tiếng hát của chính tác giả trước mắt tôi.

Cho đến giờ phải trả hall mà anh vẫn muốn hát, hát mãi. Bản cuối nầy rồi đến bản cuối khác. Theo lời yêu cầu của khán giả đã mời chị Nam Dao để được diện kiến và chia sẻ niềm vui, chị là một người bạn cùng chí hướng, người bạn đời, người tình chẳng may mắn được anh tỏ một lời tình qua những bản nhạc của anh vì như anh nói lúc bấy giờ anh đã dành hết lời nhạc của anh cho vận mệnh đất nước. Anh tiếp tục chia sẻ, tâm tình của anh về hiện tình của đất nước và ước nguyện một ngày Vinh Danh cho Việt Nam, một ngày không còn Cộng sản và đây cũng bản nhạc cuối cùng là và mọi người cùng đứng lên hát.


UserPostedImage

Trong buổi ca nhạc, thỉnh thoảng tôi lén nhìn hai đứa con của tôi để xem nó có vẻ gì chán không. Tôi biết rằng chúng không thưởng thức như tôi, nhưng âm thanh của tiếng đàn guitar và tiếng hát trầm ấm và hùng hồn của anh, với những tràng vỗ tay sau mỗi bản nhạc ít nhiều cũng thu hút và làm chúng vui theo. Trên đường về tôi hỏi con tôi xem nó có thích không thì chúng đều trả lời Yes và thêm lời giải thích thêm của chúng tôi, con tôi biết đuợc ít nhiều về cái khổ, cái đau của dân Việt, nhất là những ngày sau 30 tháng 4 năm ấy.



Úc Châu, Tháng 12 năm 2010
Người Tỵ Nạn 1982


---
Những Ca khúc cho Tự Do



Tôi và tôi nghĩ hầu hết chúng ta không ai không bùi ngùi khi nghe những bản nhạc: Chút Quà Cho Quê Hương, Ai Trở Về Xứ Việt vào cuối những năm 70 và đầu năm 80. Thế mà đã hơn 30 năm rồi nay tôi nghe lại, tôi vẫn bùi ngùi xúc động và càng làm cho tôi nhớ lại những ngày lặn lội để trốn tránh sau cuộc đổi đời năm 1975. Tôi luôn nhủ thầm dù cho tôi sống nơi đây suốt đời, tôi vẫn là một người Tỵ Nạn và những ca khúc nầy sẽ mãi mãi là những bài ca bất hủ ca ngợi cuộc đời của những người Tỵ Nạn Việt Nam lưu vong trên xứ người.

Tôi không được may mắn như nhiều người khác là được nghe và diện kiến những nhạc sĩ của những ca khúc bất hủ nầy. Tôi nghĩ lúc nầy lại khó có dịp cho tôi để được gặp họ. Nếu có chỉ là hy vọng mong manh. Đây không chỉ cho tôi mà tôi cũng mong cho những đứa con của tôi để cho chúng hiểu rõ hơn về những thảm cảnh chúng ta đã trải qua trong những ngày tháng gian nan bỏ nước ra đi.

Thế nhưng, tôi nghe và đọc trên Internet thấy có Thư Mời buổi ca nhạc của ca sĩ Phan Văn Hưng, tác giả của bài ca Ai Trở Về Xứ Việt và những bản nhạc hay khác như Thằng Bé Tát Dầu, Em Bé và Viên Sỏi, xuất hiện lại. Thật không ngờ, đây là cơ hội ngàn vàng sắp tới. Thật vậy, ngày 11 tháng 12 tới đây ca sĩ Phan Văn Hưng đến Melbourne trình diễn. Tôi lại càng quý mến anh hơn khi anh hát để gây quỹ ủng hộ cho việc xây cất Đền Thờ Quốc Tổ cho Cộng Đồng ở Melbourne. Tôi biết một ít về anh là người đã từng sinh hoạt cho Tổng Hội Sinh Viên ở Paris những năm về trước. Với những ca khúc hát cho Tự Do, lòng đấu tranh của anh thật đáng quý, đáng ngưỡng mộ.

Tôi nghe người quen kể lại rằng anh rất khổ sở khi đi hát lại. Lý do là anh đã nghĩ hát lâu rồi, và sở trường của anh trình diễn là anh vừa đàn guitar vừa hát không có ban nhạc. Bỏ đàn lâu năm nay tập dợt lại không phải là chuyện dễ, nhất là loại đàn dây kẻm. Mỗi khi anh đàn là tay anh rỉ máu, thế là anh phải ngưng cho vết thương lành lại rồi anh mới tập tiếp được. Thật là tội nghiệp!

Dù có xa xôi vạn dặm tôi sẽ cố đi bằng mọi giá để diện kiến, để ủng hộ tinh thần đấu tranh của anh, để nghe anh hát những ca khúc bất hủ, những ca khúc nói lên nổi niềm của những người Tỵ Nạm như chúng ta.

Úc Châu, tháng 11 năm 2010
Người Tỵ Nạn 1982
Linh Phuong  
#246 Posted : Monday, December 20, 2010 4:14:03 AM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

Người Viết Mướn
Tiểu Tử


Ở chợ Plateau thành phố Abidjan ( thủ đô cũ của xứ Côte d'Ivoire, Phi Châu ) ai cũng biết ông già viết mướn đó. Người ta gọi ông là " l'écrivain chinois " (ông Tàu viết mướn )

Xứ Côte d'Ivoire – thuộc vùng Phi Châu Da Đen – ngày xưa là thuộc địa của Pháp. Dân bản xứ đi học bằng tiếng Pháp. Và vì họ gồm nhiều bộ tộc, mỗi bộ tộc nói một thổ ngữ, nên họ phải dùng tiếng Pháp để hiểu nhau. Về sau, khi đã độc lập rồi, trường vẫn dạy bằng tiếng Pháp và ngôn ngữ chánh trong dân gian vẫn là tiếng Pháp. Những người ít học hay thất học thì nói " tiếng bồi ", nghĩa là tiếng Pháp không đúng văn phạm. Mấy bà buôn bán ở chợ Plateau nói trên thuộc vào thành phần này. Nhiều bà có con cái " đi làm ăn " ở Pháp hay ở Bỉ, lâu lâu cần xin gì hay cần nhắn gì, họ phải nhờ người khác viết cho cái thư. Ngoài ra, có nhiều người cần viết đơn từ thưa gởi nhưng không đủ trình độ để viết đúng từ ngữ hành chánh nên nhờ viết dùm. Do đó mới có cái nghề viết mướn.

Ở khu chợ Plateau, trước đây, chỉ có một người đàn ông trung niên người bản xứ làm nghề này. Anh ta hành nghề dưới hàng hiên khu phố nhìn qua chợ, nằm cách chợ một con đường. Chỗ hắn ngồi là một bức tường nhỏ nằm giữa hai cửa hàng bán radio của người libanais. " Dụng cụ " của anh ta là cái máy đánh chữ loại xách tay đặt trên bàn gỗ nhỏ. Anh ta ngồi trên ghế thấp vừa tầm với cái bàn, nhưng vì anh ta lớn con chân dài nên khi đánh máy anh ta phải cho hết hai chân xuống dưới bàn đưa thẳng về phía trước lòi ra một khúc, trông giống như anh ta ôm cái bàn vào lòng ! Còn " khách hàng " thì hoặc đứng hoặc ngồi xổm cạnh hai bàn chân to xù mang dép Nhựt của hắn, tỉ tê kể những gì mà họ muốn để trong thư. Anh ta gõ máy bằng hai ngón tay nhưng gõ khá nhanh, khách kể đến đâu hắn gõ theo đến đấy. Đánh xong thư, khách hàng đưa cho hắn mảnh giấy nhỏ trong đó có ghi rõ địa chỉ của người nhận thư, hắn lấy trong ba lô để dưới chỗ hắn ngồi một phong bì có dán tem sẵn, đánh máy địa chỉ, cho thư vào rồi le lưỡi liếm keo dán lại. Người khách hàng chỉ còn có cho thư vào thùng thư đứng ở góc đường gần đó. Dĩ nhiên, khi hắn tính tiền, hắn tính cả tiền giấy, phong bì, tem…Thư gởi đi Pháp hay đi Bỉ đều cùng một giá. Cho nên đã thành lệ, sau vài câu chào hỏi, khách hàng cứ đặt tiền trước lên bàn rồi đợi hắn sửa bộ kéo bàn vào lòng với cái máy đánh chữ lúc nào cũng " ngậm " sẵn một tờ giấy, là bắt đầu tỉ tê kể lể…Còn đơn từ thì hắn dùng phong bì không có tem, bởi vì khách hàng mang tay đến nộp thẳng cho cơ quan liên hệ. Loại " đơn từ " này, hắn vẫn lấy bằng giá với " thư nhà ", bởi vì, theo hắn giải thích, viết cho hành chánh khó gấp mấy lần viết cho thân nhân. Bớt con tem nhưng thêm nhiều công suy nghĩ !

Một hôm, có ông già á đông – ốm nhom, già khú – đi lang thang với điếu thuốc trên môi, ngang qua đó nghe tiếng đánh máy lọc cọc nên tò mò đứng lại nhìn. Đợi anh đen làm xong công việc, ông già mới chào hỏi làm quen. Anh đen rất ngạc nhiên vì ông ta nói tiếng Pháp rất trôi chảy rành rọt, không giống những người á đông mà anh đã từng gặp hay quen biết. Ông già ghé đít ngồi lên bệ thềm gần đó, hỏi :

- Ông làm nghề gì vậy ?

Anh đen nhăn răng cười :

- Viết thư dùm người ta, người ta trả tiền. Ông không thấy bà hồi nãy cầm phong bì đi sao ?
- Thấy. Nhưng mà hồi nãy hai người nói với nhau bằng thổ ngữ nên tôi không hiểu.

Ngừng một chút, ông già lại hỏi :

- Làm ăn có khá không ?
- Ố ! Cũng tạm được.

Hắn chỉ qua bên chợ :

- Khách hàng của tôi là mấy bà buôn bán ở bên kia. Họ không biết chữ, mà con cái họ thì đi làm công bên Pháp bên Bĩ hết. Thành ra, ngày nào cũng viết dùm vài cái thư, lai rai…Với lại ở xứ này, người ta hay thưa gởi kiện cáo lắm nên có công việc làm hoài !

Rồi hắn nhìn ông già từ đầu đến chân :

- Còn ông ? Ông làm nghề gì ở đây ?
- Già quá đâu có ai mướn. Ở không, đi lang thang.

Anh đen lại nhìn ông già ra vẻ tội nghiệp :

- Rồi lấy gì sống ?
- Sống nhờ con. Con gái ở nhà làm nem. Thằng em nó đạp xe đi bán. Khá chật vật !
- Ông người Tàu hả ?
- Không. Tôi người Việt Nam.

Nói xong, ông già thở dài. Tội nghiệp cho cái xứ Việt Nam của ông ! Nhược tiểu đến mức độ mà người dân khi ra ngoại quốc cứ bị thiên hạ gọi là người Tàu !

Ông già đưa bao thuốc lá mời anh đen :

- Hút một điếu chơi.
- Cám ơn. Tôi không biết hút thuốc.

Ngừng một chút, anh ta hỏi :

- Nhà ông ở đâu ?
- Ở tuốt trên Cocody, gần nhà thờ.
- Xa quá há. Rồi ông đi bằng gì xuống đây ? Xe buýt hả ?
- Đi bằng xe đạp. Đạp xuống thì dễ, đạp về leo dốc mới mệt !

Anh đen lại nhìn ông già một lúc, mới nói :

- Ông nói tiếng Pháp rành quá mà không đi làm việc cũng uổng.
- Già như tôi thì còn làm được gì ?
- Tuổi tác ăn nhập gì, trình độ văn hoá mới cần chớ !

Ông già hít mấy hơi thuốc, suy nghĩ. Một lúc sau ông hắng giọng rồi hỏi :

- Ông thấy tôi làm cái nghề viết mướn được không ?

Anh đen nhăn răng cười hớn hở :

- Được chớ ! Được chớ !

Rồi đề nghị :

- Ông cứ ngồi kế bên đây ! Đừng ngại gì hết ! Cả khu Plateau chỉ có một mình tôi làm nghề này. Có thêm ông càng vui.

Thấy dễ dàng quá, ông già đứng ngẩn ra, chưa kịp nói lời nào thì anh ta nói tiếp :

- Vậy, sáng mai ông đem máy đánh chữ ra, nghen.
- Tôi không có máy đánh chữ. Tôi viết tay được không ?

Giọng anh đen hơi xìu xuống :

- Ồ…cũng không sao. Cứ ra đây đi, rồi tính.

Ông già mừng rở, bắt tay anh đen, nói " Cám ơn ! Cám ơn ! Ông tốt bụng quá !", rồi đi xăng xớm về chỗ để xe đạp trước ngân hàng gần đó, mở khoá lấy xe phóng lên đạp đi mà nghe như vừa được bơm vào người thêm nhiều sinh lực !

Mấy hôm sau, ông già xin được của hội nhà thờ một cái bàn và ba cái ghế bằng nhôm loại xếp được để đi pique-nique. Ông mua một mớ giấy viết thư, phong bì, tem, bút bi rồi đạp xe đạp chở bàn ghế đến ngồi cạnh anh đen, hành nghề viết mướn. Buổi sáng đó, trước khi rời nhà, ông lẩm bẩm :" Bữa nay đúng là một ngày đẹp trời !"…

Ông già ngồi đã ba hôm, chẳng có một ai đến nhờ viết ! " Khách hàng " cứ nhờ anh đen. Thấy vậy, anh ta an ủi :

- Đừng buồn. Từ từ rồi sẽ có khách. Tại ông không có máy đánh chữ nên người ta không biết đó thôi.

Một hôm, có hai bà cùng đến một lúc. Anh đen tiếp một bà rồi nói với bà kia :

- Nếu bà gấp thì bước qua ông đồng nghiệp của tôi đây, ổng giúp cho. Ổng viết tay, nhưng cần gì ! Viết tay hay đánh máy cũng vậy thôi ! Điều cần thiết là viết làm sao cho người đọc hiểu.

Bà khách ngần ngừ một lúc rồi bước qua ngồi lên cái ghế xếp trước mặt ông già. Như thông lệ, bà ta đặt tiền lên bàn rồi bắt đầu kể lể bằng thứ tiếng Pháp không có văn phạm. Ông già ngồi chống càm, lắng tai nghe.

Thấy ông viết mướn không viết gì hết, bà khách ngừng kể, lấy làm lạ nhìn ông :

- Sao ông không viết ?
- Thưa bà, tôi đang nghe bà kể, đây.

Bà ta chỉ anh đen :

- Sao kỳ vậy ? Ông làm không giống anh này ! Với anh ta, khi tôi bắt đầu nói là anh ta bắt đầu gõ. Còn ông thì không nhúc nhích gì hết !

Ông già phì cười, giải nghĩa chầm chậm :

- Xin lỗi. Tôi phải nghe bà kể hết những gì bà muốn nói cho người con của bà, rồi tôi mới sắp xếp câu văn để viết. Bà biết không, viết thư phải viết cho mạch lạc thì người con của bà mới hiểu được hết cái ý của bà, bà hiểu không ?

Bà khách ngần ngừ rồi gật đầu. Ông già đốt điếu thuốc, nói tiếp :" Bây giờ, xin bà kể lại. Từ từ kể lại, tôi nghe ". Bà khách liếc nhìn ông rồi nhìn vội xuống hai bàn chân của bà, thấp giọng kể…Bà khổ lắm, buôn bán ế ẩm, con dâu mang bầu đứa thứ năm gần sanh mà cứ đau rề rề, mấy đứa cháu nội đi mót khoai mót củ nhưng không đủ ăn, bà đã gởi ba cái thư xin tiền thằng con, xin nó thương vợ thương con của nó nheo nhóc, chắc thư đã đi lạc nên không thấy hồi âm, bà khổ lắm, không biết thằng con ở bên Pháp còn sống hay đã bị cái gì rồi…Bà khách ngừng kể, kéo ống tay áo lên lau nước mắt.

Nghe xong, ông già viết mướn, chừng như xúc động, làm thinh hít mấy hơi thuốc dài. Bà khách len lén nhìn ông rồi lại nhìn xuống chân của bà, hai bàn chân cùi đày nằm trong đôi dép cao su rách bươm lấm lem bùn đất. Bà đợi. Suy nghĩ một lúc, ông già mới lấy giấy viết. Lâu lâu, ông ngừng lại nhìn xa xăm qua chợ nằm phía đối diện như để tìm chữ tìm câu. Rồi lại cuối đầu viết tiếp.

Viết xong, ông hỏi :

- Bà cần tôi đọc lại không ?

Bà khách chớp chớp mắt, lắc đầu. Bà đưa cho ông địa chỉ của người con, ông chép lên phong bì đã dán tem, cho thư vào dán lại rồi trao cho bà khách. Bà cầm thư lật qua lật lại nhìn như thiếu tin tưởng, rồi đứng lên làm thinh đi về hướng thùng thư đứng ở góc đường. Ông già nhìn theo, lòng nghe chơi vơi như chính ông đang đi gởi thư cho thằng con…

Ngày nào ông già viết mướn cũng mang đồ ra ngồi cạnh anh đồng nghiệp đen, nhưng không phải ngày nào ông cũng có khách. Lâu lâu, có dư người thì anh đen " đẩy " qua cho ông. Anh ta nói đùa :" Đồng nghiệp mà ! Phải giúp nhau chớ ! " Ông cười chua chát :" Cám ơn ! Cám ơn ! Nhờ lòng tốt của anh mà tôi cũng vớt vát được một hai người ".

Một hôm, anh đen bỗng hỏi :

- Hồi trước ông làm gì ở Việt Nam ?
- Buôn bán.

Ông không muốn nói hồi đó ông là chủ hai nhà thuốc tây, khá giàu.

- Rồi tại sao ông đi qua đây vậy ?
- Tại làm ăn không được. Tại…tại nghèo.

Ông không muốn nói " cách mạng " đã tịch thâu tài sản của ông, gia đình ông sống cầu bơ cấu bất ở vùng kinh tế mới, vợ ông chết ở trên đó, ông và hai đứa con trốn về thành phố sống chui như bầy chó hoang, ăn nhờ ở đậu…

- Bộ ông có quen ai bên nây hả ?

Đến đây thì ông già không giấu giếm gì hết :

- Đâu có. Tôi đâu có quen ai. Tôi nghe nói Nhà Nước Côte D' Ivoire dễ dãi và tốt bụng nên tôi viết đại một lá thư dài gởi thẳng cho ông Tổng Thống, trong đó tôi kể hết hoàn cảnh bi đát của tôi. Tôi viết mà không có hy vọng gì hết.
- Ồ…Tại ông không biết chớ Tổng Thống Houphouet của tụi này rất bình dân và thương người lắm !
- Bây giờ thì tôi biết. Bởi vì sau bức thư của tôi, tôi nhận được visa và luôn vé máy bay cho ba cha con tôi nữa. Chuyện thật khó tin.
- Gì mà khó tin ? Tổng Thống tụi này hay làm những " cú " ngoạn mục như vậy lắm ! Chắc ông viết thư cũng phải hay lắm nên mới làm xúc động " Le Vieux " ( Ông Già ).

Ở Côte d' Ivoire, dân chúng thương Tổng Thống Houphouet nên khi nói chuyện với nhau họ gọi ông là " Ông Già " một cách triều mến.

- Hồi đó tôi viết giống như tôi muốn than thở với một người nào đó để cho vơi nỗi thống khổ của mình, chớ đâu dè. Nhận được giấy tờ, tôi như trên trời rớt xuống !

Đến đây, ông già không nói rằng ông đã bán mấy chiếc nhẫn cất giấu từ sau trận nhà nước đánh tư sản, để chạy lo vô hộ khẩu của người bà con xa, rồi chạy lo chiếu khán xuất cảnh v.v…

Ông chỉ nói :

- Hồi qua đến phi trường Abidjan, cha con tôi không biết đi đâu ở đâu. Tôi phân trần với chánh quyền sở tại, họ điện thoại gọi hội " Anciens d'Indochine ". Nhờ hội này giúp nên tụi tôi mới có căn nhà nhỏ ở Cocody và chút vốn làm nem đi bán dạo, sống lây lất tới bây giờ…
- Tôi nghe nói người ViêtNam tỵ nạn ở Pháp ở Mỹ nhiều lắm. Bộ ông không có bạn bè bà con định cư ở các xứ đó sao ?
- Có chớ.
- Sao ông không viết thư cho họ ? Kẻ đi trước giúp người đi sau là sự thường mà.

Ông thở dài, hít mấy hơi thuốc rồi mới nói :

- Tôi có viết thư chớ. Chỉ viết thăm thôi và báo tin rằng tôi đã đến Côte d'Ivoire. Nhưng không thấy ai trả lời hết.
- Có lẽ không đúng địa chỉ chăng.
- Đúng chớ ! Nếu không đúng nó phải được trả về, bởi vì tôi có ghi rõ địa chỉ người gởi mà. Hồi ở Việt Nam người thân của họ cho tôi địa chỉ và tin tức, nói họ bây giờ ổn định và khá lắm.
- Ờ…sao vậy há ?
- Chắc họ sợ tôi xin tiền…

Ông cười khẩy một tiếng nghe như ông muốn khạc ra một cái gì chận ngang cổ họng, một cái gì vừa cay đắng vừa nhờm tởm. Ông nhớ lại hồi thời " vàng son ", bạn bè bà con của ông tới lui nhà ông ăn nhậu hà rầm, trong số đó có nhiều người đã được ông giúp đỡ cưu mang. Vậy mà bây giờ…Ông hít một hơi thuốc thật sâu rồi nhả khói ra từ từ làm khoảng trống trước mặt bị mờ đi, giống như ông muốn xoá bỏ trong đầu hình ảnh của mấy thằng bạn bè mấy người bà con mà ông vừa nhớ lại…Anh đồng nghiệp da đen suy nghĩ một lúc lâu rồi nghiêng người qua vỗ vai ông vài cái nhè nhẹ, một cử chỉ an ủi tầm thường như vậy mà ông già viết mướn bỗng thấy nó đẹp vô cùng. Ông xoay người qua bắt tay anh đen, không nói gì hết, nhưng ông chắc chắn rằng anh bạn đó hiểu là cái cám ơn của ông già Việt Nam lưu vong…

Một hôm, bà khách hàng đầu tiên của ông già viết mướn mang biếu ông hai trái xoài Caméroun ( loại xoài xứ Caméroun ngon nổi tiếng vùng Phi Châu Da Đen ) vừa cười vừa nói :

- Tôi cám ơn ông. Nhờ cái thư của ông mà thằng con của tôi hồi tâm. Nó gởi tiền về, kèm theo một cái thư dài. Nó nói nó đọc thư của ông nó khóc quá ! Nó lạy lục xin tôi tha tội cho nó. Nó nói là nó có vợ và một con ở bên Pháp nhưng nó thề sẽ gởi tiền về đều đặn để nuôi tụi này…Tôi vui quá ! Vui quá !

Bà ta nói một hơi, nói thứ tiếng Pháp " ba xí ba tú ", nhưng trong giọng nói nghe đầy xúc động. Nói xong, bà kéo ống tay áo lên lau nước mắt. Ông già nhớ lại cách đây hơn mươi bữa, bà cũng kéo áo lên lau như vậy sau khi kể lể sự buồn khổ của bà. Thì ra, cái vui cái buồn vẫn giống nhau ở giọt nước mắt !

Ông già mỉm cười :

- Tôi viết mướn, bà trả tiền, có gì đâu mà bà cám ơn ?
- Không nhờ cái thư của ông, không biết tụi này còn khổ sở đến đâu. Cám ơn ! Cám ơn !

Nói xong, bà đi trở qua chợ. Ông già đưa một trái xoài cho anh đen :

- Anh cầm lấy để chia vui với tôi !

Anh ta cầm trái xoài trên tay nhìn ngắm một lúc rồi nói :

- Làm nghề này đã hơn năm năm, tôi chưa được khách hàng tặng quà bao giờ. Ông mới ra nghề mà được như vầy là ông viết thư phải hay lắm.
- Thì cũng ráng viết vậy thôi.
- Đâu được ! Viết mà làm xúc động người đọc đâu phải dễ. Bây giờ tôi hiểu tại sao "Ông Già" đã gởi tặng ông visa và vé máy bay !

Ông già viết mướn đốt điếu thuốc, thở khói một cách sảng khoái. Ông nhớ lại ngày xưa, thuở thiếu thời, ông lúc nào cũng đứng đầu về luận văn, và về sau ra đời, ông cũng có lai rai vài ba truyện ngắn đăng báo này tạp chí nọ. Viết, đối với ông, là để giải toả tâm tư, một cách giải toả trầm lặng và sâu đậm hơn là nói. Cho nên trong đời ông, ông rất thích viết, nhứt là viết thư cho bạn, những người cũng thích viết như ông hay ít ra cũng biết viết vài dòng hồi âm hay vài chữ để hỏi thăm nhau…

Hai hôm sau, có thêm một bà mang đến mấy trái cam để cám ơn ông đã viết thư cho chồng bà có vợ đầm ở Bỉ. Rồi cứ như vậy, vài hôm là có người đến cám ơn, cho quà, khi thì chai đậu phọng ( Ở đây, sau khi ran, đậu được cho vào chai lít đầy tới miệng rồi đóng nút để giữ cho được dòn lâu. Người nghèo bản xứ hay ăn đậu phọng với bánh mì…) Khi thì mấy trái cà chua, vài bó rau cải…Có gì cho nấy, không nề hà ! Ông già nhận hết, bởi vì ông thấy làm như vậy, người cho rất vui. Cái vui của họ được bộc lộ ra một cách rất thiệt thà : họ quay lưng bước đi, vừa vỗ tay thành nhịp vừa lắc lư nhún nhảy. Lần nào ông cũng nhìn theo, thấy cũng vui lây…

Vậy rồi không biết họ đồn với nhau thế nào mà khách hàng cứ đến nhờ ông viết. Những người cần làm đơn từ cũng đến nhờ ông ! Bên anh đen đồng nghiệp thấy thưa khách. Ông già bèn đề nghị :" Tình trạng này kéo dài coi kỳ quá ! Tôi đề nghị anh bạn như thế này : tôi lãnh viết thư nhà, anh lãnh viết đơn hành chánh. Mình cứ nói đơn hành chánh phải được đánh máy cho sạch sẽ dễ đọc thì các cơ quan mới mau chóng cứu xét. Anh đồng ý không ? " Anh đen nhăn răng cười, bắt tay ông một cái đau điếng !

Từ đó, thấy khách đến, anh đen trịnh trọng nói :" Đơn từ thì ở bàn này. Thư cho thân nhân thì bước sang bàn ông bạn đồng nghiệp của tôi đây ! " Lần hồi, khách hàng cũng quen nên cả hai người viết mướn cùng có việc làm đều đặn. Và càng ngày càng đông khách.

Một hôm, anh đen hỏi :

- Tôi cứ thắc mắc : làm sao viết thư mướn mà ông viết hay được như vậy ?

- Tại anh không biết. Xưa nay tôi say mê viết. Tôi thích viết cho một người nào đó để giải bày, để chia xẻ những cảm nghĩ những suy tư của mình, chọn lời cho đúng, chọn câu cho hay…thú lắm !

Ông già ngừng nói, hít chầm chậm một hơi thuốc rồi chép miệng :

- Bây giờ tôi chẳng còn ai để mà viết. Bạn bè thì anh biết đó. Chúng nó cũng như người vừa đui vừa điếc, viết uổng công. Cho nên làm nghề viết mướn này, tôi có chỗ để viết. Tôi khổ cái khổ của khách hàng, tôi vui cái vui của khách hàng, tôi tâm sự cái tâm sự của khách hàng. Tôi viết với tất cả những xúc cảm chân thật đó,viết mà không nghĩ là mình viết mướn !

Anh đen vỗ tay đôm đốp, khen :

- Hay ! Ông nói hay quá ! Bây giờ tôi mới hiểu tại sao khách hàng mến mộ ông như vậy ! Tổng Thống tụi tôi đem ông qua đây, đúng là " Ông Già " ổng có con mắt !

Rồi hắn cười hắc hắc làm ông già cũng bật cười theo. Cả hai, không người nào nhớ rằng mình da đen hay mình da vàng, họ chỉ biết họ là hai người viết mướn…

Hai năm sau…

Một hôm ông già bỗng thèm viết cho mấy thằng bạn hồi đó. Viết cho mỗi người một cái thư, lời lẽ y chang như nhau. Viết bức thư cuối cùng cho họ. Viết để cho họ thấy rằng ông phủi đít phủi tay, dứt khoát không còn bận bịu gì nữa với quá khứ, với lớp bụi đất đã ăn bám vào ông hồi thuở " vàng son ".

Ông đốt điếu thuốc, suy nghĩ. Đại khái, ông sẽ viết :

" Thưa anh…gì gì ( hay chị … gì gì )

Tôi viết thư này để báo tin cho anh… ( hay chị… ) mừng dùm cho cha con chúng tôi. Tụi này đã định cư luôn ở Côte d'Ivoire. Bây giờ, đời sống tụi này đã ổn định, cuộc sống tương đối khá. Hai con tôi có cửa hàng bán nem ở chợ Cocody, thiên hạ đến mua cũng đông. Còn tôi thì làm nghề viết mướn, khách hàng cũng nhiều. Được như vậy là nhờ ở xứ đen này, con người thấy đen nhưng lòng dạ của họ không đen chút nào hết. Chẳng bằng người Việt mình, nhiều người bề ngoài trắng trẻo lịch sự nhưng lòng của họ chẳng những đen mà còn bạc nữa, anh… ( hay chị…) có thấy như vậy không ?..."

Nghĩ đến đó, ông già bỗng cười khan một mình !
Tiểu Tử
Hoàng Thy Mai Thảo  
#247 Posted : Monday, December 20, 2010 6:49:56 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,423

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
Bão tuyết vẫn làm giao thông tại châu Âu tê liệt


Tú Anh, rfi

UserPostedImage
Một chiếc phi cơ hạ cánh xuống phi trường Frankfurt (Đức) bất chấp tuyết rơi dầy đặc ngày 20/12/2010.

REUTERS/Alex Domanski
Hôm nay 20/10/2010, nhiều phi trường châu Âu phải ngưng hoạt động vì phi đạo bị đóng băng; hệ thống đường sắt trì trệ vì tuyết; hàng chục ngàn hành khách phải qua đêm tại nhà ga và phi trường. Đó là toàn cảnh chung tại châu Âu trong 24 giờ qua.
Theo AFP, bầu trời châu Âu từ Pháp đến Anh, Đức, bị rối loạn từ hai ngày qua vì hàng loạt chuyến bay bị hủy bỏ. Chỉ riêng tại phi trường Charles De Gaulle, Paris, khoảng 5.000 hành khách phải qua đêm ngay trên những hành lang chờ đợi do có đến 30% chuyến bay bị hủy bỏ.
Tại Luân Đôn, mặc dù phi trường Heathrow mở cửa, nhưng “ngã tư” hàng không nhất nhì thế giới phải giảm thiểu tối đa số chuyến bay. Với lớp tuyết dày 12 cm và 200 máy bay chờ cất cánh, nhân viên kỹ thuật phải bó tay và chỉ cho phép 20 chuyến bay cất cánh trên tổng số 1300 mỗi ngày.
Trên hệ thống đường sắt, các đoàn xe cao tốc nếu được phép lưu thông đã phải bị hạn chế vận tốc.
Tại thủ đô Paris và vùng phụ cận, toàn bộ hệ thống xe bus nhiều lần phải ngưng hoạt động vì trục lộ trơn trợt, gây khó khăn cho người đi làm và tác động đến sinh hoạt buôn bán trong mùa chuẩn bị lễ Giáng Sinh.
Tình trạng nghiêm trọng nhất được ghi nhận tại Bắc Âu, điển hình là Phần Lan, bị lớp tuyết phủ đến hơn 70 cm.
Đây là lần thứ ba trong vòng không đầy một tuần lể các đợt tuyết trước mùa gây xáo trộn châu Âu nhưng cùng lúc mang lại niềm vui cho trẻ con.


* Bão tuyến "đóng băng" mọi di chuyển trong dịp lễ tại Âu Châu
Tu Bich  
#248 Posted : Monday, December 20, 2010 9:07:37 AM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Thoát Hiểm Nhân Quyền
Trần Khải


Mọi chuyện có vẻ như rằng, hưởng lợi về tình hình nhân quyền nhất trong thời gian này hóa ra lại là nhà nước CS Việt Nam.
Như thế không có nghĩa, Việt Nam là nơi nhân quyền được tôn trọng và bảo vệ cẩn trọng, mà chỉ vì những lý do khó hiểu nào đó, các mũi dùi nhân quyền quốc tế lại chĩa trực diện vào các nơi khác.

Thí dụ, khối ASEAN họp đủ thứ diễn đàn quốc tế mở rộng, nhưng chỉ có Miến Điện bị la mắng về mặt nhân quyền; không nghe ai la mắng gì nhà nước CSVN. Rồi tới quả bom ngàn triệu tấn của Giải Nobel Hòa Bình 2010 thì lại rơi ngay Bắc Kinh... Nghĩa là Hà Nội tuyệt vời, giữa muôn trùng phi tiêu rợp trời, vẫn thoát hiểm như thường.
Vì sao thế? Phải chăng, nói theo kiểu mê tín dị đoan của dân mình, thì các lãnh đạo CSVN được “bà độ, ông cứu”? Hay phải chăng, Hà Nội có trang phục tàng hình nhân quyền, để khi kính chiếu yêu rọi tới thì vẫn không thấy gì? Nhưng tuyệt vời nhất cho Hà Nội, là khi Giải Nobel Hòa Bình được tuyên bố trao cho Lưu Hiểu Ba, một nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc. Bởi vì sau khi thế giới chấn động vì ảnh hưởng của một cú đấm thép từ Bắc Âu tung xa ngàn dặm như thế, và rồi nhà nước Bắc Kinh giận dữ gầm thét phản ứng như thế, tất cả mọi chuyện xảy ra tại Việt Nam đều tự nhiên trở thành “chuyện nhỏ” thôi...

Thực sự, chỉ nhìn trong vài năm qua, thế giới sẽ thấy các chuyện đàn áp nhân quyền tại Việt Nam không ở tầm mức vang dội như tại Miến Điện và Trung Quốc.

Năm 2007, hàng trăm ngàn vị sư xuống đường ở Miến Điện để đòi cải cách kinh tế cho dân chúng đỡ khổ. Nguyên cớ lúc đầu vì giá xăng dầu bị gỡ bao cấp, làm giá xăng dầu tăng 66%, và giá khí hóa lỏng để chạy xe buýt tăng giá gấp 5 lần. Do vậy, chuyên chở tăng giá, năng lượng tăng giá, kéo theo mọi thứ cùng tăng. Các vị sư đã bị đàn áp dữ dội bằng bạo lực quân đội.

Năm 2008, nhiều ngàn dân biểu tình ở vùng đất Tây Tạng, lúc đầu nguyên khởi là để kỷ niệm Ngày Tây Tạng Nổi Dậy. Một số nơi bị hôi của, cướp, đốt phá. Quân đội TQ đã đàn áp dữ dội.
Năm 2009, nhiều ngàn dân vùng Tân Cương xuống đường, lúc đầu là biểu tình ôn hòa, nhưng hai ngày sau là hàng trăm dân Hán tộc dùng bạo lực xô xát với dân bản xứ Tân Cương.

Với những mức độ lớn như thế tại Miến Điện và Trung Quốc, quốc tế sẽ thấy rằng các chuyện ở VN đều là chuyện nhỏ, bởi vì tại VN bất kỳ cuộc tụ họp nào quá 5 người đều bị vây bắt tức khắc.

Thêm nữa, những cuộc tụ họp dân oan vài chục người rồ cũng bị xe công an nửa đêm xúc đưa về các tỉnh. Và những cuộc tuần hành thắp nến của giáo dân Hà Nội để đã được CSVN hóa giải nhẹ nhàng bằng các chiêu thức vận động Vatican, để rồi đẩy Đức Giám Mục Ngô Quang Kiệt vào một góc tu viện. Chưa hết, các bất ổn tại Đồng Chiêm (Hà Nội), Cồn Dầu (Đà Nẵng), Bát Nhã (Lâm Đồng... đều được chuyển sang hồ sơ tranh chấp chủ quyền đất, giải tỏa để làm dự án, nội bộ sân chùa...
Lăng ba vi bộ tuyệt vời như thế, nên thế giới vẫn cho rằng Hà Nội nhẹ tội hơn Bắc Kinh. Bởi vì những cuộc vây bắt giới bất đồng chính kiến và những người hoạt động công đoàn ngoàì luồng tại VN đều chỉ là từng đợt vài người. Nghĩa là, VN có nặng tội, thì cũng cỡ như Cuba thôi, chứ chưa tới mức “đàn áp hoành tráng” như TQ và Miến Điện. Một điểm cũng cần so sánh rằng, chính Tòa Thánh Vatican cũng đã khéo léo dịu dàng với VN và Cuba, và lấy sự thỏa hiệp này làm chính sách căn bản, cũng vì thực tế, có căng thẳng với anh em nhà Castro và ông vua nhà họ Nông thì sẽ chỉ vô ích thôi.

Cao điểm của vở tuồng hiện nay là Giảỉ Nobel Hòa Bình 2010, thì chỉ có Bắc Kinh lãnh búa. Như thế, Việt Nam sẽ đỡ lo lắng nhiều năm, vì Giảỉ này tới Châu Á, thế nào nhiều năm sau mới quay lại châu lục này.
Điều cần thấy những ngày này: chính nhiều quan chức Mỹ cũng đã khen ngợi nhân quyền VN có cải thiện. Sao lại có chuyện như thế? Nếu ngay tận gốc thủ đô Washington DC, Hà Nội được khen ngợi về nhân quyền thì kể như khó thông qua các dự luật nhân quyền VN và dự luật trừng phạt các quan chức VN vi phạm nhân quyền (mà dân biểu liên bang Cao Quang Ánh đã trình ra).

Hoặc, có thể thấy, hệt như tuần này chúng ta đã thấy dự luật DREAM Act, một dự luật nhằm ân xá sinh viên học sinh di dân lậu, thông qua Hạ Viện được, nhưng tới Thượng Viện là bị hoãn liền. Nghĩa là tối đa, dự luật nhân quyền VN chỉ qua được Hạ Viện, mà viễn ảnh này chưa chắc đã có thể xảy ra, vì thực tế Đảng Cộng Hòa đang nắm quyền kiểm soát Hạ Viện trong khi đảng này chỉ quan tâm về sức bành trướng của Trung Quốc.

Cũng cần ghi nhận rằng, mới hôm Thứ Tư 9 tháng 12 năm 2010 tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã có cuộc gặp gỡ giữa Phụ tá Ngoại trưởng là ông Michael Posner với một số đại diện các tổ chức nhân quyền và chính trị của cộng đồng Việt Nam. Nội dung bàn về các vấn đề nhân quyền và lao động tại Việt Nam và ông Posner muốn thu nhận những ý kiến để chuẩn bị cho cuộc họp với chính phủ Việt Nam tại Hà Nội vào tuần tới nhằm cải thiện tình trạng nhân quyền trong nước và yêu cầu thả những tù nhân chính trị.

Chức vụ Phụ Tá Ngoại Trưởng là chức vụ cao hàng thứ 3 tại Bộ Ngoại Giao Mỹ, chỉ đứng sau Ngoại Trưởng Hillary Clinton và hai vị Thứ Trưởng Ngoạị Giao là James Steinberg và Jacob J. Lew. Chức Phụ Tá Ngoại Trưởng cũng có thể dịch là Trưởng Phòng của Bộ Ngoại Giao đặc trách về một lĩnh vực chuyên môn.

Bản tin Việt Báo hôm Thứ Sáu ghi rằng:
“Vị đại diện của bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi, Phó Tổng Thư Ký Đảng Dân Chủ Việt Nam đã đặt vấn đề với ông Michael Posner là nhà cầm quyền Việt Nam đã bỏ tù một cách không chính đáng những nhà đấu tranh dân chủ trong đó có Tổng Thư Ký Đảng Dân Chủ là luật sư Lê Công Định, Chủ tịch Phong trào Tập hợp Thanh niên Dân chủ là Nguyễn Tiến Trung và Điếu Cày Nguyễn Văn Hải vẫn còn bị giam mặc dù đã hết hạn án tù.
Ông Michael Posner nhắc tới chuyện Việt Nam vào tháng 5 năm 2010 đã chấp nhận các nguyên tắc luật pháp của Hội Luật Sư Hoa Kỳ và Hoa Kỳ hi vọng là sẽ có những thay đổi lớn lao về tình trạng trao đổi thương mại và luật lao động vào năm 2011.

Bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi đã gởi lời cám ơn đến ông Phụ tá Ngoại trưởng Hoa Kỳ về những nỗ lực của ông và nhờ ông yêu cầu chính phủ Việt Nam phải trả tự do cho tất cả các tù nhân chính trị ngay tức khắc và vô điều kiện.

Ông Posner nói rằng chính phủ Hoa Kỳ sẽ tiếp tục áp lực với Hà Nội về vấn đề cải thiện nhân quyền và yêu cầu trả tự do tất cả các tù nhân chính trị trong cuộc họp sắp tới vào hai ngày 13, 14 tháng 12, 2010.”(hết trích)

Như thế, Mỹ-Việt sẽ nói gì về nhân quyền trong 2 ngày 13 và 14 tháng 12-2010?
Có thể là phía Mỹ sẽ nói, “quý vị hên lắm, may mà Lưu Hiểu Ba được giải Nobel, chứ nếu Giảỉ này trao cho một người Việt nào thì kể như quý vị rách việc. Thêm nữa, quý vị phải cảm ơn Hoa Kỳ vì Bộ Ngoại Giao Mỹ luôn luôn khéo léo bênh vực quý vị...”

Cũng có thể là phía CSVN sẽ tự nhìn nhận rằng đúng là đã có bắt nhiều người bất đồng chính kiến (không chối nổi chuyện này, cả thế giới đều biết), nhưng cũng đúng là có đưa ra tòa xử theo “đúng luật pháp của VN” (bảo đảm có bản án sẵn, chỗ này sẽ được Hà Nội im lặng, muốn hiểu sao cũng được), đúng là VN cũng vây bắt những người viết blog (Hà Nội sẽ đắc ý nói rằng, quý vị cũng bắt người sáng lập WikiLeaks đấy thôi, cũng vì thiếu 2 bao cao su, còn chúng tôi con cháu Bác Hồ thì lại thừa 2 bao cao su), và đúng là chúng tôi có bao vây kinh tế các gia đình của những người viết blogs, và vân vân, và vân vân.

Tuy nhiên, Hà Nội sẽ nói thêm, rằng thế giới Tây Phương (Mỹ-Châu Âu) phải biết rằng đừng có vì một vài người bất đồng chính kiến mà đẩy chúng tôi sang hàng ngũ phên dậu cho Bắc Triều, kiểu như anh Chí Phèo Bắc Hàn...

Có một số chi tiết cho thấy rằng Mỹ muốn kết thân với Việt Nam bất kể mọi đàn áp nhân quyền. Bởi vì thực tế trong ngoại giao, Mỹ đã kết thân với rất nhiều nước vi phạm nhân quyền. Thí dụ, bất kể Israel bị hầu hết thế giới chỉ trích việc bao vây nhiều thị trấn Palestine, Mỹ vẫn xem Israel là “môi hở, răng lạnh” của Mỹ, bởi vì Israel là thành trì để ngăn các nước Ả Rập đầy bất trắc. Và bất kể mọi nghị quyết kết án và trừng phạt Israel, Mỹ vẫn ngang nhiên phủ quyết hoặc bất tuân hành như thường.

Thí dụ nữa, bất kể Saudi Arabia nhiều năm nằm trên danh sách CPC để trừng phạt vì lý do đàn áp tôn giáo, Mỹ vẫn xem Saudi là bạn chí thân “phên dậu” để mở căn cứ ở Saudi thời Cuộc Chiến Vùng Vịnh lần đầu, nhằm đóng quân giúp Saudi (bây giờ đã rút quân xong, ra khỏi là năm 2003), từng đưa Hạm Đội Thứ 5 tới bảo vệ tuyến hàng hải ở Vịnh Ba Tư để giúp bạn Saudi.

Và gần nhất, vào ngày 20-10-2010, Bộ Ngoại Giao Mỹ loan báo cho Quốc Hội Mỹ ý định bán đợt vũ khí lớn nhất lịch sử Mỹ: đơn Saudi đặt mua vũ khí Mỹ trị giá 60.5 tỉ đôla.

Hóa ra, nhân quyền chỉ là nói bên bàn họp nhân quyền thôi. Còn chuyện quốc gia Hồi Giáo Saudi Arabia đàn áp các tôn giáo khác, thì chỉ là “chuyện nhỏ,” hay có đàn áp nữ quyền thì đó là chuyện Mỹ không muốn bàn tới, bất kể đó là chuyện cho cưới 4 vợ, hay bắt quý bà che mặt, hay bắt phảỉ có người thân hộ tống khi ra đường phố... Đó là chưa kể chuyện Saudi Arabia cấm ngặt đồng tính luyến ái (nhân danh tôn giáo).

Như thế, Việt Nam thực ra còn đỡ hơn Saudi Arabia, nhiều người Mỹ sẽ nghĩ như thế, vì nữ quyền và đồng tính quyền cũng còn có chỗ thương lượng ở VN (bởi vì đạo của Mác-Lê-Hồ không cấm?).

Trên đàì VOA, hôm Thứ Năm 9-12-2010, bản tin nhan đề “Đại sứ Mỹ: Các vụ bắt bớ giới bất đồng chính kiến gia tăng tại VN” đã có những lời nhận xét từ ông Đạị Sứ Mỹ, trích như sau:
“Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội nói rằng Việt Nam đang gây khó khăn cho những người bất đồng chính kiến trong việc bày tỏ quan điểm của họ, với sự gia tăng các vụ bắt bớ trong thời gian gần đây.

Đại sứ Michael Michalak hôm thứ Năm nói rằng tính minh bạch trên Internet đã bị “tấn công” liên tiếp tại Việt Nam, với những giới hạn mới được áp đặt đối với các blogger và cà phê internet, cũng như các hành động xâm nhập các trang mạng chỉ trích nhà nước.

Đó là phát biểu của Đại sứ Michalak trước một diễn đàn đánh dấu Ngày Nhân Quyền Quốc Tế hôm thứ Sáu. Ông nói trong năm nay, 24 người đã bị bắt giữ, và 14 người khác bị kết tội tại Việt Nam, chỉ vì “đã bày tỏ quan điểm của mình một cách ôn hòa.”

Trong khi nhiệm kỳ Đại sứ của ông sắp sửa kết thúc, trong 3 năm phục vụ tại Việt Nam đại sứ Michael Michalak đã chứng kiến sự kiện Washington và Hà Nội xích lại gần nhau trong các lĩnh vực thương mại và an ninh. Ông cho biết ông cũng thấy có cải thiện trong vấn đề tự do tôn giáo trong thời gian ở Việt Nam...”(hết trích)
Tuyệt vời là ông Đại Sứ. Vừa mới nói một câu chỉ trích Hà Nội, liền vuốt ve ngay câu kế tiếp.

Đại Sứ Michalak nói ông cũng thấy có cải thiện trong vấn đề tự do tôn giáo trong thời gian ở Việt Nam. Ông đã nói như thế, thì làm sao 2 dự luật của DB Cao Quang Ánh thông qua được? Mà nếu qua được Hạ Viện, thì cũng không thấy có cơ qua nổi Thượng Viện. Khỏi cần tới ông Đại Sứ Lê Công Phụng du thuyết DB họ Cao làm chi cho mệt.
Bởi vậy, Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam là ông Lê Thành Ân có ra Đà Nẵng tắm biển, nhưng không nghĩ tới chuyện thăm Giáo Xứ Cồn Dầu gần đó.

Bây giờ lại thêm chuyện ông Lưu Hiểu Ba lãnh giải Nobel 2010. Thế giới sẽ gật gù, rằng đúng thế, VN còn nhẹ tội hơn Miến Điện và TQ, và thậm chí cũng còn có chỗ đỡ hơn là Saudi Arabia.
Thế giới chỉ thấy rằng TQ đang nổi giận, nhưng lại không thấy rằng VN đang vui mừng vì đã có đàn anh lãnh đạn giùm.
TRẦN KHẢI
hongvulannhi  
#249 Posted : Monday, December 20, 2010 12:41:02 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Cha Giám tỉnh DCCT VN gặp UBND Quận 3

Đăng Bởi admin Lúc 13/12/10 10:35 PM

VRNs (13.12.2010) – Sài Gòn - Kính thưa quý cha, quý thầy và anh chị em cộng tác viên DCCT,

Ngày 7/12/2010 cha Vinh sơn Phạm Trung Thành, Giám tỉnh DCCT VN nhận được thư mời số 879 của chủ tịch UBND Quận 3 ra làm việc vào ngày 10/12/2010. Nội dung thư nói rằng: làm việc về những vi phạm của một số linh mục DCCT tại 38 Kỳ Đồng, quận 3.

UserPostedImage

Đúng ngày giờ trong thư mời (14g00 ngày 10/12/2010) cha Giám tỉnh cùng đi với cha Giuse Đinh Hữu Thoại, Thư ký HĐQT Tỉnh và thầy Phêrô Phạm Công Thuận. Con xin ghi lại những nội dung chính của buổi làm việc này để thông tin với quý cha, quý thầy và anh chị em.

UserPostedImage

LM Đinh Hữu Thoại, LM Phạm Trung Thành
và TS Phạm Công Thuận trước khi ra gặp UBND Quận 3

Tiếp phái đoàn DCCT là bà Nguyễn Thị Lệ, chủ tịch UBND Q.3, ông Nguyễn Anh Xuân nhân viên UBND Q.3, ông Nguyễn Hoàng Giang, Phó Ban Tôn giáo – Dân tộc TP, ông Nguyễn Đức Hạnh, Chánh VP UBND Q.3 và một thanh niên không được giới thiệu danh tánh cũng như chức vụ và vai trò trong buổi làm việc.
Trước tiên, ông Nguyễn Đức Hạnh, chánh VP UBND Q.3 tuyên bố lý do:
“Trong thời gian vừa qua, một số linh mục, tu sĩ DCCT VN có một số hoạt động vi phạm Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo, vi phạm Nghị định 22/2005, Nghị định 97/2008. UBND Q3 đã có công văn số 1258 gửi cho linh mục Phạm Trung Thành, Bề trên Giám tỉnh DCCT VN. Những hoạt động của các linh mục DCCT gắn liền với trách nhiệm của linh mục Giám tỉnh DCCT VN. Vì những lẽ đó, hôm nay UBND Q.3 mời linh mục Giám tỉnh lên làm việc theo tinh thần của thư mời số 789 ngày 6/12/2010.

Xin giới thiệu: bà chủ tịch UBND Q.3, Nguyễn Thị Lệ; cùng làm việc với bà chủ tịch là ông Nguyễn Hoàng Giang, phó ban Tôn giáo – Dân tộc TP và một số cán bộ, chuyên viên của văn phòng Ủy ban, và tôi là Nguyễn Đức Hạnh, chánh văn phòng UBND Q.3 làm thư ký của buổi họp hôm nay…

Chúng ta làm việc trên tinh thần công khai, cởi mở nhưng có một số quy định. Vì trong thư bà Lệ chủ tịch UBND Q.3 chỉ mời linh mục Phạm Trung Thành làm việc, nên những vị đi cùng với linh mục Giám tỉnh chỉ được phát biểu khi có sự đồng ý của bà chủ tịch.”
Sau đó bà chủ tịch UBND Q.3, Nguyễn Thị Lệ nói:
“Trong thời gian vừa qua, một số các hoạt động sai phạm của một số linh mục DCCT tại 38 Kỳ Đồng. Những sai phạm này gắn liền với trách nhiệm của Bề trên Giám tỉnh DCCT. Hôm nay chúng ta làm việc trên tinh thần cởi mở, thẳng thắn. Thứ nhất là lợi dụng các vụ việc xảy ra như ở 42 Nhà Chung, giáo xứ Thái Hà ở Hà Nội, Tam Tòa ở Quảng Bình, chủ trương khai thác Bô-xít ở Tây nguyên, cũng như xử lý của nhà nước đối với các phần tử lợi dụng tự do dân chủ để chống đối chế độ,… trang web tại DCCT đã đăng tải các bài viết của các linh mục, tu sĩ của Dòng cũng như một số phần tử có tư tưởng chống đối khác ở trong cũng như ngoài nước, có nội dung xuyên tạc và nói xấu chế độ cũng như chính sách của đảng và nhà nước. Đồng thời bảng tin đặt tại DCCT đã công khai dán những bài viết gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân.

Vấn đề thứ hai là lợi dụng những sự việc trên, DCCT đã đưa lên mạng những thư kêu gọi, tổ chức những buổi cầu nguyện hiệp thông với quy mô lớn, tập trung rất nhiều tu sĩ, linh mục và giáo dân từ các địa phương khác mà không đăng ký với chính quyền địa phương. Đồng thời nội dung cầu nguyện vượt quá quy định của pháp luật cho phép.

Và gần đây, có lẽ linh mục Thoại nắm rõ vấn đề nhất, ngày 8/12 đoàn kiểm tra về các hoạt động thông tin văn hóa trong quận đã tiến hành kiểm tra bảng tin tại DCCT đã được linh mục Thoại tiếp. Trên bảng tin có tất cả 18 nội dung, trong đó có 8 nội dung không thuần túy tôn giáo. Chiều hôm qua (9/12) đoàn lại đến kiểm tra xem đã thực hiện tháo gỡ những nội dung đó xuống chưa, nhưng rất tiếc là không gặp linh mục Thoại và linh mục cũng không cử ai tiếp đoàn. Đoàn đã tiến hành làm biên bản và yêu cầu tháo gỡ những nội dung đó và đã gửi lại biên bản ấy cho linh mục Thoại. Sáng nay chúng tôi chưa quay trở lại để xem, và chúng tôi sẽ tiếp tục kiểm tra hoạt động của bảng tin tại đây.”
Cha Giám tỉnh đáp lời:
“Cám ơn bà chủ tịch và ông chánh VP đã mời tôi đến đây. Cùng đi với tôi có linh mục Đinh Hữu Thoại, thư ký của tôi và tu sĩ Phạm Công Thuận, quản lý của Tu viện. Nhưng nếu quý vị không cho hai người cùng đi với tôi phát biểu thì tôi không biết phải nghĩ thế nào. Cám ơn bà chủ tịch đã cho chúng tôi biết các nội dung vừa rồi. Tôi sẽ về bàn bạc với anh em tôi và sẽ phản hồi cho quý vị xem chúng tôi đã vi phạm những gì và vi phạm tới mức độ nào. Chúng ta sống làm sao đó, chúng ta trao đổi với nhau thế nào đó để cùng nhau xây dựng đất nước, dân tộc và quê hương này. Là một tu sĩ, một công dân của nước VN, tôi yêu đất nước này, yêu dân tộc này. Tôi đã chọn đất nước này và ở lại đây phục vụ. Tôi cũng đã đi qua giai đoạn làm công nhân của xã hội này. Quý vị nắm lý lịch tôi thì biết, tôi đã tham gia biết bao nhiêu công trình xây dựng của thành phố này. Công trình cuối cùng tôi tham với tư cách một kỹ sư xây dựng chính là nghĩa trang liệt sĩ thành phố. Tôi hãnh diện về điều đó. Cho nên nếu quý vị cho rằng chúng tôi chống đối đảng và nhà nước, tôi cho rằng đó là một sự quy chụp hơi vội. Có lẽ chúng ta cần một bầu khí nói chuyện thân mật hơn để chúng ta hiểu tâm tư nguyện vọng của nhau nhiều hơn.

Bản thân tôi đã nhiều lần bị xúc phạm, nhưng tôi nghĩ đó chỉ là cách hành xử của một vài cá nhân hoặc là một nhóm nào, chứ tôi không vội cho rằng chính quyền đã xúc phạm đến tôi. Tôi đơn cử một thí dụ, cách đây hai tháng, tôi được mời đến dâng thánh lễ kết thúc cho một khóa học hội ở số 4 Tôn Đức Thắng, thì chính Ban Tôn giáo TP đến giờ phút cuối ra lệnh cho ban tổ chức không cho tôi lên làm lễ. Đó là một sự xúc phạm. Tôi là linh mục, tôi là bề trên, tôi là một vị lãnh đạo tôn giáo, tại sao lại cấm cản tôi làm lễ? Nhưng không, tôi cho đó là một sự xúc phạm cá nhân và tôi đã bỏ qua chuyện đó. Có lẽ anh Giang nắm rõ chuyện đó. Khi Ban Tôn giáo làm chuyện đó tôi cho rằng quý vị đã bị mất lợi thế trước nhân dân. Vì chương trình ghi rõ ràng: bề trên Giám tỉnh DCCT chủ tế. Thế mà giờ phút cuối tôi lại ngồi ở dưới. Lúc ấy tôi không muốn làm xáo trộn buổi lễ và cuối cùng một linh mục khác dâng lễ thay tôi. Các anh chị có thấy thiện chí của tôi không?

Còn trong quá khứ, mấy lần anh Hữu (tiền nhiệm của bà chủ tịch) viết giấy mời tôi, tôi vẫn lịch sự photo vé máy bay gửi cho anh Hữu, vì tôi đã sắp đặt công việc trước đó rồi. Sau đó tôi đã dành hẳn một tuần để anh Hữu có thể đến gặp tôi bất cứ lúc nào, nhưng có lẽ vì anh chuyển công tác nên đã không đến.”

Bà chủ tịch là người mới nhận công tác nên có lẽ không biết và không dám bàn đến những chuyện khác, bà nói hôm nay chỉ bàn đến những vấn đề bà nêu ban đầu. Bà lặp đi lặp lại nào là những việc tổ chức cầu nguyện không đăng ký, nào là trang web và bảng tin đăng những nội dung chống chế độ…
Ông Nguyễn Anh Xuân, cán bộ UBND Q.3 bắt đầu lên tiếng.
Nội dung ông nói cũng chỉ là việc quy chụp những lần tổ chức cầu nguyện hiệp thông là vi phạm pháp luật. Ông định nghĩa cầu nguyện chỉ là những việc liên quan đến giáo lý, giáo luật và đạo đức cho giáo dân. Ông cho rằng: trong những lần DCCT tổ chức cầu nguyện, có một số linh mục DCCT đã nói trước hàng ngàn giáo dân rằng “chúng ta đang sống trong một xã hội đầy dẫy bất công và áp bức”, đây là những nội dung vượt quá chức năng tôn giáo! Ông còn thêm: nói về việc đất đai, cái này lệ thuộc chính sách của đảng và nhà nước rồi. Ví dụ, chúng tôi thừa nhận trường học và hồ bơi Kỳ Đồng trước đây là của DCCT. Nhưng từ sau ngày giải phóng, thực hiện chính sách cải tại công thương nghiệp phía Nam, những cơ sở này đã do nhà nước quản lý. Đến ngày 26/11/2003 ủy ban thường vụ quốc hội đã có Nghị quyết 23, tức là không đặt vấn đề trả lại các cơ sở này nữa. Ai cũng phải chấp hành nghị quyết này. Thế mà những giáo dân ở Thái Hà đã đập phá tường rào, đó là sai. Thế thì không cớ gì mà lại tổ chức cầu nguyện cho những người này…
Cha Giám tỉnh đáp lời:
“Liên quan đến việc ông nói rằng có một số linh mục chúng tôi đã nói ‘chúng ta đang sống trong một xã hội đầy dẫy bất công và áp bức’, tôi hỏi ông: có bất công thật không?”
Đến đây, ông Nguyễn Anh Xuân ú ớ không biết nói thế nào thì cha Giám tỉnh nói tiếp: “Có chứ! Đại biểu quốc hội đã nói rất nhiều. Chúng ta phải giúp nhau làm sao cho đất nước mình càng ngày càng bớt đi những điều đó. Những câu nói như thế tôi cho là không sai.

Ông vừa nhắc lại vấn đề trường học và hồ bơi Kỳ Đồng, xin lỗi ông, tôi rất đau lòng. Chính sách của nhà nước thì chúng tôi không còn cách nào khác là phải chấp hành, vì chúng tôi đang sống trong đất nước này mà. Thế nhưng miếng đất đó giá bây giờ không dưới hai ba chục cây vàng một mét vuông, tới tám ngàn mấy trăm mét vuông. Thế mà quý vị vô tư khai thác, kinh doanh lấy tiền, trong khi đó đất ấy là của chúng tôi. Giả như ông có một chiếc xe máy trong nhà, tự nhiên có người vào lấy đi làm ăn kiếm tiền, ông có chịu được không? Giá mà làm cơ sở từ thiện hay giáo dục như trường Kỳ Đồng, chúng tôi không nói tới (chỗ này ông Nguyễn Anh Xuân dạ dạ). Nhưng rõ ràng đây là kinh doanh. Thật sự ngay hồ bơi Kỳ Đồng chúng tôi cũng chưa lên tiếng. Lẽ ra chúng tôi góp đất, quý vị khai thác kinh doanh, chúng ta làm thành một công ty cổ phần, lãi ra chia đều cho đề huề, vui vẻ, thí dụ vậy.”

Đến đây bà chủ tịch tiếp tục nói lại 2 điểm bà muốn trao đổi là nội dung và quy mô các buổi cầu nguyện, mà theo bà những cái này nằm ngoài chương trình, không xin phép.
Sau đó linh mục Đinh Hữu Thoại bắt đầu lên tiếng:
“Theo lời ông Hạnh lúc đầu là không cho hai người đi theo linh mục Giám tỉnh phát biểu với lý do là chỉ mời linh mục Giám tỉnh. Vậy tôi hỏi: chỉ có mình bà chủ tịch mời linh mục Giám tỉnh đến đây, thì những lời ông Nguyễn Anh Xuân vừa phát biểu là với tư cách nào? Ông là người cộng tác của bà chủ tịch, đúng không? Tôi cũng là người cộng tác của linh mục Giám tỉnh. Cho nên tôi đề nghị ông Chánh VP UBND rút lại cái lệnh lúc nãy đi và tất cả chúng tôi đều có quyền lên tiếng.

Đây là ý kiến của tôi: tôi đã đọc hết Pháp lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo và Nghị định 22/2005 thì không có chỗ nào cấm chúng tôi cầu nguyện và tổ chức cầu nguyện cả. Không cấm thì chúng tôi có quyền làm. Liên quan đến nội dung cầu nguyện thì đó là một vấn đề lớn, ví dụ như vụ việc ở Thái Hà như ông Nguyễn Anh Xuân nói tôi thấy là sai hết. Tôi có đủ chứng cứ pháp lý (quý vị có thể theo dõi trên mạng trong thời gian xảy ra vụ việc) và quý vị không đủ lý lẽ để nói rằng việc làm của 8 giáo dân Thái Hà là sai. Quý vị không đủ bằng chứng để kết tội 8 giáo dân đó…”
Đến đây thì bà chủ tịch cắt ngang: “Vấn đề Thái Hà không liên quan đến nội dung bàn ở đây”.
Linh mục Thoại nói tiếp: “Tôi đang nói đến vấn đề cầu nguyện mà. Chính vì chị đã nói đến việc tổ chức cầu nguyện cho 8 giáo dân Thái Hà nên tôi mới đề cập chứ. Chị có nói đến vấn đề cầu nguyện cho Thái Hà, cầu nguyện cho Tòa Khâm sứ, thì tôi chứng minh việc cầu nguyện đó là đúng. Ngay cả nếu 8 giáo dân Thái Hà có tội đi nữa, thì chúng tôi vẫn có thể tổ chức cầu nguyện chứ. Cầu nguyện cho họ ăn năn để trở thành người tốt nếu đúng là họ có tội. Tuy nhiên, việc chứng minh họ có tội, quý vị cũng không làm được.

Về vấn đề trang web và bảng tin, chúng tôi thấy không có chỗ nào trong Nghị định 97/2008 cấm chúng tôi đặt bảng tin đó cả. Về trang web cũng vậy, trang web của chúng tôi không thuộc diện phải đăng ký. Qúy vị cứ về xem lại Nghị định 97 đi. Về bảng tin mà ngày 8/12 vừa qua đoàn kiểm tra của quận đã xuống, thì tôi đã ghi rõ trong phần ý kiến của mình nơi biên bản làm việc: Tôi xác nhận có 18 bài trên bảng tin. Còn nhận định của đoàn kiểm tra là ý kiến riêng của đoàn. Tôi không đồng ý với nhận định đó. Rồi tự nhiên hôm qua quý vị đường đột xuống bảo chúng tôi tháo gỡ xuống là tháo cái gì? Căn cứ trên biên bản làm việc nào để buộc chúng tôi tháo xuống?

Tôi nhận thấy tinh thần làm việc của buổi hôm nay, của bà chủ tịch cũng như của ông Nguyễn Anh Xuân phát biểu, tất cả quý vị đang đứng ở ghế của quan tòa để phán xét chúng tôi. Chúng ta cần làm việc trên tinh thần tôn trọng sự thật, chứ không phải tùy tiện quy chụp. Tôi nghĩ quý vị nên thay đổi thái độ làm việc, gợi lên vấn đề và cùng suy nghĩ, chứ không phải cứ khẳng định chúng tôi có tội thì làm sao làm việc được?”
Ông Nguyễn Hoàng Giang, Phó Ban Tôn giáo – Dân tộc TP lên tiếng:
“Lời lẽ của ông chánh VP UBND về việc không cho hai vị đi cùng linh mục Giám tỉnh phát biểu có vẻ hơi cứng ngắc. Thực ra nghe câu đó thì hơi nặng nề, nhưng tôi nghĩ ý của ông chánh VP UBND là chúng ta cần trao đổi trên tinh thần cởi mở và rõ ràng. Không xen ngang khi người khác phát biểu mà cần lắng nghe cho hết ý…

Căn cứ theo Pháp lệnh tôn giáo, Nghị định 22 và Thông tư 14 về vấn đề thông tin thì tôi có ý kiến thế này: trong thời gian qua, từ cuối năm 2008 đến nay, như linh mục Thoại đã nói và tôi đồng ý là Pháp lệnh tôn giáo không cấm cầu nguyện, và các cấp chính quyền cũng không thể cấm các tôn giáo cầu nguyện. Nhưng làm gì cũng có quy định của pháp luật. Ở đây, tôi xin trích dẫn điều 2 của Pháp lệnh tôn giáo quy định rõ: cầu nguyện là giáo dục tín đồ lòng yêu nước, thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân, ý thức chấp hành pháp luật. Như vậy xin thưa:

- Nếu như có những linh mục đứng trên tòa giảng mà nói những câu như ‘Chúng ta đang sống trong một xã hội đầy dẫy bất công’. Đồng ý xã hội nào cũng có bất công, nhưng ‘một đất nước đầy dẫy bất công’ thì vấn đề lại khác. Nhà nước vẫn thừa nhận nguồn gốc các tài sản là của quý vị. Dân gian thường nói “của đau con xót”, nên quý vị bức xúc cũng là lẽ thường của con người thôi. Nhưng bức xúc đó nên thể hiện theo đúng quy định của pháp luật. Nếu có gì không phải về đất đai chúng ta cứ việc khiếu kiện vì chúng ta có luật khiếu nại tố cáo, có luật đất đai. Nhưng tập trung cầu nguyện đông người, truyền giảng vấn đề nọ vấn đề kia sẽ gây nên một làn sóng tác động lên xã hội không lành mạnh. Còn về nội dung rao giảng, tôi nhớ có một lần, một linh mục DCCT trên tòa giảng đã nói những lời rất khó nghe…

- Tôi đồng ý rằng người có tội hay không có tội là do tòa án quy định bằng một vụ án cụ thể. Vậy 8 giáo dân giáo xứ Thái Hà khi chưa xử phúc thẩm hay chưa xử sơ thẩm, thì DCCT mà cụ thể là tu viện 38 Kỳ Đồng lấy tư cách gì khẳng định là họ vô tội khi rao giảng?

- Tôi có trao đổi với một số người am hiểu về thánh nhạc, thì tôi biết bài “Mẹ ơi đoái thương xem nước Việt Nam” của Hải Linh sáng tác trước 30/4/1975 trong bối cảnh đất nước chiến tranh. Từ sau ngày giải phóng, không còn cảnh đó nữa thì giáo hội cũng mặc nhiên không sử dụng bài đó nữa. Thế nhưng các vị đã hát bài hát đó thường xuyên trong các buổi cầu nguyện hiệp thông và còn sửa lời từ “trời u ám chiến tranh điêu tàn” thành “trời u ám bất công lan tràn”. Khi làm như thế là quý vị đã có biểu hiện về mặt pháp lý là chống chế độ rồi đấy.

- Điều cuối cùng tôi xin thưa là cổng thông tin điện tử DCCT (trang web) và bảng tin ở DCCT: như linh mục Thoại vừa mới nêu ‘đề nghị các cấp chính quyền đọc lại luật vì không có quy định nào cấm’, thì tôi xin thưa, tại khoản 1 điều 10 Thông tư 14 của Bộ Thông tin Truyền thông quy định rõ: tổ chức tôn giáo hợp pháp trên lãnh thổ VN sử dụng mạng internet trên lãnh thổ VN phải đăng ký. Và phải đăng ký với Cục quản lý phát thanh truyền hình và thông tin điện tử. Nên không thể nói trang web DCCT không phải đăng ký. Có lẽ linh mục Thoại chưa biết thông tin này nên có thể điều chỉnh lại và đi đăng ký sau. Tôi không quy chụp gì cả mà chỉ muốn nói là nếu như linh mục không biết thì có thể liên hệ với Sở Thông tin Truyền thông TP để được hướng dẫn. Về bảng tin tại DCCT, linh mục Thoại nói với đoàn kiểm tra của Phòng Văn hóa Thông tin Q.3 rằng những bài viết đăng trên đó là tải từ internet xuống cho những người không có điều kiện đọc thông tin trên mạng được biết. Giả như như thế thì các bài viết ấy phải: thứ nhất không cắt xén, ghi rõ xuất xứ, tên tác giả, thứ hai không bình luận, và thứ ba: các thông tin đó phải là các thông tin từ các cơ quan đảng và nhà nước hoặc các tổ chức đã được nhà nước cho phép cung cấp thông tin đó. Nghiêm cấm những nội dung tuyên truyền phản động chống chế độ.”
Cha Giám Tỉnh phát biểu:
“Đọc báo Tuổi Trẻ hôm nay tường thuật lại buổi họp của HĐND TP chúng ta, thì các đại biểu phát biểu rất mạnh đó chứ, mạnh hơn cả các linh mục trên tòa giảng nữa là khác. Các đại biểu nói rằng ra đường đụng công an một tí là lót tay, lót tay, lót tay. Đó là cái gì? Và ông Phó Giám đốc Sở Công an TP nhìn nhận là có. Và quả thật như vậy, trong đời sống hàng ngày, chúng ta đi taxi, hở một tí là lót tay cho công an năm chục, một trăm… Chúng tôi đề nghị các anh chị nhìn cách phản biện xã hội của chúng tôi dưới một cái nhìn nhẹ nhàng hơn để thấy được sự chân thành của chúng tôi. Phản biện xã hội chứ không phải chống đối.”
Bà chủ tịch ra dấu mời linh mục Thoại phát biểu.
Linh mục đã nói như sau: “Anh Giang có nói chúng tôi không chống chế độ trong tư tưởng nhưng chống bằng việc làm. Tôi không biết anh căn cứ vào đâu mà nói như thế. Thật ra thì tất cả những gì chúng tôi làm là chúng tôi đang giúp nhà nước chống tham nhũng, chống những hành vi cố ý lợi dụng chức vụ và quyền hạn, cố ý làm trái pháp luật. Chúng tôi lên tiếng trong những vụ việc cụ thể, liên quan đến một nhóm người cụ thể. Nếu anh nói như thế là chống chế độ là anh đã cường điệu hóa vấn đề.

Có hai vấn đề anh Giang đã nói, đó là tư cách linh mục trên tòa giảng và việc sử dụng bài hát Thánh ca. Tôi nghĩ các vấn đề này hoàn toàn không thuộc chức năng của cơ quan quản lý về tôn giáo như Ban Tôn giáo của anh. Cùng lắm là anh có thể góp ý với chúng tôi là anh có biết những điều đó. Thế thôi. Chứ cái này nằm ngoài chức năng của cơ quan quản lý về tôn giáo.

Vấn đề web và bảng tin cũng vậy. Vấn đề này sẽ do chính Bộ TTTT làm việc với chúng tôi nếu chúng tôi vi phạm. Anh có trích dẫn khoản 1 điều 10 Thông tư 14 gì đó, nhưng thật ra vì anh chưa biết gì về trang web DCCT, chúng tôi không thuộc diện phải đăng ký.

Anh có nói rằng “DCCT lấy tư cách gì khẳng định là 8 giáo dân Thái Hà vô tội?” Đây là lãnh vực của ngành luật. Một người làm luật phải biết nguyên tắc “suy đoán vô tội”, tức là trước khi anh có đầy đủ bằng chứng là người ta có tội thì đương nhiên phải xem là người ta vô tội.

Rồi bà chủ tịch nói lời phát biểu kết thúc. Cha Giám tỉnh nêu lên một nhận xét: “Thưa bà chủ tịch, tôi thấy những lời phát biểu của bà lúc đầu giờ và lúc kết luận này chỉ là một. Xem ra những gì chúng tôi nói không đi vào được con tim của quý vị.”

Bà chủ tịch đề nghị nghe ông Chánh VP đọc biên bản và mọi người cùng ký tên vào, nhưng cha Giám tỉnh nói: “Tôi nghĩ điều đó không cần thiết và chỉ mất thời gian. Quý vị cứ việc đọc biên bản rồi rự ký vào và giữ lấy, chứ chúng tôi không cần.”

Sau khi nghe ông Hạnh đọc xong biên bản, phái đoàn DCCT đứng lên chào ra về sau buổi làm việc kéo dài khoảng 90 phút.
Nhận định

Con nhận thấy bà chủ tịch không nắm vững các vấn đề xảy ra từ năm 2008 đến nay nên từ đầu đến cuối buổi họp bà chỉ lo sao cho nội dung không đi ra ngoài những gì mà bà đã chuẩn bị. Hình như ai đó đã soạn sẵn (viết tay trong vở học sinh, chỗ chữ xanh, nơi chữ đỏ), bà chỉ việc theo đó trình bày. Điều này cũng dễ hiểu vì bà là người mới vào vị trí chủ tịch thôi.

Như con đã nói, có một thanh niên ngồi bên một chiếc laptop chăm chú ghi chép, mặc dù không phải là thư ký buổi họp và không được giới thiệu trong thành phần tham dự. Nhiều khả năng người này là an ninh chìm.
Đề nghị

Qua buổi làm việc này con thấy chính quyền quận 3, ngay cả Ban Tôn giáo – Dân tộc TP, đều chưa thật sự hiểu biết về cơ cấu các Dòng tu trong Giáo hội Công giáo. Có lần con đã từng phát biểu với chính quyền rằng linh mục Giám tỉnh là người có quyền hành trên toàn quốc đối với một Dòng tu. Vì thế, cấp liên hệ và làm việc với vị Giám tỉnh phải là cấp Trung ương, chứ không thể là cấp nhỏ hơn, cho dẫu trụ sở nhà chính của Dòng tu đó nằm trên một địa bàn cụ thể. Chính kiểu làm việc chồng chéo này sẽ gây ra nhiều hệ lụy không tốt.
Cha Giám tỉnh nhận lời mời đi họp lần này là để chứng tỏ thiện chí với chính quyền địa phương, chứ đây không phải là một tiền lệ.

Saigon, ngày 13/12/2010 LM Giuse Đinh Hữu Thoại, CSsR
Thư ký – Chánh VP DCCT VN Nguồn: Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#250 Posted : Monday, December 20, 2010 5:23:34 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
CẢNH ĐỜI HƯ ẢO

UserPostedImage
Nguyễn Thượng Chánh & Nguyễn Ngọc Lan


Gót danh lợi bùn pha sắc xám,
Mặt phong trần nắng nám mùi dâu.
Nghĩ thân phù thế mà đau,
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê.
(Cung Oán Ngâm Khúc)

Dưới đây là tóm lược một số chủ-đề về dân-sinh ẩn trong các bài viết của tác giả trong thời gian qua...Tất cả cũng chỉ là một cái nhìn phiếm-diện hay chủ-quan về cuộc đời, cũng như sự phù-du của một kiếp nhân-sinh…
NTC & NNL
***
Viết cho người hay viết cho ta


http://www.advite.com/VietChoDoiThemVui.htm

Tôi không biết cái gì đã thôi thúc tôi viết báo từ mười năm nay. Phải chăng đây là một cái...nghiệp (dư) trong cuộc đời?

Tôi muốn viết để chia sẻ những hiểu biết khiêm tốn của mình về khoa học, về cuộc sống, về những suy tư của mình đối với bà con cô bác ở khắp mọi nơi nói chung, và ở Canada nói riêng.

Nói rõ là tôi không phải là một nhà văn hay một nhà báo gì hết, nhưng tôi lại…ham viết!

Mục đích của tôi là mong quý bạn sẽ tìm được giây phút thoải mái, đọc chơi trước là cười cho vui, sau là biết thêm được đôi điều mới lạ nếu không nói là chút ít hữu ích cho cuộc sống.

Cốt lõi của các bài chúng tôi viết, thường được rút ra từ các tạp chí chuyên môn và chúng tôi chỉ thêm mắm thêm muối theo kiểu của người làm bếp là ‘‘bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm’’ mà thôi.

Nói một cách khác là, xem như là chúng tôi đọc báo dùm cho các bạn vậy!

Tôi cố tránh né đề cập đến các đề tài còn đang được tranh cãi, chưa rõ ràng hay quá tế nhị, quá nóng bỏng hoặc...quá giựt gân.

Tôi né luôn những vấn đề có thể gây sự chia rẽ, nghi kỵ, tạo sự ngộ nhận, hoặc làm cho độc giả nuôi dưỡng một hy vọng hão huyền nào đó, vân vân.

Tôi cũng lờ đi những vấn đề mê tín dị đoan thiếu căn bản khoa học.

Còn về khoa học, đặc biệt là khoa sinh vật học và y học, là những môn học biến đổi không ngừng theo thời gian và theo đà những khám phá mới…Bởi lý do nầy, thỉnh thoảng tôi phải điều chỉnh lại, update lại những bài cũ tôi đã viết từ nhiều năm trước để cho chính xác, cho phù hợp với thời gian tính hơn.

Tôi tôn trọng nguyên-tắc: “nói có sách mách có chứng”!

Là người vừa cầm viết và cầm chuột, không gì sung sướng hơn và hạnh phúc hơn khi thấy bài vở của mình được chiếu cố đến, có người đọc, dù khen hay dù chê, cũng đều tốt hết!

Cái quan trọng là có người để ý đến bài của mình viết là vui rồi.

Thật ra, kết quả mà tôi có được như ngày hôm nay không phải là công sức của riêng tôi.

Đó cũng nhờ vào sự đóng góp ý-kiến và sự hỗ-trợ vô cùng quý báu của rất nhiều người.

Tôi viết chùa, viết để tự mình trau dồi thêm kiến-thức, để tự học hỏi, để giải khuây, để cho quên ngày quên tháng, để cho vui, để khỏi nghĩ quẩn, để bắt trí não làm việc (đề phòng bị bệnh Alzeihmer?), để thoát ly, và cũng để tự làm giảm bớt stress trong cuộc sống riêng tư, v.v...

Tôi quan niệm viết như là một trị liệu pháp therapy cho mình vậy!

Thế cho nên, tôi viết cho người đọc, nhưng thật ra là tôi cũng đồng thời viết cho chính tôi và cho cuộc sống của mình có được thêm phần phong phú và ý nghĩa hơn vậy!
***
Nửa đầy hay nửa lưng

http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=115&nid=149051

Cảm quan đối với một hoàn cảnh, một sự kiện bên ngoài hoặc một tình trạng bên trong cơ thể đều tùy thuộc vào cách nhìn hay thái độ của mỗi người.

Vậy, tâm trạng sướng hay khổ, buồn hay vui đều là những trạng thái tâm lý rất tương đối, và tùy theo cách suy nghĩ cũng như tùy theo tâm tánh lạc quan hay bi quan của mỗi con người!

Rượu được rót vào ly, có người thì cho rằng ly rượu chỉ được nửa lưng, trong khi người khác thì lại nói rằng ly rượu đã được nửa đầy.

Ai cũng có thể chuyển đổi một cảm giác phiền muộn, sầu não thành một trạng thái dễ chịu hơn, một biến cố ngoài ý muốn thành một dịp may, một thất bại thành một sự thành công nếu biết chấp nhận hoàn-cảnh và thay đổi tư-duy của mình.

Nếu không thay đổi được hoàn cảnh như ý mình mong muốn, thì chúng ta đành phải chấp nhận nó vậy mà thôi!

Muốn bớt khổ, chúng ta cần phải thay đổi cách nhìn vấn đề cũng như phải biết thích ứng vào hoàn cảnh hoặc tình thế mới.

Rồi, thời gian sẽ là “liều thuốc hay” giúp chúng ta thích ứng được vào với tất cả!

“God grant me the Courage to change the things I can change, the Serenity to accept those I cannot change and the Wisdom to know the difference”
***
Bóng hạnh phúc


http://www.advite.com/BongHanhPhuc.htm

Hạnh phúc là một một trạng thái chủ quan của ý thức sung mãn.

Đối diện với cùng một nghịch cảnh như nhau, có người thì lo sợ và cảm thấy khổ sở.

Nhưng ngược lại, cũng có người thì nhìn sự kiện đó một cách dửng dưng bình thản với một tâm thanh tịnh.

Có ai dám nói là mình được hoàn toàn hạnh phúc không?

Phải chăng hạnh phúc chỉ là một cái bóng hay một cứu cánh để chúng ta cố vươn tới mà thôi?

Một tôn giáo lớn thường khuyên chúng sinh chớ nên tìm hạnh phúc ở bên ngoài, vì chúng ta sẽ không bao giờ đạt tới được đâu, bởi lý do là lòng ham muốn của con người là vô giới hạn!

Muốn có hạnh phúc thật sự, thì phải cố gắng dẹp bớt ái dục và nhìn vào…bên trong chúng ta!

Hạnh phúc bắt đầu bằng sự cải hóa chính bản thân của mình vậy!
***
Tiền bạc và hạnh phúc


http://nguoivietboston.com/?p=28253

Thoạt nhìn, thì tiền bạc gắn liền một cách mật thiết với hạnh phúc, nhưng trong thực tế có biết bao nhiêu là kẻ giàu có nhưng vẫn phải triền miên lo nghĩ, đối phó hết việc nầy đến việc kia và tinh thần lúc nào cũng bị căng thẳng bất an...

Bên cạnh những người quá giàu, thì cũng có rất nhiều kẻ nghèo khó tận mạng, nghèo rớt mồng tơi, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, bệnh hoạn không thuốc chữa, cùng với trăm ngàn cái khổ chớ chẳng phải sung sướng gì đâu...

Vậy, có thể nói: tiền bạc chỉ là điều kiện CẦN chớ chưa phải ĐỦ để có được hạnh phúc!

Hạnh phúc không phải do những tác động bên ngoài đem tới, mà chung qui chỉ do cách suy nghĩ hay cách nhìn của chúng ta thế nào là hạnh phúc mà thôi!

Nhưng dù sao đi nữa, thì vừa có tiền rủng rỉnh và vừa có sức khỏe sung mãn, thì vẫn sướng hơn là vừa nghèo mạt rệp lại còn vừa bị bệnh hoạn triền miên nữa.

Ngày nay, người ta thường bảo:

“Tiền là Tiên là Phật,
Là sức bật của tuổi trẻ,
Là sức khỏe của tuổi già,
Là cái đà của danh vọng,
Là cái lọng để che thân,
Là cán cân của công lý ”.

Còn người xưa thì lại cả quyết rằng:

“Có tiền mua tiên cũng được”

(tiên nâu và tiên nữ - chú thích thêm của người viết)
***
Cảm nghĩ về hiện tượng ăn xin


http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=115&nid=149627

Bố-thí là một hạnh như lời Phật dạy!

Cũng có người bố thí có chủ đích, để mong cầu được phước, cho con cái và cho bản thân mình lúc chết được vãng sanh về cõi Tây-Phương Cực-Lạc.

Có người làm ăn lươn lẹo, chôm chĩa nhiều quá nên cần bố thí bớt để nhẹ tội với lương tâm đồng thời chứng tỏ là mình là người hào phóng, cuối năm lại còn được giảm trong phần đóng thuế nữa (nhớ xin biên nhận khi cho tiền).

Có người cho để lấy tiếng!

Có người cho vì bị ép buộc, vì sợ người ta trù ẻo làm khó dễ!

Cũng có người vì bị ép bụng phải cho (vì bạn mình ngồi cùng bàn cũng đã cho rồi, mình ngồi làm thinh sợ khó coi)!

Xét về mối tương quan giữa con người với nhau, hành động ăn xin đã tạo nên một tương quan bất-bình-đẳng.

Kẻ ăn-xin là người đứng ở vị trí có chủ đích rõ ràng...

Bằng mọi cách họ cố tình phải phơi bày ra tất cả những gì ghê tỡm nhất trên thân thể họ hoặc kể lể nỗi bất hạnh của đời họ với thâm ý gợi lòng thương cảm nơi chúng ta, và nhất là phải gây cho chúng ta một mặc cảm tội lỗi nặng nề nếu chúng ta không chịu giúp họ.

Ôi ! Ngày nay, hiện tượng ăn xin hay nghề ăn xin đã trở thành “một nghề hái ra tiền”, khoẻ ru bà rù!

Còn cho hay không, đó cho là quyền và cách suy nghĩ riêng của mỗi người.
***
Chuyện đời muôn thuở


http://nguoivietboston.com/?p=28369
*/ Phán xét người khác

=Phán xét có thể bằng lời nói, lời viết hay bằng cử chỉ hoặc bươi móc, vạch lá tìm sâu bằng thái độ thờ ơ hay ngạo mạn hoặc khinh rẻ;

=Phán xét có thể đúng hay sai, thiên vị hoặc chủ quan hay khách quan;

=Phán xét tiêu cực dường như để đả phá hay để hạ hoặc để trả thù cho bỏ ghét, thường hay thấy xảy ra hơn là phán xét tích cực để khen thưởng hoặc để giúp người ta sửa trật cái sai;

=Phán xét chịu ảnh hưởng của tình cảm cá nhân, tùy theo góc cạnh hay cách nhìn một vấn đề, tùy theo trình độ hiểu biết hay quyền lợi cá nhân, và cũng tùy theo quan điểm chính trị hay tín ngưỡng của mỗi người.

Phán xét có thể thay đổi theo tuổi tác, theo thời gian và theo không gian…

Tuy nhiên, trong xã hội cũng có một hạng người lúc nào cũng muốn chứng tỏ họ luôn luôn hơn người. Họ thường hay bác bỏ, đả kích bất cứ một hành động, một lời nói nào dù đúng hay sai của người khác.

Khoa tâm lý học gọi nhóm người nầy là những người bị rối-loạn nhân-cách ái-kỷ (narcissisme).

Ngoài ra, còn vấn đề khen chê giả dối hay trở cờ vì gió đã xoay chiều hoặc vì xã giao, để lấy lòng, để kiếm điểm, để nâng bi, thượng đội hạ đạp...

Trước mặt thì khen, nhưng sau lưng thì bỉu môi hay chửi lén, được gọi dưới danh từ đạo-đức-giả (hypocriticism).
*/ Nói xấu người khác (médisance)

=Tìm mọi cách để thành công;

Thí dụ: “Bạn có biết không, nghe nói ông A có thời đã ngồi tù về tội lường gạt, vân vân.” Theo nhà xã hội học Jean Bruno Renard, thì người nói xấu cố tình gieo rắc những tin không tốt về một người nào đó, và họ cho biết rằng đó là những tin có cơ sở đáng tin cậy?

=Để tạo mối giao hảo xã hội (pour créer un lien social);

=Thiếu lòng tự trọng (manque d’estime de soi);

=Vì họ thích nói xấu người khác (par envie);

=Vì phóng chiếu (par projection).
*/ Kết luận

Nếu không nói ra được những điều gì tốt đẹp, thì tốt hơn hết là đừng nên nói gì cả!

(If you can’t say something nice, don’t say anything at all).
***
Nói láo hay nói thật


http://www.vietbao.com/?nid=161121&pid=114&ppid=45

Sống trong một xã hội ta-bà ngày nay, nói thật quá cũng không có lợi lộc gì cả.

Móc ruột để ngoài da, có khi lại chuốc lấy hoạ vào thân!

Vậy phải nói dóc, nói láo sao?

Phải biết tùy người, tùy lúc và cũng tùy theo hoàn cảnh mà hành xử hay ứng biến!

Văn hào Pháp Pierre de Ronsard (1524-1585) đã từng nói: “Tất cả sự thành thật nào tồn tại lâu dài đều trở thành dối trá (Toute sincérité qui dure est mensonge). Tất cả sự dối trá lập đi lập lại liên tục cũng đều trở thành sự thật cả (Tout mensonge répété devient une vérité). Nghệ thuật là giả dối…Đức hạnh là giả dối…Sự thật là giả dối (L'art est mensonge... la vertu est mensonge... la vérité est mensonge" (La Pléiade)

«…Nói láo và nói láo hoài chồng chất; nói láo và nói láo hoài với chính mình; nói láo và nói láo hoài với nhau... rồi bỗng một sáng đẹp trời nào đó họ tin điều nói láo là có thật. Sự dối trá tu luyện lâu ngày thành yêu tinh…Yêu tinh trở thành một ảo tưởng của chân lý. Họ trở lại tin ảo tưởng là sự thật. Một sự thật xây dựng bằng dối trá xuất hiện như một chân lý mới mẻ còn đáng tin cẩn hơn là sự thật của chính nó…» (Trần Kiêm Đoàn, Tu Bụi, Titan Corporation, 2006, trang 124).
Nghiêm Xuân Cường. Mộng và Thực. Thư Viện Hoa Sen
***
Có bệnh thì vái tứ phương: «Lang băm»


http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=117&nid=135994

Lợi dụng tâm lý sợ chết hay còn nước còn tát của người bệnh, mà nhiều con buôn, lang băm, pháp sư, kể cả một số nhà khoa học, khoa bảng, tiến sĩ, bác sĩ, dược sĩ, giáo sư đại học thiếu lương tâm, chụp lấy thời cơ bằng cách làm mê hoặc hay bán ảo tưởng cũng như hứa hẹn đủ điều để bệnh nhân nuôi hy vọng hầu trục lợi.

Những bệnh mà họ cam đoan trị dứt toàn là những bệnh ngặt nghèo như viêm gan B, C, cancer ác tính và kể luôn cả bệnh Sida nữa. Họ trưng ra cả lố photocopy thơ cảm ơn của những bệnh nhân Việt lẫn Tây đã được họ chữa cho hết bệnh (?).

+ Đối mặt với một căn bệnh ngặt nghèo, bệnh nhân cần và có quyền được xin tham khảo với một vài nhà chuyên môn khác để có thêm ý kiến của họ. Ý kiến thứ hai (second opinion) là điều rất cần thiết phải có;

+ “Tận nhân lực rồi mới tri thiên mệnh” và nên nhớ rằng: sinh-lão-bệnh-tử là một quy luật của tạo hóa, một thực tế mà không một ai có thể thoát ra khỏi được hết;

+ Khoa-học vô-lương-tâm chỉ làm băng hoại tâm hồn (Science sans Conscience n’est que ruine de l’Âme. Rabelais).
***
Đàn ông và Đàn bà


http://nguoivietboston.com/?p=25376

Đàn ông và Đàn bà là hai thế giới khác biệt nhau.

Họ khác nhau về thể chất, về tinh thần, về cách suy nghĩ, cũng như về cách hành xử trong cuộc sống. Bởi những nguyên nhân này mà thường xảy ra biết bao nhiêu là chuyện hục hặc, hiểu lầm lẫn nhau, cơm không lành canh không ngọt, khắc khẩu, ảnh hưởng không nhỏ đến hạnh phúc gia đình…

Đấy là chưa nói đến cá tánh bẩm-sinh của từng cá nhân.

Ngoài ra, tôn giáo, giáo dục gia đình và kinh nghiệm sống cũng chi phối phần nào cách suy nghĩ và hành động của họ.

Tác phẩm nổi tiếng đã đạt số bán kỷ lục 8 triệu cuốn: «Why Men Don’t Listen & Women Can’t Read Maps by Barbara and Allan Pease, Broadway Books, New York».

Tất cả đều là kết quả nghiên cứu và nhận xét của giới y-khoa và của các nhà tâm-lý-học Tây Phương.

Đúng hay sai đều do bạn đọc tự mình phê phán lấy!
***
Nghỉ hưu, một giai đoạn mới trong cuộc đời


http://nguoivietboston.com/?p=27323

Nghỉ hưu, một giai đoạn mới trong cuộc đời bắt đầu với không đồng hồ, không ngày, không tháng, không stress, muốn ngủ lúc nào, muốn thức lúc nào, ăn lúc nào, ăn ở đâu, ăn cái gì, ăn làm sao và cho dù mưa rơi bão tuyết cũng chẳng làm cho ta lo lắng nao lòng.

Ôi, tự do ơi, một lần nữa, ta chào đón mi bằng hai tay và...cả hai chân!

Đồng vợ đồng chồng, tát bể...Hưu cũng cạn!

“Retirement has been a discovery of beauty for me. I never had the time before to notice the beauty of my grand kids, my wife, the tree outside my very own front door. And, the beauty of time itself.” Harman Jule

“I'm retired - goodbye tension, hello pension!”

-- Author Unknown
***
Bóng hoàng hôn


http://www.vietbao.com/?nid=159398&pid=45&ppid=45

Tại hải ngoại, phần lớn người Việt tị-nạn thuộc thế-hệ thứ nhứt, trong đó có tác giả, nay cũng tròm trèm trên dưới 60 -70 tuổi hết rồi.

Đối mặt với một xã-hội và một nền văn-hóa Tây Phương tôn trọng chủ nghĩa cá nhân, hoàn toàn khác biệt với nền văn-hóa Việt Nam coi trọng chữ hiếu, nhưng một số không ít bậc cha mẹ VN vẫn còn mang nếp suy nghĩ cũ, độc đoán trong cách dạy dỗ, bắt buộc con cái phải thế nầy thế nọ.

Cách suy nghĩ của lớp cha mẹ thường là nguyên-nhân đưa đến những sự va chạm với lớp con cháu trưởng thành bên nầy.

Sau đây là những điều thường thấy ở một số ít bậc cha mẹ Việt Nam tại hải ngoại:

-/ kiểm soát, tò mò, soi mói đời tư của con, chen vào cuộc sống tình cảm của tụi nó;

-/ kiểm soát thơ từ lẫn bạn bè của con cái;

-/ ép buộc con cái phải học những ngành nghề mà cha mẹ mong muốn;

-/ quyết định thay tụi nó mà không hỏi ý-kiến trước, ỷ “tau đẻ mầy ra, tau muốn làm gì thì làm” hoặc “áo mặc sao qua khỏi đầu”;

-/ muốn vô phòng con cái thì cứ tự nhiên xô cửa vô, muốn ghé nhà của chúng thì ghé đại không thèm báo trước;

-/ trách con cái sao không ghé thăm mình, không thèm gọi phone cho Pa Má, hoặc than phiền con cái sao không biết mua sắm cho Pa Má cái nầy cái nọ, vân vân;

-/ có ý-kiến linh tinh làm tụi nó bực mình bực mẫy.

Gia đình nào may mắn hay “có phước” thì con cái còn biết nghe lời đôi chút, ngược lại thì đành cắn răng mà chịu thôi. Vì làm quá, thì dám mất luôn con. Bye bye, Sayonara...

Nhưng hãy bình tâm suy nghĩ lại cho cùng, thì không phải lỗi của ai hết!

Đó chẳng qua là do hoàn-cảnh xã-hội hay môi-trường sống đã thay đổi nhiều rồi mà thôi!

Và cũng bởi con cái không thể hiểu được hết cha mẹ cũng như cha mẹ không thể hiểu được hết con cái…

Cha mẹ cần nên biết con cái mình cũng có những nhọc nhằn, khổ tâm của chúng trong cuộc sống riêng tư.

Nói chung, xã hội ngày nay không phải như xưa nữa, mà đã khác biệt nhiều rồi về cả hai mặt tinh-thần và vật-chất!
***
Vấn đề người già bị ngược đãi


http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=115&nid=165331

Ngược đãi người già là một hiện-tượng không mới mẻ gì trong xã hội ngày nay. Nó có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào và có liên quan đến tất cả mọi người.

Nhưng đau đớn nhất là hầu như đa số chúng ta đều coi thường nó.

Mọi người đều nhắm mắt lại và cố ý ngoãnh mặt làm ngơ, kể cả một số người già.

Họ không muốn chấp nhận một sự thật đau lòng và cũng không muốn nhìn nhận họ là nạn-nhân của sự ngược đãi đến từ bên trong gia đình.

Đó mới thật sự là điều đau đớn nhất./.
***
Nước mắt chảy xuôi


http://www.khoahoc.net/b...0210-nuocmatchayxuoi.htm

Tầng lớp người già càng ngày càng gia tăng thêm lên mãi nên, và một số các cụ chọn giải pháp được sống ở nhà để được gần gũi với con cháu. Một số khác thì sống trong các nhà già hay viện dưỡng lão nursing home...Đây là nói trong bối cảnh các cụ sống tại hải ngoại mà thôi.

Còn tình hình người già bên nhà sống ra sao, người viết không được rõ lắm, nhưng nghe nói là cần phải có tiền càng nhiều thì càng tốt, càng dễ tính hơn…

Cho dù chọn giải pháp nào đi nữa các cụ cũng vẫn có thể là nạn-nhân của sự ngược đãi và bạo hành đến từ người thân trong gia đình hoặc từ nhân viên chăm sóc trong các nhà già!

Đó có thể là sự ngược đãi về mặt tinh-thần thí dụ như thiếu lễ độ, đóng mạnh cửa, nói nặng nói nhẹ, nhục mạ, chửi bới, xỏ xiên, xem các cụ như con nít, bỏ mặc các cụ ở trong phòng hay trên ghế và không thèm nói năng giải thích gì cả, vân vân; và về mặt thể-xác thí dụ như xô đẩy, mạnh tay mạnh chân, không thay tã lót, lợi dụng tiền bạc, vân vân.

Thưòng thì các cụ không dám tố cáo các hành-vi trên vì sợ bị trả thù!
Riêng đối với một số người thân trong gia đình thì họ cũng xem thường việc nầy và cho là không có gì quan trọng cho lắm (?).
Các cụ rất buồn khổ và chỉ còn biết…khóc thầm mà thôi!
***
Vinh danh tuổi già (Éloge de la vieillesse-Hermann Hesse)


http://www.yduocngaynay....hanh_VinhDanhTuoiGia.htm

*/ Tuổi già là cội nguồn của bao nhiêu là nỗi đau đớn, nhưng đồng thời cũng của biết bao là vẻ đẹp. Để đối phó với các khổ ải của cuộc đời, trong ta đã nẫy sinh ra sự lãng-quên, sự mệt-mỏi và lòng nhẫn-nhục. Tất cả có thể được biểu hiện ra bằng những hình thức như thái độ buông xuôi, lòng chai đá và thờ ơ vô lường. Nhưng nhìn dưới một ánh sáng hơi khác thì đây chính là sự thanh-tịnh, sự kiên-nhẫn, sự hài-hước, ở mức độ khôn ngoan cao cả của Lão-giáo.

(La veillesse est source, page 71)

«La vieillesse est source de bien des douleurs, mais de bien des grâces aussi. Pour nous mettre à l’abri de nos problèmes et de nos souffrances, elle fait naître en nous l’oubli, la fatigue et la résignation. Cela peut prendre la forme de l’indolence, de la sclérose, d’une indifférence atroce : mais sous l’ éclairage légèrement différent d’un autre instant, cela peut apparaître comme la tranquilité, de la patience, de l’humour, un degré élevé de sagesse, le Tao».

*/ Trong mảnh vườn của tuổi già, nở rực ra những loài hoa mà ngày xưa chúng ta không hề nghĩ tới việc đem đi trồng: cây ‘quý-phái’ đã đơm hoa ‘kiên-nhẫn’... Tâm ta trở nên thanh tịnh và khoan dung hơn. Khi lòng hăng say muốn can thiệp nhưng hành động đã giảm đi, thì khả năng quan sát hay lắng nghe về thiên nhiên và con người lại càng tăng lên thêm.

(De la vieillesse, page 67)

«Dans ce jardin de la vieillesse s’épanouissent des fleurs que nous aurions à peine songé cultiver autrefois. Ici fleurit la patience, une plante noble. Nous devenons paisibles, tolérants et plus notre désir d’intervenir, d’agir diminue, plus nous voyons croître notre capacité à observer, à écouter, la nature aussi bien que les hommes».

*/ Mọi hành trình nhằm mục đích đưa ta vào buổi sáng ban mai hay vào đêm tối tĩnh mịch, đều dẫn đến cõi chết và sau cùng là một sự tái sanh đau đớn mà linh hồn rất e ngại.

Nhưng khi đến được cuối hành trình, tất cả đều phải chết, tất cả đều tái sanh vì Mẹ Vĩnh Cửu luôn luôn đưa chúng ta trở lại với cuộc sống đời đời.

(Nous avons enduré maladies et souffrances, page 152)

«Tout cheminement, qu’il ait pour but le soleil ou la nuit, aboutit à la mort, à une renaissance douloureuse que l’âme craint. Mais les hommes font le chemin, tous meurent, tous renaissent car la Mère éternelle les ramène infiniment à la vie».
***
Tâm sự của một y công - Chăm sóc cuối đời


http://old.thuvienhoasen...het-tamsucuamotycong.htm

Chăm sóc bệnh nhân ở giai đoạn cuối đời, chẳng hạn như thay tã, thay quần áo, làm giường, giúp người bệnh trong vấn đề ăn uống, vấn đề vệ sinh, vân vân là những công việc thường lệ của một y công.

Đây là một job không phải dễ, rất cực nhọc, đòi hỏi một sức chịu-đựng và một sự nhẫn-nại hơn người…Không phải ai cũng có thể làm được hết đâu!

Làm việc trong một khung cảnh đượm vẻ thê lương, nặng nề và đầy rẫy những âm thanh rên xiết suốt ngày suốt đêm. Và người y công cũng không dám nói là mình chai đá dửng dưng trước những cảnh đời quá phủ phàng, những kiếp nhân sinh quá phù du được!

Nói theo Phật giáo, thì chúng ta vì lòng luyến-ái nên cố bám víu vào cuộc sống, và vì tâm vô-minh nên không biết đó là tạm bợ, là giả tạo… Không có gì là thật cả!

Cố tình không bàn đến cái chết là cố tình không muốn biết đến lực lượng đông đảo bác-sĩ, y-tá, y-công và thiện-nguyện-viên đang ngày đêm hy sinh, họ không quản ngại khó khăn và sát cánh bên nhau để giúp cho các bệnh-nhân cuối đời có được những giây phút thoải mái trước khi thanh thản nhắm mắt về cõi vĩnh-hằng!
***
Trợ tử, nên hay không nên?


http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=117&nid=159702

Trợ-tử (euthanasia) còn là một vấn đề rất cấm kỵ, rất tế nhị ở phần lớn các quốc gia tiến bộ nhất là các quốc gia phương Tây nơi mà cuộc sống con người rất được quý trọng.

Được biết giúp người khác tự vận hay trợ tử là một hành động không được pháp luật nhìn nhận, và cho phép tại hầu hết các quốc gia tiến bộ trên thế giới kể cả Việt Nam!

Tuy nhiên, cũng có một số ít quốc gia cho phép trợ tử trong những trường hợp thật đặc biệt.

Đó là Thụy Sĩ, Hòa Lan, Bỉ, Hoa kỳ (tiểu bang Oregon và mới gần đây có thêm tiểu bang Washington nữa).

Người già là một gánh nặng cho xã hội...Tuổi già thì phải bệnh, phải chịu đau đớn về tinh thần lẫn thể xác. Sau một thời gian thì phải ra đi đúng theo quy luật của tạo hóa...

Y phí trang trải để giúp các cụ kéo dài thêm cuộc sống tạm bợ không ngừng gia tăng thêm mãi đặc biệt là tại những quốc gia Âu Mỹ!

Khu vực săn sóc cuối đời (soins palliatifs), nhà già, viện dưỡng lão đã trở nên những nhu cầu cấp thiết trong xã hội ngày nay!

Tại Québec, thăm dò trong giới bác-sĩ chuyên khoa spécialistes và bác-sĩ gia đình cho biết, có 75% đều ok cho việc trợ-tử!

Thăm dò Crop cho thấy, 80% dân Québec đều thuận việc trợ-tử nếu chính tay người bệnh-nhân làm đơn xin!

Tại Hoa Kỳ, theo cuộc thăm dò Gallup năm 2002 cho thấy, 72% dân chúng Mỹ thuận việc trợ tử!
***
Chết có thật đáng sợ hay không?


http://nguoivietboston.com/?p=12512

“Life is uncertain, death is certain”

“Mạng sống vốn mong manh, cái chết là điều cầm chắc”

Đây là tựa đề quyển sách giá trị nói về cái chết... Sách do Venerable Dr Sri Dammananda viết và được thầy Thích Tâm Quang dịch. Sau đây là tóm lược các ý chính:

-/ Chúng ta không nên sợ chết vì đó là lẽ thường tình, là quy luật tất yếu của tiến trình của vòng sanh tử mà thôi. Có sanh thì phải có tử, để có thể tái sanh theo nghiệp lực nhân quả luân hồi;

-/ Nghĩ cho cùng cái chết chỉ là một giai đoạn của cái sống. Có chết đi thì mới có được một cái sống mới khác tiếp nối theo được.

Vậy, hãy trân quý cuộc sống ngày hôm nay. Không nên để tâm-trạng sợ chết trở thành một nỗi ám-ảnh thường xuyên làm ô nhiễm cuộc sống hiện tại của chúng ta.

Hãy quên sự chết đi để mà sống.

Chừng nào chết thì chết!

Chết thì dễ, là việc đương nhiên rồi.

Nhưng, sống sao cho đáng sống mới là...việc khó!

Không có gì là thật cả!

Đời là vô thường!
Montreal, Dec 16, 2010
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#251 Posted : Monday, December 20, 2010 7:42:30 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,423

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
Uống loại cà phê Trung Nguyên này sẽ... nằm luôn hết ngồi dậy...

UserPostedImage

Cách đây ít lâu, tôi tình cờ đọc được một nghiên cứu thị trường, trong đó nói rằng người Việt Nam rất tự hào là có một ly cà phê "đậm, đắng, đặc quẹo mà người nước ngoài không uống được".

Thế nhưng, họ không biết rằng niềm tự hào của họ được xây từ những điều dối trá.

Để mở đầu, tôi có thể nói sơ lược như sau: về nguyên thuỷ thì ly cà phê thường được uống nóng. Rồi dân ta, đặc biệt dân Nam, với thói quen thưởng thức dễ dãi của mình, chuyển qua uống đá . Từ đây, loại cà phê nguyên chất không còn được ưa chuộng nữa: trong nước đá, nó loãng ra và không đủ đắng, còn mùi hương thì bị ức chế bởi nhiệt độ thấp.

Và thế là các nhà sản xuất tìm đủ mọi cách để tăng đắng và tăng mùi hương.

UserPostedImage

Nhưng cuối cùng, Trung Nguyên đã trở thành nhà phát minh vĩ đại nhất trong lịch sử chế biến cà phê Việt Nam, với việc cho thuốc ký ninh vào cà phê với liều lượng cao. Một biện pháp hết sức rẻ tiền và hiệu quả.
Thêm vào đó, TN đã tiên phong trên con đường trộn hương nhân tạo nồng độ cao vào cà phê để tăng hương. Xét về mặt sức khoẻ, điều này cũng không hại lắm, nếu như không có mặt của một chất cầm hương, đó là gelatin. Vốn dĩ gelatin được sản xuất từ da và xương trâu – bò, và đủ tiêu chuẩn làm thực phẩm thì rất đắt, nên TN đã xử dụng gelatin Trung Quốc làm nền cầm hương.

Và thứ này thì hiển nhiên là không dùng được cho thực phẩm, vì nó chứa rất nhiều preservatives.

Thế nhưng, những điều đó của riêng Trung Nguyên thì không có gì đáng nói. Điều đáng nói là khi ly cà phê TN được coi là tiêu chuẩn, thì tất cả các cơ sở sản xuất cà phê khác đều noi theo tấm gương sáng này, nếu không thì không bán được.

Và như thế, không ngoa khi nói rằng, TN đã đẩy ly cà phê Việt vào một ngõ cụt dối trá.

P/S: Nếu bạn không tin, cứ dùng phin pha một ly cà phê TN bằng nước lạnh, rồi nếm thử cà phê nước ấy xem có vị gì.

Ký ninh từ lâu đã được dùng gây đắng trong thực phẩm, và với hàm lượng nhỏ thì nói chung là an toàn. Tuy nhiên, lượng ký ninh được xử dụng trong cà phê TN nói riêng và TẤT CẢ CƠ SỞ cà phê ở Việt Nam nói chung là ở mức khoảng 0,06~0,08 g/kg thành phẩm, tức khoảng 0,0015g~ 0,002g cho mỗi phin.

Ở mức này, thì việc uống cà phê lâu dài sẽ dẫn tới triệu chứng cinchonism, tức ngộ độ ký ninh, bao gồm dị ứng trên da, ù tai, chóng mặt, giảm sức nghe và nhiều triệu chứng phụ kèm khác.

Còn chuyện bạn hỏi về "tại sao không có ai lên tiếng" – well, Chi cục Y tế dự phòng Đaklak biết rõ mọi chuyện này – nhưng ở Việt Nam nói chung trong mọi vấn đề đều rất khó lên tiếng, và luôn luôn có một kênh nào đó để "bịt". Cho nên, điều nhỏ nhất mà tôi nghĩ có thể làm được là tự mình không uống cà phê, và khuyến khích những người mình biết không uống cà phê.

Tôi chỉ nói những gì tôi chắc chắn hiểu rõ. Tôi không có ý vơ đũa cả nắm. Và cũng hy vọng các bạn không nghĩ thế .

Nhưng về sự giả dối trong ly cà phê Việt Nam, có lẽ các bạn cần hiểu rõ hơn một chút.

So với cách uống cà phê ở phương Tây, thì ly cà phê Việt được uống theo kiểu dễ dãi: cứ mỗi phin cà phê pha ra khoảng 40 ml, được đổ vào một ly nước đá khoảng 180 ml.

UserPostedImage
Và chính nước đá mới là nguồn gốc của mọi tai hoạ...

Một ly cà phê nguyên chất không đủ đắng để có thể cảm nhận được vị đắng trong chừng ấy nước đá. Nhiệt độ thấp sẽ ức chế sự bay hơi của hương cà phê tự nhiên. Và cảm quan nó không đủ độ sánh để không bị tan loãng ra trong chừng ấy nước đá.

Cho nên, trước Trung Nguyên từ lâu, thì cách hoàn thiện một ly cà phê đá đã bao gồm 3 việc: tăng đắng cho cà phê, tăng mùi hương cho cà phê, và tăng độ sánh cho cà phê.

Cách chế biến như sau: Để tăng đắng, người ta thường dùng hạt cau rang. Để tăng mùi, người ta thường dùng nước mắm nhĩ. Còn để tăng độ sánh, người ta dùng đường nấu ra caramel.

Trung Nguyên chỉ là nhà sản xuất đưa ra những giải pháp hiệu quả nhất, và biến nó thành chuẩn "cà phê ngon" mà thôi.

Điều đáng nói nhất là khi nó đã thành chuẩn, thì sự giả dối nghiễm nhiên thành chân.

Về phía các nơi sản xuất, thì họ nghĩ – khi những chỉ tiêu chất lượng quan trọng bậc nhất của cà phê – độ đắng, mùi hương, độ sánh – đều là hàng giả, thì việc gì họ phải dùng cà phê thật làm gì?

Về phía người uống, khi đã quen với thuốc ký ninh và đường caramel, họ mất khả năng thưởng thức cà phê ngon thực sự. Và tôi tin chắc rằng, nếu được uống một ly cà phê Blue Mountains hay Hawaii Kona, họ sẽ chửi thề.

UserPostedImage

Và thế người Việt, đa số, đều gật gù trước một ly nước màu đen, pha từ đậu nành hay bắp rang, trộn với caramel, hương liệu, thuốc ký ninh và nghĩ rằng họ đang uống thứ cà phê " có văn hoá đặc biệt nhất ".
Đến đây chính là một ngõ cụt – Ngõ cụt dối trá.

Câu hỏi cuối – chính xác ai phải chịu trách nhiệm cho tình trạng đó? Sự dễ dãi của người uống? Sự xu thời của Trung Nguyên? Hay là trình độ quản lý chất lượng thực phẩm của Nhà nước ?
TTN
-
P/S: Một điểm cuối , bạn uống ly cà phê Việt, cảm thấy nôn nao, tim đập mạnh, thì đấy có khả năng là ngộ độc ký ninh chứ không phải là do tác dụng kích thích trí não của cà phê như bạn vẫn nghĩ.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#252 Posted : Tuesday, December 21, 2010 1:33:30 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,423

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Chứng cớ đàn ông nhớ dai !



Người vợ thức giấc lúc đêm khuya và không thấy ông chồng trên giường. Bà khoác vội áo choàng và xuống lầu tìm ông ta. Bà thấy ông đang ngồi ở bàn ăn với một ly cà phê nóng để trước mặt. Ông ta có vẻ đăm chiêu , chỉ nhìn chăm chăm vào bức tường. Bà thấy ông quẹt nước mắt và nhấp một ngụm cà phê.

"Có chuyện gì vậy anh?", bà rón rén vào phòng và hỏi nhỏ , " Sao tự nhiên anh xuống đây vào giờ này?

Người chồng nhìn ly cà phê, trả lời "Hôm nay là ngày kỷ niệm 20 năm mình gặp nhau ".
Bà vợ không thể nào tin là ông chồng nhớ đến như vậy, bà cũng sụt sùi khóc theo.
Người chồng tiếp, "Em còn nhớ 20 năm trước khi mình bắt đầu hẹn hò? Lúc đó anh 18 và em chỉ mới 16," ông chồng nói một cách trịnh trọng.
Lại một lần nữa bà vợ lau nước mắt nghĩ rằng chồng bà thật chu đáo và nhạy cảm.
"Vâng, em nhớ chứ " bà trả lời.
Người chồng ngập ngừng. Lời nói thật khó diễn tả. " Em còn nhớ lúc ba em bắt quả tang tụi mình ngồi trong ghế sau của xe anh?"
"Vâng, em nhớ", người vợ đáp , nhẹ ngồi xuống ghế cạnh chồng.
Người chồng tiếp." Em có nhớ là ba em đã chĩa cây súng vào mặt anh và quát lên , " "Hoặc là mày phải lấy con gái tao, không thì tao cho mày vào tù 20 năm , mày muốn đằng nào?
"Em cũng nhớ như vậy " người vợ thỏ thẻ đáp. Ông chồng gạt thêm giọt nước mắt trên má và nói , "Lẽ ra anh được ra tù ngày hôm nay."


PROOF THAT MEN DO REMEMBER

A woman awakes during the night to find that her husband is not in bed. She puts on her robe and goes downstairs to look for him. She finds him sitting at the kitchen table with a hot cup of coffee in front of him.

He appears to be in deep thought, just staring at the wall. She watches as he wipes a tear from his eye and takes a sip of his coffee.

'What's the matter, dear?', she whispers as she steps into the room, 'Why are you down here at this time of night?

The husband looks up from his coffee, 'It's the 20th Anniversary of the day we met'.

She can't believe he has remembered, and starts to tear up.

The husband continues, 'Do you remember 20 years ago when we started dating? I was 18 and you were only 16,' he says solemnly.

Once again, the wife is touched to tears thinking that her husband is so caring and sensitive.

'Yes, I do' she replies.

The husband pauses. The words were not coming easily. 'Do you remember when your father caught us in the back seat of my car?'

'Yes, I remember', said the wife, lowering herself into a chair beside him.

The husband continued. 'Do you remember when he shoved the shotgun in my face and said, 'Either you marry my daughter or I will send you to prison for 20 years?'

'I remember that, too' she replied softly.

He wiped another tear from his cheek and said, 'I would have gotten out today.'
Mắt Buồn  
#253 Posted : Tuesday, December 21, 2010 3:02:32 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,651

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Ðức Giáo Hoàng: Giáo hội cần suy ngẫm điều đưa đến lạm dụng tính dục

Monday, December 20, 2010

UserPostedImage

Ðức Giáo Hoàng Benedict XVI trong buổi trao đổi lời chúc Giáng Sinh
với giới chức Tòa Thánh Vatican, kêu gọi giáo hội tự xem lại mình
xem “có gì sai lạc trong thông điệp” đến nỗi dẫn tới tình trạng
linh mục lạm dùng tình dục giáo dân. (Hình: AP Photo/Alessandra Tarantino, Pool)

VATICAN CITY (AP) - Ðức Giáo Hoàng Benedict XVI hôm Thứ Hai nói với giới chức Tòa Thánh Vatican rằng phải suy ngẫm về trách nhiệm của giáo hội trong vụ tai tiếng lạm dụng tính dục trẻ nhỏ, nhưng cũng quy tội cho xã hội bên ngoài quá buông thả để cho việc đối xử tệ hại với trẻ em thành điều bình thường, đến mức đáng sợ.

Trong thông điệp truyền thống cuối năm gửi đến các hồng y và giám mục, Ðức Giáo Hoàng Benedict XVI nói rằng các tiết lộ về lạm dụng tính dục trong năm 2010 đưa vấn đề đến “một tầm mức không thể tưởng tượng” đòi hỏi giáo hội phải chấp nhận “sự nhục nhã” đó như một lời kêu gọi cần sự cải cách.

“Chúng ta phải tự hỏi chính mình là có sự gì sai lạc trong thông điệp của chúng ta, trong cách sống đời sống của người Thiên Chúa Giáo, để cho điều như thế có thể xảy ra,” Giáo Hoàng nói.

Tuy nhiên, Giáo Hoàng Benedict cũng nói rằng vụ tai tiếng này phải được nhìn rộng ra hơn trên bình diện xã hội, trong đó dâm thư liên hệ đến trẻ nhỏ ngày càng được xã hội coi như điều bình thường và việc sử dụng ma túy cũng như các chuyến du lịch với mục tiêu tính dục ngày càng tăng.

“Sự hủy hoại về tâm lý đối với trẻ nhỏ, trong đó con người bị xếp ngang với món đồ vật, là một chỉ dấu đáng sợ của thời đại,” Ðức Giáo Hoàng nói.

Ngài cũng nhắc lại là cho đến gần đây như trong thập niên 70 việc ấu dâm không bị coi là một tội lỗi ghê gớm mà chỉ là một phần của nhiều cách sống mà nhiều người từ chối không phê phán, lấy lý do là xã hội đã dễ dãi, khoan dung hay đây chỉ là sự khác nhau về giá trị đạo đức.

Khi hàng loạt tố giác về các linh mục phạm tội ấu dâm bùng ra, các giới chức trách nhiệm trong hàng giáo phẩm thường bênh vực các quyết định trước đó là cho những người phạm tội được đi tư vấn thay vì tố cáo với nhà chức trách, với lý do rằng đó là cách thức thông thường ở xã hội thời bấy giờ. Chỉ năm nay, Vatican mới đưa lên trang mạng của mình các hướng dẫn không chính thức cho các giám mục về việc thông báo với cảnh sát nếu luật lệ địa phương đòi hỏi.

“Trong thập niên 70, ấu dâm được coi là điều gì bình thường,” theo Giáo Hoàng. “Trong đời sống bên ngoài xã hội cũng như trong giáo lý Công Giáo, không có gì tự nó là điều xấu hay tốt. Mà chỉ có khá hơn hay dở hơn.”
“Ảnh hưởng của những lối suy nghĩ đó đã rõ ràng ngày hôm nay,” ngài nói. (V.Giang)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#254 Posted : Tuesday, December 21, 2010 9:11:51 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,423

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
Nữ Hoàng Nhạc Twist 60s / Túy Phượng ( Kich Dong Nhac Ngoai Quoc ) Hoa Hậu Đông phương


Tác Giả: Saigon Echo sưu tầm

Thứ Hai, 29 Tháng 6 Năm 2009

Nữ nghệ sĩ Túy Phượng, ái nữ của cố nữ kịch sĩ Túy Hoa. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu. cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn.


Túy Phượng là con của Túy Hoa nhưng được Anh Lân hết lòng thương yêu và bồi đắp trên bước đường nghệ thuật trình diễn . Túy Phượng giống mẹ như đúc , nhưng nõn nà và bốc lửa hơn mẹ . Vóc mình cô nhỏ nhắn, cân đối , tay chân xinh xắn . Khuôm mặt cô kết hợp bởi những đường nét cong và mềm và thanh tú . Đó là một vẻ đẹp chanh cốm, mũm mĩm làm say lòng người . Cô đoạt giải Hoa Hậu Đông phương trong đó có Kiều Chinh tham dự.

Tuổi thơ của Túy Phượng thật là gian nan vất vã phải cùng Mẹ bôn ba khắp nơi.Năm 1945, hai mẹ con do tránh chiến tranh và bom đạn đã sang Cam bốt sinh sống. Bà Túy Hoa đã theo nghề ca hát để nuôi con, bà hát trong ban nhạc Tony Murena ở vũ trường Rex tại Nam Vang.Trong một lần tình cờ khi gánh Mộng Vân sang diễn cải lương tại Nam Vang, nhớ quê hương và được bầu gánh mời ký hợp đồng, cô Túy Hoa đã bồng con theo gánh về nước.

Về lại Sài Gòn cô Túy Phượng được mẹ cho theo học trường nhà trắng Tân Định rồi Chí Thanh học hiệu, Đông Tây học đường….Có gien ca nhạc trong người, Túy Phượng cũng đam mê nghiệp cầm ca như Mẹ.Năm 15 tuổi, cô chính thức gia nhập làng nghệ sĩ.Với sự dìu dắt của mẹ Túy Hoa và dượng Anh Lân lúc này là bầu gánh Dân Nam.Túy Phượng dần dần khẳng định vị trí của mình tại đoàn nhà.

Ở tuổi 14,15 Tuý Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai nhí nhảnh, hồn nhiên, đến tuổi 16,17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, thì Phượng thu hút người xem trong những vai thương cảm. Hồi đó, Tuý Phượng diễn với các NS Kim Cương, Thẩm Thuý Hằng, má Tuý Hoa, ba Anh Lân và các anh Vân Hùng, Ngọc Đức .

Đáng nhớ nhất là những vai diễn nội tâm sấu sắc nhất trong vở “ Trà Hoa Nữ ”, “Người mẹ tội lỗi” , “ Đứa con chị bếp”, “ Ảo ảnh”, “ Yêu trong bóng tối” , “ Nhạc lòng năm cũ”,“ Áo người trinh nữ”. Trong cuộc bình chọn diễn viên được yêu thích do báo Công Nhân của ông Trần Tấn Quốc tổ chức, Tuý Phượng và Vân Hùng đã được khán giả bầu chọn là “đôi diễn viên trẻ tài năng được yêu thích nhất”.

Đây là vinh dự lớn trong nghề của Tuý Phượng vì nhà báo Trần Tấn Quốc, người chủ chương trình bình chọn này rất có uy tính trong báo chí và kịch trường. Ông Trần Tấn Quốc cũng là người sáng lập giải Thanh Tâm để chọn ra những huy chương vàng của SKCL, mà mở đầu là NSƯT Thanh Nga.

Sáng chói từ cuộc thi Hoa hậu đông phương của hãng phim Đông Phương vào năm 1957, lúc cô vừa tròn 17 tuổi. Biệt danh “Hoa hậu Đông Phương” gắn liền với cô từ đó. Có một chuyện vui là vì mọi chi phí, tiền thưởng do hãng xe Lambretta bảo trợ hết, nên chữ Lambretta được vẽ kèm trong tấm banner Thi Hoa Hậụ . Kết quả ca sĩ Túy Phượng đoạt chức hoa hậu, và sau đó thiên hạ gọi Túy Phượng là “ Hoa Hậu Lambretta ,”, ít ai gọi là “Hoa Hậu Đông Phương”.Điện ảnh đã làm cho cô được chú ý ngay từ giai đoạn này.

Trong năm 1958, Túy Phượng tham gia liên tục các phim như: vai Cúc trong “Tình quê ý nhạc” của hãng Mỹ Vân, Công chúa trong ‘Thạch Sanh Lý Thông” của Văn Thế Phim, Thị Lụa trong “Bích Câu Kỳ Ngộ” của hãng Alpha… Tuý Phượng đóng rất nhiều phim, trong đó có phim hợp tác với điện ảnh Philippine như “ Ánh sáng đô thành ” .



Túy Phượng được nghệ sĩ Bích Thuận nhận làm mẹ đỡ đầu . Cô lại được nữ ca sĩ Mộc Lan luyện giọng . Giọng hát của cô không có gì đặc biệt . Cô lại hát bằng cách phát âm người miền Nam như Túy Hoa, Ngọc Hà . Tuy nhiên đây là một giọng có kỹ thuật cao, ngân nga rất vững . Những bản slow chẳng hạn như bản Sương Thu của Văn Phụng được cô diễn tả rất nghề, làm thỏa mãn khách sành điệu . Ở bản Mộng Đẹp Ngày Xanh của Hoàng Trọng, dù gặp chỗ lên cao vượt ngoài âm vực của giọng hát cô, vậy mà cô hát vẫn không gãy, vẫn ngọt ngào làm cho nhiều người thán phục .

Cũng như giọng Mai Hương, Hồng Phúc, giọng Túy Phượng không thích hợp với sân khấu mà chỉ thích hợp trên làn sóng điện mà thôi. Nhưng khi cô xuất hiện trên sân khấu ,chính thân hình nhỏ nhắn và bốc lửa của cô cùng khuôn mặt mũm mĩm của cô chài bẫy khán thính giả nhiều hơn là giọng hát .

Năm 1959, Sài Gòn xuất hiện phòng trà Hòa Bình. Túy Phượng mặc chiếc robe bằng nhung đen xẻ đùi và hở ngực hở vai khá rộng . Cô mang găng tay bằng nhung đen dài đến khuỷu tay, đeo những món nữ trang lấp lánh và cài vương miện trên tóc . Cô hát bài “ Mambo Italiano ” rất bừng bừng phấn khởi, như rải cơn bão lửa khắp phòng trà Hoà Bình .

Mambo Italiano: Sophia Loren

http://www.youtube.com/watch?v=fhyApMVm9Rs

Về sau, khoảng 1961-63, Túy Phượng xoay qua hát nhạc Twist và trở thành “Nữ Hoàng Nhạc Twist” . Nhưng cô chỉ nổi tiếng trong một thời gian ngắn ở lãnh vực mới này . Rất tiếc, Túy Phượng có biệt tài trình diễn nhạc hay, nhưng khán thính giả chỉ say mê cô qua sắc đẹp chói chang, qua những điệu hát rậm rật mà không tìm được cái nội lực chân truyền cùng kỹ thuật thâm hậu trong giọng hát của cô . Cho nên cô phải dùng nhạc Twist để làm quỷ làm yêu, trổ nhiều quái chiêu để thu phục nhiêù khán giả .

Chubby Checker - Let's Twist Again - 60's

http://www.youtube.com/watch?v=LVQ0MXp-8ds


Túy Phượng đóng kịch rất hay . Sau khi Kim Cương, Vân Hùng và Túy Hồng tách rời khỏi ban Dân Nam thì cô thay thế Kim Cương thủ những vai thương cảm nòng cốt của vỡ kịch.Tùng Lâm, Túy Phượng và Tùng Giang hợp với nhau thành một ban hợp ca (nằm trong đoàn Dân Nam) lấy tên là “ban tam ca Muôn Phương”, ăn mặc theo kiểu Nam Mỹ và hát nhạc châu Mỹ La Tinh được dịch lời Việt. Nghệ sĩ Tùng Lâm chơi guitar, Tùng Giang chơi bongo, còn Túy Phượng lắc tambourine
.
Sau năm 1975, Tuý Phượng vẫn tiếp tục con đường nghệ thuật trêns ân khấu kịch “Tân Dân Nam”, Tuý Phượng còn là ca sĩ, một thời nổi tiếng “Nữ hoàng Twist”, nên thời điểm miền Nam giải phóng giọng ca của chị nổi bật trong các đoàn “ Ca múa nhạc Hậu Giang ”, “Tiếng Ca Minh Hải” lưu diễn khắp miền đất nước. Tuý Phượng cũng là 1 giọng ca trình diễn ở sân khấu nhà hát Hoà Bình – Tp. HCM sớm nhất, cùng với Cẩm Vân, Thu Cúc, Bảo Yến, Nhã Phương, Thanh Hoa, Hồng Hạnh.

Nụ cười của Tuý Phượng vẫn tròn đầy, từ nằm 1995, sau những ngày đau buồn chịu tang mẹ là NS Tuý Hoa, người ta không thấy NS Tuý Phượng lưu diễn nữa. Chị vẫn hoạt động nhưng là nhận những vở diễn trong các vở kịch video. Trong lỉnh vực hài, Tuý Phượng thừa hưởng cái “gien” của mẹ, nên cũng rất duyên dáng đem đến khán giả những trận cười thoải mái. Tuý Phượng từng được yêu thích qua băng hài “Đắc Kỷ ho gà”, “Hai Nhái khoái vợ bé”, “Con Tấm – Con Cám” gợi nhớ một thời chị diễn hài kịch cùng mẹ là Tuý Hoa và những “Cây Cười” Thanh Việt, Phi Thoàn, Tùng Lâm, Thanh Hoài, Hoàng Mai, Khả Năng, Bé “Bự” trên nhiều sân khấu.


Túy Phượng qua đời tại Sàigòn, ngày 13-11-2001. Đám tang của nữ nghệ sĩ Túy Phượng, chồng đứng ra tổ chức và hỏa thiêu ở Bình Hưng Hòa ./.
Mắt Buồn  
#255 Posted : Tuesday, December 21, 2010 9:16:22 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,651

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Hoàng Thi Thơ, con beo gấm của những vùng trời nghệ thuật khác

Wednesday, December 08, 2010
Du Tử Lê
(Tiếp theo và hết)

Nói tới cõi giới âm nhạc của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nhiều người cho rằng sẽ là một thiếu sót đáng kể, nếu không nhắc tới ít nhất hai ca khúc như một thứ hồi ký của đời ông. Ðó là các ca khúc “Ðường Xưa Lối Cũ” và “Tà Áo Cưới.”

UserPostedImage

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. (Tài liệu của Hoàng Thi Thao)

Theo nhạc sĩ Hoàng Thi Thao, một trong những người có thẩm quyền nói về cuộc đời, cũng như tiến trình sáng tác của tác giả “Trăng Rụng Xuống Cầu” thì, hai ca khúc kể trên được nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sáng tác trong năm 1958, khi ông trở về làng Bích Khê sau nhiều năm xa cách.

Ðối với thế hệ trưởng thành trong thập niên 1940 thì “ra đi” hay “trở về” là một đề tài tạo nhiều xúc động. Do đó, nó cũng mang lại nhiều vòng hoa vinh quang làm thành tên tuổi cho không ít văn nghệ sĩ. Ðó là thời gian mà những cuộc ra đi, trở về nhuốm nhiều đau thương, nhiều nước mắt nhất do những biến động lớn của lịch sử Việt Nam thời đó.

Nhiều người cho rằng những đoạn lìa, tang chế đứt ruột này, khởi sự từ cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp. Ðể rồi sau đấy, là cuộc di cư vĩ đại của hơn một triệu đồng bào miền Bắc vào miền Nam tìm tự do. Và, hơn ba thập niên vừa qua, lại là cuộc di tản, vượt biển vĩ đại khác, là những đoạn lìa, oan nghiệt trên bước đi thăng trầm của định mệnh dân tộc.

Riêng đề tài “trở lại” hay “tìm về” của nền tân nhạc Việt trong giai đoạn thuộc các thập niên 1940, 1950, người ta ghi nhận được khá nhiều những ca khúc mà tới hôm nay, dù khói lửa đã nguội, tàn tro đã lắng, nhưng mỗi khi nghe lại các ca khúc ấy, những tâm hồn nhạy cảm, vẫn không khỏi bồi hồi, ngậm ngùi, tựa một lần thêm chứng kiến, sống lại với xiết bao thương đau cũ.

Nếu chỉ chọn ra những ca khúc mà ngay tự nhan đề đã nói rõ, nói hết nội dung tác phẩm thì trong giới hạn của mươi năm kể trên, người ta thường liên tưởng tới “Ngày Về” của Hoàng Giác; “Trở Về” của Châu Kỳ; “Ngày Trở Về” của Phạm Duy; và dĩ nhiên không thể không nhớ “Ðường Xưa Lối Cũ” của Hoàng Thi Thơ...

Nhưng, nếu Phạm Duy “thi ca hóa” với cực tả anh thương binh trong “Ngày Trở Về”:

Ngày trở về, có anh nông phu chống nạng cày bừa
Vì thương yêu anh nên ngày trở về
Có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ
Ngày trở về, lúa ngô thi nhau hát đùa trước ngõ
Gió mát trăng thanh, ôi ngày trở về
Có anh thương binh sống đời hòa bình. (3)

Hay “Ngày Về” của Hoàng Giác, ngỡ ngàng vì “bạn cũ,” vì “đường tơ” đã xiêu lạc chân trời khác:

Trên đường tha hương, vui gió sương
riêng lòng ta mang mối nhớ thương
âm thầm thương tiếc cho ngày về
tìm lại đường tơ nay đã dứt
Nghe tiếng chim chiều về gọi gió
như tiếng tơ lòng người bạc phước
nhắp chén men say còn vương bóng quê hương
dừng bước tha hương lòng đau. (4)

Nó vẫn là một tìm về không ra khỏi tính lãng mạn. Một dạng thức của “thú đau thương!”

Ngay “Trở Về” của Châu Kỳ, tuy mang ít nhiều tính “tự sự” như:

Về đây nhìn mây nước bơ vơ
Về đây nhìn cây lá xác xơ
Về đây mong tìm bóng chiều mơ
Mong tìm mái tranh chờ
Mong tìm thấy người xưa
Về đây buồn trông cánh chim bay
Về đây buồn nghe gió heo may
Về đây đâu còn phút sum vầy
Ðâu còn thắm niềm say
Lạnh lùng ngắm trời mây... (5)

Thì, dù tha thiết, ngỡ ngàng đớn đau cách mấy, vẫn là tâm cảnh của một người đi tìm... một người. Chính xác hơn, đó là cuộc trở về với hy vọng tái ngộ một tình yêu dang dở. Riêng Hoàng Thi Thơ trong trở về qua ca khúc “Ðường Xưa Lối Cũ” mới là một trở về tìm mẹ. Tìm em. Tôi muốn gọi đó là một “chuyện kể,” có lớp lang. Một thứ “hồi ký” viết bằng âm nhạc:

Ðường xưa lối cũ,
có mẹ tôi run run trong hôn hoàng
Lòng già thương nhớ,
nhớ đến tôi, lom khom đi tìm con
Khi tôi về, bồi hồi trong nắng
Tưởng gặp người em hân hoan đứng đón anh về
Nào ngờ người em sang ngang khi xuân chưa tàn
Con đò nào đây đưa em tôi vào xa vắng...

Khi tôi về, nghẹn ngào trong nắng
Tưởng gặp mẹ tôi rưng rưng đứng đón con về
Nào ngờ mẹ tôi ra đi bên kia cuộc đời
Không lời biệt ly cuối cùng trước khi phân kỳ... (5)

Cũng chính vì tính “chuyện kể,” tính “hồi ký” mà ca khúc “Ðường Xưa Lối Cũ” của họ Hoàng tới hôm nay, vẫn là những lời nói thay cho tình cảm của nhiều gia đình Việt Nam; cả khi họ không cùng một tâm cảnh với tác giả.

Lại nữa, một trong những tác nhân chính, đưa tới nhiều cuộc “tử biệt sinh ly” trong tình yêu của nhân gian là, chuyện “sang sông” hay “lên xe hoa” của một trong hai người yêu nhau. Bởi thế, từ thuở rạng đông của nền tân nhạc Việt, Ðoàn Chẩn-Từ Linh (6) trong ca khúc “Tà Áo Xanh” cũng đã làm não lòng người với:

Rồi chiều nao xác pháo
bên thềm tản mác bay
em đi trong xác pháo
anh đi không ngước mắt
thôi đành em...
Lúc anh ra đi lạnh giá tâm hồn
hoa mai rơi từng cánh trên đường
lạnh lùng mà đi tiếc nhớ thêm chi
hoa tàn nhạc bay theo không gian. (7)

Tới các ca khúc như “một người lên xe hoa” của Hoàng Trọng, hay “Tôi Ðưa Em Sang Sông” của Y Vũ và Nhật Ngân, hoặc “Sang Ngang” của Ðỗ Lễ,... cũng là những ca khúc ở được dài lâu với những tâm hồn bi lụy.

Nhưng, có lẽ chỉ riêng một Hoàng Thi Thơ, đã đi vào thể tài này, qua bài “Tà Áo Cưới,” vẫn hình thức “hồi ký,” dành cho người em gái của mình, chứ không phải cho người yêu:

Những tà áo cưới thướt tha bay bay trong nắng chiều
Ðưa người em gái bước chân đi đi về bến nao ?
Ôi buồn làm sao! Em có nhớ Thu nào?
Những tà áo cưới tiễn em đi em lấy chồng
Chim trời theo gió biết nơi đâu đâu mà ước mong!
Cung đàn thầm rơi rơi mãi tiếng tơ lòng... (8)

Dù được quảng đại quần chúng yêu mến qua nhiều thế hệ, với hàng trăm ca khúc đã in lắng, ngấn sâu trong lòng người, nhưng dường như nhạc sĩ (hay định mệnh) Hoàng Thi Thơ không phép cho ông dừng ở đó. Tôi muốn nói, định mệnh đã chọn ông làm con beo gấm tung hoành trong nhiều cánh rừng nghệ thuật mới.

Về những lãnh vực khác, theo tài liệu của nhạc sĩ Hoàng Thi Thao thì nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là một nhà tổ chức tài hoa của sân khấu nghệ thuật. Ông từng là trưởng đoàn văn nghệ Việt Nam với hàng 100 nghệ sĩ.

Ông từng nhiều lần đại diện cho chính phủ VNCH, cầm đầu đoàn văn nghệ lưu diễn ở Pháp năm 1968 qua Hòa đàm Paris, kể cả các đoàn cải lương, hát bộ, cũng như luôn các đoàn văn nghê thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị/QLVNCH... Phải chăng do tài điều khiển và khả năng Anh, Pháp ngữ lưu loát của ông?

Trước và sau thời điểm vừa kể, ông cũng là người hướng dẫn các đoàn ca vũ nhạc Việt Nam lưu diễn tại Nhật, Hongkong, Ðài Bắc, Vạn Tượng, Nam Vang, Kuala Lumpur, Singapor, Manila, Anh Quốc và, nhiều nước thuộc Phi Châu.

Năm 1967, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ được ông Huỳnh Ðạo Nghĩa, chủ nhân hãng kem Hynos mời làm giám đốc chương trình cho nhà hàng Maxim vĩ đại nhất Saigon, trước tháng 4, 1975.

Ðể đáp ứng nhu cầu một sân khấu lớn có tầm vóc quốc tế, với một chương trình kéo dài ba giờ đồng hồ, ngay từ năm 1967, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã là người chủ trương dùng các vũ công chuyên nghiệp để minh họa cũng như tạo sống động sàn diễn, tăng thêm giá trị cho những tiết mục mới lạ khác...

Ðược các vũ sư như Lưu Hồng, Trịnh Toàn phụ tá,... qua sân khấu Maxim, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ thời đó, đã được báo chí mệnh danh là người làm cuộc “cách mạng xanh” cho sân khấu trình diễn.

Tôi không biết có phải vì nhu cầu sân khấu đòi hỏi hay không mà, cũng thời gian này, giới hâm mộ nhạc kịch đã như lên cơn sốt hâm mộ trước vở nhạc kịch “Ả Ðào Say” của họ Hoàng. Vở nhạc kịch, theo tiết lộ của một người trong dòng tộc họ Hoàng ở làng Bích Khê, đã rút cạn tâm trí Hoàng Thi Thơ nửa năm “lao động” không phút nghỉ.

Trước đấy, 1963 ông đã cho dựng vở nhạc kịch đầu tiên của ông, tên “Từ Thức Lạc Lối Bích Ðào.” Kế tiếp, vở “Dương Quý Phi” ra mắt công chúng năm 1964. “Cô Gái Ðiên” công diễn năm 1966...

Tôi cũng không biết có phải chính định mệnh, lại nắm tay ông từ lãnh vực sân khấu bước vào điện ảnh? Chỉ biết ở lãnh vực này, một lần nữa, Hoàng Thi Thơ lại cho thấy óc sáng tạo và, khả năng làm mới của ông từ vai trò người viết truyện phim, tới đạo diễn, sản xuất... cùng một lúc.

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thao tiết lộ rằng, qua cuốn phim “Người Cô Ðơn,” nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ muốn gián tiếp cho mọi người thấy con người thật của ông. Một con người nhiều tài năng, nhưng không vì thế mà thoát được chiếc lưới... cô đơn!

Tháng 4 năm 1975 khi nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đang cầm đầu một đoàn văn nghệ lưu diễn tại Nhật Bản thì biến cố 30 tháng 4 xảy ra. Không thể trở về Saigon, ông chọn định cư tại tiểu bang California.

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ mất vì bệnh tim ngày 23 tháng 9 năm 2001 tại tư gia ở thành phố Glendale, miền Nam Cali.

Sự mất đi của ông, đồng nghĩa với sự vụt tắt của không chỉ một mà, nhiều vì sao khác nhau, trên vòm trời nghệ thuật Việt.
Du Tử Lê
(Garden Grove, 7 tháng 12, 2010)

Chú thích:

(3), (4), (5), (7), (8): Theo dactrung.com (6): Trang mạng Wikipedia cho biết, nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn sinh ngày 15 tháng 6, 1924; mất ngày 15 tháng 11, 2001. Riêng về Từ Linh thì, trang mạng này ghi: “Tất cả ca khúc của ông (Ðoàn Chuẩn) đều được ghi tên tác giả là ‘Ðoàn Chuẩn-Từ Linh.’ Thực ra Từ Linh (?-1992) không trực tiếp tham gia sáng tác, nhưng Ðoàn Chuẩn ghi tên chung hai người để tôn vinh người bạn tri âm của mình, tôn vinh tình bạn đã góp phần tạo cảm hứng nghệ thuật. Từ Linh tên thật là Tạ Ðình Thâu - một nhiếp ảnh gia. Cái tên chung mà người nhạc sĩ này đã chọn để sử dụng vẫn là một ẩn số đối với công chúng.”


hongvulannhi  
#256 Posted : Tuesday, December 21, 2010 12:19:51 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Nghĩ Về Cho Và Nhận Trong Mùa Giáng Sinh

UserPostedImage

Việt Báo Thứ Bảy, 12/18/2010, 12:00:00 AM

Trong đời sống hằng ngày, cho để nhận là một chuyện rất bình thường trong mọi sự trao đổi lẫn nhau. Tôi trả tiền, tôi nhận món hàng.
Vậy, cho để nhận là một quy luật tự nhiên hay còn là một nguyên tắc đạo đức?

Đó là một hành động tự nguyện, bất vụ lợi, xuất phát từ lòng thương người?

Một nguyên tắc tư bản: cho để nhận

“Anh hãy cho tôi những gì tôi cần và anh sẽ nhận được những gì anh cần”. Đó là nguyên tắc cho để nhận (Give and take hay Donnant - donnant) của xã hội tư bản.

Cho cũng có nghĩa là bán cho. Vô tiệm ăn mình thường gọi: cho tôi ly cà phê sữa đá. Tôi đưa anh 3$, tôi nhận ly cà phê. Tiền trao cháo múc.

Nghĩ rộng ra, nguyên tắc trên cũng có thể đem áp dụng vào cá nhân mỗi người.

Chúng ta cần phải ăn, cần phải uống và cần tập thể dục cho cơ thể được khỏe mạnh.

Người mẹ cho con bú để nó sống và lớn khôn nên người. Đó là món quà tình mẫu tử cho và nhận. Hạnh phúc của con chính là hạnh phúc của người mẹ (cycle du don).

Trong mối tương quan giữa con nguời với nhau, tiền bạc là biểu tượng để mọi người có thể trao đổi hàng hoá và dịch vụ lẫn nhau.
Cho, đổi chác và tặng Cho để nhận là nguyên tắc của mọi sự đổi chác.
Trong xã hội ngày nay, muốn sống với người khác thì cần phải có sự đổi chác qua lại.

Đôi khi cho cũng có thể là một hành động bất vụ lợi xuất phát từ lòng bác ái, thương người.

Tặng đúng nghĩa ra là cho mà không đòi hỏi phải có sự đền đáp hay trả lại.

Cho để nhận, một nguyên tắc trong mối giao tiếp xã hội.
Theo phong tục Việt Nam thì bánh ích có đi thì bánh quy phải có lại mới toại lòng nhau. Đó là phép xử thế lịch sự trong xã hội để mọi người đều được vui vẻ với nhau.

Cho tiền cho bạc, cho của cải vật chất, cho công sức và sự ân cần, săn sóc cũng có thể với dụng ý lợi dụng, tạo cảm tình, để tìm ân huệ, hoặc chức vụ sau nầy. Có khi cho ít mà nhận được nhiều. Người đời thường nói đó là thả con tép để bắt con tôm.
Cũng có người cho hay bố thí có chủ đích, để mong cầu được phước báo, cho cha mẹ và cho bản thân mình lúc chết được vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc.

Cho mà không cầu được đền đáp lại có thể bị người ta lợi dụng chăng?
Con người rất phức tạp. Cho một món quà không mấy đáng giá đôi khi có thể bị hiểu lầm là khinh khi người ta.
Có người làm ăn lươn lẹo, chôm chỉa nhiều quá nên cần bố thí bớt để nhẹ tội với lương tâm đồng thời cũng để chứng tỏ là mình là người hào phóng. Có người bố thí hầu để được giảm thuế cuối năm.
Có người cho để lấy tiếng.

Có người cho vì bị ép buộc, vì sợ người ta trù ẻo làm khó dễ, vì sợ người ta trách mình keo kiệt.
Tuy nhiên cũng có người cho vì lòng vị tha bác ái và thương người nghèo khó, khốn khổ . Họ không mong đợi được đền đáp nhưng chắc chắn là họ nhận được niềm vui tinh thần rất nhiều.

Theo nhà nhân chủng học Marcel Mauss, chúng ta bắt buộc phải trả lễ lại mỗi khi chúng ta nhận được một món quà hay một sự giúp đỡ từ một người nào đó.

Nghiên cứu về phong tục tập quán của các bộ lạc thiểu số bán khai ở quần đảo Nam Dương và Tân Tây Lan, qua tản văn Essai sur le don (1923) Gs Marcel Mass cho biết tập tục Potlatch (tập tục hệ thống quà biếu) được xem là vô cùng quan trọng trong sinh hoạt hằng ngày hay trong những dịp lễ hội giữa các bộ lạc với nhau.

Mỗi khi một cá nhân hay một bộ lạc nhận được quà biếu thì họ bắt buộc phải trả lễ lại bằng một món quà khác có giá trị tương đương hay cao hơn món quà mà họ đã nhận được.

Món quà trả lễ có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: dụng cụ nhà bếp, bàn ghế, tiệc tùng ăn nhậu, nhảy múa, thậm chí có thể là phụ nữ và trẻ em v,v...

Potlatch biểu tượng của sự hài hòa trong xã hội, cũng như quyền quy và sức mạnh của bộ lạc.

Người cho quyết định giá trị món quà mà họ đem biếu.
Phải chăng potlatch cũng là một nguyên tắc và là một nền tảng trong xã hội ngày nay của chúng ta?

Người ta chào mình, vì phép lịch sự bắt buộc mình phải chào lại họ.
Theo cách suy nghĩ của nhiều người thì của biếu là của lo, của cho là của nợ. Đó là potlatch.

Hôm nay người ta đi đám cưới con mình, sang năm thì mình có bổn phận phải đi dự đám cưới của con họ để trả lễ lại.

[img]http://www.thealewife.com/.a/6a00d834519d8969e20105369942dd970c-800wi[/img]
Các tôn giáo nghĩ gì?
*Theo Thiên Chúa Giáo

Đức Chúa Trời là đấng toàn năng, tạo ra mọi sự vật trên Trời và dưới thế. Chúa cho chúng ta sự sống đời đời.
Từ thiện được xây dựng từ lòng thương yêu bất vụ lợi không màng đến sự báo đáp hay nhận lại bất cứ điều gì cả. Cho xuất phát từ lòng thương yêu không giới hạn.

Kinh Thánh có nói “Cho sẽ mang đến cho ta nhiều hạnh phúc hơn nhận.”
Act.20.35 Luc 14.12-14. « Il y a plus de bonheur à donner qu'à recevoir »

Công Giáo khuyên bảo tín đồ phải có trách nhiệm giúp đỡ người khốn khổ, kém may mắn.

«Giáo hội đã nhiều lần dạy bảo con cái mình rằng: giúp đỡ người nghèo và người kém may mắn là một trách nhiệm đặc biệt của người công giáo bởi vì họ là chi thể của Thân Thể Chúa Kitô. “Vì chính trong Thân Thể này chúng ta biết tình yêu của Thiên Chúa,” như tông đồ Gioan cho chúng ta biết: “đó là Đức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em. Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được” (I Jn 3: 16-17) (cf. Mater et Magistra, # 159) ». (Br. Huynhquảng. Công Giáo Việt Nam)

Nghiên cứu tâm lý xã hội học gần đây cũng chứng minh lời nói trên của Kinh thánh là cho mang đến nhiều hạnh phúc hơn nhận.
Người cho tiền của hay giúp đỡ người khác thường cảm thấy mình được sung sướng và hạnh phúc hơn những người nhận được tiền hay nhận được sự giúp đỡ.

Tuy vậy cũng có người còn nghi ngờ điều trên.

Theo họ, sự khác biệt giữa người hảo tâm và người không có lòng hảo tâm được xuất phát từ lòng tin và thái độ của họ. Có bốn động lực rõ rệt đã ảnh hưởng và nung đúc đến lòng hảo tâm của con người : đức tin vào tôn giáo, lòng bi quan không tin chánh phủ về đời sống mặt kinh tế, gia đình vững mạnh, và vào đầu óc kinh doanh làm ăn của họ.
“The difference between givers and nongivers is found in their beliefs and behaviors. Four distinct forces emerge from the evidence that appear primarily responsible for making people charitable. These forces are religion, skepticism about the government in economic life, strong families, and personal entrepreneurism.”(Arthur C.Brooks, Professor of public administration at Syracuse University’s Maxwell School of Citizenship and Public Affairs.)

UserPostedImage
*Theo Phật Giáo

Cho hay bố thí là một hạnh trong Phật giáo.
Bố thí là hạnh đầu tiên trong sáu hạnh của Bồ Tát.
Sau đây tác giả xin tóm lược các điểm chánh trong bài Bố thí có mấy loại (Kinh Điển Phật Pháp) và Bố Thí Ba La Mật (Thích Trí Siêu).

Bố thí có 3 loại:

1) Tài thí: tức bố thí tiền
2) Pháp thí: bố thí pháp
3)Vô úy thí: tức bố thí sự không sợ hãi.

Ba loại bố thí vừa nêu được gọi chung là vật thí.

*“Khi nói đến bố thí, thì chúng ta phải nhận ra ba yếu tố tạo ra nó: người cho (năng thí), món đồ (vật thí) và người nhận (sở thí). Ba yếu tố nầy rất quan trọng. Nếu thiếu một trong ba yếu tố kể trên thì sẽ không có sự bố thí.

Có người cầm trong tay một món đồ muốn cho mà không có ai nhận thì không có sự bố thí. Có món đồ mà không có người cho và người nhận thì cũng không có sư bố thí. Có người sẵn sàng nhận đồ mà không có ai cho thì cũng không có sự bố thí.

*Một sự bố thí được xem là trong sạch và đem lại phước báo vô lượng vô biên cần phải có ba yếu tố sau đây
- Người bố thí phải có tâm trong sạch.
- Vật được thí phải chân chính.
- Người nhận phải được kính trọng tối đa”.
Kết luận

Cho để làm gì? Quả thật đây là một vấn đề rất phức tạp và khó giải nghĩa cho thỏa đáng được. Tùy theo nguời, tùy theo hoàn cảnh, tùy theo sự hiểu biết và đức tinh tôn giáo mà có thể có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau.

Người viết xin mượn lời của thầy Thích Trí Siêu để nói lên sự phức tạp của ngôn ngữ Việt Nam:
“Tiếng Việt của ta rắc rối lắm, không phải dễ dàng đâu! Nếu không chú ý cẩn thận một chút là ta có thể gây phiền phức cho chính mình và cả người khác nữa.

Như ta đã thấy Bố thí gồm có nhiều nghĩa: cho, tặng, biếu, cúng dường, bố thí... ta tạm gọi tất cả những cái đó là Bố thí”.

Tham khảo:

-Thích Trí Siêu- Bố Thí Ba La Mật
http://www.thuvienhoasen...-50_6-1_17-87_14-1_15-1/
-Kinh Điển Phật Pháp. Bố thí có mấy loại
http://phatphap.wordpres...%E1%BA%A5y-lo%E1%BA%A1i/
-Marcel Mauss (1923-1924). Essai sur le don. Forme et raison de l’échange dans les sociétés archạques
http://www.congoforum.be...ocs/essai_sur_le_don.pdf
-James Randerson. The path to happiness: it is better to give than receive
http://www.guardian.co.u...r/21/medicalresearch.usa
-Thomas Fitzpatrick. It is better to give than to receice-No, really.
http://www.vision.org/vi...dia/article.aspx?id=4400
-Br Huynh Quảng-Công Giáo Việt Nam. Nạn nghèo đói và lòng từ thiện.
http://www.conggiaovietn...ailarticle&id=19&ia=5768

Montreal, Dec 18, 2010
NGUYỄN THƯỢNG CHÁNH
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

langthang09  
#257 Posted : Tuesday, December 21, 2010 2:50:19 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)
UserPostedImage

UserPostedImage
Dạ Khúc
Khắc khoải niềm đau suốt cuộc đời
Ta về ôm ấp mảnh tình côi
Một mình một bóng đêm hiu quạnh
Chợt thấy thương mình, lệ bỗng rơi

Ta nhớ thương người tim nhói đau
Ta đem chôn kín mối tình sâu
Dù đời là thực hay là mộng
Cũng chỉ riêng ta nếm giọt đau

Tim vỡ từ khi nhỏ máu hồng
Đến nay buốt giá mấy mùa Đông
Đến nay đời lạnh như băng tuyết
Chẳng ước mơ ai nối chỉ hồng

Đêm nay lệ nhỏ suốt canh dài
Trăng lạnh mờ soi bóng dáng ai
Ảo ảnh tràn về trong giấc mộng Đêm trường thao thức nỗi bi ai ...!

Miên Du-Dalat
langthang09  
#258 Posted : Tuesday, December 21, 2010 4:27:45 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)
UserPostedImage


UserPostedImage
Trong Cuộc Tình Ân Hận

Thơ: Đặng Hiền
Nhạc: Trúc Hồ Trình bày Thiên Kim


http://mp3.zing.vn/mp3/n...inh-An-Han.IWZDU8D0.html
Trong cuộc tình ân hận,
tưởng mãi chắp cánh bay
Bụi thời gian mờ phủ,
chợt về hình bóng ai
Trưa chiều hoài vẫn đợi,
nhìn những cánh chim bay
Em buồn trong giấc ngủ,
chăn chiếu lạnh trăm năm

Ta rời nhau vội vã,
ta xô ngã đời nhau
Buông chìm theo cuộc sống,
thương chốn cũ lặng câm

Trong cuộc tình ân hận,
mình hoài lừa dối nhau
Anh hoài là trẻ nhỏ,
trong võng đời u mê
Trong cuộc tình ân hận,
tưởng mãi chấp cánh bay
Bụi thời gian mờ phủ, chợt về hình bóng ai.

hongvulannhi  
#259 Posted : Tuesday, December 21, 2010 7:44:32 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Đời H.O. Của … Bà
Bác Sĩ David Phạm


Hôm Sài Gòn thất thủ, trời buồn rưng rưng, mây đen phủ màu tang tóc trên thành phố. Có ai nói trời đang khóc. Ông ngoại hồi đó 33 tuổi mang lon Ðại úy phi công, bà mới 29 tuổi tay dắt ba người con, bế theo cậu út đỏ hỏn chưa đầy ba tháng tuổi. Ông ngoại về căn nhà nhỏ bên kênh Thị Nghè, tháo vội bộ quân phục. Chú Tám từ ngoài đường, thò đầu vào hốt hoảng báo “Việt Cộng đến, hàng xóm người ta đang đốt hết giấy tờ, đồ đạc liên quan đến lính. Không thì chết”. Bà thổi lò lửa, ném tất cả hình ảnh, đồ quân dụng của ông vào đốt sạch. Những mặt người ngẩn ngơ, nín lặng nhìn nhau trong nỗi hoang mang u ám. Tai họa theo chân bộ đội Bắc Việt như cơn đại dịch khốc liệt lan tràn không gì kềm chế nổi. Dù chẳng ai đoán được tai họa sẽ ra sao, nhưng biết chắc những tháng ngày bất hạnh đang đến.

Chừng vài tuần sau, ông có lệnh của chính quyền mới chuẩn bị đồ ăn, quần áo đủ dùng cho một tháng đến chỗ tập trung tất cả “lính ngụy”. Hú hồn, chẳng biết họ làm gì nhưng cứ bấm bụng một tháng là gia đình ta sum vầy. Ông bớt lo; bà tháo bớt vẻ căng thẳng trên mặt chuẩn bị hành trang cho ông đủ dùng hơn một tháng. Buổi sáng hôm ấy, ông hé cánh cửa bước đi, không dám đưa tay chào. Bà bế cậu út tiễn ông, lặng lẽ nuốt vội nước mắt vào trong. Gia đình, hàng xóm chào tạm biệt: tháng sau gặp lại nhé. Rồi ông đi. Một tháng, một năm... tháng ngày trôi, sơn khê biền biệt. Bà ôm bốn đứa con nhỏ, đau khổ cắn răng chờ ông trong nhà chồng chật chội bên dòng kênh đen Thị Nghè. Những trưa hè, mái tôn thấp phà hơi nóng xuống mình mẩy rôm sải mấy đứa con. Ðòn thù đánh xuống ngày càng khốc liệt. Miền Nam thành ngục tù vĩ đại. “Sỹ quan ngụy” bị dồn vào các trại tập trung “cải tạo” mà chính quyền cấm gọi là “nhà tù”. Có lẽ trong một nhà tù bao la mang tên Việt Nam, không thể có cái gọi là “nhà tù” nữa; và danh từ “trại tập trung cải tạo” nghe mới gần nghĩa trại tập trung của Ðức Quốc Xã về độ ác ôn đê tiện. Dân miền Nam bị bóc sạch cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Thân xác đói khổ, tinh thần bị khủng bố bằng chiêu “chuyên chính vô sản” tàn ác và ngu xuẩn.

Ðến năm thứ hai thì bà nghe tin ông, cũng là lúc ông bị chuyển ra trại giam Vĩnh Phúc ngoài Bắc. Bà rũ lớp quần áo vải xoa lượt là cất trong ngăn tủ, khoác vào người bộ bà ba bằng vải lên người. Trong cơn đói nheo nhóc của bốn đứa con, bà xoay sở đủ cách cố sống đến ngày mai. Bà theo người ta xếp hàng mua bán đồ nhu yếu phẩm, gạo muối “bao cấp”. Bà kéo chiếc xe gỗ nhặt nhạnh ở đâu đó, đóng bằng chính tay bà, ra ngoài đầu đường bán thuốc lá lẻ. Rồi bà bắt chước người ta chiên bánh bán, đi buôn gạo dưới miền Tây... làm đủ trò. Ơn Trời, bà rất giỏi và tháo vát; nhưng vượt trên tất cả là một tấm lòng nhân hậu, thương chồng thương con. Bà gói quà từng đợt gửi ra Bắc giúp ông bớt đói trong tù. Tưởng tượng lúc ông nuốt miếng “mắm khô quẹt” để vợ chồng nhớ nhau. Ông có biết đâu người trong tù quá kham khổ mà người ngoài đây có hơn gì. Năm 1978, toàn nước, nhất là miền Nam có nguy cơ rơi vào nạn đói lớn. Trong cơn đói khổ, bà còn bị người bà con làm vài vố lừa, cướp mất miếng cơm những đứa con. Cái đói làm người ta quên nhau là con người. Những tháng ngày lam lũ, bà bắt đầu nhuốm bệnh lao. Thuốc men làm gì có, bà chỉ thấy sao mình mệt mỏi theo tháng ngày. Sau này bệnh lao trổ nặng, suýt dìm bà ngã gục mãi mãi. Khi thuyền khổ sắp chìm thì may còn một chỗ. Bà đem cả bốn đứa con ra Phan Thiết gửi nhờ ông bà cố giữ giùm.

Ông đi tù bốn năm sau thì bà được cho đi thăm nuôi. Chuyến Bắc hành của bà khi nghe kể lại mà rùng mình như truyện liêu trai. Trời hẳn cũng đau lòng nên gửi thiên sứ đến giúp bà trên từng bước chân rướm máu. Từ Saigon bà mua vé tàu Thống Nhất đi Hà Nội. Ðợi hơn tháng trời, lúc sắp lấy được vé thì bà bị nhân viên bán vé lừa lấy mất. Có ông hàng xóm làm trong ga xe lửa Hòa Hưng giúp đòi lại vé. Xong vụ này, ông ấy bị tù giam vài ngày vì chúng ghét chuyện nghĩa hiệp. Bà nén lương thực cho chặt vào hai tay nải nặng ba chục kí lô. Mồ hôi và nước mắt của bà thấm trong từng nắm cơm, thớ thịt thăm nuôi cho ông. Sáng sớm bà quảy gánh ra ga Hòa Hưng đón tàu.

Tàu lửa xuyên Việt mang tên Thống Nhất đẹp đẽ mang người thiếu phụ Saigon đơn côi ra thăm chồng trong nhà tù ngoài vĩ tuyến. Tàu đi ngang qua ga Nam Ðịnh thì bị đám trẻ chăn bò bên đường ném đá và phân bò tới tấp. Chúng chỉ ném cho vui chứ chẳng hại ai (!)nhưng bà thấy lạ. Cuối cùng thì tàu cũng đến ga Hàng Cỏ, Hà Nội. Từ đây, bà phải đón xe điện đến bến ga đi Vĩnh Phú. Xuống ga Vĩnh Phú chừng 10 giờ đêm, khách xuống tàu mỗi người mỗi ngả rồi mất hút trong màn đêm. Bỗng có tiếng “Cướp! cướp!” thót mình, rồi tiếng bộ đội bắn chỉ thiên đuổi cướp chạy thục mạng. Bà ngồi lại một mình bên ga vắng. Có ít tiền lận mãi trong ruột tượng bó sát người, hai tay nải suýt mất mấy lần trên tàu để bên rồi bà ngồi lên chiếc đòn gánh. Lúc này, nỗi hoàng sợ mới ập đến. Mấy tháng trước ông gửi thư chỉ đường đến trại. Ðường đi là do ông nghe lóm được bạn tù chỉ dẫn rồi viết lại: cứ đến địa danh này thì chuyển đến địa danh khác. Chẳng có một tin tức gì về lịch trình tàu xe. Giờ giữa đường khuya vắng, biết đâu mà lần. Bà lầm nhẩm đọc kinh Kính Mừng.

Bỗng có người vỗ vai bà từ phía sau, tiếng một đứa bé gái hỏi: “Cô ơi, cô làm gì mà ngồi đây? Nguy hiểm lắm!” Chẳng hiểu nó từ phía nào đi lại, bà giật mình quay lại. Màn đêm dày đặc che mặt nhau. Bà nói phải đi đến bến phà Trang. Bé gái lạ nói: “Cô theo cháu!” Bà đứng dậy, quàng gánh lên vai rồi theo đứa bé. Nó chừng 13-14 tuổi, không thấy mặt. Hai người lặng lẽ băng màn đêm vào con đường mòn độc đạo giữa đồng, không thấy cả một ánh đèn nhà xa xa. Suốt quãng đường chẳng ai nói với nhau một lời. Thỉnh thoảng dừng một chút để đổi gánh, nhưng đứa bé luôn đi sau. Bà không hề nghi ngại hoặc thắc mắc về đứa bé lạ đang đi cùng mình. Không biết nó sẽ dắt mình đi đâu trên con đường hun hút giữa đêm khuya. Không ai kêu khát hay đói. Ðến chừng ba tiếng đồng hồ sau, đứa bé gái dừng lại, chỉ tay phía trước nói: “Bến phà kìa. Cô đến đó đi”. Bà kịp thấy bến đò vắng hoe xa xa trong màn đêm. Bà quay lại muốn cám ơn và cho đứa bé ít tiền, nhưng không thấy nó đâu cả, bốn bề chỉ thấy đồng không hoang vắng. Có lẽ một thiên thần nhỏ của Chúa làm xong sứ mệnh rồi vụt bay hay một ông bụt bà tiên trong cổ tích hiền lành nào vừa đến với đời.

Tự tay bà kéo phà Trang giữa đêm. Loại phà này di chuyển bằng cách để khách bám vào sợi dây nối hai đầu sông rồi kéo cho phà đi. Bình thường ban ngày mỗi chuyến cũng phải vài người, nhưng bà đến giữa đêm nên đành làm khách độc hành. Ðến bờ bên kia trời đã tờ mờ sáng, bà chỉ kịp ngồi nghỉ và uống chút nước. Sắp tới trại của ông nhưng cuốc bộ với tay nải 30 kí-lô cũng cả một hành trình. Ðường có đoạn lên đồi xuống dốc. Ðến chỗ dốc bà buông tay nải cho lăn xuống, lúc lên thì bà kéo; giờ thì bà chỉ còn nhiêu đó sức. Mặt trời lên dần, nhưng hôm đó mát mẻ, bớt chút mệt nhọc cho bà. Ðến khúc quanh bên đường, có người đàn ông trung niên đang chăn bò. Ðây là khu vực trại cải tạo nên hẳn ông là lính VNCH đang bị tù. Ông cười rồi cất tiếng: “Cô ở trong Nam ra hả cô?” Trời, giọng Nam bộ, nghe sao mà ngọt ngào giữa đất Bắc xa lạ và hằn học. “Dạ, tui đi thăm chồng. Ông cũng ở trại này?” Hai người hỏi thăm nhau vài câu, ông đại tá (theo lời ông, đó là quân hàm cuối cùng của ông khi mất nước) chăn bò bỗng khóc như mưa. Ông cám cảnh phận mồ côi, vợ ông trong Nam đã bỏ không một lần thăm nuôi. Bà tháo tay nải lấy nắm xôi dúi vào gốc trà gần đó cho ông thấy, rồi vội chào mà đi. Một đỗi, có người bộ đội đạp xe cùng chiều đi ngang hỏi: “Cô gánh nặng không, có muốn tôi đèo hai cái bao đến trại hộ không?” Bà gửi người bộ đội “đèo” giùm hai tay nải, còn mình xách đòn gánh đi theo. Ðến cổng trại thấy anh này đã tháo hai gói đồ xuống để đó. Hôm ấy là sáng Chủ Nhật, tù nhân “cải tạo” được nghỉ lao động. Bà là người duy nhất đến thăm nuôi hôm nay.

Vào trại, bà “báo cáo” cho lính gác tên người thăm nuôi, các món thực phẩm mang đến và nghe nội qui trại. Xong bà ra bờ suối gần đó, rửa mặt. Nước suối trong mát như chưa bao giờ có được. Bà kịp thấy mặt mình loang loáng trong nước. Khuôn mặt người phụ nữ 33 tuổi lam lũ vẫn còn vương những nét xuân sắc ngày nào. Hồi nhỏ chưa kịp nhớ rõ mặt mẹ ruột, bà đã bị gửi làm con nuôi cho một gia đình danh giá gốc Huế. Bà lớn lên ở Phan Thiết, học hết tú tài đôi thì bà cương quyết đi tâm lý chiến làm thơ, làm văn cổ động các anh lính chiến tiền phương. Ðơn vị bà đóng ở Pleiku lúc ông cũng đang đóng quân tại đây. Lúc gặp bà, ông là thiếu úy phi công cao ráo, đẹp trai và cười nhiều hơn nói. Chuyện tình của họ có hàng phượng đỏ phố núi cao chứng kiến. Hai người làm lễ cưới kiểu nhà binh ngay tại đơn vị, rước dâu bằng xe Jeep, khách mời mặc đồ bay và áo dài trắng đi dự. Cha mẹ và gia đình đôi bên không đến dự được đám cưới lính trên phố núi này. Khi có con thì bà dời về nhà chồng ở khu Thị Nghè. Ông chuẩn bị thăng cấp Tá Không Quân thì mất nước. Cuộc đời riêng chưa đến một lúc hài lòng thì bước vào nỗi truân chuyên chung của dân tộc.

Bà mượn nồi niêu của trại ra làm thịt con gà đem trong Nam ra. Làm xong món bún măng gà thì ông ra. Bà giật mình ngỡ ngàng như không tin nỗi mắt mình. Bốn năm trời xa cách, ông từ một chàng đại úy Không Quân mã thượng đẹp trai, cao lớn ngày nào biến thành một cây sậy cao đến mức không thể cao hơn. Người ông gầy, da bủng, liêu xiêu theo gió. Hai người ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn gỗ, gần đó có người lính bộ đội gác. Bà bày đồ ăn ra bàn cho ông, hỏi thăm một câu phải hỏi nhưng không ý nghĩa: “Ông khỏe không?” Ông khóc, bà khóc. Ba mươi phút thăm nuôi chỉ để bắt đầu những hàng suối nước mắt. Rồi ông vào trại lại, bà ngẩn ngơ. Biết bao giờ ông mới về. Tối đó bà ngủ lại trại, những người đến thăm nuôi hôm nay mới bắt đầu vào. Họ biết nên rủ nhau đi thành đoàn cho đỡ cơ cực. Mai thứ hai, nếu có thăm nuôi thì tù được nghỉ lao động. Bà tiếc quá, vậy là mai ông vẫn phải đi lao động vác đá trong rừng.

Sáng hôm sau, bà dậy sớm kịp nhìn theo đoàn tù nhân nối nhau vào chốn rừng thiêng nước độc Vĩnh Phú. Bóng người nhỏ dần rồi khuất sau sườn núi. Bà khóc một mình trong nỗi đau quằn quại “Không biết bao giờ ông về, ông ơi!” Tác giả Chinh Phụ Ngâm xưa nhìn đoàn quân chinh phạt khuất xa mà hát thay cho lòng người chinh phụ:

Cùng ngoảnh lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai.

Nay mùa chinh chiến đã qua, sầu ải lại ngất ngàn hơn trong đòn thù độc ác. Cuộc đời của hơn trăm ngàn lính VNCH bị dồn vào chốn địa ngục, kéo theo mỗi người là một gia đình tan nát, và nhiều khi là cảnh vợ góa con côi. Tàn chiến cuộc nhưng quê hương này mới bắt đầu một cuộc tang thương.

Một năm sau thì ông được thả về. Một năm sau nữa thì bà bị bắt vào tù vì “tội” bán xăng lẻ ngoài đường. Suốt một năm bà trong tù, ông mướn xích lô đạp nuôi con. Bốn đứa con vô tình nếm đủ mùi “tù mà không tội” của cha mẹ, quên mất tuổi hồn nhiên. Bà ra tù, ông vẫn đạp xích lô, con vẫn khổ nhưng có lẽ bà gồng mình thêm nữa lấy tình thương bù đắp thiếu thốn vật chất. Bệnh lao của bà phát tác, hàng ngày bà đến trạm chống lao chịu một mũi “strepto” đau xoắn mông xong mới ra đi làm kiếm cơm tiếp. Xong đợt điều trị thì bà bị điếc tai vĩnh viễn vì thuốc, rồi một đợt viêm gan hành hạ. Lúc này bà tưởng không còn Trời nào đoái đến cuộc đời và gia đình này nữa. Còn ông, sau hơn năm năm “cải tạo thành công,” cái gì ông cũng sợ. Nói đến công an là ông sợ chết điếng. Bà lại kiêm luôn vai trò người đàn ông trong gia đình. Nghĩ cũng tội.
Hết khổ này đến khổ kia. Rồi một lần nữa, khi thuyền khổ sắp chìm thì xuất hiện một cái phao. Gia đình được đi Mỹ diện H.O. Truân chuyên lắm rồi cũng đến ngày gia đình đặt chân đến Oakland, California ngày 22 tháng 2 năm 1995. Sau đó nghe theo lời người bà con xa, gia đình dọn qua miền quê Blytheville, Arkansas nghe tiếng ễnh ương kêu chiều, kiếm job tạp dịch cho qua ngày. Trong thời gian này, ông xin rửa tội theo đạo Công Giáo chung với gia đình, quây quần bên Chúa mỗi ngày Chúa Nhật. Rồi lại dọn tiếp qua Dallas, Texas sống cho đến nay. Ông giờ là một trong những con chiên ngoan đạo nhất. Cuộc sống của ông bà vẫn thuộc loại lam lũ ở đất Mỹ. Gia đình thêm dâu, rể, rồi cháu nội, cháu ngoại đầy đàn vơi bớt cho ông bà một phần tinh thần. Chúa sẽ đoái thương đến những người hiền lương và đơn sơ trong tâm hồn. Một ngày tươi sáng hơn sắp đến ông bà nhé.
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Tu Bich  
#260 Posted : Wednesday, December 22, 2010 12:51:14 AM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Ðới Bỉnh Quốc lừa dối

Tuesday, December 21, 2010
Ngô Nhân Dụng

Trên trang mạng của bộ Ngoại Giao Trung Quốc ngày 6 tháng 12 đã đăng một bài dài khoảng 9,000 chữ của ông Ðới Bỉnh Quốc (Dai Bingguo), phó thủ tướng, ủy viên Quốc Vụ Viện, cố vấn cho ông Hồ Cẩm Ðào về ngoại giao.

Bản văn này nhan đề “Kiên trì theo đường lối phát triển hòa bình.” Mục tiêu của bài này để là trấn an giới lãnh đạo Mỹ, chuẩn bị cho chuyến đi thăm Washington của ông Hồ Cẩm Ðào sang vào tháng 1 năm 2011. Ông Ðới xác định rằng nước Tầu không có ý định cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ ở khắp nơi, kể cả Á Châu.

Ðoạn thứ năm trong bài này đặt câu hỏi: “Trung Quốc có ý xưng bá trên thế giới hay không?” Ông Ðới Bỉnh Quốc nói, Trung Quốc không muốn chiếm bá quyền, không giành ảnh hưởng bá quyền với quốc gia khác. Ðể cho người Mỹ hiểu dễ hơn và gợi lại thêm mặc cảm tội lỗi cho họ, ông nói Trung Quốc không theo một “Chủ thuyết Monroe” ở Á Châu (ông nhắc tới tên vị tổng thống Mỹ vào thế kỷ 19 chủ trương nước Mỹ độc quyền gây ảnh hưởng ở Châu Mỹ La tinh, các nước Âu Châu không nên chen vào). Ðới Bỉnh Quốc giải thích: “Kinh nghiệm về những cường quốc đã lên rồi lại xuống cho chúng tôi một bài học là không thể theo con đường bành trướng và chạy đua vũ trang được.” Chính sách và chiến lược căn bản của Trung Quốc, Ðới Bỉnh Quốc nói, là “không tìm cách chiếm bá quyền.” Ông khẳng định: “Nhìn lại lịch sử, Trung Quốc không có truyền thống chiếm bá quyền.”

Ðọc tới câu này, hễ là người Việt Nam ai cũng phải bật cười. Người Tây Tạng, người Mông Cổ, người Hồi ở Tân Cương, Thanh Hải, sẽ phải nổi giận, đến sôi gan tím ruột! Chắc chỉ có một giống người có thể nhắm mắt tin tưởng lời ông Ðới Bỉnh Quốc nói, là cái giống tin vào “16 chữ vàng.”

Ai cũng phải hỏi: Trung Quốc “không có truyền thống xưng bá quyền” thật sao? Ông Ðới Bỉnh Quốc không những không chịu đọc lịch sử mà ông còn quên cả các bài học địa dư. Có phải ông chưa coi bản đồ bao giờ hay không? Nếu trong lịch sử các chính quyền Trung Hoa không xâm chiếm lân bang thì làm sao quốc gia họ có một lãnh thổ rộng lớn như bây giờ? Bộ người dân các nước ở bốn chung quanh Hoa Hạ đều đã tình nguyện xin được lệ thuộc vào các vua nhà Hán, nhà Ðường, cho đến những nhà Mao, Ðặng, để các đám dân “man rợ” này được trở thành thần dân của quý vị thiên tử hay sao?

Ngay từ thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng đã theo chủ trương bành trướng. Ông ta sai tướng với hàng triệu quân đi chiếm đất đai của các giống dân khác ở phía Nam Trường Giang, thường gọi là sống Dương Tử. Hành động đó không gọi là chính sách Bá Quyền thì gọi là gì? Khi một viên tướng trong đạo quân đó, ông Triệu Ðà thấy nhà Tần sụp đổ, tính cùng với các dân tộc Việt ở phía Nam lập thành một quốc gia riêng gọi tên là Nam Việt, thì đến năm 111, hoàng đế nhà Hán đã sai quân đến cướp nước đó để lập thành châu quận lệ thuộc Trung Quốc. Năm 40 sau Công nguyên, các bộ tộc người Lạc Việt ở nước Văn Lang cũ đứng lên giành độc lập, vua nhà Hán lại sai Mã Viện sang tiêu diệt lực lượng đề kháng này. Mã Viện không những đã cầm quân chinh phục Văn Lang mà còn nổi tiếng Phục Ba Tướng Quân trong lịch sử vì ông ta cũng đánh Nam dẹp Bắc, thôn tính đất đai, mở mang bờ cõi nước Trung Hoa. Nếu dân Trung Hoa không có óc bá quyền thì tại sao họ vẫn sùng bái ông Tướng Phục Ba này, lập đền thờ khắp các tỉnh vùng biên giới với Việt Nam, mà tới bây giờ vẫn còn nhiều người Việt Nam không biết gì, cứ tới sì sụp lễ ông ta?

Mã Viện là người thực sự mở đầu 10 thế kỷ đô hộ và đồng hóa của các chính quyền Trung Quốc đối với dân tộc Việt Nam. Ông đặt các quan cai trị trực tiếp một cách gắt gao như buộc thừng (dĩ thằng nhi trị); xóa bỏ các chức lạc hầu, lạc tướng vẫn có từ thời Hồng Bàng để tiêu diệt tầng lớp lãnh đạo cổ truyền; bắt dân bản xứ bỏ hết các phong tục, tập quán cũ, dần dần sẽ phải sống theo lối người Hán. Hơn 9 thế kỷ sau, người Trung Hoa đã tiếp tục chính sách của Mã Viện ở nước ta. Họ không những chỉ chiếm đất đai, chiếm tài nguyên kinh tế và bắt dân Việt Nam làm lao động phục vụ họ như nô lệ. Chủ trương của họ ở khắp nơi vẫn là tiêu diệt đặc tính của “các sắc dân mọi rợ” bằng chính sách đồng hóa. Họ muốn biến tất cả thành người Trung Hoa hết, để muôn ngàn năm sau những giống dân “man, di, nhung, địch” đó không còn dấu vết nào nữa.

Các hoàng đế Trung Hoa không coi các sắc dân này là “người!” Những ai học chữ Hán đều biết rằng trong cách người Trung Hoa viết những tên mà họ dùng để gọi các giống dân chung quanh Hoa Hạ, là “man, di, nhung, địch,” tất cả các tên đó đều được viết cùng một “bộ” như khi viết tên các thú vật và côn trùng!

Lần cuối cùng người Trung Quốc chiếm đóng và cai trị người Việt Nam là đầu thế kỷ 15. Khi vua Minh Thành Tổ sai các tướng cầm quân sang chiếm nước Ðại Việt của chúng ta, ông vua tiêu biểu của các chính quyền Trung Quốc này đã ra lệnh các tướng phải tiêu diệt nền văn hóa dân bản xứ một cách “có hệ thống.” Học giả Nguyễn Huệ Chi viết trong lời mở đầu cuốn Thơ Văn Lý Trần (quyển 1) đã thuật lại những sắc chỉ của Minh Thành Tổ gửi cho các tướng, bắt họ phải đi tìm tất cả các sách do người dân Việt viết bằng chữ Hán, bắt phải hủy diệt hết. Sắc chỉ nói rõ ràng mỗi khi tìm được các sách đó binh lính phải đốt ngay tại chỗ, không cần phải đem về trình cấp trên! Chỉ những sách Kinh Phật giáo, Ðạo giáo, sách thuốc, sách bói toán là được miễn. Ngay cả những cuốn sách giáo khoa dạy trẻ nhỏ bắt đầu với câu “Thượng đại nhân, Khổng ất kỷ” cũng phải đốt! Một đạo sắc sau đó của Minh Thành Tổ đã đưa lời trách mắng các tướng nhà Minh chưa thi hành triệt để lệnh đốt sách kể trên. Vì ông vua này được báo cáo có nhiều đám lính tìm được sách do người Việt trước tác đã quên không đem đốt tại chỗ mà còn đem về nộp! Cuộc xâm lăng của quân Minh, và 20 năm họ thống trị nước ta, chấm dứt năm 1428, đã thành công một phần trong dự án tiêu diệt văn hóa với mục đích biến người Việt thành người Trung Hoa. Bao nhiêu công trình văn học, triết học đã bị hủy, đời sau người Việt chỉ còn nghe nói đến tên nhưng không biết nội dung ra sao!

Nhắc lại những trang sử bi thương của dân tộc Việt Nam khi bị các chính quyền Trung Quốc xâm lược và âm mưu đồng hóa, không phải vì chúng ta muốn gây căm thù đối với người Trung Hoa. Các người lãnh đạo nước Trung Hoa không những đã thi hành chính sách đó đối với người Việt chúng ta, mà còn áp dụng khi đánh chiếm các nước khác nữa. Sức mạnh văn hóa của Hán tộc đã đủ để gây ảnh hưởng trên các nước lân bang, không khác gì các nền văn minh Hy Lạp, La Mã đã đã để lại dấu vết trên các nước Âu Châu đời trước. Nhưng các nước phát sinh ra hai nền văn minh Hy La không phải là những đế quốc tồn tại lâu dài; cho nên quà tặng của họ cho nhân loại bây giờ vẫn được ghi ơn mà không còn gây thù hận. Người Hán thì ngược lại. Họ truyền bá văn minh Hán tộc bằng cách tiêu diệt văn hóa các sắc dân khác. Bây giờ họ vẫn tiếp tục làm công việc đó đối với người Tây Tạng, Thanh Hải, Tân Cương. Giống dân Mông Cổ còn may mắn giữ được một mảnh đất làm xứ sở, nhờ được Nga bảo trợ một thời gian. Văn hóa, ngôn ngữ dân Mãn Châu, từng cai trị nước Tầu gần 4 thế kỷ, ngày nay hầu như đã bị tiệt diệt cả rồi. Phải nhắc lại những chuyện này chỉ để chứng minh rằng những lời ông Ðới Bỉnh Quốc mới viết là hoàn toàn sai sự thật. Ông Ðới Bỉnh Quốc chắc chắn không phải là người ngu dốt, vô học. Cố tình nói sai sự thật như vậy, phải nói là không lương thiện. Mục đích rõ ràng là để lừa gạt.

Chính sách hiện nay của Trung Quốc có thực sự hòa hoãn, không chủ trương bá quyền đúng như ông Ðới Bỉnh Quốc mới viết hay không?

Ba ngày sau khi bộ Ngoại Giao Trung Quốc công bố chính sách trên, tạp chí Hoàn Cầu Thời báo, một cơ quan chính thức của đảng Cộng Sản, đã đăng một bài phỏng vấn Trung Tướng Bành Quang Khiêm (Peng Guangqian), trong đó ông cảnh cáo người Trung Hoa về “ảo tưởng hòa bình.” Ông tướng 67 tuổi này thuộc nhóm các giáo sư “diều hâu” trong Học Viện Khoa Học Quân Sự Trung Quốc, đã viết nhiều sách, báo về chiến lược quốc phòng. Ông nói rằng tình trạng kinh tế toàn cầu hóa, các nước phải tùy thuộc lẫn nhau “không có nghĩa là chiến tranh không thể xảy ra nữa.” Lý do chính, ông giải thích, vì “bản chất bành trướng của chủ nghĩa tư bản độc quyền.” Ngoài ra, ông nêu hai lý do khác, là chính sách bá chủ của Mỹ; và nước Mỹ không chấp nhận cho Trung Quốc vươn lên. Trước đây ông Bành Quang Khiêm từng đe dọa rằng nếu Ðài Loan tuyên bố độc lập thì chiến tranh sẽ xảy ra; Trung Quốc không còn quan tâm đến các vấn đề cô lập về kinh tế, mất đầu tư ngoại quốc hay là bị các nước tẩy chay nữa.

Trong mấy năm gần đây, các vị tướng lãnh Trung Quốc đã nhiều lần lên tiếng đe dọa các nước khác. Tướng Trương Triệu Ngân (Zhang Zhaoyin), phó tư lệnh khu quân sự Thành Ðô, tỉnh Tứ Xuyên viết trong nhật báo Quân Ðội Nhân Dân là Trung Quốc phải từ bỏ chủ trương lỗi thời là xây dựng một quân lực cho thời bình. Ông nói, nhiệm vụ chủ yếu của quân đội là “chuẩn bị chiến tranh, chiến đấu và thắng trận.” Trung Tướng Kim Nhất Nam (Jin Yinan), phó giám đốc Nghiên Cứu Chiến Lược trong Ðại Học Quốc Phòng đã nêu lên chủ trương Trung Quốc phải là một “quốc gia vĩ đại.” Một giáo sư khác tại Ðại Học Quốc Phòng là Phó Ðề Ðốc Dương Nghị (Yang Yi), đã cảnh cáo các nước khác, không nêu rõ tên, là họ không nên lầm tưởng rằng Trung Quốc sẽ không dám dùng vũ lực chỉ vì muốn phát triển kinh tế một cách hòa bình. Ông nói hiểu lầm như vậy là rất nguy hiểm!

Ðiều đáng lo ngại nhất cho nước Việt Nam ta là giới tướng lãnh Trung Quốc đang đề xướng một quan niệm về “biên cương quyền lợi quốc gia.” Ông Hoàng Côn Luân (Huang Kunlun), nhà bình luận trên nhật báo Quân Ðội Nhân Dân, đã viết rằng quyền lợi của Trung Quốc vượt ra ngoài phần lãnh thổ, hải phận của họ. Quyền lợi đó phải bao gồm cả những vùng biển mà tầu thủy Trung Quốc lưu thông: Với sứ mạng lịch sử của chúng ta, quân đội Trung Quốc không những phải bảo vệ lãnh thổ mà còn phải bảo vệ “biên cương quyền lợi” của nước mình. Chính quan niệm “biên cương quyền lợi” này đưa tới việc họ coi Biển Ðông của nước ta là vùng “hạch tâm quyền lợi,” tức quyền lợi cốt lõi của người Trung Hoa.
Ngày hôm nay, các nước ASEAN và Trung Quốc bắt đầu họp với nhau ở thành phố Côn Minh để bàn về vấn đề này. Những quy tắc cư xử trong vùng Biển Ðông đang tranh chấp đã ký kết từ lâu nhưng không được Trung Quốc áp dụng. Chính sách của Bắc Kinh đối với các quốc gia Ðông Nam Á lâu nay là chỉ muốn họp tay đôi khi có tranh chấp hải phận. Trong khi đó các nước Việt Nam, Malaysia, Brunei và Philippines đang có tranh cãi với Bắc Kinh tại vùng Trường Sa thì muốn cùng nhau tiến tới những lập trương chung để đối đầu với nước khổng lồ phía Bắc. Trong cuộc họp này chúng ta sẽ thấy sự thật là chính sách ngoại giao của ông Ðới Bỉnh Quốc muốn bành trướng bá quyền bằng cách “chia để trị” như thế nào!



Users browsing this topic
Guest (2)
44 Pages«<1112131415>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.