Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

105 Pages«<8586878889>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
hongvulannhi  
#1721 Posted : Sunday, February 6, 2011 3:42:14 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Tuổi Già Đất Khách

UserPostedImage

Nhà Thơ Nguyễn Chí Thiện
Huy Phương

Trong chúng ta, đến tuổi xế chiều, nhiều người đang sống với con, còn vợ, còn chồng bên cạnh còn thấy buồn, nhưng nghĩ đến những vị cao niên, cô độc trong những căn nhà già thiếu sinh khí, nhiều khi không nghe một tiếng nhạc, không nghe một tiếng nói, một tiếng cười trẻ thơ, nỗi buồn ấy càng lớn biết bao !
Ông già cô độc : 27 năm tù, 25 năm xa xứ

Toà nhà màu hồng 11 tầng mang số 901 nằm ở góc đường First-Flower, thành phố Santa Ana, như những bao diêm xếp đều đặn, trông có vẻ thiếu sinh khí, buồn nản. Cũng như những chung cư dành cho người cao niên khác, trong những toà nhà này, vì sống đơn lẻ một mình, nhiều người đã qua đời mà không ai hay biết. Hầu hết chủ nhân những căn phòng trong cư xá là người Việt Nam, một ông hay bà đơn độc hơn là có đũa có đôi. Ðây là loại “nhà già” cho những người cao niên còn đủ sức khoẻ, không cần người hỗ trợ hay chăm sóc về y tế hằng ngày. Qua phòng khách, tôi thấy có 4 bà đều là dân Nam Mỹ, đang ngồi móc hoặc đan len với nhau. Chúng ta ít thấy người Việt tụ tập trò chuyện hay ngồi với nhau trong phòng khách, hình như người mình thích sống một mình và có những sinh hoạt riêng tư, thường đi ra ngoài hay ở trong phòng một mình. Trên đường lên thang máy, tôi gặp một bà cụ đi walker chậm rãi, yên lặng trên dẫy hành lang đèn sáng. Hành lang dẫn đến những căn phòng trải thảm sạch sẽ, không kém gì những khách sạn hạng sang ở Las Vegas, đèn đuốc sáng trưng, nhưng im lìm, vắng lặng.

Ở chung cư Flower Park Plaza này có một ông già người Việt đơn độc, sống ở đây đã hơn 5 năm ở tầng lầu thứ 10. Ông không có gia đình, con cái hay thân thích ở quanh đây, tuổi già đau yếu, lại sống một mình trên đất khách, ông mang nỗi buồn tha hương, dù là sống giữa một cộng đồng người Việt đông đúc nhất nước Mỹ.

Tôi muốn nhắc tên một người mà độc giả có lẽ ai cũng biết hay đã từng gặp ông, đó là ông Nguyễn Chí Thiện, một người làm thơ và đã trải qua một đoạn đường cay đắng, chông gai, không có tuổi thanh xuân, không có tình yêu và ngay cả những ngày cuối cuộc đời khi ông được đến Mỹ, xứ sở của tự do, Nguyễn Chí Thiện cũng phải chịu nhiều cơn sóng gió, vùi dập ông như một cánh bèo trôi giạt trên sông những ngày mưa bão.

Ông chưa bao giờ lập gia đình như những người bình thường khác, vì năm 22 tuổi đã vào tù lần đầu 2 năm rưỡi, lần thứ hai 11 năm rưỡi, lần thứ ba khi Trung Cộng đánh vào biên giới Việt Bắc, chính sách tập trung những người nguy hiểm đã đưa ông vào lại nhà tù thêm 14 năm nữa, tổng cộng 27 năm. Thuộc thành phần phản động, chống chế độ, lại bệnh tật thường xuyên, cuộc đời của ông không hề có chỗ cho một cuộc hôn nhân, có quyền được một mái gia đình riêng êm ấm. Ông Nguyễn Chí Thiện thổ lộ, ông chẳng còn thời gian để yêu ai, mà trên đời này cũng chẳng có ai đem lòng yêu ông. Tấm thân ông, cuối đời lại lang bạt quê người, liệu còn ai cô đơn hơn ông nữa.

Trong những thời gian cách khoảng khi ông không ở trong nhà tù là những ngày đói khổ phải lo miếng ăn, mơ ước chuyện vượt biên vào Nam, nhưng phương tiện không có, nghìn người ra đi thì may ra chỉ có một người bơi được qua sông trót lọt. Ý nghĩ của ông Nguyễn Chí Thiện ngày đó là một người đang sống mất tự do không khác gì hơn là một người đang bị chôn sống.

Ra tù năm 1991, bốn năm sau ông được người anh ruột là cựu trung tá ngành tình báo Nguyễn Công Giân, bị tù « cải tạo » 13 năm, đi Mỹ theo chương trình H.O. bảo lãnh cho ông đến Virginia. Năm 1998, cùng với nhà văn Vũ Thư Hiên, ông được cơ quan Nghị Viện Quốc Tế Các Nhà Văn ( International Parliamentary Writers) đài thọ sang “bồi dưỡng” để lấy lại sức khoẻ ba năm tại Paris. Cuốn hồi ký Hoả Lò được viết trong thời gian này. Năm 2001, ông Nguyễn Chí Thiện trở về Virginia với gia đình ông Giân, nhưng khí hậu ở đây không thích hợp với bệnh tật kinh niên của ông là bệnh phổi, nên ông quyết định về sinh sống tại Nam Cali, nói rõ hơn la tại vùng Little Saigon. Ông trôi nổi đời ở trọ từ căn nhà nhỏ của nhạc sĩ Hồ Văn Sinh, rồi tới căn Mobilhome với nhà văn Phan Nhật Nam, rồi trở lại với Hồ Văn Sinh, ở đâu cũng có một chiếc giường nhỏ, cái TV và cái bàn viết. Ông tự giặt giũ và thổi cơm lấy cho hai bữa ăn của mình, lẽ cố nhiên là đơn giản đến mức như một người chay tịnh. Cuối năm 2009, ông Nguyễn Chí Thiện được về trú ngụ trong căn chung cư này trên đường First, một căn studio, sở hữu một cái tủ lạnh và tiện nghi bếp núc, phòng tắm riêng cho mình.
Một ngày của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện

06 giờ sáng đã thức giấc, nhưng đến 09 giờ mới ra khỏi giường, vì đêm nào cũng phải phải ba giờ sáng ông mới ngủ được. Làm vệ sinh cá nhân xong, pha cho mình một bình trà, ông ngồi vào máy computer đọc báo và nhận gởi thư tín cho đến trưa. Khoảng 1300 ông mới vo gạo nấu nồi cơm điện rồi hâm thức ăn đã làm sẵn để trong tủ lạnh. Tí bắp cải, tí cà chua, chút cá, chút trứng cho qua bữa, nhiều khi mệt mỏi, buồn bã ông không muốn gượng dậy vào bếp để nấu và ăn cho xong bữa cơm. Tôi đến thăm ông lúc 1500 giờ, vào căn bếp để quan sát ông ăn uống ra sao, cho bài phóng sự, chứ không phải tò mò nhìn vào nếp sống riêng tư của ông. Bên bếp chỉ có một nồi cơm nhão khoảng một « cup », chưa có dấu cơm được bới ra, trên bếp là một chiếc « xoong » nhôm để không, còn sạch sẽ. Như vậy là hôm nay, từ sáng ông chưa ăn gì, chỉ mới gượng gạo vò cúp gạo, nấu nồi cơm, rồi ... để đó. Nhà báo chưa đám mở tủ lạnh ra để xem chiều nay ông có gì để ăn không.

Ông cho rằng bây giờ ăn chỉ còn là « nghĩa vụ », không còn thấy thích, vì vậy mỗi ngày phải thường uống thêm nhiều thứ thuốc bổ và ăn bột protein. Ăn trưa xong thì ông đọc sách hay mặc áo quần thật ấm, xuống đường đi bộ loanh quanh vài vòng cho giãn gân cốt. Ông có nhiều bạn bè trong giới văn chương còn nhớ đến ông, thinh thoảng ghé qua chở ông đi dự một hai sinh hoạt cộng đồng cần thiết hay ra ngoài ăn bát phở để thay đổi không khí tù túng của một căn phòng chật hẹp.

Những lúc cần đi mua ít thức ăn, ông xuống đường, lấy chuyến xe bus trên đường First đi về hướng West xuống chợ ABC mua ít thức ăn rồi trở về. Ông cũng chọn bác sĩ gia đình và nhà thuốc ngay trên tuyến đường này.

Từ xưa đến nay, ông chưa bao giờ lái hay sở hữu một chiếc xe hơi vì mắt ông rất kém. Mười lăm năm nay, ông chỉ đi nhờ xe bạn bè, dùng xe bus hay cuốc bộ.

Tôi hỏi ông, là một nhà thơ nổi tiếng, được nhiều người hâm mộ, có ai ưu ái, thấy ông sống một mình, không vợ không con, đem thức ăn đến nuôi ông không. Ông Thiện cho biết có vài vợ chồng đến thăm, cũng như một cô cháu xa, thấy ông vụng chuyện nấu nướng nên thỉnh thoảng mang lại cho một món ăn, chứ không có « bà già » nào thuộc « diện tình cảm » cả. Buổi chiều, mệt mỏi, ông Nguyễn Chí Thiện lên giường khoảng 10, 11 giờ nhưng không ngủ được trước ba giờ đêm. Trong câu chuyện không lúc nào tôi không thấy ông cười. Ông có vẻ mệt mỏi, gầy yếu, da xanh mướt và hình như ông đang có một nỗi buồn lớn lao nào đó chế ngự tâm hồn ông.
Tuổi già đất khách : « Ðêm nảo đêm nao tớ cũng buồn ! »

Ông Nguyễn Chí Thiện không có bệnh tật gì trầm trọng, cũng cao máu, cao mỡ như những vị cao niên khác, nhưng cuộc đời ông đã phải 27 năm nằm trong nhà tù, mà lại nhà tù Cộng Sản, 15 năm ra hải ngoại sống một mình, ăn uống thất thường, tình cảm lại cô đơn, lúc nào ông cũng cảm thấy mệt mỏi, buồn bã. Về Mùa Ðông, ông lại hay bị cảm, chóng mặt, nhưng có lẽ tinh thần làm ông xuống sức. Ðó là nỗi buồn dai đẳng theo ông..

Không những thấy buồn, ông Nguyễn Chí Thiện tâm sự lúc nào lòng cũng thấy bồn chồn lo lắng, phải chăng đó là dấu hiệu của bệnh trầm uất, nhất là của một người sống một mình, không có ai bên cạnh để chia sẻ nỗi vui buồn, và càng ngày càng đắm chìm trong nỗi buồn riêng tư ấy. Có khi người ta buồn những cái buồn vô cớ, nhưng cũng có những nỗi buồn có tên đeo đẳng chúng ta suốt cuộc đời. Ðối với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, ông canh cánh bên lòng nỗi buồn về quê hương.

Năm 1991 khi Liên Bang Xô Viết tan rã, ông Thiện tiên đoán “chậm lắm là năm 2001, nghĩa là 10 năm sau, đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ đi vào bóng tối và Việt Nam sẽ được dân chủ hoá”.

Bây giờ đã năm 2011, chưa có dấu hiệu gì đất nước thoát khỏi sự cai trị của đảng Cộng Sản, mà thân nhân, bà con, bạn bè lần lượt ra đi. Việc hy vọng có một ngày nào được trở lại để thăm làng quê, mồ mả, thân quyến họ hàng càng ngày càng xa, trong lúc đó, tuổi càng ngày càng cao, sức khoẻ mỗi ngày một yếu. Cả một thời tù đày, vất vả, ngay cả miền Bắc ông cũng không biết nhiều, cả cố đô Huế cũng chưa được đến. Nhưng lẽ cố nhiên, nhà thơ chống Cộng này sẽ trở lại Việt Nam khi đất nước có được dân chủ tự do, nhưng với tuổi đời và bệnh tật của ông, hy vọng này càng ngày càng mong manh, vì vậy mà nỗi buồn lớn vẫn còn. Nhận định về tình hình tranh đấu dân chủ trong nước, ông Nguyễn Chí Thiện cho rằng, cá nhân thì có, nhưng tạo được một phong trào quần chúng thì chưa. Nói về những công việc trước mắt và những chuyện chưa làm được, cá nhân nhà thơ Nguyễn Chí Thiện mong sẽ hoàn thành cuốn hồi ký, nhưng chỉ cô đọng trong vòng 300 trang. Trở ngại là khi ông ngồi trước máy computer lâu để đọc hay viết, mắt đau nhức và ông có cảm tưởng như mắt bị lồi ra.

Ðời sống của một người già ở Mỹ được săn sóc thuốc men, trợ cấp, nhà cửa, thực phẩm đầy đủ, nói chung là không còn phải lo đến cái ăn, cái mặc, nhưng về mặt tinh thần, một người già sống xa quê hương, không gia đình, bà con, thân thích như ông, phải nói là đơn độc, buồn nản. Ðêm nào khó ngủ, ông cũng buồn như nỗi buồn thế sự của nhà thơ Trần Tế Xương : “Ðêm nảo đêm nao tớ cũng buồn !”.
Cũng chịu cảnh tù đầy 27 năm, Nelson Mandela của Nam Phi ra tù, ông có đủ gia đình, vợ con và danh vọng của một tổng thống. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cũng ở tù vì tranh đấu chống cường quyền, ra tù, ông chịu cảnh lưu vong, ốm đau và cô đơn trên xứ người.
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1722 Posted : Sunday, February 6, 2011 7:52:04 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

UserPostedImage

Huế Tình Đầu
Tác giả: Hoàng Hương Trang

Ai xa Huế mà không nhớ Huế
Nhớ chuông chùa Diệu Đế, nhớ Văn Lâu
Nhớ Trường Tiền da diết sáu nhịp cầu
Nhớ Kim Long, nhớ bến đò Thừa Phủ
Nhớ dốc Nam Giao, nhớ bờ sông Bến Ngự
Nhớ Hàng Bè, Thượng Tứ, nhớ Bao Vinh
Nhớ sông Hương chan chứa thiết tha tình
Nhớ thông reo đỉnh Ngự Bình gió mát
Nhớ Tịnh Tâm, hồ sen bát ngát
Nhớ đò Cồn, An Cựu, Chợ Dinh
Nhớ con đường Vỹ Dạ bóng cây xanh
Nhớ Gia Hội, Đông Ba, Hàng Me, Đập Đá
Nhớ Ngự Viên, nhớ Nội Thành, Mang Cá...
Huế của ta ơi, biết nhớ mấy cho vừa!
Ai xa Huế mà không thương Huế
Thương mẹ già lặn lội mùa Đông
Thương em thơ đi học mưa dầm
Thương chị, thương anh mùa hè cháy nắng
Thương bữa cơm nghèo, nồi canh mướp đắng
Thương dĩa mắm cà, con cá thệ kho khô...
Huế của ta ơi, thương biết chừng mô!

Ai xa Huế mà không mơ về Huế
Dạo bước trên cầu áo trắng tung bay
Vành nón nghiêng nghiêng che mái tóc mây
Ánh mắt trong veo dòng Hương gợn sóng
Đêm trăng hè trời cao lồng lộng
Chiều thu êm tím ngát cả không gian
Tiếng hò trên sông ngơ ngẩn bàng hoàng
Hò ơ hò...chiều chiều trước bến...
Mơ sớm mai chèo đò qua cồn Hến
Trái bắp tươi non, nấu chén chè thơm
Dĩa bánh bèo tôm chấy hồng ươm
Đọi cơm hến, bánh canh, bánh ướt...
Nhớ biết mấy, những món quà quê hương
Không gì thay thế được
Dải đất quê nghèo mà mặn nồng yêu thương
Ai đã từng uống nước sông Hương
Ai đã từng hưởng ngọn gió chiều đỉnh Ngự
Ai đã từng bước đi trên những con đường tình tứ
Ai đã thả hồn trên những chiếc võng âm thanh
Ai đã đắm say tình Huế quê mình
Dẫu xa xôi mà không mơ về Huế Huế tình đầu thơm ngát, Huế yêu ơi!


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Linh Phuong  
#1723 Posted : Monday, February 7, 2011 1:18:43 AM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

TIẾNG VIỆT MỚI TẠI VIỆT NAM
Philato


Tác giả tên thật Tô Văn Cấp, sinh năm 1941, một cựu Sĩ Quan VNCH, cựu tù chính trị, định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. 1, hiện làm việc tại học khu Ocean View. Với nhiều bài viết sống động và xúc động, ông đã hai lần nhận giải Viết Về Nước Mỹ: 2006, với bài "Học Tiếng Anh" và 2007 với bài "Con ơi, Bây giờ con ở đâu.” Sau đây là bài viết mới nhất của ông.

***

- Anh ơi, dọn dùm em cái ga-ra này coi, đồ đạc lộn xộn quá hà*.(*một đọan quảng cáo trên radio v/v lắp ráp garage)
- Đã bảo vất bớt đi thì không chịu, lại còn đem đồ bán ở ngoài lề đường về nhà! Nhiều rác quá thì biết cất đi đâu bây giờ?
- Cái gì? Ông bảo ai mang rác về? Đồ ..của tôi còn tốt mà, thấy ga-ra-seo, tôi mua về, lúc nào cần sờ đến là có ngay, còn ông cứ đi "suốt" thì biết cái gì?
Đang ngọt ngào hạnh phúc anh-anh em-em, bỗng dưng thấy vợ nổi giận rồi nổi đóa, đổi tông "ông tôi", lão gàn Bát-Sách cũng bốc hỏa theo.
- Cái gì? Tại sao bà rủa tôi "đi tàu suốt"! Ý bà muốn rủa tôi chết đi cho rồi chứ gì? Phải mà, bây giờ tôi già rồi, là xấu như Chung Vô Diệm . ..
- Này này, tôi rủa ông hồi nào?Cứ nghe mấy ông bạn già dịch xúi đi uống những thứ thuốc linh tinh, dược thảo với quả trám, đã chẳng được việc gì, lại còn bị sai-ép-phếch làm cho ù tai, hoa mắt!Tôi nói ông đi "suốt" tức là đi suốt cả ngày, chứ "đi tàu suốt" hồi nào? Rõ là già nghễnh ngãng lãng tai!
- À ra thế! Thà rằng bà rủa tôi đi tàu suốt còn hơn là bà nói tiếng "suốt" VC trước mặt tôi. "Suốt" là cái khỉ gì? Phải nói cho rõ là suốt ngày, suốt tháng, suốt năm, suốt cả đời v.v..Cái tật ưa nói tắt, xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ ..
- Sao? Ông nói cái gì? Nhắc lại thử coi, ông nói ai xấu? Ai dốt?
- Xin lỗi bà, tôi nói cái bọn ngợm và những người ưa dùng tiếng VC.
- Không phải tôi ưa dùng mà chính các đài phát thanh và báo chí ở hải ngoại đang làm đinh tai nhức mắt người ta với những tiếng "chôm" của XHCN kia kìa! Chưa hết, chính các bạn của ông, những người từng là lính, từng không đội trời chung với bọn ngợm, từng bị chúng nhốt mà lại đi vay mượn ngôn ngữ của chúng để viết văn, viết hồi ký v.v..! Ông coi đây này, coi cái này này.
Xuân, vợ Bát-Sách, dí cuốn hồi ký chiến trường của Lê văn Chôm vào mặt chồng, tay vỗ-vỗ vào cái chỗ ngồi rồi quày quả bỏ đi ra hè ngồi sụt sịt. Bát-Sách lắc đầu thở dài, chuyện xẩy ra quá bất ngờ, Sách cầm cuốn hồi ký lên đọc:
- "Tôi không được đi phép thường niên mà đi hành quân "suốt" !
Ý hẳn là tác giả muốn nói ông đi hành quân suốt cả năm. "Suốt" là lối nói thu gọn của XHCN cho khác người, sốt rét cấp tính thì gọi là "sốt cấp", tăng tốc độ thì nói "tăng tốc", thiếu thốn và đói kém thành "thiếu đói" và rồi họ chẳng hiểu ý nghĩa hai chữ "thiếu đói" là gì nên đem dùng sai bét, lộn ngược. Khi đập thủy điện sông Ba bị vỡ, hàng ngàn gia đình ở hạ lưu bị cuốn trôi, báo trong nước đưa tin:
- Hàng ngàn gia đình đang lâm vào tình trạng "thiếu đói" trầm trọng.(!)
Họ chơi chữ nghĩa lộn ngược, nhưng cái lộn mửa là radio hải ngoại cũng cứ loan tin đồng bào trong nước đang "thiếu đói" trầm trọng, yêu cầu đồng hương "khẩn trương" đóng góp để giúp dân "thiếu đói" (!)
Lật trang khác, Bát-Sách giật mình khi thấy tác giả còn chơi bạo hơn nữa, chắc là nhớ đâu đó có câu "xuyên suốt sợi chỉ hồng", ông viết:
- "Tiểu đoàn của tôi hành quân xuyên suốt khắp 4 vùng chiến thuật"!
Trời ơi là trời! Chỉ cần viết đi khắp bốn vùng chiến thuật là được rồi, hà cớ gì phải khiêng 2 chữ "xuyên suốt" vào khiến nó giống như "hồi kí" của bộ đội miền Bắc? Không kềm được tức giận, Sách bật ra tiếng Đức rồi cảm thấy hối hận nên chàng bước lại bên Xuân đang ngồi sụt sịt, chàng nhè nhẹ đặt bàn tay lên vai nàng xoa-xoa rồi cúi xuống ghé sát vào tai vợ thì thầm:
- Xin lỗi em, xin lỗi em vì "sự cố" vừa rồi, anh sẽ dọn dẹp cái ga-ra của em cho sạch sẽ gọn gàng. Trong "quá trình" anh dọn thì em cười lên cho đời thêm vui chứ em cứ ngồi chẩy nước ra đó thì trông "phản cảm" quá.
Biết chồng làm lành, tuy đang tức cành hông, muốn hất tay Sách ra, nhưng thấy chồng cố ý diễu, dùng những ngôn ngữ của thời kỳ "quá độ tiến lên xã hội loài người" nên Xuân phì cười cầm tay chồng mắng yêu:
- Anh ngốc quá, xoa xoa vai là sai chỗ rồi, đằng trước cơ, mình "giao lưu" lại nghe anh.

Bát Sách dìu vợ đứng dậy, đặt nhẹ cái môi hôi mùi thuốc lá lên má vợ (gò má của vợ), cái mùi 555 khiến Xuân thường bị lãnh cảm, nhưng hôm nay sao thấy nó thơm thế, rõ là "yêu nhau trái ấu cũng tròn" nên cả hai cùng dìu nhau đi dọn ga-ra, vừa đi vừa song ca nho nhỏ:
"Không phải tại anh mà cũng không phải tại em, tại ngôn ngữ khỉ gió nên chúng mình giận nhau".

Giữ đúng lời hứa, Sách bắt Xuân ngồi ở xích-đu đu đưa đọc tiếp cuốn hồi ký chiến trường, nhờ nàng tìm xem tác giả này có "bức xúc" hay không. Chàng cũng không quên pha cho vợ ly Carte Noir nhiều sữa ít café, còn mình thì xoay trần khoe bộ ngực Omega, sắp xếp lại mọi thứ cho gọn gàng, những thứ chàng thường lén quăng đi thì hôm nay thấy chúng dễ thương. Một bọc chứa dây buộc bún khô Tháp Chùa mà vợ cất đi để dùng khi cần thiết, cũng được Sách vuốt thẳng thắn, bó lại treo lên vách thay vì vất vào thùng rác như chàng vẫn thường làm.

Thấy Sách mồ hôi nhễ nhại, Xuân vội đứng đậy đưa chồng cái khăn thấm nước đá và uống chung một hớp café. Sách cười híp mắt nói:
- Nhờ mấy tiếng VC mà mình lại yêu nhau hơn.
- Này lão già kia! Đừng có ăn nói hàm hồ như thế, nói theo cái kiểu một số kẻ vô ý thức lộng ngôn cho rằng nhờ VC mà gia đình họ được cơm no áo ấm ở Mỹ! Ông không biết cái nhục mất nước rồi bị tha phương cầu thực hay sao? Nếu chỉ cúi đầu ăn thì đâu nhất thiết phải đi bằng hai cẳng! Nếu...

Thấy vợ vung tay múa chân, miệng hò hét như những chính khách trên sân khấu, sợ hàng xóm nghe được thì thêm phiền hà, Sách vội chạy lại ôm Xuân "khống chế", nhưng nàng vẫn vùng vẫy, miệng la bải hoải. Không còn cách nào khác, chàng bèn dùng thế võ khóa mồm khiến đối thủ ú-ớ rồi ậm-ừ, người mềm nhũn như sợi bún thiếu điều muốn khuỵu xuống nên Sách vội bế thốc Xuân lên chạy vào phòng để cạo gió xoa dầu!

Nhìn chồng nằm gối đầu lên hai bàn tay, trán lấm tấm những giọt mồ hôi, nhớ lại thuở xa xưa mỗi khi gặp cảnh này, Xuân thường thưởng cho chồng một điếu thuốc SALEM, loại thuốc lá có mùi menthol dễ thương, mà cái tên của nó bị mấy ông zà-zịch dịch ra tiếng Việt nghe cũng dễ thương: "Sao Anh Làm Em Mệt"! Ngày ấy Xuân thường quẹt Zippo lên, đốt điếu thuốc, rít một hơi rồi phà khói vào mặt Sách trước khi gắn điếu thuốc lên môi người yêu.

Ôi thời oanh liệt nay còn. đâu! Lửa đã tắt, bình khô rượu mà SALEM cũng chẳng còn, để an ủi chồng và giúp chàng quên dĩ vãng oai hùng, Xuân nằm xích lại, nâng đầu Sách lên, lấy tay thay gối, thỏ thẻ như hồi xa xưa:

- Thôi đừng suy tư nữa, không còn Salem thì em đọc báo XHCN cho anh nghe, mua vui cũng được một vài trống canh.
- Đã hết thuốc Salem lại còn phải nghe chuyện XHCN thì anh trở thành liệt ..sĩ luôn à nghe. Mà tại sao em lại đọc báo VC ôn-dịch ôn-lai?
- Có vào hang hùm mới bắt được cọp, có đọc VnExpress, Tuổi Trẻ, Công An mới biết chủ tịt tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô sai hiệu trưởng Sầm Đức Xương đem nữ sinh đến cho hắn làm thịt. Có đọc mới biết ngư dân VN bị "tàu lạ" bắt và đâm chìm ngay trên biển của mình! Có đọc mới biết họ xây cầu chưa xong đã sập! Anh còn nhớ ngày 29/6/2007 cầu Cần Thơ bị sập khi đang xây khiến 54 công nhân chết và 80 bị thương không? Em nhớ rõ là vì ngày đó có ông vội vàng kêu gọi đồng bào hải ngoại "khẩn trương" góp đô cho ông đem vô XHCN cứu trợ!
- Chuyện làm việc thiện của người ta, sao em cứ thích xía vô? Mà cây cầu đó xây tới đâu rồi nhẩy?
- Cầu ấy sắp "hợp long" rồi, để em đọc tin trên VnExpress nhá:
"Cầu Cần Thơ chuẩn bị hợp long. Ngày 26/9/2007, sự cố sập 2 nhịp khiến 54 chết, 80 bị thương. Dàn thép cuối cùng được lắp đặt để nối liền cầu Cần Thơ bắc qua sông Hậu ngày 3/10. Dự kiến hợp long ngày 15/10/2009 và chính thức thông xe vào tháng 3/2010. Nhưng mới chỉ thông xe kỹ thuật thôi mà đã có 10 thợ chụp hình và nhiều hàng rong đến đây tác nghiệp. Có đi thực tế mới thấy một số bộ phận người dân chưa ý thức được giá trị và biểu cảm của cây cầu. (ngưng trích)
- "Hợp long, thông xe, tác nghiệp, biểu cảm, đi thực tế" là kí gì vậy? Bộ phận của người là bộ nào vậy? Bộ trên hay bộ dưới, thượng bộ hay hạ bộ?
- Bố ai mà biết! Chắc ý họ muốn nói "hợp long" là cầu Cần Thơ “giao hợp” với Vĩnh Long chứ gì. Còn thông xe chắc là cho xe chạy qua cầu, là lưu thông! Thông xe kỹ thuật chắc là cho xe đi thử! Tác nghiệp là là là... tác nghiệp! Biểu cảm là không phải phản cảm! Người (dân) ta có nhiều bộ phận mà chỉ có một "bộ phận" chưa ý thức thì hẳn là bộ phận này ở thấp thôi! Ối giời ơi, hiểu chết liền. Để em đọc anh nghe lời tuyên bố của ông thanh tra nói về nạn kẹt xe ở Hà Nội nhé:

"Ùn tắc ở các điểm phân làn chỉ là cảm quan, ùn tắc hiện nay chỉ là giả tạo do sự thiếu ý thức của một bộ phận người tham gia giao thông. Ngoài ra cũng có nguyên nhân mật độ giao động khi tựu trường đột biến. Chúng tôi chia làn để các phương tiện không bị xung đột, tránh ùn ứ. Nhưng ý thức kém, người tham gia giao thông thấy chỗ nào đi được là chen vào gây nên tình trạng ùn tắc cục bộ".
Đó là nguyên văn lời của thanh tra sở giao thông Hà Nội Hoàng Văn Mạnh phát biểu với VnExpress. Phóng viên không "đồng tình bèn “phản biện":

“Thực tế cảm quan cho thấy việc cưỡng ép phân làn ở một số tuyến đường có dải phân cách là không hợp lý.”

Khi tai nạn xe hơi xảy ra, cái sau ủi đít cái trước, thì họ gọi là "ô-tô đâm liên hoàn!” Làm như cái xe đầu tiên quay vòng lại húc vào đít xe sau cùng, liên hoàn mà! Cái gì xảy ra liên tiếp thì họ gọi là liên hoàn. Thằng ăn cướp đâm liên tiếp ba người thì họ bảo nó đâm "liên hoàn". Nếu chỉ có 2 xe thì sao? Hình chụp xe taxi bị xe Rolls Roys ủi đít bẹp dúm thì ngôn ngữ đỉnh cao diễn tả như thế này:
“Đuôi xe taxi dẹp dúm khi tác động với góc bên phải của Rolls Roys.”
Phi cơ đang bay, nghe có tiếng điện thoại reo, ô-tét-đờ-le đi đến yêu cầu hành khách tắt điện thoại, vì hành khách này mang 3 cái điện thoại, nhưng lại chỉ tắt có 2, còn 1 chiếc thì vẫn mở. Cô tiếp viên báo cáo với phi công trưởng, trích Vnexprees:

“Vị hành khách mang ba di động nhưng chỉ tắt có hai, còn một cái vẫn để ở chế độ mở..”

Nếu bạn đi vào RR rồi đi ra mà quên gài thì đó cũng là những cái cúc thuộc chế độ mở. Kể sơ sơ ngôn ngữ diễn tả chuyện giao thông. Bước qua thể thao, phóng viên VnExpress diễn tả động tác cầu thủ Beckham đá bóng:

“Beckham vào bóng bằng gầm giầy.”
Ai đã từng đá bóng thì làm ơn giải thích động tác "vào bóng" bằng "gầm giầy" là như thế nào? Khi các huấn luyện viên hướng dẫn, luyện tập và đưa ra những chỉ thị cần thiết cho cầu thủ thì VnExpress viết:

“HLV trưởng Argentina Marodona thị phạm cho các học trò trên sân tập.
“HLV Calisto của đội tuyển bóng đá VN liên tục phải nhắc nhở, sửa lỗi rồi thị phạm cho các học trò.”

Không lẽ "thị phạm" là đưa ra những chỉ thị về sai phạm?
Nhưng chưa ly kỳ bằng đoạn viết về ông HLV đội tuyển Pháp:
“Đội tuyển Pháp đã hòa 2 trận, HLV Domenech bèn thay đổi chiến thuật, nhưng quỹ thời gian chỉ còn 1 tuần nên ông Domenech đem lại quá nhiều bất cập.”

Ông HLV Domenech không còn "quỹ thời gian" để thay đổi chiến thuật, còn hoa hậu Je-nê-phơ Phạm (vợ bỏ của ĐVH) không được đi hét theo chồng thì tâm sự với PV báo Tuổi Trẻ:
“Trong quá trình làm việc sắp tới, tôi sẽ đầu tư quỹ thời gian vào công việc người dẫn chương trình.”
Chỉ có quỷ sứ mới hiểu "quỹ thời gian" là cái gì! Thay vì nói MC hay điều khiển chương trình thì lại "dẫn ct", làm như xích cổ nó kéo đi.
Không nói chuyện Beckham vào bóng bằng gầm giầy nữa, không tìm hiểu quỹ thời gian nữa mà đi nghe họ kể chuyện “màu đỏ chủ đạo” của cái xì-líp mà cô Venus mặc khi chơi banh .. lưới (banh lưới: tennis, banh lỗ: golf):

“Venus lại mặc đồ phản cảm. Ở giải Italy mở rộng, Venus lại diện trang phục phản cảm như ở giải Pháp mở rộng, nhưng lần này cô chọn màu đỏ làm chủ đạo.”

Ối bác ơi, cháu mặc xi-líp đỏ mà bảo là lấy màu đỏ làm chủ đạo thì nghe ghê quá, có khi lộn với lá cờ lấy màu đỏ làm chủ đạo đấy, cháu chả hiểu ý bác nói màu đỏ "chủ đạo" là cái gì sất.

“Ở US Open, Kim Clijsters loại ứng viên nặng ký Venus Williams, sau đó cô tiếp tục mạch trở lại hoành tráng ở giải đấu mà cô từng vô địch.”

"Mạch trở lại hoành tráng" nghe chưa kinh bằng ông phó giáo sư Hà Đình Đức nói về viêc nạo vét Hồ Gươm:

“Sau khi vét thí điểm kết quả sẽ được quan trắc đánh giá để có phương án xử lý tiếp theo. Khu vực xử lý thí điểm chưa tới 1% diện tích hồ, lượng nước hao hụt không đáng kể nên không cần bổ cập.”
Đường hầm cầu Thủ Thiêm bị cháy thì bản tin ghi lại như sau:
“Đường dẫn hầm cầu Thủ Thiêm phát hỏa, chiến sĩ PCCC đến hiện trường và đám cháy được khống chế. Tuy nhiên mật độ khói trong đường dẫn vẫn còn nên lực lượng tiếp tục triển khai tiếp cận điểm phát hỏa.”
Anh buồn ngủ rồi hả? Thôi để em ru cho anh nghe chuyện giá cả:
“Giá sữa bột ở VN tăng giá lung tung, bộ y tế thông báo là giá không được vượt trần quy định. Khung giá sẽ được xây dựng căn cứ trên giá bán không bao gồm chi phí bao bì. Sau khi cân đối, các doanh nghiệp được quyền công bố giá bán nhưng không được vượt trần quy định mà phải tiếp cận giá bình dân (!). Nếu vi phạm thì khung hình phạt là 5 đến 10 tháng tù.”

Xuân đang đọc những "mảng văn cực kỳ hoành tráng" cho chồng nghe thì Sách hét lên.. "thôiii ốiii", Xuân vội vàng nắm đầu chồng lắc lắc:
- Này này, anh mơ thấy gì mà hét lớn thế làm em giật cả cái .. mình, ác mộng hả? Cái gì thối? Em có đánh đấm gì đâu. Hay là anh mơ thấy con đ. ngựa nào nó bóp... cổ anh.
- Không có ác mộng hay đ.ngựa nào cả, chính em đấy, em làm anh phát điên lên đây này, nếu còn lải nhải những thứ ngôn ngữ khỉ gió đó nữa thì anh, thì anh...
- Thì anh, thì anh làm sao? Anh làm gì tôi? Vì anh tôi đã phải hy sinh "tiếp cận" với ngôn ngữ lộn mửa này. Anh nằm gối đầu lên tay tôi, tôi gác chân lên đầu...gối anh, tôi đọc cho anh nghe những "mảng văn chương cực kỳ" của XHCN đang trong thời kỳ quá độ tiến lên loài người mà anh lại hét thối lên là thế nào?
- Xin lỗi em, tại vì anh "bức xúc” quá.
- Ông nói "bức" cái gì, "xúc" cái gì? Muốn .. thì đi chỗ khác, nằm bên tôi mà ông "bức xúc" thì đúng là đần ông, ông đần. Tại sao ông lại đi mượn của VC cái thứ vô nghĩa ấy về làm cho bẩn cái lỗ ..tai tôi! Có nhiều tiếng thanh tao như khó chịu, bực bội, bực dọc, phẫn uất, tức tối, lo lắng, băn khoăn, giận hờn, đau khổ, điên tiết, lộn tam bành v.v.. tùy từng trường hợp mà dùng. Cái thứ gì mà đụng đâu cũng "bức xúc"! Mở miệng ra là "xúc" nghe tục làm sao!
- Ối giời!. Người ta nói đầy đường kia kìa, báo dùng, "đài" dùng, ông lớn dùng bà bé dùng thì có sao đâu? Thấy cái gì có hôi hám VC một tí là em chống, em đúng là người chống cộng "sảng".
- À thì ra ông nói tôi mê sảng chống cộng hả? Tôi nói cho ông biết, chuyện trong nước xảy ra làm sao, dẫu có thế nào tôi cũng chẳng nói làm chi. Cái vấn đề là sự trong sáng của tiếng Việt ở hải ngoại đang mờ dần vì pha trộn với ngôn ngữ bản xứ, nay có nguy cơ bị bệnh nặng do virus du-sinh và ca-nô mang sang, hễ chúng làm rơi ra câu nào là có kẻ chộp lấy mà dùng! Nhất là bọn con buôn, nó quăng cho cái quảng cáo đầy chữ VC kèm theo vài đô-la là các "la-dô" tranh nhau vồ rồi các xướng ngôn cứ ra rả trên các làn sóng "hoành tráng, khuyến mãi, ấn tượng v.v."! Báo chí thì bê nguyên văn các bản tin trên báo điện tử trong nước, trước đây thì đi hai bước cắt-dán, nay thì đi ba bước "highline, copie, paste là có bản tin như của chính minh, ngôn ngữ VC còn y nguyên, phóng viên viết tin thì dùng quá nhiều tiếng trong nước, có vẻ như họ xuất từ đó mà ra! Thu-em-hỏi!
- Này bà! Bà ăn nói nên giữ mồm giữ miệng kẻo bị đi kiện vì làm thiệt hại đến thương vụ của họ đấy.
- Con kiến mà kiện củ khoai ấy à? Mà tôi không có củ thì con kiến kiện để ăn cái gì? Thôi, chuyện cộng đồng để cộng đồng lo, tôi quay về chuyện giữa ông và tôi đây này. Tôi có làm điều gì khiến ông không vừa ý thì báo cho tôi biết rằng ông chán ngấy, khó chịu, bực mình v.v.. thiếu gì chữ để nói mà sao ông cứ chỉ có một câu thô tục "bức xúc"? Đã vậy, ông cũng như một số bạn của ông, sau khi bị "gẫy súng" lại bày đặt viết văn. Tôi trân trọng việc làm này nếu như các ông không vay mượn những thứ ngôn ngữ quái đản khiến ông không phải viết văn mà là "giết" văn chương.

- Bà đừng có nói thêm, nói điêu rồi chẻ sợi tóc ra làm tư làm tám, hai đầu bịt bạc giữa khảm xà cừ vu oan cho tôi.
- Oan hả? Nói có sách mách có chứng, cuốn sách hồi ký chiến trường ông đang "giết" tiếng Việt đây này, ngay trang đầu ông đã dao to búa lớn:
- "Tôi đi hành quân xuyên suốt khắp bốn vùng chiến thuật.." Ngô nghê chưa? Hai chữ "xuyên suốt" không bao giờ dùng ở miền Nam VN, vả lại nó quá thừa, quăng nó vào sọt rác thì văn của ông nhẹ nhàng đầy đủ ý nghĩa rồi. Còn ở dòng 4 trang 3, tôi lại tưởng là hồi-kí của bộ đội miền Bắc:
- "Tôi cho đại đội khẩn trương rút, nhưng để lại một tiểu đội ở tại hiện trường đề tìm phương án tiếp cận địch quân"!
Sách báo miền Nam có chữ đường "tiếp cận" trong hình học, còn ngoài chiến trường là "tiến sát, bám sát, lại gần" địch quân. Nay ông thấy người ta nói "tiếp cận giá bình dân" ông cũng bê vào văn của ông! Miền Nam ta chỉ dùng "khẩn trương" trong trường hợp báo động, giới nghiêm, thiết quân luật, nay thì cái gì cũng "khẩn trương", yêu khẩn trương, đái khẩn trương, ị khẩn trương. Cái đêm bị ngồi xe bít bùng từ trường Taberd đến Long Giao, dọc đường xe ngừng, bộ đội hét:

- Các anh đái khẩn trương lên".
Tôi thấy các ông ngơ ngác chả hiểu gì cả, nay thì xoen xoét nói "khẩn trương" như môi có bôi mỡ. Ông chồng yêu.. quái đản của tôi, các ông là lính, là người không đôi trời chung với VC, chúng đã giết 10 năm, 15 năm tuổi trẻ của các ông trong ngục tù khiến chị em tôi chết theo tuổi xuân! Nay chạy ra hải ngoại mà vội quên quá khứ, "giết" văn bằng ngôn ngữ VC. Tôi đã nhắc ông nhiều lần thì ông viện cớ là ở tù lâu nên quen miệng! Ngụy biện! Miếng ngon nhớ lâu, điều đau nhớ đời, ông thưòng mỉa mai nhắc chuyện cai tù dẫn các ông đi coi cine và ra lệnh:
- "Trong quá trình xem phim, các anh phải giữ cự ly gián cách."
"Quá trình" là diễn tiến một sự việc xẩy ra trong quá khứ, nếu họ dùng vào việc đang hay chưa xẩy ra thì là "nó dốt nó say sô" vậy mà các ông cũng bày đặt dốt theo sao? Tôi nhớ mãi cái buổi họp về đại hội sắp tới, ông nói thế này:
- "Trong quá trình diễn ra đại hội, chúng ta sẽ phải .."
Tôi nhớ là vì hôm đó sau khi ông phát biểu "quá trình", tôi vẫy con tô-tô và kiki lại nghe "bố" nó nói. Tưởng "đảng đã cho ông sáng mắt", ai ngờ sau đại hội, ông gửi một cái email cho các hội viên như sau:
- "Tôi đánh giá cao về sự năng nổ của các bạn đã giúp đại hội được thành công nhất định. Ý đồ của tôi là đưa các phu nhân đi tham quan Little SG, nhưng vì thời gian bị khống chế nên không thực hiện được. Xin cám ơn các bạn, những người đồng hương thân thương của tôi".
- Tôi định đập vỡ mặt cái láp-thóp đã ăn nói ba-láp, vơ vét rác rến XHCN vào cái thư gửi cho đồng đội, đồng môn! Ông ăn cắp tất cả chữ nghĩa của một "thủ trưởng". Cái gì là "đánh giá cao"? Một kiểu nói trịch thượng. Người Nam mình không bao giờ "năng nổ" mà chỉ có hăng say, nhiệt tình. "Ý đồ" là mưu toan thực hiện một hành động bỉ ổi, tại sao ông không dùng "ý định"? Còn "Tham quan" là tiếng hán, tiếng Việt là thăm viếng. tiếng ta có sẵn "thân mến, thân yêu, thân thiết" không dùng lại đi vơ con tiều "thân thương" vào! Chán! Hình như ông và bạn bè ông cùng ăn phải đũa của nhau, không còn biết phân biệt ngôn ngữ nào là Việt, ngôn ngữ nào là Ziệc + ! Họ thích háng-dăng như tham quan (thăm viếng) nghệ nhân (nghệ sĩ), xuất nhập khẩu (xuất nhập cảng) v.v..vì lệ thuộc Tầu, sợ Tầu đến nỗi tầu-Tầu đâm chìm tầu-ta ngay trên biển của ta thì bảo là "tầu lạ"!

- Tóm lại, người trong nước họ chế tạo ngôn ngữ thế nào thì kệ họ, đừng vay mượn chôm chĩa, đừng thấy họ vẫy đuôi ông cũng vẫy theo, họ bức xúc ông xúc theo. Tôi đã khuyên bảo ông nhiều lần rồi, nhưng cứ như nước đổ lá môn, tôi chịu hết nổi rồi, thôi đường ông ông đi, đường tôi tôi đi.

Nói xong bà Xuân xách mông ra đi, bỏ lại Sách một mình bên đống rác gara-seo. Buồn thối ruột (dĩ nhiên) Sách than thân:
- Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng, ai ngờ chỉ vì vài danh từ VC mà gia cang tôi tan nát! Còn những cái khác nữa của VC thì chắc khiếp đảm lắm đây!

Thưa đọc giả. Đây là chuyện xẩy ra trong gia đình lão Bát-Sách, cộng đồng của Sách. Nếu ai thấy quen quen thì chẳng qua là có tật giật mình thôi. Xin mỗi người cố gắng một chút để giữ gìn tiếng Việt được trong sáng, nếu có bắt chước thì tìm cái hay, đừng thấy "sang dốt nát" mà bắt quàng làm họ. Nhất là hiện nay các báo in, báo nói, báo hình... xin nhớ dùm vai trò quan trọng của truyền thông là giữ gìn tiếng Viết cho trong sáng.

Riêng tập thể các cựu QN, các cựu SVSQ, tập san quân đội, tiếng nói của tổng hội, của quân trường, của binh chủng nhất định phải nhặt những hạt sạn, giẻ rách ra khỏi diễn văn, thông cáo, báo chí của mình. Những tác giả gửi bài viết cho tập san BĐQ, đặc san TQLC, Đa Hiệu, KBC/HN, Chiến Sĩ Cộng Hòa v.v..phải gạn lọc, nhặt những cái đinh "ấn tượng. tiếp cận, thân thương, tham quan, năng nổ" v.v.. trước khi gửi bài. Nếu muốn dùng để riễu thì nên bắt chúng nhốt vào cái còng 2 ngoặc kép (".. ") kẻo làm đinh tai nhức mắt độc giả./.
Philato
Linh Phuong  
#1724 Posted : Monday, February 7, 2011 1:56:42 AM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

Năm mới nghe chuyện tiếu lâm

Ông Nguyễn Bá cẩn, cựu Thủ Tướng cuối cùng năm 1975 của Việt Nam Cộng Hòa, kể chuyện vui cười học trò dưới đây trong bài "Kỷ niệm học trò". Chuyện thật 100%.

"Sang năm thứ ba (1944), GS dạy Pháp văn là Bà Le Guezenec, phu nhân của Trưởng Ty Bưu điện Cần Thơ. Từ năm thứ ba lên năm thứ tư, có thay đổi một số giáo sư như GS Trực dạy toán, GS Trọng dạy Vạn Vật, GS Giỏi dạy Việt Văn, v.v…. Riêng Bà Le Guézenec đã để một kỷ niệm khó quên cho lớp tôi trong giờ văn phạm Pháp văn, khi Bà dạy cách chia động từ có vần “OUDRE” sau cùng. Lý do là vì Bà gọi môt nam sinh chia động từ “remoudre” và một nữ sinh chia động từ “recoudre” làm cho cả lớp cười rộ lên cả mấy phút, không ngừng được, làm nghẽn lớp học, khiến bà nổi giận bỏ ra về. Học sinh lại càng mừng thêm, được dịp mạnh ai nấy to tiếng phát biều ầm lên. Đến lượt các chị phải bỏ lớp và sau cùng ra về luôn".
LÝ DO :

Một nam sinh chia động từ remoudre (xay lại) là:

Je remous (rờ mu)
Tu remouds (rờ mu)
Il, elle remoud (rờ mu)
Nous remoulons (rờ mu lông)
Vous remoulez
Ils remoulent

Một nữ sinh chia động từ recoudre (may lại) là:

je recouds (rờ cu)
Tu recouds (rờ cu)
Il, elle recoud (rờ cu)
Nous recousons
Vous recousez
Ils recousent.

Người Paris.
Linh Phuong  
#1725 Posted : Monday, February 7, 2011 11:55:40 AM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

Chồng dân biểu Giffords sẽ quyết định về việc chỉ huy phi thuyền Endeavour

Phi hành gia Mark Kelly, chồng của Dân biểu bị thương Gabrielle Giffords, sẽ loan báo ngày hôm nay về việc liệu ông có chỉ huy phi thuyền Endeavour trong sứ mạng cuối cùng vào tháng Tư hay không.

UserPostedImage

Dân biểu Gabrielle Giffords và chồng, phi hành gia NASA Mark Kelly

Các hãng tin cho hay họ được biết ông Kelly đã quyết định sẽ hoàn tất sứ mạng này. Ông đã xin nghỉ phép tại cơ quan không gian NASA vài ngày sau khi bà Giffords bị bắn vào đầu trong khi gặp gỡ cử tri ở Tucson, Arizona cách đây gần một tháng.

NASA đã chỉ định vị tư lệnh dự bị để huấn luyện với phi hành đoàn phi thuyền Endeavour sau khi ông Kelly nghỉ huấn luyện.
Bà Giffords gần đây đã được chuyển tới một bệnh viện phục hồi chức năng ở Houston, Texas, nơi chồng bà thực hiện các buổi huấn luyện tại Trung tâm Không gian Johnson của NASA. Ông Kelly phát biểu với những người tới dự Buổi lễ Cầu nguyện Quốc gia ở Washington hôm thứ Năm rằng tình hình sức khỏe của vợ ông đang cải thiện mỗi ngày, đó là điều mà các bác sĩ của bà nói là “một dấu hiệu tuyệt vời.”
mv  
#1726 Posted : Monday, February 7, 2011 1:40:27 PM(UTC)
mv

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,454

Thanks: 5 times
Was thanked: 8 time(s) in 8 post(s)
Bầu Cua Cá Cọp : http://www.youtube.com/watch?v=SZ9FRC5VoDU
langthang09  
#1727 Posted : Monday, February 7, 2011 2:33:50 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)

UserPostedImage
Đợi Chuyến Đò Ngang

Tiễn đưa chân bước ngập ngừng,
Tai nghe tiếng của côn trùng nỉ non.
Đành rằng sông cạn, núi mòn,
Tình Ta sao lại héo hon ngút ngàn.

Ta ngồi đợi chuyến đò ngang
Hương xưa phảng phất mênh mang giữa trời.
Qua rồi ngày tháng êm trôi,
Qua rồi một thuở nụ cười ngây thơ.

Bao giờ cho đến bao giờ,
Ngàn năm nỗi nhớ vẫn ngơ ngẩn lòng.
" Ai đem con sáo sang sông,
Để cho con sáo xổ lồng bay xa."

Giận đời, giận cả người ta,
Cho dòng lệ nhỏ nhạt nhoà mắt cay.
Nhớ nhung cho xác thân gầy
Tìm trong kỷ niệm tháng ngaỳ buồn tênh ...
Hồng Vũ Lan Nhi

Tiểu Vũ Vi  
#1728 Posted : Monday, February 7, 2011 4:13:12 PM(UTC)
Tiểu Vũ Vi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 3,362

Was thanked: 3 time(s) in 3 post(s)
UserPostedImage

Thương chúc anh hai một mùa sinh nhật tràn đầy niềm vui và hạnh phúc ...
hongvulannhi  
#1729 Posted : Monday, February 7, 2011 6:02:25 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
HUẾ CỦA MỘT THỜI
HUY PHƯƠNG


Huế không bao giờ là của tương lai, nơi đó là quá khứ, là những gì đã yên nghỉ,
cùng với những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát.

Trong giọng nói, có một cái gì đó gọi là rất Huế, đối với Quảng Nam Đà Nẵng, cách nhau một ngọn đèo thì có khác, cũng là điều đương nhiên, nhưng với Quảng Trị, cách mấy mươi cây số đường đồng bằng, giọng Huế không lẫn vào đâu được. Dạ, dạ thưa, tiếng nói nhỏ nhẹ dịu dàng.

Vì phải sống trong một hoàn cảnh đặc biệt nên phải kềm giữ sự yên tĩnh, nho nhã theo cung cách quý tộc, quan liêu hay bình dân thôn giả cũng phải nhu mì, gia giáo. Theo các nhà nghiên cứu về thổ âm thì cho rằng "Ở nơi nước trong thì tiếng nhỏ, ở nơi nước đục thì tiếng thô". Điều rất Huế trong giọng nói này, lâu hóa thành thói quen, được xem là một phong thái lịch sự đặc biệt không đâu có. Làm sao người ta quên được cái tiếng dạ lạ kỳ của người con gái Huế, dạ để khỏa lấp, dạ để từ chối, dạ để đồng ý hay dạ có nghĩa là không gì hết. Làm sao anh chàng trong Quảng ra thi có thể hiểu hay chịu đựng nổi một lối trả lời vô thưởng vô phạt, nhưng nhỏ nhẹ, không thể trach vào đâu của một người con gái Huế mà anh ta muốn làm quen.

-Em tên chi? - Dạ!
-Nhà Em ở đâu? - Dạ!
-Tôi có thể làm quen với em được không? - Dạ!

Phải chăng ở nhà trước khi đi Mạ đã dặn không ăn trầu người, đừng để người lân la, "trước ngoài sân sau lần vô bếp", tốt hơn hết là cứ dạ cho nhỏ nhẹ, cho lễ phép, cho tới khi mô hết dạ nỗi thì thôi. E lệ, khép nép là những đặc tính của người con gái Huế mỗi khi nàng gặp khách lạ như thi sĩ Đinh Hùng đã ghi lại "Cô gái Huế đa tình, vành nón nghiêng khép nép".

Người con gái Huế gặp người lạ, tay thì níu vành nón, sẵn sàng làm mạng che, tay thì quấn tà áo, vừa phòng thủ, vừa tránh những làn gió vô duyên quái ác. Cái thời áo trắng quần trắng đã làm cho bao nhiêu chàng trai phải xốn xang rụng rời trước cái mờ mờ ảo ảo, nửa che mà nửa không của cái "sương khói mờ nhân ảnh" đó. Bạn cũng biết là nữ sinh Huế không bao giờ mặc quần đen, cái màu không tinh khiết, tội lỗi đó, có gì thì cũng phải che đậy, ngụy trang cho tới cùng.
Tính cách Huế thường là che dấu hay tự chế những cái phàm tục, bao gồm cả trong cách nói năng, ăn mặc, ứng xử. Khách đến nhà, thì gia chủ hay con cái trong nhà, phải quấn lại mái tóc, mặc vội chiếc áo dài, mới dám bước giáp mặt khách, dù thân hay sơ.

Tội nghiệp cho những người con gái Huế phải sinh ra trong những hoàn cảnh bần hàn, với một hai chiếc áo mà phải thay đổi luôn luôn, cứ bước ra cổng nhà là phải lên áo dài, bất kể đi đâu. Ngày nay phải chăng sự thanh lịch đó còn lại nơi chiếc áo dài, dù là chiếc áo dài cũ, bạc màu, vá víu của người con gái gánh một mớ bông thọ ra chợ, hay nơi bà bán đậu hũ trên vỉa hè, dù chân thì đi đất, miệng còn bập bập điếu thuốc Cẩm Lệ sâu kèn.

Cái ăn, cái ngủ là cái rất riêng tư của người Huế, nhiều khi phải giấu giếm đến mức sợ sệt, chớ có đột nhập nhà người ta vào cái thời điểm ấy. Cái nghèo muốn giấu đã đành, cái sang trọng, người Huế cũng không muốn ai biết. Cũng có khi cái nghèo mà nghèo kiểu cách, nghèo cái kiểu mệ chém củ khoai, buổi sáng trên chiếc mâm đồng chỉ có mấy chén cháo trắng thì gọi là "thời" cháo hoa.

Cái ăn không còn là cái khoái trá có thể hả hê trưng bày ra ngoài mà hình như phải giấu kín đi mới gọi là người nho nhã. Cơm đường, cháo chợ, cách đây vài mươi năm, trong xã hội Huế còn được xem là thứ tầm thường, hèn hạ. Bạn có biết là ngồi quán cà phê cụ Phấn là một sự cách mạng lớn trong xã hội Huế vào những thập niên năm mươi không? Đến như khi cái xe nước mía từ Sài Gòn du nhập ra Huế quả là đã thay đổi nhiều lắm. Ngay cả vào những năm 1950, Huế cũng chưa bao giờ có cái cảnh ăn đứng góc đường như chúng ta thường thấy ở khu Parteur-Lê Lợi Sai Gon.

Dân Huế ngày xưa thời phong kiến là vua chúa, quan lại, viên chức triều đình, binh lính và thư sinh, một thời sau đó là quân nhân, công chức và học sinh, sinh viên, không thấy có mấy ngành nghề công nghệ hay thương mãi, con buôn hình như không được trọng vọng mấy trong xã hội nho nhỏ này, cái lối xếp hạnh "sĩ nông công thương". Các ngành tiểu công nghiệp như chằm nón, đóng khăn, đóng giày, dệt lụa có khi được tuyển chọn từ các địa phương trong cả nước về kinh đô để phục vụ cho giới vua quan, sau đó ra cả cho thứ dân, nhưng không thấy có cơ hội phát triển ra rộng lớn.

Một nơi không có kỹ nghệ, không có nhà máy, không vận dụng nhiều đến cơ khí, thì cũng là một nơi yên tĩnh, nhịp sống lặng lẽ, chậm chạp. Thành phố mang về một vẻ cổ kính hiền hòa, và không khỏi đượm một vẻ nghèo khó. Cũng như những thành phố cổ xưa, nhỏ bé khác, Huế như trong một chòm xóm nhỏ mà người dân hầu hết đều biết nhau, và vì sự giao thông hạn chế, chỉ có một chiều ngang theo quốc lột, một mặt thì ngăn bởi biển, một mặt thì chặn bởi núi, ở đó thành kiến còn nặng nề, cố chấp, ít chấp nhận được cái mới lạ, tân thời. Khoảng năm 1948-49, khi mệ Sen (con vua Thành Thái), một người đàn bà Huế, lần đầu tiên dám lái một chiếc xe hơi Simca Aronde, thì cả thành phố coi đó là hiện tượng dị thường.

Đến với Huế, người ta như đi trở ngược lại giòng thời gian, ở đây, quá khứ bao trùm lên tất cả. Ở đâu cũng thấy những dấu vết nhắc ta nhớ tới những ngày tháng đã qua. Cung đình, bia mộ, lăng miếu thời Thăng Long trong gần tám thế kỷ, vẫn còn dấu vết một thời đại đã qua. Kinh đô Thuận Hóa thì vẫn còn đây, với những di tích, đền đài, lăng tẩm, với những ngàn thông reo, với những bờ tre xanh mướt trên giòng Hương lặng lẽ. Những người đã khuất mà hình như linh hồn còn ở đâu đây, phảng phất bóng tinh kỳ hay tiếng trống chiêng, bát nhã, sênh phách cầm ca.

Nơi đây, những dấu ấn của lịch sử còn ẩn hiện trên mỗi bờ thành, góc phố, nơi tấm bia mộ hay trên những lăng tẩm. Nơi đây là dĩ vãng, là tháng ngày qua, người ta về đây là để hồi tưởng, để nhớ nhung. Ở đâu cũng đượm một vẻ buồn, mà người ra đi thường ray rứt muốn có một ngày trở lại: "Quê hương là cái gì mà người ta nặng lòng với nó như thế. Tôi thấy ở đây sao buồn quá!" (Đinh Anh Dũng trong Nhớ Huế)
Quá khứ của Huế được ghi nhận nhiều nhất qua những công trình lăng tẩm. Các Vua nhà Nguyễn trước khi băng hà đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ kiểu cách và xứng đáng của một bậc đế vương, từ địa thế, khung cảnh tĩnh mịch đến các kiến trúc lộng lẫy. Nơi nào cũng là núi rừng bao la, có đại thụ, có hồ sen cùng với tiếng chim, tiếng suối, tiếng thông reo đem lại cái cảm giác dịu dàng thơ mộng và yên tĩnh cho tâm hồn con người.

Huế không những là vùng đất của quá khứ, mà Huế còn như bao phủ bởi những linh hồn quá vãng, là của hương trầm, là của chuông mõ luôn luôn nhắc nhở tới sự hiện diện của những linh hồn oan khuất. Đó là những linh hồn chưa siêu thoát trong một bề dày của Huế tang tóc, chết chóc, tức tưởi, của những ngày thất thủ kinh đô, khi giặc Pháp tấn công Huế năm 1885, lúc voi ngựa cùng người dày xéo lên nhau thoát ra bốn cổng thành, của giặc giả thanh toán hận thù nhau qua thời đại "tứ nguyệt tam vương" của Tường Thuyết, của hàng ngàn cái chết oan khuất giữa ngày Tết Mậu Thân mà máu xương rải rác từ đồng bằng Phú Thứ cho đến khe sâu Đá Mài, của thây chất thây trên bờ biển Thuận An dưới cơn mưa pháo 75, của hàng trăm thân xác cuốn theo giòng nước lũ của mùa Thu năm Kỷ Mão. Có chỗ nào âm u, sầu thảm hơn Huế với những địa danh Ngã Tư Âm Hồn, Miễu Âm Hồn, cồn chém An Hòa, Mả Ông Trạng hay cả đến cái quán cơm có cái tên ma quái không đâu có là Quán Cơm Âm Phủ.

Ban đêm, Huế có chỗ nào là không có lập lòe nén hương, suýt soa khấn vái, cầu nguyện. Sau tang tóc Mậu Thân, hãy về Huế mà nghe, nửa đêm về sáng, láng giềng, hàng xóm vang dậy chuông mõ và tiếng tụng kinh cầu nguyện cho những người đã mất sớm được siêu thăng. Huế là nơi đã trải qua nhiều bién cố đau thương, Huế đã than khóc với những tang tóc và oan khuất sẽ không bao giờ phai lạt. Nơi mỗi khu vườn của Huế đều có mỗi am thờ cho những người khuất mặt, với hoa quả, một cành hoa phượng và một ngọn đèn leo lét. Linh hồn những người khuất mặt hình như vẫn còn lẫn khuất đâu đây.

Ngày xưa, mỗi năm vào ngày hai mươi ba tháng tư Âm lịch, để ghi nhớ ngày thất thủ kinh đô trong lịch sử, khắp nơi, nhất là ở vùng chợ Đông Ba, người ta đã dựng trai đàn, chần tế suốt một tuần lễ theo nghi thức Phật Giáo để cầu siêu cho những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát. Cũng như ngày Lễ Vu Lan ở Huế có phần trọng đại hơn với những nghi lễ cúng cô hồn các đảng thập phương, phóng sanh, phóng đăng để hồi hướng công đức cho tất cả những người đã mất. Huế không bao giờ là của tương lai, nơi đó là quá khứ, là những gì đã yên nghỉ, cùng với những linh hồn oan khuất chưa siêu thoát.
Nói đến Huế, chúng ta liên tưởng đến những cảnh chùa chiền. Không đâu trên đất nước, trong một vùng đất nhỏ hẹp mươi chục cây số vuông, mà có tới trên một trăm cảnh chùa. Được cơ duyên như vậy là do từ gần bốn trăm năm trước, Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế, tên húy Nguyễn Hoàng trong khi vào Nam tìm "Hoành Sơn Nhất Đái" để dung thân, đã hạnh ngộ với một bà tiên (hay phật) trong giấc mơ chọn đất Hà Khê(Kim Long) để dựng chùa Thiên Mụ. Cho tới những đời vua sau, chùa chẳng những được trùng tu và xây dựng thêm (tháp Phước Duyên xây năm 1844 dưới thời vua Thiệu Trị) mà khắp đất thần kinh, chùa chiền được xây dựng thêm rất nhiều, khiến bây giờ Huế có những cảnh chùa rất đẹp, xét về mặt nguy nga tráng lệ, không thể so với lăng tẩm, nhưng không thiếu khung cảnh u tịch, nên thơ. Báo Quốc, Từ Đàm, Diệu Đế, Thuyền Tôn, Tường Vân và nhất là Linh Mụ, là những ngôi chùa đã ghi nhiều kỷ niệm trong lòng dân đất Thuận Hóa, Phú Xuân. Và trong tuổi thơ của mỗi người Huế, ai không ghi dấu lại kỷ niệm của một ngày lên chùa?

Nhớ Huế làm sao khỏi nhớ đến những khu vườn. Vườn là khoảng không gian của thời thơ ấu của mỗi chúng ta, là bóng mát thời trẻ dại, là những nỗi hẹn hò, là những thứ trái cây ngọt ngào hay chua chát mà vẫn mang đầy hương vị của thời mới lớn. Những cây mít, những hàng ổi, những gốc thơm, những chùm khế. Nào nhãn lòng, nào vải trạng, nào là dâu. Có khi là bồ quân, có khi là lựu, có khi là đào. Tuổi ấu thơ và nhất là thời mới lớn, tuổi dậy thì, lòng ai không khỏi ngát hương hoa, trong một khu vườn tĩnh mịch nào đó, với nỗi lòng rung động thuở ban đầu còn trong xuốt và đơn giản như những giọt sương mai.

Vườn của nhũng Vương Phủ với giả sơn, hồ sen, thủy tạ, với những bức bình phòng, tường ngăn trang trí bởi những mảnh sứ vỡ làm thành hình Long Lân Quy Phụng hay Mai Lan Cúc Trúc. Những khu vườn đó đây ở Vĩ Dạ, ở Kim Long, ở Gia Hội, ở Ngự Viên, ở An Cựu là những khu vườn đã mang bao nhiêu lời thơ ý nhạc, mang bao nhiêu tình yêu thuở thiếu thời, là nơi của hẹn hò, mong đợi, thương nhớ.

Có phải ngày xưa vườn Ngự Uyển
Là đây hoa cỏ giống vườn tiên
Gót sen nhẹ bước lầu Tôn Nữ
Ngựa bạch buông chùng áo Trạng Nguyên
(Nguyễn Bính)

Vườn Huế ngày hè còn rộn tiếng ve, nhắc nhở tới mùa thi cũng là mùa chia cách. Giữa những buổi trưa yên lặng mùa hè, một tiếng ve cất lên khởi đầu, rồi muôn ngàn tiếng ve vùng lên phụ họa, tạo nên một khúc hòa tấu, âm thanh lan ra từng vùng rộng lớn. Cùng với hoa phượng nở trên những con đường xứ Huế, tiếng xe đã mang mùa hè đến bao nhiêu lần trong quãng đời học trò, ghi lại bao nhiêu mối tình, bao nhiêu sum họp và chia ly.

Nhà ở Huế thường làm sâu vào giữa vườn, từ cổng vào nhà có khi phải qua một hàng rào bông cẩn(dâm bụt) hay chè tàu, thỉnh thoảng rắc bởi những sợi giây tơ hồng màu vàng rực. Cậu học trò mới lớn, còn rụt rè, nhút nhát muốn làm quen với cô bé trong nhà làm sao có đủ can đảm để vượt qua cái con ngỏ dài hun hút đó, hay những đêm trăng, đành thơ thẩn qua lại nơi ngỏ ấy mà ôm mối tình si. Hương si trong vườn Huế, có khi là hương bưởi, có khi là hương dạ lý, có khi là hương sói, hương lài, hương mộc lan, cũng có khi là hương sầu đông thơm ngát một khung trời thời trẻ dại. Và đêm vườn Huế làm sao có thể thiếu trăng. Trăng lặng lẽ soi những bóng cây trong vườn, trăng lên trên đọt cau, trăng ướt trên ngọn dừa. Và trăng trên sông Hương, trăng trên màu sáng bạc của cầu Trường Tiền, trăng trên mái thuyền, trăng vỡ dưới mái chèo và ánh trăng rung động theo âm thanh của những tiếng hò đêm trên sông.

Huế với những dòng sông chảy ngang dọc tạo cho Huế một vẻ đẹp tươi mát dịu dàng. Huế có con sông Hương lượn lờ qua Lăng Gia Long, Minh Mạng, qua Điện Hòn Chén, qua Văn Thánh, Linh Mụ, Kim Long, về Vỹ Dạ, Cồn Hến, Tây Tượng trước khi tới Thuận An. Huế có con sông đào xinh xắn từ cầu ngói Thanh Toàn, qua An Cựu về Bạch Hổ nắng đục mưa trong, với con sông từ Gia Hội, ngang qua chùa Diệu Đế qua Đông Ba tạo nên cái cảnh "Đông Ba, Gia Hội hai cầu, ngó vô Diệu Đế bồn lần hai chuông", với con sông đào từ cầu Bạch Hổ, qua Phú Xuân, tới An Hòa. Tất cả dòng sông đó đã ôm ấp Huế, chảy qua những khu nhà vườn, những bậc tam cấp của những khu vườn ven sông, mang những tiếng cười trong trẻo của ai đó vang qua tới bờ sông bên kia. Với những giòng sông như thế, Huế có những con thuyền bềnh bồng trên bến nước, những ngọn đèn hiu hắt bên sông và cả những câu hò vang vọng, mang mang theo sóng nước đi rất xa, và cả với những mối tình chia cắt của ngày nào khi mà "Thuyền về Đại Lược, duyên ngược Kim Long."

Nhưng cùng theo với những giòng sông đó, mỗi năm cơn bão lụt đã gieo tai họa thảm khốc xuống Huế. Nghèo đói, tai ương hầu như triền miên trên mảnh đất miền trung cằn cỗi, nhưng Huế chính là tâm điểm của hiểm họa thiên tai. Có nơi nào chịu nhiều nỗi bất hạnh, thống khổ như Huế. Những xác người trôi ra biển cùng với những mái tranh nghèo theo những cơn nước lũ, cơn đói đổ ập lên cả một vùng đất cằn cỗi trong nhiều ngày tháng. Có nơi nào chịu những cảnh chết chất chồng dày xéo, có nơi nào chịu cảnh chết thảm khốc trong những mồ tập thể như Huế. Phải chăng Huế chịu căn nghiệp của cha ông đã thôn tính, tàn sát, đồng hóa cả một Chiêm Quốc trong một thời Nam tiến.
Huế như một người con gái tài hoa mà bất hạnh. Huế là "nơi đi để mà nhớ, không phải ở để mà thương". Người xa Huế như xa một mối tình không trọn vẹn, nhưng xa rồi, thương nhớ xót xa biết bao nhiêu. Huế là nỗi ám ảnh không rời, Huế là nơi gợi cho chúng ta những giấc mơ xưa không bao giờ thành, là nơi chúng ta thường mong ngày trở lại nhưng không bao giờ đúng hẹn. Chúng ta khó tìm lại những gì của Huế trong thời thơ ấu của chúng ta, như không thể "tắm hai lần trong một giòng sông", như không thể tìm lại mùi vị của một món ăn ngày trước, hương thơm dịu dàng của một đêm trăng sáng trong vườn xưa, và một mối tình xa xôi đã mờ nhạt.
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1730 Posted : Monday, February 7, 2011 8:28:11 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Chuyến trở về đặc biệt

Chủ Nhật, 06/02/2011 07:59

UserPostedImage

Năm 1965, cậu bé 10 tuổi Lê Thành Ân rời Sài Gòn theo người thân sang Mỹ. Và 45 năm sau, ông trở lại quê nhà trong vai trò tổng lãnh sự với nhiệm kỳ 3 năm, bắt đầu từ cuối tháng 8-2010. “Là tổng lãnh sự Mỹ người Việt đầu tiên ở Saigon, đối với tôi đó vừa là vinh dự vừa là thách thức” - ông Ân bày tỏ.

Một bức bình phong được đặt cạnh lối vào nhà ông Lê Thành Ân, sắc gỗ đen ánh lên vẻ thâm nghiêm. Chưa thôi ngẩn ngơ với chùm tranh sơn mài tả cảnh sinh hoạt dân gian cổ xưa được cẩn trên đó, khách đến thăm nhà ông lại trầm trồ trước những tủ, kệ đầy ắp bình gốm và cơ man tượng Phật, mục đồng, nho sinh, chú Tiễu, ông Táo, cô Tấm... bằng đất nung.

Giữa không gian sống hiện đại nhưng đậm chất Á Đông ấy, hoa phong lan khoe sắc khắp những góc phòng và trên chiếc độc bình gốm sứ ngự giữa chiếc bàn khách ngoài kia điểm xuyết mấy cành đào tươi rói. Hương Xuân - vị Tết như đã sớm tràn ngập mái ấm này!

“Năm nay là lần đầu tiên sau 45 năm chúng tôi ăn Tết tại quê cũ. Điều đó thật ý nghĩa và thú vị đối với tôi vì được đón Tết cổ truyền của dân tộc trong năm bắt đầu nhiệm kỳ mới với vai trò tổng lãnh sự” - ông Ân mở đầu câu chuyện.
Cơ duyên trên đất khách

Lê Thành Ân là người con thứ bảy trong gia đình gồm có 9 người con ở Gò Công (thuộc tỉnh Tiền Giang ngày nay), khi lên 10 tuổi được người thân đưa sang Washington D.C (Mỹ) ở với người cô và mẹ của cô. Khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước vào tháng 4-1975, Lê Thành Ân đang là sinh viên năm thứ ba ngành kỹ sư điện tử tại Đại học George Washington.

Từ sự kiện năm 1975, ông được gặp Lâm Chí Tâm - con gái của một quan chức ngành ngân hàng chính quyền cũ - qua các hoạt động từ thiện trên đất Mỹ. Duyên kỳ ngộ, tình yêu giữa hai người nảy nở và đến năm 1981, họ thành vợ thành chồng.

“Đám cưới của chúng tôi lúc ấy đậm chất truyền thống, cô dâu và chú rể đều mặc áo dài, khăn đóng” - bà Tâm nhớ lại. Khoảng 5 năm sau, gia đình ông Ân đoàn tụ khi mẹ ông sang Mỹ theo chương trình định cư có trật tự (cha ông đã mất trước đó, năm 1972); nhiều người thân của ông ở Việt Nam cũng sang Mỹ và Pháp định cư.

UserPostedImage

Ông Lê Thành Ân, Tổng Lãnh sự Mỹ người Việt đầu tiên tại Saigon.
Ảnh: HỒNG THÚY

“Tôi gia nhập ngành ngoại giao vào năm 1991 sau 15 năm làm công chức ở Bộ Hải quân Mỹ” - ông Ân kể. Cũng vào năm ấy, ông đưa cả gia đình sang Bắc Kinh (Trung Quốc) để nhận nhiệm sở với cương vị viên chức ngoại giao.

Lần lượt những năm sau đó là Tokyo (Nhật Bản), Kuala Lumpur (Malaysia), Singapore, Seoul (Hàn Quốc), Paris (Pháp) và bây giờ là Saigon. Lần này, Lê Thị Mỹ Liên - 26 tuổi, con gái đầu của ông bà - và con trai kế là Lê Thành Nghiêm, 25 tuổi, không theo gia đình sang Việt Nam vì đang học tiến sĩ và làm cho công ty tại Mỹ; còn cô con gái út Lê Thị Mỹ Anh, 17 tuổi, cùng ba mẹ về lại quê cha đất tổ.
Văn hóa cội nguồn không phai

Sống ở nhiều nơi và tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau nhưng chất Việt Nam trong ông Ân và những thành viên gia đình hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Ông Ân và bà Tâm thường trò chuyện bằng tiếng Việt và luôn nhắc các con nói tiếng mẹ đẻ trong nhà.

Mong cho thế giới luôn hòa bình và mối quan hệ Việt - Mỹ ngày càng phát triển.
Tổng Lãnh sự
Lê Thành Ân
Họ có một quy ước đối với các con là mỗi khi gặp bà ngoại hoặc bà nội đều phải nói bằng tiếng Việt. Ông Ân cho biết: “Bé út (Mỹ Anh) nay đã đọc được tiếng Việt, vào quán có thể đọc thực đơn để gọi món ăn mà không sợ... bị đói. Sử dụng tiếng mẹ đẻ để luôn nhớ mình là người Việt, đó là cách giữ gìn văn hóa nguồn cội”.

Trong cuộc trò chuyện với tôi (được yêu cầu nói bằng tiếng Anh theo nguyên tắc của ngành ngoại giao), thỉnh thoảng ông Ân nói tiếng Việt, rất tròn câu rõ chữ! Bà Tâm, khi nghe chồng nhắc đến văn hóa nguồn cội, đã kể say sưa về những ngày Tết cổ truyền của gia đình trên đất khách.

“Từ 23 tháng Chạp, chúng tôi bàn soạn mâm cúng ông Táo. Cũng xôi chè, hoa quả, hương đèn cùng lời khấn cầu mong bếp nhà ấm cúng quanh năm, rồi tiễn ông Táo về trời” - bà Tâm kể.

UserPostedImage

Ông Ân phụ họa: “Ở những nước có tổ chức Tết âm lịch mà chúng tôi từng cư trú như Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Hàn Quốc thì ăn Tết lớn hơn. Riêng ở Mỹ, cộng đồng người Việt đón Tết khá xôm tụ.

UserPostedImage

Ông Lê Thành Ân và vợ - bà Lâm Chí Tâm - tại tư gia. Ảnh: HỒNG THÚY

Những ngày trước Tết, vợ chồng tôi đi mua sắm quần áo mới cho bản thân và các con, sau đó lo trang hoàng trong nhà. Ngày Tết, nhà tôi chưng rất nhiều hoa, nào đào, nào mai, nào phong lan và có thêm vài chậu quất... Ngoài ra còn có mâm ngũ quả nữa.

Gia đình tôi theo đạo Phật nên có lập bàn thờ cúng tổ tiên và bàn thờ Phật. Sau lễ cúng giao thừa, chúng tôi đi lễ chùa và sáng mùng 1 ở nhà chờ những người có “tên đẹp” như Tài, Thọ, Lộc... đến xông đất! Rồi các thành viên trong gia đình tụ họp lại, xếp hàng trước bàn thờ thắp hương vái gia tiên, sau đó chúc Tết lẫn nhau, người nhỏ tuổi hơn phải cung kính bái lạy người lớn, tiếp đến là trao tiền mừng tuổi”.
Thích nhạc Trịnh, mê cải lương

Thật bất ngờ khi nghe Tổng Lãnh sự Lê Thành Ân cho biết ông thích nhạc Trịnh Công Sơn, yêu những bản tình ca ngọt ngào và triết lý của nhạc sĩ tài danh này.

Thú vị hơn, mỗi khi có chương trình Chuông vàng vọng cổ ở Saigon là ông Ân đưa vợ đi xem; vở cải lương ông thích nhất là Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài. Rất dễ hiểu bởi tại nơi ông chào đời, vọng cổ và đờn ca tài tử rất phổ biến.

“Những làn điệu vọng cổ Nam Bộ mượt mà nhắc tôi nhớ lại thời thơ bé từng được ba mẹ dẫn đi xem cải lương. Ký ức ấy vẫn theo tôi đến bây giờ và không thể nào phai mờ được” - ông Ân chia sẻ.

Kể từ khi lấy ông Ân cách đây 29 năm, bà Tâm lui về làm nội trợ. Bàn tay khéo léo và tài vun vén của người vợ, người mẹ với những bữa ăn ngon đã trở thành hậu phương an lành của ông Ân và các con.

Những ngày Tết năm nay trên quê hương, bà Tâm dự định vẫn nấu những món ăn truyền thống mà bà đã từng nấu bao năm qua cho gia đình và để đãi khách như tôm kho tàu, thịt kho trứng, cải chua, dưa giá... “Mứt và bánh kẹo, tôi sẽ ra chợ Bến Thành mua. Tôi sẽ tự gói bánh tét, nấu một bữa chay vào sáng mùng 1 theo lễ tục Phật giáo. Món “ruột” Tết này tôi sẽ làm là xôi vò cơm rượu. Tôi làm được những món đó cũng nhờ ba mẹ, anh chị đôi bên - những người lưu giữ văn hóa cổ truyền rất kỹ - bày dạy cho” - bà Tâm cho biết.

Theo ông Ân, năm nay có thể Mỹ Liên và Thành Nghiêm không có điều kiện sang Việt Nam vui Tết cùng gia đình nhưng phong vị Tết trong nhà ông sẽ vẫn đầy ắp. “Tết này đặc biệt hơn, tôi sẽ mặc áo dài khăn đóng màu xanh, vợ tôi sẽ mặc áo dài màu đỏ đi lễ. Theo thông lệ, Tổng Lãnh sự quán Mỹ tại Saigon sẽ tổ chức tiệc tất niên. Khi đó, tổng lãnh sự sẽ lì xì cho con cháu của các nhân viên”.
Đặc ân và trách nhiệm

Trở lại Saigon sau 45 năm, ông Lê Thành Ân cảm thấy thích thú và bất ngờ trước vẻ đổi thay của thành phố. “Nét Sài Gòn cũ vẫn còn hiện hữu ở nhiều con đường, khu dân cư, biệt thự cổ, phố Tây. Nhịp sống thật sôi động và hối hả. Những công trình mới, hiện đại đang mọc lên khắp nơi” - ông Ân nhận xét.

Ông Lê Thành Ân cho rằng việc sang nhậm chức tổng lãnh sự nhiệm kỳ 3 năm tại Saigon lần này là một chuyến trở về đặc biệt của bản thân ông. Là tổng lãnh sự Mỹ người Việt đầu tiên nhận nhiệm sở tại quê nhà, đối với ông đó vừa là đặc ân vừa là thách thức.

UserPostedImage

Tổng Lãnh sự Lê Thành Ân cùng vợ - bà Lâm Chí Tâm (bìa trái) - và con gái út
Lê Thị Mỹ Anh trong trang phục truyền thống Việt Nam. Ảnh: Hồng Thúy

Ông nói: “Đây là vinh dự lớn của tôi khi được Tổng thống Barack Obama bổ nhiệm làm đại diện cho Chính phủ Mỹ tại Saigon, đại diện cho các giá trị Mỹ, làm cầu nối trong việc phát triển mối quan hệ của hai nước.

Tôi nhận thức rõ sự kỳ vọng của nhiều người Mỹ, bao gồm cả cộng đồng Việt kiều đối với tôi nên sẽ nỗ lực hết mình”. Một trong những ưu tiên của Tổng Lãnh sự Lê Thành Ân trong nhiệm kỳ của mình là tập trung phát triển hợp tác giáo dục, giúp sinh viên, trí thức Việt Nam có cơ hội và điều kiện học tập tại Mỹ. Gia đình ông còn dự định tham gia công tác xã hội, gây quỹ từ thiện... để giúp đỡ trẻ em và người nghèo ở Việt Nam.

UserPostedImage

Năm mới, qua giai phẩm Người Lao Động Xuân Tân Mão, Tổng Lãnh sự Lê Thành Ân gửi gắm: “Tôi chúc mọi người có sức khỏe tốt và thịnh vượng. Mong cho thế giới luôn hòa bình và mối quan hệ Việt - Mỹ ngày càng phát triển, sẵn sàng đối thoại để hướng đến một tương lai tốt đẹp hơn”.
Dương Quang
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1731 Posted : Tuesday, February 8, 2011 4:02:37 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

UserPostedImage

Sáng nay trời nắng đẹp. Những tia lung linh ánh hồng đang nhẩy múa trên những đóa hoa đủ màu sắc trong vườn. Nhìn màu nắng chói chang trong không gian, lòng LN bỗng dưng cũng vui theo với đất trời.

Mà sao không vui được, khi 2 ngày cuối tuần coi như bận kín hẹn hò. Chủ Nhật thì hẹn với Cát Ngọc buổi sáng, và hẹn với gia đình buổi tối, đón cháu Thúy Khang từ VN qua đây ăn Tết. Thứ Bảy, hẹn với Dedde, sẽ tham dự buổi họp mặt của các cựu nữ sinh Sương Nguyệt Anh. LN hơi ngập ngừng. Lời Dedde trấn an:

- Tỷ đừng ngại, chỉ có một sốt ít người là tỷ không quen thôi. mv thì tỷ đã gặp ở nhà Dedde rồi. Ngoài ra toàn là nhóm mình cả.

LN nghe xong cũng hồ hởi và đã foward địa chỉ nơi sẽ đến cho Cát Ngọc. Dedde tuy bận rộn với nhóm bạn, cũng phone cho LN mấy lần, chỉ để hỏi nơi nào đặt thức ăn ngon, hoặc là nhắc nhở LN đừng mang theo món gì vì có quá nhiều món rồi. Nhất là đổi giờ sớm hơn, từ 4 giờ thay vì 5 giờ.

LN nghĩ, thôi thì đang mùa Lan, đem chậu Lan đến là đẹp nhất. Nhưng Ngọc lại bàn, chả biết chủ nhà ra sao, thì mình đem hộp kẹo ngon đến là hơn.

- Để em lo cho
- OK.

Đúng hẹn, 3 giờ Cát Ngọc đón LN, để đi vài ba nơi mua bán chút chút trước khi tới thành phố... Ngọc băn khoăn, mình đến trễ trễ tí đi, sợ không có ai quen. LN lại trấn an và nói như đinh đóng cột lim:

- Yên chí, Dedde nói là 4 giờ Dedde đã có mặt ở đó rồi.

Vì đường đi nước bước đã có Cát Ngọc lo, nên, cứ theo trái phải do Ngọc đã ghi, tài xế xe đò Ngọc và lơ xe LN đến nơi an toàn và sớm sủa.

CN và LN vừa đính đoong chuông cửa, thì một người đẹp, nụ cười tươi như hoa mới nở, đón tiếp nhiệt tình. Không nói ra nhưng cả Ngọc và LN đều nghĩ thầm đó là chủ nhà, nên LN trao cho người đẹp có nụ cười tươi thắm đó hộp kéo chocolat.

Theo chủ nhân đi vào, đã thấy nơi phòng khách lố nhố người, đàn ông đàn bà đang cười nói vui vẻ. LN còn đang trong tình trạng tranh tối, tranh sáng, thì lại một người đẹp nữa, mặt hoa da phấn, miệng cũng tươi như trăng rằm, chạy ra, ôm LN:

- Chào chị LN.

LN nhìn thì ngờ ngợ, vì sao người này lại giống tt thế nhỉ. Mà LN được báo cáo là tt không sang được. Người đẹp cười, và nụ cười này đích thực là của tt rồi. LN hỏi:

- tt hả. Sao nói em không sang được.
- Bí mật mà chị. Ngay cả Dedde cũng chưa biết em đã qua.
- Tới đây bao giờ
- Mới tối hôm qua thôi chị. Nghĩ đến họp bạn thì...không thể nào ngồi yên ở nhà được.

Thế là có màn giới thiệu, anh này, chị nọ, nhưng LN phần hơi nghễnh ngãng( hơi hơi thôi đấy nha ), phần chút chút Alzheimer, nên nghe xong thì lại quên liền.

Trong khi trò chuyện chờ khách thập phương đến, LN hỏi tt:

- Sao chưa thấy mv đến?
- Trời, người ra tận cửa đón chị là mv đó chứ ai.

LN vội ôm mv xin lỗi, vì chỉ gặp mv có một lần ở nhà Dedde mà cách đây cũng khá lâu rồi, trí nhớ già nua làm sao nhớ. Xin lỗi các bạn, bây giờ, nếu cho LN gặp lại, thì LN may ra chỉ nhớ có tt, dbthuy, H20, Hiền. Để chắc ăn hơn, LN đã nhờ Thủy ghi cho LN tên các người có mặt hôm nay để nếu có ghi vào Nhật Ký còn có thể gọi tên bốn mùa...Ngoài những người LN đã nhắc đến tên, như tt, dedde, Tdbthuy, Hiền, H20, Hải tôi, DiTảnBuồn, mv, CN, LN,

Và đây là danh sách thêm tên của những người đã đến họp mặt hôm đó. Nếu có thiếu sót ai, thì xin " ăn thua đủ " Tongue với dbthuy, LN coi như không có " tội vạ " gì trong việc này! Approve

- Thầy Kiều, T Huyền, Helene, Xuân Tươi, Xuân Phương, Đoan Trang, Anh Tuấn, Ngọc Anh, Holly Hà, Thuý Đoàn, Vân...

Khi ktt giới thiệu Thầy Kiều, LN cứ yên chí Thầu Kiều sẽ là người da mồi tóc, bạc, và tuổi sẽ còn hơn hay ít nhất cũng bằng LN, ai dè, thầy Kiều trẻ quá. Thì ra, thầy dạy học ở Mỹ, nên SNA gọi là thầy cho tiện bề sổ sách.

Bây giờ, sau cả hơn nửa giờ trò chuyện với khách bên sông, LN đã " diện kiến " chủ nhà. Mọt dáng thanh thanh nhỏ nhắn, một khuôn mặt hiền, ít nói và nụ cười luôn trên môi.

LN đang nhìn nắng trải dài ở góc vườn có mấy bông tulips trắng, thì nghe tt nói với ai đó, chị LN quen rất thân với má Nhì.

Một khuôn mặt dễ thương, tươi thắm tới trứoc mặt LN chào " Bậc ", làm cho bao người phản đối vì rằng,

- Mi mà chào chị LN bằng bác thì tụi tao cũng phải gọi bằng bác hết sao.
- Tại chị LN là bạn của má...

LN giảng hòa, thôi gọi bằng chị cho thân thiện, trẻ trung.

Thế là từ đấy, Hiền gọi LN bằng chị, và rất săn sóc LN trong suốt bữa ăn. LN còn phải kể thêm là LN rất vui vì đã được chăm sóc, lo lắng bởi mv, dbthuy, Hiền và dtb.

LN lại nhớ đến thời họp ở nhà Nguyễn Ngọc Hạnh & Diễm, trong lúc chuyện trò, LN nhắc đến thời LN ở Huế và là nữ sinh Đồng Khánh từ năm 1952. Thì có mấy em, đã le lưỡi vì thấy LN " lớn quá ". Khi chị học đệ Thất thì em chưa sinh rq đời. Vậy thì đối với các em, chị LN " tra " rồi phải không ?. Tiếng Huế tra là già rồi đó, không phải là có chức vụ được đi " thanh tra " đây đó đâu..

6 giờ. Giờ này đúng là giờ của cá tra đến. Hải tôi,vào cùng một số bạn không quen mặt cũng chẳng biết tên. Cuối cùng là người đẹp Bình Dương Dedde và dtb, đang khệ nệ, kẻ xách, người bưng...

Người khách tạm coi là cuối cùng đang than thở lý do vì sao tới trễ. Cũng may mà không hát bài " Em cứ hẹn nhưng dem đừng đến nhé..." , cho nên vẫn có thêm thức ăn, bánh trắi...

Quả thật, cái miệng của đám nữ sinh, dù khi xưa ta trẻ, hay khi nay ta già, thì sự ồn ào của nhóm họp chợ cá, hay là gọi nhau ơi ới như gọi đò qua sông, vẫn cùng một cường độ, không có gì thay đổi dù thời gian có thay đổi, dù tuổi tác có thay đổi.

LN nhìn các bạn đồng môn gặp nhau, tỉ tê nhóm nạy thì thào nhóm kia, cũng thấy lòng rộn lên những cảm xúc như khi LN gặp lại các bạn Trưng Vương cùng lớp trong ngày Đại Hội.

LN bỗng nhớ đến lần Đại Hội Trưng Vương ở San Jose'. Tuy đã thuê 2 chàng Mỹ security to lớn, lực lưỡng, vậy mà mới trong lúc đứng ngoài chờ kiểm soát vé, mỗi lần áo lam nhìn thấy bạn thân quen, là chạy ào tới, miệng nói như hét, và giơ tay chỉ chỉ vào mặt người đối diện, khiến hai chàng Mỹ lo về an ninh, sợ quá, xin ban tổ chức tăng cường thêm chiến sĩ, vì nhiều đám như đang hùng hổ muốn đánh nhau.

So với buổi họp mặt hôm nay, thì, SNA vẫn hiền hơn TV đấy nha. LN so sánh với lần họp mặt cách đây vài tháng, khi đón Châu trắng từ Canada qua thăm gia đình, cũng chỉ khoảng 20 mạng, mà cũng ồn ào cả một khu phố...dù là Châu mập đã phải đóng cửa tiệm kính để bày bàn dài đón tiếp bạn bè. Kim Bảo, Thanh Hiền, Chău trắng, Châu mập, Vũ thị Hoạt, Vũ thị Bình, Lan Nhi, Chiêu Hà, Kim Anh... LN họp nửa chừng rồi lại phải ra đi họp nơi khác tại nhà Quỳnh Giao, nghe nói sau này còn thêm 6, 7 mống nữa...Thế mà sự ồn ao náo nhiệt cũng chẳng kém mấy chục mang cua? SNA đâu.

Các nội trợ đảm đang của SNA đang bầy thức ăn ra counter. LN thấy nhiều lă'm, từng khay xếp sát cạnh nhau: bò lá lốt, bánh cuốn nhân tôm Huế, bánh nậm, bánh lá, gỏi đu đủ, Bê thui, trứng vịt lộn, ragu bò, bánh mì... có thêm mấy món mà LN không biết gọi tên...Trái cây thì ê hề, bánh ngọt thì thừa thãi...

Tuy đã nửa tiệc, vẫn còn có những khách vãng lai muộn màng.

LN tình cờ ngồi cạnh H20, thôi nha, hai chị em nói không kịp thở. Thử hỏi trên cõi đời ô trọc này, ai được khen mà không sung sướng phổng lỗ mũi. Thì LN cũng chỉ là tầm thường như tỷ tỷ người trên trái đất này...khi được nghe mv, H20 khen về thơ, văn...

Dù thế nào đi nữa, sự khen thưởng cũng là điều tốt, làm cho ngừời viết hồ hởi , hăng say viết.

LN và H20 nói đủ chuyện, về văn học, về tình đời, và tình người, và H20 kết luận tình người của nhóm SNA rất ư là dễ thương.

Ăn uống no say, một số người đã ra về. Trong nhóm SNA , Ngọc và LN có biết Vân trong trường hợp họp nhóm tại nhà Vân.... Quanh quẩn rồi lại cũng quen nhau qua nhiều trường hợp khác nhau.

Sau khi chụp ảnh đầy đủ những khuôn mặt còn lại, nàng Dedde chuyên là bà bầu của bàn Bầu, Cua, Cá, Nai...Cứ nhìn Dedde lắc lắc xúc xắc, là thấy tay nghề của nàng như thế nào rồi. Ít ra cũng kinh nghiệm

Tuy nhiên, năm nay chắc nàng không hên như năm nào ở nhà LN, hôm đó, đông thiêu thân, nên nàng đã vớ bở vì ăn cả làng. Cũng nhờ dạo đo;', kinh tế có mòi sáng sủa, nên người thua kiểm điểm tiền thì người thua đậm nhất là 10 đồng, người thua ít nhất là 2 đồng.

Năm nay kinh tế khó khăn, những con thiêu thân đã biết thủ thân, không tin tưởng vào cuộc vui đỏ đen, cho nên chỉ toàn những con thiêu thân cò con, toàn đặt tiền 25 xu, và chỉ có quyền đặt 3 cửa mà thôi. LN kiểm điểm thiêu thân quen mặt có Hải tôi, gia đình H20 có 3 người, vợ chồng và cô con gái, lúc đầu xem chừng hêh, mà sao cứ phải đi đổi tiền lẻ hoài. dbthuy, CN, LN và cô chủ sòong...tt thì muốn ăn thua đủ, gỡ tiền vé máy bay cho nên chê đánh nhỏ quá, nàng đặt 3 cửa, mỗi cửa 4 đồng quarter, nhưng bị chủ sòong từ chối: 1 quarter only, có thể cho 3 cửa mỗi lần. Hiền, mv thỉnh thoảng ra xúi đại đặt Nai, hay Gà, hay Cua, thiêu thân nào nghe xúi dại, thua dáng chịu. Nhóm họ cứ như tụi vc phá hoai,. hiện ra, xúi dại vài chiêu, rồi lại rút vào bếp thủ thỉ thì thào tiếp.

LN thua 2 đồng bạc dôla Mỹ, tính ra tiền VN cũng bộn á. Ngọc hình như cũng thua vài đồng. Hải tôi thì có vài đồng mà sao cứ cò cưa ký keo hoài, chắc có ăn gian, vì xem chừng, có người đặt mà quên lấy tiền thắng về. Hải tôi đã vô tư lượm tuốt. Nhưng rồi của thiên lại trả địa. Chỉ có dtb là không tốn tiền, cứ chạy vòng ngoài, miệng la om xòm...mà chả mất cắc bạc nào.

LN nhớ đến đâu tường trình cho bà con nghe đến đó, có thiếu sót xin bà con lượng tình tha thứ cho ngày đầu năm nha. Còn một số tên, LN sẽ ghi vào sau, bây giờ LN phải đưa chị Hồng đi " khám Bác sĩ " đã.
( LN đã trở về nhà rồi, và đã ghi tên các bạn có mặt hôm đó cho đủ mặt văn võ bá quan nha. Bây giờ thì LN ngưng thiệt nè.
HONG VU LAN NHI
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1732 Posted : Tuesday, February 8, 2011 9:53:28 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Người đốt đuốc cho Tunisia

Tuesday / February 8, 2011 2:48 PM
Nam Nguyên

UserPostedImage

Muhamad Bouazizi, ngọn đuốc sống làm sụp đổ chế độ độc tài Ben Ali
(photo The World)

Đúng ra là người ấy đã tự biến mình thành bó đuốc để soi sáng lương tri cho những kẻ độc tài và đánh thức sức mạnh tiềm ẩn trong những con người bị áp bức đè nén. Tên anh là Muhamad Bouazizi, sống ở tỉnh Sidi Bouzid thuộc miền trung Tunisia. Cha mất sớm khi Bouazizi chỉ mới 3 tuổi, ông qua đời vì bị bệnh tim khi phải bán sức lao động để kiếm những đồng tiền còm cỏi tại nước láng giềng Lybia. Khi mới lên 10 Bouazizi đã phải phụ mẹ đi bán hàng rong vào ban đêm để ban ngày có thể đến trường, nhưng cũng phải bỏ học khi Bouazizi 17 tuổi để phụ gia đình nuôi các em ăn học. Ước mơ của Bouazizi cũng rất đơn giản là sẽ tậu được một chiếc pickup truck để việc bán rong được thuận lợi hơn, là thay vì phải dùng xe đẩy tay. Nhưng đó cũng chỉ là ước mơ không bao giờ thành hiện thực. Vì Bouazizi đã ra đi vĩnh viễn ra đi vào ngày mồng 4 tháng 1 vừa qua khi mới 26 tuổi, 18 ngày kể từ khi anh tự đổ xăng vào mình đến trước trụ sở chinh quyền địa phương và châm lửa biến thành một thứ ánh sáng khiến kẻ độc tài phải lo sợ phải bỏ nước mà chạy.

Bouazizi có cả thảy 6 anh em, anh là anh cả. Cuộc sống đối với anh là một cuộc vật lộn từ tuổi thơ. Lang thang đẩy xe bán hàng rong trên đường phố luôn bị cảnh sát quấy nhiễu lấy lý do là bán hàng rong không có giấy phép, mà theo sự xác nhận sau này của một viên chức chính quyền Sidi Bouzid là không cần một loại giấy phép như thế. Nhưng đó chỉ là cái cớ để họ xách nhiễu và làm tiền những người như anh. Họ đã nhiều phen tịch thu hàng hóa của anh, trong khi đó là nguồn sinh lợi duy nhất của gia đình Bouazizi.

"Con giun xéo lắm cũng oằn", đó là vào buổi sáng định mệnh 17 tháng 12 năm 2010. Bouazizi lại bị xách nhiễu. Lần này là từ một nữ cảnh sát tên Hamid, bà này cùng với hai người phụ tá không những họ hất đổ và tịch thu hàng của Bouazizi mà còn sỉ nhục tát anh giữa đám đông, nhưng việc bà ta xúc phạm tới người cha quá cố của anh là điều đã vượt mức chịu đựng của Bouazizi, niềm kiêu hãnh cuối cùng của người thanh niên cũng bị tước đi. Quá uất ức anh chạy đến văn phòng chính phủ địa phương yêu cầu được gặp họ, nhưng chẳng ai chịu tiếp anh. Họ làm ngơ trên nỗi đau của anh. Anh cũng đã cảnh cáo họ là "Nếu các người không muốn gặp tôi tôi sẽ tự đốt mình". Thế là anh tự đổ xăng lên người và châm lửa.

Trong suốt 18 ngày vật lộn với những vết thương bỏng nặng để duy trì sự sống, tin tức ấy lan nhanh trong nhóm người trẻ tuổi Tunisia, những người trẻ có trí thức, có bằng cấp nhưng lại không có công ăn việc làm, mà suốt ngày chỉ biết còn túm tụm tại các quán cà phê để nghe ngóng tin tức và việc làm. Họ chia sẻ với nỗi đau của Bouazizi, và trút nỗi giận của họ lên chính quyền của Ben Ali, vị tổng thống đã cầm quyền hơn 23 năm tại Tunisia. Trong khi dân chúng cả nước chịu đựng nạn thất nghiệp trên 30%, thì gia đình ông này lại là biểu tượng của sự giàu sang, mà cho tới lúc đào tẩu, vợ ông này cũng nhanh tay cuỗm đi một tấn rưỡi vàng từ ngân hàng trung ương của quốc gia. Điều này làm người ta nhớ đến cặp vợ chồng đệ nhất tham nhũng độc tài của Philippines trước đây là Ferdinand Marcos và vợ là Imelda.

Có thể nói cái chết của Bouazizi chỉ là giọt nước cuối cùng của sự chịu đựng của người dân với một chính thể độc tài. Những kẻ ngồi xổm trên quyền lực quá lâu như Ben Ali thường hay vô cảm với cảm giác của người dân. Họ chỉ bừng tỉnh một khi quyền lực của họ bị thách thức triệt để, nhưng thường đã quá muộn màng. Trong những ngày cuối cùng tại bện viện của Bouazizi. Ben Ali muốn xoa dịu dân chúng bằng cách đến thăm và an ủi gia đình anh, nhưng mọi thứ đã trể tràng. Bouazizi không còn là nỗi đau của một gia đình, mà là nỗi đau của một xã hội, mà Ben Ali không ai khác hơn chính là người phải chịu trách nhiệm cho việc đó. Người dân Tunisia thề bắt kẻ phải chịu trách nhiệm cho cái chết của Bouazizi, cái chết của niềm hy vọng của một xã hội. Họ thề sẽ trả thù cho anh. Chính vì thế gia đình Ben Ali vội chạy thoát sang Arab Xêút, một xứ độc tài khác và là một quốc gia biểu tượng của thế giới Hồi Giáo để được che chở. Cũng như nhận định của Adam Boutza trong bài Việt Nam sẽ là một Tunisia, đây không phải là vấn đề Hồi Giáo hay không Hồi Giáo, mà đây là vấn đề công bằng xã hội và tự do cá nhân đã bị chà đạp.

UserPostedImage

Cuộc nổi dậy của người Tunisia đã tạo ra một phản ứng giây chuyền trong các nước lân bang như Ai Cập và Yemen, người dân ở những nơi này cũng đã quá bất mãn với những ông lãnh đạo già nua độc tài nhưng vẫn cố bám víu lấy quyền lực và hầu như không bao giờ chịu thừa nhận sự thất bại của mình trong việc lãnh đạo đất nước. Họ cần phải bị thay thế bằng cách này hay cách khác trước khi xã hội mới có thể tiến lên được. Hiệu ứng dây chuyền này có lẽ đặt Hoa Kỳ và chính phủ của Thổng Thống Obama vào một phép thử của một mặt ủng hộ cho lý tưởng tự do nhân quyền như là một cam kết của chính phủ Hoa Kỳ với thế giới, hay là cứu lấy chính phủ của các ông tổng thống độc tài già nua nhưng lại là đồng minh hiếm hoi và khá trung thành trong thế giới Hồi Giáo. Cho tới nay người ta chỉ nghe được những tuyên bố hàng hai từ Washington như kiểu: "Ai Cập nên cho phép sự thay đổi xảy ra". Nhưng chắc chắc Hoa Kỳ phải làm một cái gì đó để có thể tiếp tục duy trì ảnh hưởng tại khu vực này.

Có lẽ Bouazizi cũng đã được an ủi phần nào, và còn may mắn hơn một số người dân Việt nam. Vì dân Tunisia đã không để anh chịu uất ức, lẻ loi khi chết. Họ đã được truyền sức mạnh từ hành động của anh và đã có hành động để thay đổi xã hội.

Còn những người buôn thúng bán bưng tại Việt Nam như Bouazizi thì phải kể là, nhiều hơn về số lượng, và lâu hơn về thời gian, 36 năm chứ không phải là 23 năm như Tunisia. Họ tuy đông đảo, nhưng như không tồn tại. Chẳng mấy ai lắng nghe hay ủng hộ họ, chứ đừng nói tranh đấu cho họ. Họ thường xuyên chịu sự xách nhiễu của chính quyền từ công an khu vực đến quản lý thị trường. Đến ngay cả những con chó của các gia đình đại gia giàu có vô tâm. Có ai nghe họ và đáp lời cho nỗi đau của họ? Người viết bài này thật sự nghi ngờ rằng nếu có một người buôn thúng bán bưng tại Việt Nam có hành động như Bouazizi rồi cũng sẽ bị lãng quên như một kẻ không may trong cái nhìn bàng quan của mọi người nơi đây.

Có người nhận định rằng rằng người Việt Nam quá sợ hãi chính quyền nên trở nên hèn nhược, và điều đó đã trở thành một thói quen - thói câu an cá nhân. Điều này cũng đúng một phần, nhưng có lẽ chưa hoàn toàn chính xác. Với một dân tộc luôn đấu tranh cho sự sinh tồn suốt chiều dài lích sử như Việt Nam, nỗi sợ hãi không dễ gì thống trị được họ. Theo nhận định của của người viết bài này thì chính cái đặc tính suy nghĩ thiếu sâu sắc nên dẽ dàng dẫn đến sự chấp nhận hoàn cảnh, mới là nguyên nhân chứ không phải là nỗi sợ hãi. Cũng bởi sự kém sâu sắc này, nên đôi khi dễ dàng chấp nhận hoàn cảnh một cách thụ động, kể cả khi hoàn cảnh ấy hết sức nghịch lý. Sự chấp nhận và chịu đựng chính thể Cộng sản độc tài hiện nay cũng nằm trong sự nông cạn và thiếu quyết đoán đó. Những cái mà chính thể này mang lại so với cái mất mát về lâu về dài là không tương xứng. Mất mát một phần lãnh thổ là cái dễ nhận ra và thấy được. Còn mất mát những giá trị tinh thần và đạo đức là những cái mất khó nhận ra, nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp tới sự lành mạnh của một dân tộc mà để từ đó mọi thứ đổ đốn xảy ra trong khắp xã hội. Tuổi trẻ mất đi lý tưởng, sống một cách ích kỷ, trí thức lại thiếu lòng thiếu chí, nếu không muốn nặng lời là khá ươn hèn. Hai chữ "Trí thức" với đa số giờ đây chỉ còn dùng để kiếm cơm, để "lên" đời, để có một cuộc sống vật chất thoải mái hơn mà không cần suy nghĩ về những điều còn quan trọng hơn. Số khác lại bị đóng khung với thú tiêu khiển chữ nghĩa hay độc thoại không hơn không kém. Trong khi ấy, nỗi sợ thì cuối cùng cũng sẽ vượt qua kể cả nỗi sợ về cái chết, mà người Việt khá bình thản với nó. Nhưng chính những sự bằng lòng một cách nông cạn, thiếu suy nghĩ sâu sắc, thiếu dứt khoát trong lập trường, là những cái sẽ còn đeo bám và tạo ra nhiều hệ lụy cho người Việt sau này, kể cả thời hậu CS. Điều này chưa hẳn là dân trí thấp, mà là thói quen, một thói quen rất đáng bị lên án. Đây mới là cái mà theo tác giả bài viết này là cái đáng sợ nhất cho người Việt Nam. Họ đã quá dễ dàng chấp nhận mà đôi khi là chấp nhận những cái chẳng ra gì, như cái chế độ hiện tại chẳng hạn.
Ai sẽ có khả năng đốt đuốc cho Việt Nam?
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Linh Phuong  
#1733 Posted : Tuesday, February 8, 2011 2:13:50 PM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

Tưởng nhớ đến nhiếp ảnh gia Ngọc Tùng nhân ngày giỗ thứ 3 của ông
Đặng Hùng Sơn


Chuông điện thoại reo vang, đầu giây là tiếng của M.C Trần quốc Bảo : “Hello anh Sơn , Bảo đây, sắp đến ngày giỗ của ông Ngọc Tùng rồi . Em nhờ anh viết cho em những gì anh biết về ông,vì anh biết về những hoạt động của những người làm điện ảnh hơn em “. Tôi biết về chú Ngọc Tùng vì ông là bạn của bố tôi thời còn sinh tiền và ông cũng là người hay kể cho tôi nghe về những hoạt động của ông, những hoài bão và tâm huyết của ông cho điện ảnh VN . Ông cũng là người tích lũy, ôm giữ những hình ảnh của tất cả những nhân vật tài danh nghệ sĩ từ trước năm 1954 cho đến lúc đứt phim vào năm 1975 và ra đến hải ngoại . Thời Đạo Diễn Bùi Sơn Dzuân làm Chủ Tịch Hội Điện Ảnh VN Hải Ngoại thì ông làm Phó Chủ Tịch Nội vụ trong ban chấp hành của hội. Có thể nói ông là nhân chứng lịch sử qua nhiều thước phim tài liệu, hình ảnh, trải qua bao thăng trầm của những biến cố tại miền nam Việt Nam.

Ông Ngọc Tùng tên thật là Hoàng văn Tùng . Em trai ông là Hoàng ngọc Đạt tức Nhạc sĩ Lâm Tuyền ( Có mở lớp dạy nhạc ngày trước ở Saigon). Ông đã từng sống ở Vương Quốc Lào tại Vientiane một thời gian khá dài trước năm 1945 với nghề bán tạp hóa về đồ thể thao cung cấp cho toàn nước Lào. Cạnh nhà ông là tiệm vàng nhà của cha mẹ Đạo Diễn Hoàng Vĩnh Lộc . Năm 1937 ông về Hà Nội và theo học trường Beaux Arts Hanoi cho đến năm 1940 về Lào thăm gia đình và phụ bố mẹ buôn bán. Thời giờ rảnh, ông thường vẽ tranh với đề tài là tranh tĩnh vật với cảnh chùa chiền nước Lào, cổ kính, tĩnh mịch, mang một sắc thái riêng. Tranh của ông được người Pháp rất ưa chuộng tại hội chợ Thát Luổng. Ông vẽ tranh cho báo Lao Nhay & Revue Indochine , rạp hát Lạc Khòn. Chiến tranh mở rộng, quân đội Nhật từ Thái tràn sang Lào đóng tại Vientiane. Ông cùng nhóm bạn lập ra một ban kịch trình diễn vở kịch Tục Lụy, Từ Thức lạc thiên thai , ông vẽ phông cảnh và nấu phở , đàn hát trình diễn đều do nhóm ông thực hiện. Năm 1945 ông và các bạn làm nứa kết bè và thả trôi theo giòng sông Mekong để về Việt Nam sau khi quân đội Nhật rút quân chạy, thây người trôi đầy sông , thức ăn thiếu thốn và cực khổ và trên đường phải tránh máy bay đồng minh phải ôm lấy bè để tìm sự sống. Vượt Pnome Penh và về đến Long Xuyên và Sa Đéc rồi đến làng Bình Tiên để tạm trú . Sau một thời gian dài ông đã lên Saigon và hợp cùng nhạc sĩ Đức Quỳnh, Lâm Tuyền, Lê Ngát, Ba Xậy đàn để sống qua ngày. Cùng nhạc sĩ Lê Thương tổ chức và ban nhạc Thăng Long ra mắt tại Saigon. Năm 1947 Ca sĩ Anh Ngọc, Giáng Hương, Kim Anh, Ngọc Long và ông thành lập nhóm ca kịch do ông Tôn Thất Cảnh làm giám đốc đài phát thanh. Ông giữ chức vụ nhiếp ảnh của Phòng Thông tin Trung Việt. Giai đoạn này ông được đề cử thực hiện một phim mầu về Huế và ảnh để triển lãm trong dịp Quốc Trưởng Bảo Đại ra Hà Nội. Sau đó, ông được lệnh chụp hình cho ông bà Nixon sang thăm Việt Nam và Huế năm 1949. Năm 1953 ông về Saigon làm cho ban Mopix của USIS quay phim thời sự cho Việt Nam. Năm 1956 -1958 theo Tổng Thống Ngô Đình Diệm đi quay tại Thailand, Philippines, India, Australia. Ông nhận quay phim cho các hãng phim Việt nam , hãng Visio quảng cáo màu cho ngành thương mại , chụp quay cho UPI, TV News A.P. Sau đó quay cho CBS, ông được mời về làm cho ABC News từ năm 1963 đến 1968, là phóng viên chiến trường . Ông đã có mặt hầu hết những trận đánh lớn nhỏ tại khắp chiến trường sôi động của miền nam và theo Thủy Quân Lục Chiến từ vĩ tuyến đến khắp chiến trường miền Trung và trên Hàng Không Mẫu Hạm USS Enterprise, Hạm Đội 7 Thái Bình Dương. Cũng tại đây ông đã gặp và là bạn với Anchor Peter Jenning , xướng ngôn viên Truyền Hình nổi tiếng của đài ABC News, cũng làm nhiệm vụ như ông trên Hạm Đội 7. Khi kể cho tôi nghe thì ông rất hãnh diện là đã làm việc được với những hãng truyền hình lớn của Mỹ với công việc của một phóng viên chiến trường. Năm 1968 ABC News đã chọn phim màu của ông gởi đi dự giải Award International TV USA ( Cốt chuyện phim quay cảnh quân Mỹ đổ bộ đánh núi Bà Đen, Tây Ninh). Những phim ông tham dự là “Lá Rừng” hợp tác với Phạm Lợi, Tống Ngọc Hạp năm 1968 đã được trình chiếu tại Tokyo, phim kế tiếp là “Người Mẫu thứ 13”, “Quả Dưa Đỏ” ( tình hình biến động phim đã không thể thực hiện). Ông cũng quay phim "Lệ Đá" do đạo diễn Võ Doãn Châu thực hiện. Năm 1973 ông đã quay phim “Đất Khổ” do Hà Thúc Cần (Viet Film) phim màu 35 ly và là phim cuối cùng do ông quay. Sau năm 1975 ông tiếp tục quay được thêm 40 cuốn phim màu trong khoảng thời gian một tháng những chuyện đã xảy ra sau ngày 30 tháng Tư năm 1975. Tất cả những cuốn phim đó do đài truyền hình cất giữ. Ngày 10 tháng 5 năm 1994 ông được con gái là Hoài Mỹ ( đóng trong phim “Trường Tôi” do Đạo Diễn Lê Dân thực hiện trước 1975) bảo trợ sang Mỹ. Tại Mỹ , ông không còn máy móc để thực hiện những gì ông mơ ước và ông nghĩ sẽ không bao giờ làm điện ảnh được nữa, vì không tiền là không thực hiện được cái gì mình thích. Ông dùng mắt của chính mình quay lại tất cả và đem những cuốn phim đó chôn sâu vào đầu của mình. Hơn 50 năm chiến tranh , ông đã sống , thấy thật nhiều đổi thay, có còn gì để mất hay không ?

Với nhiều mộng ước chưa thành . Ông nhắn nhủ với các bạn trẻ có phương tiện , hoàn cảnh hãy tiếp nối những công việc mà ông đã làm, để đưa ngành điện ảnh Việt nam ở hải ngoại thăng tiến lên theo kịp thế giới .

Ngồi viết những giòng chữ này, nghĩ đến ông , tôi thấy hình ảnh của một ông già đạp chiếc xe đạp trên vai với chiếc máy ảnh đi khắp nơi đến những chỗ người Việt tụ họp để ghi lại hình ảnh, như vẫn còn đang làm phận sự mà nghiệp dĩ vẫn còn mang nặng trên vai dù đã già yếu . Viết về ông để tưởng niệm ông nhân ngày giỗ của ông. Xin thắp nén hương lòng tưởng nhớ chú . Mong chú ở một nơi nào đó sẽ bình an và phù hộ cho những người yêu thích điện ảnh tiếp tục sự nghiệp như chú đã từng mơ ước , chú nhé.
Đặng Hùng Sơn Nguyên Phó Chủ Tịch Hội Điện Ảnh VN Hải Ngoại.

Linh Phuong  
#1734 Posted : Wednesday, February 9, 2011 1:49:27 AM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

Thầy Dạy Công Dân
Cam Li Nguyễn thị Mỹ Thanh


Trước 1975, tác giả từng viết nhiều truyện ngắn trên bán nguyệt san Tuổi Hoa, và các truyện dài xuất bản bởi Tủ Sách Tuổi Hoạ (hiện có trên trang mạng Tủ Sách Tuổi Hoa (http//tuoihoạhatnang.com)
Sau 30/4/1975, Cam Li không viết nữa, chỉ chuyên làm công việc nghiên cứu khoa học. Định cư tại San Jose từ 2003, sáu năm sau cô góp nhiều bài viết giá trị. Sau đây là bài viết mới nhất của cô.
***

Thầy Văn bước vào lớp. Như một thông lệ, cả lớp đứng dậy. Thầy đứng thẳng, yên lặng một giây, mặc nhiên là một hành động chào lại. Thầy trò lớp này vẫn là như thế.

Thầy ra hiệu cho cả lớp ngồi xuống, rồi bước đến bên bàn của Thầy, đặt chiếc cặp da lên đó, và nhìn một lượt khắp lớp. Đôi mắt Thầy dừng lại ở bàn cuối. Bốn đứa con trai chột dạ, không dám ngó Thầy.
Thầy bảo cả lớp mở vở ra chép bài. Mọi người nhìn nhau ngạc nhiên. Thường thì Thầy gọi học trò lên trả bài trước rồi mới cho chép bài mới sau. Ngạc nhiên, nhưng không ai dám hỏi Thầy một câu. Thầy đọc, giọng chậm rãi, rõ ràng. Thầy khác với cô Loan dạy Việt văn ở điểm là cô Loan thường nhờ một trò viết chữ đẹp lên bảng viết bài cho cả lớp chép theo. Còn Thầy, với giọng cứng rắn, sang sảng, Thầy như người thầy bậc tiểu học đọc chính tả. Đó, cái nề nếp của lớp này là vậy.

Lớp Chín A. Cái lớp học "anh cả" trong một ngôi trường tư thục nhỏ chỉ dạy bậc trung học đệ nhất cấp. Còn có một lớp Chín nữa, lớp Chín B, buổi chiều. Nhưng hình như trong cả trường chỉ có lớp Chín A này là sinh động hơn cả, theo nhận xét của các thầy cô. Sinh động là bởi vì hầu hết các học sinh đều học khá, hăng hái tham gia các sinh hoạt do trường đề ra: làm bích báo, làm văn nghệ, đi công tác xã hội... Sinh động là bởi có vài trò rất giỏi được cử đi dự thi toán, thi vẽ, thi văn chương toàn thủ đô Sài Gòn. A! còn nữa, mặc dù môn Anh văn chưa có trò nào được vinh dự đi thi nhưng học trò lớp Chín A cũng đã lập nên một "English speaking club" để trau giồi tiếng Anh và được Thầy hướng dẫn là giáo sư Anh văn dìu dắt. Có một môn học, vâng, có một môn, chưa bao giờ nghe nói đến đi dự thi hay thành lập câu lạc bộ gì cả. Đó là môn Công dân giáo dục. Đối với học sinh, không riêng gì học sinh lớp này đâu, học môn Công dân là một điều hiển nhiên, bởi vì chương trình đã là như vậy từ thuở nào rồi. Và đi học là phải học đều tất cả các môn, là bổn phận của học sinh.

Thế nhưng tuần rồi đã có một điều bất thường đối với Thầy: đó là sự vắng mặt của bốn nam sinh ngồi ở bàn cuối lớp. Họ là những học sinh học rất khá nhưng đã tình nguyện xin ngồi ở bàn cuối để các thầy cô đỡ phải cực khổ. Nhưng giờ Công dân tuần rồi, họ đã "cúp cua". "Cúp cua"! Nghỉ không có lý do ốm đau hay bận việc quan trọng được người nhà xin phép... thì gọi là "cúp cua". Thầy định tuần này sẽ hỏi tội họ ngay khi vào lớp, nhưng rồi hôm nay Thầy không làm. Cả lớp như cũng chờ đợi chuyện đó xảy ra. Vài nữ sinh len lén nói chuyện thật nhỏ trong khi chép bài, Thầy nghe được nhưng lờ đi.

Và rồi bài cũng đã được chép xong. Thầy giở sổ điểm ra. Học trò chờ đợi Thầy sẽ gọi một ai đó lên trả bài. Nhưng cũng không. Ôi! Nếu có điều gì khó chịu nhất đời thì chắc là đây rồi! Cái im lặng thật đáng nể!

Bốn anh con trai ngồi ở bàn cuối lớp, dãy nam sinh, đưa mắt nhìn nhau. Và rồi một trò đứng dậy. Trò Bảo. Gương mặt sáng sủa, dáng người nhanh nhẹn, Bảo là nam sinh học giỏi nhất lớp. Bảo tiến đến bàn Thầy, đi ngang bao nhiêu dãy bàn trước sự ngạc nhiên dò xét của các bạn. Bảo nói với Thầy:
- Thưa Thầy, em xin được trả bài ạ!

Thầy hơi nghiêng đầu, nhìn Bảo, hỏi:
- Em muốn trả bài? Bài nào?
- Thưa Thầy, bài Công dân kỳ trước ạ!
- Kỳ trước?
- Dạ, bài " Quốc kỳ và Quốc ca" ạ!
- Em có bài đó sao?

Bảo đỏ mặt, giọng hơi ấp úng:
- Dạ, em đã mượn vở của bạn để chép ạ!
Nét mặt của Thầy có hơi tươi lên một chút, nhưng Thầy vẫn nghiêm giọng:
- Còn các em kia?
Ba nam sinh còn lại của bàn cuối đồng đứng dậy, nói:
- Thưa Thầy, chúng em cũng đã có chép bài rồi ạ!

Có vài tiếng xì xào trong số nữ sinh. Thầy giơ tay lên:
- Các em giữ im lặng. Thầy không có ý định gọi các em trả bài hôm nay.
Như không hẹn mà cùng có chung phản ứng, ba anh con trai tiến lên phía Thầy. Bảo nói thay cho cả bọn:
- Thưa Thầy, chúng em xin lỗi Thầy, tuần trước vì... ham coi "xi-nê" nên chúng em đã.. "cúp cua" giờ của Thầy. Chúng em đã biết lỗi. Xin Thầy ...

Thầy nói thật nhẹ:
- Không phải giờ của Thầy đâu! Giờ của các em đó chứ! Học là học cho các em mà! Thầy chỉ là người dẫn dắt.
Nhật, lớn tuổi nhất, nói khẽ:
- Thưa Thầy, chúng em hiểu.
- Các em về chỗ đi! Thầy không có ý định khảo bài các em. Hôm nay Thầy có một việc quan trọng để nói với cả lớp.
Cả lớp thở phào trong khi bốn nam sinh về chỗ, nhưng rồi một sự chờ đợi khác lại đến.

Thầy đứng trên bục giảng, nói như đang giảng bài:
- Hôm nay là buổi dạy cuối của Thầy. Thầy muốn nói ngắn gọn rằng Thầy sẽ tạm xa mái trường để nhập ngũ. Chắc chắn các em sẽ có một thầy hay một cô giáo mới phụ trách môn này. Nói chung, sẽ không có gì khó khăn cho các em cả đâu! Điều mà Thầy muốn nhắn nhủ các em hôm nay...

Đám học trò như nín thở. Thầy dừng lại một tích tắc vì nghe có tiếng than nho nhỏ từ dãy nữ sinh. Thầy nói tiếp:

- ... đó là hãy cố gắng học hành. Điều này nói ra có vẻ hơi thừa, nhất là đối với lớp này là một lớp khá ngoan, mà Thầy rất ưng ý. Thầy đã dạy ở nhiều trường công lập cũng như tư thục. Tính ý của học trò, Thầy đều hiểu hết. Học trò trường công phát triển đều nhau, không chênh lệch nhiều. Trái lại, học trò trường tư đa dạng hơn, do không có tuyển chọn qua những kỳ thi. Nhưng thú thật, Thầy quan tâm nhiều đến học trò trường tư. Tại sao vậy? Vì đó là bức tranh sống thật nhất của xã hội. Có những học sinh thật giỏi, thật ngoan, nhưng cũng có những trò thật kém, có những trò nổi loạn. Đúng không? Rất tiếc là Thầy phải rời bỏ cái khung đời này để bước vào một xã hội khác, sẽ rất khác: đó là quân ngũ. Thầy chỉ mong rằng, với những bài giảng về Công dân giáo dục mà Thầy đã gửi đến các em trong gần một niên học qua, các em sẽ không xem đó là những bài học bắt buộc, những bài chỉ nhớ để trả bài rồi sau đó quên đi, những câu chuyện qua loa không ăn nhập chút nào với cuộc sống. Mà các em hãy đem chúng vào đời như một hành trang quý báu. Thôi! Ý của Thầy chỉ có thế. Mai sau, mong rằng, có duyên, Thầy sẽ gặp lại các em.

Lần đầu tiên học sinh nghe Thầy nói những câu có vẻ văn hoa khác với cách nói bình dị của Thầy thường ngày. Sự im lặng như đã đến hết sức của nó, khi Thầy ngưng câu nói. Bình thường, nếu người ta chịu khó để ý, sẽ thấy mỗi khi xung quanh mình quá im lặng, có một thứ "âm thanh" nghe muốn vỡ tai, đó là tiếng rít "o... o" rất khó chịu. Thế nhưng, lần này, thầy và trò đã nghe được tiếng của một con ve bên ngoài cửa lớp. Thật sự là tiếng ve! Tiếng ve đầu mùa hạ! Con ve đậu trên một cái cây to trong sân trường rợp bóng mát hay chăng? Con ve cất tiếng hát, một lúc sau đã có tiếng của cả một bầy ve. Không hẹn mà cả thầy và trò đều nghe dâng lên một niềm cảm động.
***

Như thế đó, buổi dạy cuối cùng của Thầy Văn, thầy dạy môn Công dân giáo dục của lớp Chín A! Thầy rời mái trường vào đầu mùa hạ. Vắng thầy Văn, học với một cô giáo mới, cả lớp rồi cũng quen dần. Đám học trò, sau mùa hạ đó, cùng lên lớp Mười, lớn thêm được một chút, vì đã vào trung học đệ nhị cấp. Bốn đứa con trai, Bảo, Đăng, Nhật, Vũ, vẫn chơi với nhau khắng khít như trước. Nhưng không bao giờ họ dám lập lại một việc, mà đối với họ là một lỗi lầm. Đó là "cúp cua". Nhật, lớn nhất bọn vì gia cảnh nghèo phải bỏ học một năm, luôn tự nhận lỗi về mình vì đã "xúi dại" mấy đứa nhỏ hơn. Cả bọn bảo nhau nếu gặp lúc khác thì chắc chắn đã bị khiển trách và ăn mấy cái "trứng vịt" rồi!
Thầy rời mái trường vào đầu mùa hạ. Trong tâm luôn có tiếng ve làm Thầy nghe luyến nhớ. Những lần về phép Thầy thường đi ngang ngôi trường tư thục mà Thầy đã rất yêu mến này, đứng lại một lúc lâu, nhưng không vào. Thầy đã đi qua một khung đời rất khác. Bên đó là đỏ lửa. Ở đây là xanh trời. Thầy không muốn làm xao động không gian bình yên này.

Mấy mùa hạ đi qua. Học trò của lớp Chín A năm nào nay đã đến tuổi vào đại học. Lên đại học, không còn có môn Công dân giáo dục nữa. "Môn phụ" đã biến mất!

Thầy không có dịp về lại trường cũ, vì chiến trận đã đến hồi khốc liệt. Một ngày nắng lửa trên đồng hoang, Thầy gặp lại Bảo, người học trò trắng trẻo khôi ngô học giỏi ngày nào. Bảo tình nguyện vào lính, đã đi đánh trận nhiều nơi và mới được thuyên chuyển về đơn vị của Thầy. Bây giờ thầy trò cùng chia xớt với nhau từng bịch gạo sấy, mời nhau từng điếu thuốc. Tâm tình cũng dễ dàng bộc lộ. Bảo chân thành nói:
- Thầy ơi! Lúc em còn nhỏ, đi học tiểu học, nhìn người thầy như một người cha vì tuổi đời chênh lệch nhiều. Học bậc cao hơn thì khoảng cách tuổi tác giữa thầy và trò ngắn hơn; nhiều thầy mới ra trường, quá trẻ, chúng em có cảm giác như đó là người anh. Nhưng thái độ e dè đối với các thầy vẫn luôn có. Người thầy đứng trên bục giảng thật khác với người thầy trên chiến trường. Bây giờ, em mới thật sự học được bài học sống ở thầy. Thầy sống những gì thầy đã dạy.

Thầy giật mình:
- Em nghĩ như thế?
- Vâng, đúng là như thế, thưa thầy. Bọn chúng em, bốn đứa chơi thân với nhau, vẫn thường nói với nhau rằng sao chúng em lại làm ra một điều khó tha thứ. Sao chúng em lại "cúp cua" giờ Công dân? Chúng em ỷ mình học giỏi ư?.. Thầy ơi! Thầy có buồn chúng em không? Thầy có tha thứ chúng em không?

Thầy cười xòa:
- Bỏ đi! Thầy chẳng giận chẳng buồn ai bao giờ. Nói cho thầy nghe, mấy anh cùng "cúp cua" đó, ra sao rồi?
- Anh Nhật lớn nhất, đi lính trước em một năm. Sau đó đến em. Còn Vũ và Đăng đã vào đại học.
- Tại sao em không vào đại học?
- Thưa thầy, em muốn đi lính. Sau khi giải ngũ về em sẽ đi học tiếp ạ! Tuổi trẻ còn dài...
- Bây giờ thầy trò gặp nhau ở đây cũng là một trường học lớn. Thầy trò ta cùng học môn Công dân giáo dục phải không?
- Dạ.

Hai thầy trò cùng im lặng, lắng nghe tiếng đại bác vọng về từ xa...
Đêm đó, sau chuyến hành quân, Thầy bị thương nhẹ ở chân. Thầy ôm Bảo trong tay. Thầy vuốt mắt Bảo. Bảo đã làm được cái việc trả bài cho thầy. Một bài học sống.
***

Hết xuân đến hạ. Thu tàn, đông đến. Thầy đã trải cuộc đời trên chiến trường biết bao năm! Bị thương nặng, nhẹ cũng nhiều. Trong người của Thầy đầy những vết sẹo chiến tích. Nằm quân y viện to, nhỏ, hay dã chiến, cũng đã biết bao lần. Cả cái kinh nghiệm được đục khí quản để gắn ống thở tạm, hay đeo lủng lẳng một cái túi đi từ ruột ra ngoài, chờ chữa lành bên trong, Thầy cũng đã có nốt. Gia đình khuyên Thầy giải ngũ. Thầy không chịu. Thầy giã từ nghề dạy học luôn rồi! Gặp gỡ bạn bè, đồng nghiệp, học trò... đến, đi, nhìn họ thành công, thất bại, sống, chết. Nhìn thấy đời mình cũng đã già dặn đi theo ngày tháng. Thầy cũng thèm trở lại bục giảng lắm chứ! Nhưng cứ mỗi một câu, Thầy nói với mọi người: "Chờ khi đất nước thanh bình..."
Và Thầy phải ngưng cầm súng. Thầy đi vào trại tù cải tạo, như hàng vạn quân nhân khác. Ước mộng của Thầy đã sụp đổ. Thôi thì cùng chia xớt với anh em đồng đội nỗi đau nhục này! Bài học Công dân giáo dục "Quốc kỳ và Quốc ca" nhức nhối trong lòng. Mỗi buổi sáng trước giờ đi lao động, Thầy và các bạn tù phải tập trung để chào cờ. Thầy nhắm mắt lại chặt đến nỗi nghe như dao đâm để thấy màu cờ vàng chan chứa. Thầy bấm vào tay mình bật máu để hát trong óc, hát không bằng lời: "Này công dân ơi!!!!..."

Thầy ra trại. Thân thể lại mang thêm một số thương tích vì "lao động". Cảnh sống đã thay đổi... Thầy tìm đến thăm một vài đồng nghiệp cũ, ngạc nhiên khi thấy họ đến trường dạy học trong những bộ quần áo quá dễ dãi. Ngày xưa các thầy cô đứng trên bục giảng ăn mặc nghiêm chỉnh, bây giờ các thầy đi giép hoặc "xăng-đan", các cô thì mặc quần đen áo cộc. Thầy cô dạy học xong, ra về, trước xe lủng lẳng mấy bịch cá, thịt, rau đậu mắm muối "tiêu chuẩn". Thầy lắc đầu ngao ngán. Thầy không thể làm gì hơn là chọn nghề mộc, một nghề có thể giúp kiếm sống qua ngày và không vướng bận tâm trí. Cái nghề của Chúa Giê-su khi còn nhỏ đây mà! Cái nghề Thầy đã học được ở trong trại tù. Cái nghề trong những nghề dạy cho con người ta tính kiên nhẫn và lương thiện.

Hết thời "thắt lưng buộc bụng", đến lúc "mở cửa", thành thị chen chúc người và xe. Nhiều khi Thầy ngơ ngác đứng nơi ngả tư đường, mấy mươi phút chưa băng qua được. Không có ai tôn trọng luật lệ giao thông. Đèn xanh đèn đỏ mọi người lờ đi như không thấy. Có khi Thầy não lòng khi một đám tang đi qua, không có ai nhường đường, hiếm có người ngả mũ chào người chết. Những gì gọi là bài học Công dân giáo dục đâu cả rồi? Người ta sống với "văn hóa phong bì", "thủ tục đầu tiên là tiền đâu", "mạnh được yếu thua"...
***

Thầy ra khỏi nước, như hàng trăm ngàn người khác. Thầy vào trường, làm học trò. Thầy hân hoan thấy lại màu cờ vàng một thời rực rỡ trong tuổi trẻ của Thầy. Thầy được tự do hát bài Quốc ca "Này công dân ơi..." mà không phải mím môi. Nhưng một thời Thầy rơi vào sự trầm cảm tột độ vì nghĩ đến quê hương đã khuất bóng. Thầy mang tâm trạng như những thầy đồ của một thời mất nước. Thầy đã không còn chỗ để trở lại bục giảng. Thầy nhận nơi này làm quê hương thứ hai. Thầy luôn tự an ủi mình: "Quê hương không chỉ là mảnh đất, mà còn có cả tình người". Và... như thế, Thầy đã sống được. Thầy chọn làm việc trong ngành truyền thông và đã đến gần được với tâm tình người Việt xa xứ.

Vào một ngày, Memorial Day, Thầy cùng gia đình đi lên thủ đô. "Lên thủ đô!" Thầy nói rất tự nhiên như vậy rồi nghẹn lời vì nghĩ đến thủ đô của Thầy ngày nào. Thầy đứng bên bức tường trên đó ghi tên những người lính Hoa Kỳ bỏ mình trong chiến tranh Việt Nam, trong trí Thầy hiện lên tên của những người bạn bè đồng đội. Họ đã không có một bức tường để ghi tên! Thầy đặt một bó hoa xuống nơi chân tường. Một gương mặt rạng rỡ chợt sáng lên như được phát ra từ mặt đá hoa bóng loáng. Gương mặt của Bảo. Thầy lạnh người. Thầy muốn khóc.

- Thưa Thầy!

Thầy giật mình quay về hướng tiếng nói sau lưng. Thầy nhận ra ngay. Ôi! Là Vũ, cậu học trò liến thoắng, đã có lần "cúp cua" giờ Công dân.

- Thưa Thầy, gặp lại Thầy, em mừng quá! Thầy có khỏe không ạ?
- Thầy khỏe. Thầy cứ ngỡ... là trò Bảo.
- Bảo đã mất rồi, thưa Thầy, Thầy là người ở bên cạnh Bảo lúc ấy...

Thầy bùi ngùi:
- Phải... Gặp lại em, Thầy càng nhớ Bảo. Thế những người bạn thân của em ra sao?
- Anh Nhật ở lại trong nước. Anh ấy trở thành thương phế binh, hiện nay sống rất khổ cực. Đăng thì đi với gia đình sang Úc, cũng đã có việc làm tử tế.
- Còn em, em làm nghề gì?
- Dạ, em theo nghề giáo.

Thầy nói như reo:
- A! Vậy sao?

Vũ vui vẻ:
- Dạ, em dạy môn Civics.
- Môn Civics?
- Dạ, môn Công dân giáo dục, thưa Thầy!
Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh


hongvulannhi  
#1735 Posted : Wednesday, February 9, 2011 2:58:29 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
Tổ-sư Bồ-đề-đạt-ma: Sự thật có lẽ giản dị vậy thôi.
Trần Sáng


Trong các chùa thuộc Bắc Tông thường treo bức tranh một hành giả dữ tướng, cao to, quắc thước, râu hùm, hàm én, mắt lòe kỳ quang, mình vận cà sa, vai quảy một chiếc dép, đang mải miết bôn tẩu thiên lý.

Đó chính là Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma) vị tổ thứ 28 sau Phật Thích Ca Mâu Ni và là Sư tổ của Thiền tông Trung Hoa, đồng thời cũng là sư tổ võ phái Thiếu Lâm Tự ở Trung Hoa. Ngài viên tịch năm 543, đến nay đã hơn ngàn năm. Nghi án “chiếc dép tổ sư” đã khiến cho người đời tốn khá nhiều công sức để tranh luận và hình như chưa bao giờ phân định được thị phi.

Tình cờ một lần đi thăm Thiền viện Trúc Lâm yên tử, tôi được chứng kiến, hai vị sư tăng, có lẽ học ở một trường hạ nào đó, đang tranh luận về bức tranh này, một vị trỏ vào chiếc dép trên vai Thiền sư bảo: Là Đạo pháp để lại, đạo pháp mang đi. Vị kia chỉ vào chân trần của sư tổ nói: Sắc là không, không là sắc (chắc ý nói, tuột dép đi chân trần, sư tổ, chẳng coi tấm thân xá lợi là gì?!). Rồi hai vị sư tăng nỗ lực viện dẫn kinh sách, biện bác, bảo vệ chính kiến của mình.

UserPostedImage

Đạt Ma mình vận cà sa, vai quảy một chiếc dép, đang mải miết bôn tẩu thiên lý.

Nhìn hai vị sư tăng, tôi giật mình tự hỏi, hơn nghìn năm qua, biết bao nhiêu cuộc tranh luận vô bổ như vậy đã diễn ra. Vì sao họ chỉ chú mục đến bức tranh, mà không chịu quay đầu nửa vòng, để đọc bức đại tự ghi tôn chỉ của hệ phái mà họ đang tu tập: “Bất lập văn tự /Giáo ngoại biệt truyền/Trực chỉ nhân tâm /Kiến tính thành Phật”. (Không lệ thuộc vào kinh sách, truyền dạy ngoài giáo lý, hướng thẳng đến tim người, thấy chân lý mà giác ngộ).

Lại nhớ đến chuyện về buổi hội kiến của sơ tổ Thiền tông(Bodhidharma) với Lương Vũ Đế, buổi đầu ông đặt chân đến Trung Quốc. Là một người phụng sự đạo Phật, Lương Vũ Đế đã cho xây nhiều chùa chiền, bảo tháp. Vũ Đế hỏi nhà sư Ấn Độ: "Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, xây chùa, chép kinh, độ tăng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy có công đức gì không?". Đạt Ma đáp: “Không có công đức”. Vua lại hỏi: “Vậy công đức chân thật là gì?”. Sư đáp: “Trí phải được Thanh Tịnh hoàn toàn. Thể phải được trống không hoàn toàn, như vậy mới là công đức”. Vua lại hỏi: “Ai đang đối diện với trẫm đây?”. Sư đáp: “Tôi không biết”.

Ôi! Bồ đề đạt ma! Hành trạng ngài sao mà kỳ bí? Vũ Đế, xây chùa, chép kinh, độ tăng… mà ngài còn chưa cho là công đức thì làm gì mới được coi là công đức đây? Hội kiến không thành Ngài vượt sông Dương Tử mênh mông sóng dữ, chỉ với chiếc thuyền con, rồi bỏ lên núi, ngồi quay mặt vào vách đá 9 năm, truyền y-bát cho Huệ Khả xong thì viên tịch nhưng rồi có người lại gặp Ngài trên núi Hùng nhĩ, vai quảy một chiếc gậy, đầu gậy có xỏ một chiếc dép. Rồi ngay cả chuyện ngài truyền tâm ấn cho Huệ Khả, người thường cũng đâu dễ gì hiểu nổi.

Tương truyền, trước khi về, gọi đệ tử trình bày sở đắc: "Giờ ta ra đi sắp tới, vậy mỗi đệ tử hãy nói cho ta nghe sở đắc của mình".

Đạo Phó bạch: "Theo chỗ thấy của con, muốn thấy đạo phải chẳng chấp văn tự, mà cũng chẳng lìa văn tự". Sư đáp: "Con được lớp da của ta rồi".

Ni Tổng Trì nói: "Chỗ giải của con như cái mừng thấy Phật (tâm) bất động, thấy được một lần, sau không thấy lại nữa". Sư nói: "Con được phần thịt của ta rồi".

Đạo Dục, một đệ tử khác, bạch: "Tứ đại vốn không, Ngũ uẩn chẳng phải thật có, vậy chỗ thấy của con là không một Pháp nào khả được". Sư đáp: "Con được bộ xương của ta rồi".

Cuối cùng, đến phiên Huệ Khả. Huệ Khả lễ bái Sư rồi đứng ngay một chỗ, không bạch không nói gì cả. Sư bảo: "Con đã được phần tuỷ của ta"

Giữa bời bời những công án rối rắm mê hồn như này, hãy bắt đầu từ chiếc dép của tổ sư, xem chừng, còn khả hữu. Song, nếu luận như hai vị tăng sư kia, lời qua tiếng lại, thiên ngôn, vạn ngữ biết bao giờ mới ngộ ra sự thật. Ngôn ngữ, là thứ vưu vật đặc hữu, chỉ con người mới có, ngôn ngữ có sự kỳ diệu của ngôn ngữ, nhưng cũng có sự suy đồi của ngôn ngữ. Ngôn ngữ kỳ diệu là ngôn ngữ đem đến cho con người sự cảm thông và chia sẻ, ngôn ngữ suy đồi là thứ ngôn ngữ vu khoát, trí trá, che đậy những tư tưởng xấu xa, bằng những lời có cánh, nhằm mê dụ lòng người.

Sự lầm lẫn của chúng ta cũng giống như Lương Vũ Đế, dương dương tự đắc khoe việc tô tượng, đúc chuông, xây chùa, chép kinh, mà không ngộ nổi những lời khai thị, rất rõ ràng về yếu tính phật pháp của Bồ đề sư tổ. Chín năm ngồi nhìn thạch bích, hẳn sư tổ đã thấu triệt được hiền minh của sự im lặng. Chúng ta chỉ có một đời sống duy nhất, và đời sống đó đang bị xới tung lên, bởi những hành ngôn, diễn ngôn đẹp đẽ và dối trá. Tôi đã hiểu vì sao Ngài lại trao truyền tâm ấn cho Huệ Khả, vị đệ tử đã dùng sự im lặng để trả lời ngài.

Lúc ấy, tôi chợt nảy ra một ý, được kiến diện tâm ảnh có khác nào kiến diện tổ sư, liền tĩnh tâm, thầm hỏi tổ sư: “Bạch Sư tổ, vì sao người lại chỉ mang mỗi một chiếc dép?”. Gương mặt đầy dữ tợn của vị thiền sư gốc Nam Á, giãn ra trong một nụ cười hỉ xả: “Ta bị rơi mất một chiếc rồi mà!”.

Sự thật có lẽ chỉ giản dị như vậy thôi.
Trần Sáng
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

TTTre  
#1736 Posted : Wednesday, February 9, 2011 3:37:11 AM(UTC)
TTTre

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/11/2011(UTC)
Posts: 327
Location: Mien cat trang

Thanks: 2 times
UserPostedImage Bầu Bí Một Giàn Tràm Cà Mau

Người xưa viết rằng, tha hương mà gặp người quen biết cũ là một trong bốn cái thú lớn nhất trong đời. Tôi nghĩ, cần chi phải là quen biết cũ, tha hương mà gặp một đồng hương, cũng mừng đến lịm người đi chứ. Đó là trường hợp của anh Hy và tôi, khi gặp nhau trong cái thành phố Morris nhỏ bé, có dân số bảy ngàn người nầy, vào năm 1981. Tôi vì cơm áo, mà trôi dạt đến đây, gặp anh Hy. Việt Nam trong thành phố nhỏ hiền hòa nầy. Không quen biết trước, mà chúng tôi quý và thân thiết nhau còn hơn cả anh em ruột thịt. Gia đình anh Hy có năm người, bà mẹ già, hai vợ chồng anh và hai đứa con nhỏ. Lần đầu tiên gặp chúng tôi, bà cụ mẹ anh Hy cầm tay vợ tôi mà mắt rưng rưng vì mừng, bà cứ vuốt ve lưng bàn tay vợ tôi mãi. Vợ tôi thân thiết ngồi ép sát vào bà.

Bà cười nói sung sướng, như vợ tôi là đứa con gái của bà thất lạc nhiều năm mới tìm lại được. Gặp người đồng hương là sung sướng thế đó. Chị vợ anh Hy thì không dấu được niềm vui, cười nói tíu tít, và nhìn hai vợ chồng tôi với ánh mắt đầy thiện cảm. Anh Hy hiền lành, ít nói, nhưng nụ cười trên môi nở mãi không tàn. Hai đứa con chưa biết gì, chạy nhảy, reo hò. Gia đình anh Hy sung sướng, chúng tôi cũng hân hoan mừng.

Một buổi tối, tôi đi làm về, được điện thoại của anh Hy, anh hớn hở báo cho tôi biết rằng, sắp có một gia đình Việt Nam tị nạn đến thành phố nầy. Giọng anh vui mừng ríu rít. Ông bà người Mỹ bảo trợ mới thông báo cho anh biết. Ông bà muốn anh xếp đặt thì giờ, để cùng mấy người trong họ đạo đi đón người mới đến, vào thứ tư tuần tới. Tôi vội vã báo tin mừng cho vợ, và trong lòng nghe lâng lâng vui. Có thêm càng đông đồng hương, càng đở buồn, và thỉnh thoảng qua lại chuyện trò cũng bớt cô đơn nơi quê người. Vợ tôi bàn thêm, nếu thuận tiện, thì chúng tôi cùng đi đón gia đình Việt Nam tị nạn nầy cho vui, và tỏ cái tình thân thiết lúc ban đầu.

Suốt trong tuần, vợ anh Hy và vợ tôi soạn nồi niêu, chén bát, ly tách, muỗng đủa, chia bớt các thứ cần dùng trong nhà, để dành mà tặng cho gia đình mới đến. Mỗi khi bà Mỹ bảo trợ tiết lộ một tin tức gì về người sắp đến, chị vợ anh Hy vội vã điện thoại báo cho chúng tôi biết ngay.

Máy bay sẽ chở gia đình người tị nạn đến phi trường Chicago vào hôm thứ tư, lúc mười một giờ đêm. Hôm đó anh Hy bị cảm mạo, lên cơn sốt, thân nhiệt nóng hơn một trăm độ F. Hai ông bà người Mỹ bảo trợ kêu điện thoại cho tôi lúc bảy giờ tối, khi tôi mới đi làm việc về. Họ yêu cầu tôi thay anh Hy, đi cùng họ, để đón người tị nạn mới tới. Bỏ tắm rửa, tôi ăn vội vã, để khởi hành lúc tám giờ rưỡi, phòng khi đường sá có gì bất trắc. Ông Mỹ bảo trợ tên là Gary có vợ là bà Eva, cả hai ghé nhà tôi để hướng dẫn và chỉ đường trên bản đồ. Tôi cũng run lắm, vì chưa bao giờ đi đến phi trường nầy, và thấy cái bản đồ ghi chằng chịt đường sá đan nhau, như cái nùi chỉ rối. Ông bảo tôi chạy bám sát xe ông, nhưng chưa được mười phút thì đã lạc nhau. Khi cách phi trường ba mươi dặm, thì xa lộ bị tắc nghẽn, vì chiếc xe vận tải hàng hóa bị lật, gây tai nạn dính chùm. Xa lộ bị đóng hoàn toàn. Khi vào đến phi trường, tôi bị lạc đường hai lần, chạy quanh mãi mới vào được nhà đậu
xe. Ông bà Gary cũng đi lạc, và đến sau tôi. Tuyết rơi quá dày, nên máy bay cũng đến trể. Ông Gary cầm cái bảng lớn, đề tên người chủ gia đình là Phan Ly, đưa lên cao trước cỗng đi ra của hành khách. Gặp dáng người Á Đông nào, tôi cũng chăm chắm dòm kỹ. Cho đến khi hành khách
không còn ai cả, thì ông bà Gary bối rối. Ông chạy đi hỏi hãng máy bay, họ bay xác nhận là có gia đình anh Phàn trên chuyến máy bay vừa rồi. Hai vợ chồng ông Gary và tôi, cầm cái bảng đề tên anh Phàn đi quanh các ghế chờ trên phi trường, thấy gia đình Á Đông nào, cũng chìa cái bảng tên ra trước mặt họ, để dò hỏi. Đi quanh ba vòng, mà không tìm được, ông Gary nhờ loa kêu, hỏi gia đình anh Phàn ở đâu, cho biết để người bảo trợ đón về. Cũng vô hiệu. Đi tìm gia đình anh Phàn cả
tiếng đồng hồ mà không kết quả, cả ba người chúng tôi ngồi xuống ghế nghỉ một chốc với lòng vô cùng chán nãn. Tôi bảo hai ông bà Gary ngồi chờ, tôi cầm cái bảng tên đi tìm một lần nữa. Tôi đi dò tìm tên từng gia đình trên cái túi ni lông mà họ xách trên tay, của cơ quan ICM phát, khi họ cho mượn tiền máy bay. Tôi đến gần một anh mang cà vạt đỏ, áo vét ba mảnh bên trong, bên ngoài khoác áo bành tô bằng dạ. Tôi nhìn tận cái túi, và thấy loáng thoáng tên Phàn, tôi đánh bạo hỏi:

"Anh là Phàn phải không"

"Vâng. Tôi tên là Phàn, anh là ai?"

"Tôi đi theo hai ông bà bảo trợ người Mỹ đến đón gia đình anh. Sao nãy giờ chúng tôi đi qua đây nhiều lần, đưa cái bảng tên anh ra, mà anh lại ngồi im?" - Tôi nói với giọng hơi mất kiên nhẫn.

Anh Phàn chỉ vào cái bảng và nói:

"Cái bảng nầy ấy à? Thấy ông Mỹ chìa ra trước mặt tôi ba lần, nhưng đâu phải tên tôi mà nhận. Tên ông Ly nào đó mà. Tôi là Phàn."

Tôi cười, nói nhỏ nhẹ:

"Đây là tên anh . Theo lối Mỹ, ghi tên trước, họ sau."

"Ngược ngạo thế thì 'bố giời' mới biết được".

"Thế thì loa kêu tên anh nhiều lần, sao anh cũng chẵng trả lời?"

"Nghe được cái quái gì đâu?"

Tôi chợt nghĩ ra, nếu người ta có gọi tên tôi trên loa, chưa chắc tôi đã nghe kịp, huống chi anh Phàn là người mới đến. Tôi quay lại báo tin cho hai ông bà Gary, và giải thích tại sao không tìm ra. Ông bà Gary mừng, và tôi đọc được sự kiên nhẫn, chịu đựng của hai ông bà, khi đêm khuya không ngủ, tuyết đổ, lái xe cả trăm đặm, đi đón một gia đình ngoại quốc, khác màu da, khác chủng tộc, không hề bà con, không hề quen biết. Và trước đó nữa, phải làm bao nhiêu giấy tờ, mất bao nhiêu bao nhiêu thì giờ, tốn kém đủ thứ. Chỉ vì trái tim biết thương người mà thôi.

Gia đình anh Phàn có hai vợ chồng, năm đứa con, đứa đầu mười bốn tuổi, đứa út còn ẵm trên tay. Anh Phàn người da sậm, gầy ốm, cái má thóp, răng cỏ đen điu vì khói thuốc. Vợ anh thấp, trắng hơn, có bề ngang. Chị mang váy đầm dạ xám, áo vét, ngoài khoác áo bành tô cứng ngắt. Gia đình anh còn có một bà già mù, mang váy nâu, đầu quấn khăn mỏ quạ, răng nhuộm đen, trên mắt có che miếng vải đen, gợi tôi nhớ rõ hình vẽ trong cuốn sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư mà ngày còn bé tôi hay đọc. Bà cụ y hệt cái hình vẽ bà già mù trong sách. Trang phục của vợ chồng anh Phàn có vẽ sang trọng hơn cả ông bà bảo trợ nhiều, nhưng cũng không dấu được vẻ quê mùa.

Hành lý được chất lên cao trên bốn chiếc xe đẩy. Ông Gary , tôi, vợ anh Phàn, và cháu bé gái mười bốn tuổi, mỗi người đẩy một chiếc xe. Anh Phàn đi tay không thong thả, rút thuốc lá châm mồi và hút trong hành lang, nhả khói mù làm bà Eva ho sặc. ( Dạo nầy, chưa có luật gắt gao cấm hút thuốc nơi công cộng). Bà Eva đi dang xa ra khỏi anh Phàn, và ghé lại chiếc xe của cháu bé gái, phụ đẩy. Thấy đi mãi trong hành lang dài, anh Phàn hất đầu hỏi tôi:

"Sao không kêu tài xế lái xe vào gần đây, mà phải đi xa quá vậy?"

Tôi cười và trả lời:

"Tài xế? Tài xế là ông Gary và tôi đây. Xe đậu trong ga-ra là nơi gần nhất rồi, không có nơi nào gần hơn nữa".

Anh Phàn hỏi tôi:

"Anh làm tài xế cho ông bà Mỹ nầy? Lương trả có khá không?"

"Không, tôi làm việc cho công ty tư vấn. Ông bà Mỹ nầy nhờ tôi đi đón, phụ đưa gia đình anh về. Đường xa, anh có mệt lắm không?"

"Cũng mệt, nhưng chẵng can gì cả."

"Có lẽ anh nên đẩy xe giúp cho cháu bé thì hơn"- Tôi nói.

"Kệ nó, để nó làm việc cho quen"

Hành lý quá nhiều, hai chiếc xe hơi không đủ chở. May mắn ông Gary gặp người quen, ông gởi bạn mang về nhà, hẹn ngày sau sẽ đến lấy.

Vào ngày chủ nhật đầu tiên của anh chị Phàn trên đất Mỹ, chúng tôi tổ chức một bữa tiệc lớn để chào mừng và đãi đồng hương. Anh Hy và tôi, mỗi gia đình đóng bảy mươi lăm đồng làm chi phí. Chị Hy và vợ tôi trổ tài nấu ăn, rộn ràng nấu nướng từ sáng sớm tinh sương. Anh Hy kê thêm thùng giấy làm bàn, mượn thêm ghế của các gia đình bên cạnh. Chai rượu nho hồng đậm đặt trên bàn bên cạnh bình hoa giả. Anh Hy và tôi lái xe đến tận nhà anh Phàn đón tất cả mọi người, cả cháu bé còn bế trên tay.
Ba gia đình vui vẻ nhập tiệc. Anh Phàn kêu bà cụ già mù bằng dì. Tôi cảm phục cái tình gia đình của anh Phàn, khi đem bà dì mù lòa di vượt biển. Anh Phàn uống rượu rượu nho như uống nước ngọt, tu một hơi hết nữa li lớn. Anh nói:

"Rượu nầy nhạt lắm. Có đế trắng hoặc rượu Tây mới đã miệng.

Anh Hy nghe vậy, vào bên trong lục tủ, lôi ra nữa chai Vodka, rót vào ly anh Phàn. Anh Phàn uống một hớp nói:

"Cái nầy mới thật là rượu."

Khi đã ngà ngà, anh Phàn hăng say kể về cuộc chiến anh hùng chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Hạ máy bay Con Ma, bắt giặc lái. Máy bay của ta núp trong mây, chờ máy bay Mỹ đến thì bắn hạ rụng như sung chín. Anh kể công ơn bác, đảng, văn minh tiên tiến. Những chuyện nầy, tôi đã nghe nhiều lần khi còn ở bên nhà. Chị vợ anh Hy giận, nói lớn, hỏi sao anh không ở lại với bác đảng anh hùng của anh, mà lại đi qua Mỹ làm chi. Anh trả lời là sống với bọn đó không được, sống không nỗi, đời sống thua con chó, khoai sắn còn không có mà ăn, chứ đừng nói đến cơm.

Khi vợ anh Phàn khoe cái hay của ông chồng, chị nói:

"Ông nhà tôi thế chứ khảnh ăn lắm. Chỉ thích ăn quà, chứ không thích ăn cơm."

Chị vợ anh Hy nói:

"Sống với bác đảng, đói cho rã họng ra, ở đó mà thích quà không thích cơm. Nói làm sao mà tôi không hiểu chi cả."

Mỗi tuần, các bà trong hội nhà thờ đến đưa vợ anh Phàn đi chợ hai lần. Họ nhờ chị Hy đi theo để hướng dẫn và thông dịch. Mỗi lần đi chợ về, thì chị vợ anh Hy cũng kêu điện thoại cho vợ tôi để than vãn:

"Chị biết không, lần nào em xấu hổ muốn độn thổ quách. Chị ấy lựa những tảng thịt bò đắt tiền nhất, lấy hai ba tảng to tướng. Lựa các thức ăn ngon nhất, đắt nhất trong chợ, chất đầy một xe cao nghệu. Em đoan chắc với chị rằng, cái bà bảo trợ chưa bao giờ dàm đụng đến các thứ thịt đắt tiền đó. Bà bảo trợ cứ chỉ vào thịt gà, thịt heo, mà chị ấy lờ đi. Em thấy cái mặt bà bảo trợ nhăn như cái bị rách. Khi trả tiền, mặt mấy bà tái ngắt vì số tiền phải trả."

Có lần vợ anh Hy khuyên vợ anh Phàn rằng, nên chọn các thức ăn có giá trung bình hoặc rẽ mà mua, vì chính ngay các bà bảo trợ, cũng rất ít khi dám ăn các thứ đắt tiền đó. Vợ anh Phàn lắc đầu mà nói rằng, mình không trả tiền, tội gì không lựa món ngon mà ăn. Từ đó, vợ anh Hy sinh ra có thành kiến với gia đình anh Phàn.

Các ông bà bảo trợ trong nhà thờ rất chu đáo. Mua cho các cháu bé áo quần, giày vớ, áo lót chống lạnh, áo khoác đi tuyết, sách vở, viết chì, viết màu, túi xách mang lưng để đi học, ghi tên cho các cháu đến trường. Khi họ đến thông báo cho gia đình anh Phàn, để hẹn ngày đem các cháu đến trường, thì anh Phàn phản đối, nhất quyết không cho cháu gái đầu mười bốn tuổi đi học. Anh lấy lý do là nhà đông con dại, cháu nầy đã lớn, cần ở nhà giữ em, làm việc vặt, giúp mẹ nấu nướng. Ba bà bảo trợ cố gắng giải thích, qua sự thông dịch lỏm bỏm của vợ anh Hy, rằng luật pháp ở Mỹ bắt buộc trẻ con dưới mười tám tuổi phải đi học. Nếu không được đi học, thì cha mẹ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Chị vợ anh Hy cũng chỉ hiểu lơ mơ lời các bà, và thông dịch cho anh Phàn. Anh Phàn cứ lắc đầu, nhất quyết không chấp nhận lời khẩn cầu của các bà Mỹ, cho cháu lớn đi học. Các bà cứ thuyết phục mãi làm anh Phàn nỗi giận nói gằn với chị vợ anh Hy :

"Con của tôi sinh ra, tôi muốn cho nó đi học hay không là quyền của tôi. Sao các bà ấy cứ muốn xía vào chuyện riêng của chúng tôi mãi thế."

"Pháp luật bắt buộc cho trẻ con đi học. Không phải các bà muốn đâu"

"Pháp luật nào mà lạ thế? Tùy hoàn cảnh gia đình mỗi người, mà cho con đi học. Nhà nước nào mà can thiệp vào? Đây là xứ tự do mà."

"Đúng, xứ tự do, nhưng không phải cha mẹ muốn làm gì thì làm. Pháp luật bảo vệ con trẻ dưới tuổi trưởng thành."

"Thôi, chị đừng nói nữa, tôi đã nhất quyết rồi. Tôi đã có phương án riêng cho gia đình tôi. Vô ích. Chị đừng tuyên truyền tôi nửa."

Vợ anh Hy tức cành hông, muốn khóc vì không phá vỡ được cái vỏ cứng rắn của anh Phàn. Chị cùng ba bà Mỹ chán nản ra về. Tối hôm đó, bà Eva điện thoại cho tôi, nhờ giải thích cho anh Phàn hiểu luật pháp Mỹ .

Tôi chưa kịp kêu cho anh Phàn để giải thích, thì điện thoại reo. Anh Phàn ở đầu dây bên kia. Anh than phiền là các bà Mỹ, và vợ anh Hy cứ ép anh, buộc phải cho đứa con gái đầu đi học. Anh nói là họ làm áp lực anh, họ vô lý. Còn bày đặt ra là luật lệ bắt buộc để dọa anh. Nghe giọng nói của anh, tôi cũng phải chùn lại, vì biết rất khó thuyết phục anh trong lúc nầy. Tôi chỉ ừ è cho qua chuyện, và giả vờ theo phe anh, mà nói :

"Anh nói đúng, mỗi gia đình có hoàn cảnh riêng, giải quyết theo cách riêng. Không ai có quyền ép ai cả. Về luật lệ xứ nầy, thì tôi cũng không được rõ lắm. Hay là anh thử kêu điện thoại qua Oklahoma hỏi những người anh quen biết từ ngoài Bắc, mà họ đã đến xứ nầy từ lâu rồi, để biết thêm cho rõ. Biết chắc luật lệ, mà thi hành. Không ai có quyền ép mình theo ý họ, nhưng mình cũng không nên làm trái luật. Có gì thì anh cho tôi biết với."

Không biết anh có kêu điện thoại cho người quen ở Oklahoma hay không, nhưng sau cùng, anh Phàn cũng phải nhượng bộ yêu sách của nhà thờ, để cho cháu gái mười bốn tuổi đi học. Anh nói rằng : "Thôi, thì tôi cũng tạm thời lui một bước, mình mới đến đây mà căng quá cũng không nên. "

Các ông bà bảo trợ để anh chị Phàn nghỉ ngơi cho hoàn hồn trong hai tháng. Trời tuyết đổ bên ngoài, trong nhà đóng cửa kín mít, lò sưởi mở tối đa, anh chị và bà cụ bó gối ngồi trên ghế bành . Cái máy truyền hình nhấp nhem, nói tiếng Mỹ ồn ào. Anh Phàn bảo rằng, không đi tù, mà cũng giống như bị giam lỏng, bị quản chế. Ra ngoài thì trời lạnh, tuyết ngập, đi gần cũng không biết đi đâu, đi xa thì không có xe cộ.

Khi hội nhà thờ muốn kiếm việc cho anh chị làm, thì anh gạt ngang. Anh nói với ông bà bảo trợ, qua thông dịch của vợ tôi:

"Chưa biết nghe, biết nói chi cả chưa thể đi làm được."

Bà bảo trợ thuyết phục:

"Công việc cần làm, không cần nói, cũng không cần nghe."

"Khi nào chúng tôi nói và nghe giỏi như các bà, chúng tôi sẽ đi làm việc. Gấp làm chi. Tôi cần đi học tiếng Anh cho giỏi."

Vợ tôi bảo rằng, dù anh học thêm năm ba chục năm nữa, cũng không thể nói và nghe bằng họ được. Đi làm việc, chỉ cần cố gắng làm. Còn nghe và nói, thì ai cũng lơ mơ, nghe một phần, đoán một phần. Mình không lớn lên tại Mỹ, thì hiếm hoi lắm mới nghe và nói giỏi tiếng Mỹ. Phải vừa làm, vừa học. Nhưng anh Phàn nhất quyết rằng, chưa nghe, chưa nói giỏi thì chưa chịu đi làm. Nghe vậy, mấy bà trong họ đạo, ngày nào cũng thay phiên nhau đến nhà anh Phàn dạy tiếng Mỹ. Mỗi ngày dạy bốn giờ liên tiếp. Các ông bà Mỹ tin tưởng rằng, trong vòng ít tháng, thì cả nhà sẽ giỏi tiếng Mỹ, không giỏi bằng họ, thì cũng một tám một mười. Trong những buổi học tiếng Mỹ, anh Phàn và vợ thấy buồn ngủ khủng khiếp, cứ rán chống mắt lên, mà cái đầu cứ gục lia lịa. Anh chị uống trà đậm chống cơn buồn ngủ cũng không hiệu quả. Anh chị thấy những buổi học nầy, như cực hình, như tra tấn, và nản lòng vô cùng.
Học được phút trước, thì phút sau quên béng đi. Không nhớ gì cả. Anh chị kết luận, là cái óc của anh chị đã hư rồi, không thể học được gì nữa. Sau một tháng dạy liên tục, các bà Mỹ cũng nản lòng, bỏ lớp dần dần, và không đến dạy nữa. Kết quả vượt bực. Anh Phàn thì chỉ ấp úng
nói được hai chữ "yes" và "no", vợ anh giỏi hơn, nói được rất ngọng thêm chữ "thank you". Vợ tôi cho rằng, các bà Mỹ không có phương pháp sư phạm, nên dạy không kết quả.

Từ đó, anh Phàn mới chấp nhận là không thể học nói học nghe cho giỏi bằng các ông bà Mỹ được, và anh chị cắn răng để cho nhà thờ thu xếp việc làm cho anh chị.

Mỗi buổi sáng tinh sương, anh Hy đến chở anh Phàn đi làm, buổi chiều chở về tận nhà. Có những buổi chiều, khi tan sở, xe anh Hy là một đống tuyết khổng lồ, anh phải vất vả đào tuyết moi xe ra. Trong khi anh Hy quần thảo với đống tuyết, với nước mãng nước đá đông cứng trên kiếng xe, thì anh Phàn đứng hút thuốc lạnh lùng nhìn. Anh Hy bất bình, nhưng không nói. Một lần, mệt quá, anh Hy không nín được, quay qua hỏi anh Phàn:

"Anh không giúp tôi một tay dọn tuyết cho mau mà ra về?"

"Xe anh chứ có phải xe tôi đâu!"

"Nhưng... anh có đi trên xe nầy không?"

"Anh lái xe mà, đâu phải việc của tôi"

Anh Hy giận lắm, im lặng, và không nói với anh Phàn trong nhiều ngày liên tiếp. Anh Hy nói với tôi rằng, vì đã lỡ nhận lời gởi gắm của bà Mỹ bảo trợ, nếu không, thì anh chẵng chở anh Phàn đi làm nữa. Tôi an ủi anh Hy, khuyên anh đừng giận anh Phàn, vì đồng hương còn có ai đâu, giận nhau nữa thì còn ai. Nhiều khi anh Phàn cự nự anh Hy vì đã đến đón sớm hơn giờ quy định. Những khi nầy, anh Phàn rề rà cho anh Hy phải ngồi chờ thật lâu trong xe dưới tuyết đổ. Có lần anh Phàn ngần ngừ hỏi:

"Tôi hỏi thật, anh đừng dấu nhé. Nhà thờ trả cho anh mỗi tháng bao nhiêu, để anh đưa đón tôi đi làm ?"

Anh Hy nghe mà buồn cười, hỏi lại:

"Anh hỏi làm chi vậy?"

"Hỏi cho biết bao nhiêu, nếu số tiền đó khá, thì tôi xin lảnh tiền, và kiếm chiếc xe đạp đi làm cũng được."

"Không có xu nào cả. Tôi chở anh miễn phí, vì anh là đồng hương, và vì tôi cũng đã từng qua thời kỳ mới đến định cư như anh. Đáng ra anh phải chia tiền xăng, tiền hao mòn xe với tôi mới phải lẽ."

"Tôi không tin."

"Không tin thì anh thử hỏi mấy ông bà bảo trợ xem."

Anh Phàn cười mũi:

"Có hỏi mấy ông bà Mỹ, thì vợ anh hay anh phiên dịch. Anh chị muốn nói chi mà không được. Thà đừng hỏi."

Anh Hy buồn lắm, nhưng không nỡ nói nặng lời, anh chỉ thở dài:

"Năm ba năm nữa, nếu nhớ lại chuyện nầy, anh sẽ biết rõ sự thực."

Mỗi ngày, có xe nhà trường đến tận nhà chở ba cháu bé đi học. Cháu lớn học ở trường xa hơn, hai cháu nhỏ học trường tiểu học gần nhà. Anh Phàn nói rằng, nhờ đấu tranh gay gắt với nhà thờ về vụ cho đứa con lớn đi học, mà nhà thờ phải nhượng bộ, bằng cách đem xe đón tận nhà, đưa luôn ba đứa đi học. Chị vợ anh Hy giải thích rằng, trẻ con ở thành phố nầy, em nào cũng được vậy, không riêng gì các cháu con anh Phàn. Anh Phàn không tin và chỉ cười ruồi đáp lại.

Mùa đông miền Trung Bắc nước Mỹ, như mọi ngày đông khác, tuyết đổ ngập đường trắng xóa. Xe cào và thổi tuyết hoạt động liên miên. Muối được rải ra những con đường chính cho xe chạy. Một cháu trai nhỏ con anh Phàn đang ngồi trong lớp học, bỗng đứng dậy ôm sách vở ra về. Cô giáo
cản lại. Hai bên trao đổi vài câu. Không ai hiểu ai. Cô giáo chỉ ra sân đầy tuyết trắng chất thành đống cao, như muốn nói cho em hiểu rằng không thể đi được, và dắt em về lại chỗ ngồi. Em rươm rướm nước mắt, và đứng dậy, nhất định ra về. Cản mãi không được, cô giáo kêu bà hiệu trưởng. Bà xuống lớp, khuyên bảo em. Hai bên cũng không hiểu nhau. Bà không thể để em bé bảy tuổi ra về một mình trong gió hú, trong tuyết cao chất đầy như thế. Bà cầm tay giữ em bé lại. Em khóc lớn. Hai bà giáo nhìn nhau thất vọng, không biết phải làm gì. Bỗng bà hiệu trưởng nhớ là em bé có con chị học trên nó hai lớp. Bà cho người đi kêu chị nó xuống. Con chị xuống gặp đứa em, nói vài câu. Xong, con chị nắm tay thằng em dẫn nó ra về. Hai bà giáo vội cản lại. Kéo hai em vào bên trong lớp. Cả hai đứa đều khóc ròng. Bà hiệu trưởng dẫn hai chị em đứa bé về phòng, và kêu điện thoại cho bà Mỹ trong gia đình bảo trợ, nhờ giúp đở. Bà bảo trợ vào trường ngay. Bà dắt hai chị em về lớp, hai đứa không chịu đi, mà nhất định kéo nhau ra sân, để đi bộ về nhà. Ba bốn cô giáo họp lại bàn cãi. Một hồi sau, bà bảo trợ theo yêu cầu của các cô giáo, chạy xe đến công ty anh Phàn đang làm, xin cho anh được tạm nghỉ, đến trường giải quyết việc học của hai cháu. Anh Hy phiên dịch cho anh Phàn biết, là hai cháu không chịu học, mà đòi đi bộ giữa mưa tuyết, để về nhà. Anh Phàn giận hầm hầm và nói với anh Hy : "Con cái mất dạy. Đề tôi đến cho chúng vài bạt tai, cho bớt biếng nhác."

Anh Hy vội vã níu anh Phàn lại, đặn dò: "Không được, đánh trẻ con thì cảnh sát còng tay đó . Đừng dại dột." Anh Phàn hất tay anh Hy ra, và chưa dứt cơn giận: "Vợ chồng anh được cái giỏi là hay hù họa tôi mà thôi. Con cái mà không đánh cho sợ, thì thành hư đốn. Dạy con từ thuỡ nên ba." Anh Hy biết khó thuyết phục anh Phàn, bèn nói vọng theo: "Bớt nóng giận. Đừng đánh con, tội nghiệp. Có chi thì từ tốn, dạy bảo." Anh Hy sợ anh Phàn bị cảnh sát còng tay. Khi xe đến trường, anh Phàn hùng hổ, xăm xăm đi theo bà Mỹ đến gặp hai đứa con. Hai đứa bé mặt xám ngắt, trên mắt còn ướt sũng lệ. Anh lớn giọng gằn hai đứa bé. Sau vài câu trao đổi giữa ba cha con, mặt anh Phàn dịu xuống, đến nắm tay hai đứa con, dắt chúng ra về. Tuyết ngập trời, tuyết cao nghệu, các bà giáo cản cha con anh lại không cho đi. Không ai cho anh dắt trẻ con đi trong mưa tuyết lạnh lẽo nầy. Anh kéo con đi, nhưng một ông giáo to lớn như hộ pháp đang giữ tay hai em bé lại. Các bà giáo đang vây quanh thì líu lường xôn xao. Anh Phàn nhìn đám thầy cô người Mỹ với ánh mắt tuyệt vọng, với nét mặt anh nhăn nhúm đầy đau khổ, anh vội cúi xuống, banh quần thằng bé ra, và òa khóc lớn. Cả ba cha con cùng khóc vang thảm thiết. Mùi thối tha bốc lên làm ngát mũi. Mấy ông bà giáo người
Mỹ cùng ồ lên một tiếng lớn, và cùng cười. Họ hiểu, em bé đã phóng uế ra cả quần. Em đã không biết nói sao để xin cô giáo đi ra phòng vệ sinh, và cũng không biết phòng vệ sinh ở đâu, rán sức cầm cự, và khi hết chịu nỗi, thì phóng ra quần.

Mỗi buổi chiều, sau khi anh Phàn đi làm về chừng một tiếng, thì có bà Mỹ đến chở vợ anh đi làm. Mấy ông bà Mỹ xin cho chị được chân rửa bát tại một khách sạn sang nhất trong tỉnh nhà. Khoảng mười giờ rưỡi đêm, thì mấy bà Mỹ trong họ đạo chia phiên nhau, lái xe trong tuyết lạnh, đến chở vợ anh Phàn về nhà. Mùa đông tỉnh lẻ, họ ngủ sớm, mười giờ đêm là đã say giấc, họ phải để đồng hồ báo thức. Vợ tôi thường biểu lộ sự cảm phục lòng tốt của các bà trong họ đạo. Khuya lạnh, ai mà không muốn thẳng giấc, phải thức dậy đội tuyết ra đi là một cực hình. Có nhiều đêm, vì lý do bất khả kháng, các bà kêu tôi, nhờ đến đón chị Phàn về. Thời đó, dù sáng phải dậy lúc năm giờ, để kịp năm giờ rưỡi khởi hành, đi làm, nhưng tôi vui vẻ nhận lời ngay, để cám ơn cái lòng tốt của các bà Mỹ, đã giúp cho người đồng hương của tôi. Có lần tôi bị cảm mạo, chóng mặt, mà không dám từ chối, sợ các bà cho là tôi không có lòng. Mỗi lần đi đón, thì tôi phải cào tuyết trên xe hơn mười lăm
phút, chờ máy nóng mới đi được. Bỡi thế, nên thường đến trể. Chi vợ anh Phàn giận, không vui, ngồi trên xe mà không nói một lời nào . Cả không một lời cám ơn, một lời chào khi được đón và khi về thấu nhà. Có lần chị nói :

"Nếu đón tôi, thì đừng đến trể. Ngồi chờ rất nản."

"Tôi được các bà Mỹ kêu, nhờ đi đón chị, thì tôi đi ngay. Phải mang áo, phải cào tuyết, phải chờ xe ấm máy, nên hơi trể, chị đừng buồn. Các bà người Mỹ tử tế quá, đêm nào cũng đi đón chị trong lạnh lẽo, mưa, tuyết."

"Tôi có nhờ các bà đâu. Họ bắt tôi phải đi làm việc đấy chứ. Hừ, tử tế!"

Tôi không buồn mà thương cho chị. Có lẽ anh chị Phàn hiểu lầm rất nhiều về lòng tốt của những người chung quanh.

Một hôm, anh chị Phàn mời vợ chồng tôi, và vợ chồng anh Hy đến nhà, để nhờ chúng tôi một việc quan trọng. Hỏi anh chuyện gì, anh nói sẽ cho biết sau. Anh Hy cười nói với tôi rằng, sao cái lối nói nầy giống hệt cách thức của công an nhà nước cọng sản hồi trước. Buổi chiều đi làm việc về, có "giấy mời" tối nay ra trụ sở công an, lý do "Cho biết sau". Cứ thế mà run, mà thắc mắc, không biết có chuyện gì, không biết có bị nhốt luôn hay không. Ra đi mà hồi hộp, mà dặn dò vợ con phải làm
gì để sinh sống, nếu bị nhốt tù. Chúng tôi rủ nhau cùng qua nhà anh Phàn mà không phải hồi hộp, không phải lo lắng. Anh Chị Phàn cùng bà cụ đã ngồi sẵn trong phòng khách. Họ rót nước trà mời chúng tôi, xem bộ trịnh trọng, không lạt lẽo như thường ngày. Sau một hồi thăm hỏi xả giao, anh Phàn tằng hắng nói:

"Tôi mời các anh chị đến đây, vì không còn ai có thể giúp cho chúng tôi được trong hoàn cảnh câm điếc này. Nhà thờ đã ăn chận của gia đình
tôi mỗi tháng hơn hai ngàn đô. Tôi van xin các anh chị, nói với các ông, các bà trong nhà thờ, cho chúng tôi lại số tiền đó, để tôi làm vốn, ra làm ăn buôn bán, kiếm sống, chứ đi làm cu-li cho hãng sửa tàu, cho khách sạn, thì biết bao giờ mới ngóc đầu lên nỗi? Chúng tôi van lạy các anh chị, xin giúp chúng tôi, và vì thương các cháu nhỏ ..."

Cả bốn người chúng tôi bàng hoàng, không tin vào lổ tai mình. Chị vợ anh Hy ấp úng hỏi lại:

"Nhà thờ ăn chận tiền của anh chị? Mỗi tháng hơn hai ngàn ? Sao? Anh nói rõ hơn được không?"

Anh Phàn gằn giọng, nói lớn, rõ ràng:

"Đừng vờ vĩnh. Gia đình tôi có tám người, nhà nước Mỹ cấp cho, ít nhất cũng trên ba ngàn bạc mỗi tháng. Cứ cho tiền chợ, tiền nhà mà mấy ông bà bảo trợ chi cho chúng tôi, chừng mấy trăm là cùng, thì cũng còn hơn hai ngàn đồng mỗi tháng, chứ có ít đâu. Nếu không ăn chận, thì tiền đó để đâu, vào túi ai?"

Chị vợ anh Hy tái mặt, hỏi:

"Ai nói với anh điều đó? "

"Chúng tôi biết rõ lắm, không cần ai nói cả."

Anh Hy ôn tồn giải thích rằng, anh cũng đã đến đây trước. Anh rõ thủ tục. Ban đầu hội nhà thờ thuê giúp nhà, cho tiền chợ, mua cho đủ các thứ cần dùng hàng tháng. Rồi họ kiếm việc cho mình làm. Khi đã có lương tiền, thì mình phải tự túc lấy. Đó là chính sách của nhà thờ."

Mặt anh chị Phàn và cả cụ già đều sậm lại. Giọng chị Phàn chua ngoét:

"Chúng tôi đâu có ngu. Tôi biết rõ hai ông bà Hy nầy là những con cò mồi của nhà thờ. Biết rõ đến mười mươi."

Anh Hy run lên vì giận, chị Hy thì mặt đỏ bừng, thét lên the thé:

"Làm cò mồi để được cái gì? Ăn nói như những kẻ vô ân bạc nghĩa. Nói như vậy mà không biết tự xấu hổ sao? Giao thiệp với hạng người nầy thêm xấu hổ, thêm nhục nhã cho cái giống nòi mình mà thôi."

Chị Hy kéo anh chồng đứng dậy, giận dữ ra về. Anh Hy quay lại nói với anh Phàn:

"Tuần tới, ông tự kiếm lấy phương tiện mà đi làm. Tôi không muốn làm mọi cho ông nữa."

Vợ tôi cũng giận và muốn ra về theo vợ chồng anh Hy. Tôi làm dấu, bảo ngồi yên. Anh Phàn phân trần tiếp:

"Chuyện trợ cấp cho người mới định cư là luật của nhà nước Mỹ. Rõ ràng, không ai chối được. Chúng tôi đã biết rõ từ hồi còn ở trại tị nạn Hồng Kông. Nay nhà thờ ăn chận tiền, rõ ràng thế, mà còn chối loanh quanh."

Tôi thấy tội nghiệp cho vợ chồng anh Phàn, vì hiểu lầm, nên có nhiều suy nghĩ và hành động đáng tiếc. Tôi cũng không dám nói thẳng là anh đã hiểu lầm luật lệ. Biết là khó mà giải thích cho gia đình anh Phàn hiểu, không chừng càng giải thích, thì càng gây thêm nhiều ngộ nhận khác. Tôi ngồi im một lúc suy nghĩ. Anh Phàn nói tiếp :

"Bây giờ chỉ còn hai anh chị. Tôi nhờ anh chị 'báo cáo' lại cho nhà thờ những đòi hỏi chính đáng của gia đình chúng tôi. Chúng tôi kiên quyết đấu tranh cho đến thắng lợi cuối cùng."

Vợ tôi nghe cái giọng điệu giống hệt những anh cán bộ trong các buổi học tập chính trị bên nhà, thì phì cười, hết giận. Vợ tôi nói:

"Xem bộ mấy ông mấy bà trong họ đạo nầy dư công rỗi nghề gớm nhỉ. Mình ở xa ngàn dặm, không bà con, không quen biết, không ân nghĩa, không nợ nần, lại nai lưng ra bảo lảnh mình vào đây, cho nhà ở, cho cơm ăn, cho áo mặc, lo cho đủ thứ. Lại bị ghét bỏ, thật đáng đời. Của nợ giữa đường mà mang cõng lên lưng. Anh chị xem, không biết họ bảo lảnh cho mình, thì được lợi lộc gì nhĩ ? "

Hai vợ chồng anh Phàn cùng nói lớn một lúc, với giọng chắc nịch:

"Để lập thành tích chứ để làm gì. Ai mà không biết."

Vợ tôi bật cười ha hả và nói tiếp:

"Đúng. Lập thành tích dâng lên đảng !"

Tôi ôn tồn bảo vợ tôi đừng đùa nghịch. Tôi hứa sẽ cố gắng giúp hai anh chị Phàn và gia đình. Chữ hứa của tôi, trong thâm tâm, là hứa cố gắng giúp anh chị giải tỏa những hiểu lầm đáng tiếc, nhưng có lẽ anh chị Phàn tưởng là tôi sẽ đến nhà thờ đòi tiền "ăn quỵt" giúp cho anh chị.

Chúng tôi về, ghé lại nhà anh chị Hy. Anh chị Hy chưa nguôi giận. Chị vợ anh Hy nói:

"Chúng nó là thứ vô ân bạc nghĩa, không biết đạo lý làm người. Khi nào cũng ngoác miệng ra nói lời dóc lác, đao to búa lớn, nào là đấu tranh, nào là thắng lợi, kiên quyết. Nghe mà ngứa lỗ tai, chịu không nỗi."

Vợ tôi nói:

"Họ còn cho rằng, nhà thờ muốn lập thành tích nên bảo lảnh họ đến đây."

Anh Hy phì cười, nói:

"Mấy ông bà trong họ đạo mà nghe câu nầy, chắc tức mà hộc máu chết hết không còn một mống. Thôi, anh chị cũng nên tránh xa gia đình anh Phàn, để tránh bực mình và rắc rối về sau. Những hạng người nầy, không chơi được."

Tôi nói:

"Thôi, anh chị bớt giận. Tất cả cũng do hiểu lầm. Người ngoài, không cùng màu da, không cùng dòng giống, mà họ còn tận tình giúp đở. Mình không giúp nhau, thì làm sao cho lòng yên ổn được."

"Nhưng họ nói cái giọng khó nghe của 'bọn dân tộc anh hùng', ngứa tai chịu không nỗi."

Tôi dịu giọng:

"Họ cũng là nạn nhân dài hạn của chế độ. Họ còn đáng thương hơn chúng ta nữa, vì chịu đã chịu đựng chế độ lâu dài hơn hai mươi mấy năm. Nếu chúng ta sống trong hoàn cảnh đó, được giáo dục theo lối đó, thì không chừng chúng ta tệ hại hơn anh chị Phàn bây giờ. Anh chị đừng buồn nữa.
Thứ hai nầy, anh cứ đến chở anh Phàn đi làm như thường nhé. Chúng ta không thương nhau, thì ai thương chúng ta được?"

Anh Hy im lặng. Chúng tôi ra về. Không biết nghĩ sao, vào tối chủ nhật, anh Hy nhờ tôi điện thoại báo cho anh Phàn biết là sáng thứ hai, sẽ đến đón anh Phàn đi làm như thường lệ. Tôi nghe mà mừng. Nhưng anh Hy và anh Phàn vẫn còn buồn nhau. Cùng đi cùng về mà giữ im lặng, không nói một lời. Sau nầy, anh Phàn nói với tôi rằng: "Bố bảo, thằng Hy cũng không dám thôi đưa rước tôi đi làm. Nó còn phải rình mò, dò xét tôi, để báo cáo cho nhà thờ nữa chứ."

Mỗi sáng Chủ Nhật, các ông bà Mỹ đến chở toàn gia đình anh Phàn đi nhà thờ xem lễ. Với ý nghĩa làm ơn, làm phước, cứu vớt linh hồn của một gia đình ngoại đạo tội nghiệp, chưa biết đến danh Chúa Trời, đem ơn phước đến cho họ. Nhưng gia đình anh Phàn cắn răng chịu đi nhà thờ, là để làm ơn cho các ông bà Mỹ, làm họ vui lòng, may ra họ nghĩ lại mà trả lui số tiền họ đã ăn chận. Chứ đến nhà thờ, theo anh Phàn nói, chỉ nghe xi-lô xi-la không biết họ nói gì, buồn ngủ lắm, ngồi lâu mỏi
lưng, tê chân. Anh Phàn nói với tôi rằng: "Mấy ông bà Mỹ sang trọng, giàu có nầy, nhưng keo kiệt không ai bằng. Mỗi khi lễ xong, có người cầm cái vợt đi thu tiền, tôi thấy họ chỉ cúng vào vợt tờ bạc một đồng thôi. Để cho họ xấu hổ, nhục nhã, khi nào tôi cũng bỏ vào vợt mười đồng." Tôi chỉ cười, không dám có ý kiến.

Một hôm anh Phàn lội tuyết qua nhà tôi vào buổi tối, đem tặng một gói trà Tàu bèo nhèo mà anh đã mua từ Hồng Kông. Sau một vài câu chuyện vu vơ, anh lôi trong túi ra một xấp điện tín có mười bốn tờ, đưa cho tôi xem, và hỏi những món hàng ghi trong điện tín có thể mua ở đâu, làm sao tìm ra tiệm bán giá rẻ. Tôi lật từng trang điện tín từ Hãi Phòng, Hà Nội. Móng Cáy điện qua, do nhiều người khác nhau đánh đi, yêu cầu gởi những món đồ gia dụng như máy nghe nhạc, máy chụp hình, xe đạp đua, vải vóc, bột ngọt, thuốc trụ sinh và những món linh tinh khác nữa. Anh nói :

"Bên nhà tưởng tôi qua đây đi ăn cướp tiền của thiên hạ anh ạ. Tiền đâu mà đòi hỏi đủ thứ như thế nầy? Tôi cũng nhức đầu về mấy cái điện tín và thơ từ liệt kê dài lòng thòng các món hàng họ đòi hỏi. Điên lên được đấy chứ ."

Tôi an ủi anh:

"Bên nhà họ khổ quá, mình giúp đở được ít nhiều chi, thì giúp trong khả năng của mình. Anh lo buồn làm chi cho khổ tâm vô ích."

"Người ta tưởng qua đến Mỹ là hốt tiền thiên hạ như hốt lá vàng. Mỹ nó ngu cả hay sao? "

Tôi hứa khi nào rảnh, sẽ lái xe đưa anh lên Chicago, tìm các tiệm bán hàng cần thiết để anh dò hỏi giá cả. Anh hỏi vay tôi năm trăm đồng, có tiền lời mười phân, và sẽ hoàn trả lại khi lảnh được tiền trợ cấp. Tôi cười bảo anh:

"Để tôi bàn lại với vợ tôi, thuyết phục vợ cho anh vay. Vì hầu bao trong gia đình do các bà nắm giữ, và giữ chặt lắm. Mỗi ngày tôi phải ngữa tay xin tiền quà, tiền xăng. Và nếu có cho anh vay, thì cũng
không dám lấy lời. Ở Mỹ mà cho vay cắt cổ, thì cũng dễ vác chiếu ra tòa lắm."

"Tiền lời là do tôi đề xuất, và bằng lòng, chứ anh có ép tôi đâu? Anh tự quyết định cho tôi vay không được sao? Các anh yếu đuối quá, anh Hy cũng vậy, để cho vợ lấn lướt, qua mặt. "

Tôi cười, nói đùa:

"Đàn ông miền Nam chúng tôi không được dũng cảm như các anh. Mà khi ở trên đất Mỹ nữa , thì chúng tôi càng xìu như sợi bún thiu."

Làm việc được bốn tháng, anh Phàn bỏ việc mà không thông báo cho công ty, nên anh bị sa thải. Mấy người bảo trợ trong nhà thờ đến nhà anh tìm hiểu sự việc để giúp đở. Họ kêu vợ chồng anh chị Hy đi thông dịch, nhưng anh chị Hy từ chối. Họ đến nhờ vợ tôi. Nhóm nhà thờ gồm năm ông bà, đi hai xe. Họ hỏi lý do thôi việc. Anh Phàn lừng khừng đáp:

"Không muốn làm việc nữa, thì nghỉ."

"Thế anh đã kiếm ra việc làm khác chưa ?"

"Chưa"

"Không có việc làm, lấy tiền đâu chi tiêu, thuê nhà, ăn uống?"

"Tôi không biết!"

"Tại sao anh không muốn làm việc đó nữa? Có vấn đề gì không? "

"Không có vấn đề chi cả. "

"Anh có muốn nhà thờ tìm việc khác cho anh không?"

"Chưa muốn. Khoan đã."

Mấy ông bà trong nhà thờ lắc đầu, nhìn nhau, rồi nhìn anh Phàn với ánh mắt thương hại. Các ông bà hỏi, bây giờ anh muốn gì không? Anh nhờ vợ tôi nói, là muốn nhà thờ trả lại cho anh số tiền hơn hai mươi ngàn mà họ đang giữ giúp, để anh tính kế làm ăn. Vợ tôi tái mặt, không biết phải nói làm sao, để hội nhà thờ không bất bình. Ngập ngừng, vợ tôi nói trại ra rằng, anh Phàn tha thiết muốn biết những chi phí của nhà thờ đã chi tiêu cho anh, và ai đã đóng góp bao nhiêu, quỷ nhà thờ bao nhiêu, và nhà nước cho bao nhiêu, để anh tri ân họ. Các ông bà khoát tay, bảo là không cần thiết, đừng nghĩ đến, đừng thắc mắc. Vợ tôi năn nỉ, nói rằng, nếu không được biết những điều đó, thí anh Phàn cứ thắc mắc mãi, không yên tâm để làm ăn. Các ông bà cười sung sướng, thoải mái.

Cuộc đấu tranh kiên cường của anh Phàn gần thành công mà anh không biết. Khi nhà thờ thấy anh chị đều thôi việc, không chịu đi làm nữa, họ cũng quýnh lên, lo lắng lắm. Họ đạo cũng nghèo, tín hữu cũng không giàu có chi, không thể đài thọ dài ngày cho cái gia đình đông đảo nầy được. Các ông bà bảo trợ chịu thua, định ngày đem gia đình anh Phàn lên sở xã hội xin trợ cấp của quận hạt. Nhưng anh Phàn loan báo rằng, anh sẽ dời nhà về Oklahoma City. Cả họ đạo thở phào. Anh Phàn có nhiều bạn bè quen biết trong trại tị nạn cũ, họ đã định cư ở Oklahoma, và biết rành mạch cách xin trợ cấp xã hội.

Anh Phàn nhờ tôi mua vé máy bay cho cả gia đình về Oklahoma City, đồng thời dàn xếp xe cộ để chở anh chị ra phi trường. Ông Gary và bà Eve hứa thuê một chiếc xe có thùng sau lớn, để chở hành lý cồng kềnh của gia đình anh. Tôi và anh Hy, hai xe sẽ chở người trong gia đình. Anh Phàn nói nhỏ với tôi rằng, trước khi đi anh sẽ đốt căn nhà để trừ vào số tiền nhà thờ đã ăn quịt của anh. Ăn của ai thì được, ăn của anh thì nuốt không trôi đâu. Tôi can gián, và dọa anh rằng FBI của Mỹ giỏi
lắm, thế nào họ cũng điều tra ra. Và tội chi đi tù cho khổ thân, con cái không ai nuôi. Mình đến đây, đời sống còn dài, còn sức thì còn làm ra tiền. Vã lại, có đốt căn nhà, mình cũng không được đồng xu nào, chưa chắc đã hả được cái tức tối, mà mua thêm lo lắng vào thân. Lỡ cháy lan qua nhà lân cận, thì thêm tội nghiệp những người láng giềng tốt của anh. Anh nói rằng, nếu không đốt được nhà, thì trước giờ đi, anh sẽ phá cho tan tành, đập vỡ bồn cầu, nhà tắm, bẻ ống nước, phá tủ lạnh, đập bếp. Tôi cười bảo rằng, anh cứ lo đi trước, sau khi anh đến Oklahoma rồi, tôi sẽ thay anh làm các việc đó. Đừng làm sớm, mà họ giữ anh lại, không đi được, mất toi tiền máy bay.

Ngày anh Phàn ra phi trường, tôi và anh Hy xin nghỉ việc, thay phiên nhau đến nhà anh, lấy cớ là phụ soạn hành lý, nhưng thật tâm là để ngăn cản anh phá hoại căn nhà. Khi cả nhà lên xe hết, anh Hy chạy vào một vòng bên trong nhà, xem có gì hư hại không. Anh Hy ra xe và đưa
hai ngón tay lên làm một vòng tròn, cho tôi biết là mọi sự tốt đẹp. Tôi thở phào.

Trong khi chờ máy bay, anh Phàn nhờ tôi nói với ông Gary và bà Eva rằng, qua Oklahoma, anh sẽ gời tiền, mua vé máy bay, mời cả họ đạo của ông bà qua chơi, anh sẽ bao tiền săn ở, bao tất. Tôi dịch khác đi, nói là anh biết ơn hai ông bà lắm, và không bao giờ quên cái ơn bảo bọc lúc ban đầu nầy. Hai ông bà nghe xong cảm động, ôm chầm lấy anh chị mà nói cám ơn rối rít. Anh Phàn thì tưởng hai ông bà mừng vì được anh hứa cho vé máy bay, cả họ đạo sẽ được đi chơi.

Khi đưa gia đình anh ra máy bay, chúng tôi ôm nhau thân thiết, và mắt anh Phàn cũng rươm rướm, nói nhỏ với tôi, giọng run run rằng, thôi đừng phá căn nhà nữa. Tôi gật đầu.

Đưa gia đình anh Phàn đi rồi, anh Hy nói với tôi rằng: "Thế mà tôi cũng thấy buồn, trống trải, như mất mát một cái gì đó. Bây giờ chỉ cỏn hai gia đình mình trong thành phố nầy thôi.". Trong lòng tôi cũng thấy buồn.

****

Mười sáu năm sau, kể từ khi đưa gia đình anh Phàn về Oklahoma, tôi tình cờ gặp lại anh trong một tiệc cưới tại Houston, Texas. Anh nhận ra tôi, mà tôi không nhận ra anh. Vì bây giờ anh mập mạp, trắng hồng, ăn mặc chững chạc, không còn dáng quê mùa như xưa. Chị vợ anh thì sang trọng trong bộ áo kim tuyến lóng lánh, như cô ca sĩ. Anh ôm chầm lấy tôi, hỏi có còn nhớ ra anh là ai không. Anh nói: "Phàn đây, Phàn ở Morris, Illinois đây mà." Tôi cũng mừng vui gặp lại người quen biết
xưa. Anh xin chuyển bàn, để vợ chồng anh ngồi cạnh chúng tôi mà hàn huyên. Anh cho biết ở Oklahoma được hai năm, thì dọn về Houston, bây giờ cả hai vợ chồng đều làm việc cho một hãng sản xuất đồ nhựa. Suốt hơn mười mấy năm anh làm hai việc toàn thời gian, mỗi đêm chỉ ngủ năm
sáu giờ thôi. Ngày nghỉ thì đi sửa chửa nhà cửa, ống nước. Hai cháu gái lớn đã có gia đình. Cháu trai kế thì vừa tốt nghiệp đại học. Bây giờ anh chị Phàn có ba căn nhà, một căn để ở, hai căn cho thuê.

Tôi mừng cho anh. Anh nói với giọng thành thật:

"Hồi mới qua, chắc anh chị buồn chúng tôi lắm. Nhiều năm sau tôi còn ân hận, và xấu hổ vì chuyện xưa. Bị thông tin sai lạc, tôi hiểu lầm, làm nhiều chuyện lố lăng, kỳ cục, bậy bạ. Lại ăn nói ngang ngược. Tôi nhớ ơn anh chị, và cả vợ chồng anh Hy, chịu đựng được chúng tôi, mà không đấm cho vỡ mồm, hộc máu mũi. Càng lâu, tôi càng thấm thía cái câu ' Bầu bí một giàn' của anh Hy nói ngày xưa."

Chị vợ anh Phàn cười vui vẻ, nói tiếp:

"Ông nhà tôi thay đổi nhiều lắm rồi. Nhưng không bỏ được cái phét lác đã ăn sâu vào máu. Cứ một tấc thấu trời."

Chúng tôi cùng cười với nhau. Tôi nói đùa:

"Nếu phét lác mà không hại đến ai, thì cứ để anh phét lác cho sướng cái miệng. "

Anh Phàn ôm lấy vai tôi và lắc lắc, cười vui vẻ.
Tràm Cà Mau
Linh Phuong  
#1737 Posted : Wednesday, February 9, 2011 8:48:18 AM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

Khai bút đầu năm:
NHÂN LÀNH SANH QUẢ NGỌT

UserPostedImage
Tạ Thị Ngọc Thảo

10 tháng 02 năm 2011

Sáng mùng một Tết, như thường lệ, tôi giữ mình thanh sạch bày mâm cúng Phật, đốt hương trầm, khấn nguyện rồi ngồi tĩnh tâm và khai bút đầu năm.

Có ai hỏi tôi khấn gì trong giờ phút thiêng liêng này không? Thưa, đây là lời tôi khấn: “Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, bằng ngòi bút của mình, với cái tâm trong sáng, cái trí trong trẽo, cái dũng trong sạch, con nguyện đem những tinh hoa mà con đã gạn đục khơi trong ở thương trường, ở cuộc sống và quá trình tu tập, trao lại cho giới trẻ - những người rồi sẽ chịu trách nhiệm thịnh suy của đất nước, dân tộc và Đạo pháp”.

Khấn xong, trong lúc tĩnh tâm, tôi tự đặt ra câu hỏi với mình, “Viết gì vào thời khắc thiêng liêng này? Viết như thế nào để lòng này tới thẳng lòng kia trong ngày đầu năm mới? Chọn chủ đề gì để sau khi đọc mọi người nhích lại gần nhau hơn?”. Không cần tìm kiếm đâu xa, ý tưởng bài viết vụt đến khi mắt tôi chạm vào những tịnh vật trong mâm tôi dâng cúng Phật.

Nếu kể về tịnh vật bày cúng Phật sáng nay thì đầu tiên phải kể đến hoa, hoa Địa Lan. Với tôi, cúng hoa là dâng những tinh hoa của cuộc sống lên chư Phật. Hôm qua là ngày cuối năm, ông bà chủ vườn Lan trong Lạc Dương - Đà Lạt đến nhà thăm tôi. Khi đến, hai ông bà cầm theo bó hoa Địa Lan màu vàng múi mít và nói, “Gia đình tôi không theo Đạo Phật như bà. Nhân dịp năm hết Tết đến, chúng tôi chọn một chục cành Lan đẹp nhất vườn xin biếu bà cúng Phật”. Tôi hoan hỷ nhận hoa rồi kính biếu lại ông bà vài quyển Đặc san Văn hóa Phật giáo Việt Nam và gói mứt gừng xứ Huế. Sáng nay những cành Lan đó đã hiện diện trong mâm cúng Phật. Bài khai bút của tôi năm nay thắm đượm hương Lan và sự giao thoa hướng thiện.

Tiếp theo hoa Lan Đà Lạt là Trầm hương xứ Huế, nơi được dân gian thừa nhận là “cái nôi của Phật giáo Việt Nam”. Những nén Trầm đốt lên cúng Phật sáng nay là quà của quý thầy, quý ni gởi từ Huế vào biếu tôi với lời dặn, “Trầm này quý lắm, khi đốt lên chị nhớ ngồi tĩnh lặng thưởng thức mùi hương, đó cũng là một cách thiền”. Và tôi đã làm theo lời dặn, đốt Trầm, tĩnh tâm, khai bút. Trong khi viết mùi trầm xứ Huế đã nhắc nhở tôi rằng, “Để những con chữ được lấp lánh tánh Phật, khi cầm bút nhớ tránh đưa “cái tôi” và “cái của tôi” vào bài viết”. Tôi cầu mong, những dòng chữ ngày đầu năm mới của tôi phảng phất tính thiền.

Sau Trầm hương xứ Huế là bánh cốm của Hà Nội. Những tấm bánh cốm màu xanh mơn mỡn, bên trong có nhân đậu xanh màu vàng ươm do gia đình của quý thầy làm ngoài bắc rồi gởi vào Nam biếu tôi ăn Tết. Như muốn thể hiện sự thanh lịch của dân Hà thành, những tấm bánh này được gói rất khéo. Kèm theo gói quà là cái thư viết tay với dòng chữ, “Bánh này trò nên ăn trong lúc uống trà, khi ăn nhớ cắn từng miếng nhỏ; nếu ăn bánh trong tâm trạng thanh thản trò sẽ cảm nhận được mùi thanh khiết của nếp non, vị ngọt của đường phèn và hương thơm của đậu”. Khi bày những tấm bánh cốm Hà Nội lên bàn cúng khai bút đầu năm, là tôi đã tự dặn mình, “Nhớ, từng chữ, từng câu phải cố gắng được như bánh cốm quý thầy gởi biếu: thanh khiết, ngọt ngào và ngát hương”.

Kế bánh cốm Hà Nội là bánh tét Tiền Giang. Để có cặp bánh tét trong mâm cúng Phật sáng nay là cả một kỳ công. Khi nhận cặp bánh tét, tôi được nghe cô học trò của mình kể rằng, “Biết cô dành cặp bánh này để cúng Phật, má em chọn nếp, chọn đậu, chọn lá kỹ lắm. Rồi chính tay má em pha trộn và gói, tụi em không được đụng tay”. Sáng nay khi cái bánh tét được cắt ra xếp vào dĩa cúng Phật, tôi thấy từng khoanh bánh có bốn màu: màu xanh của lá dứa, màu tím của lá cẩm, màu trắng của nếp và màu vàng của đậu xanh. Từng màu được sắp xếp xen kẻ thật khéo léo, hạt nếp và đậu xanh quyện chặt chẽ vào nhau. Cái bánh tét đẹp như một tác phẩm nghệ thuật. Tôi biết má của cô học trò đã vừa làm bánh vừa niệm Phật. Bài viết của tôi vào ngày khai bút mong sao chở được một phần nhỏ sự tinh xảo của những khoanh bánh tét Tiền Giang.

UserPostedImage

Ngoài những tịnh vật của những người thân quen biếu, mâm cúng Phật sáng nay còn có dĩa ngũ quả do tôi ra chợ chọn mua về. Mâm ngũ quả của tôi có màu sắc thật sinh động: màu hồng đậm đà Thanh Long Phan Thiết, màu ưng ửng vàng Đu Đủ Đăk Lăk, màu vàng xen xanh Thơm son Tiền Giang, màu xanh biên biếc Dưa Hấu Đồng Tháp và màu da vàng sáng trái bưởi Biên Hòa. Những quả tươi tốt này đã góp phần cho mâm cúng Phật được đủ đầy, trọn vẹn. Tôi lo lắng, liệu bài khai bút của có được sinh động đủ đầy như dĩa trái cây?

Đức Phật dạy, “…thành tựu nào cũng do sự tác hợp của nhiều nhân - duyên, chẳng có vật nào độc lập mà có thể tồn tại”. Tôi nghĩ, nếu không có mùi hương của Lan Đà Lạt, mùi Trầm thanh tịnh của xứ Huế, vị ngọt ngào của bánh cốm Hà Nội, sự tinh xảo của bánh tét Tiền Giang, dĩa ngũ quả đại diện cho thành quả lao động của bà con nhiều vùng miền đất nước, và lòng thành của một người Sài gòn (là tôi), với Đức Phật, với xã hội và với độc giả thì sẽ không thể có bài khai bút đầu năm này.
Nhân lành sanh quả ngọt, là vậy.


bt  
#1738 Posted : Wednesday, February 9, 2011 11:02:10 AM(UTC)
bt

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,119

Thanks: 1 times
Was thanked: 5 time(s) in 4 post(s)
quote:
Originally posted by hongvulannhi

Và đây là danh sách thêm tên của những người đã đến họp mặt hôm đó. Nếu có thiếu sót ai, thì xin " ăn thua đủ " Tongue với dbthuy, LN coi như không có " tội vạ " gì trong việc này! Approve


Chị LN ơi, em đã quên cho chị tên của chủ nhà, nhưng chủ nhà hiền & dễ thương quá, chắc sẽ khg "ăn thua đủ" với em đâu, hơn nữa đã là chủ nhà thì dĩ nhiên là có mặt, phải khg ạ Wink. Còn nhiều người đến trễ nữa em cũng quên khg điểm danh .
Chơi bầu cua cá cọp xong thì em lời to Big Smile vì "anh thầy" tuy đã vô tư lượm tuốt, nhưng giờ cuối trước khi về, vì khg muốn giữ bạc cắc (có lẽ sợ rách túi) nên đã đổi hết cho em chỉ lấy tờ 2 tỳ mới toanh thôi .
hongvulannhi  
#1739 Posted : Wednesday, February 9, 2011 11:19:44 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)
MÙA XUÂN NÓI CHUYỆN TRÀ
Nguyễn Quý Đại

10 tháng 02 năm 2011

Theo truyền thuyết hơn 6000 năm, vua Shin Nung (Thần Nông) tình cờ khám phá trà thơm ngon, có thể chửa bệnh. Huyền thoại về trà Bodhidharma (Bồ đề đạt ma) người Ấn Ðộ lúc ngồi thiền hay buồn ngủ, ngài giận cắt mí mắt ném xuống đất và từ chổ đó mọc lên cây trà. Chuyện hoang đường này cho rằng trà giúp sự thức tỉnh một sức mạnh của tâm linh.

Theo tài liệu từ đời nhà Tần 221 (TCN) biết dùng trà như một dược liệu, chưa được phổ biến sâu rộng trong dân gian. Thời nhà Đường Tang Dynastie (618-907). Trà được uống trong các tu viện, lần đầu tiên ở tu viện Yang Ling trên núi Tai Shan, uống trà làm đầu óc tỉnh táo, dễ tập trung hơn, từ đó thuật uống trà phát triển trong giới Thiền tông khắp Trung Hoa. Tác phẩm đầu tiên viết về trà „Cha Ching/茶經/Trà Kinh“ của Lu Yu /陸羽(728-804) tên thật Tsing Ling Zhe sinh ở Hubei/ Hồ Bắc, Trung Hoa. Ông mồ côi từ thuở nhỏ được Thiền sư Zek Shin nuôi dạy, Lu Yu có dịp học nghệ thuật pha trà từ vị cha nuôi ngay từ thuở nhỏ, năm 18 tuổi ông rời Tu viện, Lu Yu về Hán Thuỷ Han Jiang/漢水 vượt Ch'ang Chiang trường giang là tả ngạn sông Dương Tử /子江 ẩn cư ở Chiết Giang tên cũ là sông Tiền Đường. Lu Yu vào ở trong chùa Diêu Khê (Wuxing/Huzhou 吳興區), ông không chú tâm việc học kinh kệ để trở thành thiền sư, mà chỉ miệt mài vào văn chương và biên khảo. Ông có biệt danh "Chúa của trà /Der Gott des Tees.". Tác phẩm Cha Ching viết phương pháp chế biến, pha trà, uống trà, liên quan đến lịch sử của trà, đầy đủ nhất trong thời cổ đại về trà ra đời, việc uống trà được xem trọng như một ngành nghệ thuật, Trà kinh trở thành cuốn sách quý lưu truyền ở Trung Hoa, đến Trung Á, Tây Á và nhiều nước ở Châu Âu. Lu Yu được Trung Hoa tôn lên bậc Thánh trà, là một trong 10 vị Thánh trong lịch sử Tàu[1]
Trà tại Á Châu

[img=left]http://www.khoahoc.net/photo/tra-1-2.gif[/img=left]

Tổ phụ nghành Y khoa Hippokartes (460-370 TCN) cũng công nhận trà có dược tính tốt. Thời Nữ hoàng Âu Châu Hildegard von Bingen (1098-1179) công nhận các loại trà giúp chửa bệnh, và được nghiên cứu rộng rãi trong giới Y khoa. Bác sĩ Nicolas Direks (1593-1674) người Hòa Lan viết trong „Die Arznei“ uống trà sống lâu mỗi ngày nên uống trà (sự phát triển, nghiên cứu về trà trải qua nhiều thế kỷ, và đến ngày nay người ta nghiên cứu dùng trà xanh trong việc chế tạo kem giữ da, hay dầu gội đầu vv...)

Trà trồng ở các vùng đồi núi quanh Hangzhou (Hàng Châu) Trung Hoa, các vùng trà nổi tiếng là Lung Ching (Long Tĩnh) và Lung Ding ngoài ra còn có vùng bảy núi ở Xishuangbanna. Trồng trà từ triều đại Tang/Đường (618-907) nhưng mãi đến triều đại Qing/Thanh (1644) trà được đưa vào việc sản xuất. Hiện nay còn loại trà cây cổ thụ từ năm 1700 đời vua Shengzu-Kangxi (Thánh tổ Khang Hi) qua các đời sau, vùng nầy trồng loại trà Pu-Erth (Phổ Nhĩ) lá dày. Nước trà màu hơi đỏ, được xem như một dược liệu chống lại bệnh có mỡ trong máu (wunderwaffe gegen fett/wonderful weapon against fat).

Ở Ấn Ðộ vùng núi Darjeeling cách xa Kalutta 600 km trồng các giống trà „Thea Chinensia“ được công ty Ðông Ấn „East India Company hoạt động từ năm 1600-1857“ lai giống các loại trà, năm 1823 tại Assam thành công, thêm loại „Thea assimica“. Ấn Ðộ trồng hơn 400 loại trà khác nhau, trà nổi tiếng thơm ngon quanh vùng Himalaya trên cao độ 2200 m, các vườn trà trong vùng thung lũng „Steintal“ và „Happy Vallytea Estate“. Người ta cũng khám phá trà mọc hoang trên đồi núi ở Ấn Độ, nên có nhiều nghi vấn nguồn gốcTrà ở Ấn Độ trước Trung Hoa? Assam là vùng cao nguyên trên thượng lưu Brahmaputra, có 2000 vườn trà được lai giống khác nhau. Ấn Độ xuất cảng trà đứng đầu thế giới sau là Tích Lan (Sri lanka). Giống trà Thea assmica, được người Anh ông Schotte James Taylor mang vào Tích Lan năm 1849, sau 11 năm phát triển trồng trên cao nguyên Ceylon và Tamilen

Tại Việt Nam theo sách An Nam Chí Lược ghi “tháng 5, năm thứ Tám niên hiệu Khai Bảo. Ðinh Liễn có tiến cống nhà Tống vàng, lụa, sừng tê, ngà voi và trà thơm“. Các tài liệu trên chứng tỏ người Việt đã biết uống và biến chế trà từ lâu. Ngành khảo cổ đã khai quật tại vùng Nông Giang, Thanh Hóa tìm thấy được nhiều bình,chén, dĩa trà thời gian nầy ngang với đời Tống (Song 960-1279) từng bán sang Nhật, dù hàng sành sứ của Việt Nam không sắc sảo, nhưng hình vẽ cảnh thiên nhiên sông nước, hoa lá hợp với phong cảnh Thiền của Nhật.

Theo Nguyễn Trãi ở Dư Ðịa Chi, đã kể trà Tước Thiệt (trà lưởi chim sẽ) người ta gọi là trà móc câu thuộc giống trà mi ở vùng Sa Bôi nay là tỉnh Quảng Trị (ngày xưa thuộc Châu Ô, Châu Lý).

[img=left] http://www.khoahoc.net/photo/tra-1-3.gif[/img=left]
Có rất nhiều giống trà trồng hợp với khí hậu điạ phương, các nơi trồng trà nổi tiếng như: Phú Thọ, Hòa Bình, Nghệ An, Thái Nguyên, Lai Châu. Cao nguyên Bảo Lộc Lâm Ðồng có loại trà mi, hải đường. Có hoa nhỏ thơm dịu, nụ nhỏ, trà ngày nay theo nhu cầu kỹ nghệ sản xuất lai nhiều giống, có 3000 loại trà mi khác nhau trên thế giới. Ở vùng Vạn Hội, núi Chúa thuộc huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, có hai thứ trà „cam“ và „khổ“ mọc hoang dã trên đồi gò hoặc ven chân núi. Trà cam lá nhỏ, có vị ngọt như đường, trà khổ lá to, xanh, dày và cứng uống thì rất đắng như khổ qua trà giống như cây rau có dược thảo khổ cự (rau diếp), khổ thái (rau đắng) v.v… Rễ trà cam có tác dụng hồi sức cho phụ nữ sau khi sanh con. Trà khổ làm cho người say tĩnh rượu, uống thường xuyên trà khổ, gan hoạt động tốt phòng ngừa bệnh sốt rét.

Theo nghiên cứu các nhà khoa học, trà phát sinh từ 3 loại chính của Ðài Loan và Nhật Bản đó là Camellia Japonica, Camellia sasanqua, và Camellia reticulata. Trà mi có tên khoa học Camellia chrysantha trong thời gian gần đây người Pháp tìm ra trà mi giống Việt Nam và được nhắc đến trà mi hoa vàng tên Camellia vietnamensis ở Cúc Phương, đẹp hơn trà mi hoa vàng gốc Nhật, hoa ít hơn, loại Camellia baviensis ở núi Ba Vì hương thơm nồng nàn. Trà mi Camellia baviensis đem về trồng thí nghiệm ở đại học Lâm nghiệp Xuân Mai Hà Tây. Hoa lưởng tính cánh trắng nhụy vàng to nở lâu tàn.Trà vào Nhật Bản thế kỷ thứ 6 Hoà Thượng Huimeng (638-713) truyền Phật Giáo từ Trung Hoa sang Ðại Hàn vào Nhật Bản và phát triển mạnh trong thời Nara Zeit (709-784 奈良時代).

[img=left]http://www.khoahoc.net/photo/tra-1-4.gif[/img=left]
Trà du nhập vào cùng giai đoạn trên, nhưng đến thời Hoàng Ðế Shômu/ 聖武天皇(724-749) khoản đãi trà cho 100 tu sĩ Phật giáo tại hoàng cung năm 729. Số trà này có lẽ do sứ thần Nhật mua trong chuyến đi sứ Trung Hoa. Thiền sư Saicho 最澄(767-822) mang về một số hạt giống trà và trồng tại Yeisan năm 801, từ thế kỷ thứ 8 trà dùng phổ thông hơn. Kế tiếp qua nhiều triều đại văn hóa phát triển. Cuối thế kỷ 12, thiền sư Eisai Zenji 栄西禅師 (1141-1215) viết về việc uống trà tập sách tựa đề „Kissa-yojo-ki /Zen-Meister Eisai"... Thượng phụ Murato Shuko (1422-1502) biến chế trà xanh (Matcha) dùng trong các Tu Viện và các Hiệp sĩ đạo/Samurai. Ðến đời sư phụ Sen-No Rikyu 千利休 (1522-1591) được nâng lên một nghệ thuật, trở thành nghi thức uống trà (Tea ceremony/茶道Chanoyu) khởi đầu tại Daitoku-Ji-Tempel.

Okakura Kakuzō/(岡倉 覚三,(1863-1913) ở Yokohama là học giả Đông phương viết về trà „The Book of Tea“ năm 1906. Cho đến nay, tác phẩm này được in lại rất nhiều lần, qua nhiều ngoại ngữ khác nhau. Thái Lan, Lào, Java ở Indonesia, Malaysia… nhưng mỗi quốc gia đều có phương pháp trồng trà riêng.
Trà nhập Âu Châu

Năm 1610 người Hòa Lan mang trà từ Trung Hoa về Âu Châu. Vua Ludwig XIV, Marquise de pompadour, và Goethe là những người uống trà xanh. Nữ hoàng Kathrina von Bragaza (1638-1705) con vua Johanns IV Bồ Ðồ Nha (Portugal) cùng đoàn tùy tùng đến Anh Quốc làm lễ thành hôn năm 1665, dâng lễ vật quà cưới đến vua Charle II (1660-1685) trong đó có nửa kilô trà. Chứng tỏ trà lúc đó rất quý đối với giới quý tộc Âu Châu.

Các quốc gia Ấn Ðộ, Tích Lan bị Anh quốc chiếm làm thuộc địa, các thương gia Anh độc quyền nhập trà năm 1657 về các cảng Cornwall, Dorset, Kent chở về cho 2000 đại lý ở London bán trà đen tại Âu Châu. Trà nhập Âu Châu bằng đường thủy, trong thời gian nầy những đoàn lữ hành, vượt sa mạc dùng lạc đà chuyên chở trà từ Trung Hoa, Ấn Ðộ đến bán cho Nga sô. Nhưng đến cuối thế kỷ 19 trà xanh tràng ngập thị trường Âu Châu, nhờ phương tiện lưu thông tiến bộ, thời gian chuyên chở làm cho trà xanh không mất phẩm chất..
Trà đến Mỹ Châu

Năm 1650 thương thuyền Hòa Lan nhập trà vào New York, thời ấy gọi là Amsterdam mới (new Amsterdam) và trên đường Chatham có nguồn nước ngọt, vào buổi sáng người đàn ông rung chiếc chuông nhỏ rao bán nước „come and get your tea-water!“. Năm 1773 ở Boston vì tranh cãi về thuế trà, bị phản đối một phần trà nhập cảng bị ném xuống biển… Các Tổng thống Hoa kỳ: Lincoln, Roosevelt, Hoover, Kennedy đều uống trà.

Nhà nhập cảng trà ông Sullivan tại New York, có sáng kiến bỏ trà vào túi nhỏ bằng lụa cho mỗi tách trà, quảng cáo gởi khách hàng uống thử. Từ sáng kiến đó ngày nay người ta biến chế trà trong túi nhỏ bằng giấy. Người Mỹ có thói quen uống trà xanh nhập cảng từ Trung Hoa. Năm 1904 người Anh Richard Blechynden đến St. Louis trong hội chợ triển lãm về trà. Ông ta quảng cáo trà đen Ấn Ðộ vì thời tiết nóng, uống trà nóng ra mồ hôi khó chịu, ông bỏ nước đá vào ly trà, uống mùi vị thơm ngon và mát, từ đó mở đầu cho giai đoạn mới, uống trà với nước đá „ice tea“.

Trước đây trong các siêu thị Mỹ thì nguời ta thấy hầu như chỉ có trà Lipton được bày bán dưới dạng trà bao cho vào tách uống nóng, dạng bột đế quấy cho tan trong nước rồi cho nước đá vào uống lạnh. Nhưng đến nay thì có khá nhiều công ty có sản phẩm cạnh tranh như công ty sản xuất trà và các loại trà dược thảo có tên là Celestial Seasonings, chế biến trà xanh của Trung Hoa.

Càng ngày các loại trà dược thảo hiệu Celestial Seasonings càng nổi tiếng trên khắp thế giới. Trong số hàng trăm sản phẩm của hãng, loại bán chạy nhất là sản phẩm có tên là Sleepy Time. Uống buổi tối có nhãn hiệu con gấu trong giấc ngủ mùa đông . Hộp đựng loại trà có tên là „Morning Thunder“ là „sấm chớp bình minh“ uống buổi sáng in hình con bò mộng đang lao nhanh tới. Phân loại trà với tên „Mandarin Orange Spice“/Trà hương liệu cam dành cho nhà giàu đựng trong hộp in hình một cô gái Tàu.

Trên khắp thế giới trà được tiêu thụ nhiều vào hàng thứ nhì chỉ sau nước lã. Nhưng tại Hoa Kỳ trà vẫn đứng sau cà phê. Tuy nhiên với con số người uống trà tại nước Mỹ ngày càng gia tăng. Công ty Celestial Seasonings mua nguyên liệu thẳng từ các nông gia tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác trên thế giới, kể cả Trung Quốc, Ai Cập, Mexico, Argentina, Chi Lê, Guatemala, Ðông Âu, Ma Rốc, Indonesia và Việt Nam

Công ty Celestial Seasonings đứng hàng nhì trong thị trường Mỹ chỉ sau công ty Lipton, và hiện nay tại Hoa Kỳ còn rất nhiều công ty khác đã và đang tính tiến vào thị trường, chẳng hạn như 1 công ty tại Hawaii chuyên về trà Mamaki, đang muốn mở rộng tầm hoạt động ra ngoài phạm vi tiểu bang. Trà Mamaki, 1 loại cây cỏ của địa phương Hawaii, được đem bán tại tiểu bang Washington. Riêng về công ty Celestial Seasonings tuy sinh sau đẻ muộn hơn không biết bao nhiêu hãng trà sen, trà sói, trà hoa lài... của Việt Nam

Sản xuất trà qua các giai đọan căn bản, hái để lá héo, hấp nước hay sấy qua, đập hay chà phơi khô sàng lọc. Trà đen hay trà xanh cũng đều biến chế từ các loại trà cây có tên khoa học : Camillia Sinensis và Camillia Assamica Ngày nay các hãng trà trên thế giới hàng trăm loại khác nhau như Assam Mallty Fbop; Rooibos Vnilla; Roobos; chai; China Ti kuan Yin Monkey picked,.Pu-Erh tea普洱茶, Blendel tea; Earl grey tea; Lipton……
Bạch trà 白茶 White Tea (vùng Pai Hao, Pai Mu Tan, Fujian) giống trà Flaum lá mịm màng hái nụ trà hấp, phơi khô, biến chế sấy nhiệt độ khác nhau, 1 kilo trà khô cần 30.000 nụ trà tươi. Bạch trà chứa nhiều antioxidant chống ung thư
Trà xanh 綠茶 (green tea) người Trung Hoa bỏ lá trà xanh Lục Trà (luchà) vào chảo gang nóng, rang sơ qua sau đó trộn bằng tay. Ngược lại người Nhật bỏ lá trà vào hấp nhanh khoảng một vài phút, hai phương pháp trên đều có mục đích khử các kháng độc tố, giữ cho trà có màu xanh, mùi thơm ngon, các vùng sản xuất trà xanh như Sencha, Chen Mee…
Trà đen (black tea) Người Trung Hoa biến chế trà đen cũng như Hồng Trà 紅茶 (hongchà) ủ lá trà lên men. Sấy ướp các hương vị như hoa lài.. có mùi thơm. Người Nhật hấp nước, ủ lá trà lên men, ướp... trước khi phơi khô, lá được cán hay chà nhỏ. Đóng hợp, hay gói loại giấy có thể giữ mùi thơm. Trong tiến trình ủ trà lên men tạo phản ứng hóa học khử được độc tố không mất lượng Coffein trong lá, giữ được mùi hương nhưng trà có màu đen nổi tiếng như ở Darjeeling, Ceylon ..
Trà Ô Long烏龍茶 (Oolong) được sao chế dung hòa giữa trà đen và trà xanh lá ủ lên men màu đen, nhưng nước trà màu hơi ngà ngà trà Oolong vùng Tung Ding rất ngon
Yogi Tea : biến chế với các loại rể, vỏ, lá cây như quế (Zimt), gừng (Ingwe), lá tiêu (Pfeffer), nụ đinh hương( Nelken), đậu khấu.(Kardamon) chỉ uống vào buổi sáng làm cho người khoẻ
Fencheltee: là lọai trà dành cho Baby ở Đức, ngoài ra còn có thêm các loại trà biến chế thông dụng như Johanniskraut; Grüne Hafertee; Kamillentee; Rotbrusch Tee; Pfefferminze, Holundertee; Lindenblütentee….
Trà tươi, người bình dân Việt Nam thích uống trà tươi, trà nạn, lá trà già các loại lá cây vối, ổi…

Các quốc gia Âu Châu không thể trồng các giống trà từ Á Châu, nhập cảng trà và pha chế, họ nghiên cứu phát triển chế biến từ: hoa quả, lá thảo mộc có dược tính sao chế thành trà uống để trị bệnh. Tại Việt Nam cũng biến chế nhiều loại trà như: khổ qua, trà sâm, Hà thủ ô..vv. Trà có mùi vị thơm ngon, do bí quyết của người biến chế, có thêm các mùi hương như các loại trà ướp: hoa lài, sen, cam, bưởi, quế vv..(không được dùng mùi hương hoá học để ướp trà), theo nguyên tắc „Prime quality Tea for you to enjoy“

Hái trà vào buổi sáng, không khí ban mai tinh khiết hương của sương còn đọng trên cành lá, thì hương vị của trà thêm ngào ngạt bởi vì khí âm và khí dương hòa nhau thành sương là tinh anh của trời đất. Hái trà theo từng mùa khí hậu thay đổi trà có mùi vị phẩm chất khác nhau. „Flowery Orange Pekoe“ là loại nhất tuyệt hảo nụ trà vừa nở „Orange Pekoe“ loại nhì ra lá non, „Pekoe“ loại ba lá trà thứ 3

Mùa xuân (first flush) loại trà nhất, Mùa hạ (secondflush) loại trà thứ nhì hái từ tháng 5 đến tháng 6. Mùa thu từ tháng 8 đến tháng10 (Bread and Butter-tea-Regentee). Tuy nhiên tùy theo phong thổ, vùng nhiệt đới ở Himalaya hay các vùng đồi núi ở Trung Hoa độ cao có sương mù, không khí ẩm, trời mưa nhưng đất khô ráo không làm ướt gốc trà là yếu tố đặc biệt để trồng các giống trà.

Sự tích được nhắc đến tại Trung Hoa vùng núi cao, người ta nuôi đàn khỉ được huấn luyện mỗi sáng sớm, đàn khỉ trèo lên các cây trà trên núi cao, còn sương mai hái ngọn trà non, đem về cho chủ biến chế thành trà thơn ngon và đắt tiền bán tại các tiệm trà có tên Hầu Trà “trà khỉ/ monkey tea”. Theo truyền thuyết thời xưa người ta chọn các trinh nữ, trong những ngày tinh khiết hái trà mang trước ngực có hơi ấm, nên gọi các trà ấy là “trà Hoa nữ” hay Xử Nữ Trà. Theo truyền thuyết trong buổi tiệc người đầu bếp sắp sửa pha trà, thì khám phá ra tất cả trà lá quý hái trong chốn thâm sơn, đã bị con ngựa sút chuồng ăn sạch. Để có trà, người đầu bếp liền giết ngựa mổ bao tử lấy lại trà, pha cho Thái Hậu và các quan khách. Trà có hương vị đặc biệt thơm ngon, Từ Hy Thái Hậu Tz'e Hsi/ 慈禧 (1835-1908), khen ngợi và hỏi cách chế biến trà nên từ đó có tên Trảm Mã Trà, câu truyện kể trên cho thấy các hóa chất trong dịch vị của thú vật có khả năng thăng hoa hương vị của trà
Nghệ thuật uống trà

[img=left] http://www.khoahoc.net/photo/tra-1-5.gif [/img=left]
Trên thế giới trà có thể uống hàng ngày, người Anh có câu tục ngữ “any time is tea time”. Năm 1840 nữ công tước Bedford tổ chức uống trà buổi chiều “Afternoontea”, lúc16 giờ uống trà của Ceylon hay Lap-Souchong ngày nay còn lại phong tục đó. Người Anh và các quốc gia thuộc điạ của Anh quốc thường có thói quen uống trà với sửa hay đường. Ông Cecil Rhodes viết tại cung điện Semore Place. Buổi sáng người phục vụ thường hỏi “Ông muốn uống trà Tàu, Ấn Ðộ hay Ceylon”. Nếu trả lời dùng trà Ấn thì có câu hỏi kế tiếp “với chanh, sửa hay bơ “ ở Anh Quốc cũng thường nói “you enjoy tea and take it easy “.

Người Nhật đã uống trà thưởng ngoạn như một truyền thống, là nghệ thuật cao quý gọi là “trà đạo”. uống trà với chén, bình trà bằng sứ, gáo múc nước phải bằng tre (Chashaku) phong cảnh uống trà phải thiên nhiên trầm mặc với bốn chữ: Hòa (Wa), Kính (Kei), Thanh (Sei), Tịch (Jaku). Trà xanh ”O-cha” loại Bancha cần nước nóng đun sôi khoảng 80 độ C, trà Secha/Gyohuro dùng nước sôi khỏang 60 độ. Ngoài ra còn biến chế các loại trà xanh thành trà bột (Matcha) và các loại trà uống để chửa bệnh. Tại Kyoto có nhiều vườn trà vang bóng của thời đại Momayama (1568-1600) và các nơi trà đạo hấp dẫn, nhưng uống trà theo truyền thống quỳ gối (seiza) ngồi trên hai bắp chân! Nhật biến chế trà đen “Kô-cha”. tuỳ theo mỗi nhà sản xuất, phẩm chất khác nhau nên giá tiền chênh lệch

[img=left]http://www.khoahoc.net/photo/tra-1-6.gif[/img=left]
Du khách đến Tích Lan, thường mỗi sáng theo phong tục nữ phục vụ xuất thân người từ miền Nam đảo Tích Lan, mặc y phục trắng mang trà đến mời “ your morning tea Sahib“. Người Nga không những uống rượu Wodka, họ cũng biết thưởng lãm nghệ thuật uống trà. Năm 1638 Hoàng gia Mông Cổ tặng Nga 200 gói trà thơm ngon. Họ dùng nồi nấu trà (Samowar) đốt bằng than (hay điện). Phần thân bình chứa nước, trên nắp để bình trà nhỏ, bỏ trà chế nước sôi, độ sôi của nồi nước bốc hơi làm nóng bình trà. Khi uống pha trà ở bình trên với một phần nước sôi. Loại bình Samowar người Thổ Nhỉ Kỳ cũng dùng để nấu trà đen. Du khách đến Thổ vào các siêu thi, hay cây xăng đều được mời ly trà nhỏ bên cạnh cục đường và cái muổng nhỏ

Các loại bình trà bằng sứ được làm qua nhiều thời kỳ khác nhau. Hơn 2000 năm trước Thiên Chúa, tại Trung Hoa có loại sứ Yih-Sing làm bằng đất sét vàng. Mãi cho đến triều đại nhà Tống/Song (960-1279) nghệ thuật thủ công nghệ làm những bình sứ màu trắng, chén, diã trà tinh xảo hơn.

[img=right]http://www.khoahoc.net/photo/tra-1-8.gif [/img=right]

Bình trà chinese Yinxing đời Minh (1368-1644)

Các quốc gia Nhật và Ðại Hàn, cũng làm các loại chén bình bằng sứ trong thời gian trên với người Trung Hoa.(các loại bình, chén, diã sứ nầy còn lại trong các bảo tàng viện). Tại Ðức năm (1730-1750) các vùng Bayreuth và Ansbach có các lò biến chế chén, tách trà bằng thuỷ tinh, bạc hoặc sứ. (Munich có lò đồ sứ nhưng chỉ làm ly uống Beer lớn có tay cầm)
Trà với thi nhân mặc khách

Ông De Quincey bảo “trà luôn luôn là ẩm phẩm của hạng trí thức” Người Trung Hoa quan niệm “trà là bạn của ẩn sĩ thanh cao”. Người Việt Nam cũng có nghệ thuật uống trà như người Trung Hoa. Giới trưởng giả dùng bộ trà trên khay hình chữ nhật hay hình vuông có chân quì, khắc khảm ốc xa cừ. Chén Quân, chén Tống, bình pha trà cổ các loại độc ẩm, song ẩm và ẩm quần, của các nhà sản xuất: Thế Ðức, Lưu Bội, Mạnh Thần.

Pha trà phải chọn nước, để trà tăng thêm hương vị, nước suối thì tuyệt vời, nước giếng lấy từ mạch nước thiên nhiên, bếp lửa phải bằng than nhẹ lửa, nước sôi sủi mắt cua, (khoảng 80 độ), tráng bình trà qua một lần nước nóng, đổ ra trước khi bỏ trà vào châm nước, (phải đổ ngay lần nước đầu tiên gọi là rửa trà). Nước máy có nhiều vôi cần phải lọc qua để nấu trà không mất muì vị thơm ngon. Cách pha trà của người Việt và người Trung Hoa, không biến thành qui tắc nghiêm túc như ở Nhật.

Uống rượu cần nhiều người cho náo nhiệt. Uống trà là nghệ thuật trong trầm lặng, trà có tính cách đưa người uống vào thế giới mặc tưởng, bởi thế nên uống trà lúc tinh thần sảng khoái, cảnh vật yên tĩnh, cần người văn nhã biết cái thú uống trà, bỏ mọi bận rộn đời sống bon chen, uống từng chén nhỏ, gọi là “ẩm sỉ”. Nếu người uống chén to, uống một hơi làm sao biết hương vị của trà nên bị gọi là “ngưu ẩm”. Uống trà cũng như pha trà đều cần một nghệ thuật cao. Người Tây phương họ sành điệu về uống rượu, beer, cafe. Ngày nay họ cũng nghiên cứu nghệ thuật uống trà.

Thời vua chúa mỗi buổi sáng các cung nữ thường lấy nước sương còn đọng lại trên lá sen về cung pha trà. Hoặc bơi xuồng trên các hồ sen (ở Huế nhiều hồ sen) bỏ trà vào các búp sen sắp nở lượng trà hảo hạng, trà hấp thụ mùi thơm của sen dưới sương đêm. Sáng hôm sau vạch cánh hoa lấy trà bỏ vào hủ đậy kín không mất mùi hương đó là loại trà sen tuyệt hảo nhất.

Tô Ðông Pha (1037-1101) ví trà với mỹ nhân, nhưng Ðiền Nghệ Hằng lại quan niệm “uống trà để quên cái huyên náo phồn hoa, trà không phải để cho hạng ăn cao lương bận lượt là thưởng thức”.

Lê Quý Ðôn (1726-1784) quan niệm về nghệ thuật uống trà “Một chén lòng sạch bong, hai chén lòng phơi phới, đến chén thứ bảy thì dưới hai cánh tay như có cánh thổi lên làn gió mơ màng.”

Bán dạ tam bôi tửu
Bình minh sổ trảm trà
Mỗi nhật cứ như thữ
Lương y bất đáo gia

dịch là

Nửa khuya ba chén rượu
Tinh sương vài chén trà
Ngày nào đều như vậy
Lương y chẳng lại nhà

Các cụ với kinh nghiệm sống dùng trà để trị bị bệnh. Ngày nay Trung tâm nghiên cứu về bệnh ung thư “Deutsche Krebsforshungszentrum in Heilberg” cũng như Ðại Học Kasas “University of Kasas city” phân tích trà xanh có các chất “Epigallocatechin -3- Gallat viết tắc là EGCG chứa nhiều Vitamin E và C, ngăn được sự viêm cứng mạch máu, giảm lượng mở trong máu vv.. Bác sĩ Jin-Rong Zhou, Đại học Harvard, người đứng đầu nhóm nghiên cứu cho biết, ý tưởng này xuất phát từ thực tế là ở Trung Quốc, tỷ lệ người bị ung thư tuyến tiền liệt rất thấp, trà và đậu nành, vốn được coi là có thể giúp ngăn ngừa ung thư. Nối tiếp theo cuộc nghiên cứu trước đây cho thấy trà xanh giúp ngăn chận bệnh ung thư tử cung, các nhà nghiên cứu thuộc đại học Kỹ thuật Curtin ở Perth đã khảo sát 254 phụ nữ người Hoa đang mắc bệnh nầy. Cuộc nghiên cứu do Giáo sư Andy Lee, Giáo sư Colin Binns và Tiến sĩ Min Zhang thuộc khoa Y tế của đại học này thực hiện, đề nghị là nên uống ít nhất mỗi ngày một tách trà như là dược liệu tốt để ngăn chận các tế bào ung thư. Đại học Wisconsin, Madison (Mỹ), cho biết trà xanh có chứa hóa chất polyphenol có thể ngăn chặn sự di căn của tế bào ung thư tiền liệt tuyến.

Thử nghiệm được tiến hành trên những con chuột biến đổi gene mang bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Tất cả đều được cho ăn có protein, carbohydrate, vitamin và muối khoáng, kèm uống trà (tương đương 6-8 ly/ngày ở người). Một số con được ăn đậu nành hằng ngày (tương đương 250 mg đối với người). Kết quả cho thấy, nếu dùng riêng rẽ, đậu nành và trà làm giảm tốc độ phát triển của khối u và giảm kích thước của nó khi lớn lên. Nếu dùng kết hợp, các thực phẩm này sự phát triển của khối u và ngăn ngừa sự lan truyền của bệnh tới các hạch bạch huyết lân cận, đi đến kết luận: Trà và đậu nành đều có tác dụng ngăn ung thư. Đại học Y Khoa Wisconsin cho biết kết quả trà xanh chửa được bệnh Prostata.

Uống trà để tiêu khiển, hưởng nhàn thường nhật, và dùng trong việc ngoại giao, tế lễ, cúng tổ tiên, cúng Phật. Tập tục uống trà đã ăn sâu vào sinh hoạt, các văn nhân mặc khách thời xưa đã ca tụng thú uống trà. Viên Chiêu thiền sư đời Lý Nhân Tông

Tặng quân thiên lý viễn
Tiễn bả nhầt bình trà

dịch

Tiễn chân ai bước đường xa
Miệng cười đưa một bình trà tặng nhau

Tiễn anh vạn dặm đàng xa
Ta xin rót một bình trà tặng anh

Các làng quê miền Trung Việt Nam cũng trồng trà, hái trà non hai lá, và nụ trà để biến chế dành cho ngày tết. Các khu vườn ngoài diện tích sử dụng sinh hoạt, còn lại trồng cau, trái cây cam quít, và những cây trà cao ngang tầm người. Người miền Trung thường gọi cây trà là cây chè, lá dày lớn màu xanh đậm và láng, trổ bông màu trắng 5 cánh, đường kính khoảng 10 cm, nhụy vàng thơm nhẹ. Dọc theo các đường làng, thị trấn miền Trung thường có quán bán nước chè xanh, trong căn lều tranh nhỏ, cái nồi đất nấu trà tươi bốc mùì thơm ngon, trưa hè hay chiều thu, ghé quán uống bát chè xanh múc bằng chiếc gáo ừa, trà xanh sóng sánh như nắng vàng với thoáng hương thơm. Nâng chiếc bát bằng sứ uống từng hớp nhỏ, trà sẽ làm dịu cơn khát và có cảm giác thú vị ngọt ngào. Trà là hình ảnh quen thuộc như cây đa đầu làng, con đò bến sông, trà không thể thiếu trong sinh hoạt, dù đời sống văn minh có những quán giải khát bán cola, nước ngọt với nước đá. Nhưng không thể quên được quán chè xanh bên đường. Trà trở thành nếp sống văn hóa, đã đi vào lòng dân tộc. Các cụ uống trà và ngâm mấy câu thơ :

Làm trai biết đánh tổ tôm
Uống trà Liên tử ngâm nôm Thúy Kiều

Bài thơ gọi trà của nhà cách mạng Phan Bội Châu (1867-1940) chủ tịch danh dự của Việt Nam Quốc Dân Ðảng, buồn cho vận nước. Ðể thức tỉnh hồn thiêng sông núi, trong thời kỳ chống thực dân Pháp dày xéo quê hương:

Trà ơi! Còn nước là vinh hạnh
Cháy lưỡi khô môi thảm những ai!

Ðại văn hào Nguyễn Du (1765-1820) thưởng thức trà với tâm sự

Khi hương sớm lúc trà trưa
Bàn lan điểm nước đường tơ họa đàn

Thi nhân Bạch Cư Dị uống trà để cảm thương cho số phận người kỹ nữ,

Khách trọng lợi, kinh đường ly cách
buôn trà sớm tếch ngàn khơi
Thuyền không đậu bến mặc ai
quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng
Phan huy Thực dịch

Nồi cơm nấu dở bát nước chè xanh
Ngồi vui kể chuyện tâm tình bên nhau
Hoàng Trung Thông

Dừng chân bên quán nước, người lính trẻ Quang Dũng uống bát trà xanh nóng làm vơi cơn khát, diụ bớt nhọc nhằn. Tiếp tục hành trang lên đường, nhưng lại vướng đọng bóng giai nhân

Tiền nước trả em rồi nắng gắt
Ðường xa choáng váng núi và mây
Hồn lính vấn vương vài sợi tóc
Tôi thương mà em đâu có hay
Quang Dũng

Nguyên sa nói về định mệnh, những oan nghiệt cuộc đời tục lụy. Chiều chiều bên bình trà nhỏ, uống để nhớ lại cố hương, nhưng thời gian đi mãi có đợi ai bao giờ!

Chất xám trong não bộ lên men
Trán nhăn dăm bảy, nếp kinh thiên
Thượng Ðế trên cao, chiều độc ẩm
Mạt lộ, ta ngồi chỗ hạ phiên
Nguyễn Khuyến (1835-1909) cuộc đời nhàn hạ vui với gió trăng

Khi vườn sau khi sân trước
Khi điếu thuốc, khi miếng trầu
Khi trà chuyên năm ba chén
hi Kiều lẫy một đôi câu
Nguyễn Khuyến

Xuân về trong ba ngày tết, nâng tách trà nhớ lại xuân xưa, bên quê nhà với nhiều kỷ niệm, dĩ vãng mãi mãi còn ngân vang trong lòng người viễn xứ, uống trà đàm đạo để sống lại với hồn quê hương sông núi .
Tài liệu tham khảo

Gruener Tee tác giả Jean Puetz & Monika Kirschner
Das hobby thek buch
Geheimmis Japan tác giả (Shuichi Kato)
Sir Lanka tác giả (Polylott)
The importance of living (Lin Yutang) Lâm Ngữ Đường
Zen in der kunst des Tee – Weg tác giả Horst Hammìtzsch

Hình trên Internet

[1] Văn Thánh Khổng Tử Khổng Phu Tử 孔夫子( thời Xuân Thu);
Binh Thánh Tôn Vũ 孙武, (quân sự thời Xuân Thu);
Sử Thánh Tư Mã Thiên (nhà sử học thời Tây Hán);
Y Thánh Trương Trọng Cảnh张机( lang y thời Đông Hán);
Võ Thánh Quan Vũ Quan công (關公(tướng thời Đông Hán-Tam Quốc);
Thư Thánh Vương Hi Chi王羲之Wang Xizhi (nhà thư pháp thời Đông Tấn);
Họa Thánh Ngô Đạo Tử吴道子(họa sĩ thời Đường);
Thi Thánh Đỗ Phủ 杜甫(nhà thơ thời Đường);
Trà Thánh Lục Vũ Yu Lu Thánh trà (nhân vật thời Đường);
Tửu Thánh Đỗ Khang tương truyền là người phát minh ra cách nấu rượu thời Chu).
(Mười vị Thánh của Trung Hoa)




Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1740 Posted : Wednesday, February 9, 2011 2:03:12 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,667

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5353 time(s) in 3599 post(s)

UserPostedImage
TÌNH XUÂN

Hoa xuân nở ngất say tình mê đắm
Ngõ vào yêu, tim hé đóa môi mềm
Không gian thơm mùi hương hoa nồng thắm
Nắng bình minh ngời muôn sắc tinh tuyền.

Tiếng chim hót lời ca tình êm ái
Hạnh phúc đầy, vui mái ấm trào dâng
Vùng mây trắng lững lờ trôi, trôi mãi
Ánh xuân hồng tô điểm khắp non sông..

Hồn ngây ngất nhìn xuân về muôn lối
Nhạc vang lừng trong hy vọng hoan ca
Và đất trời đang chuyển mùa đổi mới
Đem tin vui mừng nhân loại thái hòa.
HONG VU LAN NHI 2/9/11
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest
105 Pages«<8586878889>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.