Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

73 Pages«<1920212223>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
langthang09  
#401 Posted : Wednesday, November 11, 2009 2:46:07 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)
Câu chuyện giáo dục: Trong nghệ thuật nuôi dạy con cái thành nhân, có khi cha mẹ có lòng lại mắc sai lầm

Nov 08, 2009

Cali Today News - Trong quyển sách “Nurture Shock” mới ra mắt đã gây tiếng vang đáng kể, nhà văn Po Bronson bàn về nghệ thuật nuôi dạy con nên người của bậc cha mẹ mà ông gọi là “good parents”.

Có khi cha mẹ có lòng, biết thương yêu chăm sóc dạy dỗ con, nhưng nhiều lúc cha mẹ đã phạm sai lầm mà không biết. Không phải hễ cứ “thương là cho roi cho vọt” mà chúng ta cần sáng suốt để biết cái cách tiếp cận con cái nào là đúng và hạn chế các sai lầm đáng tiếc.
Sau đây là những trích đoạn đáng chú ý của quyển sách này:
Hỏi: Các nghiên cứu về khoa tâm lý trẻ con cho thấy khi khen con cái chúng ta cũng nên cẩn thận, tại sao?
Bronson: Đừng khen con vì những cái khi nó sinh ra đã có sẵn, như thiên phú về sự thông minh hay sáng tạo. Khi bạn nói “Con mẹ thông minh quá” hay “con mẹ hát hay thật” thì không có gì sai, nhưng nó sẽ không giúp được trẻ. Cần tập trung khen về nỗ lực mà nó đã bỏ ra.

Thí dụ như trong một kỳ thi writing thật khó, có nhiều người rớt. Sau khi thất bại một lần, con bạn cố gắng và thành công, bạn hãy khen con, thí dụ bạn có thể nói: “Con đã thành công vì con thật sự học rất chăm chỉ và cực nhọc.” Các nghiên cứu cho thấy khi khen đúng như thế, học lực của con bạn sẽ có tiến bộ rất đáng kể.
Hỏi: chúng ta thấy trẻ con có thể nói láo, gần như là tất cả sách vở nói cha mẹ đã làm sai để trị “bệnh nói láo này”, làm sao đây?
Bronson: Bạn không thể biến con cái nói thật bằng những câu hăm dọa khiến nó sợ hãi. Nếu bạn hăm dọa là sẽ không dẫn nó đi xem xiếc, một thể loại giải trí nó rất mê hay hăm cắt phần thưởng, nó vẫn nói láo như thường. Nhưng nếu bạn nói: “Con nên nói thật, vì đây là chuyện đúng phải làm”, nó sẽ nghe theo.

Chúng ta không nên đánh giá thấp khả năng biết suy nghĩ của trẻ. Nếu bạn nói như sau, có thể kết quả lại càng tốt hơn: “Mẹ sẽ thật sự rất hạnh phúc nếu như con nói sự thật cho mẹ nghe”. Khơi dậy lòng xấu hổ khi nói láo của trẻ sẽ là phương pháp hay, nhưng cần thận trọng, không nên “sỉ nhục hay trừng phạt nó quá đáng”.
Hỏi: Ngày nay trẻ thiếu ngủ nhiều quá, hậu quả của chuyện này ra sao?
Bronson: So với thế hệ của cha mẹ thì hiện nay trẻ con ở Mỹ ngủ ít hơn trung bình mỗi đêm 1 giờ. Có nhiều nguyên nhân cho chuyện này, như có quá nhiều chương trình học cho con (học đờn, ngoại ngữ, vẽ, múa, một môn thể thao…) quá nhiều chương trình TV và nhiều video games.

Cha mẹ lại nuông chiều, không muốn bắt con đi ngủ sớm, có khi do suốt ngày trong sở làm nên chiều về muốn có thêm thời gian cho con. Nhưng các chuyên gia đã cho biết ngủ ít sẽ hại đến kết quả học tập, thậm chí các nghiên cứu còn chứng tỏ một học sinh lớp 6 mà thiếu ngủ sẽ học hành tệ như một học sinh lớp 4, nếu nó ngủ ít hơn trung bình 1 giờ mỗi đêm!
Hỏi: Tại sao cha mẹ hay “ú ớ” khi con cái hỏi về màu da hay các chủng tộc khác?
Bronson: Chúng ta thường nghĩ trẻ con không bao giờ phân biệt màu da. Nhưng các khoa học gia cho biết ngay từ 6 tháng tuổi, trẻ đã nhận ra sự khác biệt màu da. Tại Hoa Kỳ, thế nào con cái cũng sẽ hỏi cha mẹ về ý nghĩa của sự khác biệt này.

Là cha mẹ, chúng ta hay lưỡng lự không muốn nói chuyện cởi mở với con cái vấn đề này. Đây là một sai lầm. Rất nhanh chóng trẻ sẽ khám phá chúng ta lo lắng hay không muốn bàn tới, và chúng sẽ tưởng đâu đây là một dạng “taboo”, không nên đụng tới.

Nhưng mỗi ngày trẻ đến trường và bạn bè của nó chắc chắn thuộc nhiều chủng tộc khác nhau. Nếu bạn nói với con “ai sinh ra đời cũng bình đẳng” thì không đủ đâu. Bạn nên dạy con về nhiều màu da, nhiều sắc tộc trên thế giới bằng cách gợi ý hay đặt những câu hỏi.

Để rồi sau khi trẻ bắt đầu hiểu, bạn mới có thể kết luận cho con biết là “thật là sai lầm lớn lao nếu chúng ta kết luận về một con người chỉ vì màu da của người đó”. Người ta nhận thấy kẻ nào tỏ ra bao dung về chủng tộc, trước đó hẳn đã có cha mẹn khôn khéo biết hướng dẫn và dạy con tôn trọng giá trị bình quyền của mọi màu da trên thế giới.
Hồng Quang
Linh Phuong  
#402 Posted : Thursday, November 12, 2009 1:23:05 AM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357


Mó nước “hiểu” tiếng người

Anh Hưởng và nhiều người đã thử: cứ có tiếng vỗ tay hoặc gọi là nước tại mó nước Rằng Phặt dâng lên, không cứ gì phải đọc đúng "tý Xằm, tý Sỏi, tý Mỏi..." bằng tiếng Nùng. Câu chuyện huyền thoại về ba cô gái bị yểm xuống làm thần giữ các quan tài vàng bạc có tồn tại, nhưng sự "mầu nhiệm", bí ẩn, rùng rợn kia đã dựa trên một sự thật mà khoa học hoàn toàn có thể lý giải được, tức là: hễ có sự cộng hưởng âm thanh, là nước tuôn ra.
Chuyện khó tin nhưng có thật. Ở xã miền núi Hồng Quang, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng, có một mó (mỏ, hố, vũng, giếng) nước khiến bà con và khách vãng lai từng có mặt đều vô cùng sửng sốt: dù cạn khô kiệt quệ, nhưng, hễ người Nùng sống quanh mó nước mà đọc "thần chú", vỗ tay nhè nhẹ là nước từ trong khe cứ thế dâng lên. Chứa chan.

"Tý Xằm, tý Sỏi, tý Mỏi. Rằng Phặt!..."

Nằm cách thị trấn miền rừng Quảng Uyên gần 20km, mó nước Rằng Phặt, từ nhiều đời đã được nhuộm đẫm bao nhiêu là huyền thoại. Ai là người đầu tiên kể câu chuyện ly kỳ đó, thật khó đoán định; câu chuyện đó có thật hay không, càng khó đưa ra câu trả lời "cưa đứt đục suốt". Song, có một điều chắc chắn rằng: bất kỳ người dân nào ở xã Hồng Quang, dù nam phụ lão ấu, cơ bản, ai cũng biết câu chuyện ly kỳ và sự thật ngỡ ngàng về mó nước Rằng Phặt. Ai cũng đọc được câu thần chú gọi nước dâng lên.

UserPostedImage

Ông Trần Văn Hải, Bí thư Đảng ủy xã Hồng Quang trực tiếp đến mó nước, vỗ tay, đọc "thần chú" gọi nước về.

Thú thật, kể từ khi bà con Quảng Uyên và các nhà báo ở Cao Bằng điện báo rồi rủ tôi đi điền dã để "thực mực sở thị" những điều quanh mó nước lạ, đã 500 ngày trôi qua, lúc nào tôi cũng có cảm giác mơ hồ, ngài ngại.

Anh Đàm Văn Trình, người tổ chức chuyến đi, là cán bộ của Đài Phát thanh - Truyền hình Cao Bằng, quê gốc nằm ở cách mó nước Rằng Phặt trên 7km, người mà với tư cách nhà báo, đã mục sở thị cái "mó nước biết vâng lời người" từ lâu; lại thêm, vừa đến Ủy ban đã thấy cả Bí thư, cả Chủ tịch UBND xã trịnh trọng ra thề thốt: sẽ đích thân đưa nhà báo đi rồi gọi nước lên cho mà xem... Hai chi tiết đó đã khiến tôi bớt thấy mơ hồ, hoài nghi. Bụng bảo dạ: yên tâm, yên tâm, cái gì nó cũng phải có lý của nó. Cứ chờ "hạ hồi phân giải"!

Chủ tịch UBND xã Hồng Quang, anh Nông Bình Phương, sinh năm 1961, đang hỉ hả tiếp nhà báo Hà Nội, khi được hỏi về mó nước Rằng Phặt thì bất ngờ chuyển sang... bức xúc: Việc bao đời nay bà con dùng "thần chú" gọi là nước dâng lên ngập ngụa là sự thật, bao nhiêu người vào thăm thú, cả bọn trộm cắp đánh xe Ben, đem xôi gà vào cúng lễ rồi phá hang nước tơi bời hòng tìm vàng bạc, thế mà không một ai nhiệt tình quay lại giải thích cho chúng tôi biết "nguyên do" của chuyện lạ.

Bí thư Đảng ủy xã Trần Văn Hải cũng lo lắng: bao nhiêu đoàn đến "ngó", chụp ảnh rồi họ bỏ về, tịnh không một "hồi âm". "Xã Hồng Quang có 108 đảng viên, với 12 khu hành chính (xóm, bản), 100% bà con người Nùng, ai cũng biết chuyện mó nước không phải vấn đề tuyên truyền "ma tà" gì, nó là sự thật từ nhiều đời. Ông tôi, bố tôi đã kể lại cho tôi câu chuyện ấy, tất cả người già người trẻ đều được truyền dạy một "sự tích" như vậy" - anh Hải nhấn mạnh.

Mó nước nằm cách Ủy ban khoảng 2km, ở bản Lũng Sạng, tên Rằng Phặt, tức là cái hố sâu (Rằng) đặt tên là Phặt. Mó nước nằm dưới một thung lũng bạt ngàn hoa màu, xanh mướt mát quanh các bờ rào đá xám ngoét, trâu bò thoải mái đằm ở ven các mạch nước ngầm mà hễ cứ ai đọc thần chú là phun lên ào ạt. Xung quanh là núi đá cao chất ngất, các vách đá rỗng rốp, thăn thớ, đua ra từ đỉnh trời đủ hình thù kỳ dị tầm như Quỷ Môn Quan (cửa đá hình mặt quỷ) ở Lạng Sơn. Chưa bao giờ, thời nào, có một ai nhìn thấy mó bị cạn nước hoàn toàn. Cùng lắm, nó chỉ cạn đến mức lộ ra cái cửa hang để kẻ tò mò chui vào; hễ cứ chui vào vài bước là nước dâng lên, ai không chạy ra nhanh sẽ mất xác trong lòng sông ngầm bí ẩn hơn cả ngục A Tỳ kia. Nước, với sức mạnh của mình, thật sự là một vị thần giữ cho những bí ẩn của hang tối càng trở nên bí ẩn hơn.

Theo "sự tích" được lãnh đạo xã Hồng Quang và đông đảo bà con có mặt cùng kể giống nhau, thì: nước dâng lên khi có kẻ chui vào hang tối là hành động của ba trinh nữ đã được yểm mạng (chết chôn) trong hang để bảo vệ các quan tài trong lòng mó. Cộng đồng cổ xưa đã dẫn dụ rồi giết chết ba cô gái trẻ xinh đẹp và ngoan ngoãn dưới các hố đá và nước sâu hút trong lòng hang. Họ "yểm" thân xác và linh hồn các cô vào đó, để linh hồn họ muôn đời bảo vệ các quan tài mà cứ đồn là có giấu của mà bản làng tin là đang nằm trong hang tối.

Hang đá thông lên mặt đất theo phương thẳng đứng (địa hình karst) với rất nhiều "địa đạo" bí ẩn; các hố tròn há miệng lên trời cứ nghe "thần chú" là phun nước ra cũng đổ nước vào muôn vàn cái cửa hang ngầm trong lòng núi, lòng gò đồi, lòng ruộng rẫy xung quanh. Toàn bộ khu vực chi chít các "dòng sông ngầm", các mạch nước ngầm. Vì đã có 3 nữ thần tên là Xằm, Sỏi, Mỏi cai quản các quan tài chứa đầy vàng bạc rồi, cho nên, mỗi lúc có kẻ xâm phạm hang tối, là tự nhiên nước dâng cao nhấn chìm "bọn kẻ cướp", hoặc ít ra là đánh bật chúng ra ngoài. Bà con thì đọc câu thần chú "cha truyền con nối" để dụ nước ra cho trâu bò uống, cho các máy công suất lớn suốt ngày đêm bơm nước mó lên làm ngói ống, ngói vảy trong các lò nung, lấy nước tưới cho các ruộng ngô đỗ xung quanh xã.

Câu thần chú được Bí thư Đảng ủy xã Trần Văn Hải ghi nguyên văn vào sổ tay của tôi như sau: "Tý Xằm, tý Sỏi, tý Mỏi Rằng Phặt. Sặc sìn sặc ngằn, lố!" (theo tiếng Nùng, đại ý: tý là bé, là cô gái, đây là lời gọi các cô Xằm, cô Sỏi, cô Mỏi ơi; Rằng Phặt là tên mó nước; Sặc sìn sặc ngằn, là nó ăn trộm vàng ăn trộm bạc; lố là một hư từ, một từ gióng lên như một tiếng tri hô. Tóm lại, câu thần chú là lời hô hoán, thông báo của bà con với 3 cô "thần giữ của" dưới mó nước, hãy dâng nước lên để chống lại bọn ăn trộm các quan tài mà bà con được truyền tụng là có xếp tầng tầng lớp lớp trong các hang sâu).

Hiện tượng kỳ thú cần lời giải

Tay lăm lăm máy ảnh, máy quay phim, dò dẫm ra gần mó nước Rằng Phặt, ngũ lục giác quan của tôi và các đồng nghiệp ở Đài Phát thanh - Truyền hình Cao Bằng cùng căng như dây đàn. Bí thư Trần Văn Hải đọc "Tý Xằm, tý Sỏi, tý Mỏi..." xong, sau tiếng "lố", từ dưới lòng một khe đá hình tròn có diện tích chỉ bằng cái mâm ăn cơm, nước bắt đầu đùn ra ào ạt. Nước sủi tăm, nước cuồn cuộn nhè nhẹ, giống như một nồi nước lúc bắt đầu nổi tăm mắt cua để sủi. Toàn bộ mó nước có diện tích bằng độ hai cái gian nhà xanh thăm thẳm chợt sôi động hẳn lên. Nước phun từ mó ra, tràn ra các khoang chứa đầy bùn đất, lúp súp cỏ dại; nước rút ở khu này thì nước lại dâng lên ở khu khác; nước chạy vào hai cái hang sâu vô tận ở chân vách đá vôi.

Ngay tại cái miệng chính của mó nước Rằng Phặt, lúc thì nước đùn ra, lúc thì nước lại bị hút vào, khiến những người có mặt cứ liên tục gào lên hào hứng: "Nó đang ra!"; "Nó lại đang bị hút vào!"... Thả một ít vỏ trấu, một ít lá cây tươi nổi trên mặt mó nước, chúng tôi quan sát rất rõ đường đi của vỏ trấu và lá cây, nó chạy vòng quanh, nó chui vào các hang tối rồi có khi lại ùn ùn chạy ra như có một bàn tay vô hình nào đó đang bày binh bố trận...

"Thần chú" gọi nước bằng tiếng Nùng văng vẳng, "Tý Xằm, tý Sỏi, tý Mỏi...", núi đá cao dựng trời, các triền đồi hoang vắng đen sẫm toàn cây cổ thụ đã khiến cho không gian của mó nước thêm phần Liêu Trai. Anh Trần Văn Hải, leo lên vách núi, bẻ một cây sắn lớn về cắm ở rìa mó nước, dùng dao đánh dấu lên thân cây, rồi cất tiếng gọi 3 cô Xằm, Sọi, Mỏi ra giữ vàng bạc, để chúng tôi quay phim chụp ảnh cái cảnh nước dâng lên theo "tiếng gọi" như thế nào.

Anh Hải bảo, nửa đêm, có những kẻ nghe lời đồn, đánh cả ôtô "leo núi" vào bản, dùng lễ vật là gà, xôi, bánh kẹo, thắp nhang rồi đeo dây an toàn, cầm đèn pin, tụt xuống hang tìm... báu vật. Ở trên mặt ruộng của bà con, toàn các khối đá lớn, có một lỗ nhỏ thông với mó nước, bà con đã phải dùng các tảng đá lớn lấp lại kẻo sợ con người và súc vật sa xuống đó mất xác. Thế mà, cánh "trộm đêm" đã hò nhau dọn sạch các tảng đá rồi chui xuống lòng hang tối. Không ngờ, kẻ ở trên, người cầm dây an toàn lần xuống dưới, nước dâng lên, họ sợ quá, kéo nhau bỏ chạy cả. Cách đây chưa lâu, có nhóm thanh niên ở Nam Định, cũng kéo 5 người lên Rằng Phặt tìm vàng, sau khi bị "ba cô" dâng nước dằn mặt, đám "đạo tặc" bỏ chạy tán loạn, sáng ra, ở miệng mó nước chỉ còn xôi, gà và 5 đôi dép lê cũ rách.

Ông Nông Văn Sẻn, gần 60 tuổi, tình cờ cầm roi, rong đàn trâu no phưỡn bụng về mó Rằng Phặt uống nước, chúng tôi làm trắc nghiệm: tiếp tục hỏi sự tích mó nước, ông Sẻn đã nói giống hệt như tất cả bà con mà chúng tôi từng gặp.

Ông Sẻn bảo, cuối những năm 70, cái lò làm ngói máng, ngói ống ở bên cạnh Rằng Phặt, cánh thợ ngày đêm bơm nước của mó này lên để hành nghề, có ông chủ lò ngói tên là Triệu Văn Phín, từng cả gan thám thính cái hang nước bí ẩn. Mục đích của ông Phín là đi tìm kho vàng, kho bạc, với hy vọng có ngày giàu có, không bao giờ phải nhào đất và nước vào... khuôn khổ nữa! Tay cầm một cái túi rết, một thẻ nhang, một đèn 3 pin con thỏ, một cái bật lửa, ông Phín lặng lẽ, thận trọng, rón rén đi vào hang như một con mèo khôn ngoan.

Xuống độ 30 mét, giữa tối om, vừa sờ vào vách đá thì nghe tiếng ào ào, ầm ầm, nước cuộn siết dâng lên. Nhờ sợi dây buộc ngang lưng có một số kẻ "tay chân" kéo ở phía trên, nhờ tài bơi lội như rái cá, ông Phín mới thoát chết. Cả làng ra xem "tai họa", thì thấy ông Phín ngồi bần thần bên cửa hang, mặt tái xanh tái tử, ai hỏi gì cũng ậm ừ. Ông dường như quên cả tiếng nói trong suốt mấy ngày.

UserPostedImage

Biên tập viên và quay phim của Đài Phát thanh Truyền hình Cao Bằng cũng có mặt để ghi lại hình ảnh "khó tin" ở mó nước biết vâng lời người .
Anh Phan Văn Hưởng, 40 tuổi, sống gần mó nước Rằng Phặt, người chứng kiến tất cả những kẻ tấn công hang tối từ lâu nay, kể: có lần tôi thấy nhóm người tự xưng là "nghiên cứu địa chất của tỉnh" đến tìm cách vào hang, vần đá, có khi họ làm việc giữa đêm tối, chúng tôi rất nghi ngờ, bà con kéo ra càng đông. Họ có vẻ sợ sệt rồi bỏ đi, khi đến và khi đi, họ tuyệt nhiên không liên lạc gì với chính quyền xã. Nhờ tìm tòi, anh Hưởng dần phát hiện ra: bà con ai cũng đọc thần chú gọi ba cô khi họ cần đến nước của Rằng Phặt. Nhưng thật ra, anh Hưởng và nhiều người cũng đã thử: cứ có tiếng vỗ tay hoặc gọi là nước lên, không cứ gì phải đọc đúng "tý Xằm, tý Sỏi, tý Mỏi..." bằng tiếng Nùng.

Vậy là, bài toán được gợi mở: cứ có tiếng hô hoán, tiếng động là nước dâng lên hoặc nước bị hút đi. Câu chuyện huyền thoại về ba cô gái bị yểm xuống làm thần giữ các quan tài vàng bạc có tồn tại, nhưng sự "mầu nhiệm", bí ẩn, rùng rợn kia đã dựa trên một sự thật mà khoa học hoàn toàn có thể lý giải được, tức là: hễ có sự cộng hưởng âm thanh, là nước tuôn ra.

Chiều sậm dần, bà con tiễn đoàn nhà báo chúng tôi ở dưới chân vách núi Mặt Quỷ mơ màng, bí ẩn, chỉ với một lời nhắn nhủ: nhớ tìm người giải thích, nhớ trở lại với bản làng chúng tôi nhé. Gã trai 34 tuổi, tay xăm trổ xanh lè vừa gọi các cô dưới mó nước, giờ đây thở dài: "Có khi bọn tôi phải tính một kế được ăn cả ngã về không, bác ạ; chúng tôi thuê máy xúc đào toàn bộ khu vực mó nước và các hang ngầm lên, mất độ 50 triệu đồng. Nếu tìm được các quan tài vàng thì chia nhau, giàu kếch sù, nếu không tìm được thì cùng chịu lỗ. Cái "được" quan trọng hơn là lý giải được câu chuyện "tý Xằm, tý Sỏi, tý Mỏi" lạ lùng từ nhiều đời qua".

Thú thật, suốt từ lúc vào xã, lội chân xuống mó nước "thần bí", lặn lội ở các triền núi hoang vu của Hồng Quang, tôi chưa rùng mình một lần nào; nhưng khi gã trai xăm trổ "táo gan" đưa ra ý tưởng bất ngờ kia, tôi đã có cảm giác mình đang tái mặt đi. Một mó nước biết "vâng lời" người, một huyền thoại nghìn đời cha ông người Quảng Uyên để lại, một hiện tượng tự nhiên kỳ thú... - liệu có thể được ứng xử như thế sao?

Chúng ta vẫn nợ bà con người Nùng ở Hồng Quang một câu trả lời.

Tiến sĩ khoa học (TSKH) Vũ Cao Minh (Viện Địa chất) là một chuyên gia nhiều năm nghiên cứu về địa hình karst, về các nguồn nước ngầm rồi đúc kết trong một đề tài khoa học lớn; từng nổi tiếng khi thành công trong dự án tìm nước và xây cả hệ thống hồ treo chứa nước "cứu" cao nguyên đá Hà Giang, vùng núi Sơn La vơi cơn khát từ ngàn đời. Sau khi tiếp cận với các tài liệu bài viết và hình ảnh sinh động về mó nước ở Quảng Uyên mà người viết bài này cung cấp, TSKH Vũ Cao Minh đã nhận xét:

Thứ nhất, trên thế giới, hiện tượng các mó nước (nguồn nước) khi đầy, khi vơi, lúc cạn, lúc chảy, lúc chảy ra nhiều lúc chảy ra ít là khá phổ biến. Là có nguyên lý khoa học, hoàn toàn có thể giải thích được. Tuy nhiên, một mó nước biết "vâng lời" người, nước có thể chảy ra sau tiếng vỗ tay, sau tiếng gọi (đọc thần chú) là hiện tượng lạ, kỳ thú. Bản thân ông Minh chưa từng nghe thấy, ông lục tìm nhiều "văn liệu" về địa chất cũng chưa thấy "ghi" một câu chuyện nào tương tự. Nếu đúng như mô tả của bà con, thì đây là một hiện tượng vô cùng kỳ thú, kỳ thú cả trong khoa học lẫn trong đời sống thường nhật. Ông Minh muốn sớm lên đó để nghiên cứu.

Thứ hai, chúng ta có thể phỏng đoán về các cái "bẫy không khí" trong khu vực có mó nước Rằng Phặt. Tức là từ sự tích tụ không khí, khi có âm thanh, kết hợp với nhiều yếu tố khác, năng lượng từ khối không khí đó được giải phóng, nó đẩy nước ra. Chuyện kiểu này đã từng diễn ra ở những khu vực, do bẫy không khí, bùn lỏng phun ra khỏi vách núi khi có tiếng động mạnh. Tương tự, ở một số khu vực khai thác dầu khí, do "bẫy không khí", có lúc dầu ra nhiều, có lúc dầu ra ít.
Theo tư duy của ông Minh, nếu có hiện tượng nước phun ra mỗi khi xuất hiện "cộng hưởng âm thanh", thì chắc chắn lượng nước phun ra đó phải được "gọi" đến từ các vách núi, các khe nứt, các "dòng sông ngầm", chứ không thể là nước dưới lòng đất sâu hàng chục mét phun lên. Trước đây, nhờ tìm ra "nguyên tắc" nước vách núi này, mà ông Minh và các cộng sự đã sáng tạo ra hệ thống hồ treo nổi tiếng trên cao nguyên đá Đồng Văn.


Tu Bich  
#403 Posted : Thursday, November 12, 2009 4:38:09 AM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Lòng Dân hơn Ý Ðảng

Tuesday, November 10, 2009
Ngô Nhân Dụng

Cuối tuần vừa qua, Dân Biểu Cao Quang Ánh là người Việt Nam nổi tiếng nhất ở nước Mỹ. Các đài truyền hình liên tục loan tin và phỏng vấn ông. Một người bạn ở xa điện thoại hỏi “Joseph Cao có phải là người Việt hay không?” Khi biết ông đúng là người Mỹ gốc Việt Nam, chị vui mừng gọi điện thoại cho các con để chia sẻ niềm vui với cả gia đình.

Ông Cao Quang Ánh là dân biểu duy nhất thuộc đảng Cộng Hòa đã bỏ phiếu ủng hộ dự luật cải tổ y tế ở Hạ Viện. Hầu hết thư độc giả gửi đến Người Việt đều khen ngợi ông là người can đảm và tỏ ý hãnh diện về một người Việt Nam như ông, mặc dù đa số người Việt ở Mỹ nghiêng về phía Cộng Hòa. Một độc giả đặt câu hỏi: Tại sao Dân Biểu Cao Quang Ánh không đổi sang đảng Dân Chủ cho rồi, khi ông bỏ phiếu ngược lại với tất cả các dân biểu khác cùng đảng? Có lẽ nhiều người Việt ở trong nước cũng đặt câu hỏi như vậy, vì không quen thuộc với nếp sống chính trị ở Mỹ.

Trả lời câu hỏi của các nhà báo, ông Cao Quang Ánh giải thích rằng ông đã bỏ phiếu ủng hộ dự luật cải tổ y tế vì dự luật đó cần thiết cho đại đa số dân chúng trong đơn vị đã bầu ông làm đại diện. Ðây là lý do giản dị nhất, và rất đáng suy nghĩ.

Ở nước Mỹ, các đại biểu dân cử thường thuộc một trong hai đảng, Cộng Hòa và Dân Chủ. Họ chia sẻ với đảng mình những giá trị căn bản, thể hiện qua các chủ trương, đường lối trị quốc. Nhưng khi đắc cử, các dân biểu là đại biểu của người dân trong địa hạt, các nghị sĩ là đại biểu của người dân trong tiểu bang. Họ không là đại biểu của một đảng chính trị.

Ở mỗi viện Quốc Hội mỗi đảng có guồng máy điều hợp công tác thảo luận và bảo đảm việc bỏ phiếu của các đại biểu phù hợp với chủ trương của đảng. Guồng máy đó gồm người trưởng khối đa số hoặc thiểu số, có người phụ tá trưởng khối (nghị trường Mỹ gọi là whip) lo việc điều động, theo dõi, thảo luận, khuyến cáo và nhiều khi phải ép buộc các đại biểu thuộc đảng mình bỏ phiếu theo ý chung của đảng. Trước khi các đại biểu mỗi viện họp khoáng đại, ban lãnh đạo trong mỗi viện thường họp với họ để thông qua quyết định chung; người phó trưởng khối có bổn phận đếm cho đủ số phiếu cần thiết để ủng hộ hoặc bác bỏ một dự luật, theo đường lối chung đó.

Tuy nhiên, điều lệ các đảng chính trị ở Mỹ không bắt buộc các đại biểu phải luôn luôn biểu quyết theo chủ trương của ủy ban lãnh đạo toàn quốc. Các đại biểu khi chọn lựa bỏ phiếu trong nghị trường cũng không nhất thiết phải theo chỉ thị của ban lãnh đạo đảng mình trong mỗi viện.

Những nhà chính trị Mỹ gia nhập một đảng vì nhu cầu đoàn kết với những người cùng quan điểm với mình, nhưng nhiều khi họ chỉ chia sẻ một số lớn các giá trị và quan điểm, chứ không phải tất cả mọi chủ trương, đường lối của nhau. Ðó cũng là đặc tính của các cử tri của Mỹ khi họ ghi danh thuộc một đảng nào trong danh sách cử tri. Thí dụ một người Mỹ quyết định bỏ phiếu cho đảng Cộng Hòa vì ủng hộ chủ trương chống phá thai và chống hôn nhân đồng tính, nhưng có thể vẫn bất đồng ý kiến với đảng đó trong chủ trương về vấn đề di dân lậu vào nước Mỹ hoặc về môi trường sống. Cử tri này coi các giá trị về đạo lý khiến phải chống phá thai là quan trọng, còn ý kiến về vấn đề di dân hoặc sinh môi có thể tạm bỏ qua, cho nên vẫn bỏ phiếu cho đảng Cộng Hòa.

Các đại biểu Quốc Hội cũng vậy. Họ có thể chia sẻ 70%, 80% các đường lối của đảng nào thì gia nhập đảng đó, chứ không nhất thiết phải đồng ý 100%. Cho nên, khi bỏ phiếu họ có thể cân nhắc nhiều khía cạnh khác nhau chứ không nhất thiết chỉ làm theo chỉ thị của ban lãnh đạo đảng. Mặc khác, những người gia nhập một đảng không cần phải đưa tay tuyên thệ trung thành và vâng lệnh cấp trên, như các băng đảng du đãng hoặc mafia! Họ vẫn là những người tự do sống trong một xã hội tự do! Họ quyết định lá phiếu theo phán đoán riêng, theo tiếng gọi của lương tâm, và nhất là theo nguyện vọng cùng quyền lợi của các cử tri bầu cho họ.

Vì vậy, Nghị Sĩ John McCain thuộc đảng Cộng Hòa đã từng bỏ phiếu chống lại dự luật cắt giảm thuế của nguyên Tổng Thống George W. Bush cùng đảng; Nghị Sĩ Hillary Clinton thuộc đảng Dân Chủ thì bỏ phiếu ủng hộ quyết định tấn công Iraq của ông tổng thống thuộc đảng khác mình. Dân Biểu Cao Quang Ánh cũng quyết định giống như vậy khi bỏ phiếu ủng hộ dự luật cải tổ y tế tại Hạ Viện Mỹ. Ông chống phá thai, theo niềm tin của ông vào giá trị con người. Nhưng ông biết dự luật cải tổ y tế có thể đem lại những lợi ích lớn cho dân chúng trong đơn vị đã bầu ông. Vì đa số họ là những người nghèo không được hưởng những lợi ích của các chương trình bảo hiểm tư. Là đại biểu của họ tại Quốc Hội, ông phải làm theo ý nguyện của các cử tri đã ủy nhiệm cho mình, dù khi bỏ phiếu năm 2008 có nhiều người không ủng hộ ông. Khi đa số các đại biểu ở Hạ Viện đã bỏ phiếu thông qua dự luật của Dân Biểu Stupak không cho phép dùng công quỹ để trợ giúp những vụ phá thai, trong chương trình bảo hiểm y tế công cộng cũng như bảo hiểm tư, một vấn đề lương tâm của ông Cao Quang Ánh đã được giải quyết. Và khi đó, ông chỉ còn một lựa chọn, là làm theo nguyện vọng của cử tri.

Hành động của Dân Biểu Cao Quang Ánh cũng tương tự như của 37 dân biểu thuộc đảng Dân Chủ bỏ phiếu chống dự luật cải tổ y tế. Phần lớn những người này đại diện cho các đơn vị bầu cử mà đa số dân chúng rất bảo thủ, trong đó có nhiều đơn vị đã bỏ phiếu ủng hộ Nghị Sĩ John McCain trong cuộc bầu cử năm ngoái. Những người dân này tin tưởng vào nhiều giá trị mà đảng Cộng Hòa vẫn đề cao. Thí dụ, niềm tin vào thị trường tự do và chống các hành động can thiệp của chính phủ vào các quyết định kinh tế của tư nhân khiến họ rất nghi ngại trước ý kiến thiết lập một chương trình y tế công cộng. Thí dụ khác, những người bảo thủ về tài chánh thì chống cảnh ngân sách khiếm hụt, cho nên cũng lo ngại khi thấy chương trình cải tổ bảo hiểm y tế của đảng Dân Chủ quá tốn kém. Trước các mối lo ngại của đa số cư tri như vậy, 37 đại biểu đảng Dân Chủ đã không ngần ngại bỏ phiếu chống lại đảng của họ.

Các đại biểu Quốc Hội ở các nước có tự do bầu cử đều phải làm theo nguyện vọng của dân, chứ không làm theo chỉ thị của đảng. Họ phải dùng quyền lực của một dân biểu để tranh đấu cho những nhu cầu thiết thực của người dân đã tín nhiệm mình, trong bất cứ trường hợp nào. Trước ngày Hạ Viện bỏ phiếu, Tổng Thống Barack Obama đã tới Quốc Hội để vận động các đại biểu thuộc đảng Dân Chủ ủng hộ ông. Ông đã phải gọi điện thoại riêng cho Dân Biểu Cao Quang Ánh để xin phiếu, vì không biết chắc có bao nhiêu người thuộc đảng Dân Chủ sẽ bỏ phiếu thuận. Ðồng thời ông Obama cũng muốn chương trình cải tổ y tế của ông không phải chỉ do một đảng Dân Chủ quyết định mà có sự tham dự của cả đảng Cộng Hòa, dù chỉ có được một người là ông Cao Quang Ánh.

Không phải lúc nào một vị dân biểu ở Mỹ được vị tổng thống gọi điện thoại trực tiếp “xin phiếu.” Nhân cơ hội đó, Dân Biểu Cao Quang Ánh đã buộc ông tổng thống Mỹ phải nhượng bộ ông mấy điều trong các dự án khác có lợi cho dân chúng trong đơn vị của mình. Ông Cao Quang Ánh đã yêu cầu chính phủ liên bang Mỹ phải giúp việc xây dựng lại bệnh viện trong đơn vị của ông, và miễn cho người dân vùng New Orleans khỏi phải hoàn trả các món nợ tái thiết sau cơn bão Katrina. Ðiều này chứng tỏ ông Cao Quang Ánh đã “thuộc bài” chính trị ở nghị trường nước Mỹ, bất cứ cơ hội nào cũng dùng quyền lực lá phiếu của mình để tranh đấu cho quyền lợi của dân. Ông Cao Quang Ánh biết rằng năm ngoái ông may mắn đắc cử vì người đại biểu cũ của đơn vị này bị mang tiếng về tham nhũng, và ngay trong đảng Dân Chủ của ông ta cũng nhiều người tranh cử chống lại nên chia phiếu. Ðó là một đơn vị lâu nay vẫn chỉ bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ, ông Cao Quang Ánh là đại biểu Cộng Hòa đầu tiên. Ông Cao Quang Ánh không biết là sang năm 2010 ông còn được tái cử nữa hay không. Nhưng khi đã mang danh đại biểu Quốc Hội của một địa hạt thì ông nhất định làm những điều phải và phục vụ cho các cử tri trong địa hạt của mình. Ðó là điều mọi người Việt Nam có thể hãnh diện về ông.

Ðây là một bài học về đời sống dân chủ tự do mà rất tiếc đồng bào chúng ta ở Việt Nam không được thấy trực tiếp. Các đại biểu Quốc Hội ở Việt Nam thường không bao giờ theo ý kiến của dân mà bỏ phiếu chống lại các quyết định của chính phủ Cộng Sản. Vì chính họ được đảng Cộng Sản đưa ra ứng cử, họ được đắc cử là nhờ đảng. Họ là đại biểu của đảng Cộng Sản chứ không đại diện cho dân. Chế độ độc tài nào cũng như vậy! Chỉ khi chế độ Cộng Sản Việt Nam bị sụp đổ như ở Ðông Âu 20 năm trước đây thì mới có thể thấy những tấm gương can đảm như ông Cao Quang Ánh.



hongvulannhi  
#404 Posted : Thursday, November 12, 2009 2:37:04 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)

UserPostedImage

MƯA TIỄN NGƯỜI ĐI

Bỗng dưng mây xám giăng nhiều quá.
Như một màu tang phủ kín trời
Không gian lặng lẽ, hồn băng giá
Nỗi buồn bao lấp cả lòng tôi.

Chiều nay người đã xa thành phố
Bỏ lại hàng cây ngơ ngác chờ
Những bước chân chiều nào vang vọng
Nghe nhịp đều như tiếng thoi tơ.

Người bỏ nơi này có vấn vương
Khi ánh chiều loang phủ mặt đường
Một cánh chim buồn nghiêng ngả gió
Đèn vàng hiu hắt đẫm hơi sương.

Hình như trời cũng khóc người đi
Những sợi mưa sầu bay ướt mi
Cơn gió lạnh lùng đem rét mướt
Làm hồn tê tái rất nhiều khi.

Người đã ra đi hẹn trở về
Bên nhau cùng ngắm ánh trăng khuya,
Nghe tiếng phong linh đùa theo gió
Dìu dặt cung trầm lạc bến mê.
HONG VU LAN NHI 11/12/09
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#405 Posted : Thursday, November 12, 2009 10:22:48 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,298

Thanks: 6947 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
UserPostedImage


UserPostedImage
Vô Song Đề


Thế là mất một tài hoa
Nạn nhân muôn thuở Thanh Nga nửa đời
Bàn tay đẫm máu giấu rồi
Hậu trường ai khóc ai cười với ai ?

Kịch nghệ thi ca mấy nhịp cầu
Oanh vàng bút thép cảm thông nhau
Vang hai tiếng thét đời ra mộng
Dứt một đêm tàn biển hóa dâu
Khoác áo tài hoa xa vạn dặm
Đem ṿng chiến thắng tặng ngàn sau
Mỹ nhân tự cổ như danh tướng
Thề chẳng trăm năm thấy bạc đầu

Lại một trang đời, một tuổi xuân
Vũ trường ca nhạc khóc giai nhân
Một khi thế hệ mờ lương giác
Là bóng Thanh Nga quyện tử thần
Xao xuyến Hồ Thành đêm biến động
Ngẩn ngơ quần chúng phút phân tâm
Đông về, gió bấc mưa phùn hởi
Bớt lạnh lùng cho ấm mộ phần !
[2.1978]

Tế-Nhị [1907-1986]
hongvulannhi  
#406 Posted : Thursday, November 12, 2009 11:49:29 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)

UserPostedImage

Tối qua trời bỗng mưa rơi, những giọt mưa nhẹ bay bay trong gió, cũng làm ướt tóc, ướt má môi. LN tưởng rằng, trời sẽ mưa dai dẳng, để LN được nằm trong chăn ấm nghe mưa rơi. Nhưng không, chỉ chừng 15 phút sau, mưa đã tạnh, chỉ còn lại chút sân uớt làm bằng chứng mưa có đi qua mà thôi.

Miền nam Cali quả là khó mưa, vá riêng vùng trời LN ở, lại càng hiếm mưa nữa.

Sáng nay, trời lại chói chang nắng vàng. Nắng nhưng khí trời vẫn lạnh, càng làm LN nhớ Dalat của một thuở xa xôi nào. Cái lạnh của miền cao nguyên, đã làm tăng thêm tô phở Tùng ngon tuyệt, mùi phở bò bay tỏa vào mũi, càng làm cho bụng thấy đói cào. Hình như trời lạnh, ly cà phê nóng nghi ngút khói uống đã ngon, lại thêm quyến rũ khi nhâm nhi caphe ngồi nhìn mây lãng đãng bay qua vùng trời buổi sáng. Mùi caphe thơm chi lạ.

Nhắc đến Dalat, là nhắc đến thác suối, đến hồ Than Thở, đến mận trại Hầm, đến những rừng thông bạt ngàn xanh mướt. LN đã từng đi bộ qua những con đường quanh co, dốc thoai thoải, tới bờ hồ , ngồi ở ngoài ngoài trời nhà Thuỷ Tạ, để nhìn trời đêm lung linh sao chiếu, và nhâm nhi ca phê nóng, nhìn rừng núi mờ mờ qua bóng đêm.

Sáng nay LN cũng đang nhâm nhi caphê nóng, nghi ngút khói, nhưng là trong căn phòng nhỏ, nhìn qua khung cửa sổ, chỉ thấy cửa sổ nhà hàng xóm, đóng im ỉm, lặng lẽ như một bức tường.

LN biết cả ngày hôm nay LN sẽ có nhiều công việc phải làm. Tới bưu điện gửi lá thư bảo đảm. Ra bank hỏi vụ giấy tờ. Ghé Fry's hỏi vụ một năm không tiền lời, mà sao lại thấy tính tiền lời trong đó...

Nhưng chém chết cũng sẽ phải ghé Ross, Bết Bát, hoặc Marshall, lướt qua xem có gì " đại hạ giá " không. Tiện thể một công đôi ba chuyện mà. LN nhớ lời G :

- Tội nghiệp LN ghê, cái số cứ phải ra khỏi nhà mỗi ngày, bận bịu hơn cả người đi làm vất vả nữa.

Và LN đã đặt tên cho G là " kháy quốc tế ".

Bây giờ LN lo sửa soạn để ra đi khi trời đang nắng.
HONG VU LAN NHI



Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#407 Posted : Friday, November 13, 2009 12:29:16 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)

UserPostedImage


NHỚ

Biển sóng chập chùng nỗi nhớ nhung
Như em đây nhớ đến vô cùng
Nhớ giọng ngọt ngào âu yếm gọi
Nhớ vòng tay ấm thiết tha mong

Nhớ bóng hình ai say mộng ảo
Nhớ nét cuồng si dại ánh nhìn
Nhớ bước chân chiều trên lối cỏ
Nhớ vầng trăng bạc chiếu lung linh

Nhớ con đường cũ mình chung lối
Nhớ giàn thiên lý ngát hương trôi
Nhớ cà phê đắng nồng nàn khói
Nhớ chỗ ngồi êm, chẳng thấy trời.

Nhớ tiếng nhạc buồn vương khắp ngả
Nhớ từng khuôn mặt bạn bè vui.
Chao ôi nhớ quá, sao nhớ quá
Cũng đành dấu nhớ vào tim thôi.

Mai này nếu lỡ mình xa cách
Nỗi nhớ đem hong để cất dành
Lâu lâu đem nhớ ra nhìn ngó
Mới thấy thời gian trôi quá nhanh.
HONG VU LAN NHI

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Linh Phuong  
#408 Posted : Friday, November 13, 2009 4:51:59 AM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

Trinh Thám trong Nghệ Thuật

Wednesday, November 11, 20009

UserPostedImage
The Night Watch của Rembrandt
Quỳnh Giao

Ðọc truyện trinh thám là một cái thú cho trí tuệ.

Mở trang sách là biết ta sẽ bị lừa, rồi bước vào cuộc đấu trí với tác giả xem là mình sẽ bị lừa tới đâu. Ðóng trang sách mà thấy mình bị lừa đến tận cùng thì đấy là truyện hay! Nếu không, nghĩa là khi mình sớm đoán đúng đoạn kết, thì đấy là truyện dở! Nhưng, trong cách lừa người đọc, tác giả cũng phải biết kỹ thuật dàn dựng và nghệ thuật văn chương thì mới đáng đọc.

Người viết vốn dĩ thích đọc truyện trinh thám, nhất là truyện liên quan đến pháp luật.

Thế rồi tuần qua, khi ông anh mượn về nhà một cuốn sách thì cây bút ưa chuyện thi ca là Quỳnh Giao bỗng như đi lạc! Cuốn sách viết về một bài thơ dài bằng chữ Hán của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Các cụ Miên Thẩm hay Miên Trinh thì có lẽ nhiều người đã nghe nói đến, là hai ông hoàng thứ 10 và 11 của vua Minh Mạng, hai nhà thơ mà người viết khi còn là con nhóc đã được biết qua những giai thoại về Cao Bá Quát. “Thi đáo Tùng, Tuy, thất thịnh đường!” Thế hệ trẻ nít thời ấy đều có học như vậy trong trường, chứ thật ra, thơ của các cụ hay như thế nào để vượt cả thi ca thời Thịnh Ðường thì xin hỏi thầy vì đấy là thơ chữ Hán.

Trở lại bài thơ của Tùng Thiện Vương thì tác giả dành hơn 250 trang sách để giải ra mật mã được yểm trong nội dung, là nghi án về chuyện đoạt ngôi và giết người! Khi đi học thì ai cũng nhớ chuyện vua Thiệu Trị phế trưởng lập ấu, đưa Hồng Nhậm lên thay Hồng Bảo, thành vua Tự Ðức. Và ông Hồng Bảo này tìm cách giành lại ngôi báu rồi chết trong điều kiện mờ ám. Nói theo kiểu trinh thám đời nay thì có lẽ ai đó đã “tự sát ông ta”, tức là ám sát rồi ngụy trang thành tự sát. Bây giờ, có người đời nay đem lại một bài thơ cổ để chứng minh rằng Tùng Thiện Vương mượn ý làm thơ tặng bạn nhằm tố cáo vụ soán đoạt ấy thì quả hấp dẫn.

Nhưng, đọc tới hoa mắt mà vẫn chịu thua vì chưa thể hiểu hết phần chữ Hán trong thơ. Khi nào hiểu ra, nếu may mắn hiểu ra, thì người viết sẽ lại... tạp ghi lần nữa! Dù sao thì vẫn phải mách cho ai ưa truyện trinh thám cuốn sách viết rất công phu dưới tựa đề “Bức mật thư: Ðất - Nước - Gió - Lửa, trong Thương Sơn thi tập” của ông Trần Như Hổ.

Không dám tìm án mạng trong thơ cổ thì cớ sao không tìm án mạng trong tranh cổ? Ly kỳ lắm nếu là một bức tranh cổ nổi tiếng.

Ðó là bức họa có tên là “The Night Watch”, hay “Ði Tuần Ðêm” của tay danh họa người Hòa Lan là Rembrandt. Tự nguyên thủy thì đây cũng là chuyện trắng đen mơ hồ của ngày đêm lẫn lộn vì tên như vậy chứ họa sĩ thiên tài này vẽ một đội pháo thủ bước ra khỏi trại vào buổi bình minh! Rembrandt làm đen sẫm không gian tranh tối tranh sáng của sự việc, mà sự việc là một vụ án mạng. Tay danh họa yểm ngay trong tranh một lời tố cáo.

Người viết có xem bức tranh mà chẳng hiểu gì ngoài sự thưởng lãm mỹ thuật của người phàm! Vì yêu nhạc nên mình có biết thêm rằng bức họa nổi tiếng này còn gây cảm hứng cho Gustav Mahler trong bản Symphony số Bảy ở hành âm số hai. Nhưng có ai ngờ tác phẩm còn có nội dung khác. Phải là một họa sĩ và một họa sĩ có tài về điện ảnh thì mới cảm được mật mã chìm trong tranh và trình bày lại cho chúng ta.

Ðó là đạo diễn Peter Greenaway người Anh, với phim tài liệu về bức họa cuối cùng, lớn nhất và có lẽ nổi tiếng nhất của Rembrandt. Ông Greenaway này say mê hội họa và đi học về họa nhưng lại buông cọ đi làm phim.

Cuốn phim đạo diễn Greenaway đang trình chiếu có cái tên rất lạ là “Rembrandt - J'accuse”, với nội dung là một bản cáo trạng. Ông dẫn ra khoảng ba chục chi tiết chứng minh Rembrandt yểm trong tranh một lời điềm chỉ. Lần trước, vào năm 2007, ông đã thực hiện phim “Nightwatching” để phanh phui sự mờ ám được tay danh họa ghi trong tranh. Qua cuốn phim mới, ông thủ vai nhà thám tử để liệt kê chứng cớ, nhưng tuyệt vời nhất trình bày như một tác phẩm hội họa với màu sắc lung linh mở ảo đặc biệt của Rembrandt.

Người ưa truyện trinh thám thì nên tìm xem phim này để chú ý tới nhiều chi tiết lạ được đạo diễn Greenaway “lôi ra ánh sáng” trong nghĩa đen. Nhưng nếu thật như vậy thì vì sao Rembrandt lại vẽ ra lời cáo giác mà không đi thẳng vào bót cảnh sát? Vì thế lực quá lớn của kẻ chủ mưu, hay vì lý do nào khác? Là tay danh họa tiêu biểu cho thời hoàng kim của hội họa Hòa Lan, đến cuối đời và sau khi hoàn tất bức tranh vĩ đại này, vì sao Rembrandt lại rơi vào đói khổ? Vì bị thủ phạm kín đáo ra tay trù ếm hay vì lý do gì khác?

Lịch sử hội họa thì có ghi là Rembrandt hoàn tất bức họa vào năm 1642, rồi sau đó tranh của ông dần dần hết được ưa chuộng. Cuối đời của ông là những năm tháng nghèo khổ, cho tới sau này mới lại được hậu thế ngưỡng mộ và đánh giá là một bậc sư...
Trong cùng khoảng thời gian, ngẫu nhiên sao người viết được thấy chuyện trinh thám trong thơ và trong tranh. Trong thơ là một vụ án chính trị năm 1847 tại Việt Nam, trong tranh là một vụ ám sát có thể đã xảy ra năm 1642 tại Hòa Lan. Kết luận được ém bên trong là nhà thơ hay họa sĩ cũng có thể là người tinh quái hơn chúng ta thường nghĩ...


Tu Bich  
#409 Posted : Friday, November 13, 2009 11:35:00 AM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Khu trục hạm USS Lassen ghé Đà Nẵng: Chuyến trở về ly kỳ của một cậu bé tỵ nạn

Saturday, November 07, 2009

UserPostedImage
Lê Bá Hùng, người gốc Việt sinh ra ở Huế và nay là hạm trưởng USS Lassen,
rời khu trục hạm trên thuyền nhỏ đi vào bờ, trong chuyến ghé thăm chính thức cảng Ðà Nẵng
hôm 7 Tháng Mười Một, 2009. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

UserPostedImage
Trung Tá Lê Bá Hùng (phải) bắt tay các sĩ quan hải quân Việt Nam trong buổi lễ
đón chào tàu chiến USS Lassen tại Ðà Nẵng. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

ÐÀ NẴNG 7-11 (TH) - Vào ngày miền Nam Việt Nam sụp đổ, Lê Bá Hùng mới có 5 tuổi theo gia đình đi tỵ nạn chính trị trên một chiếc tàu đánh cá cùng với 400 người.

Ba mươi bốn năm sau, ông quay về cố hương cũng trên một chiếc tàu nhưng với tư cách hạm trưởng của một trong những chiến hạm tối tân nhất của Hoa Kỳ.

Hạm Trưởng Lê Bá Hùng hướng dẫn khu trục hạm USS Lassen vào cảng Tiên Sa, nơi có bãi biển đẹp nổi tiếng. Khu trục hạm USS Lassen, trị giá $800 triệu đô la, chiều dài 509 feet, trang bị hỏa tiễn bình phi Tomahawk với một thủy thủ đoàn 300 người. USS Lassen và soái hạm USS Blue Ridge của hạm đội 7 là những chiến hạm đến thăm Việt Nam gần đây nhất trong một chuỗi những chuyến viếng thăm thân hữu của Hải Quân Hoa Kỳ ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 2003 khi hộ tống hạm USS Vandergriff thăm cảng Sài Gòn.

Ngày 30 Tháng Tư 1975 là ngày gia đình của Hải Quân Trung Tá Lê Bá Thông dắt vợ con, trong đó có cậu bé Lê Bá Hùng, leo lên một chiếc tàu đánh cá chen chúc đầy người chạy trốn Cộng Sản với một tương lai bất định. Họ được dương vận hạm USS Barbour County của Hải Quân Hoa Kỳ vớt khi đã hết cả đồ ăn, nước uống và chiếc tàu thì hết dầu. Họ được đưa tới căn cứ Hoa Kỳ ở Philippines, chuyển tới một trại tạm cư ở California rồi định cư ở một thành phố phía Bắc tiểu bang Virginia, nơi họ làm lại cuộc đời.

“Tôi từng nghĩ sẽ về lại Việt Nam một ngày kia nhưng tôi thật sự không tính trước được là mình sẽ trở về trong vai trò hạm trưởng của một chiến hạm Hoa Kỳ,” Trung Tá Hùng nói với báo chí khi bước chân lên bờ hôm Thứ Bảy. “Ðây là một vinh dự cá nhân tuyệt vời.”

“Tôi rất lấy làm tự hào là một công dân Hoa Kỳ và cũng tự hào về nguồn gốc Việt Nam của tôi,” ông Hùng nói trong một cuộc phỏng vấn với báo Người Việt đăng hôm nay.

Cuộc thăm viếng của chiến hạm Lassen tượng trưng cho nỗ lực từ cả hai phía Hoa Kỳ và Việt Nam nhằm gia tăng mối quan hệ như một sự cân bằng với sức mạnh của Trung Quốc ở khu vực mà không muốn làm nước láng giềng phương Bắc khổng lồ của Việt Nam chống lại.

Nằm thẳng về hướng Ðông của Ðà Nẵng là quần đảo Hoàng Sa, nơi Việt Nam và Trung Quốc vẫn đang tranh chấp chủ quyền. Quần đảo này, Trung Quốc chiếm năm 1974 sau một trận hải chiến với Hải Quân VNCH. Nằm xa hơn về hướng Ðông Nam, hai bên cũng đang tranh chấp về quần đảo Trường Sa với một số nước khác trong khu vực. Nơi đây có dấu hiệu tiềm năng dầu khí rất lớn.

Quê ông Hùng ở Huế. Có những tấm hình phổ biến trên mạng cho thấy ông đã cùng chị em tắm biển ở bãi biển Thuận An. Nơi chiến hạm cặp bờ thăm viếng chỉ cách thành phố Huế khoảng 105 km, nơi ông còn nhiều họ hàng.

Quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam thay đổi nhanh chóng sau khi bình thường hóa năm 1995 dưới thời Tổng Thống Clinton. Mậu dịch song phương phát triển nhanh chóng và quan hệ quân sự cũng nhích lên nhưng rất chậm chạp trước sự ngó chừng sát sao của Bắc Kinh.

Việt Nam cần trang bị quân đội và hải quân, không quân cho tối tân hơn, nhưng bị giới hạn bởi ngân sách eo hẹp. Một mặt khác, Hoa Kỳ khó lòng bán võ khí tối tân cho Việt Nam vì phải qua Quốc Hội với nhiều chống đối, điều kiện ràng buộc, phần khác Việt Nam vẫn là một nước Cộng Sản. Ðó là chưa kể tới thái độ của Bắc Kinh cũng góp phần ảnh hưởng. Hai năm qua, Việt Nam mua của Nga 6 tầu ngầm và một số chiến đấu cơ, nhưng không thể so sánh gì với sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Trang bị quan trọng cho quân đội Việt Nam từ trước đến nay đều đến từ Nga, một đồng minh Cộng Sản cũ nay vẫn còn những quan hệ chặt chẽ.

Ông Hùng không còn nhớ nhiều về thời ấu thơ ở Việt Nam nhất là chuyến hải hành 3 ngày trên chiếc tàu đánh cá mà gia đình ông chạy trốn, nhưng ông ghi nhớ những kỷ niệm, hình ảnh của tấm gương mà người cha của ông, Hải Quân Trung Tá VNCH Lê Bá Thông, làm gương cho ông.

Năm nay ông Thông 69 tuổi, chưa hề quay lại Việt Nam lần nào. Khi mới tới Mỹ định cư ở Virginia, ông Thông làm cho một siêu thị để nuôi gia đình. Ông đã đi lên từ người đứng phụ bỏ hàng vào bao (bag boy) và trở thành quản lý (manager) cho siêu thị.

“Tôi luôn luôn muốn như cha tôi.” Ông Hùng nói. “Ông kiên nhẫn và vượt thắng mọi thử thách.”

Trong mấy ngày ở Ðà Nẵng, quân nhân của hai chiến hạm Mỹ sẽ tham dự “các dự án quan hệ cộng đồng tại trường tiểu học Hòa Quý, tham gia các hoạt động thể thao với sinh viên Ðại Học Ðà Nẵng, đón tiếp khách tham quan tàu, và tham quan các địa danh lịch sử và văn hóa quanh Ðà Nẵng”, theo báo SGTT.

Nhiều báo ở Việt Nam loan tin vắn tắt hai chiến hạm Hoa Kỳ bắt đầu thăm viếng Việt Nam 4 ngày từ hôm Thứ Bảy. Họ nói một người Việt Nam làm hạm trưởng nhưng không nói tới chi tiết Hạm Trưởng Trung Tá Lê Bá Hùng là con trai của một Hải quân Trung Tá VNCH.

Trung Tá Hùng tốt nghiệp Học Viện Hải Quân năm 1992, từng được thưởng nhiều huy chương và cũng đã tốt nghiệp trường chỉ huy tham mưu của quân đội Hoa Kỳ. Ông là người gốc Việt Nam đầu tiên làm hạm trưởng một chiến hạm Hoa Kỳ từ cuối Tháng Tư 2009. (TN)



hongvulannhi  
#410 Posted : Friday, November 13, 2009 11:57:27 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)
Tâm tình của những người ở ‘nursing home’

Tuesday, November 10, 2009

UserPostedImage
Bà Nho Nguyễn, 79 tuổi, ở viện an dưỡng Garden Park đã 6 năm,
“Con tui có kêu tui về nhà mà nhà không có người, buồn lắm, nên thôi,
ở đây với ổng luôn.” (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

UserPostedImage
Ông Trân Phan, 87 tuổi, ở viện an dưỡng gần 5 năm, “Ở nhà không có người,
ở đây họ chăm sóc đầy đủ và tốt hơn.” (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

UserPostedImage
Vợ chồng ông Nguyễn Văn Cơ và bà Nguyễn Thị Nhài, “Tội nghiệp cho bà ấy.
Bây giờ bà đau nhưng lại ở đây một mình nên bà buồn lắm.”
(Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
* ‘So với ở nhà thì không bằng’ nhưng ‘cũng vui’
Ngọc Lan/Người Việt

Người tôi tiếp xúc đầu tiên tại viện an dưỡng Garden Park là bà Nho Nguyễn, 79 tuổi, trước ở Bình Thuận, Phan Thiết.

Khi tôi vào phòng, ông Hai Lê, chồng bà, đang nằm trên giường và phải thở bằng máy. Một cơn “đột quị” (stroke) gần 10 năm trước đã khiến ông phải sống đời thực vật, không còn cảm nhận gì về thế giới này.

Bà Nho ngồi trên xe lăn, xem chương trình TV của một đài Việt ngữ. Bà Nho cho biết sang Mỹ được vài năm thì ông Hai bị “tai biến mạch máu não” phải vào ở viện an dưỡng. Trong suốt 4 năm trời, bà Nho ra vào thăm nom, chăm sóc. Nhưng không may, sau đó, bà cũng mắc phải căn bệnh này, nhưng ở mức độ nhẹ hơn.

Vậy là Garden Park trở thành mái nhà cho hai người. Ông Hai ở gần 10 năm, bà Nho cũng đã hơn 6 năm.

Tôi hỏi bà Nho nghĩ gì về cuộc sống ở đây, trong viện an dưỡng này, qua ngần ấy thời gian. “Nếu nói ở đây vui thì cũng vui, nhưng so với ở nhà thì không bằng,” bà trả lời cùng nụ cười buồn.

Ðiều bà nói là đúng. Với những người bình thường, có nơi đâu hơn ngôi nhà của mình, đi đâu, ở đâu, làm gì rồi thì cũng muốn quay về nơi gọi là mái ấm.

“Nhưng mà ở đây thì cũng được, sinh hoạt cũng được, cũng có người Việt, có phòng sinh hoạt chung,” bà Nho nói tiếp.

Ðược biết vợ chồng ông bà cùng một người con trai sang Mỹ từ năm 1993. Do gia đình quá đơn chiếc nên dẫu biết “so với ở nhà thì không bằng,” nhưng bà Nho cũng thừa nhận, “Con tui có kêu tui về nhà mà nhà không có người, buồn lắm, nên thôi, ở đây với ổng luôn.”

Bà Nho kể con trai bà đã có gia đình, “chiều nào đi làm về nó cũng ghé vào thăm tui.” Niềm vui của những người mẹ như bà Nho, có lẽ giờ đây chỉ là những giây phút đó - được thấy con mình vào thăm để biết mình vẫn còn có những ruột rà.

Ông bà còn những 4 người con ở quê nhà. “Con tui bên Việt Nam nghe tui bệnh tụi nó lo lắng, kêu tui về, mà tui về chi được,” bà nói, nước mắt lưng tròng. “Tui nhớ Việt Nam lắm, có về đó ăn Tết một lần rồi, vui lắm... Bây giờ thì làm sao về được nữa...” Giọng bà trở nên xa xăm, tôi thấy lòng mình cũng xốn xang.

Rồi bà nói, như lý giải cho sự lựa chọn của mình, “Tui đi phải có người vịn, có người dắt. Tui bệnh vào đây được chăm sóc miễn phí, đầy đủ. Về bển, bệnh thì phải đưa về thành phố, rồi tiền đâu mà chịu nổi?”

Chia tay vợ chồng bà Nho Nguyễn, tôi cũng chỉ cầu chúc cho bà “sao cho mạnh thêm” như bà mơ ước, để khi Tết về, bà lại “có thể đón xe bus đi Phước Lộc Thọ chơi hay đi chùa” nhìn thiên hạ đón Xuân sang như năm nào.


“Ở nhà không có người, ở đây họ chăm sóc đầy đủ và tốt hơn”


Không có cả chồng cả vợ ở viện an dưỡng như ông bà Nho Nguyễn, ông Trân Phan, 87 tuổi, sống ở Garden Park một mình cũng đã gần 5 năm. “Thực ra ban đầu thì cũng buồn nhưng riết rồi quen. Hơn nữa thấy mọi người phục vụ đều tử tế nên không cảm thấy vấn đề gì nữa,” ông Trân chia sẻ.

Sang Mỹ năm 1992 do con bảo lãnh, ông Trân trước đây là một đông y sĩ, “đây nghề cha truyền con nối. Trước đây ông nội tôi là một thầy thuốc trong triều đình,” ông kể.

Ông cũng là người có đông con, nhưng các con hầu hết đều ở xa. Hiện giờ, ông Trân ở trong viện an dưỡng, vợ ông ở nhà cùng gia đình người con gái. “Nhà tui cũng đau thường xuyên nên không tiện đi lại, chỉ có con gái vào thăm tui thường.”

Tôi hỏi ông về cuộc sống ở viện an dưỡng, ông Trân cho rằng, “Ở nhà không có người, ở đây họ chăm sóc đầy đủ và tốt hơn.” “Ở đây phần đông là người Việt Nam nên cũng có những sinh hoạt, ca hát thường xuyên của người Việt Nam nên cũng đỡ buồn,” ông tiếp.

Cũng như ước mơ của bao người, ông Trân cũng mơ ước có dịp trở về quê nhà nhưng “sức khỏe không cho phép.” Hơn nữa, ngày Tết “con tui cũng chở về nhà chơi một ngày, rồi phải trở vào đây để uống thuốc men cho đầy đủ” thì làm sao có thể thực hiện được những chuyến đi xa dài ngày được.

“Quê hương là nơi chôn nhau cắt rốn làm sao mà không nhớ,” giọng ông trở nên bồi hồi. Hai chữ “quê hương,” với tôi, bỗng dưng trở nên nặng hơn bao giờ...

Ông Trân nhận xét, có lẽ vì ở đây đông người Việt, nên mỗi dịp lễ Tết gì cũng đều có nhiều hội đoàn, các tổ chức thiện nguyện vào thăm nên “cũng vui.” Tôi chạnh nghĩ, “Thế những người phải ở những viện an dưỡng nơi hiếm hoi người Việt thì sao nhỉ?”

Ông Trân nói ông luôn cầu ơn trên cho gia đình ông “luôn bình yên và mạnh khỏe.” Tôi cũng cầu chúc điều đó sẽ trở thành sự thật với riêng ông.


“Thôi đừng khóc, thôi đừng khóc”


Người thứ ba tôi được tiếp chuyện là ông Nguyễn Văn Cơ, 78 tuổi.

Ông Cơ không phải là “thành viên” của Garden Park mà chỉ là người vào thăm nom, chăm sóc vợ ông, bà Nguyễn Thị Nhài, 76 tuổi, sống ở viện an dưỡng đã được 2 năm rưỡi.

Không là cư dân California lâu đời như vợ chồng ông bà Nho Nguyễn hay ông Trân Phan, bà Nguyễn Thị Nhài vào Garden Park rất... tình cờ.

Sau khi cơn bão Katrina qua đi, New Orleans, nơi mà hai vợ chồng ông Cơ cùng các con của mình an cư lập nghiệp kể từ khi đặt chân đến Mỹ năm 1975, trở nên tan hoang. Tất cả túa đi khắp nơi tìm kế sinh nhai, gầy dựng lại cuộc sống.

Hai vợ chồng già đưa nhau về Cali thăm người con gái cũng như tìm nơi an hưởng tuổi già. “Không may bà tui bị té gãy chân, phải mổ và vào đây cho có người chăm sóc,” ông Cơ cho biết.

Trong suốt buổi nói chuyện, bà Nhài dường như khóc suốt. Ông Cơ vừa nói chuyện, vừa quay sang nhẹ nhàng dỗ dành bà, “Thôi đừng có khóc, thôi đừng có khóc.” “Bà tui ở đây buồn nên cứ khóc hoài, chứ thực ra ở đây có nhiều người Việt Nam mà,” ông nói với tôi mà cũng là để an ủi bà.

Tôi hỏi ông có thường vào với bà không, ông Cơ nói, “Trước đây thì tôi vào mỗi ngày. Bây giờ do không có người đưa đón nên mỗi tuần tôi chỉ vào khoảng 2 ngày thôi.” Nhưng “cứ hễ có ai chở cho vào là tui vào ngay, rồi ở từ sáng đến sau khi bả ăn cơm xong, gần 8 giờ mới tôi mới về,” ông kể tiếp. “Tội nghiệp cho bà ấy. Bây giờ bà đau nhưng lại ở đây một mình nên bà buồn lắm. Tôi cứ vào để an ủi bà, ‘Thôi mẹ mày vui lòng vậy, không ai muốn như vậy nhưng mà Chúa bảo mình thế nào thì mình phải chịu chứ không chối cãi gì được Chúa hết.’”

Nhìn bà lặng lẽ khóc, ông ngồi an ủi vỗ về, tôi thấy mắt mình cũng cay cay. Bà cảm thấy cô độc nơi đây, ông ở nhà đao đáo có người nào chở là vào ngay với bà. Những tình cảm đó, hình như không con cháu nào có thể san sẻ hết.

Ông Cơ cho biết thêm, “Trước thì con gái tôi cũng hay vào, nhưng năm nay thì nó cũng bắt đầu yếu nên cũng ít ghé.”

Tôi nắm tay bà hỏi khẽ, “Bác nhớ nhà không?” - “Nhớ nhà chứ. Ở đây hai cái Tết rồi, buồn lắm,” bà nói nhẹ nhàng trong nước mắt.

“Bà ấy buồn vì không có con cái ở gần đây,” ông Cơ tiếp lời. “Riêng tôi thì thấy ở đây vui vẻ lắm. Ngày lễ Tết rất đông người tới, rất vui.”

Trở về từ nursing home, một điều gì đó cứ day dứt, mâu thuẫn trong tôi.

Vào viện an dưỡng là giải pháp tốt nhất cho những người phải nhờ vào sự giúp đỡ, chăm sóc của người khác trong cuộc sống hằng ngày. Suy nghĩ mặc cảm ‘vào viện dưỡng lão là biểu hiện cho sự hắt hủi, quay mặt của con cháu’ cần phải được thay đổi.

Bên cạnh đó, ảnh hưởng văn hóa Á Ðông đã là máu thịt nghìn đời của người dân Việt. Tuổi càng cao lại càng quay quắt nhớ về những năm tháng xa xưa, càng mong có con cháu vây quanh chuyện trò, chia sẻ.

Thế nên!
Thầm mong sao những ánh mắt nôn nao dõi trông được nhìn thấy con cháu sau tan sở của những người đang gửi gắm đời mình trong nursing home sẽ không bao giờ là vô vọng...
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#411 Posted : Friday, November 13, 2009 3:27:52 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)

UserPostedImage
LÃNG ĐÃNG THU VỀ

Thu đã về trên sắc màu của lá
Vàng vàng nâu hay đỏ ối treo cành
Một cơn gió dù thoảng qua rất nhẹ
Cũng đủ làm mất cả nét xuân xanh.

Chỉ mình tôi, hay hầu như tất cả
Nhìn nắng chiều lá úa rụng vàng sân
Gợn thêm chút se lạnh gió về đêm
Lòng nhân thế bỗng thấy buồn man mác

Nỗi sầu ấy tăng dần theo từng tháng
Tháng Tám qua, rồi tháng Chín tháng Mười
Và bầu trời giăng giăng đầy mây xám
Nét Thu buồn phảng phất khắp muôn nơi

Nhớ nhung nhất vẫn mùa Thu Hà Nội
Trời mây vương, sương mù lấp khung trời
Những áo màu, khăn choàng cổ buông lơi
Và một chút mưa phùn bay làm dáng.

Hà nội mùa Thu, sương mù buỏi sáng
Hắt hiu buồn, u ẩn mắt giai nhân
Pha một chút nắng dịu dàng lãng đãng
Cánh chim bay nghiêng ngả, đẹp mơ màng.

Tôi yêu lắm, Hà Nội mờ sương phủ
Mặt trời lên, lấp ló ở chân mây
Cơn gió lạnh se se lòng nhung nhớ
Hồn đắm chìm trong giây phút ngây say.
HONG VU LAN NHI

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Linh Phuong  
#412 Posted : Friday, November 13, 2009 4:01:35 PM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

NGƯỢC GIÒNG
Nguyên Nhung


Hai người đàn bà đứng trước quầy tính tiền của một tiệm thực phẩm Á Châu, họ đang trao đổi với nhau về cách làm món bún chả. Nếu cứ nhìn những thực phẩm khô và rau tươi trên quày hàng, người ta liền liên tưởng đến những món ăn Việt Nam quen thuộc trên mâm cơm hằng ngày của người Việt

Nhưng lạ lắm, một người Mỹ, một người Việt, hai người này rõ ràng là một đôi bạn, vì họ đang trò chuyện cười nói ríu rít. Người đàn bà Mỹ khoảng hơn bốn mươi, đôi mắt xanh hiền hậu với mái tóc vàng óng, nước da trắng lốm đốm những điểm tàn nhang trên đôi má phơn phớt hồng. Còn người phụ nữ Á Ðông là một người Việt Nam, dáng người nhỏ nhắn, vẻ mặt xinh tươi, ăn mặc thật giản dị. Hai người lại trao đổi tiếp tục câu chuyện dở dang, người đàn bà Mỹ lắng nghe với tất cả sự chăm chú, hình như bà ta dự định sẽ làm thêm món bún chả vào ngày lễ Tạ Ơn năm nay,bởi vì món gà Tây đút lò và món bánh bí đỏ tuy thích hợp cho đám trẻ con và gia đình bên ngoại đến chơi, lại vẫn không hợp khẩu vị với bà mẹ chồng và hai cô em gái.

Cứ nghe hai người nói chuyện thì người ta cũng đoán ra bản tính của hai dân tộc đã có tý chút khác nhau khi làm một việc gì. Người Mỹ có thói quen làm theo sách vở, còn người Việt lại chỉ làm theo cảm tính hay bằng sự hiểu biết quen thuộc hằng ngày. Tuy nhiên, cuối cùng thì họ cũng đồng ý với nhau rằng cái lưỡi của loài người là dụng cụ đo lường chính xác nhất, để biết rằng món ăn ấy ngon hay dở, có thể làm hài lòng khẩu vị hết thảy mọi người. Người phụ nữ Việt còn hóm hỉnh bảo bạn, cũng không nên tin hoàn toàn vào cái lưỡi của mình, vì còn tùy theo lúc ấy cái bụng no hay đói, hay khi người không được khỏe, sự nêm nếm cũng vì thế sẽ không chính xác như mình tưởng.

Hóa ra, hai người này là hai người bạn cùng xóm,hay đi chung nhà thờ mỗi sáng chủ nhật. Họ kết thân với nhau cũng chỉ vì có cùng hoàn cảnh khá ngộ nghĩnh, một người phụ nữ Mỹ có chồng Việt Nam và một người đàn bà Việt Nam lấy chồng Mỹ. Ðó là lý do khiến họ tìm đến với nhau để trao đổi một vài khía cạnh khác biệt giữa con người , đối với cuộc hôn nhân dị chủng thì dẫu có hòa hợp bao nhiêu, vẫn xảy ra những điều không hiểu nổi về tâm hồn cũng như văn hóa của hai dân tộc.

* * *

" Chị biết không? Tôi gặp nhà tôi khi chúng tôi học cùng một phân khoa ở trường Ðại Học Clear Lake,nơi ấy có một cái hồ rất đẹp và cũng là thành phố mà gia đình tôi đang cư ngụ. Tôi cũng không hiểu tại sao chúng tôi lại trở thành đôi bạn thân, rồi yêu nhau lúc nào không biết nữa.

Anh ấy sang đây có một mình, tôi nghe anh kể về chuyến vượt biển cam go của anh, và những thảm cảnh xảy ra với những người vượt biển tìm tự do, tôi đã không ngăn được xúc động. Hồi ấy, tôi đã ngạc nhiên mỗi lần thấy anh chăm chú theo dõi tin tức, khi nghe có những thuyền nhân được vào định cư ở Hoa Kỳ, tôi đã hỏi anh rằng tại sao anh và những người đồng xứ lại có thể bỏ quê hương mà đi. Khi nghe anh cắt nghĩa tới hai chữ Tự Do thì tôi hiểu ngay, thông cảm với anh ấy liền vì từ lúc còn nhỏ, mới bắt đầu đi học, chúng tôi đã được biết thế nào là quyền tự do của một con người.

Hóa ra, ở quê hương anh con người bị tước đoạt nhiều thứ tự do mà tôi tưởng nó phải được tôn trọng bất cứ ở đâu, nơi nào có con người là phải được hưởng đồng đều như nhau. Ngoài giờ học, hai đứa tôi cùng làm thêm ở thư viện, có điều kiện gần gũi nhau nên chúng tôi trở thành một đôi bạn thân. Nhìn lối làm việc chăm chỉ của anh, cần mẫn, ngăn nắp, tôi thật sự bị rung cảm với con người đầy vẻ chịu đựng đó. Bản tính anh hiền hòa, dường như trong đôi mắt đen kia còn chất chứa một nỗi buồn sâu kín nào đó mà tôi không hiểu nổi, khi anh ngồi hằng giờ nhìn ra mặt hồ sóng lăn tăn, im lặng như có một cõi riêng mà tôi rất muốn chia xẻ.

Người Mỹ chúng tôi là thế. Chúng tôi không chủ trương xâm phạm vào đời sống riêng tư của nhau, nhưng nhìn nét u uẩn trong đôi mắt anh với dáng ngồi lặng lẽ hằng giờ, tôi đoán anh đau khổ mà nếu anh cho phép, tôi rất muốn chia xẻ. Anh càng buồn tôi càng băn khoăn, và từ nỗi băn khoăn đó tôi đã yêu anh ấy, khi ra trường thì hai đứa quyết định lấy nhau.

Vào mùa hè, tôi thường rủ anh đi biển với gia đình tôi. Lúc ngồi bên ghềnh đá, nhìn từng cơn sóng vỗ vào bờ, tôi thường bắt gặp anh chìm đắm trong một nỗi niềm xa xăm, dường như mỗi lần tới biển, anh thường bị ám ảnh vì một điều gì không xóa được trong tâm khảm. Tôi chưa hề xa đất nước này bao giờ, chỉ có những chuyến du lịch ngắn đầy vui tươi với gia đình, cho nên hồi ấy tôi chưa thể thông cảm hết được nỗi nhớ nhà của một kẻ xa quê, mà anh ấy gọi là tình hoài hương.

Thật ra, khi yêu anh, tôi cũng bị ảnh hưởng phần nào lối suy nghĩ của một tâm hồn Á Ðông, thì ra nó có nhiều điều phức tạp mà nếu không có tình yêu, người ta không dễ gì hòa hợp được với nhau để trở thành một. Cuối cùng khi hai đứa lấy nhau, tôi mới thực sự thấy được sự ngược nguồn của những giòng sông. Anh qua đây có một mình, gia đình còn ở lại Việt Nam, cho nên khi chấp nhận lấy anh, là tôi cũng phải chấp nhận luôn việc chia xẻ gánh nặng vật chất với gia đình ở bên kia.

Tuy nhiên, tôi có nhận thấy điều này, khi cho rằng chia xẻ chỉ là tự nguyện và tùy theo khả năng, chứ còn lúc biến nó thành bổn phận thì nặng nề quá. Tôi thẳng thắn bày tỏ với anh điều này, nhưng không ngờ tôi thực sự bị " xốc" khi anh phản kháng lại tôi ngay lập tức, mà nếu không khéo thì cuộc hôn nhân có mòi bị tan vỡ. Biết làm thế nào bây giờ, vì người Mỹ chúng tôi nghĩ khác. Tôi không ích kỷ để bỏ mặc anh với những điều trăn trở vì gia đình ở bên kia, nhưng tôi cũng không thể bằng lòng khi anh phải lo lắng quá nhiều như vậy.

Hình như người Việt của chị có quan niệm hướng về gia đình , và những người thân yêu của họ. Cũng vì thế mà đi hơi xa mức giới hạn của họ trong đời sống gia đình của người khác. Cái này chị cho tôi nói hết nghe, vì theo tôi nó có hợp lý và cũng bất hợp lý theo cách nhìn của một người Mỹ. Nó có cái hay vì nó biểu hiện được sự chia xẻ và tình thương yêu của một gia đình thuần nhất, nhưng mà ... biết nói thế nào nhỉ, ăn nhiều quá cũng mất ngon, mà nói nhiều quá cũng có thể lỡ lời ( câu này tôi học được từ chồng tôi đấy nhen chị). Tuy vậy, theo tôi mình phải tìm ra một giải pháp để quân bình giữa hai cái với nhau, để không vì được cái này mà lại mất cái kia đó mà.

Từ ngày lấy anh ấy đến nay, tôi thấy mình đổi khác nhiều lắm. Một cuộc hôn nhân dị chủng, nhưng giờ đây ngôn ngữ không là vấn đề nữa vì chúng tôi đã có thể hiểu nhau sau khi cùng nhau ngồi xuống nói chuyện, thành thật bày tỏ cho nhau hiểu nỗi khó khăn vì khác biệt tư tưởng , và cách hành xử sao cho dung hòa với nhau để gia đình hạnh phúc. Cuối cùng thì anh ấy cũng làm đầy đủ giấy tờ để mang gia đình sang bên này, sau khi nói với tôi rằng nếu không làm được điều đó, anh cảm thấy như mình có lỗi, khi việc ra đi tìm Tự Do của anh, là do sự hy sinh của tất cả người thân trong gia đình. Chúng tôi đã hoàn toàn hiểu nhau, và tôi cũng hiểu khi chấp nhận làm vợ anh, là tôi cũng phải hy sinh phần nào chút riêng tư để cùng anh ấy làm tròn bổn phận.

Ba anh ấy đã qua đời, nhưng mẹ anh ấy lại thật hiền. Chúng tôi đã một lần về thăm nhà ở Việt Nam, nhìn bà cụ già ôm mấy cháu nội hai giòng máu vào lòng, nụ cười móm mém, đôi mắt bà đầy những thương yêu, tôi nghĩ mình không thể ích kỷ để chỉ lo cho hạnh phúc của riêng mình, mà phải cùng anh ấy giúp đỡ mẹ anh và các em của anh. Bây giờ mẹ anh và hai cô em gái đã sang đây, mới đầu tôi cũng hơi lúng túng khi không biết giải quyết thế nào để cuộc sống đừng bị xáo trộn. Nhưng chị à, nhà tôi anh ấy cũng thật tế nhị, cho nên vì thế mà chưa có gì đáng tiếc xảy ra. Hai cô em đã đi làm, họ sống chung với mẹ trong một căn chung cư hai phòng ngủ, và bây giờ khi tôi muốn đi đâu xa mà không dẫn con theo, có thể gửi bé út cho bà nội và hai cô trông giùm.

Hồi gia đình anh ấy chưa sang, tôi chỉ hay làm thức ăn theo lối Mỹ để cả nhà cùng ăn. Sau này, anh ấy dẫn tôi và các con đi ăn nhà hàng Việt Nam, tôi lại thấy thích những món ăn Việt. Thế là tôi đề nghị anh ấy chỉ dẫn, và cho tới khi gặp chị, tôi mới hoàn toàn thực hiện được cho thật hoàn chỉnh. Ðàn ông mà chị, anh ấy nói hồi còn ở nhà, anh ấy có bao giờ phải lo gì đến việc bếp núc, đã có mẹ, chị hay em gái làm tất cả. Người Việt của chị hình như quý con trai hơn con gái, cho nên cách đối xử cũng hơi bất công đấy nha! Tôi không hoàn toàn đồng ý chuyện này đâu, vì con trai hay con gái cũng là người mà thôi, có lẽ vì vậy mà người ta khó có thể tìm được cái họ gọi là dân chủ ở nước chị, vì trong phạm vi nhỏ bé gia đình, đã không thực hiện được dân chủ rồi, huống gì cho một quốc gia “độc đảng chuyên chế” như vậy thì chuyện ấy lại càng khó.

Tuần trước, chị chỉ cho tôi làm món chả cá Thăng Long theo kiểu Hà Nội. Chị biết không? Hôm ấy nhà tôi ngạc nhiên lắm, vì anh không thể ngờ tôi lại có thể làm được một món ăn cầu kỳ như vậy. Cá ướp nghệ, riềng, mẻ, mắm tôm, thêm ít gia vị mà nướng trên lửa than thơm phức, sau đó lại rắc thìa là sắt nhỏ lên mặt trước khi ăn, cùng những thứ rau phải có để ăn kèm với bánh tráng cuộn lại, chấm nước mắm chua ngọt hay mắm tôm chanh ớt. Tuyệt lắm chị à, nhưng lúc phải pha chế món mắm để ăn với nó, thú thật với chị tôi ớn quá. Sao lại có thứ mắm gì nặng mùi quá sức như vậy, tôi không đủ can đảm để làm món đó ở trong nhà, vì nó sẽ bám vào thảm và đồ đạc, cho nên tôi phải nhờ chị giúp là vậy.

Người ta bảo " tình yêu đi qua bao tử ". Mới nghe thì có vẻ nặng mùi vật chất, nhưng công nhận từ hồi tôi biết nấu nướng, thỉnh thoảng hay làm những món ăn mà chồng tôi thích, tôi thấy hình như anh ấy thương tôi nhiều hơn, hạnh phúc nhiều hơn. Thứ nhất là được ăn ngon, thứ hai là anh ấy cũng nhận thấy được tình yêu của tôi dành cho anh ấy và gia đình, đã phải bỏ nhiều thì giờ hiếm hoi trong cuộc sống vật lộn với vật chất của xứ này, khi thực hiện những bữa ăn tốn kém khá nhiều thì giờ như vậy. Lũ con tôi mê món cơm chiên với chả giò nhất hạng, người Tàu cũng có món này nhưng chúng không thích vì nó trộn nhiều bắp cải và món cơm chiên thì nhiều dầu quá.

Lễ Tạ Ơn năm nay có gia đình bên ngoại cuả mấy nhỏ đến chơi, nghe tôi kể về món bún chả ai cũng tò mò muốn được thưởng thức. Riêng mẹ chồng tôi chắc hẳn bà cụ sẽ ngạc nhiên lắm, nếu cần hai cô em chồng sẽ phụ tôi một tay để làm món này, cách pha nước mắm chị chỉ hôm nọ, ngon đến nỗi ăn xong rồi húp luôn nữa đó. Mẹ chồng tôi chắc sẽ không thể ngờ rằng con dâu Mỹ cũng biết chiều mẹ chồng như phụ nữ Việt Nam vậy.”

* * *

" Ðúng ra tôi không thích lấy chồng ngoại quốc đâu, nhất là lúc còn ở quê nhà, người xứ sở tôi hay nhìn những người phụ nữ lấy chồng nước ngoài với cái nhìn không đẹp. Ðừng trách họ nghe chị, vì thời đó họ còn bảo thủ lắm, tư tưởng phong kiến vẫn ít nhiều còn tồn tại trong những gia đình Việt Nam. Với lại, hồi đó là thời kỳ chiến tranh, đa số những người đàn ông đến nước tôi chỉ đi tìm đàn bà để giải quyết sinh lý, ít có những cuộc tình trọn nghĩa yêu thương. Cho đến bây giờ, trên xứ sở này, vẫn có nhiều gia đình phản đối con cái khi kết hôn với người nước ngoài.

Ðiều ấy cũng dễ hiểu thôi, vì nói cho cùng thì sự khác biệt về phong tục cũng như văn hóa dễ đưa đến sự đổ vỡ. Tôi công nhận điều này không phải là họ hoàn toàn sai, vì chính tôi lắm lúc cũng vẫn ngược nguồn với nhà tôi để trở về với những gì của dân tộc, nhất là về mặt tư tưởng thì thật sự có khác nhau đó, khi tôi đã được ảnh hưởng nó từ hồi còn thơ bé.

Ðôi khi người ta vẫn có cái nhìn thiển cận khi đánh giá một sự việc hời hợt bên ngoài, chứ thật ra tôi rất cảm phục những người phụ nữ Mỹ như chị. Chị có thể thay anh làm được tất cả những việc đòi hỏi sức khỏe của người đàn ông, sửa chữa nhà cửa, xốc vác nhiều việc nặng nhọc mà người đàn bà xứ tôi không làm được, vì quan niệm đàn bà "chân yếu tay mềm". Thế nhưng những việc nấu nướng, thêu thùa, vá may tỉ mỉ thì công nhận người đàn bà Á Ðông có năng khiếu hơn, và họ thường tự hào về điều đó.

Bây giờ tôi kể lại chị nghe chuyện tại sao tôi lại kết hôn với nhà tôi nghe, cái ông David "gà tồ" lúc nào cũng hay cười nói huyên thuyên vui vẻ đó. Người nhà tôi trách tôi tại sao lại ly dị với người chồng Việt Nam, để kết hôn với một người Mỹ, nhưng câu chuyện này nó dài lắm, tôi chỉ tóm gọn để chị hiểu tại sao tôi thương yêu ông David nhà tôi nghe chị.

Chị còn nhớ những thập niên trước, lúc làn sóng những người đi tìm Tự Do ào ạt bỏ quê hương ra đi, chắc chị đã nghe anh kể chuyện và cũng thông cảm với anh lý do tại sao lại có những người phải bỏ quê hương, xứ sở ra đi. Tôi là một trong những người ấy đó chị. Bây giờ chuyện đã cũ, nhưng nhắc lại tôi vẫn bàng hoàng và tưởng như cả đời mình chẳng bao giờ quên nổi những ô nhục, đớn đau mà mình phải chịu.

Tôi là người phụ nữ không được may mắn vì chuyến vượt biển của tôi đã gặp tụi hải tặc Thái Lan, và cũng như bao phụ nữ trong chuyến tàu hôm ấy, tôi đã bị chúng nó làm nhục. Chị là người phụ nữ, có lẽ chị thông cảm cho một người đàn bà khi bị tước đoạt những gì cao đẹp nhất, do sự đòi hỏi thô bỉ của đàn ông, không do sự dâng hiến của tình yêu. Bởi vậy khi được cứu thoát, và cho đến lúc được định cư ở xứ này, tôi vẫn bị ám ảnh vì những bất hạnh đau đớn đó. Thú thật với chị là trước khi gặp David, tôi cũng có yêu thương một người cùng quê, anh ấy là người bảo trợ cho tôi từ đảo sang, dù rằng tôi có nói với anh những điều nhục nhã mà tôi cũng như những người phụ nữ gặp phải trong chuyến đi ngày đó.

Anh ấy nói với tôi là hoàn toàn thông cảm và cho đấy là nỗi bất hạnh của người con gái Việt Nam, nỗi đau chung của cả một dân tộc chứ không phải cho riêng ai. Thế nhưng nói một đằng mà đến khi sống với nhau lại không phải vậy, chỉ vì những lời đàm tiếu thiếu tế nhị của những người cùng hoàn cảnh với chúng tôi. Mỗi khi nhắc nhau về những chuyện cũ, họ vẫn hay nói ra những điều đau đớn riêng tư của người khác , không biết với ý đồ gì, nhưng cũng chỉ vì quá khứ cứ quấn quýt họ hoài, mà không nghĩ là lại lôi kéo chúng tôi trở lại niềm đau cũ. Họ hoài niệm dĩ vãng của họ, nhưng cũng hay nhớ đến dĩ vãng của người khác, như lại làm vết thương mưng mủ khi nó đã thành sẹo. Ðiều đó thật là kỳ cục phải không chị?

Thật mệt mỏi cho một số người hẹp hòi hay đàm tiếu trên nỗi bất hạnh của người khác. Chính vì thế mà làm cho cuộc hôn nhân của tôi tan vỡ, vì tôi cũng không chịu nổi vẻ mặt buồn rầu, đóng kín trong sự im lặng riêng tư của người chồng cũ. Anh ta thương tôi chứ không phải không, nhưng chính vì không bỏ qua được cái đau khổ của dĩ vãng, nó chỉ là chuyện chẳng ai mong đợi, để mỗi khi nghe ai nói đến vấn đề này, anh lại có mặc cảm như tôi làm điều gì xấu xa vậy.

Tôi có một quan niệm. Ðời bình thường chưa chắc gì tránh khỏi lầm lỡ, huống gì đây chỉ là một tai nạn cho những người phụ nữ Việt Nam, mà hoàn cảnh đất nước đưa đẩy đã phải tội tình gánh chịu. Cuộc sống đâu phải một mặt nước phẳng lặng, cho nên khi có xung đột trong gia đình, tôi vẫn phải cúi đầu chịu đựng nỗi cay đắng một mình. Cho nên giải pháp cuối cùng là chia tay. Ðồng ý là khi tan vỡ, tôi cũng đau khổ vậy, nhưng nhờ thế tôi mới có cơ hội biết rằng đời vẫn có những người đàn ông tốt, không quẩn quanh mặc cảm, đầy thành kiến với thứ dĩ vãng buồn khổ, mà đúng ra cần phải gột bỏ để vươn lên những điều tốt đẹp.

Tôi gặp David khi đến một cơ quan xã hội để nhờ giúp đỡ tìm việc làm. Không hiểu sao tôi kể cho ông ấy nghe hết những gì xảy ra trong đời tôi, và chị biết điều gì xảy ra không? Ông ấy đã khóc khi nghe tôi kể hết những bất hạnh tôi phải chịu. Ông ấy nói rằng chính đất nước ông cũng phải chịu trách nhiệm trước những bất hạnh này, vì đã không hết lòng giúp đỡ người anh em bé nhỏ của mình, để gây ra bao thảm cảnh cho người dân Việt Nam. David đưa tôi đi nhà thờ, sinh hoạt với người bản xứ, giúp tôi quên đi quá khứ tủi hờn để hòa nhập vào một xã hội hoàn toàn hướng tới tương lai. Những gì xảy ra hôm qua là dĩ vãng, những gì hôm nay là hạnh phúc và sự hiến tặng của Thượng Ðế trong mỗi ngày cho con người, và những gì sắp tới sẽ là những khám phá kỳ thú hơn.

Tại sao lại cho rằng việc kết hôn với một người ngoại quốc là một sự lầm lẫn để không tìm được hạnh phúc. Mỗi dân tộc đều có những cái hay cái dở, cái xấu cái tốt, vậy thì tại sao không dung hòa với nhau để tìm ra điều tốt để theo, điều xấu phải loại bỏ để cuộc đời tươi đẹp hơn. Từ ngày lấy David, không bao giờ tôi nghe ông ấy nhắc nhở những riêng tư của tôi trong quá khứ, và vẫn rất hãnh diện khi giới thiệu tôi với gia đình, bè bạn. Họ chấp nhận và yêu thương tôi, khiến tôi tự tin và tự nhiên tâm hồn cũng theo chiều hướng đó mà thích yêu thương, chia xẻ với mọi người.

Tôi đã đưa David về thăm quê hương, bởi vì anh ấy muốn nhìn rõ sự vươn lên của một đất nước sau chiến tranh ra sao. David cùng công nhận với tôi một điều, tất cả những mặt nổi của bên ngoài không giúp gì cho người dân bao nhiêu, đất nước vẫn còn qúa nhiều người nghèo,một xã hội loè loẹt màu sắc và băng hoại vì chạy theo đồng tiền khiến tôi cũng cảm thấy đau lòng cho quê hương của mình .

Chuyến trở về quê hương của chúng tôi vừa qua thực sự làm tôi xúc động lắm chị à. Tôi với David đi thăm những người thương phế binh bị bỏ rơi sau cuộc chiến, hiện tại họ vẫn là những cái bóng lẻ loi, đơn độc trong một xã hội lắm thành kiến chính trị. Chúng tôi cũng vào thăm chỗ nuôi trẻ mồ côi hay khuyết tật, thật sự ái ngại cho đời sống của chúng nó, mong sao sự giúp đỡ cuả những tấm lòng nhân ái, có thể những con người vô tội ấy được sống một cuộc sống tối thiểu no ấm để làm người. Mỗi người đều có một quê hương như ai cũng có một mẹ vậy, tôi vẫn giữ trong lòng những cái đẹp của dĩ vãng trên quê hương, nhưng đồng thời tôi cũng phải mang ơn xứ sở tôi đang sống, đã giúp tôi có cơ hội để nhìn lại quê hương của mình, bản thân mình mà biết cái gì phải quên và cái gì phải nhớ.

À quên. Chị hỏi tôi về món bún chả để ăn vào ngày Lễ Tạ Ơn năm na y phải không chị? Có lý lắm khi chị đã nghĩ tới bà mẹ chồng Việt Nam, chắc hẳn không quen với món gà tây và món bí đỏ tuyệt cú mèo cuả người Mỹ. Nhưng chị muốn làm theo kiểu nào, vì quê tôi có tới ba miền Trung, Nam, Bắc, mỗi nơi cũng dùng thịt heo để nướng nhưng lối dùng gia vị thì có khác nhau tý chút. Người Nam hay cuộn tròn miếng thịt bên ngoài một miếng mỡ heo xắt mỏng, họ ướp đường nhiều hơn nên khi ăn có vị ngọt ngọt. Còn người Bắc lại dùng thịt pha mỡ, họ chỉ ướp củ hành và chút nước mắm ngon với tiêu thôi. Riêng người miền Trung thì không thể thiếu ít hột mè cho miếng thịt thơm và bùi hơn đó chị. Nhưng với tôi, kiểu nào cũng ngon hết, miễn là mình gửi vào đó cái tình của mình đến với những người mình yêu thương và muốn phục vụ, phải không chị?"
NGUYÊN NHUNG.


Hà Phương Hoài  
#413 Posted : Friday, November 13, 2009 7:21:35 PM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,237
Location: USA

Thanks: 144 times
Was thanked: 102 time(s) in 61 post(s)
quote:
Originally posted by langthang09
Cờ Bạc

Cờ bạc và lễ hội là một trong những đặc thù của nền văn hóa cổ truyền Việt Nam. Xã hội cổ Việt Nam xây dựng trên căn bản nông nghiệp. Dân Việt, qua lịch sử, làm lụng rất chăm chỉ, vất vả và lam lũ. Công việc đồng áng mỗi ngày bắt đầu từ sáng sớm trước khi mặt trời mọc và chỉ ngừng lúc tối mịt không còn thấy gì cả; chứ không phài như thời buổi bây giờ chỉ làm 8 tiếng một ngày và 5 hay 6 ngày một tuần. Tết nhất, lễ hội là lúc duy nhất để nghỉ ngơi, xem hội, giải trí và… đánh bạc. Tại Việt Nam, ngoại trừ một thời gian ngắn dưới thời kỳ Pháp đô hộ, tổ chức cờ bạc qui mô do tư nhân đề xướng, như xòng bài chẳng hạn, vẫn còn được xem là bất hợp pháp và bị cấm ngặt. Tuy nhiên, trong những ngày tết, ngày hội, dân chúng, và ngay cả trẻ con, được phép tha hồ vui chơi, đỏ đen. Người lớn thì đua thuyền, đấu vật, tổ tôm, tam cúc, tứ sắc, xóc đĩa, tài bàn, xì phé, xì dzách [bài 21…] Trẻ con thì đánh đáo, lắc bầu-cua-cá-cọp … Nhưng ngay sau ngày tết, ngày lễ hội, người thắng, người thua, nam phụ lão ấu đều trở về lại với công việc hàng ngày; và chờ mong ngày lễ hội kế đến. Cờ bạc không hề là một vấn đề kinh tế hay xã hội gì mà dân Việt phải quan tâm: mọi người đều hoan hỉ, vui thú!.....................
TRẦN VĂN GIANG



Tặng những ai thích trò chơi đổ bác
Ðổ Bác Thần

Ðổ Bác là ta đệ nhất thần
Không oai nọ ác, chẳng hung hăng
Người người say đắm, ưa gần gũi,
Ai đã theo rồi gia đạo tan.

Quân lính hầu ta đủ loại danh
Khi vuông, khi dẹp lúc vô hình
Mềm như giấy mỏng, xinh hoa mộng,
Cứng tựa gang, ngà, khi giống tranh.

Tùy cỡ tùy thời ta gặp nhau
Khi ta hạ giới thả cơ cầu
Ai theo ai lánh ta nào thiết
Khi đã nhìn ta ắt khởi đầụ

Ai đã theo ta sẽ khó rời,
Cơm bưng rượu rót hết đời thôi
Cái con từ đó thân tàn tạ
Mọi kẻ thân thương cũng tránh rời!

Mấy kẻ theo ta được ấm thân,
Giầu sang phú quý phúc trăm phần
Mặc ăn lại được thêm tươm tất
Ðưa cả gia cang thoát khó bần

Ta chẳng hung tàn khoe móng vuốt
Chẳng ưa dọa nạt, bắt ai theo
Vì ta là ảnh, hư hư thực
Trái lại chung tình khi được yêu.

Ai được ta thăm, sẽ suốt đời,
Theo ta bầu bạn lúc nhàn ngơi
Rồi sau chẳng thiết lúc nào rỗi
Cần kẻ chung đường ắt sẽ chơi.

Ta đem may rủi đến cho đời,
May thì chỉ một rủi mười mươi,
Khi may phân, chỉ ắt là lớn
Rủi đến lượng muôn, mất vốn lời!

Phải biết rằng ta Ðổ Bác thần
Nôm na Bài Bạc chốn gian trần
Ðứng đầu tứ ác trong thiên hạ
Tự cổ tung hoành chưa bại phân!

Ðổ Bác là ta, đệ nhất thần
Theo ta danh liệt mất người thân
Tránh ta là tránh thân danh liệt,
Là tránh ngày đêm sống thất thần.

hà phương hoài

Hoàng Thy Mai Thảo  
#414 Posted : Friday, November 13, 2009 10:40:29 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,298

Thanks: 6947 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
Năm khu vực có thể động đất lớn
tka23 post
Los Angeles - Mỹ


Các trận động đất đã từng tàn phá một vài nơi ở Los Angeles trong quá khứ. Vào năm 1994, một trận động đất với cường độ 6,7 độ richter đã đánh sập toàn bộ khu Northridge của Los Angeles, phá hủy toàn bộ đường đi bộ, hơn 70 người bị thiệt mạng và gây thiệt hại khoảng 20 tỉ USD.

UserPostedImage

Nhưng theo các nhà khoa học trong tương lai những trận động đất còn gây thiệt hại hơn nữa tại Los Angeles . Theo các quan trắc địa lý thì cứ mỗi 150 năm, Los Angeles lại bị động đất một lần. Thành phố Los Angeles nằm dọc theo vùng cực nam của vết đứt gãy San Andreas, cũng nơi đây vào năm 1857 từng chứng kiến một trận động đất dữ dội với tâm chấn đo được là 7,9 độ richter.

Mặc dù trong vòng 15 năm qua, thành phố Los Angeles đã xây dựng khá nhiều tòa nhà và cơ quan y tế khang trang và vĩ đại, thậm chí tốt hơn các thành phố khác trên đất Mỹ. Một trận động đất với mức độ tàn phá lớn có thể sẽ xảy ra tại thành phố này trong tương lai.
Tokyo - Nhật Bản

UserPostedImage

Nhật có diện tích khu vực tương đương với diện tích của California (Mỹ), Nhật Bản có kiến tạo đĩa địa chất không ổn định. Quốc gia gồm 4 hòn đảo lớn này luôn phải đối mặt với nhiều trận động đất với các cường độ tàn phá khác nhau.
Dân số của Nhật Bản lại lớn hơn bang California gần 4,5 lần, và phần lớn dân cư Nhật Bản lại sống đông đúc tại các thành phố. Điều đó vô hình trung tạo nên nỗi ám ảnh đáng quan ngại về khả năng "chết chùm", nếu xảy ra động đất, không nhiều thành phố có mật độ dân số đông khủng khiếp như thủ đô Tokyo: 13 triệu người.

Vào năm 1923, thủ đô Tokyo từng chịu một trận động đất kinh hoàng: 150.000 người bị thiệt mạng. Mặc dù Nhật Bản đã xây dựng khá nhiều các công trình cơ sở hạ tầng, kiên cố và cả những tòa nhà có mức độ chống động đất rất cao, nhưng các nhà địa chất học vẫn lo lắng về một trận động đất lớn hơn trực tiếp đe dọa Tokyo và những thiệt hại nhân mạng và tài sản có lẽ cao hơn con số 1.000 tỉ USD.
Tehran - Iran

UserPostedImage

Toàn bộ đất nước Iran nằm lọt thỏm trong vùng chịu nhiều ảnh hưởng động đất, và trong quá khứ quốc gia Hồi giáo này từng chịu nhiều trận động đất khủng khiếp, điển hình là trận động đất vào năm 2003, với dư chấn động đất lên tới 6,8 độ richter, cả thành phố cổ đại Bam bị hủy hoại và làm thiệt mạng hơn 30.000 người.

Hiện tại các nhà địa chất học chính thức tuyên bố rằng trong tương lai, Tehran sẽ lại bị ảnh hưởng bởi một trận động đất rất lớn , ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của hơn 7 triệu người dân đang sinh sống.
Không giống như các tòa nhà chống động đất hiện đang được xây dựng tại các đô thị gặp nguy hiểm động đất như San Francisco (Mỹ) và Tokyo (Nhật Bản), các tòa nhà tọa lạc tại thủ đô Tehran thường được xây dựng khá lỏng lẻo, và nhiều cư dân Tehran hiện đang sinh sống trong nhiều ngôi nhà không được xây dựng bằng sắt thép kiên cố, và cũng bởi vậy mà họ dễ là nạn nhân đầu tiên một khi nhà bị sập khi có dư chấn động đất.
Bộ Y tế Iran ước tính rằng trong tương lai sẽ có một trận động đất với dư chấn khoảng 7 độ Richter, làm sập hơn 90% các bệnh viện tại Tehran. Chính quyền Tehran hiện đang có kế hoạch dời thủ đô đến địa điểm khác, an toàn hơn.
Tây Bắc Thái Bình Dương

UserPostedImage

Những trận mưa như trút nước từng ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của các cư dân vùng Cascadia, nơi có diện tích xấp xỉ bằng bang Oregon (Mỹ). Các cư dân ở bang California sống gần bên Cascadia đang nơm nớp lo âu bị vạ lây bởi một trận động đất phát sinh từ ông hàng xóm này.
Được biết, Cascadia nằm trên nóc của một trong những vết đứt gãy chính, nhưng động đất không thường xuyên xảy ra ở đây. Một trong những trận động đất khủng khiếp đã từng xảy ra ở Cascadia vào năm 1700, với cường độ lên tới 9,2 độ richter làm hủy hoại toàn diện địa phương này. Các chuyên gia địa chất dự báo rằng cứ mỗi 500 năm, Cascadia lại hứng chịu một trận động đất. Tuy nhiên, các thành phố nằm ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương như Seattle và Vancouver sẽ ít chịu ảnh hưởng hơn là thành phố San Francisco và Los Angeles, vì vậy một khi động đất xảy ra, vùng Tây Bắc Thái Bình Dương sẽ là nơi bị nạn trước tiên.
Indonesia

UserPostedImage

Đảo quốc này được mệnh danh là "Vòng lửa Thái Bình Dương", nơi tập hợp một vòng bán nguyệt các đĩa đứt gãy và các miệng núi lửa nằm dọc theo bờ biển Thái Bình Dương, từ New Zealand đến Chile. Là quốc gia chịu nhiều nguy hại động đất nhất trên hành tinh, "Vòng lửa Thái Bình Dương" luôn phải đối mặt với vô số trận động đất, các vụ phun trào núi lửa và các cơn sóng thần, bao gồm cả cơn sóng thần trên biển Ấn Độ Dương vào năm 2004 đã tiêu diệt 230.000 người, hầu hết là cư dân thuộc khu vực Đông Nam Á.
Trong thảm họa sóng thần này, vùng duyên hải phía bắc của hòn đảo Sumatra thuộc Indonesia bị thiệt hại nặng nề với gần 1.000 người bị thiệt mạng.

Các nhà địa chất học nhấn mạnh rằng trong tương lai, Indonesia sẽ đối mặt với nhiều thảm họa thiên nhiên có mức độ tàn phá lớn hơn rất nhiều
hongvulannhi  
#415 Posted : Saturday, November 14, 2009 1:25:23 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)

UserPostedImage

Dấu Yêu ơi,

Tối qua LN đi ngủ rất sớm, vì cảm thấy khó thở quá, sau khi đã đi bộ ngoài hành lang và hít thở không khí lạnh lẽo của đất trời. Có lẽ đây là lần đầu tiên LN biết thế nào là ngộp.

LN nhớ lại lời bs nói: hơi thở của LN ngắn. Có lẽ LN phải tập thở dài hơn.

Thực tình, sáng nay thức giấc, thấy dễ chịu hơn, nhưng vào đọc bài thơ Đổ Bác Thần của anh HPH, qua bài Cờ Bạc của anh LT post trước đó, cộng thêm bài Tâm Tình của những người trong Nusing Home, và cuối cùng là bài của HTMT về 5 trận động đất lớn, trong đó có Ló Angeles, LN không còn muốn pha cà phê dù là pha trong cái nồi ngồi trong cái cốc với 20 giọt đen nhánh rơi xuống đáy ly thuỷ tinh trong veo nữa.

LN ngồi thừ người ra một lúc, bỗng thấy mình chỉ là kẻ thương vay khóc mướn mà thôi.

Đổ Bác Thần đã nói rõ rồi, theo Đổ Bác Thần thì vui cũng có đấy, cũng được giàu có, sung sướng, nhà cao xe đẹp, nhưng, Thần cũng nói tiếp:

Ta đem may rủi đến cho đời,
May thì chỉ một rủi mười mươi,
Khi may phân, chỉ ắt là lớn
Rủi đến lượng muôn, mất vốn lời!

Rõ ràng rồi nhé. Vậy mà cứ nhắm mắt theo thần là cuộc đời có xuống dốc cũng không than trách ai được.

Thần Đổ Bác còn quả quyết:

Phải biết rằng ta Ðổ Bác thần
Nôm na Bài Bạc chốn trần gian
Ðứng đầu tứ ác trong thiên hạ
Tự cổ tung hoành chưa bại phân!

Và Thần Đổ Bác dù sao cũng còn lòng nhân đạo, khuyên mọi người nên xa lánh Thần, bởi Thần biết Thần được nhiều người thương yêu, quí nến lắm, cứ muốn ngày đêm cặp kè, chẳng muốn rời! Có nhiều người dám bỏ vợ bỏ" chồng, chứ chẳng bao giờ dám bỏ Thần Đổ Bác.

Ðổ Bác là ta, đệ nhất thần
Theo ta danh liệt mất người thân
Tránh ta là tránh thân danh liệt,
Là tránh ngày đêm sống thất thần.

Xong phần Cờ Bạc, LN lại nghĩ đến anh Linh, khi post bài Tâm Tình Những Người già trong nursing họme. Bởi vì, khi anh Linh trong lúc đau ốm, đã tỏ ý muốn vào nursing home ở để cho có người lo lắng săn sóc. Ở nhà, thui thủi một mình, con cái bận lo mưu sinh, vợ thì cũng đau yếu, các em như chị Hồng hay LN cũng chỉ đến thăm trò chuyện trong vài giờ thôi ... Nhưng khi anh đề nghị vào núing home, thì cả nhà ai cũng quyết liệt phảm đối. LN đã từng nghe nhiều người già nói rằng, vào trong núing home thì sẽ ra đi nhanh hơn, vì buồn chán, vì tinh thần xuống rất nhanh.

LN lại nhớ đến thời ở Việt Nam năm 1968, Bố LN đau, bs Nguyễn Hữu là BS gia đình, thân thiết và bs Hữu tự coi như là con trai của Bố LN vậy. bs Hữu là giám đốc của bệnh viện Bình Dân. Chỉ nội cái tên cũng thấy là nhà thương chữa thí, không lấy tiền những người nghèo. Vì vậy, Bố LN muốn vào nằm trong bệnh viện Bình dân để bs Hữu chữa, không ai trong gia đình đồng ý hết. Gia đình LN đã có một buối họp đại gia đình, gồm 8 trai, 3 gái cộng thêm dâu, rể để quyết định. Để Bố nằm trong bệnh viện Bình Dân, sẽ bị họ hàng bạn bè cười chê, mà đưa Bố vào nhà thương Saint Paul thì bs Hữu không có quyền chữa trị tại đó.

Cuối cùng, anh Huỳnh là trai trưởng, quyết định, dẹp bỏ mọi cười chê, làm theo ý muốn của Bố.

Mặc dù đã được đối xử đặc biệt là gia đình của bs Hữu, nhưng phải nói là khổ trăm bề, mà người khổ nhất vẫn là Mẹ vì mẹ LN phải túc trực ngày đêm trong đó.

Cuối cùng, gia đình LN cũng đưa Bố sang chữa trị tại nhà thương Saint Paul theo lời đề nghị của bs Hữu, vì bs Hữu có lên tiếng thì Bố LN mới nghe, sau 2 tuần nằm ở bệnh viện Bình Dân.

Vụ anh Linh, chắc chắn chị Linh không túc trực ngày đêm được như Mẹ, dù ở nước Mỹ, nursing home rất sạch sẽ, tiện nghi, ngoài vụ được các y tá săn sóc thường xuyên. Có lẽ, gia đình anh Linh và các anh em cũng nghĩ đến sự cười chê của họ hàng và bạn bè như ngày xưa trong trường hợp của Bố.

Mọi chuyện cũng qua rồi. Anh Linh đã ra đi dược gần 9 tháng.

Bây giờ là vấn đề của người sống.

Động đất xảy ra nào ai biết trước được. Năm 1975, khi còn ở trong trại Fort Chaffee, LN đã nghe vụ Cali động đất. Vì vậy nhiều ngưo=`i đã tránh né Cali. Nhưng, hơn 30 năm rồi, Cali vẫn còn đây, và bao nhiêu người đã lục tục kéo vế " miền đất hứa " mà chẳng còn sợ đến vụ động đất nữa.

Thôi LN ngưng đây vì kể lể dông dài quá rồi.

Chúc Dấu Yêu một sáng thứ Bảy an lành, vui vẻ và hạnh phúc.
HONG VU LAN NHI


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#416 Posted : Saturday, November 14, 2009 4:49:07 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)

UserPostedImage


UserPostedImage
Mặc dù đã chúc Tiểu Yến sinh nhật rồi, LN vẫn muốn tâm tình một chút về Tiểu Yến, một người thật dễ thương và rất có lòng với các bạn.

Tiểu Yến và LN quen biết nhau cũng đã mấy năm nay rồi. Đó cũng là một cơ duyên, và sự quen biết đã khiến tình chị em càng ngày càng khắng khít.

Tiểu Yến ít nói, hiền, và luôn làm vừa lòng người khác. Nhiều khi nhờ Tiểu Yến, mà sinh nhật các bạn khác được nhắc nhở đến, để rồi LN theo chân Tiểu Yến chúc sinh nhật bạn bè. Tuy không nói ra, nhưng LN luôn thầm cám ơn Tiểu Yến lắm đó.

Từ hơn năm nay, sức khoẻ của Tiểu Yến bị sút kém, điều lo ngại là bs không tìm ra nguyên nhân. Nhiều khi, Tiểu Yến gọi cho LN, nói đủ chuyện, hỏi thăm người này người nọ, đến khi LN hỏi lại:

- Sức khoẻ của em thì sao ?
- Em mới ở nhà thương về ?
- Sao không cho chị biết
- OX đưa em đi emergency, ngồi chờ 3 tiếng đồng hồ. Khi có chỗ, vào đó cũng phải nằm chờ 3 tiếng nữa. Cuối cùng, sau khi khám xong, bs cho thuốc giảm đau và tuyên bố, chưa tìm ra nguyên nhân.

Tiểu Yến là thế đó. Cứ ở nhà thương về mới cho LN hay tin. TY nói là, cho chị biết tin, chỉ thêm lo thôi, xa xôi quá, chị cũng không đến em được. Nếu là ngày thường thì LN cũng đành chịu, nhưng nếu là cuối tuần, đã có Cát Ngọc, xa mấy cũng đến nơi được.

Mỗi lần Tiểu Yến xuống Ỏange County thăm Bố, thế nào cũng ghé thăm chị Hồng và LN. Tiểu Yến còn l;àm việc từ thiện với chị Hồng nữa, cho nên, mỗi lần gặp chị Hồng là tâm sự hàng giờ mới dứt.

Tiểu Yến ơi, nghĩ về em, nên chị LN có mấy dòng viết cho em. Chúc em ngủ ngon, và mau chóng tìm ra bệnh đễ chữa trị cho đúng.

Thương,
HONG VU LAN NHI




Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Tu Bich  
#417 Posted : Sunday, November 15, 2009 12:25:56 AM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

BỨC TƯỜNG BÁ LINH Lê Văn Ấn

Ngày 9 tháng 11 vừa qua, người ta đã long trọng làm lễ kỷ niệm 20 bức tường Ô Nhục Bá Linh sụp đổ. Người ta vui mừng vì ngày sụp đổ của bức tường Bá Linh là ngày người dân Đông Đức được giải thoát khỏi ách độc tài Cộng Sản. Người ta cho rằng bức tường Bá Linh tượng trưng cho độc tài áp bức, ngăn cấm tự do của con người, và rất nhiều người dân Đông Đức đã hy sinh, đổ máu khi muốn vượt qua bức tường này. Cuối cùng thì người dân Đông Đức không tìm cách vượt qua nữa, mà phá vỡ bức tường đó để đi qua một cách an toàn. Ngày 9 tháng 11 vừa qua, một số các bậc vị vọng của thế giới, cũng phá sập các bức tường giả bằng “móp” và vượt qua lằn ranh Đông và Tây Bá Linh. Có một sự kiện đầy ý nghĩa trong ngày 9.11.2009 là khi những nhân vật quan trọng “vượt” bức tường Bá Linh bằng móp thì phải đi dưới mưa tầm tã, âu đó cũng là biểu tượng cái gian nan đau đớn của người dân Đông Đức khi vượt qua bức tường này.

Tại sao bức tường Bá Linh lại được dựng nên? Ông Mikhail Pervukhin, đại sứ Liên Sô tại Đông Đức tức Cộng Hòa Dân Chủ Đức thời đó đã trả lời câu hỏi này: "Nếu không có bức tường người dân sẽ thấy được sự yếu kém của phía Đông so với phía Tây”. Khi nói câu này, vị Đại Sứ toàn quyền Liên Sô tại Đông Đức có lẽ chỉ nhắm vào những vật chất, sự phồn thịnh của Tây Bá Linh chứ không nghĩ rằng cái mà người dân Đông Đức nói chung, Đông Bá Linh nói riêng nhìn thấy trong tâm trí là TỰ DO.

Kể từ ngày xây nên bức tường (tháng 6/1961) đến ngày sụp đổ (9.11.1989), có khoảng 5 ngàn người vượt tường này và thành công, đến đất tự do dân chủ, và hơn 200 người đã phải nằm lại phía Đông bức tường vì bị lính Cộng Sản Đông Đức bắn hạ. Ngày nay, mỗi năm người ta kỷ niệm ngày bức tường bị sụp đổ với những nghi thức trang trọng, những yến tiệc linh đình, nhất là những người đã được tự do khi bức tường sụp đổ. Bức tường sụp đổ cũng là cánh cổng được mở ra cho dân chúng 8 quốc gia khác thoát ách độc tài Cộng Sản và sống tự do dân chủ, đó là các quốc gia: Tiệp Khắc, Slovakia, Hungary, Balan, Latvia, Lithuania, Slovenia, Estonia.

Việt Cộng có dựng nên bức tường nào để ngăn chận dân Việt Nam đi tìm tự do hay không?

Nếu từ năm 1945 đến 1961 dân Đức đã vượt thoát sang Tây Đức 3 triệu rưỡi người, bằng 20% dân số Đông Đức thì tính từ 30.4.1975 đến cuối năm 1988, cũng có hơn 3 triệu dân Việt Nam vượt thoát nạn độc tài đảng trị của Việt Cộng. Và con số nửa triệu đã bỏ mình khi vượt biên, vượt biển.

Nếu Đông Đức dựng bức tường Bá Linh để ngăn tầm mắt dân Đông Đức không cho họ nhìn thấy tự do dân chủ và phồn thịnh của Tây Đức thì Việt Cộng cũng đã dùng sự bưng bít báo chí truyền thông, tin tức vô tuyến để không cho dân Việt Nam biết đến những gì xảy ra ở bên kia bờ tự do.

Nếu sau một thời gian e ngại Đông Đức sẽ không còn dân, Cộng Sản phải dựng bức tường Bá Linh thì VC cũng đã dựng nên bức tường lửa, ngăn cấm dân Việt Nam không dùng được internet để biết những gì đang xảy ra ở thế giới tự do.

Tại sao dân Việt Nam đến hôm nay vẫn chưa thoát được ách Cộng Sản như dân Đông Đức?

Phải chăng ngày nay Việt Cộng đã xây một bức tường kiên cố hơn bức tường Bá Linh nên đã ngăn chận được dân tộc Việt Nam, không cho tự do dân chủ?
Câu trả lời là ĐÚNG NHƯ VẬY. Việt Cộng đã xây trong lòng người dân Việt một bức tường kiên cố, tuy vô hình nhưng rất công hiệu: đó là cái mồi phú quý giả tạo. Cái mồi hèn nhát không thắng được chính mình.
- Giới thứ nhất bị xây bức tường trong lòng là người Việt tị nạn Cộng Sản. Họ đã quên khi di tản bị Việt Cộng gọi là bọn đĩ điếm, làm biếng, chạy theo bơ thừa sữa cặn của Mỹ. - Họ đã quên đồng bào và người thân của họ đã chết trên biển cả, trong rừng sâu khi đi tìm tự do. Họ đã quên vợ và con gái họ bị hải tặc hãm hiếp trước mắt họ, chồng con họ bị hải tặc giết trong khi họ bị hãm hiếp. Họ quên những ngày tháng tù đày trong lao tù VC mà thân mạng của họ thua xa những loài vật. Và họ đã trở về nước với cảnh “áo gấm về làng”, hưởng thụ, phung phí tiền bạc trên thân xác phụ nữ đáng tuổi con em họ. Họ đã giúp Việt Cộng phá hoại cộng đồng hải ngoại để nhận những đồng tiền máu của Việt Cộng. Họ đã được tự do no ấm, nay họ muốn có một chút “danh” của Việt Cộng, được đăng báo, được gọi là “Việt kiều yêu nước” được lãnh huy chương… Họ đã xây trong lòng họ một bức tường kiên cố, ngăn chận đồng bào trong nước đến với tự do dân chủ.
- Giới thứ hai là những kẻ ở trong nước, tiếp tay cho Việt Cộng trong những vụ khai thác thân xác phụ nữ, từ những quán ôm đến dịch vụ “lấy chồng ngoại quốc”, đến vụ xuất cảng phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài làm nô lệ tình dục đến những vụ giúp VC lấy đất, lấy nhà của dân chúng để cho ngoại quốc đầu tư kiếm lời, đẩy những kẻ khốn cùng rời khỏi nhà, khỏi vườn ruộng của họ. Bức tường này cũng rất kiên cố, ngăn chận tự do dân chủ của người Việt Nam.
- Giới thứ ba là tu sĩ, tăng giới: họ có những bức tường xuất ngoại kiên cố, những bức tường quyên góp tiền bạc của tín đồ về xây nhà thờ, xây chùa, mua xe hơi, uống rượu mạnh của ngoại quốc, và những xa xỉ khác mà cuộc sống tu hành không cho phép. Đổi lại, họ phải nhắm mắt trước những sự tàn bạo của Việt Cộng đối với dân chúng cũng như tín đồ của họ, họ phải bưng tai trước những tiếng thét đau đớn của những kẻ bị tra tấn đánh đập ngay ở giữa phố phường hay trong làng mạc. Họ gia giảm những giới luật của đạo giáo để bản thân họ được phúc lợi. Những bức tường này ngăn chận hữu hiệu nhất, không cho dân Việt Nam được tự do dân chủ.
- Giới tiếp theo là những “bộ đội nhân dân”. Hạng người này đã vì những quyền lợi mà quên đi họ đã bị Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản lường gạt họ, đem thân ra chiến trận để củng cố độc tài toàn trị, ngày nay họ được hưởng một vài ân huệ khiến họ quên những đồng đội đã hy sinh một cách oan nghiệt, họ trở lại binh VC và đem bạo lực đàn áp có khi tàn sát anh em bà con họ.
- Còn nhiều nữa, kể không hết. Có nghĩa là những thành phần này đã góp một tay đắc lực để “khi cu ba ngủ thì Việt Nam (VC) canh gác không cho dân chúng tự do dân chủ, khi Việt Nam ngủ thì Cu ba gát ngăn chận tự do dân chủ.
- Giới truyền thông báo chí “đi lề bên phải” để được giàu sang phú quý, quên luôn cả liêm sỉ của người cầm bút, ca ngợi kẻ thù đang giết hại ngư dân, đang âm mưu xích hóa VN. giới cầm bút đã viết những điều hoàn toàn trái sự thật, đã mạt sát những nhà đấu tranh cho tự do dân chủ. Bức tường này được Cộng Sản dựng ngay từ lúc khởi sự và ngày càng tỏ ra đắc dụng đối với VC.
Ai phá vỡ được những bức tường Việt Cộng xây trong lòng những Việt kiều yêu nước, những bậc tu hành bỏ Chúa, bỏ Phật trong lòng họ, bỏ lương tâm con người, bỏ đồng đội đã hy sinh v.v…?

- Dân oan ruộng đất bị trưng dụng tịch thu - Những kẻ có thân nhân bị Việt Cộng đàn áp, bóc lột trắng trợn, thân nhân những nhà đấu tranh cho tự do dân chủ v.v... - Hầu hết dân chúng Việt Nam hôm nay là nạn nhân của Việt Cộng - Người Việt hải ngoại trung kiên với phẩm giá con người, đưa tiếng nói của tự do dân chủ về nước và đánh động thế giới những thảm trạng tại VN, giúp những nhà đấu tranh trong nước v.v…
Khi viếng thăm “bức tường Bá Linh” vào ngày 13.6.1987, Tổng Thống Reagan đã nói: “Ông Tổng Bí thư Gorbachev, nếu ông muốn hòa bình, nếu ông muốn sự phồn thịnh cho Liên Bang Sô Viết và Đông Âu - Nếu ông muốn được Tự do, ông hãy đến đây, phá bỏ bức tường này”. Hai năm sau, Gorbachev đã giúp dân Đông Đức phá bỏ bức tường thật. Ngày nay, không có Reagan, không có Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ Đệ Nhị, không có các nhà đấu tranh trong Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan v.v… nhưng người Việt Nam có một giòng máu chống ngoại xâm được mấy ngàn năm un đúc, có một nền văn hóa tuyệt vời, đi trước cả Thiên Chúa giáo và Phật giáo là đạo thờ trời. Nói cách khác, nếu toàn dân biết nhìn lại giá trị của mình, biết tự phá bỏ bức tường trong LÒNG MÌNH mà đứng lên như dân Đông Đức và Đông Âu đã đứng lên, Việt Nam sẽ có tự do dân chủ. Lê Văn Ấn

Tu Bich  
#418 Posted : Sunday, November 15, 2009 12:59:13 AM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Bức tường tinh thần tan rã trước
Thursday, November 12, 2009
Ngô Nhân Dụng

Trong lịch sử, cảnh sụp đổ của một đế quốc không xảy ra trong một sớm một chiều, mà thường diễn ra qua nhiều năm, có khi kéo dài hàng thế kỷ. Các đế quốc La Mã, Ba Tư, Ottoman đời trước tan rã khi lực lượng quân sự và guồng máy thu thuế bị tản ra quá mỏng, quyền lực ở trung tâm yếu đi, mất dần khả năng kiểm soát các địa phương. Những đế quốc đó thường vỡ ra từng mảnh, từng mảnh một trước tan biến dần dần. Trong thế kỷ trước, đế quốc Xô Viết không giải tán theo lối tiệm tiến và mất từng bộ phận như thế. Tất cả cùng sụp đổ chỉ trong vòng mấy tháng, có thể nói chỉ trong có mấy ngày.

Nguyên nhân trực tiếp gây nên cảnh tan rã “ngoạn mục” của chế độ cộng sản ở Ðông Âu và Liên Xô là do thất bại trong quản lý kinh tế, như đã trình bày trong mục này tuần trước. Tuy nhiên, kinh tế trì trệ chỉ là một mặt trong cảnh bế tắc toàn diện của cả hệ thống cai trị do Lenin và Stalin dựng lên. Ðế quốc Xô Viết đã bắt đầu suy yếu tự trong nền tảng từ lâu rồi. Nói về sự sụp đổ của các chế độ cộng sản, Nhà văn Vũ Thư Hiên không đặt trọng tâm vào tình trạng quản lý kinh tế thất bại. Ông cho là cả hệ thống cai trị kiên cố vĩ đại đó đã tan rã chính vì người dân không còn chịu đựng được cảnh “mất nhân tính đến cùng cực” nữa. Nhà văn đã sống trong một chế độ giống như vậy. Chính mắt ông đã chứng kiến cảnh “mất nhân tính đến cùng cực” ở chung quanh mình, diễn ra trong chính những người đã từng là thân thiết với gia đình ông. Vũ Thư Hiên đã nhìn thấy những điều cơ bản khiến xã hội xô viết tan rã.

Khi dân Ðức lấy búa đập vỡ bức tường Berlin, họ đã châm lửa vào một ngòi nổ, ngọn lửa cháy bén từ từ như một sợi dây thuốc pháo, và lần lượt các thùng thuốc nổ khác liên tiếp theo nhau bùng cháy. Tại sao vụ nổ dây chuyền lại lan ra nhanh chóng như vậy? Lý do lớn nhất, trước hết, là vì cả nền tảng tinh thần của những xã hội cộng sản đó đã nát rữa từ lâu, cả hệ thống dựa trên bạo lực và dối trá chỉ chờ ngày tan ra từng mảnh. Khi bao nhiêu con người đã mất niềm tin vào cuộc sống giả tạo chung quanh mình, mất niềm tin vào những người chung quanh, chính họ thấy cuộc đời không còn có ý nghĩa, không còn giá trị như trong ảo tưởng mà họ vẫn nuôi nấng nữa, thì cả xã hội tự hủy diệt. Vì phải hủy diệt, rồi mới có cơ hội tái sinh.

Một xã hội tồn tại được lâu dài và ổn định là nhờ mọi người cùng chia sẻ những giá trị chung, một cách chính thức hay là mặc nhiên. Có những lý tưởng cao xa mà ai cũng tôn quý đã được cả xã hội biến thành thói quen trong cuộc sống hàng ngày khi đối đãi với nhau, routinization. Mọi người đồng ý với nhau một số ước lệ trong cuộc sống. Những cử chỉ, lời nói hay thái độ mà chúng ta gọi là lễ phép, lịch sự, thanh nhã, vân vân, đã được cả xã hội coi là lối sống tự nhiên, ai cũng ăn ở như vậy. Người ta cứ nói, cứ làm và nghĩ theo các thói quen đó là có thể tin rằng mình sẽ đạt được điều tốt, điều thiện, cuộc đời mình có ý nghĩa và có giá trị.

Nhưng khi phải sống trong một khung cảnh giả dối quá lâu thì khác. Người ta phải nghe những điều dối trá mà bị bắt buộc coi như là sự thật, phải tập thói quen sống giả dối với nhau, lừa lọc lẫn nhau. Khi ra đường phải đóng kịch, về nhà cũng không dám sống thành thật với anh em, vợ con. Mọi người đành chấp nhận đạo lý sa sút mà không ai dám công khai phản đối. Khi đó, mỗi người không còn tin ở người khác và cũng không tin ở chính mình nữa. Họ bắt đầu thấy chán, không còn lý do để tiếp tục sống theo thói quen và tập tục xã hội mà chính họ không còn tha thiết bảo vệ nữa. Nền tảng tinh thần của xã hội đã tan rã. Người ta chán ngán, chỉ muốn cơ hội “đổi đời” để cuộc sống của chính mình có ý nghĩa hơn.

Năm 1989 là lúc những người cầm đầu các đảng Cộng Sản ở Ðông Ðức, ở Tiệp Khắc và Ba Lan cũng chán ngấy không thấy lý do nào để biện minh việc ra lệnh bắn giết đồng bào của họ nữa khi dân chúng kéo nhau đi biểu tình. Hungary mở cửa biên giới, 200,000 người từ Ðông Ðức chạy qua để tìm đường sang Tây Ðức. Ðó toàn là những thanh niên, những người thợ giỏi, những chuyên gia trung niên. Hàng chục ngàn người từ trong nhà thờ ở Leibzig kéo ra đường, một tháng trước ngày bức tường Berlin bị đập, nhưng không một lãnh tụ Ðông Ðức nào ra lệnh đàn áp. Ðàn áp để bảo vệ cái gì khi chính họ cũng thấy cuộc sống của mình đang bế tắc, mà họ phải thấy những đòi hỏi tự do dân chủ của người dân là hợp lý? Ðám mật vụ, công an cầm súng lăm lăm trên tay cũng không thấy lý do nào để xả súng bắn vào đồng bào của họ nữa, mặc dù trước đó Cộng Sản Ðông Ðức đã đe dọa dân biểu tình sẽ bị tắm máu như ở Thiên An Môn.

Ðám công an mật vụ buông súng không phải vì họ sợ những người dân, những người trong tay không tấc sắt. Trước đám đông trông chẳng khác gì cha mẹ, vợ con mình, chính đám công an không còn muốn đóng vai trò một bánh xe quay trong bộ máy chuyên đàn áp, chuyên đi còng tay bắt người, chuyên thủ tiêu, giết người. Vì chính họ đã chán tận cổ lối sống phi đạo lý, phi nhân bản trong một xã hội được duy trì bằng bạo lực và dối trá. Cả xã hội chờ một biến cố châm ngòi để quyết định đổi đời!

Bức tường Berlin đổ vì người ta muốn đập vỡ hệ thống bạo lực và dối trá giam giữ cả xã hội mà trong đó họ phải sống quá lâu. Sau khi các chế độ Cộng Sản Ðông Âu tan, một người dân Ba Lan nói với nhà báo, “Từ nay chúng tôi được sống cuộc đời bình thường.” Ai cũng muốn trở lại làm một con người bình thường sống trong một xã hội bình thường. Loài người không muốn phải sống giả trá, phải nói những lời trái với lương tâm mình, phải gian dối với nhau hàng ngày, mãi không được nghỉ!

Mùa Hè năm 1991 tôi có dịp đi thuyền trên sông Elbe trong vùng Koenigsberg, phía Nam thành phố Dresden. Anh bạn người Ðức sống trong một làng gần đó, thuộc Ðông Ðức cũ, cho hay gần hai năm trước Chủ Tịch Bắc Hàn Kim Nhật Thành cũng ngồi trong chiếc thuyền đó đi du ngoạn trong vùng thiên nhiên mỹ lệ này. Năm 1989 Cộng Sản Ðông Ðức đã mời rất nhiều lãnh tụ cộng sản thế giới đến dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập chế độ. Ðó là một đại lễ nhằm phô trương sự giầu mạnh của Cộng Hòa Dân Chủ Ðức! Tháng Mười năm 1989, tờ Nhân Dân, People Daily ở Bắc Kinh đã tường thuật cuộc lễ hội đánh dấu “40 năm vinh quang” đó, viết rằng: “Nhân dân nước Ðức đang đoàn kết ngày càng mạnh hơn dưới sự lãnh đạo của Ðảng.”

Một nhà lãnh đạo cộng sản khác là Mikhail Gorbachev đã nhìn thấy khác. Trong cuộc phỏng vấn với nhật báo Le Monde ở Pháp đăng ngày 6 Tháng Mười một, năm 2009 vừa qua, ông Gorbachev kể rằng bữa đó ông ngồi trên khán đài chứng kiến cuộc biểu tình vĩ đại mà chính phủ Ðông Ðức tổ chức, dân chúng từ khắp nước được đưa về tham dự. Khi đó Gorbachev đã bắt đầu chủ trương “sửa đổi cơ cấu” (perstroika) ở Nga được mấy năm. Nhiều người Ðức đã đến nói thẳng với ông: Hãy giúp chúng tôi, hãy giúp chúng tôi với! Gorbachev biết đây là một màn trình diễn giả tạo. Ông kể, hai người ngồi ngay hàng ghế phía sau ông trên khán đài là chủ tịch Ba Lan, Tướng Jaruzelski và Thủ Tướng Mieczyslaw Rakovski. Gorbachev nhớ lại: “Rakovski nghiêng người ra phía trước ghé tai tôi nói, 'Mikhail Sergueievich, ông hiểu tiếng Ðức họ nói chứ?' Tôi trả lời, 'Ðủ để hiểu những câu đoàn biểu tình họ đang hô.' Rakovski nói tiếp, 'Ông có thấy rằng đây là màn kết cuộc hay không?' Ðó, tình cảnh nó như vậy.”

Trong khi đó, Gorbachev thuật lại, Chủ Tịch Ðông Ðức Erich Honecker (77 tuổi) vẫn làm như không biết gì cả. “Ông ta vẫn hát, vẫn chia sẻ với chúng tôi vẻ hăng hái giả tạo của ông ta.” Và Honecker nói với người lãnh đạo Liên Xô rằng chế độ của ông ở Ðức đã tái cấu trúc trước cả Liên Xô rồi, cho nên không cần thay đổi gì thêm nữa. Khi Gorbachev gặp toàn thể ban lãnh đạo cộng sản Ðông Ðức, ông nói với họ, “Ai chậm chân quá, sẽ bị cuộc đời trừng phạt.” Nhiều người coi đó là lời tuyên bố kết thúc chế độ cộng sản ở nước Ðức.

Một câu hỏi tuần trước đã nêu lên trong mục này là tại sao những thiên đường mù cộng sản, mặc dù thất bại về kinh tế, suy đồi về đạo lý, mà vẫn kéo dài ở Nga và Ðông Âu được bao nhiêu năm như vậy?

Một nguyên nhân là chiến tranh. Trận Ðại Chiến Thứ Hai đã giúp trì hoãn sự sụp đổ của cả nền kinh tế lẫn chế độ chính trị ở Nga. Chiến tranh và thời kỳ hậu chiến biện minh cho việc kiểm soát và chỉ huy nền kinh tế. Ngay ở các nước tư bản, chính quyền cũng can thiệp vào việc kinh doanh, đưa ra những chỉ tiêu sản xuất, lập sổ tem phiếu để giới hạn việc tiêu thụ. Về mặt chủ tịch, Stalin đã bỏ quên hoàn toàn những khẩu hiệu cộng sản để đề cao lòng ái quốc của dân Nga, kêu gọi người dân hy sinh cho tổ quốc. Chiến tranh còn biện minh cho việc bắt bớ tù đầy những người đối lập, vu cho họ nhãn hiệu “thù địch,” “phản quốc.” Sau chiến thắng, chế độ cộng sản ở Nga có thêm uy tín nhờ lợi dụng sự hy sinh anh hùng của người dân Nga trong cuộc chiến giữ nước. Thời kỳ “chiến tranh lạnh” sau đó cũng chỉ là tình trạng kéo dài của chiến tranh nóng. Không khí chiến tranh giúp các chế độ cộng sản lúc nào cũng đe dọa dân về “các thế lực thù nghịch” bao vây họ, lấy cớ đó kìm kẹp dân chúng và bắt giam mọi người có ý kiến bất đồng. Các chế độ cộng sản còn lại bây giờ cũng cố gắng bảo vệ quyền lợi và địa vị bằng thủ đoạn tương tự. Chính những giai đoạn “detente,” hòa hoãn, sống chung hòa bình, ký các hiệp ước và trao đổi với nhau, đã dần dần tước bỏ các chế độ cộng sản thứ khí cụ tuyên truyền hữu hiệu đó.

Khi những người dân trong khối cộng sản được biết hoặc thấy, qua các đài phát thanh và truyền hình, về đời sống của người dân các nước không cộng sản, dần dần họ tỉnh ngộ và tìm hiểu thêm sự thật. Sự thật, khi được thông tin đầy đủ hơn, giúp người ta nhìn ra chính cuộc sống của họ đắm chìm trong một xã hội dựa trên sự giả trá. Con người không thể “sống giả” mãi như thế được. Ðó là lý do các chế độ cộng sản cuối cùng phải tự hủy diệt. Trong cuộc xoay vần Sinh - Diệt - Diệt - Sinh của một xã hội, hủy diệt sớm thì cơ hội được tái sinh cũng sẽ đến sớm hơn. Người dân Ðức đang dự hội, không phải là để mừng sự sụp đổ của một chế độ, mà là để ăn mừng cơ hội tái sinh của nước họ 20 năm trước đây.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#419 Posted : Sunday, November 15, 2009 2:20:50 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,298

Thanks: 6947 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
ĐIỂM SÁCH (494): HOÀNG HẬU CUỐI CÙNG: PHU NHÂN TƯỞNG GIỚI THẠCH VÀ KHAI SINH TRUNG QUỐC HIỆN ĐẠI (CỦA HANNAH PAKULA)





(The Last Empress: Madame Chiang Kai-shek and the Birth of Modern China by Hannah Pakula. Simon & Schuster, 2009. 681 trang. $35 nguyên thủy; $19-20.58 tại amazon.com)


Sự khó hiểu thanh lịch của thời chiến Trung quốc



Của Dwight Garner

(Wartime China’s Elegant Enigma by Dwight Garner)

Nguồn: The New york Times, November 4, 2009

Trần Hữu Thuần (dịch)



“Điều duy nhất phương Đông về tôi,” Soong Meiling (Tống Mĩ Linh) có lần đã viết, “là khuôn mặt của tôi.” Soong Mei-ling, được biết đến theo lịch sử như là Phu nhân Chiang Kai-shek (Tưởng Giới Thạch), chỉ hơi cường điệu một chút. Sinh ra là người Trung quốc, giáo dục và xu huớng văn hóa kiểu Mĩ, bà là một hòa hợp quyến rũ của các hai xã hội; có một lúc, chẳng có người đàn bà nào trên thế giới quyền lực hơn.

Phu nhân Chiang có một cuộc sống dài, rất phức tạp, một cuộc sống có chi tiết phong phú trong “Hoàng hậu cuối cùng,” tiểu sử mới dài, rất phức tạp của Hannah Pakula. Cuốn sách của Pakula là một tác phẩm nhỏ về nghiên cứu lịch sử, với sự kiện này cọ sát sự kiện khác. Nó cũng là một tác phẩm kể chuyện đơn điệu, một tác phẩm có ít thích nghi hoặc thúc đẩy tường thuật. 681 trang của bản văn có lúc mệt mỏi như cuộc hành trình bị bó buộc qua thảo nguyên Mongol (Mông cổ).

Tuy nhiên, câu chuyện về Phu nhân Chiang chẳng mất đi sự hấp dẫn kì lạ, thú vị. Sinh tại Shanghai (Thượng hải) năm 1898, bà là con gái của một người nông thôn đã đi qua Mĩ vào tuổi 12 và đã tìm được việc làm trên các tàu và trong các nhà in. Cha bà, Charlie Soong, cuối cùng tốt nghiệp Đại học Vandebilt và quay về Trung quốc vào tuổi 20, nơi ông có sáu người con và trở nên giàu có bằng việc xuất bản Kinh thánh. Ông nuôi dạy Soong Mei-ling và các anh chị em bà để đánh giá cao gần như mọi thứ phương Tây, kể cả nệm giường (mềm mại), thức ăn (Mĩ) và tôn giáo (Methodist).

Trái ngược bản chất một xã hội phụ hệ kiên định, ông Soong mong đợi chuyện lớn từ các con gái cũng như con trai của ông. Hai người chị của Soong Mei-ling đi qua Hoa kì theo học Trường College Nữ Wesleyan ở Macon, Georgia. Soong Mei-ling đến Mĩ ở tuổi lên 10, học nội trú tại New Jersey và một trường công tại Georgia trước khi tốt nghiệp Wellesley College.

Khi bà đến Wellesley vào năm 1913, bà Paluka viết, Soong Mei-ling có thể nhại “giọng Scralett O’Hara” cô học được ở Georgia. (“Ah reckon Ah shan’t stay aroun’ much longer[1],” cô báo cáo với trưởng khoa năm thứ nhất). Bà Paluka viết, cô ta cũng “thấp, mủm mĩm, bầu bĩnh và trẻ con trong dáng dấp, với tóc cắt ngắn và mái trước che mắt chẳng giúp gì cho bề ngoài của cô ta.” Vào lúc cô ta rời Wellesley, tuy nhiên, đã có ý nghĩa định mệnh về Soong Mei-ling. “Cô ấy không được đưa cho một nền giáo dục phương Tây,” bà Pakula nhận xét, “nhằm trải qua các buổi chiều ở bàn mà chược.”

Các chị em Soong lập gia đình tốt đẹp. Một người, Soong Qing-ling thành hôn với Sun Yat-sen (Tôn Dật Tiên), tổng thống đầu tiên của Trung quốc sau khi vị vua cuối cùng bị lật đổ năm 1911. Trong một buổi lễ hào phóng năm 1927, Soong Mei-ling thành hôn với một trong nguyên tùy viên quân sự của Sun, Chiang Kai-shek, người đàn ông sẽ trở nên lãnh tụ của chính phủ Quốc gia tại Trung quốc từ 1928 đến 1949, và về sau là lãnh tụ trong thời lưu đày ở Taiwan (Đài loan). Ông ấy là một người lính cứng rắn “đơn giản ăn mặc quân phục vải bông bình thường và dép rơm,” bà Pakula viết, và không uống rượu chẳng hút thuốc. Phu nhân Chiang giờ đây gầy, quyến rũ và ăn mặc sít sao. Chỉ cao năm feet, bà Pakula nói, bà ấy có “một tác động thôi miên trên con người.”

Bởi vì Chiang Kai-shek thực sự chẳng nói chút tiếng Anh nào, Phu nhân Chiang trở nên người thông dịch thực tế và khuôn mặt Trung quốc hướng về thế giới phương Tây. Bà viết các bài báo về Trung quốc cho Tạp chí The New York Times và The Atlantic Monthly vào đầu những năm 40. Bà xuất hiện trên “Gặp gỡ báo chí” (Meet the press) năm 1958. Bà là người cố vấn thân cận nhất của Chiang và thường xuyên đánh bóng bộ mặt thô thiển của ông ấy—và của đất nước.

Hai người được xem như là ảnh hưởng hiện đại tại Trung quốc; tạp chí Time đặt họ làm Người đàn ông và người đàn bà của năm 1938. Đỉnh cao của danh tiếng của Phu nhân Chiang đến vào năm 1943, khi bà đi vòng quanh nước Mĩ để ủng hộ nguyên ủy của người Trung quốc Quốc gia chống Nhật. Trong chuyến đi vòng quanh đó, bà là công dân tư nhân đầu tiên nói chuyện với Thượng viện và Hạ viện, và tại Los Angeles bà đọc diễn văn tại Hollywood đầy ắp người. (Trong thời gian tại Mĩ, bà Pakula gợi ý, Phu nhân Chiang tiếp tục một dính líu lãng mạn bà đã bắt đầu trước đó với Wendell Willkie, người Cộng hòa thất cử trước Franklin D. Roosevelt vào cuộc bầu cử 1940).

…. Chiang Kai-shek và vợ ông buộc phải lưu đày ở Taiwan sau chiến thắng của Cộng sản năm 1949; ông làm chủ tịch qua hàng chục năm chính trị Quốc gia ở đó. Sau cái chết của ông, năm 1975, Phu nhân Chiang chuyển đến New York City, nơi bà sống một cuộc sống ẩn dật, chết năm 2003 thọ 105 tuổi. Bà không có con cái. Chồng bà đã bị bệnh tình dục trước khi thành hôn, bà Pakula viết, và chắc hẵn vô sinh.

“Hoàng hậu cuối cùng” (The Last Empress) vướng mắc vào cuộc thảo luận quá sức đông dài vào các rối rắm của lịch sử chính trị Trung quốc. Quả thực, chính câu chuyện của Phu nhân Chiang thường nhường chỗ thật xa vào bối cảnh. Nhưng cuốn sách của bà Pakula sống động lại trong việc nó thêm tiêu muối bằng việc kể lại chi tiết về cuộc đời hỗn loạn của Phu nhân Chiang.

Bà Pakula ghi nhận phương cách Phu nhân Chiang thích đưa ra các từ ngữ bí hiểm (“inhehiscence[2],” “ochlocracy[3]”) trong các diễn văn của bà bằng tiếng Anh, làm cho kí giả chật vật tra từ điển…. Bà nều chi tiết các năm cuối đời của Phu nhân Chiang ở số 10 Gracie Square, một tòa nhà chung cư thanh lịch ở Mạn trên phía đông của Manhattan. Bà có ba con chó … và dùng 24 người giúp việc….

…. (Bà Pakula) xem cuộc đời của Phu nhân Chiang với quan tâm và thỉnh thoảng, khi có bảo đảm, với đồng cảm. Bà rõ ràng đồng ý với Eleanor Roosevelt, người đã tóm lược sự thể hiện lâu dài của Phu nhân Chiang trên kịch trường thế giới bằng cách nhận xét rằng trong khi bà ấy có thể “nói đẹp đẽ về dân chủ,” bà đã “không biết cách sống dân chủ.”






[1] “I reckon I shan’t stay around much longer”: Tôi cho là tôi sẽ không ở lâu hơn (nd)

[2] Indehiscence: Chưa chín muồi (nd)


[3] Ochlocracy: Cai trị bằng quần chúng (nd)





Tác giả Trần Hữu Thuần (dịch)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#420 Posted : Sunday, November 15, 2009 5:12:34 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,298

Thanks: 6947 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
UserPostedImage

[url="http://hathaykhongbanghayhat.org/node/3431"]Giọt Lệ Trưng-Vương[/url]
Thơ : Thiên-Anh (DT BĐ) Đàn : Đặng Vương Quân Diễn ngâm : Tâm Thư

Mặc áo nhung vàng thay áo tang
Em cùng quân quyết tiến lên đàng
Đuổi lũ tham-tàn ra ải bắc
Một dải giang-san lừng tiếng vang

Cờ chiến tung bay thay cờ tang
Trên đầu voi tuốt kiếm lên đàng
Rực-rỡ xiêm ngoài trong áo trắng
Đuổi lũ gian-tham về bắc quan

Lạnh-lùng băng-giá ngai vàng
Lệ thương đẫm gối mơ-màng
Chẳng thiết cao-sang
Quyết giữ thân vàng
Mốt mai giặc đến lên đàng đấu-tranh

Mặc áo tang trong phòng loan
Ơ-hờ năm ngón gãy cung đàn
Ôi tiếng lệ cầm rơi trong đêm vắng Lạnh buốt tâm can... Ngày mới sang
Users browsing this topic
Guest
73 Pages«<1920212223>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.