Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

73 Pages«<1819202122>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
langthang09  
#381 Posted : Sunday, November 8, 2009 4:09:54 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)

Ái tình là một liều thuốc đắng, song không mấy ai có đủ can đảm chối từ. (Montes Quieu)

***

Tình yêu là gia vị của cuộc sống. Nó có thể làm cho cuộc sống trở nên ngọt ngào. Nhưng nó cũng có thể làm cho cuộc sống trở nên cay đắng. (Khổng Tử)

***

-Sắc đẹp là tặng phẩm của tạo hóa đã ban cho người đàn bà, và chính sắc đẹp cũng là vật đầu tiên mà tạo hóa cướp đi trong đời người đàn bằ ( MERE )

***

“Kiến thức là cái gì còn lại sau khi người ta đã quên tất cả những gì học hỏi được.” (Selma Lagerlof)

Hoàng Thy Mai Thảo  
#382 Posted : Sunday, November 8, 2009 7:39:29 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,298

Thanks: 6947 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
UserPostedImage

Trần Ngọc Toàn
Ðà Lạt Ngày Xưa:

"Khi mới lớn lên, tôi nghe ông Chú của tôi kể lại ông và tất cả học sinh của thành phố Ðà Lạt được chính quyền vận động đi trồng những cây thông quanh bờ Hồ Lớn, sau này được đặt tên là Hồ Xuân Hương".
Lúc bấy giờ người Pháp đã xây đập chặn nước của dòng suối lớn Ðà Lạt chảy từ hướng Bắc về, qua các ghềnh thác lớn nhỏ rồi đổ xuống tận sông Ðà Rằng ở vùng Bảo Lộc, Ðịnh quán. Trong khi đó, ho cũng ngăn đập ở thượng nguồn làm hồ nước Suối Vàng với đập Thủy Ðiện Ðan Kia bên dãy núi Bà ở phía Bắc thành phố. Trên đường mở vòng quanh thành phố, họ đã chặn nước tạo nên hồ Than Thở và hồ Saint Benoit, sau này được đổi tên là Chi Lăng. Xa hơn, về hướng chính Bắc là hồ nước nhân tạo ở ấp Ða Thiện với dòng nước chảy về Thác Cam Ly. Riêng với Hồ lớn, họ đã phải dùng cốt mìn để khoét sâu thêm trước khi làm đập ngăn dòng nước trên đoạn đường từ hướng Nhà Thờ Con Gà qua dốc lên phố chính thương mại được mang tên là Khu Hòa Bình. Chiếc cầu trên đập nước được gọi là cầu Ông Ðạo. Sau này, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã tức cảnh qua cầu nên thơ với tà áo trắng học sinh tung bay viết nên bản nhạc "Có một Dòng Sông". Khi ghé thăm Ðà Lạt, nhạc sĩ Lam Phương cũng viết bản nhạc "Thành Phố Buồn" góp mặt với một số bài ca của các nhạc sĩ khác như "Chiều Vàng", " Xứ Hoa Ðào" , "Ðà Lạt sương mờ" v.v...

Dòng suối từ cầu Ông Ðạo chảy xuôi theo thung lũng bên ấp Ánh Sáng mới được dựng lên sau năm 1955, mở rộng như một dòng sông nhỏ qua cầu Bá Hộ Chúc bằng gỗ, đến ấp nhỏ với vườn rau cải xanh mướt quanh năm rồi qua cầu Nhà Ðèn, khu "Abattoire" chuyên mổ lợn giết bò, qua xóm Lò Gạch rồi đổ về Thác Cam Ly với một ấp người Thượng gốc sắc tộc Kơ Ho với nhà sàn tập thể ở đầu nguồn. Với trợ cấp của một chủ nông trại người Pháp tên Farraut, còn chìm trong cảnh núi rừng hoang dã và nguồn nước chảy rất mạnh qua ghềnh đá nhấp nhô. Từ đây, người ta còn nghe tiếng nai bép xép và tiếng hổ gầm. Từ Thác đi về hướng Tây chừng hai trăm thước dẫn lên ngọn núi cao với rừng thông dày đặc xanh thẫm là lăng mộ của ông Nguyễn Hữu Hào, cha ruột của Nam Phương Hoàng Hậu, Chánh phi của Hoàng Ðế Bảo Ðại, cuối đời nhà Nguyễn. Chính phủ thuộc địa Pháp đã trao lại thành phố Ðà Lạt do Bác Sĩ người Pháp, tên Yersin khám phá và lập nên cho Nam Triều nên ông Vua Bảo Ðại đã lấy làm ỏõ Hoàng Triều Cương Thổ ỏõ dành cho Hoàng thân quốc thích và tất nhiên là người Pháp cai trị.

Ngược lên hướng Tây Bắc từ Thác nước là Phi trường Cam Ly, với đồi núi trùng điệp vây quanh, nhưng phi trường rất ít được sử dụng vì thời tiết mây mù và núi cao vây quanh. Từ đây, đi ngược về thành phố, trên một ngọn núi lớn với rừng thông già là khu trường nổi tiếng của các Bà Sơ là "Couvent des Oiseaux" với các nữ sinh xinh đẹp như mộng, trong bộ đồng phục váy đầm xếp nếp màu xanh Ðại dương từ những gia đình khá giả ở khắp miền Nam gửi đến nội trú. Ở phía Nam là ấp Du Sinh gồm những người Bắc di cư vào Nam trốn chạy Cộng Sản hồi năm 1954 lập nghiệp sinh sống tại đây. Qua một núi thấp với những ngôi biệt thự sang trọng nhìn về hướng thung lũng xóm Lò Gạch sẽ đến khu trường nội trú Tiểu học "Petit Lycée" với cơ sở khang trang nằm ẩn khuất trong rừng cây thơ mộng. Về hướng Ðông, qua nhà máy Ðiện thường được dân chúng gọi là Nhà Ðèn, qua Cầu Ðúc rồi leo dốc Duy Tân gần như thẳng đứng dẫn lên phố Hòa Bình. Nếu tiếp tục đi về hướng Ðông Nam sẽ qua những ngôi biệt thự lộng lẫy, kiêu kỳ hơn nữa trên con đường mang tên Bác Sĩ YERSIN với khu Tòa Án, rẽ vào Trung Tâm Thí Nghiệm Chủng Ngừa của Cố Bác Sĩ Yersin, vào Biệt Ðiện số 1 của Vua Bảo Ðại, gần bên rừng ái ân với cảnh trí thật thơ mộng và vắng vẻ.

Lúc còn học ở trường Tiểu Học Ðà Lạt, là trường Tiểu học duy nhất lúc ấy dạy tiếng Việt, vào năm 1951, tôi được đề cử cùng những học sinh khác vào Dinh Vua Bảo Ðại ở Biệt Ðiện số 1 để nhận quà Tết do chính tay ông Bảo Ðại trao cho. Dinh cơ nguy nga và tráng lệ như cảnh phim Vua Chúa của Tây Phương thời đó. Tôi cũng có được món đồ chơi duy nhất từ bé đến lớn là con gà con bằng nhựavới máy móc làm nó nhẩy từng bước trên hai chân.
Ở ngã ba rẽ vào Biệt Ðiện số 1 là cơ sở hành chánh của chính quyền, sau này có khi được lấy làm Tiểu Khu cho đến lúc dời lên cơ sở của Ðại Biểu Cao Nguyên Trung Phần do các ông Tôn Thất Hối và Nguyễn Văn Ðãi đảm trách đến ngày cuối cùng.

Ngay sau lưng đường Yersin là thung lũng sâu hẹp của ấp Xuân An, Dốc Nhà Bò, Suối Cát dẫn về Suối Tía xuống tận Núi Voi dưới chân đào Prenn. Một bên là trường Dòng Domaine de Marie tức là địa phận Ðức Bà, một bên là sân vận động nhỏ rồi đến ngôi Nhà thờ Con Gà với tháp chuông cao có hình con gà trên cùng.
Kế đến là khách sạn Du Parc với Tháp cao làm Ðài Phát Thanh, Ngân Khố, Bưu Ðiện và khách sạn Palace nằm trên đồi nhìn xuống hồ nước Xuân Hương với đường bậc cấp thoai thoải, rộng lớn đưa xuống đường vòng quanh Hồ với Nhà Thủy Tạ sơn trắng đứng trên doi đất chồm ra mặt nước. Một bên đường là Câu Lạc Bộ Thể Thao với sân quần vợt.Ở lưng đồi, có một khu biệt thự trước năm 1959 dành làm trường Quốc Gia Hành Chánh với khóa học đầu tiên.

Tòa Ðại biểu Chính Phủ Cao Nguyên Trung Phần là một dinh thự bề thế nằm ngay trên đỉnh đồi nhìn về phía Hồ nước với đường trải nhựa vòng cung và hàng rào sơn trắng uy nghi. Về hướng Ðông là ngã tư đầu dốc Prenn đổ dốc vào thành phố. Bên kia là ngọn núi dành cho Biệt Ðiện số 2 của Vua Bảo Ðại. Khoảng năm 1959, mới có cây xăng Kim Cúc được xây dựng ngay góc ngã tư này. Từ đây, đổ xuống dốc là hai dãy biệt thự đối mặt kéo dài xuống tận cuối dốc với khách sạn và nhà hàng PHÁP tên ỏõ Au sans soucis ỏõ. Khi ngược lên là mấy ngôi biệt thự nằm lẻ trong rừng thuộc tài sản của một người Pháp ở Ðà Lạt lâu đời tên là Farraut. Ngay tại đây, từ trước năm 1975, chính quyền đã phá núi làm bến xe cho các loại xe đò, xe chở hàng để giảm bớt lưu lượng trong thành phố. Quen thuộc nhất là Nghiệp đoàn xe đò Minh Trung với loại xe hiệu Peugeot của Pháp được biến cải để chở cả 9, 10 người khách.

Vào năm 52, gia đình tôi tạm trú ở căn biệt thự số 17 đầu dốc Preen, bên kia đường là nhà của Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Liên Quân lúc ấy là Trung Tá Nguyễn Văn Thiệu và tư dinh của Chỉ huy trưởng Ngự Lâm Quân là Thiếu Tá Trần Bá. Lúc ấy, đám con của láng giềng tôi đều có xe đưa rước đi học, chỉ có anh em tôi phải lội bộ điến trường. Hơn nữa, họ đâu có thèm học trường Việt. Người giàu sang phải học "trường Pháp".
Ðường đèo dốc Preen dài ngoằn ngoèo cả 10 cây số. Ðường hẹp với một bên là bờ núi đá và một bên là dốc sâu thăm thảm. Lúc còn đi Hướng Ðạo ở Ðà Lạt, bọn trẻ nhỏ chúng tôi từng nhiều lần đổ dốc bằng xe đạp khi đi cắm trại. Ở khoảng cây số thứ 4 là thác nước Ða Tăng La, lúc xưa gọi theo tiếng Kơ Ho là Dantania, với dốc đá cheo leo khuất trong rừng sâu dày đặc. Vừa hết đèo dốc là thác nước Preen ngay bên trái với màn nước chảy chồm qua mỏm đá trong cảnh rừng núi đầy thơ mộng.

Thoạt tiên, khi người Pháp mở đường lên Ðà Lạt, trên Quốc Lộ 20 sau này, từ Bảo Lộc, Di Linh đi lên họ đã mở một đường đèo ngắn hơn nhưng nguy hiểm hơn song song với đèo hiện hữu xuyên lên khu trại Hầm. Ngay ngọn đèo đã bỏ hoang ấy, với đường rải đá loang lỗ, có một ngôi Chùa Sư Nữ với những cây mít lâu năm cằn cỗi và vườn mận trái ngọt.
Từ ngã bao đầu dốc Preen mới, qua Biệt Ðiện sẽ đến khúc Ðại lộ Trần Hưng Ðạo rộng gấp ba bốn lần những con đường trên Ðà Lạt, với những ngôi biệt thự hai bên đường sang trọng dẫn đến khu Villa Alliance của các nhà Truyền Ðạo Tin Lành ở ngay đầu dốc Preen cũ, liền với ấp trại Hầm nổi tiếng với những khu vườn Mận ngọt lịm chớm vàng ươm hoặc màu tím sẫm đen. Từ đây dẫn xuống Biệt Ðiện số 3 nằm khuất trong rừng núi sâu là nơi Vua Bảo Ðại làm chỗ đi săn bắn. Ðầu dốc đường vào trại Hầm, có một biệt thự làm Nitgh Club, mãi đến tập niên 60 mới dẹp bỏ. Từ đây đi về hướng Ðông là đường đi Phan Rang với đèo qua Trại Mát, Trạm Hành, Ðơn Dương, đèo Ngoạn Mục, Sông Pha. Bên trái, trước khi đến khúc quan nhìn xuống hồ Than thở là một biệt thự lúc xưa làm chỗ "Mãi Dâm" công khai cho lính Viễn chinh Pháp ( Borden Militaire ). Bên phải là hai trụ sơ Ưcủa Hướng Ðạo Pháp để lại. Trại Mát là một làng nhỏ bên đường với ngôi nhà thờ Cao Ðài khá lớn và vườn cây cà phê, rau cải. Bên trong xa có ghền và thác nước nhỏ rất ngoạn mục nhưng chưa được khai thác thương mại và xóm dân gần đa số di cư từ Quảng Nam, Quảng Ngãi vào. Từ Trạm Hành phải đổ con dốc 4, 5 cây số mới đến Ðơn Dương với Hồ nước Ðập Ða Nhim do người Nhật xây dựng thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm.

Song song với đường đi Trại Mát, nối dài đường vòng hồ Xuân Hương là con đường nằm ngang dưới chân biệt thự và phòng mạch của Bác sĩ Sohier, đã sống gần trọn đời tại nơi này, đưa vào Nha Ðịa Dư Quốc Gia và Trường Trung Học "Grand Lycée Yersin". Trường sở bề thế chiếm hẳn một chỏm núi rộng cả ngàn mét vuông với các dãy nhà hai tầng làm phòng ốc cho lớp học, nhà nội trú, phòng thể dục với sân rộng lớn hơn một sân bóng đá và một tháp chuông vươn lên khỏi chòm rừng thông, ở hướng Ðông, nhìn xuống hồ nước. Ðây là một cơ sở giáo dục lớn do Chính phủ Bảo hộ Thuộc địa Pháp xây dựng được đặt thống thuộc trực tiếp vớiBộ Giáo Dục của nước Pháp, với chương trình học, thi cử được sự công nhận của Mẫu Quốc với Chương trình học, Giáo sư và sách vở đến từ Pháp. Con em của dân Pháp thuộc địa và công chức Pháp đã gửi lên đây ở nội trú theo học cùng với các gia đình người Việt giàu có hoặc làm việc cho Pháp. Ngoài ra, còn có một số ít người Thượng của các sắc tộc trên Cao Nguyên được tuyển chọn cho vào học miễn phí trong kế hoạch lâu dài cho cuộc thống trị. Một số người Thượng gốc Kơ Ho, Ra Ðê còn được đưa qua Pháp du học để trở về phục vụ cho chính phủ thuộc địa Pháp. Ðây cũng là mầm mống đã nảy sinh ra Mặt Trận FULRO ở Cao Nguyên của người Thượng với sự tiếp tay của Lực Lượng Ðặc Biệt Mỹ sau này. Nơi này cũng thu hút nhiều nhà trí thức của Pháp muốn thay đổi không khí tìm đến dưới hình thức dạy học như Thi sĩ Jean O'Neil còn lăng mộ nằm sau lưng Nhà Thờ của địa phận Ðức Bà "Domaine de Marie" ở ấp số 4, Ða Nghĩa, trên một thế đất giữa thung lũng nhỏ với dòng nước bao quanh rất nên thơ.

Từ ngã ba vào Nha Ðịa Dư, đường vòng qua Ga Xe Lửa tọc lạc trên một mảnh đất khá rộng san bằng một chỏm núi với ấp Hồng Lạc nằm dọc theo khe nước. Ấp này mới thành hình từ năm 1951 với khu trại gia binh dành cho Ngự Lâm Quân đồn trú bảo vệ Hoàng Triều Cường Thổ. Ðường xe lửa chạy song song với đường bộ đi về Trại Mát đến Ðơn Dương. Ở những chặng đường đèo, xe lửa được giữ lại nbằng móc sắt ỏ giữa đường với thêm một đầu máy đẩy lúc lên dốc và hãm lại lúc xuống dốc. Sau này đường xe lửa ngưng chạy vì an ninh đã trở thành trụ sở của Hàng Không Air Việt Nam để lập thủ tục đưa hành klhách bằng xe ca về tận Phi trường Liên Khương ( cách 20 cây số về Nam ). Từ Ga xe lửa qua ấp Cô Giang, Cô Bắc là nơi có một biệt thự nghỉ mát cho Không Quân trước năm 75. Với nhiều biệt thự theo kiểu của Anh, Ý đến tận ngã rẽ vaò trường Võ Bị Ðà Lạt, trước khi vào khu phố Chi Lăng và hồ Than Thở ở phía Ðông, Trường Võ Bị được chính phủ Bảo Hộ Pháp thành lập để đào tạo cán bộ cho Quân đội thuộc địa. Bên cạnh là bệnh viện quân đội ỏõ Catroux ỏõ làm nơi chữa trị và dưỡng thương cho Sĩ quan Pháp từ các mặt trận chuyển về.

Bệnh viện với nhiều căn nhà trệt và một nhà lầu hai tầng bao quanh một sân rộng như sân bóng tròn, nằm trên một chỏm núi san bằng sâu vào bên trong, nối liền với cơ sở của trường Võ bị Liên Quân cũ. Bên ngoài là cơ ngơi của các Y sĩ, Sĩ quan phục vụ với gia đình. Vào năm 1960, trường Võ Bị Liên Quân được cải tổ thành trường Võ Bị Quốc Gia dưới thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, với cơ sở bề thế, khang trang mới được xây dựng trên ngọn đồi 1515 san bằng bên cạnh trang trại của Farraut và gần hồ Than Thở. Với Chính phủ Quốc Gia và chương trình Ðại Học 4 năm lồng trong việc huấn luyện quân sự lấy theo khuôn mẫu của trường Võ Bị West Point bên Mỹ, đã thu hút nhiều thế hệ thanh niên ở miền Nam từ năm 60 đến 75.

Với 4 khóa học cùng một lúc trong trường, vào ngày nghỉ được ra phố cuối tuần, các sing viên Sĩ Quan đã tô điểm thêm cho vẻ sang trọng của Thành phố với các bộ quân phục mùa Hè và mùa Ðông thẳng nếp chỉnh tề, đẹp mắt. Bên trái của Trường Võ Bị nằm trên một ngọn Ðồi Cù, bên hồ là trung Tâm Nguyên Tử Lực Cuộc được xây dựng vào năm 1960, đã cung cấp một số giáo sư du học từ Mỹ về cho trường Võ Bị và Trường Ðại Học Chính trị Kinh Doanh, Văn Khoa và Sư Phạm ở Ðà Lạt.

Cơ sở của Khu Ðại Học Ðà Lạt ở ấp Ða Thiện vốn là trường ốc nội trú của Thiếu Sinh Quân Pháp sau năm 1955 được chuyển về Vũng Tàu. Cũng như cơ sở của Trường Trung Học Trần Hưng Ðạo bên hồ nước nhân tạo bên ấp Ða Thiện cũng từ cơ ngơi của Thiếu Sinh Quân giao lại từ năm 1952 với tên trường Bảo Long là Hoàng Tử của Vua Bảo Ðại. Nằm trên sân Cù là nền đất đỏ san bằng ngọn núi thấp là trường Nữ trung Học Bùi Thị Xuân nguyên thủy là trường Trung Học Phương Mai tên của Công chúa con Vua Bảo Ðại, rồi được đổi thành Quang Trung khi Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm lên chấp chánh. Sau cùng, tất cả nam sinh được dồn về Trung học Trần Hưng Ðạo và cơ sở này dành cho Nữ sinh với tên trường là Bùi Thị Xuân với đồng phục áo dài màu xanh, quần trắng. Ðối diện với trường Bùi Thị Xuân là trường Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị được lập năm 1961 đã cung ứng Sĩ quan CTCT cho các đơn vị quân đội. Ðây nguyên là cơ sở của trường Huấn luyện Hiến Binh của Quân Ðội Liên Hiệp Pháp, về sau giải thể nhập chung vào ngành Quân cảnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Dưới thung lũng hẹp của ấp Ða Thiện gồm đa số người Việt di cư từ Nghệ An, Hà Tĩnh vào, chuyên trồng trái dâu tây. Kế đến là ngọn núi nghĩa trang thường được gọi là Mả Thánh được lập từ ngày có thành phố Ðà Lạt với mộ bia chồng chất từ dưới chân núi lên đến đỉnh phía Ðông là khu mộ Tử Sĩ của những thanh niên yêu nước chống Pháp đã hi sinh. Dưới chân núi phía Tây, theo đường lên núi Bà là làng Ða Nghĩa với ấp số 4, ấp số 6 gọi theo mốc cây số đường, lên đến Ðăng Kia, Suối Vàng với ngôi chùa Linh Sơn (1) lâu đời. Ở Ðan Kia, có một cao ốc Tu viện Thiên Chúa đồ sộ nổi lên giữa rừng núi của Dòng Ða Minh.
Cao sừng sững về phía Bắc là dãy núi Bà với hai chỏm núi gần như chìm trong sương mù quanh năm. Hàng năm, các khóa Võ Bị đã lần lượt vượt đồi núi chinh phục đỉnh Lâm Viên như một truyền thống trước khi chính thức trở thành Sinh viên Sĩ quan.

Từ ấp số 4 về khu phố Hòa Bình có hai đường gần như song song. Ðường trên các ngọnnúi nối liền chạy ngang trước mặt khu tu viện "Domaine de Marie" với ngôi nhà thờ Ðức Bà uy nghi trên đỉnh núi với bậc cấp rộng lớn, xoai xoải đưa lên cửa chính với các cơ sở nhà tu khang trang vây quanh dành cho các Nữ tu Dòng Thánh Mẫu Marie với cơ sở trường tiểu học đạo Thiên Chúa. Nằm khiêm nhừng bên dưới, bên đường Hai Bà trưng là trường Tiểu học Ða Nghĩa, bắt đầu bằng một ngôi nhà dành cho ba lớp sơ cấp từ năm 1945 đến 1959 mới phát triển thành trường Tiểu Học, Tiếp đến, trên đường Hai Bà Trưng bên dòng suối nhỏ chảy về Cam Ly là Cư xá công chức của Thị xã như Bưu Ðiện, Công chánh.v.v. . . Với các vườn rau cải dọc theo dòng nước tiếp liền qua đường Phan Ðình Phùng khởi đầu một khu phố buốn bán sầm uất. Gần nhà thờ Ðức Bà tọa lạc khu Nhà Thương dành cho quần chúng với sự chăm sóc nhân từ của các Sơ từ Tu Viện Domaine de Marie đến làm việc từ thiện bác ái.
Nhà Thương Ðà Lạt dành cho quần chúng nghèo và người Thượng từ các Buôn về. Dãy nhà lầu hai tầng rộng rãi cách khu nhà Thương chừng vài trăm mét về phía Nam là Bệnh viện Ðà Lạt với các Bác Sĩ, Y Tá người Pháp dành cho giới giàu sang. Về phía Tây, gần đấy là cơ sở nhà Ðoan đổ dốc nhỏ qua các biệt thự với vườn cây Mận dày đặc đưa lên ngọn núi với các cơ sở của Cảnh Sát và Công An đổ về miệt thác Cam Ly. Dưới chân núi Nhà Ðoan là xóm Lò Gạch, sau này đổi tên là đường Hoàng Diệu tiếp giáp đến khu nhà sàn định cư của một số người Kơ Ho làm việc cho Trang trị nhà Farraut. Các Bà Sơ dòng Tu cũng coÀ một thời mở một tiệm ăn ở đầu dốc gần nhà Ðoan để kinh tài với phong cách rất đặc biệt thu hút nhiều khách hàng từ xa đến.
Từ đường Phan Ðình Phùng, ở khoảng giữa, có ngả rẽ lên dốc với chùa Linh Sơn (2) trên lưng núi với cơ ngơi khá bề thế và trang trí đẹp mắt, hòa nhã nối tiếp qua con đường Võ Tánh đưa xuống hồ Ðội Có, là hồ nhỏ chứa nước dùng cho cả thành phố với nhà máy lọc nước. Từ đây đi ngược lên núi là đường độc đạo đưa lên Dinh Thị Trưởng, đường Hàm nghi dẫn vào phố chợ, trước được người Pháp bắt chước Tàu đặt tên là đường An Nam với ngôi nhà thờ Tin Lành hỏ gọn ở lưng chừng núi và rạp chiếu bóng nhỏ xíu nằm chênh vênh bên dốc đứng nhìn xuống đường Phan Ðình Phùng. Từ đây đi vào vào Bến xe cũ ngay dưới chân Dinh Thị Trưởng và Khu phố Chợ với Nhà Lồng Chợ ở giữa và tiêm buôn bán, nhà hàng bao quanh gồm một số đáng kể của người Tàu đã định cư lâu đời theo dân Pháp thuộc địa, nổi tiếng với những nhà hàng ăn sang trọng như Au Chic Sanghai, tiệm bánh mì Vĩnh Châu, tiệm thuốc Bắc, Tạp hóa xen lẫn một ít cơ sở buôn bán của người Việt vốn dòng dõi Hoàng tộc nhà Nguyễn. Các Ông thì đều là Tôn Thất và các Bà, các Cô đều là Tôn Nữ. Bà chủ tiệm vàng lâu đời Bùi Duy Chước vốn là Công Tằng Tôn Nữ. Ðấy là thời kỳ Hoàng Triều Cương Thổ. Ðến năm 54, những tiệm phở Bắc nổi lên với Phở Bằng ở đường Hàm Nghi, Phở Tín bên hông chợ và Càphê Tùng với cà phê Ban Mê Thuột và nhạc trào lưu mới quyện trong khói thuốc lá mịt mù. Vài năm sau có gia đình lưu lạc từ Nam Vang lên đây mở tiệm hủ tiếu Nam Vang lừng danh. Gần rạp chiếu bóng Ngọc Hiệp, đầu hẻm từ Phan đình Phùng đi qua đường Hai Bà Trưng là quán Mì Quảng với hương vị đặc biệt nổi danh lại do một ông người Bắc vào Nam từ những năm 1940 đứng nấu. Ngay góc đường đầu dốc Duy Tân có tiệm làm bánh mì Vĩnh Chân nóng giòn từ sáng sớm cho đến khuya. Sau này, vào khoảng năm 59, có người Do Thái "nhận nơi này làm quê hương" mở lò bánh mì ngon hơn hết. Về khuya, khi các tiệm tạp hóa đóng cửa, quanh khu chợ Hòa Bình và đường nhỏ trước mặt khách sạn Thủy Tiên đã mở ra các gánh bắp nướng, cháo gà, bún riêu, bún bò. . . cho khách đi chơi về đêm. Con đường nhỏ này chạy ngan cổng trường Tiểu học Ðà Lạt dẫn vòng theo triền núi qua Thư viện cũ, sân Quần Vợt, Cư Xá Sinh Viên Ðại Học Nữ và các biệt thự lên đến đỉnh núi với giao thông hào và hố chiến đấu còn sót lại từ thời quân Nhật chiếm đóng. Với một trang trại nhỏ của Farraut do mấy người Thượng ở trông coi. Ðầu dốc khu Hòa Bình, con dốc ngắn đổ xuống cầu ông Ðạo với hai hàng cây Mai Ðà Lạt nở hoa màu hồng tươi thắm rộ hai bên lề đường. Con đường phía trên qua dãy ỏõ Kiosque ỏõ nhỏ, đến rạp Ngọc Lan, với xe Phở Bắc nổi tiếng món phụ hành ngâm giấm và cải xà lách răng cưa, vòng ấp Ánh Sáng xuống cầu Bá Hộ Chúc. Năm 1958, Ấp này được lập cho dân nghèo với những căn nhà vách ván mái tôn. Ðầu ấp là Bến xe đò cũ sau ngày ngôi chợ mới được xây cất xong. Chợ mới này là công trình của Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, khởi công vào năm 1958 với khúc Ðại Lộ ngắn nguyên là hẻm núi giữa khu phố Hòa Bình và chân núi xoải dài từ Dinh Thị Trưởng ra đến hồ Xuân Hương. Trên núi là Nhà Giam Chính của Ðà Lạt, với một số biệt thự nhìn xuống hồ như biệt thự của Bảy Viễn, Luật sư Hoàng Cơ Ðịnh. . . Kiến trúc ngôi chợ hai tầng dựa lưng vào vách núi với bậc thang rộng rất ngoạn mục dẫn lên Khu Hòa Bình với Phòng Trà ỏõ La Tulipe Rouge ỏõ vang bóng một thời với các Ca sĩ Mỹ Thể và Khánh Ly thuở còn chưa nổi tiếng, cùng một vài khách sạn và nhà Kiosque làm tiệm ăn, bán hàng Len,vật Kỷ niệm. Ðường vòng hồ Xuân Hương được tô điểm thêm, năm 1959 với vườn Bích Câu trồng đủ các loại hoa đẹp, rực rỡ quanh năm thu hút khách du lịch từ phương xa tới với bầy ngựa núi làm cảnh.
Từ hồ Xuân Hương đi lên trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân là đường Võ Tánh với xóm nhà nhỏ và vườn cây đào, cây mận. Nơi này là chỗ sinh trưởng của Nhạc sĩ Lê Uyên với những khúc tình ca khác lạ với dòng nhạc đương thời làm rung động nhiều con tim của tuổi trẻ đang bước vào cuộc chiến ngày càng khốc liệt ở Một thành phần khác nữa là người Pháp thuộc địa và những kẻ làm việc cho họ hầu như đếu mang quốc tịch Pháp. Anh dấ gia nhập nhóm Tao Ðản. Ðải Phãt Thanh Saigon với giọng ngâm thơ truyền cảm và nức nở cùng với giọng ngâm Nữ Hồ Ðiệp.
Về người Ðà Lạt, ngoài người sắc tộc Ko Ho nguyên thủy, dưới triều đại Hoàng Triều Cương Thổ đời Vua Bảo Ðại, dân cư ai cũng có dính dáng đến Hoàng Tộc nhà Nguyễn di dân vào từ Huế.

Một thành phần khác nữa là người Pháp thuộc địa và những kẻ làm việc cho họ hầu như đếu mang quốc tịch Pháp. Trước năm 60, thành phố có khá nhiều trẻ lai Pháp ở các trường dòng Ðạo Thiên Chúa như Adran, Domaine de Marie. Sau năm 60, dưới thời hòa bình của Tổng Thống Diệm, việc trồng trọt rau cải được người Pháp mang giống sang từ lâu như bắp cải,sà lách, cà rốt .v.v . .. được phát triển mạnh với từng đoàn xe vận tải chở về bán tại Saigon, Nha Trang, một số khá lớn người từ vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi nghèo khó đã đến định cư và tạo thành một khối nhân lực đáng kể. Với sức chịu đựng lâu bền, cần cù, họ đã chăm chỉ khai thác tối đa những thung lũng, hẻm núi để tạo nên thành những thửa vườn rau tươi tốt quanh thành phố từ Trại Mát, ấp Thái Phiên, cây số 6, Lò Gạch, Cam Ly Thượng đến Suối Cát, Suối Tía.
Trong cuộc chiến tranh khốc liệt ở miền Nam từ năm 1965 đến 1975, lớp thanh niên sinh trưởng ở Ðà Lạt đã vào quân đội đi chiến đấu và hi sinh khá nhiều ở các mặt trận. Phần lớn, vốn thích mặc đẹp và oai hùng, họ đã gia nhập vào Không Quân và Hải Quân của Việt Nam Cộng Hòa.

Nhắc đến Ðà Lạt, cũng không thể thiếu những địa danh ở ngoại ô. Dưới chân đèo Ðơng Dương là đập nước Ða Nhim. Bên dưới dốc Preen, ở cây số 17 là đường vào La Ba, Ðức Trọng với thảo nguyên rộng mênh mông trên cao và hồ nước trong xanh nổi tiếng với một loại khoai lang mật ngọt như mật đường được xẻ phơi khô và chuối trái nhỏ vỏ mỏng, quả thơm trái lớn.
Ngày xưa, tôi từng có mộng về hưu về đây mở trang trại trồng trọt với thú săn bắn về đêm. Vài cây số về phía Nam là Phi trường Liên Khàng về sau được đổi gọi là Liên Khương với thác nước rộng lớn đổ xuống khu làng Tùng Nghĩa của các sắc dân miền Bắc di cư vào năm 1954 lập nghiệp sinh sống. Thác nước hùng vĩ và ngoạn mục hơn nằm xa trên Quốc Lộ 20 về phía Nam độ 30 cây số là thác Gougah và Pongour nằm sâu vào bên trong phía Tây Quốc Lộ. Về phía Ðông Bắc của thành phố, bên ấp Thái Phiên là con đường đất bỏ hoang do người Pháp thiết lập để nối từ Ðà Lạt về Nha Trang. Về sau, có một Buôn người Thượng định cư ở đây gọi là Ða Rơ Hoa.

Một số không ít đã gia nhập vào trường Võ Bị Quốc Gia tại Ðà Lạt và đã có hai Thủ Khoa. Chiến tranh chỉ nhớm chân ngoài rìa thành phố và một vài biểu tượng từ các Phi Hành đoàn Trực thăng của Không Quân ghé lại với chiến phục và súng đạn. Ngoại trừ, một vài lần vào năm Mậu Thân 68, một lực lượng yếu kém của Việt Cộng xâm nhập từ Ðan Kia, Suối Vàng về đến rạp Chiếu bóng trên khu phố Hòa Bình đã bị quân đội ở địa phương đánh đuổi ngay ngày hôm sau. Còn lại là những vụ pháo kích nhỏ, lẻ tẻ vào một vài nơi đồn trú của Quân Ðội. Dù vậy, chiến tranh cũng không để lại dấu vết nào đáng kể trên thành phố thơ mộng, êm đềm này.
Có nhiều nghi vấn về ngôi chùa Linh Sơn (3) đồ xộ, tráng lệ đã được xây cất lên sau 1975 ở vùng Suối Tía, từ đầu dốc Preen đi vào là nơi vốn là địa bàn hoạt động của Du kích Việt Cộng ngày xưa và trong lúc dân chúng nghèo đói cực khổ của một quốc gia được Liên Hiệp Quốc xếp hạng gần chót của các nước nghèo trên thế giới.
ÐÀ LẠT NGÀY NAY:

Sau năm 1945, trong cao điểm của thời kỳ chống Pháp với phong trào Việt Minh do Cộng Sản chủ mưu, một số thanh niên yêu nước đã hăng hái theo vào chiến khu rồi sau đó, ở thế kẹt, phải ra tận ngoài Bắc trong chiến dịch Tập Kết vào năm 1954. Một số lớn họ đã trở về Ðà Lạt sau năm 1975. Những người này với tinh thần ôn hòa đã cố giữ quê hương của họ tráng giai đoạn tàn sát của chủ nghĩa Cộng Sản cho đến thời kỳ được gọi là "Ðổi Mới".
Nhưng từ sau năm 1975 cho đến 79, 80, một số rất lớn những người có máu mặt, tiền của, trí thức đã chạy trốn khỏi Ðà Lạt. Ðặc biệt là những người có liên hệ đến chính phủ Pháp vốn có quan hệ ngoại giao tốt đẹp với Hànội đã lần lượt được ỏõ Hồi Cư ỏõ về Pháp, để lại đằng sau những biệt thự rộng lớn, nguy nga, tráng lệ không có người ở, chăm sóc và cửa tiệm đóng cửa.
Năm 1984, khi được thả về từ Trại Tù Cải Tạo, tôi đã trở về thăm gia đình và lòng tràn đầy chua xót khi thấy ỏõ quê hương của mình đã mất ỏõ. Bây giờ chỉ còn người dân Ðà Lạt lam lũ, tất bật. Những người ở lại là những người sống bám theo những mảnh vườn rau cải. Ngoài ra,hơn 20 ngàn người từ miền Bắc được chính quyền mới đưa vào Nam với chính sách di dân khống chế Cao Nguyên Miền Trung đã phá rừng ở quanh khu lân cận thành phố khiến cho các dòng nước bị cạn, và thời tiết cũng không còn mát mẻ như xưa. Con đường Phan Ðình Phùng buôn bán thuỏ xưa, nay đã trở nên đông đúc, chật hẹp và ồn ào náo nhiệt như một khu phố của thành phố SàiGòn ngày trước. Với mức dân số tăng vọt sau chiến tranh, thành phố đã phát triển vô tổ chức, không kế hoạch đưa đến tình trạng bát nháo, từ khu vực Phan Chu Trinh, Nhà Ðèn đến Chi Lăng ăn vào tận Hồ Than Thở. Cơ sở của Trường Võ Bị nay tiêu điều, xơ xác như bị bỏ hoang. Các dòng nước bị ngăn chặn và lám cho các hồ Than Thở, Xuân Hương muốn cạn khô khiến vẻ đẹp thiên nhiên không còn nữa. Các loại xe máy nổ cũng tăng vọt làm cho không khí yên tĩnh của Ðà Lạt ngày xưa biến mất. Ðến thời kỳ đổi mới,người Nhật, người Tầu Ðài Loan, Hồng Kông đã đổ tiền vào khai thác như tu sửa khách sạn La Palace, làm sân Golf, xây khách sạn nghỉ mát trên vùng đồi núi bên hồ nước Suối Vàng. Ðà Lạt bỗng chốc biến dạng như một thiếu phụ đã luống tuổi vội vàng tranh điểm, thay đổi xiêm y. Một giai cấp mới được thành hình vừa ỏõ Rởm ỏõ lại vừa "lai căng". Tây không ra Tây, Tầu không ra Tầu. Ðà Lạt diễm kiều của ngày xưa nay đã mất. Thay vào đấy là cô gái Xã Hội Chủ Nghĩa đi giầy cao gót, đồng phục công nhân và mái tóc cắt ngắn đã được nhuộm màu vàng, đỏ với đôi mắt láo liên và đôi môi cong cớn. Ngọn núi nghĩa trang của Ðằ Lạt có từ những năm 30 đến nay đang bị đào xới và san bằng cho chương trình kế hoạch của người tư bản Nhật. Ở đấy, có cả một nhóm mộ ngày xưa được gọi là Mộ Tử Sĩ, ngày nay không còn ai công nhận để bị dẹp bỏ cho con đường đổi mới.
Những người cầm quyền như lưỡng lự đứng giữa ngã tư đường không biết nên đi theo hướng nào. Một thành phố Du lịch và Nghỉ mát có mâu thuẫn với Xã hội Chủ nghĩa không? Bây giờ dân số Ðà Lạt đã gấp ba lần trước năm 1975, chưa rõ phải sống trên nền móng kinh tế nào?
Cuộc khai thác du lịch như nửa mùa, quê kệch ở hồ Xuân Hương, Thác Cam Ly, Thác Da Tan La, Preen, Suối Tía, Rừng Ái Ân, Biệt Ðiện vua Bảo Ðại chỉ làm cho bộ mặt Ðà Lạt càng thêm diêm dúa như "gái đĩ về già".
Ðà Lạt ngày nay càng xói mòn vì mưa lở và khí hậu ngày cáng nóng bức vì trơ trụi mất rừng cây thông bạt ngàn bao quanh.

TRẦN NGỌC TOÀN


Hoàng Thy Mai Thảo  
#383 Posted : Sunday, November 8, 2009 7:56:56 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,298

Thanks: 6947 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
Sưu tầm cách bắt tay .....

UserPostedImage

Xin cống hiến quý độc giả về sự sưu tầm cách bắt tay với ý nghĩa của việc bắt tay (luận bàn đúng hay sai của lối bắt tay, xin dành cho cho quý độc giả và những nhà tâm lý học).

Tính cách qua cái bắt tay

(*Nguồn DĐCL)

Kiểu
bắt tay tiêu chuẩn là nắm bàn tay đối phương với lực vừa phải, thời
gian từ 1 đến 5 giây. Tư thế dùng lực và thời gian dài hay ngắn đều
biểu lộ một cách chính xác rõ ràng và trạng thái tình cảm khác nhau của
người bắt tay.

Bắt tay đúng tiêu chuẩn: Bắt tay đúng tiêu chuẩn
là lực nắm tay vừa phải, động tác chuẩn, mắt nhìn vào người đối diện.
Những người bắt tay thế này là người có tính thẳng thắn kiên nghị, thận
trọng, có tinh thần trách nhiệm, đáng tin cậy.

Kiểu bắt tay
nắm lấy: Là kiểu bắt tay lấy tay mình nắm chặt bàn tay đối phương với
lực nắm khá mạnh, có thể gây cảm giác hơi đau. Người hay bắt tay kiểu
này là người có đầu óc tổ chức, có năng lực lãnh đạo, lòng tự tin cao,
người có sức mạnh, kiểu bắt tay này thoạt cho ta có cảm giác thân
thiện, nhưng cũng có lúc là để che giấu biểu hiện giả tạo.

Bắt
tay lỏng: Là khi bắt tay chỉ dụng nhẹ vào tay khiến cho có cảm giác
chậm chạp, nhẹ nhàng. Đây là người có tính cách ôn hòa, thoải mái,
khiêm tốn, không chấp vặt.

Bắt tay kiểu "găng tay": Còn gọi là
kiểu bắt tay khách sáo, là khi bắt tay dùng hai tay ôm lấy bàn tay.
Biểu hiện sự thành khẩn, nhiệt tình, thành thật, là người đôn hậu, hiền
lành, hết lòng với bạn bè, nhưng nếu mới biết lần đầu thì lại cần nên
cẩn thận để ý coi ý tứ của họ.

Bắt tay giữ tay lâu: Là người có tình cảm phong phú, thích kết bạn, sống trung thực.

Kiểu
bắt tay "cá chết": Là khi bắt tay không dùng nguyên bàn tay mà chỉ giữ
mấy đầu ngón tay, là một kiểu bắt tay không chuẩn. Người thích bắt tay
kiểu này là người nhạy cảm, ôn hòa, người thiếu tự tin, nhưng là người
trung thực có thể tin cậy được .

Bắt và lắc tay: Là nắm chặt lấy
tay và lắc không ngừng. Đây là người lạc quan hào phóng, cởi mở, luôn
luôn vui vẻ, không lo lắng họ với mọi khó khăn luôn lạc quan yêu đời.

Kiểu
cứng đơ như gỗ: Tức là đưa tay cứng ngắc ra xa để bắt tay. Đây là người
có tính cảnh giác cao, tạo sự cách biệt với mọi người, họ luôn muốn duy
trì một khoảng cách.

Kiểu bắt tay chi phối: Là đưa bàn tay chúc
xuống để bắt tay, đây là kiểu bắt tay thô lỗ nhất, ngạo mạn khiến mọi
người không hài lòng. Người hay bắt tay kiểu này là người tự đại luôn
luôn muốn tỏ cho mọi người là họ đang đứng ở vị trí ưu thế, không có sự
hòa đồng với mọi người. Tiếp xúc với họ nên cẩn thận để khỏi bị chi
phối, khống chế.

Kiểu tùy ý: Là bắt tay tự nhiên và nhẹ nhàng. Đây là người thích phô trương để biểu hiện bản thân họ rõ ràng.

Kiểu
bình đẳng: Là giơ thẳng tay ra, trong qua trình bắt tay, tay của hai
người đều thẳng và hơi bóp nhẹ. Đây là người hiếu động có lòng tin, có
thể kết bạn với họ.

Bàn tay có mồ hôi: Khi bắt tay có người hay ra mồ hôi là biểu lộ hiện tượng tâm lý căng thẳng không ổn định.

*
Lời người sưu tầm: Còn một kiểu bắt tay khác cũng khá độc đáo nữa. Quý
anh đã từng ra làm việc có thể biết lối bắt tay kiểu này từ quý thương
gia. Xin quý anh góp ý thêm. Sn.

Hồi đi làm việc trước 75 tôi có gặp một lần và hoảng
quá!!! Còn bây giờ chắc là hà rầm đúng như anh nói cái bắt tay theo
định hướng ... XHCN.... hihihi...
Sn.
........Khoảng năm 1973-1974 khi tôi đang làm Hiệu
trưởng trường Trung học Quận 9 Sài gòn (tức là Thủ Thiêm, bên kia sông
Saigon) một buổi sáng có một bà cụ già cở 70 nhai trầu nhỏm nhẻm, vào
văn phòng xin Chứng Chỉ học trình cho thằng cháu ngoại.
Anh thơ ký
lục hồ sơ, đánh máy Chứng Chỉ, trình tôi ký. Chưa đầy 15 phút, anh thơ
ký trao chứng chỉ cho bà cụ. Bà ngạc nhiên về sự phục vụ quá mau chóng,
một tay bà nhận chứng chỉ, một tay bà rút túi áo bà ba lấy ra tờ giấy
Trần Hưng Đạo (100 đồng) dúi vào tay anh thơ ký.
Anh thơ ký vừa ngạc nhiên vừa cảm động nói "Ngoại ơi, cất tiền đi. Tụi cháu làm giấy này đâu có tính tiền".
Tôi nghe câu chuyện, bước ra hỏi "Nhà bà ở đâu?". Bà cụ đáp "Dạ ở tuốt dưới Giồng Ông Tố đường đi Cát Lái".
Đó là lần đầu tiên tôi thấy một người đàn bà nhà quê, lớn tuổi, mà rành thủ tục đầu tiên như vậy).
s/t Net
Tu Bich  
#384 Posted : Sunday, November 8, 2009 11:28:35 PM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Sinh vì kinh tế, diệt cũng vì kinh tế

Thursday, November 05, 2009
Ngô Nhân Dụng

Chủ nghĩa Cộng Sản ra đời từ những phân tích về kinh tế tư bản của Karl Marx. Sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở Âu Châu xóa tan giấc mộng hão huyền do Marx gợi ra và được Lenin cùng Stalin xây dựng, cũng bắt nguồn từ lý do kinh tế. Khi các người theo chủ nghĩa cộng sản chỉ tìm cách thủ tiêu lẫn nhau thì chủ nghĩa đó vẫn còn sinh khí. Khi các đồng chí quay ra hối lộ, mua chuộc nhau bằng tiền mặt, thì tòa lâu đài trên cát đã sụp ngay từ nền tảng.

Cuộc chạy đua giữa hai khối tư bản và cộng sản chấm dứt vào năm 1989 không phải vì các tư tưởng tự do đã chinh phục được mọi người và thắng ý thức hệ Mác xít. Cũng không phải vì hệ thống chính trị dân chủ đã đánh bại hệ thống độc tài đảng trị. Thế thắng bại sau cùng được quyết định trong cuộc chạy đua giữa hai lối tổ chức kinh tế khác nhau.

Cuối cùng thì mô hình tổ chức xã hội từ trên xuống dưới kiểm soát toàn dân đủ mọi mặt, với nền kinh tế hoạch định tập trung, đã chịu thua cách tổ chức xã hội theo lối tự do dân chủ với quyền lực phân phối tản mạn, cân bằng và kiểm soát lẫn nhau, và nền kinh tế thị trường năng động.

Ðặc tính quan trọng nhất là trong thế giới gọi là tự do, hoặc gọi là tư bản, quyền quyết định sau cùng là từ dưới lên trên. Hàng triệu người tiêu thụ, hàng triệu các cử tri vô danh có khả năng ảnh hưởng trên những người nắm quyền cao nhất trong các xí nghiệp và các guồng máy nhà nước. Họ được bảo đảm có khả năng và cơ hội sự dụng quyền gây ảnh hưởng này, trong việc mua bán và hành động bỏ phiếu. Có người gọi mô thức đó là “xã hội mở” (open society). Có người gọi đó là một hệ thống bảo đảm sự “tham dự đồng đều” (equal access). Chính nhờ tính chất cởi mở và mọi người tương đối có cơ hội bằng nhau đó cho nên kinh tế ở các nước tư bản đã phát triển, trong khi các nước cộng sản thì trì trệ.

Nếu hệ thống kinh tế chỉ huy và tập quyền có khả năng phát triển lâu dài thì chắc chế độ độc tài đảng trị vẫn còn tồn tại rất lâu. Nikita Kruschev tin vào khả năng đó khi ông đe dọa năm 1961 rằng, “Chúng tôi sẽ chôn vùi các anh!” Khi Liên Xô đưa tiền nuôi các đảng cộng sản đang thành hình, vũ trang các phong trào giải phóng khắp thế giới, viện trợ cho các nước chư hầu, và khi họ phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên, tất cả đều là cảnh phô trương sức mạnh kinh tế của hệ thống cộng sản. Nhưng cuối cùng, niềm tin đó bị sự thật kinh tế phủ nhận.

Bởi vì, trái với hình ảnh “như Marx nói hàng hóa phải nhiều như nước chảy ra,” kinh tế các nước cộng sản ngày càng suy yếu vì sau khi các nhà máy và đồng ruộng được tập thể hóa, những người lao động, người nông dân không còn động cơ tự nhiên để tìm cách sử dụng tài nguyên theo lối có hiệu quả cao nhất nữa. Bây giờ, nhiều người cộng sản ở nước ta giải thích rằng hệ thống chỉ huy tập trung của họ “trái với các quy luật kinh tế.” Thực ra, chỉ nhìn qua cũng thấy là nó trái với bản tính của con người.

Trong phần kết luận cuốn hồi ký của Ðoàn Duy Thành, ông vẫn bám lấy niềm tin tưởng vào chủ nghĩa, vẫn hy vọng có một phép lạ nào đó giúp cho giấc mộng cộng sản có ngày thành sự thật. Ông viết, “Bác Hồ dạy muốn có chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa.” Ông khen cái khẩu hiệu đó là “chí lý” đồng thời lại nhìn ra, “nhưng khó lắm.” Ông chỉ không có can đảm thú nhận rằng tất cả chủ nghĩa đó chỉ là những ảo tưởng vì con người, loài người không thể sống như vậy. Một nền kinh tế tập thể hóa có thể đạt được những thành công trong bước đầu vì cưỡng bách tích lũy tài nguyên để sử dụng. Nhưng tình trạng đó không thể kéo dài vì năng suất của cả hệ thống ngày càng giảm, một quy luật kinh tế mà chính Karl Marx đã nhìn thấy trong kinh tế tư bản. Cán bộ ở trung ương có thể hoạch định bằng các con số nhưng không thể bảo các công nhân làm việc để cải thiện sản phẩm. Họ cũng không thể đoán trước sẽ phải sản xuất cái gì phù hợp với nhu cầu của hàng triệu con người, không biết làm cách nào để nâng cao phẩm chất và sản xuất với chi phí ít tốn kém nhất. Chỉ có hệ thống thị trường tự do và phân tản mới có cơ hội thí nghiệm các sản phẩm mới, các phương pháp chế tạo mới, và dò dẫm tìm ra sở thích của hàng triệu người tiêu thụ để làm thỏa mãn họ. Chỉ trong hệ thống thị trường tự do mới có các doanh nhân chấp nhận rủi ro làm các cuộc thí nghiệm như vậy. Hệ thống kinh tế chỉ huy không chấp nhận rủi ro, mà cũng không quan tâm đến sở thích của mọi người. Có thể hàng hóa làm ra “như nước chảy” nhưng không ai muốn mua, không muốn sử dụng.

Yegor Gaidar, một nhà kinh tế đã giữ các chức vụ bộ trưởng và thủ tướng ở Nga sau khi chế độ xô viết sụp đổ đã giải thích sự sụp đổ của chế độ với hai nguyên nhân chính: Lúa và Dầu lửa. Ông viết cuốn sách với nhan đề “Sự sụp đổ của một đế quốc” sau khi tìm trong văn khố những tài liệu cho thấy sự tan rã của đế quốc Liên Xô là do bế tắc kinh tế. Giới lãnh đạo Liên Xô phải bỏ mặc cho các nước Ðông Âu tự giải thoát và những người làm đảo chính Tháng Tám năm 1991 sau cùng đành chịu quy hàng, tất cả đều vì kinh tế không lối thoát.

Trước hết là vấn đề thực phẩm. Trước cuộc Ðại Chiến Thứ Nhất, Nga là nước xuất cảng lúa mì. Chính sách tập thể hóa lúc đầu nâng cao sản xuất nhưng sau đó đã giảm dần so với dân số các thành phố tăng lên. Từ năm 1963 Kruschev đã phải ngưng bán rẻ thóc lúa cho các nước chư hầu, vì chính Liên Xô hàng năm phải nhập cảng thực phẩm. Nhu cầu nhập cảng ngày càng tăng lên mà ngoại tệ mạnh không có vì hàng chế hóa phẩm chất thấp quá không thể xuất cảng được, trừ khi đem trao đổi với các nước chư hầu. Một điều may mắn cho chế độ là nước Nga có một tài nguyên quý giá là dầu lửa. Từ giữa thập niên 1970 giá dầu lửa trên thế giới tăng bốn lần, trở thành nguồn ngoại tệ mạnh giúp Nga mua thực phẩm. Cũng giống như ở các nước chỉ sống nhờ xuất cảng nguyên liệu, giới lãnh đạo Nga ỷ lại vào nguồn tài nguyên đó và không cần nghĩ đến việc cải thiện hệ thống sản xuất ngày càng trì trệ. Nhưng dầu lửa là một món hàng giá cả thất thường, tăng lên tới 140 đô la một thùng rồi lại xuống có khi chỉ còn 20 đô la. Năm 1985, khi Á Rập Sau Ði quyết định bơm dầu lên không hạn chế, giá dầu tụt xuống khiến mỗi năm Nga thiệt mất 20 tỷ Mỹ kim, ngoại tệ sở hữu dần dần đi tới khánh kiệt, phải vay các ngân hàng Tây phương càng ngày càng nhiều. Ðồng thời, Nga bắt đầu bắt các nước chư hầu ở Ðông Âu khi mua dầu phải trả theo giá thị trường quốc tế. Mối liên hệ kinh tế quan trọng nhất trong đế quốc Liên Xô bị cắt đứt.

Năm 1989, Mikhail Gorbachev được ngân hàng Deutsche Bank báo cho biết không thể cho vay nữa vì kinh tế Nga hầu như tê liệt. Chỉ còn một cách là hỏi trực tiếp các chính phủ Tây phương để họ giúp bảo đảm các món nợ của ngân hàng nước họ. Nếu không vay được 100 tỷ Mỹ kim thì nước Nga, nhất là ở các thành phố sẽ có nạn đói.

Biết tình trạng suy yếu kinh tế ở Nga cho nên giới lãnh đạo cộng sản ở Ba Lan, rồi đến Ðông Ðức và Tiệp Khắc đã thay đổi, không còn cương quyết đàn áp dân chúng như cũ nữa. Họ biết rằng Hồng Quân Nga không thể đến cứu họ được khi dân nổi dậy như ở Hungary năm 1956, ở Tiệp năm 1968. Liên Xô không thể đem thiết giáp qua “dẹp loạn” ở các nước chư hầu, vì sợ một hành động như vậy sẽ chấm dứt luôn hy vọng vay được 100 tỷ Mỹ kim để nhập cảng lúa gạo.

Trong tình thế đó, Phong Trào Công Ðoàn Ðoàn Kết ở Ba Lan đã vùng lên, giới trí thức ở Tiệp Khắc công khai đòi dân chủ tự do, người Ðông Ðức chạy tị nạn sang phía Tây ào ạt. Và trong Tháng Mười 1989, khi hàng trăm ngàn dân chúng thành phố Leibzig từ nhà thờ Thánh Nikolai kéo ra xuống đường, chính đám công an xung phong đã buông súng, không bắn vào người dân nữa. Khi Chủ Tịch Gorbachev gặp Tổng Thống Bush ở Malta Tháng Năm, năm 1989, một đề tài chính là vay nợ. Sáu tháng sau, không còn một chế độ cộng sản nào ở Ðông Âu nữa.

Có thể nói, việc các ngân hàng như Deutsche Bank từ chối không cho chính phủ Liên Xô vay đã góp phần giải phóng các dân tộc ở Ðông Âu khỏi ách cộng sản.

Khi tiên đoán một xã hội mới sẽ ra đời sau khi giới vô sản chiếm chính quyền, Karl Marx dùng một thước đo để quả quyết tính chất ưu việt của chế độ mới, là “năng suất lao động” sẽ lên cao nhờ các công nhân làm chủ tập thể các phương tiện sản xuất. Cộng sản sẽ chôn vùi Tư bản chính vì phép mầu“năng suất lao động.” Nhưng Marx chỉ quan tâm đến quyền sở hữu mà nói gì về phương pháp quản trị các phương tiện sản xuất. Ông sống trong một thế giới kinh tế trừu tượng. Trong cả cuộc đời, ông không bén mảng đến các nhà máy, càng không biết gì về phương pháp quản trị sản xuất. Môn quản trị học đến thế kỷ sau mới ra đời, sau những thí nghiệm của Henry Ford. Cho nên Marx không quan tâm nghiên cứu xem làm như thế nào để tăng “năng suất lao động.” Các lãnh tụ cộng sản từ Lenin đến Fidel Castro cũng đều như vậy. Họ nghĩ rằng cứ bãi bỏ quyền sở hữu tư nhân, thay thế bằng sở hữu công cộng là xong hết.

Những con người lơ mơ không tưởng đó chỉ gỏi nghề cướp chính quyền và kiểm soát chặt chẽ người dân bằng bạo lực và dối trá. Cuối cùng, cả hệ thống cộng sản đã sụp đổ vì lối làm kinh tế đó không chạy.

Linh Phuong  
#385 Posted : Monday, November 9, 2009 12:02:35 AM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

Du hành xuyên thời gian trong chiếc Trabi

Sunday, November 08, 2009

UserPostedImage

Chiếc xe Trabi tiêu biểu của Ðông Ðức cũ, chạy máy hai thì.

UserPostedImage
Hà Giang/Người Việt
Viết từ Ðức

Một ngày trước lễ kỷ niệm 20 năm bức tường Berlin sụp đổ, phóng viên Người Việt cùng nhiều ký giả khác được mời tham dự một cuộc hành trình thật đặc biệt, gọi là “The Wall Tour” do cơ quan “Phát Triển Du Lịch Bá Linh” và công ty du lịch “Trabi Safari Berlin” phối hợp tổ chức.

“The Wall Tour” tạm dịch là “Hành Trình Bức Tường” được dành riêng cho giới truyền thông từ khắp thế giới đổ về Bá Linh trong dịp kỷ niệm 20 năm sụp đổ bức tường ô nhục.

Ngạc nhiên, bỡ ngỡ và cuối cùng là thú vị, khoảng hơn hai mươi ký giả của cả “báo giấy” lẫn “báo nói” đến từ nhiều quốc gia khác nhau như Anh, Trung Quốc, Thụy Ðiển, Thụy Sĩ, Pháp, Hoa Kỳ, Argentina, và Iran, ngay từ phút đầu tiên của cuộc hành trình, đã có cảm giác như được ngồi vào chiếc “time machine” và trong ba tiếng đồng hồ, du hành qua 20 năm vinh nhục của “cuộc đời” bức tường Bá Linh.

Bắt đầu chuyến du hành, các ký giả được tập trung trước hai chiếc xe vận tải, gặp Hồng Quân Liên Xô để xin giấy thông hành qua Tây Ðức.

Sau khi giấy tờ đã “hợp lệ”, từng nhóm hai hay bốn ký giả được đưa ra bãi đậu xe để chọn kiểu xe Trabi vừa ý nhất. Sau đó đoàn xe Trabi, do chính các ký giả lái, được hộ tống qua những vùng có dấu ấn của chủ nghĩa “Mác Xít”, “Lê Ni Nít”, và những điểm có những người bị bắn trong khi tìm cách vượt tường để trốn chạy khỏi Ðông Ðức.

Ðoàn xe gồm khoảng mười chiếc Trabi mang cờ Ðông Ðức nối đuôi nhau chạy đã tạo ra một cảnh tượng ngoạn mục lạ mắt trên đường phố Bá Linh, khiến mọi du khách hiếu kỳ dừng chân đứng xem, vẫy tay chào, chỉ trỏ và bấm máy hình liên tiếp.

Ðối với đám ký giả chúng tôi, được lái hay ngồi trên chiếc xe Trabi, tự nó đã là một điểm hấp dẫn của chuyến du hành này.

Trabi là tên một chiếc xe hơi do hãng xe VEB Sachsenring Automobilwerke Zwickau ở Ðông Ðức sản xuất, và trước đây rất được các nước cộng sản ưa chuộng, vì xe có bốn chỗ ngồi, chỗ để hành lý, lại nhỏ, gọn, nhẹ và có cái vỏ (body) rất bền.

Theo lời người hướng dẫn viên, thì mặc dù xe chiếc xe hơi “động cơ hai thì” Trabi này rất ồn ào, nhả khói tùm lum, và “không hề được cải tiến trong vòng ba mươi năm dài”, nhưng thời ấy, không phải cứ có tiền là mua được xe, vì thời gian từ lúc đặt tiền mua xe cho đến khi có xe trung bình phải mất 15 năm chờ đợi.

Tại sao? Cũng theo lời người hướng dẫn viên thì đó là “đặc tính của sự độc quyền!”

Sau năm 1991 thì chiếc xe Trabi “cổ quái” này bị ngưng sản xuất. Và từ đó người ta vẫn gọi đây là chiếc xe “thân yêu” một cách nhạo báng, và xem nó như một biểu tượng của sự thất bại của Ðông Ðức và sự suy tàn của chế độ cộng sản tại Ðông Âu, vì sau khi bức tường Bá Linh bị sụp đổ, bao nhiêu ngàn gia đình Ðông Ðức đã chất hết gia sản của họ lên chiếc xe để tràn qua Tây Ðức.

Trên đường đi, đoàn xe của chúng tôi dừng ở nhiều đài tưởng niệm của những nạn nhân đã bị bắn chết ở chân bức tường khi tìm đường vượt thoát qua Ðông Ðức, như “Ðài Tưởng Niệm Guenter Litfin”, người đầu tiên đã bị bắn chết sau khi bức tường được dựng lên vào ngày 13 Tháng Tám, năm 1961.

Ông Guenter Litfin bị lính gác Ðông Ðức bắn tại chân bức tường vào ngày 24 Tháng Tám, chỉ mười một ngày sau khi bức tường được đựng lên. Ðài “Tưởng Niệm Guenter Litfin”, được dựng lên để tưởng nhớ ông và bao nạn nhân khác đã bỏ mình trên đường đi tìm tự do.

Ðài tưởng niệm được dựng ở ngay một chòi canh của quân đội Ðông Ðức ngày xưa. Nhìn lên chiếc chòi canh cao vòi vọi, người ta vẫn còn thấy chiếc cờ của Ðông Ðức qua cánh cửa sổ nhỏ.

Ðến “Công Viên Bức Tường” (Wall Park), lại có một đài tưởng niệm khác.

Chúng tôi dừng đoàn xe lại để xem một khúc của bức tường nguyên thủy đã được giữ lại như một di tích lịch sử.

Tại đây, qua kẽ hở của bức tường bên trong, nhiều ký giả được thấy tận mắt, lần đầu tiên, cấu trúc của bức tường đôi, và hiểu rõ quyết tâm của chính quyền Ðông Ðức trong việc ngăn cản người dân thoát ra khỏi vùng kiểm soát của họ.

Hướng dẫn viên giải thích là nhiều người Ðông Ðức muốn vượt tường đã không biết là có bức tường đôi, và khi họ trèo qua được bức tường ngoài thì lại rơi vào vùng “đất cháy” rộng khoảng 30 mét, đầy mìn, và tại đó, họ là những con mồi dễ dàng của những anh lính gác.

Ðoàn xe đi qua “East Side Gallery”, mảng tường còn lại của bức tường ô nhục nguyên thủy, dài 1.3 kilô mét, nằm giữa trung tâm Bá Linh. Sở dĩ khúc tường này được đặt tên là Phòng Triển Lãm Phía Ðông (East Side Gallery), là vì 106 họa sĩ khắp thế giới đã vẽ tranh của họ trên bức tường này.

“East Side Gallery” là phòng triển lãm tranh lộ thiên lớn nhất thế giới, với những bức tranh với chủ đề ca ngợi tự do, dân chủ hay những chứng tích của tội ác cộng sản.

Vài ký giả đã ồ lên ngạc nhiên, vì trước đây vẫn tưởng rằng dấu vết còn lại duy nhất của bức tường là hai hàng đá lót chạy ngang biên giới ngày xưa phân chia Ðông và Tây Ðức.

Cuối đoạn hành trình, chúng tôi dừng ở Checkpoint Charlie. Tại đây “lính Nga” xét giấy thông hành rất kỹ.

Cuộc du hành xuyên thời gian đã chấm dứt, trả chúng tôi trở về thực tại.

Trả chiếc xe Trabi trở về chỗ cũ, tôi bâng khuâng so sánh dân tộc Ðức và Việt Nam, một bên nâng niu gìn giữ lịch sử, kể cả những sai lầm của nước họ, còn một bên thì muốn xóa bỏ hết mọi dấu tích lịch sử, để che giấu sự thật.

Dân tộc nào sẽ phát triển và hạnh phúc hơn?
hongvulannhi  
#386 Posted : Monday, November 9, 2009 2:12:00 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)

UserPostedImage

Dấu Yêu ơi,

Sáng nay, LN nghe được một bản nhạc hay qua radio. Buổi sáng đầu tuần, nghe được bản nhạc hay, lòng cũng thấy dịu êm. LN nhìn re bầu trời không mây, và nắng đã dịu nhạt đi vì khí lạnh của những ngày đầu đông.

Nhìn nắng cuối Thu không còn gắt
Như mùa nắng gắt của hè qua.

Và dòng nhạc cứ trải dài... LN sáng nay nhất định pha ca phe khong bang may, mà bằng cái " nồi ngồi trên cái cốc", mà cái cốc lại phải là cốc thuỷ tinh trong veo, để LN đếm những giọt cà phê chảy xuống.

Sở dĩ có cái vụ " đếm giọt ca phê " là tại, sau khi nhóm họp, còn nhiều chả giò, bánh cuốn, bò bía ... LN mang sang cho Sơn nữ một ít. Thấy Ln có vẻ buồn ngủ, Sơn nữ pha cho LN một ly cà phê, và câu chuyện ca phê ngày xưa bắt đầu bởi ông anh họ cho uống cà phê 20 giọt đôi khi pha tí Rum, ngon quên chết, và Sơn nữ mê ca phê từ tuổi mới lên 13.

Sáng nay LN muốn thủ ca phe 20 giọt. Bởi vì Sơn nữ cứ nhất định, chỉ cần 20 giọt cà phê đen trên cốc là đủ ngon cho một buổi sáng ấm lòng.

Lần đầu tiên LN " kiên nhẫn " ngồi đếm 20 giọt. LN thấy lỉnh kỉnh quá, vì cứ cái cữ quen thuộc cho vào máy, đổ một ly nước lấy một ly ca phê cho tí ti đường vào, nhâm nhi một hớp nóng, cũng đủ thấy vị đắng " ngọt ngào " ấm lòng rồi. Can chi mất thì giờ ngồi đếm 20 giọt, và lỡ nếu dòng nhạc đưa hồn đi ra biển khơi, nghe sóng vỗ bờ vào một buổi chiều nắng nhạt nhoà vì nhớ mong, thì ôi thôi, chắc là những giọt ca phê cứ tha hồ mà tràn ra ly ...

Sơn nữ còn thì thầm vào tai LN, nếu cho thêm tí ti Rum nữa thì mê chết mày ơi! LN chưa thử:, nhưng chắc sẽ thử để xem có ? mê chết ? như lời Sơn nữ tả hay không?

Trưa qua, LN lo phụ giúp với chị trong buổi họp mặt của Dòng Ba Cát Minh, hột thảo hàng tháng.

LN chỉ lo về " ẩm thực " và trong lúc báy bàn ăn, LN nghe đưọc qua lời chia sẻ của từng anh chi trong nhóm, về lòng bác ái, tha thứ và phục vụ, với những đức tính khác nữa v..v... như trong Kinh Hoà Bình của thánh Alphongso đã viết, tự nhiên trong trí LN đã hình dung ra khu vườn, như khu vườn của nhà Cá Bay, với các cây hoa mang tên những điều mà các chị vừa kể... và trong không gian bàng bạc nhạc êm dịu, LN đã tô điểm vườn lòng bằng những bông hoa:
ĐÓA HOA TÂM

Trong vườn lòng em hoa nở nhiều Hoa Tim lộng lẫy đẹp bao nhiêu
Nhưng em thích nhất màu trinh trắng
Là màu đẹp nhất của Tình Yêu
Đóa hoa Bác Ái hương dìu dịu
Năm cánh khiêm cung tỏa mỹ miều Sát cạnh Yêu Thương hoa nở rộ
Độ lương, từ bi đẹp vô chiêu
Góc vườn một đóa Khiêm Nhường nở
Biết mình từ đất cát, hư vô
Dám đâu tự đắc là hoa hậu
Của mọi loại hoa, kiếp sống nhờ

Đóa hoa có mùi hương thơm ngát Là hoa Phục Vụ giữa muôn loài
Bón phân bằng loại vô vị lợi
Cho đi, chẳng tiếc tháng năm dài
Em yêu nhất loài hoa Tha Thứ
Dù ai cắt ngọn, ngắt thân cành
Vẫn không oán hận hay thù ghét
Vì biết cuộc đời quá mong manh
Hoa Chân Thật là loại giây leo
Chắng ngại gian nan, chắng dẫy nghèo
Cư xử từ tâm điều duy nhất
Miệng nói, tay làm, chân bước theo.
Cuối cùng là đóa hoa Hạnh Phúc
Hương thơm tỏa ngát cả khu vườn
Xin Chúa từ nhân giang tay đón
Những đóa hoa lòng thả bốn phương.
HONG VU LAN NHI

Cám ơn Kinh Hoà Bình của Thánh Alphongso, cám ơn buổi họp của Dòng Ba Cát Minh do chị Hồng họp nhóm, đã nhắc nhở hội viên với những điều cần thiết trong cuộc sống Phục Vụ.

Và đây là bài thơ em dành để tặng chị và nhóm, và cũng xin tặng Dấu Yêu để suy ngẫm.
HONG VU LAN NHI
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#387 Posted : Monday, November 9, 2009 8:44:32 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)
Kỳ nhân điểm huyệt Thái Ngọc Kiến
Tuyệt học “Quỳ hoa điểm huyệt thủ” lừng danh trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung có thật không ? Phóng viên Tân Hoa Xã đã tìm thấy cao thủ số một: Kỳ nhân Thái Ngọc Kiến


Tại Tổ đình Thiếu Lâm Tự ở Tung Sơn, Đăng Phong, tỉnh Hà Nam - Trung Quốc, người phụ trách công tác quản lý là võ tăng Trịnh Thư Mẫn cho hay: “Điểm huyệt là một loại công phu thượng thừa. Công phu này tuy trong thiên hạ có rất nhiều môn phái nhưng về cơ bản đều thuộc võ công Thiếu Lâm”. Hòa thượng này cho biết số người luyện võ trong thiên hạ thì nhiều vô số nhưng người tinh thông về điểm huyệt lại hiếm như “sừng lân lông phượng”, vì không chỉ đòi hỏi người luyện có công phu thâm hậu mà cần phải có ngộ tính rất cao.

Hỏi về cao nhân Thái Ngọc Kiến, các võ tăng cho hay vị này là đệ tử tục gia Thiếu Lâm, sau khi theo học quyền sư Lương Dĩ Toàn (một trong Trung Quốc thập đại quyền sư, người sáng lập Trường Võ thuật Nga Pha ở Đăng Phong), còn bái Lưỡng Nghi quyền đại sư Trần Tử Lượng làm thầy, chuyên cần khổ luyện mấy chục năm, trở thành đại sư điểm huyệt Thiếu Lâm. Nhưng sau khi luyện thành không lâu, Thái Ngọc Kiến xuống núi, ở trong chốn thị thành, công phu điểm huyệt cơ hồ không còn mấy người biết.
Xuống núi làm doanh nhân

Theo tìm hiểu của phóng viên Tân Hoa Xã (THX), khoảng năm 2000, Thái Ngọc Kiến đã đến Trịnh Châu mở một công ty kinh doanh hàng điện máy. Sau đó mấy năm, ông sang Hồng Kông phát triển sự nghiệp. Phăng theo nhiều đầu mối, cuối cùng phóng viên THX đã liên lạc được với Thái tiên sinh và được ông đồng ý biểu diễn sơ sơ về công phu điểm huyệt Thiếu Lâm.

UserPostedImage
Thái Ngọc Kiến (phải) biểu diễn một chiêu điểm huyệt

Để kiểm chứng công phu thật hay giả, phóng viên đã mời Lý Toàn Quốc – ủy viên Chính hiệp TP Trịnh Châu, chuyên gia nghiên cứu Trung y trị ung bướu và bác sĩ Hàn Tuyết – Phó Chủ nhiệm Trung tâm Phục hồi sức khỏe Bệnh viện Trịnh Châu - một người rất tinh thông về kinh mạch, huyệt đạo đi cùng.

Chiều 21-2, cuộc gặp mặt đại sư Thái Ngọc Kiến được tổ chức tại quán cà phê Tân Đảo, đường Kim Thủy, TP Trịnh Châu. Thái Ngọc Kiến ngoài 50 tuổi, dáng tầm thước nhưng rắn chắc, đi cùng đệ tử là Thích Diên Lực. Phóng viên ảnh của THX Trần Hiểu Đông là người đầu tiên đề nghị được “thưởng thức” món điểm huyệt để xem mùi vị thế nào.

Thích Diên Lực đứng bên Trần Hiểu Đông, dùng lưng bàn tay trái vỗ vào dưới sườn phải của Hiểu Đông, thủ pháp cực kỳ mau lẹ. Đột nhiên Hiểu Đông biến sắc thấy rõ, hơi thở dồn dập, toàn thân đơ cứng như gỗ. Thích Diên Lực nhanh chóng dùng hai chưởng vỗ nhẹ vào hai vai, sau lưng Hiểu Đông và bảo anh cúi người xuống thở ra... Lát sau, sắc mặt Hiểu Đông trở lại bình thường. “Lợi hại quá, sau khi bị điểm, nửa người bên phải của tôi đau đớn, tê liệt, nhưng sau khi được giải thì các triệu chứng trên biến mất hoàn toàn!” - Hiểu Đông nói.

Phóng viên THX đề nghị Thái Ngọc Kiến đích thân ra tay. Ông bảo phóng viên đứng thoải mái, dùng mấy đầu ngón tay trái điểm vào dưới sườn phải. Anh phóng viên đột nhiên cảm thấy cơn đau cuồn cuộn dưới bụng, lục phủ ngũ tạng như thắt lại, còn từ phần cổ thì tê cứng, rất khó thở. Anh ráng kêu nhưng chỉ ngắc ngứ được vài tiếng, muốn cử động chân tay thì càng đau đớn.

Thái Ngọc Kiến bước tới vỗ vào vai, dưới nách, sau lưng và cũng bảo cúi người thở ra. Rất nhanh, các triệu chứng đau tê bỗng nhiên biến mất như chưa từng xảy ra, chỗ bị điểm cũng không có cảm giác gì.
Kim Dung từng viết trật

Năm 2003, Thái Ngọc Kiến gặp Kim Dung tại Hồng Kông. Kim Dung rất hâm mộ môn công phu này và mong muốn được Thái sư phụ nói về điểm huyệt – một phần rất ăn khách trong tiểu thuyết võ hiệp của ông. Thái Ngọc Kiến đã nói rõ những sai lệch trong tiểu thuyết võ hiệp và hiện thực.

Ông cho biết trong tiểu thuyết võ hiệp thường nói về điểm huyệt thần công bằng ngón tay (chỉ) khiến đối thủ bất động, nhưng trong thực tế thì phần lớn điểm huyệt bằng chưởng. Người bị điểm huyệt, về cơ bản không thể nào nói được, không phải như trong phim khi bị điểm huyệt vẫn nói chuyện hay kêu cứu...

Lý luận và biểu diễn thị phạm về điểm huyệt của Thái Ngọc Kiến khiến Kim Dung vô cùng kinh ngạc.

“Nếu như tôi không giải huyệt cho anh trong 1 phút, anh sẽ té nhào xuống đất, sau 5 phút thì cơ thể sẽ bị thương tật rất lớn” - Thái sư phụ giải thích. Ông cho biết công phu điểm huyệt Thiếu Lâm cũng là một môn chiến đấu, nơi tấn công là 36 đại huyệt trên cơ thể. Những huyệt này sau khi bị điểm trúng mà không giải thì sẽ gây tổn hại rất lớn, thậm chí mất mạng.

Sau đó, bác sĩ Hàn Tuyết cũng đề nghị được “nếm” thử cảm giác điểm huyệt. Thái Ngọc Kiến liền điểm nhẹ vào bụng dưới một cái, Hàn Tuyết lập tức biến sắc, ông Thái vội giải huyệt. “Sau khi bị điểm, bụng tôi như căng ra, đau không chịu được, đúng là kỳ lạ!”- bác sĩ Hàn Tuyết nói.
Sờ, vuốt mới đáng sợ

“Điểm huyệt là một môn võ thuật, chữ “thuật” ở đây là nói đến sự khéo léo, kỹ xảo, rất cần thiết trong điểm huyệt” - Thái sư phụ nói. “Vừa rồi chúng tôi dùng thủ pháp mạnh là đả (đánh) và điểm vào huyệt đạo. Nếu chúng tôi dùng thủ pháp nhẹ hơn như sờ, vuốt thì hậu quả còn ghê gớm hơn nhiều”.

Thái sư phụ giải thích: “Điểm huyệt khác với các môn võ thuật khác. Các môn khác ra đòn càng nặng thì mức độ tổn thương gây ra cho địch thủ càng lớn, nhưng điểm huyệt thì khác, sờ và vuốt là thủ pháp nặng nhất. Nhà võ nói “Thà chịu một đá, không dám chịu một đấm; thà chịu một đấm chứ không dám chịu một chỏ; thà chịu một chỏ chứ không dám chịu một chưởng; thà chịu một chưởng chứ không dám chịu một chỉ; thà chịu một chỉ chứ không dám chịu một vuốt”. Đó là nói về điểm huyệt vậy”.

Thái sư phụ cho biết cao thủ điểm huyệt ra đòn rất kín, khó phát hiện được, thủ pháp đơn giản chỉ là vỗ vai, bắt tay..., người bị điểm lúc ấy không có cảm giác gì, vài ngày hay vài tuần sau mới phát tác. Do đó, những cao thủ trong điểm huyệt thường không bắt tay với người lạ, nếu quá cần thiết phải bắt tay thì ngón tay cái khép kín hổ khẩu lại, đưa 4 ngón ra bắt hờ.

Những biểu diễn về điểm huyệt của Thái tiên sinh khiến cho các vị am hiểu về Trung y như Lý Toàn Quốc và Hàn Tuyết rất ngạc nhiên. Bác sĩ Hàn Tuyết nói: “Điểm huyệt trong võ công hoàn toàn khác với châm cứu điểm huyệt trong Trung y, cảm giác cũng không giống nhau”.
THƯỢNG VĂN



Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#388 Posted : Monday, November 9, 2009 1:30:06 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)
Thêm giải văn chương Mỹ cho người Việt

UserPostedImage
Lê Hải BBC

Lily Hoàng Kim Ly là nhà văn nữ gốc Việt đầu tiên được hội Văn bút Hoa Kỳ tặng giải thưởng PEN Beyond Margins Award 2009 cho tác phẩm tiếng Anh có tên là Changing.

Giải thưởng này nhằm trao cho các tác giả thuộc sắc dân thiểu số tại Hoa Kỳ.

Cô là nhà văn gốc Việt thứ hai được nhận giải thưởng này, sau Andrew Lâm Quang Dũng từng được trao giải năm 2006.

Xuất bản quyển truyện viết theo lối thử nghiệm của Lily Hoàng vào cuối năm 2008, NXB Fairy TaleReview đã giới thiệu "đây là câu chuyện tuyệt vời về nước Mỹ của thế kỷ 21".

Câu chuyện của Jack&Jill được chia thành 64 chương, bên cạnh tên mỗi chương là ký hiệu theo 64 quẻ của kinh Dịch.

Tên quyển sách của Lily là Changing, còn tiếng Anh thường gọi kinh Dịch là (Book of) Change.

UserPostedImage

"Tôi nhớ rất rõ hồi còn nhỏ có lần được mẹ đưa đến gặp thầy bói theo Kinh Dịch ở Houston, Texas, và bản thân cũng quan tâm đến những truyền thuyết hiện đại," cô chia sẻ với độc giả của BBC tiếng Việt.
"Với tôi đó là những câu chuyện tử vi, tướng số .v.v nhưng quan trọng hơn là trong đó có cả trí tuệ, tâm lý, và bản tính nữa."
"Và những câu chuyện trở thành huyền thoại trong thời hiện đại cũng diễn giải cuộc đời người ta giống như cách mà Kinh Dịch diễn tả vậy," Lily Hoàng giải thích.

"Tôi dùng Kinh Dịch làm cấu trúc để kể chuyện, để có thể trút vào đó những trải nghiệm của một người Mỹ gốc Việt thế hệ thứ hai."
Tập truyện của Lily có thể coi như là chính một quyển "Kinh Dịch" do cô viết ra, mà mỗi chương đều được trình bày theo kết cấu văn bản riêng biệt, có thể coi là văn nhưng cũng có thể coi là thơ.
"Đây chỉ đơn giản là bản dịch mới của Kinh Dịch" - Lily Hoàng
Chương đầu tiên bắt đầu bằng quẻ Thuần Càn với 6 vạch liền, được tác giả đặt tên tiếng Anh là Creation, và trình bày bằng 6 đoạn văn - mỗi đoạn là khoảng 100 chữ không hề ngăn cách nhau bằng dấu chấm.
Truyện và triết

Cứ vậy câu chuyện dẫn dắt người đọc đi qua Thuần Khôn, Thủy Lôi Truân, Sơn Thủy Mông và các quẻ Dịch để về đến Hỏa Thủy Vị Tế tức là một trạng thái chưa kết thúc, chưa hoàn chỉnh, mà Lily gọi là Before Completion.

Tác phẩm của Lily Hoàng không chỉ đơn giản là một quyển truyện, một hợp tuyển văn học, hay một tập thơ, mà còn đạt đến mức một tác phẩm triết học được trình bày một cách đơn giản và dễ hiểu nhất, nhờ cậy từ câu văn, cấu trúc ngôn ngữ cho đến ngay cả hình thức trình bày văn bản để chuyển tải hết các chiều của kinh Dịch.
"Đây chỉ đơn giản là một bản dịch mới của Kinh Dịch", tác giả gửi gắm trong phần cuối của quyển sách, gọi mình là "dịch giả".
"Changing không dễ đọc, và nó là cả thơ và tiểu thuyết, lẫn sách nghiên cứu, và cả truyện cổ tích nữa v.v.," Lily Hoàng Kim Ly chia sẻ với độc giả của BBC tiếng Việt.

Được liên lạc ngay sau ngày có tin về giải thưởng, cô cho biết rất bất ngờ vì quyển sách Changing "chỉ được một nhà xuất bản nhỏ ở Hoa Kỳ xuất bản mà thôi và không có đủ lực để vận động cho các giải thưởng như các tập đoàn lớn trong ngành xuất bản ở Hoa Kỳ".
"Tôi còn hãnh diện hơn khi được so sánh với Andrew Lâm. Gia đình tôi, tất nhiên, rất sung sướng với giải thưởng này. Và nó cũng là phần thưởng cho việc tôi đã không chịu đi theo con đường làm bác sĩ như đã được định sẵn trong Giấc mơ Mỹ," Lily tâm sự.
Hiện cô là giáo viên và tác phẩm đầu tay Parabola được xuất bản đầu năm 2008, từng được giải thưởng trong cuộc thi tiểu thuyết của Chiasmus Press.

Tiểu thuyết mới nhất của Lily Hoàng có tên là The Evolutionary Revolution dự kiến sẽ được Les Figues Press xuất bản vào cuối năm nay hoặc đầu năm 2010.
Buổi lễ chính thức trao giải thưởng PEN Beyond Margins 2009 sẽ được hội Văn bút Hoa Kỳ tổ chức vào tháng Mười Hai







Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

langthang09  
#389 Posted : Monday, November 9, 2009 2:41:40 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)

UserPostedImage

UserPostedImage
Con đuờng Phuợng Tím

Không có ai dìu em trên đường phượng tím
Hoa phượng rụng đầy tím cả lòng em
Anh ở đâu sao không về hò hẹn
Đi bên nhau con đường quá êm đềm?

Đường phượng tím vắng anh buồn ủ rũ
Hoa phượng buồn như vẫn đứng chờ ai
Màu hoa xưa ta gọi màu chung thủy
Mà bây giờ chỉ còn tóc em bay

Con đường tím sao chất đầy nhung nhớ
Phượng tím nào hoa phượng của tình yêu?
Em vẫn nhớ đôi mắt buồn hôm đó
Lời chia tay xao xác một góc chiều

Đường phượng tím chỉ còn em đứng lại
Màu phượng buồn tím cả lối em đi
Anh ở đâu, đừng giận hờn chi nữa
Lòng em đây, đem trải đón anh về

Không có ai dìu em đường phượng tím
Buổi trưa hè mình em đứng lẻ loi
Đường phượng tím con đường xưa êm ái
Mà bây giờ phượng tím đứng đơn côi.
Sương Mai

Phượng Yêu

http://www.youtube.com/w...8dxTyUik&feature=related

langthang09  
#390 Posted : Monday, November 9, 2009 2:46:46 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)
TỪ NGHỊ QUYẾT 36 ĐẾN HỘI NGHỊ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGÒAI.

Tổng hợp tin tức giới truyền thông từ Việt Nam và quốc tế cho hay,nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam sẽ tổ chức “Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất.” tại Hà Nội từ ngày 20 đên 24 tháng 11 năm 2009 tới đây, nói là sẽ qui tụ tới một ngàn người, trong số đó khoảng 650 người họ dùng chữ là “Ðại biểu Kiều bào” mà thực tế họ chẳng đại diên cho ai cả, và 350 người ở trong nước. Được biết chủ đề của Hội Nghị này là "vì một cộng đồng đoàn kết vững mạnh, tích cực góp phần vào sự nghiệp chấn hưng đất nước.”, được thể hiện qua các chuyên đề thảo luận trong 5 ngày Hội Nghị, nhằm “đánh giá toàn diện về tình hình người Việt trên thế giới nhằm hình thành một công đồng đoàn kết vững mạnh, có vị trí trong xã hội sở tại, giữ gìn bản sắc dân tộc và gắn bó với đất nước”. Cụ thể 5 chuyên đề thảo luận đó là: “Ðại đoàn kết dân tộc,” “Phát triển và bảo tồn bản sắc văn hóa Việt Nam”, “Trí thức kiều bào đối với công cuộc phát triển kinh tế Việt Nam” và “Doanh nhân kiều bào đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.”

Qua chủ đề và nội dung các chuyên đề thảo luận trên đây cho thấy, cái gọi là “Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất” thực chất là một cuộc tổng kết thành quả sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 36 của Cộng đảng Việt Nam ban hành ngày 26-3-2004. Vì nội dung của nghị quyết này nhằm thành đạt các mục tiêu được đánh giá và các chuyên để được đưa ra thảo luậnm đúc kết trong cuộc hội Nghị sắp tới đây.
Thật vậy, 5 năm trước đây, Nghị quyết 36 của Cộng đảng Việt Nam nhằm thực hiện bốn mục tiêu chủ yếu :
Mục tiêu thứ nhất là tìm cách đồng hóa người Việt hải ngọai khắp nơi trở thành kiều dân của chế độ ở hải ngọai. Đồng hóa bằng các thủ đọan tuyên truyền lừa bịp lôi kéo những người nhẹ dạ, tạo mâu thuẫn hay dùng kỹ thuật khai thác triết để các mâu thuẫn tự phát nội bộ các đòan thể hay giữa các cá nhân, nhằm phân hóa, phá nát các tổ chức Cộng Đồng người Việt tỵ nạn cộng sản, vốn là thành trì chống cộng, bao lâu nay vẫn ở ngòai quỹ đạo các Tòa Đại sứ hay Lãnh sự quán Việt Cộng. Nghĩa là muốn biến tất cả người Việt hải ngọai khắp nơi trở thành kiều dân của chế độ tại hải ngọai, dù tuyệt đại đa số họ đều đã là công dân các nước sở tại về mặt pháp lý. Mục tiêu này sẽ được cái gọi là “Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất” tổng kết dưới chuyên đề thảo luận “Ðại đoàn kết dân tộc,”, thực chất là tổng kết xem đã phân hóa được bao nhiêu đòan thể trong các cộng đồng, chiêu dụ được bao nhiêu cá nhân qui phục chế độ.
Mục tiêu thứ hai là thu hút tiềm năng chất xám khá xung mãn của giới trí thức Việt Nam ở hải ngọai về nước phục vụ đất nước, mà thực tế cũng như thực chất là phục vụ cho chế độ, bằng thủ đọan tuyên truyền lừa mỵ quen thuộc, là đánh vào tình tự dân tộc và tình yêu quê hương đất nước của người Việt tha hương, tự đồng hóa chế độ với đất nước, dân tộc và tổ quốc Việt Nam. Mục tiêu này sẽ được cái gọi là “Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất” tổng kết dưới chuyên đề thảo luận“Trí thức kiều bào đối với công cuộc phát triển kinh tế Việt Nam”.
Mục tiêu thứ ba là thu hút nguồn tài chánh nơi các ná nhân và các nhà tư bản Việt Nam hải ngọai, đem tiền về nước đầu tư hay tiêu thụ, cũng bằng chiêu bài tương tự như chiêu bài để thành đạt mục tiêu thứ nhất, là đánh vào tình tự dân tộc, đánh lận con đen giữa phục vụ đất nước và tổ quốc Việt Nam với phục vụ chế độ đương thời. Mục tiêu này cũng sẽ được cái gọi là “Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất” tổng kết dưới chuyên đề thảo luận “Doanh nhân kiều bào đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.”
Sau cùng, mục tiêu thứ tư được Nghị quyết 36 của Cộng Đảng Việt Nam đưa ra nằm 2004, nay cái gọi là “Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất” tổ chức tại Hà Nội tổng kết dưới chuyên đề thảo luận “Phát triển và bảo tồn bản sắc văn hóa Việt Nam”, thực chất chỉ là chiêu bài che đây ý đồ và hổ trợ cho ba mục tiêu trên đây. Vì ai cũng biết, mục tiêu này người Việt tỵ nạn cộng sản khắp nơi tại hải ngọai đã quan tâm thực hiện từ lâu, với các trung tâm dây Tiếng Việt phát triển theo tời gian nơi các Cộng Đồng Việt Nam, nhưng truyền thống lịch sử, văn hóa tốt đẹp của dân tộc cũng đã được các cá nhân và hội đòan người Việt Hải ngọai bảo tồn và phát huy từ lâu.

Nói tóm lại, cái gọi là “Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất” do nhà cầm quyền cộng sản việt nam tổ chức tại Hà Nội từ ngày 20 đến 24 tháng 11 năm 2009 tới đây, thực chất cũng như thực tế chỉ là sự tổng kết thành quả thực hiện các mục tiêu đề ra của nghị quyết 36 của Cộng Đảng Việt Nam ban hành 5 năm trước đây. Và vì vậy đã bị tòan khối người Việt hải ngọai khắp nơi chống đối, ngọai trừ một số không đáng kể, từ lâu chấp nhân là kiều dân của chế độ, đã tán đồng và có mặt trong cái hội nghị này. Lý do chống đối căn bản vẫn là vì không chấp nhận chế độ độc tài tòan trị cộng sản Việt Nam và luôn phân biệt việc phục vụ đất nước và dân tộc khác với phục vụ cho chế độ đương thời của những người cộng sản Việt Nam . Lập trường dứt khóat là: ngày nào còn chế độc độc tài tòan trị cộng sản, đại khối 3 triệu người Việt Ty nạn cộng sản, không thể đem tiềm năng trí tuệ và tư bản về cho chế độ xử dụng như những công cụ để cứu nguy, củng cố, kéo dài quyền thống trị độc tài, độc tôn và độc quyền của một tập đòan thống trị phản dân hại nước là đảng cộng sản Việt Nam.
Từ Linh Houston , ngày 9-11-2009
Linh Phuong  
#391 Posted : Tuesday, November 10, 2009 12:53:58 AM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

Đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết pháp cho 30 ngàn Phật tử ở Tawang


10/11/2009

30 ngàn tín đồ đã tụ tập để nghe Ðức Ðạt Lai Lạt Ma thuyết pháp
khi ngài đến thăm tu viện Tawang

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã ngỏ lời với các tín đồ tại khu vực đông Bắc Ấn Độ đang bị tranh chấp với Trung Quốc.

Hơn 30 ngàn tín đồ hôm thứ Hai đã tụ tập trên khu đất gần tu viện Phật giáo Tawang thuộc bang Arunachal Pradesh để nghe đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết giáo khi Ngài khai mạc khóa giảng kéo dài 3 ngày. Ngài nói với cử tọa rằng “từ bi và an bình” là 2 từ mà tất cả mọi người cần phải ghi nhớ.

Trung Quốc vẫn nhận Arunachal Pradesh là lãnh thổ của mình và cực lực phản kháng bất kỳ cuộc viếng thăm nào của Đức Đạt Lai Lạt Ma, và họ gọi ngài là một kẻ ly khai định sách động tư tưởng chống Trung Quốc. Ấn Độ đã bác bỏ cáo buộc của Trung Quốc.

Sau khi đặt chân tới Tawang hôm Chủ Nhật, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói với các ký giả Ấn Độ rằng cáo buộc của Trung Quốc là “hoàn toàn không có cơ sở.”

Chính quyền Ấn Độ đã ngăn chặn thêm việc tiếp cận của báo chí đối với Đức Đạt Lạt Ma hôm thứ Hai, yêu cầu họ đừng đặt thêm câu hỏi nào trong thời gian Ngài còn lưu lại Ấn Độ.

Trước đó Ấn Độ đã ngăn chặn ký giả nước ngoài tới Arunachal Pradesh để tường thuật về chuyến đi của Đức Lạt Lai Lạt Ma.

Hôm thứ Hai Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đã bày tỏ quan điểm của Washington rằng, Đức Lạt Lai Lạt Ma là một hình tượng tôn giáo được thế giới tôn trọng, và Ngài có quyền đi tới bất kỳ nơi nào Ngài muốn và nói chuyện với bất kỳ người nào Ngài chọn.

Trong một sự kiện khác diễn ra hôm thứ Hai, Đức Lạt Lai Lạt Ma đã khánh thành một khu mới thuộc một bệnh viện tại Tawang.

Vị khôi nguyên giải Nobel Hòa Bình 74 tuổi khởi đầu đã tỵ nạn tại Tawang vào năm 1959, sau khi chạy khỏi một cuộc nổi dậy thất bại chống lại Trung Quốc. Hôm chủ Nhật, Đức Lạt Lai Lạt Ma đã hồi tưởng lại rằng vào thời đó Ngài rất yếu ớt cả về tinh thần lẫn thể chất, và mô tả lại những hồi ức của mình là đầy xúc động.
http://www.voanews.com/v...mese/2009-11-10-voa1.cfm



Linh Phuong  
#392 Posted : Tuesday, November 10, 2009 1:22:46 AM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

CÔNG TỬ BẠC LIÊU

Công tử Bạc Liêu Tr ần Trinh Huy (1900-1973, còn có tên khác là Ba Huy) là một tay chơi nổi tiếng ở Sài Gòn và miền Nam những năm 1930, 1940. Ngày nay, Công tử Bạc Liêu trở thành một thành ngữ để chỉ những kẻ ăn chơi.

Vốn thành ngữ “Công tử Bạc Liêu” ra đời từ những năm đầu thế kỷ 20. Thời đó, thực dân Pháp đã ổn định về tổ chức của vùng đất thuộc địa Nam Kỳ. Do việc phân chia lại ruộng đất, đã làm nảy sinh rất nhiều đại điền chủ ở vùng đất này. Thời đó dân gian đã có câu “Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Trạch” để chỉ 4 vị đại điền chủ giàu có nhất vùng đất Nam Kỳ. Theo phong trào khi ấy, các đại điền chủ, hào phú quyền quý khắp Nam Kỳ thường cho con lên Sài Gòn học ở các trường Pháp, thậm chí du học bên Pháp.

Tuy nhiên, hầu hết các vị công tử giàu có này, ảnh hưởng bởi sự phồn hoa đô hội, sẵn tiền, nên thường đi vào con đường tay chơi để thể hiện mình. Trong số vị công tử ấy, không ai đủ sức xài tiền như các công tử Bạc Liêu. Thành ngữ “Công tử Bạc Liêu” có từ lúc ấy. Về sau, thành ngữ này chỉ dùng để chỉ công tử Trần Trinh Huy vì chẳng công tử nào sánh kịp về khả năng tài chính và độ phóng túng đối với vị công tử này. Từ đó “Công tử Bạc Liêu” trở thành d anh xưng riêng của Ba Huy, không một ai có thể tr anh chấp.

[img]http://f320.mail.yahoo.com/ya/download?mid=1%5f2008899%5fAGLPjkQAANFbSvmTEQZGhmMWhyU&pid=2.2&fid=Inbox&inline=1[/img]
Tên thật Trần Trinh Huy
Sinh 22 tháng 6 năm 1900
Mất 1973
Xuất thân

Trần Trinh Huy, tên thật là Trần Trinh Quy sinh ngày 22 tháng 6 năm 1900, nhưng do cho rằng cái tên “Quy” không sang trọng nên ông đổi lại thành “Huy”. Ngoài tên Công tử Bạc Liêu, Trần Trinh Huy còn mang nhiều tên khác như Ba Huy, Hội đồng Ba (cách gọi của tá điền, sự thật thì Ba Huy không là thành viên trong hội đồng nào), Hắc công tử (do nước da ngăm đen và để phân biệt với Bạch công tử).

Trần Trinh Huy là con trai ông Trần Trinh Trạch, tức Hội Đồng Trạch, một người xuất thân là thư ký làng, nhờ cưới được cô Tư, con gái của ông bá hộ Phan Văn Bì , người có đất ruông nhiều nhất trong tỉnh Bạc Liêu, người ta tặng cho ông Bá hộ là “Vua lúa gạo Nam Kỳ”. Ông Bá hộ chọn rể cho cô con gái thứ Tư trong trường hợp đặc biệt. Hằng năm ông tới Tòa Bố (tòa Hành chánh) tỉnh đóng thuế điền địa. Trong nhiều năm ông chấm viên thư ký điền địa tên Trần Trinh Trạch là người đứng đắn đàng hoàng. Ông hỏi thăm gia thế thì biết thầy ký Trạch chưa vợ. Ông mời về nhà chơi, tạo thuận lợi cho thầy ký Trạch trông thấy cô con gái thứ tư của ông. Nhiều lần tới lui, hai bên “mến tay mến chân”. Ông Bá hộ thấy hai đứa nhỏ “tình trong như đã mặt ngoài còn e” liền làm lễ cưới. Ông cho con gái và rễ một sở đất để ra riêng. Thầy ký Trạch xin nghỉ làm công chức điền địa để làm chủ điền. Với trình độ văn hóa tương đối khá, lại có ông già vợ cho đất, giúp vốn nên không bao lâu thầy kỳ Trạch phất lên. Với huê lợi hàng năm, ông sắm thêm đất điền. Có điều ông Bá hộ không thích là đất ông tách bộ cho các con của ông lần lượt chạy về tay chàng rể thứ tư. Nguyên do là các con ông mê cờ bạc nên đem đất điền cầm cố nơi anh rể. Cầm cố lâu năm không chuộc kể như mất luôn. Ông Bá hộ chỉ tự an ủi là “lọt sàng xuống nia”, các sở đất đó không rơi vào người ngoài, thương con gái thì phải thương rể. Nhờ vậy, Hội Đồng Trạch càng ngày càng giàu có, đồn điền ruộng lúa có thể được xếp vào hàng bậc nhất miền Nam lúc bấy giờ. Có người viết:

Nghèo đến thằng mình còn chạy quýnh
Giàu như ông Trạch cũng buồn thiu

Trần Trinh Trạch là chủ sở hữu của 74 sở điền, với 110.000 ha đất trồng lúa, gần 100.000 ha ruộng muối. Theo lời cháu chắt ông kể lại, toàn tỉnh Bạc Liêu lúc bấy giờ (gồm 4 quận Vĩnh Lợi, Cà Mau, Vĩnh Châu, Giá Rai) có 13 lô ruộng muối thì 11 lô là của ông Hội Đồng Trạch, một lô còn lại của cha sở và một lô của dân thường. Ông Trạch có 7 người con, 4 gái, 3 trai. Trong 3 người con trai của ông Trạch (Trần Trinh Đinh, Trần Trinh Huy và Trần Trinh Khương) thì Ba Huy là ăn chơi hơn cả.
Con người

Trần Trinh Huy từng đi du học ở Pháp, sau ba năm về nước không một mảnh bằng, để lại một người vợ Pháp và một đứa con ở lại Paris. Khi Ba Huy về nước ông Trạch kéo gia đình lên Sài Gòn đón quí tử. Chiếc xe Ford đang dùng tốt nhưng ông nói nhân sự kiện đặc biệt này phải sắm thêm một chiếc xe mới, cho xứng với học hàm, học vị của cậu Ba, cho rạng mặt Trần gia.

Trần Trinh Huy là người cao lớn, khoảng 1,70 m , lực lưỡng nhưng không cục mịch, trái lại dáng người rất th anh thoát, sang trọng, da đen, mày rậm… người đầy sinh lực. Tính tình Huy rất dễ dãi và hào phóng. Người trong nhà lầm lỗi, Huy cũng ít rầy la. Bà con ở xa lên thăm, Huy đều cho tiền. Tá điền không thấy Huy đòi nợ ai bao giờ, ai nghèo quá, năn nỉ Huy còn bớt lúa ruộng. Cho nên tá điền Bàu Sàng ít ai oán ghét Ba Huy.

Trong các mối quan hệ, Ba Huy là người khoáng đạt, không dè dặt và mưu toan gì. Thời đó, các cậu công tử lẫn điền chủ điều chơi với người Pháp thì rất khúm núm, nịnh nọt, gọi là “chơi thế”. Riêng Ba Huy thì cứ “toa toa” “moa moa” sòng phẳng, ngang hàng. Nếu như trong mắt giới giang hồ tứ chiếng, Ba Huy là một người ngon nhất Nam bộ, thì trong mắt người Pháp, Huy được nể trọng vì có vợ đầm và mướn người Pháp làm công cho mình.. Tánh của Ba Huy vị tha và coi tiền như rơm rác. Bút tích của Huy cho thấy tuy nét chữ bay bướm nhưng lại rất xấu, chứng tỏ đó là một con người thông minh, từng trải nhưng đường học vấn không đến nơi đến chốn.

Ba Huy cũng là người rất cởi mở, không cổ hủ, cực đoan như nhiều điền chủ khác. Ông từng ủng hộ Việt Minh một lúc 13.000 giạ lúa. Công tử Bạc Liêu còn tỏ ra là một con người tự trọng, đã hứa với Chính phủ những gì thì ông sẽ làm thế ấy. Ông đã hứa với người lãnh đạo cao nhất của Tỉnh ủy Bạc Liêu là giảm tô, không hợp tác với Pháp, gửi vải vóc thuốc men cho kháng chiến và thực hiện đúng như vậy. Thích hội hè, Ba Huy có lẽ là người tổ chức hội chợ và hội thi “Hoa hậu miệt đồng” đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Long.

Ba Huy có bốn người vợ và rất nhiều nhân tình. Người vợ đầu là người Pháp, trong thời gian Ba Huy đi học ở Paris.. Về nước ông cưới một người vợ ở Bạc Liêu là Ngô Thị Đen. Bà này ở với Ba Huy sinh được người con gái là cô Hai Lư ỡng. Sau cô Hai Lư ỡng qua Pháp sống. Từ năm 1945, Ba Huy lên Sài Gòn ở hẳn. Ông lấy thêm một bà nữa và sinh được ba người con: Nghĩa, Nhơn, và Đức.

Bà cuối cùng, khoảng năm 1968, Ba Huy dọn về căn nhà phố đường Nguyễn Du, Sài Gòn. Mỗi sáng đứng trên lầu nhìn xuống, ông thấy một cô gái gánh nước đi qua đẹp quá. Hỏi thăm thì đựơc biết cô gái đó là con ông già làm nghề sửa xe đạp. Ba Huy đến nhà ông già xin “đổi” căn nhà đó lấy cô gái. Ông già và cô gái sau khi bàn bạc đồng ý. Và đó là người vợ cuối cùng của Ba Huy, kém ông đến 50 tuổi. Bà sống chung thủy với ông đến ngày ông qua đời. Họ có ba con trai và một con gái tên Hoàn, Toàn, Trinh và Nữ.

Ba Huy còn rất nhiều con với các nhân tình. Tuy những người đó không phải vợ chính thức nhưng con cái của họ đều được Trần gia thừa nhận. Ông mất năm 1973 ở Sài Gòn và được đưa về an táng trong phần mộ gia đình tại ấp Cái Dầy, xã Châu Hưng, huyện Vĩnh Lợi, Bạc Liêu.

[img]http://f320.mail.yahoo.com/ya/download?mid=1%5f2008899%5fAGLPjkQAANFbSvmTEQZGhmMWhyU&pid=2.3&fid=Inbox&inline=1[/img]
Khách sạn công tử bạc liêu
Những giai thoại

Ông Trạch giao cho Ba Huy việc trông coi điền sản. Huy đi vào các sở điền bằng xe hơi hoặc ca nô. Việc này là một sự kiện đặc biệt, Ba Huy đi đến đâu tá điền ùn ùn kéo đến xem, vì cả đời họ chưa được nhìn thấy xe hơi, ca nô bao giờ. Đi đòi nợ các tỉnh, Ba Huy dùng chiếc Ford Vedette, còn đi chơi ông có chiếc Peugeot thể thao, sản xuất năm 1922. Loại xe đó cả miền Nam khi ấy chỉ có hai chiếc, chiếc kia là của vua Bảo Đại.

Ba Huy còn thuê một người Pháp làm công cho mình. Đó là ông Henri, chồng bà Tư Nhớt, một người trong gia tộc Trần Trinh. Ông này làm quản lý, điều hành gia sản cho ông Hội Đồng Trạch, dưới quyền ba Huy. Theo hợp đồng, quản lý được hưỏng 10% trên tổng số lợi tức thu được hàng năm. Chính vì vậy ông Henri mới bỏ “mẫu quốc” qua làm mướn cho bên vợ, mãi đến tháng 4 năm 1975 mới về nước.

Công tử Bạc Liêu rất mê nghề võ. Vào nữa đầu thế kỷ 20, học võ là một cái mốt với nhận thức: Học võ để nâng cao cái khí phách thượng võ của kẻ anh hào. Ba Huy không học võ Tây hay võ Ta mà học võ Xiêm. Ông ta đã cất công qua Xiêm mướn một ông thầy thượng hạng về dạy cho mình và Tám Bò, là em út của ông ta.

M ột sự kiện chấn động cả nước khi đó là Ba Huy đi thăm ruộng bằng máy bay. Và lúc ấy cả Việt Nam cũng chỉ có 2 chiếc là của Công tử Bạc Liêu và của vua Bảo Đại. Một lần bay qua thăm điền Rạch Giá, Công tử Bạc Liêu hứng chí bay ra biển Hà Tiên chơi, cứ bay mải miết cho đến khi kim báo xăng không còn nhiên liệu, buộc lòng Ba Huy phải đáp khẩn cấp. Xuống đất, Ba Huy hoảng hốt biết mình đã bay lọt sang tận nước Xiêm. Trần Trinh Huy bị Nhà nước Xiêm bắt giữ và phạt 200 ngàn giạ lúa.. Ông Hội đồng Trạch phải chở một đoàn ghe chở lúa thật dài qua tận Xiêm để chuộc quí tử về. Ông là người Việt Nam đầu tiên sở hữu máy bay tư nhân và sân bay tư nhân.

Ba Huy sinh hoạt cực kì sang trọng và xa hoa. Ra đường là đóng bộ veston, thứ hàng đắt tiền nhất thời đó. Thói quen của Ba Huy là ăn sáng kiểu Tây, trưa ăn cơm Tàu, chiều ăn cơm Tây. Mỗi lần từ Bạc Liêu đi Sài Gòn là ông ta ngồi trên chiếc xe cáu cạnh, có tài xế lái. Khi lên Sài Gòn ít khi Công tử Bạc Liêu ở ngôi biệt thự của Trần gia mà vào một trong những khách sạn nổi tiếng sang trọng ở Sài Gòn. Có khi hứng chí đi dạo mát Ba Huy thuê cả chục chiếc xe kéo, ông ta ngồi một chiếc, những chiếc còn lại chở những món đồ như mũ, cây “can”…

Công tử Bạc Liêu là một người luôn xê dịch và rất ham vui, những cuộc ăn chơi nổ trời diễn ra, Trần Trinh Huy lặn ngụp trong những bàn tiệc với rượu sâm b anh . Mỗi chủ nhật ông đều đi nghỉ cuối tuần ở Vũng Tàu, Đà Lạt hoặc về Cần Thơ. Ba Huy cũng là một kẻ mê cờ bạc, có những khi ông đánh một cây bài 30.000 đồng, trong khi lúa chỉ 1,7 đồng một giạ, lương của Thống đốc Nam Kỳ chưa tới 3.000 đồng một tháng.
Hắc công tử và Bạch công tử
Bạch công tử

Bạch công tử là Lê Công Phư ớc hay còn gọi là George Phước, con trai của Đốc phủ Lê Công S ủng, người ở làng Điều Hòa, tỉnh Mỹ Tho. Phước cũng là một tay chơi nổi tiếng khi đó, da trắng nên được gọi Bạch công tử để phân biệt với Ba Huy. George Phước say mê cải lương, từng qua Pháp học về sân khấu. Về nước Phước cùng một người khác bỏ tiền lập hai gánh hát Phước Chương và Huỳnh Kỳ nổi tiếng với cô đào chánh đệ nhất tài sắc đương thời là cô Bảy Phùng Há và một cô đào tài sắc khác là Năm Phỉ. Cùng nổi tiếng ăn chơi, Bạch công tử và Hắc công tử trở thành kỳ phùng địch thủ.
Hắc công tử và Bạch công tử

Tác giả Nguyễn Thiện viết:

“Đang lúc cô Ba Trà , một người con gái có sắc đẹp làm xao xuyến tâm hồn Bạch công tử, thua bài sạch túi, ông trưởng giả lớn tuổi chưa kịp cung phụng tiền bạc tiếp để vừa lòng mỹ nhân, Bạch Công tử lù lù lái xe lại nhà cô Ba Trà , rủ xuống Cần Thơ ăn cá cháy và đánh bài gỡ bạc.

Hai người xừa xuống đến quán Bungalows ở Cần Thơ, máy xe chưa nguội thì chiếc Sport tám máy của Hắc Công Tử cũng vừa tới, thắng cái két. Cả hai lâm vào cảnh khó xử, việc chiếm được mỹ nhân chỉ còn cậy vào tài chinh phục của bản thân mình. Cả ba cùng đưa nhau vào khách sạn. Bạch Công tử lột chiếc cà rá hột xoàn trị giá 3.000 đồng vào thời đó để trên bàn trước khi vào phòng tắm. Lúc trở ra, thấy cô Ba Trà đeo thử nó trên tay, Bạch Công tử liền lên tiếng tặng luôn. Sau đó Hắc Công tử đã mua tặng cô Ba Trà một chiếc nhẫn trị giá gấp đôi…”
Một lần, đoàn Huỳnh Kỳ cùng cô Bảy Phùng Há về Bạc Liêu biểu diễn, Bạch công tử mời Hắc công tử đến xem. Đang xem, Bạch công tử móc thuốc hút, vô ý làm rớt tờ giấy con công [7], Bạch công tử cuối xuống tìm kiếm. Hắc công tử thấy vậy hỏi:

- Chú kiếm gì vậy?
- Tôi kiếm tờ con công.
Hắc công tử mỉm cười nói:
- Để tôi đốt đuốc cho chú kiếm.

Nói rồi Hắc công tử móc tờ giấy bạc bộ lư châm lửa soi cho Bạch công tử kiếm. Bị một vố quá nặng, vãn tuồng, Bạch công tử mới nói:
- Toa chơi moa một cú đau quá. Bây giờ nếu toa ngon, toa với moa cân mỗi người ký đậu x anh , rồi lấy tiền nấu, ai sôi trước người ấy thắng? – Hắc Công Tử đáp “Chú cũng vậy nữa kìa! Ấy dà, Chú muốn chơi hả? Được,vậy để tôi chơi cho chú chết luôn!”

Tối hôm sau, Hắc công tử cho trải thảm đỏ từ ngoài cổng vào tận thềm nhà cứ mỗi thước cho một gia nhân cầm đuốc soi đường, nghinh đón phái đoàn của Bạch công tử. Cuộc thi được tổ chức ở đại sảnh nhà lớn của Trần gia. Lửa của tiền giấy thì rất kém nhiệt, chỉ cháy nhỏ, vì thế họ nấu chè rất lâu trong sự căng thẳng của rất nhiều người chứng kiến. Trán ai cũng rịn mồ hôi hột, nhất là những người trong gia đình họ Trần. Cuối cùng, nồi chè Bạch công tử sôi trước, Hắc công tử đành thua cuộc. Nhưng Ba Huy tuyên bố rằng ông ta thua trong d anh dự.

Ngày nay, Công tử Bạc Liêu trở thành một thương hiệu du lịch hấp dẫn của tỉnh Bạc Liêu. Tòa biệt thự của Ba Huy khi xưa nay trở thành Khánh sạn Công tử Bạc Liêu.

Ngôi biệt thự của công tử Bạc Liêu được xây dựng từ năm 1919, do kỹ sư người Pháp thiết kế. Để đảm bảo độ bền và diện mạo kiến trúc, chủ nhân đã đặt hàng và cho chuyên chở toàn bộ vật liệu xây dựng như thép đúc, cửa, cẩm thạch lát nền, gạch, khung sắt trang trí từ Pháp qua. Các bù loong, ốc vít cho các chi tiết xây dựng đều được đóng dấu chìm mẫu tự P rất hoa mỹ, chứng thực sản xuất tại thủ đô Paris. Người dân Bạc Liêu gọi đây là “Nhà Lớn”. Không chỉ đẹp về kiến trúc, nội thất mà nhà Hội đồng Trạch cũng qui tụ vô số đồ gỗ, sứ, đồng… quý giá. Những bảo vật đó đến nay không còn do con cháu không giữ được, do mất mát vì chiến tr anh hoặc những nguyên nhân khác. Có hai món đồ quí hiện được giữ nguyên vẹn ở chùa Chén Kiểu, Sóc Trăng là chiếc giường ngủ chạm khắc tuyệt mỹ và bộ bàn ghế cũng chạm trổ công phu. Đây là hai món quà do Ba Huy hào phóng tặng nhà chùa.

Hiện nay, ngôi biệt thự đó trở thành khách sạn Công Tử Bạc Liêu với 6 phòng ngủ. Trong đó 5 phòng bình thường và căn phòng Ba Huy từng ở trước đây có giá gấp đôi. “Phòng công tử” có một giường đôi, ti vi, máy lạnh, một bàn viết, một tủ áo và toilet khá rộng kế bên. Điểm độc đáo nhất của căn phòng này là chiếc máy điện thoại có từ đời Pháp thuộc đến giờ vẫn sử dụng tốt. Căn “phòng công tử” luôn đắt khách, nhất là người nước ngoài. Du khách muốn qua đêm tại đây buộc phải đặt phòng trước cả tháng. Cách khách sạn Công Tử Bạc Liêu không xa, còn có một cụm khách sạn, nhà hàng khác cũng mang tên Công Tử. Cuối năm 2004, nhà văn Phan Trung Nghĩa của báo Bạc Liêu đã cho xuất bản quyển Công tử Bạc Liêu – Sự thật và giai thoại gồm nhiều câu truyện và tư liệu sưu tầm về Trần Trinh Huy.




hongvulannhi  
#393 Posted : Tuesday, November 10, 2009 1:37:59 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)
* Cám ơn anh Đoàn Thanh Liêm - hvln - -------------------------------------
Hành động nhỏ, Tình yêu lớn. (Little Action, Great Love)
Đoàn Thanh Liêm

Bà chị ba của tôi thì lớn hơn tôi đến 15 tuổi, nên tôi được chị chăm sóc thương yêu đùm bọc hết mình. Chị tôi đã mất tại Mỹ vào năm 1993 cách nay đã trên 16 năm, lúc tôi còn đang bị giam giữ tại trại tù Hàm Tân. Một trong những kỷ niệm đáng ghi nhất về chị là có lần chị nói với tôi : “ Em xem đó, đứa trẻ nhỏ chỉ có thể lớn lên nhờ tình yêu thương bảo bọc của cha mẹ và anh chị em trong gia đình. Cái nôi êm ấm của gia đình mới ấp ủ nuôi dưỡng đứa con thành người đàng hoàng sau này cho xã hội.” Lúc chị tâm sự như thế, thì tôi cũng đã ngoài 30 tuổi và đã có vài cháu nhỏ cỡ 5-6 tuổi rồi.

Tôi có nhắc lại chuyện này với chị bạn người Bỉ là bác sĩ Olivette chuyên về bệnh tâm thần. Olivette nói với tôi : “Bà chị của anh tuy không hề có học gì về môn tâm lý trẻ con, nhưng chị ấy quả rất có kinh nghiệm thực tế sống động và phán đoán sự việc theo lương tri (common sense). Có đứa nhỏ bị bà mẹ bỏ bê rồi bị gửi vào nhà trẻ mồ côi, thì nó đã khóc liên tục suốt mấy ngày cho đến khi chết luôn đó…” Thành ra công việc thường ngày của một bà mẹ để chăm sóc, nuôi nấng và dậy dỗ cho lũ con, thì coi thấy nó nhỏ bé, đơn giản dễ dàng thôi. Nhưng mà những việc đó đã được làm với cái tình mẫu tử thật là lớn lao quý báu, với cả “tấm lòng bao la như biển Thái bình” ấy. Đúng như cha ông ta từ xưa vẫn thường nói : “Nhờ âm đức của ông bà, mà con cháu thành đạt” hay “Phúc đức tại mẫu”, tức là con cái được hưởng nhờ cái đức độ của bà mẹ hiền như thế đó.

1/Đó là trong phạm vi một gia đình. Còn ngoài xã hội, thì môi trường sinh hoạt rộng lớn hơn. Tại khu tôi ở từ nhiều năm nay là thành phố Costa Mesa, thì có một nhóm mấy bà đã ở vào tuổi 60-70 với con cháu đày đàn rồi, nhưng các bà vẫn miệt mài rủ nhau đi “lượm lon”, bơi nhặt nơi các thùng rác để kiếm những chai lọ, lon đựng bia, nước ngọt, gom góp về tích lũy la liệt tại nhà, rồi tìm cách đem bán cho các cơ sở tái chế đồ phế thải. Các bà dậy rất sớm, cỡ 5-6 giờ sáng là đã rủ nhau ra ngoài đường rồi, trước khi vào nhà thờ dự thánh lễ. Họ làm như vậy liên tục, ngày này qua tháng khác. Mà chỉ nhằm có mỗi một mục đích : đó là để kiếm tiền đem về Việt nam tìm giúp đỡ những bệnh nhân trong các trại phong cùi ở rải rác miền cao nguyên hay các nơi hẻo lánh xa xôi, ít có khi được cơ quan từ thiện nào đến thăm viếng. Trung bình mỗi năm nhóm này thu được cỡ 4-5 ngàn dollar. Nhưng các bà lại phải xuất tiền túi ra để trả tiền máy bay và các chi phí sinh hoạt khác khi ở Việt nam, mỗi lần ít nhất cũng tốn phí cho một người đến cả vài ba ngàn nữa.

Việc hy sinh làm chuyện từ thiện nhân đạo như vậy của các bà đã có ảnh hưởng rất tốt đẹp cho lũ con cháu, giúp chúng phát triển thêm được về tấm lòng trắc ẩn trước nỗi khổ đau của những nạn nhân bất hạnh vì chứng bệnh nan y, mà bị cô lập trong các trại phong cùi. Đây rõ rệt là trường hợp “Tình yêu thương đồng loại gặp cảnh hẩm hiu xấu số đã được các bà truyền lại cho lớp con cháu, khiến cho tấm lòng nhân ái mỗi ngày một thêm nhân rộng ra nơi thế hệ trẻ, để xã hội có cơ được cải thiện tốt đẹp hoàn hảo hơn mãi.

2/ Và đây là một trường hợp cụ thể khác nữa về sự thể hiện tấm lòng từ bi nhân hậu đối với bà con nơi các thôn xóm khó khăn túng quẫn ở quê nhà. Đó là một nhóm nữ phật tử chung nhau đi quyên góp trong số lũ con cháu trong gia đình các bạn hữu thân thiết, để kiếm phương tiện xây dựng các giếng nước ngọt trong lành cho các nơi thiếu thốn. Và nhất là giúp các sư cô mở những lớp học mẫu giáo hay xóa nạn mù chữ tại những vùng hẻo lánh. Việc làm âm thầm này đã tiếp tục từ nhiều năm nay tại California, hoàn toàn khiêm tốn nhỏ bé mà không hề bao giờ phải quảng cáo hay giới thiệu trên báo chí hoặc trên các đài truyền thanh, truyền hình. Đặc biệt là nhóm có những cộng tác viên tại các địa phương, nhất là ở mấy tỉnh miền Trung, gần với Huế, Đà nẵng. Nhờ vậy mà công tác xã hội nhân đạo này được tiến hành với năng suất rất cao, đáp ứng chính xác đối với nhu cầu cụ thể của mỗi địa phương. Đây rõ rệt là sự thể hiện cụ thể thiết thực của mối quan tâm đến hạnh phúc của số đông quần chúng ở những nơi xa xôi hẻo lánh. Tinh thần tự nguyện, tư giác này thường được phát triển nơi những tín đồ thuần thành, những con chiên ngoan đạo. Tại nước Mỹ, người ta gọi đây là loại “Hoạt động xã hội dựa trên một niềm tin tôn giáo” (Faith-based Social Action). Và thống kê về xã hội học ở Mỹ cho thấy là có đến hàng triệu những nhóm nhỏ (small groups) vẫn âm thầm hoạt động bên cạnh những tổ chức phi chánh phủ, bất vụ lợi (NGO) có quy mô lớn lao, mà ai cũng biết đến, điển hình như Ford, Rockefeller, Bill Gates Foundation v.v…

Hai trường hợp nói trên đây có thể coi như là một minh họa cho chủ trương “Đem Đạo vào Đời” của người tín đồ thuần thành, mà luôn luôn tìm cách biểu lộ tình yêu thương của mình đối với đồng loại bằng những hành động cụ thể thiết thực, điển hình như là : “Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc…” (trích từ kinh đọc của người công giáo). Nó chứng tỏ rằng : Tôn giáo vẫn có những đóng góp rất to lớn cho xã hội, không phải chỉ bằng các hoạt đông từ thiện nhân đạo, cứu giúp người gặp cảnh thiên tai hoạn nạn, điều mà chánh quyền nhà nước không bao giờ có thể bao biện làm cho hết được. Mà điều quan trọng nhất, đó là tôn giáo đã khơi động nơi tâm hồn con người cái ngọn lửa yêu thương đằm thắm, để mà tận tụy hy sinh chăm sóc lo lắng cho người đồng loại gặp cảnh bất hạnh, khó khăn ngặt nghèo. Mỗi người tín đồ tuy chỉ có thể thực hiện được những hành động khiêm tốn, đơn sơ nhỏ bé, không tên tuổi. Nhưng mà hàng triệu triệu con người cứ hàng hàng lớp lớp kiên trì làm việc như thế, ngày này qua ngày khác, xuyên qua những nhóm nhỏ tự phát không cần phải xin cơ quan nhà nước cho “miễn thuế” (tax-exempt), thì bộ mặt xã hội cũng được cải thiện rất khả quan tốt đẹp.

Đúng như chủ trương rất thiết thực của vị giáo sư khả kính Karl Popper của trường Đại học Kinh tế Luân Đôn (London School of Economics) đã nêu ra qua khẩu hiệu : “Cải thiện xã hội từng mảnh một” (Piecemeal Social Engineering). Chủ trương này đã được giáo sư ghi rõ trong cuốn sách thời danh xuất bản từ năm 1946 ngay sau khi chiến tranh thế giới kết thúc, đó là cuốn “ The Open Society and its enemies” (Xã hội mở và những kẻ thù của nó). Chủ trương này đã được một môn sinh của ông là nhà tài phiệt George Soros đem ra thực hiện, đặc biệt tại Đông Âu sau khi chế độ cộng sản sụp đổ năm 1989. Tổ chức này hiện đặt trụ sở tại New York, lấy tên là “ Open Society Institute = OSI), mà tôi đã có dịp thăm viếng và tham khảo với các chuyên gia về Đông Âu vào năm 2008 vừa qua. (Người viết sẽ trình bày chi tiết hơn về chuyện này trong một dịp khác).

Vài chục năm gần đây, giới trẻ ở Âu Mỹ rất tâm đắc với khẩu hiệu :” Think globally, Act locally” ( Suy nghĩ toàn cuộc, Hành động trong tầm tay). Riêng bản thân mình, thì tôi đề nghị nên bổ túc vào khẩu hiệu này bằng một vế thứ ba nữa, đó là : “Love totally” (Yêu thương trọn vẹn). Và tôi nghĩ chỉ có tôn giáo mới có thể giúp cho chúng ta thực hiện tốt đẹp nhất cái vế thứ ba này thôi. Các tín đồ cứ việc tiếp tục dấn thân nhập cuộc với xã hội bằng những việc làm nhỏ nhoi khiêm tốn, nhưng mà sâu thẳm trong tâm hồn, thì luôn luôn phải có cái ngọn lửa nồng nàn của tình yêu thương đối với mọi người trong nhân quần xã hội.

Chứ dứt khoát đó không phải là cái “ngọn lửa căm thù giai cấp” như người cộng sản cuồng tín đã khơi động gieo rắc nơi quần chúng trên thế giới từ hồi đầu thế kỷ XX./

California, Ngày 9 Tháng 11 Năm 2009
( Nhân kỷ niệm 20 năm Ngày “ Bức tường Berlin sụp đổ” 1989 – 2009)
Đoàn Thanh Liêm
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Tu Bich  
#394 Posted : Tuesday, November 10, 2009 12:26:32 PM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Cộng sản Hà Nội Hán hóa Việt Nam

Sunday, November 08, 2009

UserPostedImage

Thuyền đánh cá của ngư dân Ðà Nẵng không ra khơi được vì Trung Cộng dọa
bắt giữ những thuyền nào tới gần đảo Hoàng Sa. (Hình: Getty Images)
Võ Long Triều

Cộng sản Hà Nội lập viện Khổng Học và ép các địa phương xây miếu thờ Khổng Tử với mục đích gì? Làm theo yêu cầu của Trung Quốc chăng? Hay là Hà Nội muốn ru ngũ giới trí thức Việt Nam? Muốn nhắc lại cái học thuyết “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” để củng cố uy quyền của độc đảng?

Nhìn quá khứ sau khi Hồ Chí Minh được kết nạp vào đảng Cộng Sản, từ Âu Châu về Trung Quốc kết hôn với bà Tăng Tuyết Minh, mặc dù người bạn đồng hành là Nguyễn Hải Thần ngăn cản cũng không nghe vì Hồ Chí Minh muốn vuốt ve và tạo niềm tin đối với Thủ Tướng Chu Ân Lai, lấy lòng Chủ Tịch Mao Trạch Ðông để xin viện trợ bằng cách tự nguyện thực hành “nghĩa vụ quốc tế”, truyền bá chủ nghĩa cộng sản nhưng mục đích chính là cướp cho bằng được, với bất cứ giá nào, quyền cai trị đất nước Việt Nam. Tự nguyện làm chư hầu dù phải lệ thuộc Tàu cộng đến đâu, với bất cứ điều kiện nào, miễn sao giai cấp bần cố nông được nắm chính quyền.

Do đó ông và đồng chí của ông xua hàng vạn thanh niên Việt Nam làm mồi cho súng đạn, đổ xương máu để phục vụ cho một chủ nghĩa gian ác nhứt mà thế giới đã và đang lên án.

Chiêu bài chống Pháp giành độc lập là một chính nghĩa, nhưng cộng sản Hà Nội đã dùng nó làm bình phong cho dã tâm của họ là mưu đoạt quyền hành cho đảng Cộng Sản một mình thao túng. Bởi vì nếu cộng sản ngay tình hô hào chống thực dân giành độc lập vì chính nghĩa thì tại sao phải dối gạt, lừa đảo các tổ chức, đảng phái và nhân sĩ quốc gia kết hợp thành mặt trận Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội để rồi giết sạch, biến tổ chức đó thành Việt Minh cộng sản?

Tại sao không ngay tình hợp tác với các lực lượng đồng minh, kết thành một sức mạnh của toàn dân để chống Pháp? Ðược như vậy trận chiến giành độc lập sẽ rút ngắn và xương máu của đồng bào ít tiêu hao. Tàn tệ hơn nữa là vì muốn dành độc quyền nên bọn cộng sản đã gây ra cảnh huynh đệ tương tàn.

Trong thời gian đó, Tổng Thư Ký Ðảng Lao Ðộng Trường Chinh, sau là Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản, ký một tờ truyền đơn số 284/ LÐ kêu gọi đồng bào có nội dung như sau: (báo Tiếng Dội số 426 ngày 24-8-51 của miền Nam tự do đăng lại để vạch mặt bọn bán nước, hiện còn lưu trữ tại British Museum- London Anh Quốc)

“Hỡi đồng bào thân mến,

Việt Nam của chúng ta là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung Quốc. Ðồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối Tây, hãy trở về với chữ của ông bà ta, là thứ chữ nho của Trung Quốc. Vả chăng người Trung Hoa, bạn của ta - mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa, ta không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế (rõ ràng là công khai tôn vinh quan thầy Trung Quốc). Ta hãy bỏ bệnh viện của chúng, ta hãy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc tàu danh tiếng khắp cả hoàn cầu.”

Sau Trường Chinh đến lượt Thủ Tướng cộng sản Phạm Văn Ðồng ký bản văn mà mọi người đều biết, nhìn nhận quyền Trung Quốc nới rộng hải phận, dành quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa do Việt Nam Cộng Hòa cai trị. Cộng sản Hà Nội nhường đất dâng biển miễn sao chiếm được miền Nam.

Trở về hiện tại, ký giả David Filling viết trên báo Financial Time rằng: Thủ Tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng “triều cống” cao nguyên cho Trung Quốc (“pay tribute to China”) đâu khác gì Phạm Văn Ðồng dâng biển.

Ngày 25 Tháng Năm, 2009, Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh tiếp Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Dương Khiết Trì, thân mật xác định liên hệ Việt Trung mãi mãi dựa trên 16 chữ vàng và 4 cái tốt.” Mười sáu chữ vàng đó là: Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai. Và bốn cái tốt là: Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt. Dương Khiết Trì mừng rỡ tái xác nhận hợp tác toàn diện Việt- Trung.

Ngày 15 Tháng Sáu, 2009 Nông Ðức Mạnh tiếp Ðới Bình Quốc, ủy viên Quốc Vụ Viện của Trung Quốc đến Việt Nam dự phiên hợp lần thứ ba của “Ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt-Trung.” Mạnh lập lại một lần nữa xác định: “Ðảng, nhà nước và nhân dân Việt Nam coi việc hợp tác toàn diện với Trung Quốc là chính sách nhất quán và ưu tiên hàng đầu, đây là cụ thể hóa sự hợp tác toàn diện Việt-Trung.”

Phải hiểu nghĩa hợp tác chiến lược toàn diện như thế nào? Theo từ điển Tiếng Việt.

Chiến lược: Phương châm và kế hoạch có tính chất toàn cục, xác định mục tiêu chủ yếu và sắp xếp lực lượng trong suốt cả một thời kỳ của cuộc đấu tranh chính trị, kinh tế, quân sự, xã hội.

Toàn diện: Ðầy đủ các mặt không thiếu mặt nào, mọi khía cạnh, mọi vấn đề.

Ðó là chính sách nhất quán, ưu tiên hàng đầu và mãi mãi đi vào chiều sâu và bền vững theo phương châm 16 chủ vàng và 4 cái tốt, lời xác nhận của Nông Ðức Mạnh. Nếu hiểu đúng nghĩa thì Việt Nam và Trung Quốc hai nước sẽ là một và sẽ hành động như một.

Ngày 23 Tháng Ba, năm 2009 Bộ Trưởng Quốc Phòng Việt Nam, Tướng Phùng Quang Thanh nói với Tướng Chen Bing De, Tham Mưu Trưởng quân đội Trung Quốc rằng “Việt-Trung vừa là đồng chí vừa là anh em, do đó sự hợp tác giữa hai quân đội luôn phát triển đều.” Tướng Chen đáp lời, “Trung Quốc hợp tác với Việt Nam để xây dựng một biên giới thanh bình thịnh vượng.”

Gần đây ngày 18 Tháng Chín vừa qua Nhân Dân nhựt báo của Trung Quốc, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng Cộng Sản đăng bài nhận định như sau, “Việt Nam bắt chước một trăm phần trăm mô hình của Trung Quốc và thực sự Việt Nam cần phải nhớ ơn mô hình nầy.” Cái mô hình mà chưa có ai định nghĩa được rõ ràng chỉ biết rằng nó gắn liền với xã hội chủ nghĩa và đang hấp thụ vốn và kinh nghiệm của Tây Phương. Trung Quốc cũng như Việt Nam mở cửa ra nước ngoài, vất bỏ bức màn tre, chấp nhận và khuyến khích doanh nghiệp tư.

Năm 1997 báo chí Hồng Kông tiết lộ: Một nhà nghiên cứu Việt Nam, giấu tên, được lệnh tìm hiểu sự đổi mới của Trung Quốc để báo cáo cho Bộ Chính Trị dùng làm kim chỉ Nam cho đảng Cộng Sản Hà Nội. Tháng Mười năm nay Hà Nội xác nhận: Việt Nam không chỉ học kinh nghiệm cải cách của Trung Quốc mà còn học cả lý thuyết xây dựng đảng và kinh nghiệm chống tham nhũng của Trung Quốc nữa! (Còn tiếp)






Tu Bich  
#395 Posted : Tuesday, November 10, 2009 12:35:01 PM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Cộng sản Hà Nội Hán hóa Việt Nam (Tiếp theo và hết)

Monday, November 09, 2009

UserPostedImage

Ðường lưỡi bò đánh dấu hải phận Trung Cộng muốn có.
(Hình: tài liệu)
Võ Long Triều

Ðảng Cộng Sản Hà Nội biết rõ ngày nay nhân dân lao động mà họ mượn danh nghĩa cướp được chính quyền đã chán ghét và chống đối họ công khai, bởi vì họ đã trở thành những nhà tư bản đỏ, trở mặt cướp bóc đa số dân nghèo.

Do đó những lời tuyên bố nịnh bợ Trung Quốc gần như để cầu cạnh xin giúp đỡ cho họ giữ được chính quyền để hưởng lợi càng lâu dài càng tốt. Cũng giống như ngày xưa Hồ Chí Minh và đồng bọn cầu xin Trung Quốc giúp họ cướp cho bằng được chính quyền. Về phía Trung Quốc thì âm mưu biến Việt Nam thành Tây Tạng, Tân Cương từ thời đó và ngày càng hiện rõ.

Bằng cớ là nhân danh láng giềng tốt buộc Việt Nam cho phép người Hoa tràn sang Việt Nam làm việc hay định cư bất cứ nơi nào không cần giấy phép. Cho hàng vạn công nhân Trung Quốc không chuyên nghề sang lập thành làng xã riêng biệt, trong khi dân Việt thất nghiệp tràn đồng. Huyện Ðông Gia, tỉnh Quảng Nam và rất nhiều nơi khác là những bằng cớ điển hình. Ðường sá trong những làng công nhân đó đặt tên bằng chữ hán, Họ bắt người Việt Nam phạm pháp trong các khu này, công an Việt đòi, họ không trả, để tự họ xử lý theo luật lệ riêng, công an Việt bó tay, nhà nước làm ngơ không can thiệp.

Bằng cớ khác, biên giới phía Bắc Việt, dân Trung Quốc vào sâu trong nội địa Việt Nam cày cấy nhưng ghi danh tại hợp tác xã bên Tàu gần biên giới, để rồi quan thầy Trung Quốc xem đất đai đó là của mình nên bắt buộc Việt Nam phải dời cột biên giới Trung-Việt vào sâu trong lãnh thổ phía Nam.

Nhân danh đồng chí tốt và hợp tác toàn diện, Trung Quốc chiếm đất chiếm biển mà Hà Nội câm miệng là vì họ còn nhờ quan thầy đỡ lưng ngồi vững để vơ vét. Mượn cớ là đồng chí và anh em, đảng Cộng Sản Trung Quốc hay đảng Cộng Sản Việt Nam cũng như nhau cả, Phó Thủ Tướng Tố Hữu đã từng nói, “Sông liền sông, núi liền núi, bên đây biên giới là nhà, bên kia biên giới cũng là quê hương”! Trước năm 1975 có những bài hát xác định: “Ðất nước chung, nghe tiếng gà gáy cùng.”

Do đó mà bất cứ người dân nào biểu tình chống Trung Quốc xâm lăng, nhà báo nào viết điều bất lợi cho Trung Quốc thì bị bắt liền hoặc rút giấy phép hành nghề. Báo Du Lịch bị đình bản, phó tổng biên tập bị cấm hành nghề.

Hàng hóa Trung Quốc có chất độc bị cả thế giới tẩy chay, nên tràn qua Việt Nam vô số, giết chết ngành công kỹ nghệ Việt Nam, đầu độc dân chúng, vì vậy một chuyên gia kinh tế, bà Phạm Chí Lan, phó chủ tịch cơ quan kiểm soát kinh tế và một học giả kinh tế khác Nguyễn Minh Phong lên tiếng báo động công khai, qua truyền thông báo chí, thì lập tức một tên Tham Tán Kinh Tế-Thương Mại tầm thường của Tòa Ðại Sứ Trung Quốc, Hồ Tỏa Cẩm dám lớn giọng tuyên bố, “Hiện chúng ta có quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước xã hội chủ nghĩa cho nên báo chí phải làm theo sự thỏa thuận của hai chính phủ.” Tên Cẩm nầy còn nhắc đi nhắc lại ba lần trong cuộc họp báo tại Hà Nội một cách xấc xược rằng, “Tôi mong muốn các cơ quan Việt Nam phải khuyến cáo, nhắc nhở, cảnh thị cá nhân và báo chí Việt Nam chưa làm đúng với thỏa thuận của hai nước.” Một ông Thái Thú Tàu con, ngang ngược như vậy mà ông vụ trưởng vụ hợp tác quốc tế Quản Duy Ngân Hà của Hà Nội phải hạ mình vuốt ve một cách hèn hạ rằng, “Ðó là quan điểm của các học giả chớ không phải của chính phủ Việt Nam”! Ðã vậy lại còn cám ơn ông Hồ Tỏa Cẩm và hứa sẽ xem xét lại sự việc.

Thì ra sự hợp tác toàn diện này chỉ đi một chiều, luôn luôn bất lợi cho Việt Nam và mục đích của sự hợp tác chiến lược toàn diện chỉ để phục vụ Trung Quốc mà thôi. Ðau buồn hơn nữa là tàu đánh cá Việt Nam trốn bão trong khu đảo Trường Sa bị Trung Quốc cướp của, đánh đập, đuổi đi thê thảm trái với luật lệ quốc tế mà Hà Nội không dám hé môi phản đối. Trái lại trận bão lụt vừa rồi Việt Nam lập công cứu vớt được một số người Hoa bị chìm tàu trong hải phận biển của mình.

Những sự quì lụy của Việt Nam đối với Trung Quốc còn dài như việc Trung Quốc chủ trương bức tử sông MéKong bằng 14 đập thủy điện lớn nhỏ chận nguồn mà Hà Nội không có một lời bình phẩm hay phản đối. Thậm chí khi nạp hồ sơ về việc mở rộng vùng biển phía Bắc liên quan đến Trung Quốc, chính phủ Việt Nam xác nhận giữa hai nước không có tranh chấp. Nhu vậy rõ ràng Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Hà Nội đã bán đứng lãnh thổ của ông cha đổi lấy chỗ dựa để bám quyền lực.

Thực tế Cộng Sản Hà Nội đã thỏa thuận ngầm những gì với Trung Quốc từ thời Hồ Chí Minh? Hay các cấp lãnh đạo sau này bị mua chuộc bằng tiền tài, gái đẹp nên há miệng mắc quai? Hay đã nhờ sự nâng đỡ ủng hộ của phía Trung Quốc mà ngồi được ghế lãnh đạo hay đứng vào vị trí cao trong đảng? Bởi vì Việt Nam bắt chước Trung Quốc ngay cả kinh nghiệm tổ chức đảng, những lần đại hội đảng đều có viên chức cao cấp của Trung Quốc tới trước vài ngày để tham dự và góp ý. Dư luận thường bàn tán vị này ngồi đây là do Trung Quốc gợi ý, ông khác thăng quan, thay đổi thứ hạng trong Bộ Chính Trị là người thân Trung Quốc.

Những sự kiện diện dẫn trên đây đủ chứng minh Bộ Chính Trị Cộng Sản đã dâng đất nước Việt Nam cho Trung Quốc từ lâu rồi. Những tiếng kêu cảnh cáo phòng chống Trung Quốc xăm lăng hình như dư thừa. Mà trái lại phải nhìn thực tế Trung Quốc đã chiếm những cứ điểm quan trọng của lãnh thổ Việt Nam như quần đảo Trường Sa-Hoàng Sa là kho tàng quí báo cả thế giới xác nhận. Trọng điểm cao nguyên, có giá trị chiến lược quân sự, Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp một công thần khả kính của cộng sản, phản đối cũng vô hiệu. Về mặt kinh tế, chính trị thì có 15 ông ủy viên Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Hà Nội tự biến thành những ông “Toàn Quyền” Pháp hay những quan “Thái Thú Tàu” thay thế cai trị, cần gì Trung Quốc phải trực tiếp nhúng tay.

Tình thế đất nước vô cùng nguy ngập nếu chúng ta cứ ngồi nhìn thiểu số đảng viên bán nước thì vô hình trung cũng bằng đồng lõa với họ.

Vậy hỡi những binh lính, sĩ quan, quân đội nhân dân của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hãy đứng lên dẹp trừ bọn phản quốc.

Hỡi đồng bào trong và ngoài nước thuộc mọi thế hệ, hãy nắm tay nhau cổ động một phong trào chống xâm lăng và trước tiên là diệt trừ những kẻ làm tay sai cho Trung Quốc.

Biết rằng cuộc đấu tranh với một cường quốc khổng lồ sẽ vô cùng gian nan và lâu dài, nhưng ít ra không còn bè lũ tay sai cản bước.
Võ Long Triều
6 Tháng Mười Một, 2009

hongvulannhi  
#396 Posted : Tuesday, November 10, 2009 12:40:50 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)


UserPostedImage
TÍM NHUỘM CẢ TÌNH TÔI

Thuở thơ ngây, đã biết yêu màu tím
Màu tím buồn liệm kín cả đời tôi
Màu tím buồn nên nụ tình khép kín
Lòng trải dài chiều mây tím xa xôi.

Hồn mơ mộng giữa vùng trời phiêu bạt
Nắng chiều loang, nhoà nhạt nét u hoài
Tiếng chim hót vang trong chiều lộng gió
Lòng chợt buồn nhìn lá úa thu phai.

Vừa gặp gỡ sao đã đầy nhung nhớ
Ước mơ gì cho mộng đẹp tương lai
Mắt trao mắt, nhìn vội vàng, bỡ ngỡ
Để bây giờ nhớ mãi bóng hình ai.

Thơ thẩn bước trên đường đầy hoa tím
Nhớ mênh mang, nhớ tím cả khung trời
Tình dấu kín như màu hoa phượng tím
Tím cả hồn, tím cả tháng ngày trôi.
HONG VU LAN NHI
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

langthang09  
#397 Posted : Tuesday, November 10, 2009 2:19:42 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)
Cờ Bạc

Cờ bạc và lễ hội là một trong những đặc thù của nền văn hóa cổ truyền Việt Nam. Xã hội cổ Việt Nam xây dựng trên căn bản nông nghiệp. Dân Việt, qua lịch sử, làm lụng rất chăm chỉ, vất vả và lam lũ. Công việc đồng áng mỗi ngày bắt đầu từ sáng sớm trước khi mặt trời mọc và chỉ ngừng lúc tối mịt không còn thấy gì cả; chứ không phài như thời buổi bây giờ chỉ làm 8 tiếng một ngày và 5 hay 6 ngày một tuần. Tết nhất, lễ hội là lúc duy nhất để nghỉ ngơi, xem hội, giải trí và… đánh bạc. Tại Việt Nam, ngoại trừ một thời gian ngắn dưới thời kỳ Pháp đô hộ, tổ chức cờ bạc qui mô do tư nhân đề xướng, như xòng bài chẳng hạn, vẫn còn được xem là bất hợp pháp và bị cấm ngặt. Tuy nhiên, trong những ngày tết, ngày hội, dân chúng, và ngay cả trẻ con, được phép tha hồ vui chơi, đỏ đen. Người lớn thì đua thuyền, đấu vật, tổ tôm, tam cúc, tứ sắc, xóc đĩa, tài bàn, xì phé, xì dzách [bài 21…] Trẻ con thì đánh đáo, lắc bầu-cua-cá-cọp … Nhưng ngay sau ngày tết, ngày lễ hội, người thắng, người thua, nam phụ lão ấu đều trở về lại với công việc hàng ngày; và chờ mong ngày lễ hội kế đến. Cờ bạc không hề là một vấn đề kinh tế hay xã hội gì mà dân Việt phải quan tâm: mọi người đều hoan hỉ, vui thú!

Ngày hôm nay, nhất là ở hải ngọai, bộ mặt của cờ bạc đã thay đổi tòan diện từ hình thức cho đến kích thước. Mỗi ngày, chứ không phải chờ đến ngày lễ hội, chúng ta đều nhìn và cảm thấy chuyện cờ bạc đỏ đen diễn ra từ phải qua trái: xổ số, keno, bingo, thẻ cạo [scratchers,] số đề, cá độ thể thao, đua ngựa, cờ bạc trên mạng …và ngay cả chơi “stocks” trên thị trường chứng khóan.

Cờ bạc bây giờ đã biến thành một cơn bệnh xã hội. Nó diễn tiến từ từ thành nhiều giai đọan. Cờ bạc không còn là cơ hội để mọi người có dịp “vui chơi, xả hơi” như ngày xưa; mà có thể là một “cơ hội” sẵn sàng phá hủy người đánh bạc một cách tòan diện; gây khổ lụy cho những người có liên hệ trực tiếp với cá nhân đánh bạc như: vợ, chồng, con cái, bố mẹ v..v.. Cơn ghiền đánh bạc có thể là cấp tính, mãn tính… tùy từng cá nhân và hòan cảnh.

Sự tiến hóa của bệnh ghiền cờ bạc khởi đầu từ một chuyện nhỏ, một cái thú thật đơn giản là: may mắn thắng được một món tiền nhỏ. Cái may mắn đó có thể tái diễn thêm một vài lần. Sự tai hại của vài lần thắng “nhỏ” này là nó làm cho người thắng cảm thấy lạc quan một cách quá đáng vô căn cứ, háo hức và đi đến tham lam; muốn thắng lớn hơn. Chuyện nhỏ này cũng có thể bắt đầu từ một cái thua nhỏ. Người thua muốn gỡ lấy lại số tiền đã mất. Cả hai sự việc thắng nhỏ và thua nhỏ vừa kể sẽ dần dà đưa đẩy đến giai đọan cuối gọi là “giai đọan tuyệt vọng.” Người ghiền cờ bạc càng lúc càng tự gia tăng thêm thời gian đánh bạc, cũng như số tiền để đánh bạc. Thua lớn, quay ra đổ thừa, đổ lỗi cho những người thân chung quanh chẳng hạn như: “Con vợ mình số nó xúi quẩy quá!” hoặc “Thằng con mình nhìn mặt mũi nó hãm tài quá!” Thật ra, chính ngay bản thân mình là kẻ ngu xi, vô duyên, lảng xẹc mà mình đâu có thời giờ xoi gương để mà biết mình đã biến thành thứ động vật gì ? Ở cuối giai đọan tuỵêt vọng này, một vở bi kịch đang chờ sẵn để mở màn: mất việc, ly dị, nghiền rượu, nghiền ma túy, bị tù và… có thể tự vận.

Một người ghiền cờ bạc làm tổn thương, thiệt hại trầm trọng cả đến gia đình, nghề nghiệp và cộng đồng. Thời giờ dùng để chăm sóc gia đình đã ít, lại còn tìm mọi cách ăn cắp tiền, hoặc bớt số tiền cấp dưỡng, của thân nhân để đem đi đánh bạc. Trong công sở làm, thì không thể tập trung vào việc làm được [đã thua vài ngàn đô la đêm hôm qua, thì sáng nay còn tâm địa đâu để làm việc 15 đô la một giờ ?] Dùng thời giờ làm việc, thay vì để sản xuất, để nghĩ ra cách ăn cắp, thụt két, biển thủ, thâm thủng ngân sách của nhà nước hoặc của hãng, xưởng, công ty để lấy tiền gỡ thua bạc.

Người đánh bạc sẽ mơ uớc: “mơ ước may mắn được thắng lớn, trúng độc đắc…” Nhưng mơ ước vẫn chỉ là cái mơ ước không bao giờ thành sự thật. Thật đơn giản, chỉ có một định luật duy nhất là: “Làm việc chăm chỉ thì sẽ may ra gặp may mắn mà thôi!”

[Armand Hammer nói: “Tôi gặp nhiều may mắn nếu tôi làm việc chăm chỉ - 7 ngày một tuần, 14 tiếng mỗi ngày.”]
Con người vốn dĩ bản tính ham vui. Có ai là người không thích vui ? Ai bảo đánh bạc không vui? Nhưng rất khó mà giữ, củng cố được cái cái vị trí “chỉ đánh bạc cho vui thôi !”Bởi vì cái ranh giới giữa “cho vui” và “cho tận mạng” chỉ là một khỏang cách rất ngắn. “DDánh bạc cho vui” luôn luôn là bước đầu để đi đến những thảm trạng, những đổ vỡ của cuộc đời. Nếu chỉ mới là “bệnh” thôi thì còn hy vọng may ra còn chữa trị được. Một khi cờ bạc đã biến thành “tật” rồi thì thật hết thuốc chữa!
Kể từ cái vui lành mạnh của ngày sinh nhật: “Nhân dịp kỷ niệm này, mình làm một chuyến đi Las Vegas cho vui !” Thật là thích thú. Ba tuần sau là kỷ niệm ngày đám cưới được 5 năm: “lại làm một chuyến Vegas nữa !” Tiếp đến, hai tuần sau cái ngày “kỷ niệm 5 năm” đó, không tìm được “kỷ niệm” nào gọi là ra hồn để lấy cớ trở lại Las Vegas; bèn tự phát minh ra một lý do mới toanh thật tài tình: “Làm thêm một chuyến Vegas, vì xe mới vừa tuned-up xong!” Sau đó là hàng lọat những lý do vớ vỉn, khôi hài “DDi Las Vegas vì xe vừa thay nhớt xong!” “Vừa lãnh tiền của hội tương tế trả về việc chôn cất ông gìa xong !!!” Cuối cùng… hòan tòan chẳng có lý do nào cả; nhưng vẫn phải đi “Vegas” cho bằng được. Không đi chịu không được! Sẽ có chuyện lớn chứ không đùa đâu à nhe !!!

“Ê ! Đời là một canh bạc mà !” theo như lý luận của một tay ghiền cờ bạc hết thuốc chữa, “Mà nếu mình có thua hết đi nữa, thì mình có mất cái gì đâu ?! Mình từ Việt Nam qua đây trên răng dưới dế!? Vượt biển nhịn đói nhịn khát 10 ngày còn chưa chết; làm sao có thể chết ở xòng bạc được !?” Thưa quí cụ, xin quí cụ chờ một tí, đừng vội lạc quan và nghe theo cái nhời của me-xừ “lu dzơ” này nhé !

Vào khỏang 1995-96 nhà cháu thất nghiệp lâu quá, phải bỏ Orange County, mò mẫm lên tìm việc ở San Jose đúng và lúc xòng bài “Bay-101” mới khai trương. Xòng bài mở 24/7 [có nghĩa là 24 tiếng mỗi ngày và 7 ngày một tuần] cho dân Mít tha hồ náo nức xếp hàng nộp tiền. Một bố Mít đánh hăng quá kiệt sức, rồi vào chết ngồi ở trong “bathroom” từ hồi nào không ai hay ? Nhân viên quét dọn “bathroom” của xòng bài phát giác ra - đây là chuyện có thật “một chăm phần chăm,” có đăng báo “The Mercury News” của vùng Vịnh [Bay Area] – San Jose đàng hòang!
Dần dà, người đánh bạc không còn vui nữa; mà bắt đầu hơi buồn; buồn; thật là buồn… Chuyến đánh bạc lần này là để giải cái buồn của tuần trước …và cứ thế mà tái tục. Cờ bạc đã trở thành bệnh rồi mà không hay? Cơn bệnh cờ bạc này còn gây cho người mang bệnh một cái “biến chứng phụ” nữa: đó là bệnh nói dối. Người đánh bạc luôn luôn có khuynh hướng thổi phồng số tiền và số lần thắng; đồng thời cũng dấu nhẹm các lần thua !
Bác Sĩ Richard Rosenthal một nhà nghiên cứu về vấn đề “ghiền cờ bạc” đã vạch ra 3 lý do chính làm cho một người bình thường trở thành nghiền cờ bạc:
- Tự lừa dối mình là chỉ đánh bạc cho vui
- Đang ở trong tình trạng trầm cảm (“depressed”), chán nản, cảm thấy mình vô dụng - Sống trong [hay ở gần] khung cảnh, môi trương cờ bạc.


Cờ bạc vì di truyền cũng được đề cập tới. Nhưng liên hệ này chưa chứng minh được.
Ngòai việc làm suy giảm sức sản xuất, cờ bạc còn làm thâm thủng tín dụng (“credits”) mỗi năm cả bạc tỷ. Thống kê cho thấy cứ trong 3 người ghiền cờ bạc thì có 2 người sẽ phạm pháp [để lấy tiền trả nợ!] Vấn đề phạm pháp dĩ nhiên còn gây gánh nặng cho luật pháp, nhà tù. Các thiệt hại và phạm pháp ghi nhận được như là:
- mất việc làm
- nợ nần, phá sản
- biển thủ, lường gạt, gian lận
- tù - sức khỏe suy kém, tâm thần bất ổn


Thử lấy California làm thí dụ. Theo thống kê của năm 2000, California có 12% dân số là Á châu. Thế mà 40% số người vào xòng bài [ở California] là dân Á châu đầu đen – trong đó dân mít mình chiếm con số không nhỏ. Thật ra, không cần phải tìm đọc các bản báo cáo, thăm dò của các cơ quan khảo cứu – chỉ cần nhìn là đủ. Không kể gì gìa hay trẻ, đàn ông hay đàn bà, người Việt của mình thích cờ bạc! Đó không phải là chuyện bí mật quốc phòng hay là an ninh quốc gia con khỉ gì cả ! Nói thẳng là có rất nhiều chủ gia đình Việt Nam ghiền cờ bạc. Và gia đình của chính những người ghiền cờ bạc này bị ảnh hưởng nặng nề nhất: sự đe dọa của chủ nợ, hạnh phúc sứt mẻ, con cái bị bỏ rơi... Tội nghiệp nhất là con cái của họ. Các chuyên gia về “bệnh ghiền cờ bạc” gọi chúng là “Casino Kids.” Đó là đám trẻ con bị bỏ lăn lóc, thiếu chăm sóc, thiếu ăn, thiếu uống, thiếu ngủ, thiếu tiện nghi, nằm ngồi trong các xe đậu tại các bãi đậu xe; hoặc lang thang một cách nguy hiểm loanh quanh các casinos, xòng bài vì luật lệ không phép chúng tháp tùng bố mẹ đi vào bên trong xòng bài. Phải lấy làm lạ là họ có thể đặt một cây bài vài trăm đô la; nhưng không dám mướn phòng để ở qua đêm chỉ tốn vài chục đô la ! Đây là một phương trình không cân bằng được !

Hãy mặc kệ các lời quảng cáo mời mọc hoa mỹ của các xòng bài. Tạm quên các chuyến xe “bus” chở miễn phí mà còn cho thêm tiền túi đến các xòng bài. Chúng ta nên nhớ một điều là ở trên đất Mỹ này, không có bất cứ một cái gì gọi là miễn phí cả. Mình phải trả trước hay trả sau mà thôi! Chẳng hạn quí bạn ngồi đánh bài tại một bàn “xì dzách [21;]” được nhân viên xòng bài “xẹc” cho bạn uống một chai bia không phải trả tiền [đáng giá $1.50 nếu bạn phải mua ở chợ.] Đứng dậy sau ba mươi phút chơi bài, bạn thua hết $60.00. Hãy tính lại cho kỹ, bạn đã uống một chai bia đắt gía nhất [$60.00] trong cuộc đời của bạn chứ đâu phải miễn phí ! Vấn đề đánh bạc, sự may mắn không bao giờ kéo dài lâu; nhưng chắc chắn là những bất hạnh do đánh bài gây ra cho cuộc đời bạn sẽ dài vô cùng tận!

Việc hợp thức hóa [legalized] cờ bạc là một kỹ nghệ phát triển nhanh nhất của các chính quyền Tiểu bang, các Quận và các thành phố ở trên đất Mỹ hiện nay. Trên đất Mỹ chỉ có 2 tiểu bang, đó là Hawaii và Utah, là không cho hợp thức hóa cờ bạc mà thôi. Cờ bạc lấy đi từ trong túi chúng ta mỗi năm gần 80 tỷ đô la; hơn cả tất cả tổng số chi phí mà chúng ta chi tiêu cho vé xem xi-nê, vé xem thể thao và tiền chơi “video games,” cả 3 cộng lại với nhau. Trước đây, cờ bịch chỉ giới hạn ở một vài nơi hẻo lánh thuộc tiểu bang Nevada. Bây giờ bài bạc dưới mọi hình thức mọc lên chung quanh chỗ chúng ta sống như nấm dại mọc sau cơn mưa: Super Lottery Plus, Mega Millions, Fantasy, Keno, Daily Derby, Big Spin, Power Ball, Bingo, Scratchers, Indian Casinos, On-line Gamblings… Tiền lời thu về từ các xổ số, trên nguyên tắc là để giúp các trương học, đã bị lạm dụng để xây nhà tù, văn phòng và cơ sở của chính phủ. Người nghèo bị cờ bịch của chính phủ móc túi nhiều nhất. Bởi vì nó tiện [nhưng dĩ nhiên là không có lợi!] và hấp dẫn: “chỉ một vài đô la mà có thể biến thành triệu phú.” Theo họ, dân khố rách áo ôm, đây là cái “cánh cửa duy nhất của hy vọng.” Thay vì dùng đồng tiền khó kiếm, mồ hôi nước mắt để mua thực phẩm, đồ gia dụng cần thiết cho gia đình; người nghèo lại dùng một số tiền lớn lao để mua “lottery,” mua cái “giấc mơ không bao giờ đến” ở ngay cái tiệm tạp hóa ở đầu ngõ; gần xịt mà. Đây chính thật là cảnh “chó cắn áo rách” diễn ra hàng ngày.

Cờ bạc rõ ràng là một cái gì rất tai hại, băng họai. Một cái đầu tư xấu xí mà người đầu tư sẽ chắc chắn lỗ lã. Như vậy mà tại sao chúng ta vẫn tiếp tục đầu tư, bỏ tiền vào cái lỗ hổng không có đáy đó? Có lẽ chúng ta cần phải học lại môn tóan cơ bản được dậy ở lớp mẫu giáo, lớp một để hiểu biết thêm về lời giải của một bài tóan đơn giản cộng-trừ-nhân-chia !

Để kết thúc bài chuyện phiếm nhạt nhẽo này, nhà cháu xin phép được lập lại lời của một bố Mít đã nói và ghi ở trên: “Ê ! Đời là một canh bạc mà!” Vâng, mình và gia đình được đặt chân lên đất tự do bình yên là đã một lần trúng “dộc đắc” trong canh bạc đó rồi. Có bao nhiêu người trên cuộc đời này có cơ hội trúng “dộc đắc” hai lần???
TRẦN VĂN GIANG
Tu Bich  
#398 Posted : Tuesday, November 10, 2009 11:36:57 PM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Thư Parí: Phá Vỡ Bức Tường
Từ Nguyên

9.11 : NGÀY TỰ DO

Âu Châu vừa tưởng niệm 20 năm ngày bức tường Bá linh bị phá, ngày 9.11.1989, và hai năm sau là sự tan rã của Khối Cộng do Liên Sô lãnh đạo. Thư Paris tuần trước đã trình bày về bức tường ô nhục bằng bê tông và hệ thống phòng thủ kiên cố. Lần này xin nói rõ hơn về diễn tiến của những sự việc dồn dập xảy ra, phá vỡ bức tường và thống nhất hai nước Đức một cách hoà bình.

Ba nhà lãnh đạo có công trong việc...dẹp bỏ bức tường vừa gặp nhau tại Bá linh, nay là thủ đô của Cộng hòa Đức. Người nào cũng vẫn còn như là đang sống...trong kỷ niệm : Mikhail Gorbatchev, cựu tổng bí thư Cộng đảng Nga, nay 78 tuổi, George H.W. Bush, tổng thống Hoa kỳ (1989-1993) 85 tuổi, và Helmut Kohl, cựu thủ tướng CHLB Tây Đức, 79 tuổi. Helmut Kohl phải ngồi xe lăn vì bị gảy xương chậu và tai biến mạch máu não nhưng vẫn nói chuyện bình thường. Mười năm trước, hai trong ba ông, cựu thủ tướng Kohl và Gorbatchev, đã gặp nhau tại Berlin để cùng ôn lại những kỷ niệm đau buồn của mấy chục triệu dân Đức. Pháp không có mặt vì Francois Mitterrand tổng thống Pháp hồi đó, không ngờ rằng Đông Âu sẽ không còn dưới ách Cộng sản !
LỄ TƯỞNG NIỆM TẠI BERLIN

Lễ tưởng niệm linh đình và cảm động tại Berlin, trước Công trường Brandebourg, trước đây bên kia là phần đất của Đông Bá Linh. Nguyên thủ từ các nước Âu Châu tới tham dự, đặc biệt có cả Lech Walesa, cựu tổng thống Ba lan và Mikhail Gorbatchev, người được thủ tướng Angela Merkel cảm ơn trong bài diễn văn đọc trong dịp này. Tổng thống Hoa kỳ Barack Obama không tham dự, gởi Ngoại trưởng Hillary Clinton đại diện.

Dưới bầu trời mưa tầm tả như là mùa này của nước Đức, dân chúng che dù hay mặc áo mưa hằng trăm ngàn người tới để nhớ lại những kỷ niệm cũ, chia sẻ niềm vui cho tới tối. Diễn văn, hòa nhạc và cuối cùng là một ngàn bức tường...sụp đổ : bức tường này đè nặng trên bức tường kia theo lối domino...chạy từ công trường cho tới bờ sông Spree...
PARIS TƯỞNG NIỆM TẠI CÔNG TRƯỜNG CONCORDE

Những hình ảnh này lại được chiếu trên công trường Concorde trung tâm thủ đô Paris, nơi tổ chức tưởng niệm ngày bức tường Bá linh sụp đổ. Một buổi trình diễn 25 phút với nhạc và âm thanh sống ghi lại một số sinh hoạt cảnh đã xảy ra chung quanh bức tường và Cổng Brandebourg ở Đông Bá Linh và những cuộc biểu tình, xuống đường của dân Đức trong năm 1989. Hình ảnh được chiếu trên mặt tiền của các tòa nhà quanh công trường, trước hết nhắc lại thời buồn thảm khi mà một phần đất Âu châu phải nằm dưới ách Cộng sản rồi tới cuộc vận động cho tự do năm 1989 để đưa đến ngày tàn của Khối Cộng.
Để hiệp cùng với buổi lễ này, ánh đèn trên đại lộ Champs-Elysées cho mùa Giáng sinh sắp tới chiếu sáng mấy ngày sớm hơn mọi năm. Với sự tham dự của thủ tướng chính phủ cùng với đại sứ tại Paris của tất cả các nước Âu châu, chương trình còn có màn trình diễn của 27 nhạc sĩ hồ cầm cùng nhiều ca đoàn trên bao lơn của khách sạn quanh công trường diễn tả thông điệp của Mstislav Rostropovitch gởi tới các nạn nhân của bức tường. Tất cả đã được tiếp vận trên một màn ảnh đại vĩ tuyến ở Bá Linh, nơi đang có mặt của thủ tướng Angela Merkel và tổng thống Pháp, Nicolas Sarkozy.

Tất cả nhằm mục đích làm sống lại những giây phút cảm động từ nay trở thành kỷ niệm chung cho cả dân Âu châu chứ không riêng chi của dân tộc Đức. Chương trình này rõ ràng đã gây được cảm tình của dư luận Đức. Frankfurter Allgemeine Zeitung, nhật báo xuất bản tại Frankfurt đã dành nguyên một trang nói về sự việc này với tựa đề : “Paris thắp sáng cho Berlin.

Thủ tướng Angela Merkel sau khi được tái cử, nhậm chức ngày 28.10, sẽ tới Paris tham dự ngày lễ 11.11, ngày đình chiến (Thế chiến thứ nhất) nay trở thành ngày thân hữu hai dân tộc Pháp, Đức.
MERKEL CÁM ƠN DÂN TỘC MỸ

Tham dự hội nghị thượng đỉnh giữa Liên Hiệp Âu Châu và Hoa kỳ tại thủ đô Hoa thịnh đốn ngày 3.11, Angela Merkel đã ra trước phiên họp lưỡng Viện Quốc Hội cảm ơn dân tộc Mỹ đã đóng góp nhiều vào cuộc vận động tự do cho dân Đức. “Nhân dân Đức nhớ ơn người Mỹ vô cùng, và riêng cá nhân tôi càng nhớ mãi cái ơn đó,” bà thủ tướng nói. Bà là người lớn lên ở Đông Đức, sống trong lòng Cộng sản càng thấy rõ giá trị của tự do.

“Ngày nay, các thế hệ của thế kỷ XXI phải chứng tỏ có khả năng chế ngự được những thách đố của thời đại. Chúng ta phải phá vỡ những bức tường còn lại tới hôm nay, để bảo vệ tự do và cuộc sống xứng đáng của con người.”
CHUYỆN XẢY RA TRONG NĂM 1989

Sau đây, xin gợi lại một số sự kiện chính xảy ra theo thứ tự thời gian :
Ngày 18.1.1989 : Erich Honecker, chủ tịch của Đông Đức quả quyết : “Bức tường sẽ còn đó, trong 50 năm, cũng có thể 100 năm nữa.” Nhưng ông nói thêm : “Nếu vẫn còn có những lý do khiến cho nó phải tồn tại.”
2. 5 : Hung gia lợi mở bức màn sắt. “Tiếp theo đây, tới lượt Bá linh,” lời của George Bush, tổng thống Hoa kỳ. Người đã áp lực Nga sô, phải kể là tổng thống Ronald Reagan, suốt hai nhiệm kỳ trong thời gian đã có những người liều chết để vượt thoát qua bức tường. Tổng thống Mỹ hồi đó đã nói với Gorbatchev : Phá vỡ bức tường đi !
Tháng 7 và 8 : Hằng trăm ngàn dân Đông Đức đua nhau đi nghỉ hè tại Hung gia lợi.
10. 9 : Gyula Horn, ngoại trưởng Hung gia lợi tuyên bố trên truyền hình : Hung gia lợi sẽ để cho dân Đông Đức tới gần biên giới Hung và Áo. Ba ngày sau, 22 000 dân Đông Đức đã qua khỏi biên giới. Ngoại trưởng Đức yêu cầu Nga can thiệp. Câu trả lời : Đó là chuyện nội bộ của nước Hung !
Cuối tháng 9 : Sứ quán Tây Đức tại Prague, Tiệp khắc, có tới 4 000 dân Đông Đức bỏ nước xâm nhập vào trong khuôn viên. Đầu tháng 10, những người này được chở trong những toa tàu hỏa xuyên ngang qua Đông Đức đi Tây Đức.
7. 10 : Dân chúng biểu tình, đốt đuốc diễn hành ở Đông Bá linh tung hô Gorbatchev khi ông này tới dự lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Cộng Hòa Đông Đức. “Gorbi, giúp chúng tôi !”
9.10 : 70 000 người tập họp để cầu nguyện trong và ngoài Thánh đường Saint Nicolas ở Leipzig, nơi những cuộc biểu tình chống chế độ diễn ra từ tháng 9. Trên đường phố, dân chúng hô lớn : “Chúng tôi đây là dân” ! Trong đám biểu tình có cả nhân viên an ninh, Cảnh sát.
17.10 : Egon Krenz, 62 tuổi được bộ chính trị Cộng đảng cử thay thế Honecker từ chức vì lý do sức khỏe. “Các ông không giải quyết được vấn đề. Hôm nay là tôi, ngày mai, tới lượt các ông,” lời của Honecker khi bỏ phòng đi ra. Sáu ngày sau, tại Leipzig, 300 000 người biểu tình đòi Krenz từ chức.
30.10 : Một phúc trình tối mật về “tình hình kinh tế tài chính của CH Đông Đức và hậu quả của nó” đưa ra trước phiên họp của Bộ Chính trị. Đông Đức phá sản. Ngày hôm sau, Gorbatchev từ chối không tiếp tục viện trợ cho Đông Đức.
7.11 : Dân chúng biểu tình trước trụ sở Mật vụ Đông Đức ở Đông Bá linh, hô lớn : Stasi, cút đi!
8.11 : Biểu tình tiếp diễn khắp nơi. Bộ Chính trị từ chức tập thể.
9.11 : Một văn kiện tu chính luật và trù liệu : Không ai có quyền cấm dân Đông Đức khi có thông hành và chiếu khán, bỏ nước ra đi. Tới 18 giờ 53 phút : Gunter Schabowski, 60 tuổi, phát ngôn viên của ủy ban trung ương tới phòng hội báo chí. Riccardo Ehrman, phái viên của hãng Ansa của Ý hỏi: Biện pháp đó bao giờ có hiệu lực ? Có hiệu lực ngày hôm sau nhưng Gunter Schabowski lại nói : “Theo như tôi biết, mà, ờ, có hiệu lực ngay tức khắc.”

20 giờ đài truyền hình loan báo tin này. Đông Đức đã mở cửa biên giới. Dân chúng tràn qua Tây Đức. Nửa đêm dân chúng tập họp reo vui trên phần đất tự do. Bức tường bắt đầu bị phá vỡ bằng mọi phương tiện sẳn có, sau đó là xe cần trục...
THEO DẤU BỨC TƯỜNG, NĂM 2009

Ngày nay, dọc theo dấu vết của bức tường là 155 cây số đường đi xe đạp hay đi bộ, gọi là Mauerweg. Người tới Postdamplatz ở Đông Bá Linh khó lòng tưởng tượng nỗi nơi đây từng là cảnh vườn không nhà trống, no man’s land phân cách với Tây Bá linh. Trong những năm đầu của thập niên 1990, với niềm hân hoan của những ngày tháng tự do, ai cũng tưởng dấu vết kỷ niệm sẽ còn đó hay sẽ được trùng tu. Nhu cầu của cuộc sống còn cao hơn nhu cầu kỷ niệm ?

Du khách tới đây, đi với bản đồ trong tay cũng khó lòng tìm lại được dấu vết cũ. Đầu Postdamplatz, Cổng Brandebourg nằm đổ nát trong 40 năm, nay đã được sửa sang lại và vây quanh nhiều dinh thự, còn hơn trước thời thế chiến. Gần đó là tòa nhà bằng kính tác phẩm của kiến trúc sư người Anh Norman Foster, trụ sở Quốc hội Reichstag....Từ nhà ga chính, dấu vết chân tường bằng gạch chạy qua sông Spree, ngang qua Reichstag rồi thêm sáu cây số tới Checkpoint Charlie. Trên chặng đường đó, du khách thấy nhiều tấm khắc chữ bằng đồng Berliner Mauer 1961-1989.

Du khách cũng có thể mua, trong bao plastique, một mảnh vụn (có giấy chứng thực) của bức tường.
NHÀ TƯỞNG NIỆM BỨC TƯỜNG : Trên góc đường Bernauerstrasse, nơi trước đây là phần đất của Pháp và Nga sô, một Memorial du Mur đã giữ lại nhiều mảnh vụn của bức tường chạy dài theo đại lộ phân cách thành phố Bá Linh. Trung tâm tài liệu, nằm ở số 111 cùng đường, ghi lại lịch sử của bức tường cùng với những cuộc vượt thoát tìm tự do.
CÙNG TỚI BÁ LINH

Từ Paris, đi máy bay hay xe lửa. Air France, đt. 3654 hay airfrance.fr, Lufthansa, lufthansa.com hay đt. 0 892 231 690, Air Berlin, đt. 0 826 96 73 78 hay airberlin.com hay EasyJet qua easyjet.com. Giá rẻ nhất chừng 100, 110 euro đặc biệt cho tuần này.
Hỏa xa : 13 giờ qua một đêm, rời ga Paris Est lúc 19 giờ 47 tới Berlin lúc 9g sáng. Với City Night Line của công ty Deutsche Bahn (hỏa xa của Đức), giá từ 149 euro cho hai người, kể cả ăn sáng hay với hạng sang hơn, có phòng tắm 398 euro. ĐT. : 01 44 58 95 40 hay dbfrance.fr.
Khách sạn : Từ 130 euro trở lên, nên giữ chỗ trước đỡ mất công đi kiếm. Các khách sạn nổi tiếng như Sofitel, Marriott, Hilton...đều có mặt, giá tiền phòng đôi một đêm trên 300 euro.
Công ty du lịch tổ chức chuyến thăm Berlin : Directours (directours.fr), Visit Europe (voyages-de-marques.fr), Jet tours (jettours.com), Nouvelles Frontières (nouvelles-frontières.fr)...Ít nhất 450 euro một người kể cả máy bay trong hai đêm tại Berlin.
MÓN ĂN ĐẶC BIỆT : Trong Sổ tay du hành, Le Monde đề nghị tới Haus Berlin, số 1 Strausberger Platz để ăn những món ăn đặc biệt của dân Đông Đức như là Soljanka, Broiler, Ketwurst với quanh cảnh rộn ràng của công trường Strauberger, hay tại Café Sibylle, 72 Karl Marx Allee...
50 NGHỆ SĨ PHÁP TRƯNG BÀY TÁC PHẨM TẬP THỂ : Ghi lại những bức tường đang còn hiện hữu trên thế gian. Bức tường giữa Hoa kỳ và Mễ tây cơ, bức tường giữa Do thái và Palestine, nhà tù, những ngăn cản tâm lý...cùng một số hình ảnh kỷ niệm như nhạc sĩ hồ cầm Mstislav Rostropovitch ngày 9.11.1989 kéo một nhạc khúc của Bach bên chân tường đang bị phá vỡ...

Tất cả được trình bày trên một bức tường cao ba thước và dài 7 thước...trưng bày tại Espace Commines, 17 rue Commines 75003 Paris. Exposition événement Haut les Murs, từ 12 đến 15.11, từ 10 giờ đến 20 giờ. Metro Oberkampf hay Filles du Calvaire. www.artistesala bastille.com
BA TẤN XI MĂNG VÀ SẮT : Đó là một mảnh của bức tường do Deuschtlandradio, đài truyền thanh Đức tặng cho Radio France, sẽ được đem trưng bày sân trước tòa trụ sở của Đài ở Quận XVI.

Mắt Buồn  
#399 Posted : Wednesday, November 11, 2009 12:32:32 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,560

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
LỜI TRI ÂN MUỘN MÀNG

Xin được cám ơn dù rất muộn
Những đứa Em, Đồng đội đã ra đi:
Hữu, Y Biếc, Tâm, Bình, Thanh, Tùng, Cẩm
Lý, Hoàng , Khanh , Công , Giáp, Đặng Tri.

Cám ơn đã hy sinh cho tôi sống
Dù chỉ là một kiếp Phó Thường Dân
Sống buồn thiu, đời thay đổi bao lần
Như sông nước đầy vơi theo nhật nguyệt.

Cám ơn thuở miệt mài nơi trận tuyến
Thuốc chuyền tay, cháy mắt đỏ xuyên đêm
Đường hành quân Thần chết ở kề bên
Tình Huynh Đệ, nghĩa Chi Binh càng thắm thiết.

Bạn bè ơi, thanh xuân tràn nhiệt huyết
Nợ non sông trả bằng máu tim hồng
Poncho nào trải tiếc nhớ mênh mông
Nghìn thu khép trên màu Cờ, sắc Áo.

Xin cám ơn một nửa đời giông bão
Nối trong tôi tình Lính với tình Người
Vẫn đẹp hoài trang sử thuở đôi mươi
Dù vận nước đã sang mùa kiếp nạn.

Đồng Đội ơi: những Mũ Nâu liều mạng
Đứng thẳng lưng ôm súng hét : Xung phong!
Cao Kim Rắc, Lễ , Quang, Thông, Vạn , Hổ
Hồn linh thiêng hãy bỏ nước …lưu vong!
HUY VĂN
hongvulannhi  
#400 Posted : Wednesday, November 11, 2009 7:05:12 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)

UserPostedImage
HÃY TRẢ LỜI EM

Đã nhiều lần em muốn hỏi anh
Có nhớ em nhiều trong những đêm
Nhiều khi giấc ngủ lười không đến
Trằn trọc, thao thức, nghĩ liên miên...

***

Có Em hiện vào giấc chiêm bao
Cùng anh thơ thẩn ngắm trăng sao,
Đi dưới hai hàng cây phượng tím
Tâm sự nhau nghe chuyện thuở nào...

...Chuyện của ngày xưa đã rất xưa
Saigon mưa nắng chỉ hai mùa
Anh trọn phận trai thời chinh chiến
Chẳng ngại gian nan sống bụi bờ.

Những tưởng quê hương sẽ ấm êm
Em gái hậu phương sống bình yén
Mọi nhà vui hưởng niềm hạnh phúc
Không đốm hoả châu sáng mỗi đêm.

Đôi mắt đẫm sầu, u ẩn quá
Ngập ngừng trong tiếng thở dài buông
Nhìn em như nhìn người xa lạ
Anh ngồi lịm chết giữa cơn buồn.

Những tháng ngày chồng chất niềm đau
Một kiếp tha phương, vạn kiếp sầu
Lang thang đây đó đời muôn hướng
Chẳng biết mai này tạm trú đâu.

Anh đã nghe rồi, câu em hỏi
Sao còn thắc mắc chuyện đồi ta
Tưởng em đã hiểu, không cần nói
Chuyện mình đẹp tựa ánh trăng ngà.

Và lòng anh chỉ một hướng thôi
Chung thủy anh trao đến một ngưởi
Riêng một em thôi, và mãi mãi
Tình quyện trong nhau đến trọn đời.

***

Biết nói gì đây hỡi Dấu Yêu
Em giờ hạnh phúc biết bao nhiêu
Ý tình đã được anh bày tỏ
Sáng rõ trong em đủ mọi điều.
HONG VU LAN NHI






Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest (3)
73 Pages«<1819202122>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.