Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

83 Pages«<80818283>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1621 Posted : Tuesday, July 27, 2021 6:23:14 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Henri Vernes, tác giả bộ truyện Bob Morane qua đời ở tuổi 102

27/07/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Lúc sinh tiền, nhà văn người Bỉ Henri Vernes đã viết khoảng 250 quyển tiểu thuyết và truyện ngắn, chủ yếu là truyện trinh thám và gián điệp. Tác phẩm đầu tay của ông được một tủ sách thiếu nhi phát hành ở mức 8.000 quyển, vào cuối năm 1953. Nửa thế kỷ sau, bộ truyện phiêu lưu ''Bob Morane'' của ông đã được bán hơn 40 triệu bản trên toàn thế giới.

Theo nhà xuất bản Ananké, tác giả Henri Vernes đã qua đời hôm 25/07/2021 tại tư gia ở quận Saint Gilles, Bruxelles, hưởng thọ 102 tuổi. Lần cuối ông xuất hiện trước ống kính truyền hình là nhân dịp cuộc triển lãm mừng sinh nhật 100 tuổi tại Viện bảo tàng thành phố Tournai. Hơn một thập niên sau ngày ông giải nghệ, nhà xuất bản Ananké đã chỉ định hai tác giả Gilles Devindilis và Christophe Corthouts làm các ngòi bút kế thừa di sản văn học của Henri Vernes (1918-2021), tiếp tục bộ truyện của ông qua việc sáng tác ''Những chuyến phiêu lưu mới của Bob Morane''.

Bộ truyện phiêu lưu ăn khách với hơn 40 triệu bản

Tên thật là Charles-Henri Dewisme, ông sinh trưởng tại thị trấn Ath, miền Tây nước Bỉ, gần biên giới Pháp. Thời còn trẻ, ông làm đủ mọi nghề để kiếm sống kể cả nghề thợ kim hoàn và viết lách. Do làm việc cùng lúc cho nhiều tờ báo, cho nên ông sử dụng nhiều bút danh. Còn khi sáng tác, ông có đến cả chục tên khác nhau. Trong số này, có "Henri Vernes" sẽ được lưu danh hậu thế. Thật ra, ông chọn bút danh là Henri Vernès, nhưng thời xưa khi in chữ hoa trên bìa sách, tên của ông lại bị mất đi dấu huyền. Cho dù nhà văn này có giàu trí tưởng tượng cách mấy, bản thân ông cũng không hề ngờ rằng bộ truyện với nhân vật Bob Morane lại thành công rực rỡ phi thường đến như vậy.

Giây phút định mệnh đến với tác giả Henri Vernes vào tháng 12/1953. Sau khi thành công với một tập truyện đăng nhiều kỳ trên báo (truyện ''Rendez vous au Pélican vert'' viết cho nhật báo La Dernière Heure phát hành tại Bruxelles), ông được một nhà xuất bản sách thiếu nhi yêu cầu sáng tác thêm một bộ truyện dài. Henri Vernes đặt bút sáng tác ''La Vallée Infernale'' (Thung lũng địa ngục) với cốt truyện diễn ra trên đảo Nouvelle-Calédonie, xung quanh nhân vật Bob Morane, một nhà thám hiểm từng là phi công thuộc lực lượng không quân Anh, đồng thời là một ''thám tử'' giõi võ, một tay súng thiện xạ.

Khi sáng tác truyện theo đơn đặt hàng của tủ sách thiếu nhi Marabout Junior, Henri Vernes không nghĩ rằng tác phẩm này sẽ ăn khách. Ông viết tác phẩm liền một mạch trong vòng 4 tuần lễ, tưởng tượng sao thì cứ viết thẳng ra như vậy lên trang giấy. Đến khi hoàn tất, ông giao lại bản thảo cho nhà xuất bản và đúng ngày hôm sau, ông an tâm lên đường, đi bằng tàu thủy đến Bogota. Cuộc hành trình băng Đại Tây Dương kéo dài đến gần cả tháng.

Đặt chân đến thủ đô Colombia, điều đầu tiên ông nhận được là một bức điện tín từ phía nhà xuất bản thông báo rằng quyển ''tiểu thuyết đầu tiên'' với nhân vật Bob Morane, sau lần tái bản thứ ba đều được bán sạch chỉ trong vài ngày. Nhà xuất bản này hy vọng ông sẽ sớm sáng tác tập truyện thứ nhì. Lúc bấy giờ, Henri Vernes sang Colombia chủ yếu là để khám phá một chân trời mới, rốt cuộc ông tự ''''nhốt mình trong phòng trọ. Chỉ trong một vài đêm, ông viết rất nhanh để không vuột mất cảm hứng. Ông hoàn tất quyển ''La Galère engloutie'' (Bí ẩn vụ đắm thuyền). Tác phẩm này mở đầu cho một cuộc hành trình văn học, liên tục và đều đặn trong hơn nửa thế kỷ.

Hiện tượng ngành xuất bản : nửa thế kỷ ăn khách

Mỗi năm, ông giao cho nhà xuất bản 4 quyển sách, viết nhanh nên cứ hai tháng một quyển. Thời gian còn lại ông chu du bốn bể, đi vòng quanh thế giới, điều mà ông đã từng làm lúc thiếu thời, khi chưa đầy 18 tuổi. Điều đó giải thích phần nào vì sao ông sáng tác dồi dào như vậy. Trong nửa thế kỷ, ông hoàn tất một bộ truyện gồm hơn 200 quyển tiểu thuyết dung hòa nhiều thể loại trinh thám, gián điệp, phiêu lưu …. Từng bước, ông phác họa một thế giới hư cấu mở rộng trong nhiều thập niên liền và trở thành một trong những tác giả tiên phong trong thể loại truyện khoa học viễn tưởng bằng tiếng Pháp. Tiểu thuyết của Henri Vernes chinh phục nhiều độc giả trên thế giới : cả trăm tựa sách của ông được dịch sang 15 ngoại ngữ, kể cả tiếng Nga, tiếng Đức hay tiếng Nhật.

Trong 3 thập niên liền, tiểu thuyết của Henri Vernes trở thành một hiện tượng trong ngành xuất bản, lôi cuốn độc giả nhờ cái tài dẫn dắt câu chuyện, nhiều tình tiết hấp dẫn mà vẫn xuyên suốt mạch lạc. Tính mạo hiểm trong truyện phần lớn bắt nguồn từ dòng máu phiêu lưu của chính tác giả. Năm 17 tuổi, ông đã rời bỏ gia đình ở Bỉ, lên tàu thủy ở bến cảng Marseille để lên đường khám phá thế giới mênh mông, ban đầu là Quảng Châu, (Trung Quốc) rồi sau này là các nước châu Á, châu Phi, các nước Bắc Âu, Nam Mỹ, Haiti hay quần đảo Polynésie.

Trong thời Đệ nhị Thế chiến, ông tham gia lực lượng kháng chiến khi trở về Bỉ đầu những năm 1940. Trong vòng 4 năm, ông làm nhân viên liên lạc cho ngành tình báo Anh và học cách giả mạo giấy tờ căn cước để giúp cho một số người (Bỉ cũng như Pháp) vượt biên trong lúc họ đang bị Gestapo truy tìm. Trong cuộc hành trình xuyên thế kỷ, ông đã gặp gỡ và làm quen với nhiều nghệ sĩ tên tuổi, kể cả ca sĩ Juliette Gréco, nhà văn Blaise Cendrars, kịch tác gia Michel de Ghelderode, nhà khoa học Bernard Heuvelmans hay là danh họa Fernand Léger.

Cuộc đời nhà văn còn ly kỳ hơn tiểu thuyết

Một trong những nhân vật từng để lại cho nhà văn Henri Vernes nhiều kỷ niệm khó quên (như ông ghi chép trong quyển hồi ký của mình) vẫn là Henri Charrière, kể lại những năm tháng ông bị giam cầm trong quyển tự truyện trường thiên ''Papillon'' (Người tù khổ sai) từng được phóng tác nhiều lần thành phim ăn khách trên màn ảnh lớn, kể cả phiên bản xưa với Steve McQueen và Dustin Hoffman, hay là trong phiên bản mới với Charlie Hunnam và Rami Malek trong vai chính. Một trong những điều làm cho Henri Vernes chưa thật sự toại nguyện, đó là truyện Bob Morane chưa được chuyển thể thành phim, cho dù nhân vật này có nhiều tiềm năng không kém gì điệp viên 007 James Bond của tác giả Ian Fleming.

Cả hai tác giả Bỉ và Anh này đều đã từng thu thập thông tin trong thời thế chiến, cho nên các nhân vật do họ sáng tác đều ít nhiều có liên quan đến ngành tình báo (trong làng xuất bản Pháp, hai nhân vật khác là San Antonio và OS117 cũng đều xoay quanh cùng chủ đề). Tuy nhiên, trái với điệp viên James Bond hay San Antonio, thế giới của nhà thám hiểm Bob Morane (mà ban nhạc Pháp Indochine đã từng gợi hứng sáng tác ca khúc ăn khách ''L'Aventurier'') hoàn toàn không có chuyện chăn gối hay những đoạn mô tả gợi tình hay khiêu dâm. Phần lớn cũng vì bộ truyện Bob Morane được sáng tác cho độc giả thiếu nhi và giáo dục sinh lý vẫn còn là một chủ đề nhạy cảm nếu không nói là cấm kỵ trong các tủ sách dành cho giới trẻ.

Đổi lại, bộ truyện Bob Morane đã có hơn 80 tựa sách được phóng tác thành truyện tranh, dưới ngòi bút chì của các họa sĩ Dino Attanasio, Gérald Forton và nhất là William Vance (tác giả nổi tiếng với bộ truyện tranh ''XIII''). Thể loại này rất thích hợp với các độc giả trẻ tuổi, điều đó giải thích vì sao nhiều thập niên sau ngày ra đời, dòng truyện phiêu lưu của Henri Vernes vẫn khiến cho nhiều bạn đọc mê mẫn. Độc giả cao tuổi hơn thì lại thích thú với quyển hồi ký của Henri Vernes phát hành vào năm 2012 sau khi ông ''rửa tay gác bút'' vì cuộc đời của nhà văn còn ly kỳ hơn cả tiểu thuyết.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1622 Posted : Wednesday, July 28, 2021 8:38:07 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

100 năm ngày sinh của Jacques Martin, tác giả bộ truyện tranh Alix

26/07/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Trong làng truyện tranh Pháp, có hai nhân vật rất nổi tiếng. Trước hết là anh hùng Gaulois Astérix, nhờ thần dược mà đánh bại vạn quân La Mã. Kế đến có các chuyến phiêu lưu của Alix, từ một cậu bé nô lệ xứ Gaule khi lớn lên lại trở thành anh hùng La Mã. Nhân vật này ra đời dưới ngòi bút chì của ông Jacques Martin. Một cuộc triển lãm lớn đang được tổ chức tại Périgueux nhân dịp 100 năm ngày sinh của họa sĩ Pháp.

Mang tựa đề ''Alix - Destination Vesunna'', cuộc triển lãm diễn ra từ đầu tháng 07/2011 đến cuối tháng 11/2011, phác họa lại cuộc hành trình tưởng tượng của nhân vật Alix đến Vesunna. Đây là tên gọi thời xưa của Périgueux (thành phố của thủy thần Vesunna), nay là thủ phủ của vùng Dordogne. Theo bà Élisabeth Penisson, giám đốc Viện bảo tàng Vesunna chuyên về khảo cổ học thời Gaulois-La Mã, thông qua hàng trăm tác phẩm đủ loại, cuộc triển lãm bắt nhịp cầu giữa thế giới truyện tranh và ngành khảo cổ học thời cổ đại.

Triển lãm dựa theo các di tích lịch sử La Mã

Tại các vùng Tây Nam nước Pháp, vẫn còn nhiều di tích lịch sử thời Đế chế La Mã, chẳng hạn như Đấu trường thành phố Nîmes, Nhà hát cổ đại Orange, Cầu dẫn nước Pont du Gard. Theo lời mời của trưởng ban tổ chức Marc Azéma, họa sĩ Marc Jailloux, tác giả của các tập truyện tranh ''Alix'' kể từ năm 2013 cho tới nay, đã gợi hứng từ di tích La Mã Tháp Vesunna (tiếng Pháp là Tour Vésone) để vẽ tranh bìa minh họa cho cuộc triển lãm kỷ niệm 100 năm ngày sinh của tác giả Jacques Martin (1921-2010).

Dù muốn hay không, sự thành công vượt bực của bộ truyện tranh Astérix của hai tác giả Goscinny và Uderzo, với hơn 380 triệu bản được bán trên toàn thế giới, đã phần nào che khuất tài năng của Jacques Martin và bộ truyện tranh Alix. Tác phẩm này có vẻ như nhắm vào thành phần độc giả trưởng thành nhiều hơn là bạn đọc thiếu nhi. Nhân vật Alix tuy là hư cấu nhưng lại được lồng vào một bối cảnh gần sát với ''thực tế'', dựa theo nghiên cứu các tài liệu lịch sử, lối dựng cốt truyện gần với kịch bản điện ảnh và nội dung đôi khi kết thúc không có hậu, với cái chết của nhiều nhân vật chính trong truyện.

Cùng với một nhân vật khác là thanh niên Ai Cập Enak, anh hùng Alix bắt đầu cuộc hành trình phiêu lưu đi khắp mọi nẻo đường, xuyên qua lãnh thổ Đế chế La Mã. Một trong những nét độc đáo của bộ truyện Alix là cách cài đặt những chi tiết rất thực tế vào trong truyện. Trái với anh hùng Astérix (Uderzo và Goscinny) với nhiều yếu tố huyền ảo thần thoại, Jacques Martin lại muốn đưa người đọc ngược dòng thời gian, trở về với thế giới của Cổ thành La Mã, ở thượng tầng là đền đài vương giả của hoàng đế César, còn phía dưới là cuộc sống lầm than của thành phần dân đen, của những tên nô lệ. Do tình huống đẩy đưa, Alix trở thành ''anh hùng'' khi đứng về phía của những kẻ thấp cổ bé miệng.

Thời kỳ hợp tác với Hergé, tác giả truyện Tintin

Sinh trưởng tại thành phố Strasbourg, miền Đông nước Pháp (Alscace nay thuộc vùng Grand Est), tác giả Jacques Martin ngoài Alix (ra đời vào năm 1948) còn nổi tiếng nhờ bộ truyện tranh phóng viên Lefranc (năm 1952). Ông bắt đầu làm việc cho tạp chí "Journal de Tintin" sau thời Đệ nhị Thế chiến, trở thành đồng nghiệp của hai danh họa Hergé (Georges Remi) tác giả khai sinh nhân vật phóng viên ''Tintin'' và Edgar P. Jacobs, cha đẻ của bộ truyện tranh "Blake và Mortimer". Cả hai họa sĩ này đều lớn hơn Jacques Martin khoảng 10 tuổi và là đồng chủ bút của tuần báo "Journal de Tintin" chuyên về truyện tranh. Cùng với Hergé và Jacobs, ngòi bút của Jacques Martin sau đó trở nên tiêu biểu cho trường phái Bruxelles, lối vẽ truyện tranh thường có những đường viền sắc sảo rõ nét.

Khi tạo ra nhân vật Alix vào năm 1948, Jacques Martin đã gặt hái thành công nhanh chóng, bộ truyện này đã có hàng chục tập khác nhau, được bán hơn 12 triệu bản và được dịch sang 15 thứ tiếng. Ông cố gắng cho ra mắt mỗi năm một tập truyện của anh hùng Alix và một tập truyện của phóng viên Lefranc. Sau ngày ông qua đời, nhân vật Alix sẽ tiếp tục được khai thác qua nhiều ngòi bút khác, trong đó có các họa sĩ như Marc Jailloux hay là Giogio Alkbertini.

Theo đề nghị của đàn anh, Jacques Martin từng hợp tác với danh họa Hergé để thực hiện các album kể lại các chuyến phiêu lưu của phóng viên Tintin. Sự hợp tác này kéo dài trong gần 20 năm, từ 1953 đến 1972. Một cách chính thức, Jacques Martin từng tham gia soạn kịch bản và vẽ tranh cho các tập truyện "Vụ án Tournesol", "Tintin ở Tây Tạng", "Đồ nữ trang của bà Castafiore" hay là "Chuyến bay 714 đến Sydney" …...

Truyện tranh Alix : 12 triệu bản bằng 15 thứ tiếng

Tuy thành công với bộ truyện tranh Alix, cũng có đôi lần Jacques Martin trở thành trọng tâm của các vụ tranh cãi, liên quan tới những ẩn ý về quan hệ đồng tính giữa hai nhân vật Alix và Enak, một số truyện cũng có vẽ phụ nữ hở ngực khỏa thân, khiến ông bị chê là vẽ truyện cho người lớn chứ không phải cho con nít. Một số truyện của ông như ''La Griffe Noire'' hay là "Les Légions perdues" từng bị cấm phát hành một thời gian với lý do kích động thù hận và xúi giục bạo động. Điều đó đã khiến cho tác giả Goscinny (Astérix) bực mình lên tiếng phản đối kiểm duyệt và buộc Bộ Văn hoá phải can thiệp, giúp cho hai tập truyện này được cơ hội ra mắt độc giả.

Tác giả Jacques Martin đã khai sinh Alix trong thời hậu chiến, nên trong nhân vật luôn hàm chứa khát vọng hướng thiện của một tác giả, muốn đứng về phía đòi công lý cho những kẻ yếu. Thời hậu chiến cũng là thời tái thiết châu Âu, không dễ tìm ra tài liệu có sẵn như thời nay với công nghệ internet. Trong thời gian đầu, họa sĩ đã có một số sơ sót khi muốn mô tả lại một cách thực tế mô hình xã hội thời đế chế La Mã. Họa sĩ Jacques Martin đã dựa vào những lời chỉ trích ấy để rồi nhờ đến các nhà khảo cổ học để hoàn thiện bản vẽ, cũng như những chi tiết trong kịch bản của mình. Điều đó giúp cho ông gầy dựng uy tín của mình và từ đó mà tạo được một lượng độc giả hâm mộ trung thành.

Khi qua đời tại Thụy Sĩ vào năm 2010, họa sĩ Jacques Martin đã để lại một di sản khá đồ sộ gồm hàng trăm tựa truyện, trong đó có gần 40 truyện tranh dành riêng cho nhân vật Alix. Bên cạnh đó, còn có các nhân vật khác như Jhen (1978) và Loïs (2000), tiếp tục được nhà xuất bản thường xuyên khai thác qua việc hợp tác với nhiều tài năng mới của làng truyện tranh quốc tế. Sau thành phố Périgueux, Thư viện thành phố Strasbourg, nguyên quán của Jacques Martin, cũng lên kế hoạch kỷ niệm vào mùa thu này, đúng 100 năm ngày sinh của một trong những tác giả tài ba nhất của làng nghệ thuật thứ 9 của Pháp.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1623 Posted : Sunday, August 1, 2021 8:18:53 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Kelly Clarkson - Quán quân “sống sót” từ cuộc thi âm nhạc

31/07/2021 - Gia Trình / RFI
Sự bùng nổ cuộc thi âm nhạc truyền hình thực tế giới thiệu nhiều gương mặt tài năng đầy triển vọng. Nhưng không phải quán quân nào cũng tỏa sáng và thăng hoa như Kelly Clarkson, một giọng hát nổi tiếng đầy nội lực.

Từ "Thần tượng Mỹ" trở thành ngôi sao nước Mỹ

Trở thành ngôi sao ca nhạc không hề đơn giản và dễ dàng. Trải qua hơn 20 mùa giải, các cuộc thi truyền hình thực tế như The Voice, American Idol (Thần tượng nước Mỹ) đều hé lộ những tài năng mới. Trong số đó, gần như duy nhất Kelly Clarkson trưởng thành và phát triển theo con đường ca hát chuyên nghiệp. Cô không có ngoại hình cuốn hút, càng không có một nhan sắc dễ nhìn. Nhưng giọng hát của Kelly thì thực sự đặc biệt, có chất lửa pop/rock với làn hơi khỏe khoắn. Ngay từ lúc phần thi thử giọng, Kelly đã tỏa ra nguồn năng lượng vô song.

Cuộc thi Thần tượng nước Mỹ giúp cô ký được hợp đồng với hãng ghi âm RCA vào năm 2002. Single đầu tay A moment like this (Giây phút như vậy) nhanh chóng lọt vào top 100 Billboard và trở thành đĩa đơn ăn khách nhất. Cùng với single này, Kelly ra mắt album đầu tay Thankful (Biết ơn, 2003) gây được sự chú ý, nhưng vẫn chưa đủ thuyết phục vì thể loại R&B.

Một năm sau đó, album Breakway (2004) là cú đột phá đầy thuyết phục của Kelly. Cô kết hợp cùng ê-kip của American Idol, hai nhà sản xuất danh tiếng Clive Davis, Dr. Luke. Họ muốn Kelly phải thoát khỏi bóng dáng American Idol để trở thành một ngôi sao độc lập. Do vậy, Dr. Luke đề xuất chiến lược xoáy vào pop/rock, đặc biệt âm hưởng rock trong giọng hát và phong cách trình diễn.

Trong album này, Kelly là đồng tác giả sáng tác 6 trên 12 ca khúc. Điều này có lẽ lý giải thành công không nhỏ trong sự nghiệp của nữ ca sỹ. Đúng như mong đợi, hợp tuyển phòng thu này đoạt hai giải Grammy cho Kelly: Album Pop xuất sắc nhất và Trình diễn pop xuất sắc nhất. Breakaway cũng đạt doanh số tiêu thụ trong mơ, 12 triệu bản. Đáng chú ý là các bản hit như Breakaway, Since you’ve been gone, Because of you đều tái hiện chân thực từ cuộc đời thực tế của Kelly. Những ký ức khó quên khi cha mẹ cô ly dị nhau, mối quan hệ với bạn trai cũ. Các yếu tố tài năng, chiến lược và chất liệu chân thực góp phần tạo nên thành công cho album xuất sắc của nữ ca sỹ lúc đó mới 22 tuổi.

"Giấc mơ kiểu Mỹ" có thật?

Nếu chỉ lướt qua sự nghiệp Kelly Clarkson bằng những con số, hầu hết khán giả đều cho rằng giấc mơ Mỹ có thật. Số lượng album tiêu thụ toàn cầu là 45 triệu album, 11 đĩa đơn lọt vào Top 10 tại Mỹ. Nữ ca sỹ 39 tuổi còn ngồi trên ghế giám khảo The Voice mùa thứ 6 liên tiếp. Cô sở hữu kênh talkshow riêng, The Kelly Clarkson Talkshow, phát sóng lần đầu vào năm 2019.

Xuất phát điểm của cô đều khiến cho mọi người ngạc nhiên. Sinh ra lại miền quê bang Texas, Kelly có mẹ là giáo viên tiếng Anh và cha là kỹ sư. Tuổi thơ cô không suôn sẻ vì cha mẹ ly dị khi mới lên 6 tuổi. Kelly theo ở với mẹ, bà Jeanne Ann nhưng mẹ cô sớm tái hôn. Cuộc hôn nhân không hạnh phúc của cha mẹ ảnh hưởng không nhỏ tới tuổi thơ Kelly. Trong gia đình kiểu mẫu bảo thủ, cô phải đi nhà thờ hai ngày trong tuần vào thứ 4 và Chủ Nhật. Nếp sinh hoạt này lại tạo đòn bẩy cho nữ ca sỹ không được đào tạo bài bản về thanh nhạc. Cô hát phần lớn tại nhà thờ và trong cuộc thi tài năng tại trường phổ thông trung học. Niềm đam mê ca hát và chất giọng trời phú luôn là kim chỉ nam cho cuộc đời Kelly.

Cô từng từ chối suất học bổng vào Đại học Texas và cả trường Cao đẳng Âm nhạc Berklee. Cô “từng sáng tác nhạc và muốn có sự nghiệp cho riêng mình”. Tuy nhiên, hành trình đi kiếm vận may trong âm nhạc không dễ dàng với cô gái trẻ. Hầu hết hãng đĩa đều từ chối ký hợp đồng với Kelly vì cho rằng chất giọng cô giống người da đen. Ngoài ra, “khi 20 tuổi, tôi cân nặng khoảng 56 kg (124 pounds), cao 1,58 m. Họ từng nói với tôi nếu giảm 8-9 kg, họ sẽ ký hợp đồng ghi âm với tôi.” Bất đắc dĩ, cô phải làm việc tại nhà hát, bồi bàn, tiếp thị qua điện thoại cho tới khi chính thức tham gia cuộc thi American Idol.

Để tỏa sáng trong cuộc thi, Kelly chứng tỏ rằng hành trình đam mê âm nhạc không hề suôn sẻ. Thiếu đi nội lực và sự cố gắng không ngừng nghỉ, giọng hát riêng lẻ không thể khiến cho cô bứt phá ngoạn mục.

Thay thế Ellen Degeneres trong talkshow

Chất giọng Kelly Clarkson được xếp vào hàng soprano, giọng nữ cao. Cô từng thổ lộ chịu ảnh hưởng lớn giọng soul của Aretha Franklin, nữ hoàng R&B, của Whitney Houston, âm nhạc của Aerosmith, Radiohead và Garbage. Sở thích nghe nhạc của những thành viên trong gia đình ảnh hưởng đáng kể tới Kelly. Cô thích nhóm rock lừng lẫy Guns N’Roses, Metallica, cả nhạc country của Reba McEntire. Nhờ phổ âm nhạc đa dạng, nữ ca sỹ có thể hát lại các bản hit nổi tiếng các nghệ sỹ khác mà không bị chệch hướng thể loại. Talkshow Kelly Clarkson phản ánh rõ nét vì chính cô làm MC, biên tập, trò chuyện với khán giả. Từ các bản hit của Cher, Adele, Whitney Houston, Lady Gaga, cái tên Kelly Clarkson đôi khi nghĩa là vượt qua mọi thử thách hiểm trở nhất trong âm nhạc.

Mới đây, trong chương trình vinh danh ca sỹ nhạc đồng quê Garth Brooks, Kelly Clarkson ghi điểm ngoạn mục nhờ cover bản hit The Dance. Bài hát gắn với tên tuổi của Garth nói về sự đánh đổi trong cuộc sống vì chúng ta không thể biết trước tương lai ra sao. Kelly lấy đi nước mắt khán giả khi nói rằng thà mình sẽ chọn khiêu vũ với người mình yêu, bất chấp thực tế là người tình đó có thể bỏ rơi mình trong tương lai.

Năm 2021, Kelly Clarkson chính thức được chọn là MC từ năm 2022 thay thế cho talkshow của Ellen Degeneres. Kênh NBC chính thức bình luận về Kelly: “Đội ngũ sản xuất và Kelly luôn chứng tỏ tâm huyết, sự chuyên nghiệp của họ để phù hợp với mọi lựa tuổi và văn hóa”. Phổ âm nhạc rộng và giọng hát nội lực chắc chắn là yếu tố bản lề cho sự lựa chọn mang tên Kelly Clarkson. Hơn thế nữa, nữ ca sỹ có thể chia sẻ kinh nghiệm sống qua nhiều thử thách: Ly dị với người chồng cũ, quản lý Brandon Blackstock, Kelly giành quyền nuôi hai con chung, con gái River 7 tuổi, con trai Remy 5 tuổi ; cô còn đối mặt với các vấn đề sức khỏe như bệnh tuyến giáp, rối loạn ăn uống và thừa cân.

Sự thân thiện, cởi mở và đam mê âm nhạc của Kelly chắc hẳn là nguồn năng lượng tích cực cho khán giả theo dõi. Hơn thế nữa, Kelly Clarkson là quán quân “sống sót” sau các cuộc thi truyền hình thực tế nở rộ như nấm sau mưa. Cô chứng minh rằng giấc mơ Mỹ thiếu bột “nội lực” không bao giờ gột thành hồ.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1624 Posted : Wednesday, August 4, 2021 1:32:55 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

The Great Gatsby - Tình yêu tuyệt vọng hay một ảo ảnh cần được khỏa lấp

01/08/2021 - Lệ Thu / RFI
“The Great Gatsby” là bộ phim của điện ảnh Hollywood, đạo diễn Baz Luhrmann, trình chiếu vào năm 2013. Phim có xuất phát điểm rất ấn tượng, đó là cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn F.Scott Fitzgerald viết năm 1925. Đây là tác phẩm văn học được xem là “phải đọc” của giới ghiền sách trên toàn thế giới, được Modern Library xếp vào top 3 trong số 100 cuốn sách hay nhất thế kỉ 20.

Bộ phim là tác phẩm thứ 6 được chuyển thể từ tiểu thuyết và được coi là tác phẩm tiệm cận nhất với nguyên bản văn học đình đám này. Dù không được giới chuyên môn đánh giá cao, nhưng với khán giả yêu điện ảnh thì “The Great Gatsby” là một bộ phim đáng xem, như là một chuyến du hành rực rỡ đưa chúng ta ngược trở lại quá khứ - mà chính tác giả tiểu thuyết F.Scott Fitzgerald đã phải khẳng định - là “thời đại nhạc jazz của một thế hệ mất mát, nơi mà mọi thánh nhân đã chết cả, mọi cuộc chiến đã xong, mọi niềm tin của con người đã tan vỡ”.

Bộ phim lấy bối cảnh New York năm 1922, thời điểm chiến tranh thế giới thứ nhất vừa qua, nền kinh tế Mỹ đang phục hồi và phát triển cực đại. Lưu giữ trong lòng tình yêu đầy sự ngưỡng mộ với cô tiểu thư đài các Daisy, James Gatz, chàng trai nghèo tay trắng đã dùng nhiều thủ đoạn để có được một gia tài lớn nhằm chinh phục người đẹp sau thời gian dài xa cách. Sau khi trở nên giàu có, James đổi tên là Jay Gatsby, chuyển tới sống ở Long Island, mảnh đất của giới siêu giàu New York và đây cũng là lúc câu chuyện bắt đầu.

Hoành tráng từ phút mở đầu

Đúng với phong cách đại gia, sự xuất hiện của cả Daisy và Gatsby cũng đều vô cùng ấn tượng. Hình ảnh Daisy lần đầu hiện lên trên màn ảnh thật sự choáng ngợp giữa căn phòng rực nắng với những tấm rèm trắng cuồn cuộn tung bay, vừa sang trọng vừa quý phái như cảnh thần tiên và trên tay là chiếc nhẫn kim cương của Tiffany. Một Daisy đài các cùng chất giọng lên xuống bổng trầm như một điệu nhạc vui. Giọng nói thủ thỉ thì thầm và vẻ đẹp mong manh không thể rời mắt, khiến cho người ta muốn sà vào chở che ngay lập tức.

Còn Gatsby, ngay từ đầu phim lại là một câu hỏi lớn với ngay cả các nhân vật trong phim lẫn khán giả khi xoay quanh anh là những đồn thổi, bí ẩn, kì dị. Nhưng đã có mặt là phải hoành tráng, một phong cách không thể lẫn vào đâu được của anh chàng giàu có mới nổi. Đối lập với sự dịu dàng của Daisy là một Gatsby mạnh mẽ, tay giơ cao ly rượu vang cùng nụ cười mê hoặc “có lẽ cả đời chỉ gặp được bốn - năm lần” và dàn pháo hoa bất chợt bừng nở ngay sau lưng.

Gã si tình và tiểu thư của những sự thực tế

Nhân vật Gatsby là biểu tượng lớn trong văn hóa đại chúng Mỹ. Đại diện cho một kiểu người từ tay trắng đi lên, có một quá khứ đen tối, là một người tình bí ẩn và một người trong đời đã chạm tới sự vinh quang sung sướng để rồi mất đi tất cả. Ở Gatsby - điều mà nam diễn viên chính Leonardo Dicaprio đã nhận xét - người ta thấy rằng đó là sự hiến sinh cho những phù phiếm lòe loẹt của cái gọi là “Giấc mơ Mỹ”. Cô nàng tiểu thư Daisy giống như hiện thân của sự xa hoa giàu có mà người ta gắng sức theo đuổi một cách cùng cực khốn khổ. Một cô nàng có vẻ ngây thơ, mông muội, lãng mạn, đẹp đẽ dịu dàng khó chạm tới hóa ra lại là một người không bao giờ rời bỏ thực tế cuộc sống. Dù có âu yếm, yêu thương, thăng hoa bao nhiêu với Gatsby thì cuối cùng, cô nàng vẫn trở về bên người chồng “thượng đẳng” của mình.

Những cái đắm say mà Daisy thể hiện ra rốt cuộc chỉ là của riêng cô nàng, không thể sẻ chia. Daisy thật ra là một ảo ảnh quá khứ trong khi thực tế họ lại là những người vô tâm, hững hờ, chỉ quan tâm tới thế giới vật chất. Gatsby cố gắng xóa đi quá khứ nghèo đói bần hàn của mình để hòa nhập vào xã hội giàu có, đuổi theo ảo ảnh. Cũng giống như một số người, họ có thể xóa được quá khứ, có thể không, nhưng những ai muốn xóa bỏ quá khứ thì đều là những người tội nghiệp. Đặc biệt là bỏ đi quá khứ này nhưng lại cố níu giữ một quá khứ khác như là cách Gatsby níu giữ Daisy trong tâm trí anh.

Chính vì vậy, Gatsby hiện lên như một kẻ không bao giờ biết bỏ cuộc, một gã si tình say đắm với tình yêu chân thành cao thượng và sự lãng mạn ngây thơ không thể vẩn đục. Dù đã giàu có, đã có một chỗ đứng không hề thấp trong xã hội thượng lưu thì tình cảm Gatsby dành cho Daisy vẫn ngây ngô rụt rè như một anh chàng mới lớn nghèo khổ. Lần đầu gặp lại cô nàng trong bữa tiệc tại chính dinh thự của mình, Gatsby thậm chí đã né tránh và lẩn trốn, chỉ dám đứng từ xa nhìn ngắm. Bề ngoài là một đại gia hào nhoáng nhưng ẩn giấu bên trong là một chàng James nặng tình yêu thương, nghèo khó đắm say nuôi giấc mơ được bên người đẹp từ nhiều năm trước.

Gatsby dành cả tuổi trẻ để lăn lộn, buôn rượu lậu, kết giao với giới xã hội đen, lại tự vẽ lên một hình ảnh Gatsby học ở Oxford, thừa hưởng gia sản lớn từ gia đình, khoe khoang chiến công ở thế chiến thứ nhất, chạy theo thứ danh hão mà người đời tung hô. Nhưng dường như càng cố thoát ra khỏi nỗi cô đơn thì lại càng rơi vào cảnh cô đơn. Bước chân vào giới thượng lưu Mỹ, sống cuộc sống của những người giàu có ở Long Island, Gatsby chỉ thấy những trò giải trí vô bổ, cuộc sống nhàm chán và một xã hội suy đồi về đạo đức. Anh gán cho Daisy những giá trị hoàn hảo lý tưởng người phụ nữ này, con người sống cả đời trong chủ nghĩa vật chất, không hề xứng đáng. Gatsby liệu có phải là một gã tình si hay ẩn sâu trong đó, là một người đã bị mất phương hướng trong cuộc sống, cố gắng đạt tới một giấc mơ để rồi nấp trong góc tối nhìn nó tan vỡ không thể cứu vãn?

Giấc mộng phù du

Những thăng trầm trong cuộc đời của Gatsby cũng là minh chứng cho tính phù du, tạm bợ, đầy bất trắc của một kiếp người. Tham gia chiến trận, lao vào kiếm tiền bất chấp, có thật nhiều tiền, mua một căn biệt thự đối diện biệt thự nhà nàng, tổ chức tiệc hàng tuần vào thứ bảy, chiếu thứ ánh sáng xanh kì diệu bắt mắt qua bờ sông tới nhà nàng chỉ để có được một sự chú ý của nàng. Cuối cùng thì sao? Đổi lại để có được gì? Một tình yêu giấu diếm không có thực. Một sự sung sướng không có đích đến. Một cảm giác chở che giả tạo và một sự tồn tại ẩn hiện không rõ ràng.

Nick, người kể chuyện trong phim, một người bạn kết giao với Gatsby đã nói: “Trong khu vườn màu xanh của anh ấy, những chàng trai cô gái đến rồi đi như những con bướm đen giữa những lời thầm thì, rượu sâm panh và những vì sao”. Cuộc sống giàu sang nhưng vô vị không có nổi một người bạn thật sự. Tất cả đến với Gatsby chỉ vì sự giàu có hào nhoáng của anh và sự tò mò của họ. Với những con bướm đêm ấy, liệu có một Gatsby thật sự tồn tại? Hay chỉ như những bông hoa đẹp, nở rồi tàn ? Lúc bung nở, lũ bướm sẽ vây quanh, còn khi tàn lụi thì sẽ chỉ có mình nó từ từ rụng lìa khỏi cành?

Cái kết của phim mang đậm chất Gatsby không thể tồi tệ hơn, cũng không thể đẹp hơn, cũng không thể khác hơn. Tom, chồng của Daisy cảm nhận được Gatsby chính là đối thủ của mình. Khi Daisy lái xe vô tình gây tai nạn cho người tình của Tom, là Myrtle, Tom đã gặp chồng Myrtle, dựng nên vở kịch rằng Gatsby đang cặp kè với Myrtle và cố ý giết cô ta. Trong khi đó, Gatsby cũng đứng ra nhận trách nhiệm với nhà chức trách rằng mình là người gây tai nạn hôm đó cốt để bảo vệ Daisy. Ngày mà anh dự định sẽ cùng Daisy trốn đi khỏi New York thì cũng là ngày mà chồng của Myrtle đến giết anh để rửa hận và tự sát.

Còn Daisy, cô tiểu thư mà Gatsby đã dành cả đời để theo đuổi, để yêu thương, như là một lý do cuối cùng mà anh bấu víu để tìm thấy ý nghĩa cuộc sống thì cũng theo chồng rời khỏi Long Island không một lời giải thích, không một lời biện minh cho sự vô tội của anh. Gatsby rời khỏi cuộc sống trong vai kẻ giết người, đám tang không có ai khác ngoài Nick và đám báo chí vây quanh chờ đợi moi móc tin tức từ cái chết của anh.

Có thể Gatsby không phải là người tốt nhưng lại là một kẻ đáng thương. Lời cuối cùng anh thốt ra trên môi vẫn là Daisy, là một ảo ảnh mà mãi mãi anh không bao giờ quên, không bao giờ lấp đầy khoảng trống trong trái tim cô độc của mình.

Với giới phê bình, có thể “The Great Gatsby” chưa phải là một bộ phim xuất sắc nhưng trong mắt người yêu tác phẩm văn học gốc và nhân vật Gatsby thì đây vẫn là một bộ phim đáng xem. Hơn 140 phút phim không chỉ là những hình ảnh đẹp, diễn xuất tài tình của Leonardo và các đồng nghiệp mà còn là âm hưởng nhạc Jazz của “Những năm 20 gào thét”. Và như chính Leonardo đã nói khi anh đọc cuốn tiểu thuyết để chuẩn bị nhập vai Gatsby thì đây là bộ phim về một người giàu có rỗng tuếch cố gắng đi tìm ý nghĩa cuộc đời mình từ ảo ảnh quá khứ.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1625 Posted : Sunday, August 8, 2021 1:41:28 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

NGƯỜI DẠY ĐÀN – Nơi đầu nguồn cạn kiệt

06/08/2021 - Lệ Thu / RFI
Đạo diễn Micheal Haneke từng gặt hái nhiều thành công với những giải thưởng danh giá tại các Liên hoan phim lớn hàng đầu thế giới. Nhân vật chủ đạo của ông thường có xu hướng nổi loạn một cách thầm kín, dễ dẫn đến việc tự hủy hoại mình, hầu hết là muốn chống lại sự đè nén và áp lực. “Người dạy đàn” (La pianiste) là một trong những bộ phim như thế.

Dựa theo cuốn tiểu thuyết cùng tên của nữ văn sĩ người Áo - Elfriede Jenelik (viết năm 1983), Micheal Haneke dường như bắt được cái cảm giác khủng hoảng của nữ nhân vật chính, đưa nó lên màn ảnh vào năm 2001, để rồi chiếm lĩnh vô số giải thưởng từ César cho tới giải Phim Châu Âu và Cannes. Dù còn khá nhiều ý kiến xung quanh mối liên hệ giữa bộ phim và tác phẩm gốc nhưng “Người dạy đàn”, có thể nói, là một thành công lớn tô điểm thêm cho cái tên Micheal Haneke. Bộ phim không chỉ là một chương buồn cho mối tình cô trò của Erika và Walter, mà bằng một cách nào đó, nó còn ám ảnh người xem cho tới tận ngày nay.

Những nốt nhạc của sự giam cầm

“Người dạy đàn” bắt đầu bằng sự ngột ngạt, tối thẫm vô vọng trong căn hộ của hai mẹ con Erika. Sự kiểm soát không tưởng của bà mẹ, sự mất tự do, kìm hãm tù túng bà dành cho con gái và phản kháng mãnh liệt của cô chiếm lấy toàn bộ những phút đầu của phim. Cuối cùng cũng có một ánh đèn le lói, người ta nhận ra cô con gái đã ở cái tuổi trung niên, đã quá già so với những thắc mắc về giờ giấc, về váy áo trang phục từ người mẹ. Sự bức bối được đẩy lên đến cao độ khi cô phẫn uất nhào tới túm lấy tóc mẹ mà giật. Nhưng tình yêu thương và sự cảm thông vẫn đâu đó, giữa hai người đàn bà khốn khổ khi chỉ vài phút sau, họ đã lại ôm lấy nhau.

Hình ảnh mở màn như thế cho cuộc sống của một giáo sư nghệ thuật Pháp, dạy piano, ở tuổi 40, Erika. Erika đam mê Schubert, nhà soạn nhạc thiên tài người Áo cuối thế kỉ 18, đầu thế kỉ 19. Có phải vì thế nên cuộc đời của cô cũng gần giống những cảm xúc của người được coi là “ánh bình minh của chủ nghĩa âm nhạc lãng mạn” nhưng ngập những tâm trạng chán nản, hoài nghi, nhiều khi bế tắc và đơn độc này. 8 tiếng ở trường với Erika là 8 tiếng dạy nhạc căng cứng và mệt mỏi rệu rã. Đáng lẽ phải là những thăng hoa đẹp đẽ nhưng không, nó hoàn toàn không giống những gì người ta tưởng tượng.

Cuộc sống và đam mê thật sự của Erkia chỉ được tiết lộ sau đó, khi khán giả theo chân cô vào trung tâm mua sắm, đi thẳng tới khu bán đồ “người lớn” và mặc kệ những con mắt kì quặc đang hướng về mình, cô chui vào buồng riêng để xem phim sex. Hình ảnh một Erika với đôi măt mở to, dồn toàn bộ sự chú ý vào những đoạn phim bệnh hoạn trái ngược với một giáo sư âm nhạc nghiêm khắc, chỉn chu và bài bản đến mức khắc nghiệt ở trường. Erika tỏ ra khinh bỉ và mỉa mai một cậu học trò của mình khi bắt gặp cậu ta ở quầy báo đồi trụy, bắt cậu ta phải gọi mẹ tới gặp mình còn bản thân cô thì cũng lại ngập trong phần CON quá lớn của một CON NGƯỜI.

Bằng vào tất cả những chi tiết ấy, người ta ngờ ngợ rằng Erika đã luôn phải giả vờ, luôn phải đóng kịch suốt 40 năm cuộc đời cô, ngay từ khi còn là một đứa trẻ. Với người cha bị bệnh tâm thần, phải chữa trị ở nhà thương điên, bà mẹ luôn kiểm soát và áp đặt, không để cho con gái một giây để thở, thì cũng không thể mong mỏi một cái kết khác cho Erika. Cuộc sống khắc nghiệt bị mẹ giam cầm theo đúng nghĩa, đồng thời cũng chính là sự tự giam hãm mà Erika dành cho riêng mình đã khiến cô khắt khe với bản thân, với học trò và với cả cuộc đời.

Tình yêu có phải là một cứu cánh ?

Thế rồi Walter xuất hiện như một chàng hoàng tử trong chuyện cổ tích. Đẹp trai, phong trần, hào hứng cuồng nhiệt với Erika, người nghệ sĩ piano theo anh là thật sự tài năng. Quá đam mê cô giáo, Walter bỏ cả việc học chuyên ngành cơ khí để theo học lớp piano của cô. Tảng băng chìm trong Erika như được tưới đẫm dòng ấm nóng của Walter để rồi dần tan chảy nhưng là theo cách riêng của cô. Trái với mong muốn của Walter, Erika dành cho anh sự ghẻ lạnh dù thẳm sâu bên trong là những ham muốn đang cháy dần lên ngày càng mãnh liệt. Erika bám theo Walter để xem thói quen của anh, ngắm nhìn anh chơi khúc côn cầu trên băng và tiếp tục khát khao tình dục.

Giới hạn được Erika đẩy lên một cấp độ khác, khi cô tới bãi chiếu phim ô tô, rình mò một đôi tình nhân đang âu yếm nhau trong xe và bị họ hét lên chửi bới là “đồ biến thái”. Kịch tính cứ mãi bị kích thích cao độ khi hai người đàn bà lại lên cơn điên giữa những yêu thương, tiếp tục hành hạ nhau cả về thể chất lẫn tinh thần. Đây là lần thứ hai mẹ con Erika đánh nhau, cũng là lúc cha của cô qua đời trong nhà thương điên.

Ở “Người dạy đàn” có thể thấy Tình yêu không phải là một cứu cánh tích cực. Khi yêu Walter, Erika ghen tuông với cả những cử chỉ nhỏ nhất của anh với người khác, đặc biệt, lại là cô học trò giỏi giang Anna. Đêm đêm, những câu nói trước khi đi ngủ của mẹ như ám ảnh Erika … “con phải là giỏi nhất”, vì thế, ngay cả với học trò, dường như cô cũng không muốn họ vượt mặt mình. Cộng với sự quan tâm của Walter dành cho Anna, Erika đã hành động một cách độc ác. Cô đập vỡ một chiếc cốc thủy tinh, đổ những mảnh vỡ vào túi áo của Anna để rồi sau đó, chúng đã cắt nát bàn tay cô bé.

Erika của Isabelle Huppert - Thiên thần hay Ác quỷ ?

Vai diễn Erika đã đem lại cho Isabelle Huppert giải Nữ chính xuất sắc tại Liên hoan phim Cannes năm 2001. Nữ diễn viên Pháp tài năng nhiều lần được đề cử giải César và Oscar này đã thể hiện rằng ngoài cô ra, không ai có thể đảm đương được vai diễn vô cùng nặng kí đầy bi kịch trong “Người dạy đàn”. Người ta thấy ở Isabelle Huppert một Erika ngột ngạt không lối thoát, vừa yêu đương cuồng dại lại vừa đáng thương vô hạn.

Trường đoạn Walter và Erika ở trong phòng cô với cái tủ đồ kê chặn ngang cánh cửa để mẹ cô không vào được và đọc thư cô viết cho Walter là trường đoạn được mong chờ nhất. Người ta hình dung có thể Walter sẽ làm thay đổi Erika, nhưng không, làm sao có thể thay đổi thứ tình yêu quái đản đến từ một tâm hồn bị kìm nén và một thể xác mệt nhoài. Những điều bệnh hoạn Erika viết trong thư không chỉ làm ngạc nhiên chàng trai trẻ si mê mà còn khiến khán giả hoảng hốt khi cô muốn anh là một kẻ bạo dâm và đối xử thô bạo với cô như một vài đoạn phim sex cô từng xem.

Bất ngờ là, ngay lúc Erika lôi chiếc hộp đựng “sex toy” dưới gậm giường ra, người ta lại thấy thương hại cô. Isabelle Huppert đã có một màn hóa thân vô cùng tài tình khi mới chỉ một phút trước, cô còn dắt mũi Walter và sai khiến được anh… thì giờ đây cô lại ở đó, dưới sàn nhà, ngước nhìn Walter đang ngồi trên ghế như van xin tình yêu, đôi mắt long lanh ầng ậc nước. Diễn xuất tuyệt vời của Isabelle Huppert khiến biết bao ác cảm với Erika bỗng biến mất. Đó là lần đầu tiên Erika nói nhiều về bản thân mình, rằng cô đã mong chờ điều này từ lâu, rất lâu, rằng cô sẽ thật ngoan. Ngay cả lúc Walter mắng “cô bị bệnh rồi, tôi không muốn bị bẩn tay” thì người ta vẫn thương Erika bằng sự xót xa tột cùng.

Để rồi, cái đêm Erika bị Walter quay lưng, cô đã chồm lên mẹ, hôn hít bà, khao khát cuồng dại một tình yêu cho dù đó là gì, thì người ta lại càng dấy lên cảm giác đồng cảm với cô mãnh liệt. Thực chất ai là kẻ đáng giận? Ai là Thiên thần và Ác quỷ trong mối quan hệ giữa tất cả bọn họ?

Chìa khóa

Cánh cửa nào cũng có chiếc chìa khóa của riêng nó. Nhưng cánh cửa để tình yêu bước vào Erika và để cô bước ra ngoài giải phóng mình thì dường như chỉ là con số 0. Walter một mặt ghê sợ, một mặt vẫn không thể quên Erika. Anh muốn thoát khỏi cô giáo của mình trong khi Erika lại liên tục níu kéo. Cho đến một lúc không thể kìm chế, Walter đã xông đến nhà Erika, đánh cô, ghì cô xuống sàn nhà để âu yếm, để cố gắng thức tỉnh cô nhưng hoàn toàn thất bại.

Điện ảnh Pháp luôn mang đến cho người xem những thước phim nhạy cảm, thẳm sâu, dày tầng lớp và ý nghĩa. Bằng vào tất cả những chi tiết ấy, khán giả ngờ ngợ rằng Erika đã luôn phải giả vờ, luôn phải đóng kịch suốt 40 năm cuộc đời cô, ngay từ khi còn là một đứa trẻ. Với người cha bị bệnh tâm thần, phải chữa trị ở nhà thương điên, bà mẹ luôn kiểm soát và áp đặt, không để cho con gái một giây để thở, thì cũng không thể mong mỏi một cái kết khác cho Erika. Cuộc sống khắc nghiệt bị mẹ giam cầm theo đúng nghĩa, đồng thời cũng chính là sự tự giam hãm mà Erika dành cho riêng mình đã khiến cô khắt khe với bản thân, với học trò và với cả cuộc đời.

Đây cũng là điều mà nhiều người cho rằng nếu tách rời khỏi tiểu thuyết, hẳn “Người dạy đàn” sẽ khó có thể đứng độc lập được. Bởi, trong văn bản gốc, nữ văn sĩ đã miêu tả rất cặn kẽ quá trình bị áp đặt, đè nén và chịu sự giáo dục khe khắt từ ngày còn thơ bé của Erika, để rồi khi lớn lên, cô mắc một chứng bệnh gọi là chứng “lệch lạc tình dục”. Thay đổi là điều không thể. Kể cả khi cô mang theo con dao để dự định sẽ trả thù Walter thì cô cũng vẫn chọn cách như lệ thường, ấy là tự làm đau mình. Phim có một cái kết mở khi Erika nhìn Walter đang cư xử hoàn toàn bình thường, như chưa từng có chuyện gì xảy ra giữa họ, cô đột ngột cắm con dao vào vai mình rồi bước ra khỏi cổng Học viện âm nhạc với một bên vai đầm đìa máu.

Mỗi gia đình là một cái nôi mà ở đó, một con người sẽ được sinh ra. Dù có là người tài giỏi đến đâu, nếu được nuôi dưỡng từ một đầu nguồn cạn kiệt niềm vui, cạn kiệt cảm xúc như cái nôi mà Erika đã được nhào nặn thì rồi cái kết như thế là điều không thể tránh khỏi. “Người dạy đàn” để lại một dấu chấm hỏi vô nghĩa. Một sự lửng lơ, một cuộc đời đánh mất chìa khóa là ám ảnh mãi mãi không thôi.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1626 Posted : Saturday, August 14, 2021 11:29:17 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Dấu ấn của Mai Thứ tại nhà thờ Thánh Phêrô ở Mâcon

13/08/2021 - Thanh Phương - RFI
Trong phần tạp chí Người Pháp, Nước Pháp hôm nay, RFI xin mời quý vị đến thăm nhà thờ Thánh Phêrô ở Mâcon, vì đây chính là nơi mang dấu ấn của cố danh họa Việt Nam Mai Trung Thứ trong thời gian ông sống tại thành phố này.

Mâcon là một thành phố nhỏ thuộc tỉnh Saône-et-Loire, miền trung nước Pháp, chỉ cách thành phố Lyon khoảng 60 cây số về phía bắc. Vào thế kỷ 19, chính quyền thành phố Mâcon tính đến việc xây một nhà thờ mới, được đặt tên là nhà thờ Thánh Phêrô, để thay thế cho nhà thờ cũ. Kiến trúc sư André Berthier, học trò của một trong những kiến trúc sư nổi tiếng của Pháp Eugène Viollet-le-Duc, được giao nhiệm vụ thiết kế ngôi nhà thờ này. Ông đã chọn lối kiến trúc La Mã pha lẫn kiến trúc gothique để xây ngôi nhà thờ nằm đối diện với tòa thị chính Mâcon, như biểu tượng của sự liên hệ giữa giáo quyền và thần quyền.

Nhưng giai đoạn cuối của công trình xây dựng nhà thờ thánh Phêrô cũng là lúc mà thành phố Mâcon gặp những khó khăn về tài chính. Ngày 24/08/1860, nhân lúc hoàng đế Napoléon đệ tam đến thăm Mâcon, Jean-Claude Naulin, cha xứ của giáo xứ Saint- Pierre, là một trong những người được hoàng đế trao tặng huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh. Với hỗ trợ của nam tước Ponsard, tỉnh trưởng Saône-et-Loire, cha Naulin mới mạnh dạn thỉnh cầu hoàng đế giúp huy động 200.000 franc cần để hoàn tất công trình và đã được toại nguyện.

Cha Đa Minh Nguyễn Xuân Nghĩa, cha xứ của Saint-Vincent de Paul, một giáo xứ trong vùng và cũng là cha tuyên úy của cộng đồng Công Giáo người Việt của vùng Lyon, mà chúng tôi có dịp gặp ở Mâcon vào cuối tháng 7, cho biết vài nét tiêu biểu của công trình kiến trúc này:

"Nhà thờ Thánh Phêrô được xây vào khoảng năm 1862-1865 do một kiến trúc sư khi đó làm việc cho giáo phận Autun thiết kế. Khi giới thiệu nhà thờ Thánh Phêrô ở Mâcon, người ta luôn luôn nói đến nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, xem nhà thờ Đức Bà Sài Gòn là bản sao gần như hoàn chỉnh của nhà thờ này. Nhà thờ Thánh Phêrô nằm trong một thành phố nhỏ, nhưng bao quanh là rất nhiều cánh đồng nho. Người dân ở đây thì rất thân thiện.

Trước đó tại đây đã có một nhà thờ khác rồi. Mâcon có đặc điểm là người Công Giáo đến đây từ rất sớm, vì vậy còn rất nhiều vết tích của người Công Giáo trong thành phố này. "

Nhà thờ thánh Phêrô có mặt tiền gồm ba tầng, và bên trên là hai tháp chuông có đường nét rất thanh thoát, hiếm thấy. Trong nhà thờ còn có một số tác phẩm nghệ thuật đáng chú ý, trong đó có bức tranh tường nổi tiếng của danh họa Việt Nam Mai Trung Thứ, bên cạnh bức tranh vẽ thánh Vincent de Paul, theo lời cha Đa Minh Nguyễn Xuân Nghĩa:

" Trong nhà thờ Thánh Phêrô có một bức tranh rất nổi tiếng, nói đến sự hiện diện của thánh Vincent de Paul ở Mâcon, tả lại cảnh ngài đang giảng trong một thánh lễ. Điểm thứ hai đối với người Việt chúng ta đó là bức tranh tường của họa sĩ Mai Trung Thứ do thành phố đặt. Bức tranh vẽ hình ảnh Đức Mẹ đang giơ tay để chỉ tới trái tim Chúa và ở dưới là những lính, có những người chết và có những người bị thương, nhìn lên theo hướng tay Đức Mẹ chỉ trái tim Chúa. Đó là bức tranh rất nổi tiếng và rất đẹp tại nhà thờ này.

Sau chiến tranh, Mai Trung Thứ có đến sống ở Mâcon trong vài năm, và đã được một số gia đình Công Giáo trong thành phố này đón tiếp. Ông đã vẽ tranh cho các gia đình đó để kiếm sống trong thời gian đầu và đặc biệt là ông đã giữ được những tình bạn rất sâu sắc với những gia đình đó. Hôm rồi, trong buổi khai mạc triển lãm tranh của ông, những người con của những gia đình mà ông đã được đón tiếp đã đến dự. Có những bức tranh Mai Thứ vẽ về họ khi họ chỉ mới, 4 tuổi 5 tuổi, 7 tuổi và bây giờ thường đã trên 80 tuổi"

Cố họa sĩ Mai Trung Thứ(1906-1980) hay Mai Thứ là một trong nhóm « tứ kiệt trời Âu » của nền hội họa Việt Nam (Lê Phổ - Mai Trung Thứ - Lê Thị Lựu - Vũ Cao Đàm), một họa sĩ nổi tiếng của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20. Ông là một trong những họa sĩ tốt nghiệp khóa đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1925-1930). Phần lớn cuộc đời ông sống và hoạt động nghệ thuật tại nước Pháp. Tên tuổi của ông gắn liền với những tác phẩm tranh lụa về đề tài phụ nữ, trẻ em, cuộc sống thường ngày dưới cái nhìn mang đầy màu sắc văn hóa Á Đông.

Rất nhiều tác phẩm của Mai Thứ đã được ông vẽ ở thành phố Mâcon, cho nên thành phố này hiện đang có một cuộc triển lãm mang tên “Mai Thứ ( 1906-1980 ) - Tiếng vọng từ một Việt Nam trong mơ” / (Mai Thu ( 1906-1980 ) – Écho d’un Vietnam rêvé) tại viện bảo tàng Ursulines.

Nhưng tác phẩm mà ông để lại cho thành phố Mâcon chính là bức tranh tường trong nhà thờ Thánh Phêrô, được thực hiện năm 1941, trên tường của nhà nguyện đầu tiên phía bên phải của nhà thờ. Hướng dẫn chúng tôi đến xem bức tranh này, bà Claire Santoni-Magnien, phụ trách truyền thông của viện bảo tàng Ursulines, cho biết:

“ Mai Thứ đã vẽ bức tranh này trong thời gian ông giải ngũ ở Mâcon vào đầu thập niên 1940. Chắc là các gia đình người dân Mâcon mà ông quen biết đã giới thiệu ông cho cha xứ nhà thờ Thánh Phêrô, không biết chính xác là gia đình nào.

Ông đã thực hiện bức tranh này để vinh danh những người lính Pháp tham gia Thế chiến thứ nhất. Phải nói đây là dấu ấn lớn nhất của họa sĩ Mai Thứ ở Mâcon, vì tác phẩm này nhằm tưởng niệm một thời điểm lịch sử rất quan trọng đối với phương Tây, đó là Thế chiến thứ nhất và nó cũng thể hiện sự kết hợp giữa hai nền văn hóa, bởi vì Đức Mẹ trong bức tranh có nét của người châu Á.

Mai Thứ vẽ bức tranh chủ đề người lính vì bản thân ông cũng từng tham chiến. Chúng ta biết là Mai Thứ đã tình nguyện nhập ngũ để tham gia Thế chiến thứ hai. Bức tranh này cũng nhằm thể hiện sự tôn trọng của ông đối với quá khứ, đối với những vị anh hùng của một quốc gia. Đó cũng là những giá trị mà Mai Thứ cũng rất gắn bó do nguồn gốc văn hóa của ông. Nhưng những người lính ngày đang hướng về trái tim Chúa, thể hiện đức tin và chắc là nhờ có đức tin mạnh mẽ như vậy mà họ đã có thể giữ vững tinh thần trong suốt cuộc chiến. Đây cũng là một cách để tuyên dương sự dũng cảm của những vị anh hùng đó, mà đa số đã có sự hỗ trợ của tôn giáo trong cuộc sống hàng ngày.”

Có thể nói bức tranh trường của danh họa Mai Thứ trong nhà thờ Thánh Phêrô chính là dấu tích vĩnh viễn về sự sự hiện diện của họa sĩ Mai Thứ ở Mâcon, theo lời bà Claire Santoni-Magnien:

“ Những người sống ở Macon từ lâu đều biết đến bức tranh, nhưng những ai chưa biết thì rất ngạc nhiên khi nhìn thấy. Rõ ràng đây là chứng tích duy nhất còn lại của sự hiện diện của Mai Thứ ở Mâcon vào những năm 1940, tiêu biểu cho những sự giao lưu giữa các gia đình ở Mâcon với nghệ sĩ đến từ một nơi rất xa như thế.

Mai Thứ đã mất rất nhiều tháng để thực hiện bức tranh này. Nhiều bản thảo do chính tay Mai Thứ vẽ đang được trưng bày ở Viện Bảo Tàng Ursulines trong khuôn khổ cuộc triển lãm tranh của ông. Nói chung vẽ một bức tranh tường mất rất nhiều thời gian. Có một bức ảnh chụp Mai Thứ trước bức tranh, kế bên cái thang mà ông dùng để làm việc. Bức ảnh được chụp từ năm 1941, cho thấy phải mất nhiều tháng sau đó ông mới hoàn thành bức tranh.”

Ngoài việc là nơi lưu giữ dấu tích của cố danh họa Mai Trung Thứ, như cha Đa Minh Nguyễn Xuân Nghĩa có nói ở trên, nhà thờ Thánh Phêrô còn khiến chúng ta liên tưởng ngay đến nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, được xây từ năm 1877 và được khánh thành năm 1880, vì hai công trình này có lối kiến trúc rất giống nhau.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1627 Posted : Friday, August 20, 2021 12:40:33 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Pháp : Triển lãm nhân 100 năm ngày sinh của Yves Montand

17/08/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Lâu đài Buzine ở phía Đông Marseille tổ chức cho tới ngày 31/12/2021 một cuộc triển lãm lớn về Yves Montand, sau khi đã tổ chức triển lãm về các nghệ sĩ quá cố Johnny Hallyday và Charles Aznavour. Cả ba nghệ sĩ Pháp có một điểm chung : Họ đều thành công trong hai lãnh vực ca nhạc và điện ảnh. Cuộc triển lãm này đánh dấu cùng lúc hai sự kiện quan trọng : 100 năm ngày sinh và 30 năm ngày mất của Yves Montand (1921-1991).

Tọa lạc ở vùng ngoại ô, cách trung tâm thành phố Marseille khoảng 15 km, Château de la Buzine (xây vào năm 1867) là Trung tâm các nền Điện ảnh Địa Trung Hải (Maison des Cinématographies de la Méditerranée), do Viện lưu trữ phim ảnh Marseille quản lý. Khi xưa, lâu đài này thuộc quyền sở hữu của nhà văn kiêm đạo diễn trứ danh Marcel Pagnol (1895-1974). Cũng tại nơi này, ông đã đặt ống kính quay phim, chuyển thể một số tiểu thuyết của ông thành phim truyện chiếu trên màn ảnh lớn. Sau một thời gian dài đóng cửa, lâu đài Buzine đã được khai trương lại vào năm 2011, sau khi được chuyển đổi thành một trung tâm văn hóa với phòng triển lãm và rạp chiếu phim.

Khi đem ra trưng bày hàng trăm tác phẩm đủ loại về Yves Montand (ảnh chụp, bản thảo, áp phích, tư liệu, trang phục sân khấu ….), Trung tâm Điện ảnh Địa Trung Hải cũng chọn mối quan hệ khá thân thiết giữa hai nghệ sĩ Montand-Pagnol làm điểm nhấn. Trong số các bộ phim ăn khách của Yves Montand, có hai tác phẩm ''Jean de Florette'' và ''Manon des Sources'' do đạo diễn Claude Berri phóng tác từ bộ tiểu thuyết cùng tên của văn hào Pháp Marcel Pagnol. Tại cuộc triển lãm, có trưng bày những quyển sách với chữ ký của tác giả tặng riêng cho Yves Montand.

Tình bạn giữa Marcel Pagnol và Yves Montand

Trong quyển ''Từ điển Điện ảnh'' (Dictionnaire du Cinéma), tác giả Jean Tulard ghi nhận là Yves Montand từng gặp đạo diễn Marcel Pagnol năm ông mới 17 tuổi, lúc tập tễnh vào nghề còn chưa nổi tiếng. Yves Montand tập đóng phim, xuất hiện trong một số cảnh quay của Marcel Pagnol, nhưng đến khi dựng phim, các cảnh này đều đã bị cắt bỏ. Một thập niên sau đó, khi Yves Montand rời miền Nam lên Paris lập nghiệp và trở nên nổi tiếng, ông mới trở thành bạn thân của Marcel Pagnol qua lời giới thiệu của thi hào Jacques Prévert (1900-1977). Trong bức ảnh chụp vào năm 1951 nhân ngày cưới của hai thần tượng điện ảnh Simone Signoret và Yves Montand tại ngôi làng Saint-Paul-de-Vence, cả hai tác giả đàn anh Jacques Prévert và Marcel Pagnol đều là khách mời danh dự.

Cả hai nghệ sĩ này đều có quan hệ gắn bó với Marseille. Tuy sinh trưởng tại Aubagne nhưng thời còn trẻ, tác giả Marcel Pagnol từng là giáo viên Anh văn tại trường trung học Saint Charles và sau đó ông đã gợi hứng sáng tác bộ tác phẩm ''Trilogie Marseillaise'', gồm 3 vở bi kịch chọn thành phố Marseille làm bối cảnh. Về phần mình, Yves Montand, tên thật là Ivo Livi, theo bố mẹ di cư từ Ý đến Marseille năm ông lên 4 tuổi. Gia đình ông chọn định cư ở khu phố nghèo phía bắc, đường sá lúc ấy còn đầy bùn lầy, chưa được rải nhựa.

Trong suốt tuổi thơ hàn vi, chính những năm tháng gian khổ nhọc nhằn nhất lại trở thành một động lực lớn, không ngừng thôi thúc Yves Montand đi tìm bằng mọi giá sự thành công trên đường đời sự nghiệp. Theo lời kể của nam nghệ sĩ, bố mẹ ông nghèo đến nổi trong nhà không có phòng tắm, phòng vệ sinh nằm ở ngoài hành lang, khi còn nhỏ ông chỉ được tắm mỗi tuần một lần trong các nhà tắm công cộng. Nhưng khó khăn nhất vẫn là hình ảnh của người Ý trong mắt người dân thành phố Marseille. Dân nhập cư bị cho là những kẻ ăn bám, thành phần thấp hèn nhất trong tầng lớp dân nghèo thời bấy giờ.

Yves Montand, những mối tình đẹp nhất trong đời

Vì gia đình quá nghèo,cậu bé Ivo Livi phải bỏ học năm 11 tuổi, bắt đầu làm đủ mọi nghề để kiếm sống, kể cả làm phu khuân vác từ năm 15 tuổi tại bến cảng thành phố Marseille. Chính tại khu phố này, ông khám phá các bộ phim ca nhạc đầu tiên của Mỹ trong đó có ''Carioca'' (Thẳng đường đến Rio - 1933), cũng từ đó mà Ivo nuôi mộng trở thành một ngôi sao sân khấu. Cậu thiếu niên bắt chước các bước nhảy nhuần nhuyễn điêu luyện của ông vua thiết hài Fred Astaire, ông học cách nháy mắt mỉm cười như Gary Cooper, hay Jamerss Stewart trong phim cao bồi.

Khi lớn lên và bắt đầu làm việc cho các quán rượu gần bến cảng, Ivo lấy nghệ danh là Yves Montand, chọn những bài ca của Charles Trenet và bắt chước cách hát của vua hề Fernandel, pha trò dí dỏm cho tiết mục biểu diễn thêm hài hước vui nhộn. Cũng trong thời gian này, ông bắt đầu viết nhật ký và ghi chép những điều đáng nhớ, cần được rèn luyện, trau dồi thêm trước khi lên sân khấu. Quyển nhật ký được trưng bày trên một giá vẽ họa sĩ, phản ánh những bước đầu trên con đường sân khấu.

Đến Paris lập nghiệp từ năm 23 tuổi (năm 1944), Yves Montand thành danh vài năm sau đó nhờ vào sự dìu dắt của nữ danh ca Édith Piaf. Bản nhạc bất tử ''La vie en Rose'' được hai đồng tác giả Louiguy và Piaf viết ra để nói về quan hệ say đắm giữa đôi tình nhân này. Quan hệ ngắn ngủi (1944-1946) nhưng quan trọng giữa Piaf và Montand mở ra chương triển lãm về các mối tình trong đời của nam nghệ sĩ, từ Simone Signoret (1951-1985), Marilyn Monroe (1960), Shirley MacLaine (1962) cho đến Carole Amiel, người vợ cuối cùng, không phải là nghệ sĩ, đã sinh cho ông đứa con trai duy nhất (Valentin Montand).

Quan hệ ngoại tình của Yvers Montand với thần tượng điện ảnh Marilyn Monroe đã làm hao tốn không biết bao nhiêu giấy mực của báo chí thời bấy giờ, nhưng hầu như mọi người đều đồng ý là thần thánh còn phải xiêu lòng huống chi là người phàm trước một ngôi sao màn bạc từng được mệnh danh là ''người đàn bà đẹp nhất hành tinh'', ban đêm không hề mặc gì cả ngoại trừ vài giọt nước hoa Chanel số 5.

Dù vậy, về mặt tình nghĩa, quan hệ chung sống với nữ diễn viên Simone Signoret vẫn quan trọng hơn hết, có lẽ cũng vì cặp vợ chồng nghệ sĩ này trong 3 thập niên liền đã bổ sung cho nhau trên nhiều phương diện, về mặt nghệ thuật cũng như sự dấn thân chính trị. Tuy không hề có thẻ đảng viên, nhưng cặp bài trùng Signoret-Montand (cũng như ca sĩ kiêm tác giả Jean Ferrat) đã sát cánh đồng hành với đảng Cộng Sản Pháp (PCF), cả hai nghệ sĩ từng đi thăm Liên Xô vào năm 1956, để rồi xa lánh và đoạn tuyệt với ý thức hệ cộng sản từ năm 1968 trở đi, sau vụ đàn áp ''Mùa xuân Praha''. Bộ phim tiêu biểu cho giai đoạn này là tác phẩm ''L'Aveu'' (Lời thú tội) của đạo diễn Costa Gavras nói về số phận của các tù nhân Tiệp Khắc bị giam do bất đồng chính kiến.

Bộ phim tài liệu về di sản nghệ thuật của Yves Montand

Lúc sinh tiền, Yves Montand trong nửa thế kỷ sự nghiệp đã ghi âm khoảng 25 album ca nhạc và đóng vai chính trong khoảng 60 bộ phim. Trong làng nhạc, ông nổi tiếng nhờ chất giọng biểu cảm trung trầm, một crooner theo kiểu Pháp với lối vuốt chữ mượt mà nồng ấm, nhất là khi hát các bản tình ca Pháp. Còn trong làng phim, ông là một trong những diễn viên ''ruột'' do tâm đầu ý hợp với các đạo diễn Pháp nổi tiếng từ những năm 1970 như Claude Sautet, Alain Corneau, Jean Paul Rappeneau hay là Costa-Gavras. Đối với một người dành trọn cuộc đời cho nghệ thuật, thì ông lại đột ngột ra đi vì cơn đau tim vào năm 1991, đúng một ngày trước khi đạo diễn Jean-Jacques Beineix hoàn tất bộ phim ''IP5''.

Ra đi khá sớm ở tuổi 70, Yves Montand để lại một số dự án dang dở, kể cả một bộ phim ca nhạc và vòng lưu diễn nước Pháp dự trù vào tháng 04/1992. Cuộc triển lãm lớn tại Marseille là dịp để tưởng nhớ một người nghệ sĩ đa tài. Chương trình kỷ niệm gồm nhiều sinh hoạt quan trọng, trong đó có các buổi chiếu phim tại Viện lưu trữ phim ảnh Pháp Cinémathèque Française, ngày phát hành một quyển tiểu sử mới của nhà xuất bản La Martinière.

Chương trình sẽ đạt đến đỉnh điểm vào mùa thu năm nay, với ngày ra mắt khán giả bộ phim tài liệu mang tựa đề ''Montand est à nous'' do hai đạo diễn Yves Jeuland và Vincent Josse thực hiện nói về di sản nghệ thuật của Yves Montand. Bộ phim này từng được giới thiệu trong khuôn khổ liên hoan Cannes, theo lời mời của giám đốc ban tuyển phim Thierry Frémaux. Mãi đến ngày 13/10/2021, phim này mới được phổ biến rộng rãi : một món quà có giá trị tình cảm đối với giới hâm mộ do bộ phim sẽ được công chiếu đúng vào dịp sinh nhật lần thứ 100 của Yves Montand.



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1628 Posted : Saturday, August 21, 2021 1:02:23 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Danh họa Mai Thứ và duyên nợ với Mâcon

20/08/2021 - Thanh Phương / RFI
Trong mùa hè này, nền hội họa Việt Nam đang được vinh danh tại Pháp với cuộc triển lãm đặc biệt các tác phẩm của cố họa sĩ Mai Trung Thứ tại Viện bảo tàng Ursulines của thành phố Mâcon, miền trung nước Pháp, một thành phố mà nhà danh họa đã có nhiều duyên nợ.

Là một trong những họa sĩ tốt nghiệp khóa đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1925-1930 ), Mai Thứ là một họa sĩ nổi tiếng của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20, đặc biệt là những tác phẩm tranh lụa. Ông là một trong bốn họa sĩ được mệnh danh là nhóm « tứ kiệt trời Âu » của nền hội họa Việt Nam (Lê Phổ - Mai Trung Thứ - Lê Thị Lựu - Vũ Cao Đàm). Ngay khi bước vào phòng triển lãm tranh Mai Thứ, ta có thể nhìn thấy bức hình thật lớn chụp họa sĩ Mai Thứ và một số bạn đồng khóa ( Lê Phổ, Georges Khánh, Nguyễn Phan Chánh, Công Văn Trung , Lê Văn Đệ, chụp với họa sĩ Pháp Victor Tardieu, đồng sáng lập viên và là Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Tốt nghiệp ở Việt Nam, nhưng phần lớn cuộc đời của ông, Mai Thứ sống và làm việc ở Pháp, trong đó có hai năm sống tại thành phố nhỏ Mâcon. Ông đã để lại đây nhiều dấu ấn, cho nên không có gì đáng ngạc nhiên khi thành phố này đứng ra tổ chức một cuộc triển lãm đặc biệt mang tên « Mai-Thu (1906-1980) écho d'un Vietnam rêvé » (“Mai Thứ (1906-1980) tiếng vọng từ một Việt Nam trong mơ”).

Tổng cộng 140 tác phẩm của nhà danh họa được trưng bày tại cuộc triển lãm kéo dài từ ngày 16/6 đến ngày 24/10 tại Bảo tàng Ursulines ở Mâcon với sự hợp tác của Bảo tàng Cernuschi (Bảo tàng Nghệ thuật châu Á của Paris), cùng sự hỗ trợ và tham gia của bà Mai Lan Phương, con gái của danh họa Mai Trung Thứ.

Đây là lần đầu tiên có một cuộc triển lãm nhiều tác phẩm của Mai Thứ như thế, Cho nên sự kiện này thu hút rất nhiều khách đến xem, đặc biệt là người dân thành phố Mâcon, vốn xem danh họa Việt Nam như là một người của họ.

Điều đáng nói là trước khi được bổ nhiệm làm giám đốc Viện bảo tàng Ursulines, nơi trước đây là một tu viện thế kỷ 17, bà Michèle Moyne Charlet không hề biết đến tranh của Mai Thứ, nhưng ngay từ khi khám phá các tác phẩm của danh họa Việt Nam, bà đã nghĩ ngay đến chuyện tổ chức cuộc triển lãm này. Trả lời RFI Việt ngữ, bà cho biết:

“Tôi đã có ý định tổ chức cuộc triển lãm này ngay từ khi tôi đến làm việc ở Mâcon vào cuối năm 2017. Tình cờ tôi phát hiện trong nhà thờ Thánh Phêrô một bức tranh tường rất lạ, vì đó là bức vẽ để tuyên dương những người lính thời Thế chiến thứ nhất. Hiếm có một tác phẩm như vậy trong một nhà thờ. Hơn nữa, cùng với những người lính là hình ảnh Đức Mẹ với những nét châu Á.

Bức tranh đặc biệt đó đã gợi lên sự tò mò của tôi. Sau đó, tôi đã liên lạc với con gái của họa sĩ Mai Thứ. Bà ấy đã giúp tôi rất nhiều, vì lúc ấy bà cũng đang thực hiện một bộ toàn tập các tác phẩm của cha, cho nên quan hệ rất nhiều với các nhà sưu tập khác . Bà ấy đã cho chúng tôi mượn một phần trong bộ sưu tập và giúp tôi liên lạc với các nhà sưu tập khác. Nhờ vậy mà chúng tôi đã có thể quy tụ được 140 tác phẩm cho cuộc triển lãm này.”

Các tác phẩm được trưng bày tại Mâcon tiêu biểu cho sự nghiệp của danh họa từ đầu thập niên 1930 cho đến thập niên 1970, phản ánh những chuyển biến về phong cách của nhà doanh họa Việt Nam.

Trong những năm học ở trường Mỹ Thuật, lúc đầu Mai Thứ vẽ tranh sơn dầu mô tả cảnh sinh hoạt của nông thôn Việt Nam thời đó, về sau ông chuyển sang vẽ tranh lụa, chất liệu tranh đã tạo nên tên tuổi ông sau này mà trong đó thời gian ở Mâcon là một dấu mốc quan trọng. Bà Michèle Moyne Charlet, giám đốc Viện bảo tàng Ursulines, nêu bật mối liên hệ giữa Mai Thứ với Mâcon:

“Mối liên hệ giữa Mai Thứ với Mâcon rất quan trọng, vì nghệ sĩ đã đến thành phố này vào năm 1940, lúc ấy ông là quân nhân phục vụ trong quân đội Pháp. Tại sao ông lại đến Mâcon? Là bởi vì thành phố này là trung tâm giải ngũ rất lớn, và cũng nơi trú đóng của một trung đoàn bộ binh. Thật ra thì chúng tôi không có nhiều tư liệu để giải thích về việc Mai Thứ được giải ngũ ở đây. Nhưng rõ ràng là ông đã được các gia đình ở Mâcon chú ý ngay khi vừa đến thành phố.

Tại Mâcon thời đó có một phụ nữ hoạt động rất tích cực, bà đã lập ra một tòa nhà dành cho các binh lính giải ngũ để họ có nơi thư giãn, đọc sách, hội họp với nhau. Tòa nhà này nằm ở số 31 đường Dufour, trung tâm Mâcon, được khánh thành tháng 02/1940. Bà cũng đã lập ra một ủy ban để quản lý trung tâm, quy tụ những nhân vật có ảnh hưởng trong thành phố. Chính tại tòa nhà này mà bà đã gặp họa sĩ Mai Thứ, đến đây để vẽ tranh, rồi giới thiệu cho những người bạn. Từ đó mà họa sĩ lập các mối quan hệ với Mâcon, nhất là với một nhân vật quan trọng là ông Louis Combeau, lúc ấy vừa là dược sĩ, vừa là nghị viên hội đồng thành phố và là thành viên của phòng thương mại thành phố.

Ông Combeau đã đặt Mai Thứ vẽ nhiều tranh, độc đáo nhất là các bức chân dung. Cậu bé mà ông thấy trong bức tranh này chính là Pierre Combeau, con trai của ông Louis Combeau. Đó là những bức chân dung vẽ theo phong cách phương Tây, như bức tranh trên lụa này, chân dung một phụ nữ trẻ với đứa con, được vẽ vào năm 1941. Phụ nữ này là vợ của một bác sĩ, là con dâu của người sáng lập bệnh viên tư ở Mâcon, Jean-Baptiste Denis, một gia đình cũng rất quan trọng ở thành phố này.”

Tại triển lãm, chúng ta thể thấy một số bức chân dung mà Mai Thứ đã vẽ cho một số người dân thành phố Mâcon, với những đường nét rất sắc sảo, và với chất liệu màu khá đặc biệt, tuy là chân dung người phương Tây, nhưng cũng phản phất một nét Á đông nào đó. Cũng chính là qua họa sĩ Mai Thứ mà người dân ở thành phố Mâcon nói riêng và công chúng ở Pháp nói chung khám phá kỹ thuật vẽ tranh lụa, theo lời giám đốc Viện bảo tàng Ursulines:

“Ngay từ khi ở Mâcon, ông đã thật sự phát triển kỹ thuật vẽ tranh trên lụa, tuy rằng ông đã bắt đầu vẽ tranh trên vật liệu này khi còn ở Việt Nam. Để vẽ các bức tranh trên lụa đó, Mai Thứ đã vẽ nhiều bức họa nháp. Người ta thấy ngay ảnh hưởng của truyền thống văn hóa Việt Nam trong các bức tranh của ông.

Có một giai thoại có ý nghĩa về các bức tranh này của Mai Thứ, đó là bảng vẽ mà ông thấy ở đây đã được tìm thấy trong gác xép của một cửa hàng vào năm 2014 khi cửa hàng này được bán. Cùng với bảng vẽ là một bức tranh vẽ nháp nhà thờ Thánh Phêrô ở Mâcon. Đó là những thứ mà Mai Thứ đã để lại trong cửa hàng của một người thợ làm khung và cũng là một nhà sưu tầm nghệ thuật, luôn hỗ trợ các nghệ sĩ và chắc là có mối quan hệ đặc biệt với Mai Thứ. Cửa hàng này được bán vào năm 1960, khi chủ cửa hàng về hưu, nhưng những người chủ mới vẫn giữ các bức tranh trên gác xép và chỉ đến tận năm 2014 mới được tìm thấy trở lại. Triển lãm tranh Mai Thứ được tổ chức tại Mâcon chính là vì những mối quan hệ đặc biệt đó.”

Không có gì đáng ngạc nhiên khi rất đông đảo công chúng tại Mâcon đã đến thưởng lãm các bức tranh của nhà danh họa, mà đối với họ giống như một người thân quen, đặc biệt là những người đã từng được Mai Thứ vẽ chân dung lúc còn nhỏ, hoặc con cháu của những người này. Bà Michèle Moyne Charlet cho biết:

“ Ai cũng rất hào hứng, triển lãm đạt rất nhiều thành công ở địa phương. Đối với người dân thành phố, nhất là vị khách đã nhận ra mình trên bức tranh này, có rất nhiều cảm xúc. Nhiều người trong số họ đã rất muốn triển lãm tranh Mai Thứ được tổ chức ở Mâcon. Đây là một dự án đã có từ lâu và nay đã được thực hiện tốt đẹp. Ví dụ như người phụ nữ trong bức tranh lụa này chính là một nhân viên trong hiệu thuốc của ông Louis Combeau. Có một mối liên hệ giữa những người đã từng được Mai Thứ vẽ chân dung.

Tôi cũng muốn nói thêm một điều là khi trong thời gian ở Mâcon, Mai Thứ cũng đã đem tranh đến Lyon để triển lãm tại Galerie Bellecourt. Và khi đã nổi tiếng ở Pháp rồi, ông có trở lại Mâcon vào năm 1954 để triển lãm các bức tranh lụa của ông. Như ông thấy, ở đây chúng tôi có trưng bày tấm áp phích quảng cáo cuộc triển lãm ấy tại trụ sở hiện nay của Phòng thương mại Mâcon. Cuộc triển lãm được tổ chức theo sáng kiến của ông Louis Combeau. Chính ông Combeau đã mời Mai Thứ trở về Mâcon. Tại triển lãm, họa sĩ có cho chiếu một bộ phim về kỹ thuật vẽ tranh trên lụa mà ông thực hiện vào năm 1948. Phim này đã gây ấn tượng mạnh cho người dân thành phố Mâcon vào thời ấy. Báo chí đã đưa tin nhiều về cuộc triển lãm này.”

Có thể nói thời gian sống tại thành phố Mâcon tuy chỉ có khoảng hai năm, nhưng thành phố này như là một bệ phóng đưa Mai Thứ đến một chân trời xa hơn là Paris, nơi mà ông đã thật sự tạo danh tiếng, đến mức trở một trong những họa sĩ Việt Nam đắt giá nhất, với bức tranh "Chân dung Madam Phương" của họa sĩ Mai Trung Thứ đạt mức giá kỷ lục 3,1 triệu đôla, trở thành bức tranh cao nhất có giá công khai của mỹ thuật Việt Nam tại Sotheby's Hong Kong ngày 18/04 năm nay, gây xôn xao trong giới mỹ thuật.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1629 Posted : Wednesday, August 25, 2021 10:10:41 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Nghệ sĩ Joséphine Baker sẽ được vinh danh tại Điện Pantheon

23/08/2021 - Trọng Nghĩa / RFI
Ca sĩ, diễn viên múa người Pháp gốc Mỹ da đen Joséphine Baker (1906-1975), nổi tiếng với ca khúc J’ai deux amours – Tôi có hai tình yêu – sẽ được đưa vào điện Panthéon Paris vào ngày 30/11 tới đây. Theo nhật báo Pháp Le Parisien vào hôm qua, 22/08/2021, tổng thống Pháp Macron đã đáp ứng một bản kiến nghị có 38.000 chữ ký để vinh danh nữ nghệ sĩ, đồng thời là một nhân vật nổi bật trong cuộc kháng chiến chống Đức Quốc Xã và sau đó trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc.

Theo Le Parisien, chính tổng thống Pháp hôm 21/07 vừa qua đã chấp thuận việc đưa tro cốt của Joséphine Baker vào điện Panthéon ở Paris, nơi vinh danh các “vĩ nhân” của nước Pháp.

Sau một cuộc tiếp xúc tại điện Elysée với một nhóm nhân vật đã đến để thuyết phục ông vinh danh Joséphine Baker, ông Macron đã tuyên bố chấp thuận đề nghị này. Trong số những người đến thuyết phục tổng thống Pháp, có tiểu thuyết gia Pascal Bruckner, ca sĩ Laurent Voulzy, nữ doanh nhân Jennifer Guesdon, nhà viết tiểu luận Laurent Kupferman và đặc biệt là Brian Bouillon-Baker, một trong những người con trai nuôi của Joséphine Baker.

Hồ sơ đề nghị đưa Joséphine Baker vào điện Panthéon đã được điện Élysée xem xét lần đầu tiên vào cuối tháng 6. Trước đó một bản kiến nghị ủng hộ việc này, được Laurent Kupferman đưa ra cách đây hai năm, đã thu thập được 38.000 chữ ký.

Bản kiến nghị đã nói như sau về người được biết đến nhiều nhất nhờ ca khúc J’ai deux amours (Mon pays et Paris): “Nghệ sĩ, ngôi sao quốc tế da đen đầu tiên, nàng thơ của những người theo chủ nghĩa lập thể, kháng chiến quân trong Thế Chiến Thứ Hai trong Quân Đội Pháp, nhà hoạt động cùng với Martin Luther King vì dân quyền ở Hoa Kỳ và ở Pháp cùng với Lica (Liên Đoàn Quốc Tế chống chủ nghĩa bài Do Thái), bây giờ là Licra, tức là Liên Đoàn Quốc Tế chống Phân Biệt Chủng Tộc và chủ nghĩa Bài Do Thái”.

Từ hơn một thế kỷ nay, điện Pantheon ở trung tâm Paris là nơi vinh danh những "vĩ nhân" của Pháp, được “tổ quốc tri ân”. Trong số 80 người được vào Pantheon, có các chính trị gia, nhà văn, nhà khoa học, nhân vật tôn giáo và rất nhiều quân nhân. Chỉ có 5 người phụ nữ tôn vinh ở đó, trong đó có nhà bác học Marie Curie. Người gần đây nhất mới được đưa vào điện Panthéon là nữ chính khách Simone Veil, vào năm 2018.



Pháp : Hỏi ý dân về những danh nhân sẽ đưa vào điện Pantheon

RFI - 05/09/2013
Điện Pantheon ở Paris là nơi nước Pháp ghi ơn và tưởng niệm những danh nhân. Vậy sắp tới, ai sẽ được đưa vào đây ? Kể từ ngày 02/09/2013, Trung tâm các công trình quốc gia Pháp - CMN - tiến hành tham khảo ý kiến của người dân trên internet.

Câu hỏi được đưa ra trên internet để tham khảo người dân Pháp và kể cả người nước ngoài : Ai xứng đáng sắp tới được đưa vào thờ phụng, tưởng niệm tại điện Pantheon và vì sao ?

Theo ông Philippe Belaval, Giám đốc Trung tâm các công trình quốc gia muốn có sự đóng góp của những người sử dụng internet để có thể xác định rõ nhất những danh nhân nào mà người dân Pháp mong muốn được đưa vào điện Pantheon nổi tiếng, yên nghỉ bên cạnh Jean Moulin, Pierre và Marie Curie, cho dù đây không phải là một cuộc trưng cầu dân ý hoặc thăm dò dư luận.

Tiêu chí để lựa chọn : Đó là những người có các hoạt động chính trị, thành tích thể thao, dấn thân tranh đấu vì hòa bình hoặc bình đẳng, có các phát hiện khoa học, các tài năng nghệ thuật hoặc bảo vệ môi trường...

Cuộc tham khảo trên internet sẽ chấm dứt vào ngày 22/09. Tổng thống là người quyết định cuối cùng.

Nhân dịp này, trên itnernet, các tổ chức tranh đấu cho quyền bình đẳng của phụ nữ đã tham gia rất tích cực. Ngày 30/08 vừa qua, một số tổ chức còn đưa ra kiến nghị gửi tới Tổng thống François Hollande để có thêm nhiều nữ danh nhân được đưa vào nơi tưởng niệm các vĩ nhân của nước Pháp.

Bởi vì hiện nay, trong số 71 người được tưởng niệm tại Pantheon, chỉ có hai phụ nữ : Marie Curie, hai lần đoạt giải Nobel về vật lý và hóa học và Sophie Bertholot, được đưa vào đây vì tôn trọng ý nguyện của bà muốn được ở bên cạnh người chồng, nhà hóa học nổi tiếng Marcellin Bertholot.

Tổ chức « Tập thể ủng hộ đưa phụ nữ vào Pantheon », đã tổ chức bỏ phiếu trên Facebook và đưa ra danh sách bao gồm 5 phụ nữ cần ưu tiên đưa vào tưởng niệm tại điện Pantheon, trong số này có Louise Michel (giáo viên, tranh đấu cho các ý tưởng vì quyền lợi của phụ nữ và là một trong những guơng mặt tiêu biểu của Công Xã Paris), Simone de Beauvoir (Nhà văn, triết gia), Germaine Tillion (kháng chiến quân, nhà dân tộc học), Olympe de Gouges (Văn sĩ, một trong những người đi tiên phong trong cuộc đấu tranh bình quyền)…

Dường như kiến nghị đã được lắng nghe. Ngày mai, 06/09, Giám đốc Trung tâm các công trình quốc gia tiếp đại diện tổ chức này.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1630 Posted : Thursday, August 26, 2021 9:08:37 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

NGÀN LỜI CUỐI - Lòng trắc ẩn tận nơi thẳm sâu

15/08/2021 - Lệ Thu / RFI
Nhắc tới bộ phim “Ngàn lời cuối” (A Thousand Words), người ta nghĩ ngay đến sự thất bại ở phòng vé khi mà nhà sản xuất phim và đạo diễn đưa ra con số 40 triệu đô la nhưng doanh thu chỉ đạt hơn 20 triệu. Tuy nhiên, tác phẩm ra đời vào năm 2012 của đạo diễn Brian Robbins này lại mang trong nó một ý nghĩa lớn lao hơn thế.

Cùng với sự diễn xuất tài tình, duyên dáng, hài hước nhưng cũng vô cùng sâu sắc của Eddie Murphy, “Ngàn lời cuối” là một cái tên đáng giá, là một bộ phim giải trí đáng xem trong hàng loạt tác phẩm lừng lẫy tại kinh đô điện ảnh Hollywood.

Lời nói gió bay

Jack McCall, nhân vật chính trong phim do Eddie Murphy thủ vai, làm cái nghề được gọi là đắt giá nhất trong các nghề “buôn nước bọt”, đó là môi giới văn chương. Anh là đại diện cho các tác giả văn học, hỗ trợ việc mua bán, thỏa thuận hợp đồng để tác phẩm tới tay các nhà xuất bản hoặc các nhà sản xuất phim ảnh. Đặc thù nghề nghiệp của Jack là nói rất nhiều, thậm chí anh nói dối quanh cốt để được việc của mình. Jack quan niệm đó là những lời nói dối vô hại, chẳng ảnh hưởng đến ai. Những lời hứa lèo, hứa xong để đó, giống như lời Jack nói với Caroline vợ anh về việc họ sẽ chuyển tới một ngôi nhà khác ấm cúng và thân thiện hơn.

Jack quay cuồng với công việc, liên tục hứa và hứa, tất cả chỉ những lời nói quen miệng cứ thế tự nhiên trào ra, dần trở thành bản năng. Jack có thể nói bất cứ điều gì, lấy lòng tất cả mọi người bằng thứ mà họ muốn nghe, bằng lời sáo rỗng không xuất phát từ tấm lòng của anh rồi gần như ngay lập tức lãng quên nó. Với Jack, không gì ý nghĩa hơn là hoàn thiện được một cái hợp đồng mà theo anh, tất cả mọi người cùng có lợi.

Đó chẳng phải là mục đích sống của hầu hết chúng ta trong thế giới hiện đại ngày nay? Cái quan trọng là làm được việc của mình, đôi khi không cần quan tâm tới những hệ lụy kéo theo sau nó ? Bạn có dám chắc là bạn chưa bao giờ nói dối, chưa bao giờ nói những điều vô nghĩa hoa mỹ hay chưa bao giờ nói những lời dù vô tình làm tổn thương người khác? Và bạn nghĩ lời nói ấy sẽ dễ dàng bay theo chiều gió? Như là Jack McCall?

Bài học tốt là bài học đến đúng lúc

Bỗng không biết là điềm may hay rủi, là sự xuất hiện của khắc tinh hay quý nhân mà Jack lại gặp nhà tâm linh học Sinja, để rồi từ đây, mọi chuyện bắt đầu. Sinh mệnh của Jack đột nhiên gắn liền với một cái cây bồ đề bất ngờ mọc ở sân sau nhà anh. Trên cây có một nghìn chiếc lá tương ứng với một nghìn từ mà Jack được nói. Và khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống thì cũng là lúc cuộc sống của Jack kết thúc. Thử tưởng tượng một người sống bằng nghề nói như Jack lại chỉ còn một nghìn từ cuối cùng?

Khốn khổ hơn cả là Jack phát hiện ra ngay cả khi anh viết ra giấy hoặc ra kí hiệu bằng tay thì những chiếc lá cũng rụng. Phản ứng tự nhiên của Jack là tìm mọi cách để chặt cái cây đi. Nhưng oái oăm thay, anh chỉ tự làm đau mình. Dường như cái cây đó chính là bản ngã của Jack không thể tách rời. Đến mức khi nó bị sâu bệnh thì Jack cũng cảm thấy ngứa ngáy không yên. Từ một người nói như cái máy, nói bất cứ điều gì xuất hiện trong đầu, bỗng, Jack phải chậm lại, phải nghĩ kĩ, phải lựa chọn điều gì nên nói, điều gì không. Giao tiếp với mọi người trở nên thật sự khó khăn và gây nên rất nhiều hiểu lầm không đáng có. Từ một nhà môi giới giỏi và sắc bén nhờ vào cái miệng, Jack phải học cách im lặng nhưng lại phải khiến mọi người vẫn hiểu mình. Jack bị mất hai hợp đồng sách, mất việc, thậm chí Caroline cũng dọn ra ngoài ở vì nghĩ anh đã thay đổi, không còn yêu cô nữa.

Suy nghĩ đầu tiên của Jack sau khi gần như mất mọi thứ là phải làm việc thiện. Bản thân anh cho rằng đây là một lời nguyền tồi tệ và là kết quả của một thời gian dài anh đã quá bận rộn mà quên mất sự “trao gửi và cho đi”. Jack bắt đầu làm thiện nguyện một cách cuồng nhiệt, giúp đỡ người vô gia cư, cho họ đồ ăn, quyên tiền cho các sự kiện từ thiện. Nhưng rõ ràng, người ta thấy những việc làm của anh không xuất phát từ một tấm lòng muốn “trao gửi” thật sự. Nó vẫn bắt nguồn từ một con người ích kỉ, chỉ nghĩ đến bản thân mình, làm từ thiện cho lợi ích của mình. Nếu không phải vì sợ chết, sợ sự thất bại từ cái cây bồ đề thì hẳn Jack đã không sống vì bất cứ ai, hẳn anh cũng chẳng buồn để ý tới những thân phận khốn khổ đang tồn tại quanh mình.

Tất nhiên, những cái lá vẫn rơi, lời nguyền kì dị vẫn còn đó khiến Jack phát điên. Anh trở nên chán chường tột độ, trở nên bất cần và hoàn toàn mất kiên nhẫn. Jack uống rượu, nói và hát rất nhiều trong cơn say. Để rồi sau đó, anh lại vô cùng ân hận bởi những từ ngữ vô nghĩa mà anh đã vung phí. Rõ ràng là, người ta không nhìn vào những điều bạn nói, người ta chỉ nhìn vào những việc bạn làm, nhất là với những người thân yêu của bạn, với những gì bạn thật sự coi là quan trọng trong cuộc đời.

Lòng trắc ẩn tận nơi thẳm sâu

Bình tâm trở lại, Jack tìm Sinja, nhà tâm linh học, để xin lời khuyên. Ngài nói với Jack rằng anh phải tìm tới sự Bình yên trong các mối quan hệ của anh. Suy ngẫm lại, Jack nhận ra trước giờ các mối quan hệ của anh đều nhạt nhẽo, đều đơn thuần chỉ là tiền bạc và công việc. Không ai thật sự gần gũi anh, thật sự quan tâm và quan trọng với anh, ngoài Caroline, vợ anh và Annie, mẹ anh. Đó là hai người ý nghĩa nhất với Jack. Nhưng Jack đã làm gì với họ?

Cái Caroline nhận được chỉ là những ngày dài bận rộn của chồng và những lời hứa suông ngày này qua tháng khác về việc chuyển nhà. Còn mẹ Jack, người phụ nữ mắc căn bệnh Alzheimer, thì chỉ là những lần ghé thăm ngắn ngủi chóng vánh của con trai trong viện dưỡng lão. Lúc ấy, trên cây bồ đề chỉ còn một cành lá cuối cùng. Cuộc đời của Jack cũng chỉ còn chừng đó “lời nói”. Nhưng Jack quyết định phải gặp hai người quan trọng nhất trong đời anh. Cuộc sống của anh, rốt cục, cũng chỉ là phụ thuộc vào những lời nói mà thôi.

Jack tìm tới Caroline, cố gắng hàn gắn và giải thích nhưng cô không cho anh cơ hội. Mỗi chiếc lá trên cành rơi xuống là mỗi tia hi vọng của Jack lại mất đi. Anh buồn bã tới viện dưỡng lão để gặp mẹ khi mà cây bồ đề chỉ còn lại ba chiếc lá mong manh cuối cùng. Câu chuyện lúc này hé mở, tiết lộ toàn bộ những uẩn khúc trong lòng Jack. Thì ra, Jack đã có một tuổi thơ thật dữ dội khi cha anh bỏ nhà ra đi, để lại mẹ và anh cùng những lời hứa mãi mãi không bao giờ trở thành hiện thực. Có lẽ chính vì vậy mà Jack đã lớn lên thành một người như hiện tại. Quá khứ làm nên con người Jack chính là cái quá khứ mà anh phải đối mặt. Chứng mất trí nhớ của bà Annie, mẹ Jack, đã khiến bà lầm tưởng Jack là chồng bà. Những lời bà nói ra khi gặp anh là những lời bà muốn nói với ông, rằng bà mong một ngày Jack sẽ tha thứ cho ông vì đã rời bỏ họ.

Cái Bình yên mà nhà tâm linh học Sinja nhắc tới thật ra là nỗi đau đang ẩn sâu trong lòng Jack. Nỗi đau Jack đã vùi xuống tận đáy của những cảm xúc dường như đã bị lãng quên. Nỗi oán hận chưa bao giờ được giải tỏa, chưa bao giờ được giãi bày, thậm chí chưa bao giờ được nhìn nhận một cách rõ ràng. Từ khi có sự hiện diện của cây bồ đề, Jack đã hoang mang đi tìm câu trả lời trong vô vọng, và giờ đây, tất cả đã sáng rõ. Muốn giải quyết vấn đề của hiện tại, anh phải đối mặt với quá khứ. Jack tới ngôi mộ của cha anh. Những tia chớp chói lòa báo hiệu một cơn giông sắp tới. Jack thốt lên “Con tha thứ cho cha”. Anh đã dùng những từ cuối cùng trong đời mình để làm cái việc mà đáng lý đã nên làm từ lâu, đó là sự bao dung. Jack nằm xuống cạnh ngôi mộ và chờ đợi…

Tất nhiên, chẳng có ai phải chết trong một bộ phim tâm lí hài nhẹ nhàng. “Ngàn lời cuối” đem tới cho khán giả một cái kết có hậu không thể tốt đẹp hơn, đó là sự đoàn tụ của gia đình Jack trong ngôi nhà xinh xắn có sân vườn và cây bồ đề rợp lá ngay phía trước. Rõ ràng, nếu muốn tiếp tục cuộc sống hiện tại và tương lai thì việc ta phải làm là hãy đối xử tốt với quá khứ. Bởi dù ta có cố lãng quên nó thì tại nơi thẳm sâu trong tâm hồn, quá khứ vẫn ở yên đó.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1631 Posted : Friday, August 27, 2021 12:27:51 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Thành viên cuối của nhóm Everly Brothers từ trần ở tuổi 84

24/08/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Bảy năm sau ngày người em ruột Phil Everly qua đời, đến phiên người anh trai Don Everly vĩnh viễn ra đi, hưởng thọ 84 tuổi. Hai anh em Don & Phil từng đi hát với nghệ danh The Everly Brothers, ăn khách trên thị trường quốc tế trong suốt những năm 1960. Theo thông cáo hôm 22/08/2021 của Country Music Hall of Fame (Đại sảnh Danh vọng nhạc Đồng quê), ban song ca này là một trong những nghệ sĩ tài ba và có nhiều ảnh hưởng nhất trong lịch sử âm nhạc đại chúng.

Khi hay tin Don Everly qua đời tại Nashville, chiếc nôi của dòng nhạc country ở bang Tennessee, nhiều nghệ sĩ tên tuổi như Carole King, Tim Rice, Dave Davies, Julian Lennon hoặc Roy Orbison Jr ….. đều đã nhắn tin chia buồn với gia đình và đồng thời vinh danh tài nghệ chơi đàn, cũng như biểu diễn trên sân khấu, thời ông đi hát solo hay hát cùng với người em trai Phil trong nhóm The Everly Brothers. Trong ban song ca này, Phil Everly có một giọng nam cao (tenor) chủ yếu hát phần điệp khúc, các phân đoạn với những nốt cao nhất. Còn Don Everly ngoài cái tài chơi đàn guitar điện, còn hát với giọng nam trung (baryton), thường là hát những câu mở đầu hay hát bè trong điệp khúc.

Tầm ảnh hưởng của ban song ca cho cả một thế hệ

Sở dĩ giới nghệ sĩ quốc tế ngợi ca The Everly Brothers là vì nhóm này đã đi tiên phong trong lãnh vực nhạc rock, thời kỳ huy hoàng của họ là từ cuối thập niên 1950 cho tới đầu những năm 1970. Hai anh em đi hát rất sớm, từ thuở thiếu thời (năm 12 tuổi), trước khi họ được phát hiện bởi Chet Arkins, nhạc sĩ đàn ghi ta kiêm nhà sản xuất có uy tín thời bấy giờ. Những bản song ca ghi âm đầu tiên của The Everly Brothers được phát hành vào năm 1957, phối hợp nhạc rock với các luồng ảnh hưởng của dòng nhạc country đặc trưng của Hoa Kỳ.

Trong các bản ghi âm cuối thập niên 1950, đầu những năm 1960, hai anh em nhà Everly đã tạo ra một khối âm thanh đặc thù, ảnh hưởng đến nhiều nghệ sĩ cùng thời hay thế hệ đi sau họ. Trong số này, có các tên tuổi huyền thoại nổi tiếng từ những năm 1960, kể cả John Lennon và Paul McCartney thuộc nhóm ''Tứ Quái'' The Beatles. Khi khởi đầu sự nghiệp của mình, ban nhạc The Fab Four còn được mệnh danh là "ForEverly Brothers", do gợi hứng từ các bậc đàn anh.

Trong cách hát bè, thuận hay nghịch, cách phân đoạn ca khúc để rồi hòa quyện tài tình hai giọng ca, nhóm The Everly Brothers đã ảnh hưởng nhiều đến các ban nhạc khác như The Beach Boys hoặc The Byrds và rõ rệt nhất là ban song ca Simon và Garfunkel. Tầm ảnh hưởng ấy đã khiến cho tác giả Paul Simon viết bài phê bình trong tạp chí Rolling Stone, nâng hai anh em nhà Everly lên hàng nghệ sĩ tiên phong, những cánh chim đầu đàn trong lịch sử nhạc rock. Chính cũng vì thế mà vào năm 1986, The Everly Brothers nằm trong số 10 nghệ sĩ và ban nhạc đầu tiên được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng nhạc Rock (Rock and Roll Hall of Fame). Đến năm 2001, một lần nữa hai anh em lại được đưa vào Đại sảnh Danh vọng nhạc Đồng quê (Country Musis Hall of Fame).

Hàng loạt ca khúc ăn khách trong giai đoạn huy hoàng

The Everly Brothers ngự trị trên đỉnh cao những năm 1957-1968, trước khi thoái trào, nhường chỗ lại cho nhiều ban nhạc trẻ đánh dấu sự trỗi dậy mạnh mẽ của rock and roll trong đó có The Beatles, The Animals hay The Rolling Stones. Ban song ca này tiếp tục hoạt động cho tới năm 1973, ghi âm hàng loạt ca khúc ăn khách như ''Bye Bye Love, Made to Love, Cathy's Clown, Crying in the Rain, Devoted to You, Love Hurts, Always It's You'' hay là ''Let it be Me'' (phiên bản phóng tác tiếng Anh của bài ''Je t'appartiens'' ăn khách qua giọng ca Gilbert Bécaud). Còn trong tiếng Việt, bản nhạc nổi tiếng nhất của ban song ca này vẫn là bài ''Khi ta hai mươi'' do tác giả Trường Kỳ phóng tác từ nhạc phẩm tiếng Anh ''All I have to do …. is dream''.

Vào giữa những năm 1960, vầng hào quang của ban song ca bị lu mờ trước đà thẳng tiến của làn sóng rock đến từ Anh Quốc ''British Invasion''. Sự thất bại về mặt số bán tạo thêm những mối bất đồng sâu rộng giữa hai anh em Don và Phil. Cho đến năm 1973, sau một đợt biểu diễn ở miền Nam Hoa Kỳ, Phil Everly đập vỡ cây đàn của mình trên sân khấu và thề rằng ông sẽ không bao giờ hợp tác nữa với người anh trai là Don. Từ đó trở đi, hai nghệ sĩ này hoạt động solo, họ chỉ tái hợp đúng một thập niên sau vào năm 1983 trên sân khấu nhà hát Royal Albert Hall tại Luân Đôn.

Nam nghệ sĩ Paul McCartney, một trong những thành viên sáng lập bộ tứ The Beatles, do ngưỡng mộ hai anh em Don và Phil Everly, cho nên ông đã sáng tác cho họ một bài hát mới vào năm 1984. Bản nhạc "On the Wings of a Nightingale" (Trên Đôi cánh Sơn ca) cũng là nhạc phẩm ăn khách cuối cùng của cặp bài trùng này, mở ra giai đoạn thứ nhì trong sự nghiệp của hai anh em nghệ sĩ người Mỹ.

Một trong những ban nhạc xuất sắc nhất mọi thời đại

Lần xuất hiện cuối cùng trước công của hai anh em Don và Phil là vào năm 2003, khi The Everly Brothers đảm nhận phần mở đầu trong đợt biểu diễn kéo dài trong gần hai năm của ban song ca huyền thoại Simon & Garfunkel. Lúc sinh tiền, nhóm The Everly Brothers đã ghi âm khoảng 30 album và phát hành 75 đĩa đơn, trong đó có 3 tập nhạc trong thời kỳ đi hát solo và 3 tập nhạc khác thực hiện trong giai đoạn tái hợp từ năm 1983 đến năm 1988.

Sau khi đi biểu diễn chung với hai nghệ sĩ trứ danh Simon & Garfunkel, Don và Phil Everly coi như đã giải nghệ từ năm 2004 trở đi. Cũng vào năm ấy, hai anh em đã nhận được nhiều danh hiệu cao quý lẫy lừng, trong đó có lễ khánh thành Ngôi sao trên Đại lộ Danh vọng (Hollywood Walk of Fame). The Everly Brothers cũng được tạp chí Rolling Stone bình chọn ở hạng 33 trên danh sách 100 nghệ sĩ xuất sắc nhất mọi thời đại.

Mãi cho tới cuối năm 2013, nam ca sĩ Billie Joe Armstrong, thành viên sáng lập của ban nhạc rock Green Day, đã hợp tác với nữ danh ca nhạc jazz Norah Jones để cùng ghi âm tuyển tập mang tựa đề "ForEverly". Hai nghệ sĩ này lấy lại toàn bộ các bài hát ''Songs Our Dady Taught Us'' do ban song ca The Everly Brothers thực hiện vào cuối năm 1958). Tập nhạc này từng được xem như một trong những đỉnh cao nghệ thuật của ban song ca trong cách phối hợp nhạc rock với country và folk. Hai anh em nhà Everly giờ đây đều đã thành người thiên cổ, nhưng giai điệu của họ lại có dư âm bất tận nơi cõi thiên thu.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1632 Posted : Saturday, August 28, 2021 5:13:12 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Tiễn biệt nữ danh ca Châu Hà

28/08/2021 - Hà Vũ / VOA
Danh ca Châu Hà, vợ của cố nhạc sĩ Văn Phụng, qua đời lúc 3 giờ chiều, ngày 15 tháng 8 năm 2021 tại tiểu bang Virginia, Mỹ, hưởng thọ 86 tuổi.

Ca sĩ Châu Hà tên thật là Trần Thị Hồng Tâm. Bà lấy nghệ danh Châu Hà khi trở thành ca sĩ lúc vào Sài Gòn năm 1955 hát trên đài Phát thanh Quốc gia Việt Nam do anh nuôi là ông Đoàn Văn Cừu làm Tổng giám đốc. Bà lấy nghệ danh vì không muốn bố mẹ biết bà đi hát.

Bà sinh năm 1935 trong một gia đình giàu có tại Hải Phòng, bố là một thương gia và mẹ là người Nam, gốc Mỹ Tho. Gia đình bà, bên nội và bên ngoại đều yêu thích âm nhạc. Bà từng kể với VOA rằng bố bà thích đi nghe cô đầu, mẹ bà ở nhà đánh đàn piano, và các dì, cậu bên ngoại đều ca vọng cổ rất mùi. Bà mê âm nhạc từ bé và được cho học piano với một ông thầy rất giỏi, rất nghiêm nên bà đàn rất khá. Từ nhỏ, bà đã mê giọng ca tiếng hát của các ca sĩ như Tino Rossi người Pháp, các ca sĩ Mỹ như Perry Como, Nat King Cole, Patti Page... qua máy nghe đĩa thời đó. Bà thuộc nằm lòng những bài hát do những ca sĩ này trình bày, từ cách ngắt câu, cách ngân nga và cả cách lấy hơi của họ.

Khi vào Sài Gòn, bà tìm cách học thêm về thanh nhạc và tìm được một cô giáo người Pháp. Khi đóng tiền xong, cô giáo yêu cầu bà hát thử một bài. Dứt bản nhạc, cô giáo trả lại tiền học và nói rằng bà đã là một ca sĩ nhà nghề rồi, không cần học thêm nữa. Trong một cuộc trao đổi với VOA trước đây, khi nhắc lại chuyện này, bà nói “Hát là cả một nghệ thuật rất khó, nếu Trời không cho, không làm được.”

Ca sĩ Phương Hồng Quế nhận xét về giọng ca của Châu Hà:

“Chất giọng của cô rất tươi, trong sáng, nhẹ nhàng, tươi vui thánh thoát, kỹ thuật cũng hay lắm, giọng hát giống như người cô ngoài đời lúc nào cũng cười, dí dỏm lắm. Hai ông bà vui lắm nên trẻ trung hoài. Cô hát hai bài ‘Tiếng hát với cung đàn’ cũng như ‘Suối tóc’ của ông hay lắm. Hồi nhỏ em ái mộ cô hai bài này lắm.”

Bài ‘Suối tóc’ là kết quả của một sự tình cờ hay là một cơ duyên. Bà Châu Hà từng chia sẻ với VOA rằng khi nhạc sĩ Văn Phụng đến thăm bố ông, là người thuê nhà của gia đình bà, lúc đó bà đang đàn ở trên lầu. Nghe tiếng đàn thánh thoát, ông tò mò lên lầu thì thấy bà Châu Hà đang ngồi đàn với mái tóc buông dài. Ông xin phép đàn lại bài bà Châu Hà vừa đàn và đàn luôn một mạch bài ông mới sáng tác theo cảm hứng của mái tóc dài và sau đó đặt tên là ‘Suối tóc’.

Nhạc sĩ Từ Công Phụng nhận xét tiếng hát của bà Châu Hà có những nét Tây phương. Ông thích nhất bài ‘Suối tóc’ của Văn Phụng và bài ‘Tiếng Thời Gian’ của nhạc sĩ Lâm Tuyền do bà Châu Hà trình bày.

Nếu bài ‘Suối tóc’ là khởi đầu một cuộc tình, thì bài ‘Tiếng hát và cây đàn’ tượng trưng cho sự gắn bó của Văn Phụng với Châu Hà từ năm 1963, năm hai người thành hôn, cho đến khi ông qua đời vào năm 1999. Trên mộ bia của ông Văn Phụng, bà Châu Hà đã cho khắc bài ‘Tiếng hát và cây đàn’.

Ngoài việc đơn ca trên đài phát thanh hay truyền hình trước năm 1975, bà Châu Hà cùng với hai ca sĩ Kim Tước và Mộc Lan đã lập ban tam ca ‘Kim Mộc Châu’ nổi tiếng một thời với các giọng ca quyện vào nhau được thính giả ái mộ.

Ca sĩ Thanh Thúy ngậm ngùi khi được tin bà Châu Hà qua đời:

“Chị có tư cách đáng cho đàn em khâm phục. Chị hiền lành. Tôi nhớ chị nhiều nhất là nụ cười. Nụ cười chị hiền hòa dễ thương. Chị ít ra mặt với công chúng. Chị hát rất hay, giọng rất đặc biệt. Trình độ nhạc lý của chị rất cao.”

Ca sĩ Phương Hồng Quế tiếc nuối trước sự ra đi của danh ca Châu Hà:

"Nghe cô mất em cũng buồn lắm vì cô cháu mấy chục năm trong nghề gặp nhau. Cô chú vui tính. Em cũng tiếc, tài năng của cô và tính cách của cô dễ thương.”

Ca sĩ Châu Hà và nhạc sĩ Văn Phụng, theo nhận xét của ca sĩ Thanh Thúy, là cặp vợ chồng sống ẩn dật.

Hai ông bà vẫn đều đặn đi thờ phượng Chúa tại Hội Thánh Tin lành Việt Nam ở Dunn Loring, tiểu bang Virginia, cách thủ đô Washington không xa. Từ khi ông mất, bà chuyển sang Hội Thánh Episcopal ở thành phố Annandale gần đó, có lẽ vì không muốn ‘thấy cảnh cũ nhớ người xưa’, bởi vì có một thời gian khoảng 7 năm sau khi nhạc sĩ Văn Phụng mất, ca sĩ Châu Hà bị trầm cảm nặng khi nghe nhạc của chồng, phải vào bệnh viện chữa trị.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1633 Posted : Sunday, August 29, 2021 5:45:07 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Frédéric Chopin : Những bản Etude nên thơ

28/08/2021 - Hoài Dịu / RFI
27 bản Etude viết cho đàn piano của Chopin nhắm vào một hay nhiều mức độ khó của nhạc cụ. Tuy nhiên đối với những nghệ sỹ dương cầm có tài thời đó, việc kiểm soát kỹ thuật ngón tay không bao giờ là mục đích để chơi tác phẩm của Chopin. Nó chỉ là cái cớ, hay nói đúng hơn là phương tiện biểu đạt những dòng thơ âm nhạc.

Bộ Etude này được chia làm hai tập, opus.10 và opus.25, trong đó kèm thêm 3 bản Etude Mới được viết riêng cho giáo trình piano. Mỗi tập Opus bao gồm 12 bài. Một phần không nhỏ trong opus.10 được sáng tác trước thời gian Chopin chuyển đến ở Paris. Là một giáo sư dương cầm có tiếng, đôi khi Chopin sử dụng tác phẩm của mình để dạy học sinh. Vì thế không có gì lạ khi ông viết nhiều Etude như vậy cho piano.

Mười hai Etude trong tập op.10 của Chopin không chỉ là những bài tập luyện ngón đơn thuần dành cho một điểm kỹ thuật cụ thể, mà còn là mười hai bức họa âm thanh tuyệt trác.

Bản N°4 (op.10), mệnh danh « Thác lũ » tập trung vào kỹ thuật di chuyển ngón cái trên phím đen, cũng như sự nhanh nhạy của các ngón tay ở tốc độ cực nhanh. Bài này nằm trong tập đầu tiên mà Chopin đề tặng Liszt, nghệ sỹ piano người Hungari nổi tiếng, đang làm mưa làm gió thời bấy giờ. Giai điệu « Thác lũ » cuồn cuộn được chơi luân phiên từ tay phải sang tay trái, thể như một sự đối đầu không ngừng nghỉ giữa lửa-nước , giữa sáng-tối, và giữa cái thiện-cái ác.

Nếu như bản số 4 là dòng thác dữ dội thì Etude số 5 (Op.10) lại là con suối loang loáng ánh nắng. Với tiêu đề « Trên phím đen », tác phẩm này là một « thách đố » với các nghệ sỹ : tay phải chỉ được chơi trên phím đen (ngoại trừ 1 nốt trên phím trắng ở ô nhịp 66), bởi Chopin đã viết nó ở giọng sol giáng trưởng (6 dấu giáng), chạy trên nền hợp âm ở tay trái. Đây là một trong những « trang sức » yêu thích của hầu hết nghệ sỹ piano chuyên và không chuyên. Món đồ này khiến họ quên đi cảm giác phải chinh phục kỹ thuật chạy ngón, mà đơn giản chỉ như trò chơi con trẻ chạy theo những nét lướt thoăn thoắt, tinh nghịch của mười ngón tay .

Một trong hai Etude chậm duy nhất của Chopin, không thể không nhắc tới giai điệu đẹp sâu thẳm trong bài số 3 (opus.10) hay còn gọi là Etude « Nỗi Buồn ». Tiêu đề này được đặt tên bởi một trong những nhà xuất bản thời bấy giờ. Khi những nốt nhạc đầu tiên của « Nỗi buồn » vang lên, hiếm ai nghĩ rằng trước tiên hết nó là một bài tập luyện ngón : ưu tiên rèn luyện sự độc lập của từng ngón tay, mỗi tay chơi hai bè khác nhau. « Nỗi buồn » được viết ở thể ba đoạn : đoạn 1 và 3 là phần ballad trữ tình, mang nặng u sầu, đoạn 2 là phần phát triển về giai điệu cũng như kỹ thuật, nơi mà cảm xúc ngày càng đầy hơn, day dứt hơn và màu hòa thanh thì dữ dội, thôi thúc hơn.

Và những dòng tự sự « Nỗi Buồn » ấy đã chạm thấu tâm hồn của biết bao thế hệ , vậy nên về sau giai điệu được nhiều nghệ sỹ đặt lời và chuyển thể cho thanh nhạc. Ví dụ như : Albert Valentin đã viết lời bằng tiếng Pháp mang tên « Mon cœur vous dédie sa mélodie » cho bộ phim « La Chanson de l'adieu ». Năm 1939, ca sỹ Tino Rossi đã trình bày nó với bài hát cùng tên « Nỗi Buồn », lời Loysel/Marcuse. Trong điện ảnh, nhiều bộ phim cũng sử dụng giai điệu này như : « La Chanson du souvenir » (1945) , « Un été italien » (2008) và « The Master » (2012)…

Etude « Cách Mạng » số 12 (op.10) là một trong những tác phẩm dương cầm nổi tiếng của mọi thời đại. Bởi một phần, bản nhạc gắn liền với sự kiện lịch sử : đó là sự thất bại của nhân dân Ba Lan chống thế lực xâm lược Nga tháng 11 năm 1831. Do điều kiện sức khỏe không tốt, Chopin đã không thể tham gia cuộc chiến này. Thất vọng, cô đơn và bất lực, ông đã dùng âm nhạc làm vũ khí, dốc trọn cảm xúc của mình vào những đường chạy đầy bão tố (phần này do tay trái đảm nhiệm).

Giữa cảnh tượng khốc liệt của chiến tranh, giữa những tiếng ầm ì bom đạn, những tiếng người hỗn loạn, la ó, là bài ca yêu nước, vang lên, hiên ngang và bất chấp. Giai điệu bi tráng ấy được Chopin đặt trọn tình yêu, thêu vào chuỗi các hợp âm ở phần tay phải. Bản Etude « Cách Mạng » là cơn bão nội tâm và âm nhạc là người bạn tâm giao duy nhất giúp Chopin vợi đi nỗi đau mất mát quê hương.

Độ khó đáng gờm ở những bản Etude, mà Chopin đã gửi gắm vào tay những người trò giỏi của mình, không thể cản trở âm nhạc vang lên. Chúng được biết đến như một kiệt tác nghệ thuật nhiều hơn là bài luyện ngón thông thường. Mỗi Etude là một bài thơ, một bức họa, một câu chuyện được tạo nên bởi những nốt nhạc từ trái tim. Đó là thứ âm nhạc thuần khiết vượt ra ngoài những ràng buộc của kỹ thuật điêu luyện đơn thuần.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1634 Posted : Monday, August 30, 2021 7:15:26 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Françoise Hardy, tình ca tái bản muôn thuở lãng mạn

07/08/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Một trong những ca khúc thịnh hành tại Pháp vào mùa hè năm 2021 chính là ca khúc ''Le Temps de l'Amour'' (Mùa tình yêu) của nữ danh ca Françoise Hardy, qua cái tài hòa âm của nhóm nhạc điện tử Bon Entendeur. Được thành lập cách đây gần một thập niên (vào năm 2012) ban nhạc trẻ người Pháp này chuyên thực hiện nhiều bản phối mới cho những tình khúc vang bóng một thời.

Mang tựa đề là ''Minuit'' (Nửa đêm), album mới và cũng là tập nhạc phòng thu thứ nhì của nhóm Bon Entendeur bao gồm 16 ca khúc, chủ yếu là những bài hát thịnh hành từ vài thập niên trước. Được phát hành vào những ngày đầu tiên của mùa hè tại Pháp, album này đã công bố nhạc phẩm trích đoạn đầu tiên kèm với video clip (với đề tài đồng tính nữ) cho tình khúc ''Le Temps de l'Amour'' (Mùa tình yêu) do ca sĩ kiêm tác giả Jacques Dutronc sáng tác vào đầu những năm 1960. Tình khúc này lập kỷ lục số bán khi được thần tượng nhạc trẻ Pháp Françoise Hardy ghi âm vào mùa thu năm 1962. Tình khúc ''Le Temps de l'Amour'' từng được nhạc sĩ Trường Kỳ đặt lời Việt trước năm 1975 với tựa đề ''Mùa tình yêu''.



Mùa tình yêu đã đến

Cho tình bạn thêm bền

Cho phiêu lưu một chuyến

Nhiều kỷ niệm khó quên



Mùa tình yêu ngây dại

Phút chốc hay lâu dài

Con tim bỗng nhớ mãi

Ký ức vẫn chưa phai



Tự nhủ tuổi hai mươi

Làm vua một cõi đời

Sao thiên thu sáng ngời

Đọng lại trong đôi ngươi



Dù chữ yêu phai nhòa

Bao mộng ước sẽ qua

Muôn thuở tình nhàn hạ

Vẫn sống mãi trong ta

Khi thực hiện bản hòa âm mới cho nhạc phẩm ''Le Temps de l'Amour'' (Mùa tình yêu), ba thành viên của ban nhạc trẻ Bon Entendeur đã đem lại một chút phong cách điện tử theo kiểu Pháp ''french touch'', nhưng tuyệt đối giữ nguyên cốt cách của giai điệu và nhất là ''linh hồn'' của ca khúc khi không bóp méo chỉnh sửa (qua việc sử dụng phần mềm âm thanh) giọng ca của Françoise Hardy, tiếng hát này giữ được một phong cách hồn nhiên nhẹ nhàng, mà dường như lúc nào cũng man mác một nỗi đau dịu dàng.

Giai thoại kể rằng chính cũng vì hợp tác với nhau trên ca khúc ''Le Temps de l'Amour'' (Mùa tình yêu) mà cặp nghệ sĩ Françoise Hardy và Jacques Dutronc mới trở nên vợ chồng. Nhưng thực tế không hẳn đơn giản như vậy. Theo lời kể của Françoise Hardy (trong chương trình truyền hình Pháp ''Le Divan''), bản nhạc này ban đầu là một khúc nhạc hòa tấu không lời. Tác giả Jacques Dutronc gợi hứng từ thành công của khúc đàn ghi ta ''Apache'' của nhóm The Shadows để sáng tác một giai điệu rất lọt tai cho ban nhạc Pháp Les Fantômes. Tác giả người Pháp André Salvet là nhạc sĩ đầu tiên đặt lời cho ca khúc này. Khi gặp nhau vào năm 1962 để ghi âm ca khúc, Françoise Hardy cho biết không có nhiều thiện cảm với nhạc sĩ Jacques Dutronc, thời bấy giờ đeo kính cận thật dày, cách ăn mặc cẩu thả nhếch nhác.

Khi gặp lại nhau vào năm 1967, Françoise Hardy lúc ấy mới thật tình để ý tới Jacques Dutronc, khi ấy đã có tướng mạo chải chuốt bảnh bao hơn. Sau 6 năm quan hệ, cặp nghệ sĩ này cho ra đời một đứa con trai vào năm 1973 (sau này là ca sĩ nổi tiếng Thomas Dutronc), họ chỉ chính thức thành hôn vào năm 1981 tại làng Monticello trên đảo Corse. Đây là một trong những cặp vợ chồng nghệ sĩ nổi tiếng nhất tại Pháp, cho dù quan hệ đời tư của họ rất phức tạp chứ không lý tưởng như trong bài hát ''Mùa tình yêu''.

Trong thời gian gần đây, nhiều tin đồn về sức khỏe của Françoise Hardy đã gây hoang mang cho giới hâm mộ, nhất là trong bối cảnh nữ danh ca không hề che giấu về việc cô điều trị ung thư sau khi căn bệnh này tái phát. Tờ báo Le Dauphiné Libéré đã bị hớ khi loan tin sai lệch (hôm 19/06/2021) là thần tượng nhạc trẻ những năm 1960 đã ''từ trần''. Điều đó đã buộc con trai (Thomas Dutronc) của nữ danh ca phải lên tiếng đính chính rằng mẹ anh là Françoise Hardy vẫn còn sống.

Giới trẻ thời này quan tâm trở lại về cuộc đời và sự nghiệp của Françoise Hardy có lẽ cũng vì có nhiều bài hát của nữ danh ca tiếp tục được khai thác qua phim truyện dành cho màn ảnh lớn, phim truyền hình nhiều tập hay phim ngắn quảng cáo. Đó là trường hợp của các bài như ''Le Premier Bonheur du Jour'' (Hạnh phúc đầu ngày), ''Comment te dire Adieu'' (Sao đành vĩnh biệt) hay là ''Tous les Garçons et les Filles'' (từng được tác giả Phạm Duy đặt lời Việt thành nhạc phẩm ''Những nụ tình xanh''). Các tình khúc này thường được giới nghệ sĩ hát tiếng Pháp hay quốc tế sau này khoác thêm áo mới, kể cả Vanessa Paradis, Isabelle Boulay, Jimmy Sommerville (nhóm Bronski Beat) hay là Annie Lennox (ca sĩ chính nhóm Eurythmics)..... Giọng ca Françoise Hardy nay có thể đã già đi, nhưng tình yêu vẫn trẻ mãi nhờ những giai điệu ''thần y''.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1635 Posted : Tuesday, August 31, 2021 11:17:02 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Quyển sách "Paris trong mắt đạo diễn Claude Sautet"

30/08/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Tuy sự nghiệp của Claude Sautet chỉ được phản ánh qua 13 bộ phim truyện, đạo diễn này lại chiếm một vị trí quan trọng trong làng điện ảnh Pháp, dấu gạch nối không thể thiếu giữa François Truffaut và Claude Chabrol. Gần đây, nhà xuất bản Parigramme phát hành quyển sách của nhà báo Hélène Rochette về đạo diễn Claude Sautet, mà các bộ phim đều chọn Paris.

Mang tựa đề "Le Paris de Claude Sautet" (tạm dịch Paris theo cách nhìn của Claude Sautet), quyển sách này dày 200 trang, trong đó có đăng 160 bức ảnh chụp và nhiều tài liệu minh họa. Tác phẩm này còn có tiểu tựa "Romy, Michel, Yves và những tên tuổi khác" ..... từ Romy Schneider, Michel Piccoli cho đến Yves Montand, đều là những diễn viên chủ chốt trong các bộ phim của đạo diễn Claude Sautet (1924-2000).

Không phải ngẫu nhiên, hình bìa quyển sách chính là bức ảnh chân dung trắng đen tuyệt đẹp của Romy Schneider trích từ bộ phim "Max et les ferrailleurs" (1971), chủ yếu cũng vì ngôi sao màn bạc người Đức mang quốc tịch Pháp là diễn viên gần gũi nhất với nhà đạo diễn. Đạo diễn Claude Sautet gặp Romy tại phim trường Boulogne, trong lúc cô đang thực hiện phần lồng tiếng hậu kỳ cho bộ phim "La Piscine" (Hồ tắm) quay với thần tượng Alain Delon. Lúc còn sống, Romy Schneider từng nói rằng mối quan hệ giữa cô với nhà đạo diễn không đơn thuần là quan hệ nghề nghiệp, mà là một mối đồng cảm nghệ thuật, tâm đầu ý hợp.

Bộ sưu tập Paris trong mắt giới văn nghệ sĩ

Quyển sách "Le Paris de Claude Sautet'' là tác phẩm thứ ba nằm trong bộ sưu tập Paris theo nhãn quan của các giới văn nghệ sĩ. Trong hai tập sách trước, nhà xuất bản Parigramme từng phát hành tác phẩm "Paris trong mắt của Michel Audiard" nhân 100 năm ngày sinh của nhà biên kịch bản và "Paris theo cách nhìn của François Truffaut", một trong gương mặt nổi bật nhất của phong trào nghệ thuật Làn sóng mới (Nouvelle Vague). Chắc hẳn là trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều tựa đề hấp dẫn khác trong tủ sách này

Còn trong trường hợp của Claude Sautet, quyển sách thứ ba của Parigramme được xuất bản nhân dịp 20 năm ngày giỗ của đạo diễn người Pháp, qua đời vì bệnh ung thư vào năm 2000, hưởng thọ 76 tuổi. Tên tuổi của Claude Sautet thường được gắn liền với dòng phim tình cảm xã hội những thập niên 1970 và 1980, phản ánh nếp sống sinh hoạt của giai cấp trung lưu, mô tả quan hệ đời thường của con người, trong tình yêu, tình bạn hay trong gia đình. Và tất cả những mối quan hệ ấy luôn được lồng vào bối cảnh Paris.

Do sinh trưởng ở Montrouge, vùng ngoại ô Paris, cho nên Claude Sautet đặt ống kính quay phim tại những địa điểm thân quen nhất. Đến khi thành danh trong làng điện ảnh, ông dọn nhà về sống trên đại lộ Gobelins, Paris, giáp hai quận 5 và quận 13. Tuy nhiên, những góc phố quen thuộc nhất đối với ông vẫn là quận 14, vì thời còn nhỏ ông thường hay đến giúp việc ông nội cũng như giúp đỡ thân phụ của ông, nguyên là chủ của một quán cà phê nằm ở gần phố Montparnasse.

Một Paris thân quen trong phim Claude Sautet

Yếu tố đời tư này được phản ánh nhiều lần sau đó trong các tác phẩm của Claude Sautet, điển hình là bộ phim "Vincent, François, Paul... et les autres" và nhất là "Garçon!" với lối mô tả sát sườn thực tế khi thực khách dùng tiếng gọi quen thuộc, kêu anh "bồi bàn" hay nhân viên phục vụ trong tiệm cà phê cũng như quán rượu. Thủ đô Paris trong mắt của Claude Sautet là không khí của những con đường nhỏ, những góc phố bình dị tiệm bánh mì thân quen, khác xa hẳn với những danh lam thắng cảnh, những địa điểm mang tính biểu tượng nhưng hơi rập khuôn thường được thấy trên bưu thiếp, hay qua bộ phim truyền hình ăn khách gần đây "Emily in Paris".

Vào nghề điện ảnh khá sớm, nhưng thành công lại đến với ông khá muộn, Claude Sautet chỉ thật sự nổi danh vào năm 1970, tức cách đây vừa đúng nửa thế kỷ, nhờ bộ phim "Les Choses de la Vie" (Những điều của cuộc sống), với cặp diễn viên ngôi sao Romy Schneider và Michel Piccoli trên màn ảnh lớn. Trước đó, ông đã từng thực hiện hai bộ phim hình sự, nhưng đều gặp thất bại, trong những năm 1960. Claude Sautet gạt tham vọng làm đạo diễn qua một bên trong một thời gian dài, vì đa số các kịnh bản mà ông nhận được thường là đơn đặt hàng hay phim thương mại, không cho phép thể hiện quan điểm nghệ thuật của riêng ông.

Trong thời gian này, ông nắm giữ vai trò trợ lý đạo diễn trong khá nhiều bộ phim, kể cả "La Vie de château" (1966), "Borsalino" (1970) hay là "Les Mariés de l'an II" (1971). Ông chủ yếu viết lại một số kịch bản mà không phải lúc nào cũng được kể tên trên danh sách đoàn làm phim. Nhưng cũng nhờ vậy, ông làm quen với rất nhiều tên tuổi trong nghề, hợp tác với các đạo diễn Jacques Becker, Jean-Paul Rappeneau hay Philippe de Broca .....

Claude Sautet, thợ chuyên "thay đế giày"

Đạo diễn François Truffaut từng mệnh danh ông là thợ chuyên thay đế giày (resemelleur), nhưng cũng chính cái tài "đo ni đóng giày" ấy mà khi xem lại kịch bản của người khác, Claude Sautet không sửa theo kiểu chấp vá, mà lại chỉnh với cách nhìn tổng quát, không hề phiến diện. Mãi đến năm 1970, Claude Sautet mới gặt hái thành công ở tuổi 46 nhờ chuyển thể lên màn ảnh lớn quyển tiểu thuyết "Les Choses de la vie" theo yêu cầu của tác giả Paul Guimard, nhờ vào sự hợp tác với tác giả trẻ tuổi Jean-Loup Dabadie.

Claude Sautet rất hào hứng khi quay bộ phim với lối kể chuyện độc đáo, bắt đầu với một tai nạn giao thông và nhân vật chính trong lúc đang hấp hối, hồi tưởng lại dưới dạng flashback những điều nhỏ nhặt, nhưng đem lại nhiều ý nghĩa trong cuộc đời. Đối với nhiều nhà phê bình, bộ phim "Les Choses de la Vie" (Những điều trong cuộc sống) là bản tuyên ngôn nghệ thuật của Claude Sautet, vì rốt cuộc ông nắm lấy cơ hội để khẳng định nhãn quan của riêng mình, rất khác với phong trào Làn sóng mới.

Được Hollywood dựng lại trên màn ảnh lớn sau đó với cặp bài trùng Sharon Stone và Richard Gere (vào năm 1994), bộ phim Pháp "Les Choses de la Vie" (tiếng Anh là "The Things of Life") chính là bước đầu giúp định hình phong cách làm phim của Calude Sautet, thu vào trong khung hình ảnh những nỗi buồn vui, cay đắng lẫn ngọt bùi của nhịp sống thoạt nhìn có vẻ đơn giản, nhưng lại khá tinh tế phức tạp với muôn lớp bi hài. Đạo diễn Pháp sinh thời mê nhạc cổ điển và nhạc jazz, khi quay phim ông có lối tiếp cận tổng thể, dùng rất nhiều chi tiết nhỏ nhặt để làm nổi bật bản giao hưởng. Nói cách khác, phim không chỉ đơn thuần được kể qua lời thoại, mà còn dùng không khí chung, khung cảnh, âm thanh, điệu bộ, ánh mắt để nói lên diễn biến nội tâm. Tất cả những yếu tố ấy khi gộp lại tựa như phép màu vô hình làm nổi bật cốt lõi của bộ phim, mà vẫn không nặng phần triết lý cao siêu. Trước sau gì, điều mà ông muốn nắm vẫn là quan hệ giữa người với người.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1636 Posted : Wednesday, September 1, 2021 8:13:36 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

“Lời cầu hôn”: Sự gắn kết mang tên Tình yêu

29/08/2021 - Lệ Thu / RFI
Nếu bạn đang tìm kiếm một bộ phim tình cảm hài nhẹ nhàng, có một cốt truyện không quá cầu kì, cùng dàn diễn viên kiệt xuất, cả chính lẫn phụ, và những cảnh quay đẹp từ thành thị đến nông thôn thì bạn đừng bỏ qua “The Proposal”. Bộ phim, tạm dịch là “Lời cầu hôn”, của điện ảnh Hoa Kỳ, ra mắt vào năm 2009, do Anne Fletcher làm đạo diễn.

Anne Fletcher được biết đến như là một vũ công, diễn viên, biên đạo múa và đạo diễn phim. Vô cùng mát tay với dòng phim hài - ca nhạc cùng những vũ điệu cuồng nhiệt như “27 đám cưới”, “Cặp đôi hoàn cảnh” hay “Step Up”, lần này, nữ đạo diễn xinh đẹp cũng không làm khán giả và cả nhà sản xuất thất vọng khi cho ra mắt một câu chuyện tình yêu bi hài cười ra nước mắt đồng thời thu về tới hơn 400 triệu đô la tại các phòng vé trên toàn thế giới.

Dù không được giới chuyên môn đánh giá cao, nhưng nhìn vào doanh thu kếch sù này, ta có thể thấy bộ phim đã có được những thành công nhất định của nó. “Lời cầu hôn” có một cốt truyện dễ hiểu, chi tiết đơn giản, thậm chí dễ dàng đoán được cái kết, ấy vậy mà hàng triệu con tim vẫn thổn thức theo từng bước đi của nhân vật, cười - khóc và thở phào nhẹ nhõm khi những người yêu nhau cuối cùng cũng đến được với nhau.

Tình yêu có thể đến từ bất cứ đâu

Như phần lớn các phim hài khác, “Lời cầu hôn” sử dụng một tình huống tréo ngoe khi một nữ tổng biên tập sách “hét ra lửa” - Margaret - có nguy cơ bị trục xuất về Canada và cô đã nhanh trí cứu nguy cho mình bằng cách tuyên bố rằng cô sẽ đính hôn với trợ lí của mình - Andrew - người đã bị cô hành “tới bến” sau nhiều năm làm việc.

Phim mở đầu là sự ghê gớm của Margaret và sự sợ hãi cũng như màn đối phó của đám nhân viên với cô. Vị sếp nữ này được khắc họa rất cứng nhắc, hẹp hòi, miệng lưỡi sắc như dao, tính tình hắc ám khó chịu và bị nhân viên gọi là “Mụ phù thủy”. Còn Andrew thì lại được vẽ ra với bao ưu điểm: anh chàng “lính trẻ” đẹp trai yêu nghề cố gắng chịu đựng bà Sếp khó nhằn cùng những lời hứa suông về việc thăng chức suốt mấy năm ròng. Tới đây, hẳn người xem đã hiểu bộ phim giống như kiểu “Ghét của nào trời trao của nấy” và đoán ra được cuối cùng thì đôi trẻ đầy “ân oán” này sẽ phải lòng nhau thật sự với một Happy Ending không thể tốt đẹp hơn. Tuy nhiên bộ phim vẫn khiến cho khán giả yêu quý bởi cách sắp xếp tình tiết hợp lí, không hề gây nhàm chán.

Ấn tượng nhất có lẽ là cảnh Margaret gượng gạo trong bộ đồ công sở cứng nhắc với đôi giầy cao gót quỳ gối xuống ngay vỉa hè đông đúc giữa lòng New York dập dìu để cầu hôn Andrew. Anh chàng hóa ra cũng không phải tay vừa, đặt ra không biết bao nhiêu điều kiện buộc Sếp phải làm theo, mà cái điều kiện đầu tiên là “hoặc là quỳ - hoặc là ra đi”. Và rồi, họ lại phải nắm tay nhau về quê của Andrew vào ngày lễ sinh nhật tròn 90 tuổi của bà nội anh chỉ để chứng minh với phòng quản lí nhập cư về sự chân thực của vụ đính hôn mà họ bày ra.

Chuyến đi về Sitka, một thị trấn thuộc Alaska là bước ngoặt thay đổi toàn bộ cuộc đời họ. Tại đây, Margaret đã phải trải qua nhiều tình huống dở khóc dở cười, khiến cô nhận thấy không phải lúc nào mọi việc cũng diễn ra trong tầm kiểm soát của cô. Bất chấp những hậu quả họ có thể gánh chịu, Margaret và Andrew vẫn quyết tâm tổ chức đám cưới bất ngờ này như dự kiến. Nhưng cả hai đều không biết rằng càng dành nhiều thời gian bên nhau, họ càng nảy sinh nhiều tình cảm đặc biệt.

Chẳng thể còn gì thú vị hơn khi hóa ra anh chàng trợ lí quèn Andrew lại là chàng công tử con nhà giàu, sở hữu phần lớn tài sản và chuỗi kinh doanh tại Sitka, để rồi từ đó, cái nhìn của Margaret về anh dần dần thay đổi. Thêm vào mâu thuẫn giữa hai cha con Andrew, Margaret nhận thấy ở Andrew một người đàn ông mạnh mẽ, sinh ra đã ở vạch đích nhưng lại muốn theo đuổi đam mê riêng của mình. Ba năm qua, Andrew chịu đựng sự quái đản của Margaret chỉ vì muốn chứng tỏ bản thân với gia đình.

Trong khi đó, Andrew cũng nhìn thấy những điều nhỏ bé tốt đẹp, đáng thương và đáng yêu từ Margaret mà dù ở bên cạnh cô khá lâu, nhưng anh hoàn toàn mù tịt, đặc biệt là việc Margaret hóa ra là trẻ mồ côi. Từ đây, họ bỗng cảm thấy một sự sẻ chia, sẵn sàng nói với nhau về những bí mật rất đời thường của mình, nhất là Margaret, khi cô giải bày với anh về ban nhạc cô yêu thích, cuốn sách cô hay đọc vào Giáng Sinh hay ý nghĩa của hình xăm trên cơ thể cô.

Sức mạnh gắn kết của Gia đình

Điều khác biệt ở “Lời cầu hôn” với một số phim cùng thể loại và mô típ kịch bản “ghét của nào trời trao của nấy” là gia đình Andrew ở Sitka. Họ là những người vô cùng cởi mở, sẵn sàng chào đón Margaret một cách nồng nhiệt dù rõ ràng thấy được sự chênh lệch tuổi tác và sự khác biệt trong phong cách sống của hai người. Ngay sau khi “cô dâu nhỏ” được giới thiệu, bà nội Annie của Andrew cùng với mẹ anh đã quyết định sẽ tổ chức đám cưới cho họ vào hôm sau, là ngày mừng thọ tuổi 90 của bà. Cha Andrew là người duy nhất phản đối một cách yếu ớt.

Đám cưới sẽ được tổ chức trong kho thóc theo truyền thống của gia đình và không những thế, chính tay bà Annie sẽ sửa lại bộ váy cưới đã được truyền lại từ nhiều đời cho Margaret cùng sợi dây chuyền của bà cố. Sự chăm sóc, quan tâm, yêu quý, nhiệt tình và đầy hào hứng của mọi người, đặc biệt là bà nội Annie đã khiến Margaret rung động. Nghe thì tưởng như vô lý nhưng cô nàng “tổng biên tập phù thủy” này lại là một trẻ mồ côi, bản thân cô rất trân trọng tình cảm gia đình. Margaret vừa lạnh lùng, độc đoán song điểm yếu - cũng là điểm mạnh của cô - chính là tình yêu và sự khao khát một mái ấm thật sự.

Thế nên, dù tương lai sẽ bị trục xuất khỏi Mỹ là không tránh khỏi nhưng Margaret vẫn quyết định từ bỏ tất cả, cô không thể lừa dối những người đã quá yêu thương cô. Giữa cái lúc tình cảm đã nảy nở trong lòng Andrew thì Margaret lại để lại bộ váy cưới, bỏ anh một mình giữa kho thóc với bao khách khứa để cùng nhân viên phòng quản lí nhập cư lên thuyền rời khỏi Sitka.

Giờ thì ai cũng đoán được Andrew sẽ đuổi theo Margaret nhưng bằng cái cách mà nữ đạo diễn Anne Fletcher sử dụng thì chắc chỉ có một. Khi Margaret bỏ đi, hai cha con Andrew lại mâu thuẫn gay gắt. Người cha tiếp tục mắng mỏ con trai không biết làm gì cho cuộc sống của anh, còn người con thì cho rằng cha chưa bao giờ thực sự hiểu mình. Lúc này, sợi dây “gia đình” đã chứng minh giá trị của nó, mà người đại diện là bà nội Annie. Bà đã giả vờ bị một cơn đau tim khiến cả nhà hoảng hốt rồi tranh thủ lúc “sắp trút hơi thở cuối cùng”, bà bắt hai cha con Andrew phải hứa sẽ tha thứ và học cách hiểu nhau hơn, chưa kể, bà còn khiến con trai phải đồng ý cho Andrew và Margaret đến với nhau.

Những điều làm nên bộ phim

Ở “Lời cầu hôn”, ta thấy mọi thứ trong phim đều được khai thác vừa phải, hài hước nhưng không quá lố bịch, lãng mạn nhưng không sến sẩm, vẫn có những khoảng lặng riêng nhưng không quá trầm hay bi lụy. Đóng góp vào thành công không nhỏ ấy là một dàn diễn viên gạo cội đầy tài năng cùng màn diễn xuất ăn ý của Sandra Bullock và Ryan Reynolds - trong vai Margaret và Andrew. Vai diễn Margaret đã đem tới cho Sandra Bullock một đề cử Quả Cầu Vàng dành cho “nữ diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất”, một giải Teen Choice Award dành cho hạng mục Choice Summer và giải Nữ diễn viên xuất sắc nhất tại People’s choice Award năm 2009.

Bên cạnh cặp đôi nhân vật chính, bà già nhí nhảnh cũng chiếm được rất nhiều cảm tình của khán giả, là bà nội Annie của Andrew do Betty White thủ vai. Nữ diễn viên được mệnh danh là “biểu tượng truyền hình trong 60 năm” đã đạt tổng cộng 6 giải Emmys và hai giải của American Comedy Award trong suốt cuộc đời sự nghiệp của mình. Bà đã tạo ra hình ảnh một người bà hài hước, vui vẻ, đầy lòng trắc ẩn và sự cảm thông. Mọi biến cố trong gia đình đều được bà xử lí một cách thông minh, nhẹ nhàng hiếm có.

Người ta thấy một bà nội hiện đại khi nhất định bắt hai cháu phải ngủ chung phòng, tất nhiên là còn kèm theo chiếc chăn “làm em bé” để mong mau có chắt bế bồng ; một bà nội lưu giữ những giá trị truyền thống từ kỉ vật cũ của gia đình nhưng vẫn tham gia vào màn múa thoát y một cách hào hứng ; một bà nội vô tư, yêu thiên nhiên cây cỏ, mặc áo choàng múa may giữa rừng … Và vẫn là một bà nội ấy, nhưng đầy vẻ mưu mô, ma lanh khi đứng ra dàn xếp mâu thuẫn giữa con trai và cháu nội bằng một màn kịch hấp hối có một không hai.

Biết bao nhiêu sắp đặt và chi tiết ấy đủ cho khán giả thấy ngoài ý nghĩa của một lời cầu hôn, của một tình yêu diễn ra tự nhiên, chậm nhiệt, dần dần thấu hiểu nhau thì bộ phim còn chứa đựng trong nó rất nhiều giá trị nhân văn. Yêu - là điều kì diệu không chỉ giữa hai người mà còn là sự gắn kết bền chặt của gia đình và những người xung quanh chúng ta.



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1637 Posted : Thursday, September 2, 2021 8:32:50 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)


Boyband thập niên 1990 - Bao giờ cho đến ngày xưa

14/08/2021 - Gia Trình / RFI
Thập niên 1990 được coi là thời kỳ hoàng kim của các boyband, nhóm nhạc gồm các chàng trai. Không chỉ hấp dẫn về ngoại hình, các boyband đều khai thác triệt để các ballad dễ nghe, vũ đạo trau chuốt để đốn tim giới trẻ một thời. Họ để lại những ký ức âm nhạc đẹp đẽ nhất trên hai phương diện: nghe và nhìn.

Bàn tay các ông bầu âm nhạc

Thập niên 1960, có lẽ nhóm The Beatles đặt khái niệm nền móng cho các boyband và các sáng tác cho giới trẻ (teen pop). Những sáng tác đầu tay của nhóm rất trẻ trung, tươi sáng, sôi động về tình yêu như She loves you, I want to hold your hands. Theo thời gian, bốn chàng trai The Beatles trưởng thành, đi theo pop-rock có độ chín và bỏ lại mảnh đất teen-pop trống trải trong thời gian dài.

Đến cuối thập niên 1980, nhóm nhạc New Kids On The Block (NKOTB, Những chú nhóc trên khu nhà) làm mưa làm gió trên sân chơi teen-pop. Họ mê hoặc giới trẻ, đặc biệt các thiếu nữ nhờ các bản hit pop-dance, R&B phong cách đường phố như I’ll be loving you (forever), Step by Step. Trên đỉnh vinh quang, ban nhạc 5 chàng trai này có lúc kiếm tới 1 triệu đô la/tuần. Mặc dù nhóm NKOTB chưa châm ngòi cho làn sóng boyband bùng lên, thành công của nhóm lọt vào mắt xanh của ông bầu, doanh nhân Lou Pearlman. Đáng tiếc là nhóm nhạc này đã tan rã sau năm 1994 khi ra mắt album Face the Music (Đối diện âm nhạc).

Đầu thập niên 1990, một số nhóm boyband cũng khá thành công như Boyz II Men hay All 4 One. Nhưng các thành viên các nhóm là người da màu, chủ yếu tập trung nhạc R&B nên không tạo được hiệu ứng lan tỏa lớn. Vấn đề phân biệt chủng tộc và giới tính trong âm nhạc vẫn còn nặng nề.

Ông bầu Lou Pearlman sớm nhận ra vấn đề, chắt lọc thành công của nhóm NKOTB để tạo ra sản phẩm âm nhạc mới mẻ. Cuối năm 1993, Lou hợp tác với Johnny Wright, cựu quản lý nhóm NKOTB, để đầu tư lớn vào âm nhạc. Họ tổ chức casting trên quy mô lớn, chiêu mộ nhân tài để tạo được cơn sốt New Kids thuở nào. Không phụ lòng nhà tài phiệt âm nhạc, nhóm Backstreet Boys gồm 5 chàng trai Kevin, Nick, Bryan, AJ, Howie đã ra đời. Cuối năm 1996, Backstreet Boys (BSB) tạo được cú đột phá đầu tiên nhờ bản hit Quit Playing Games with my hearts (Đừng đùa với trái tim). Bài hát nhanh chóng đạt hạng bạch kim tại Mỹ, chiếm thiện cảm giới trẻ tại Bắc Mỹ, Canada và lan ra toàn cầu. Đến giờ, BSB vẫn là hiện tượng sang trấn làng âm nhạc với hơn 100 triệu album được tiêu thụ, phát sóng rộng rãi trên hơn 45 nước.

Ngay sau quả trứng vàng BSB, Lou cũng bắt tay êkip để nhân đôi thành công bằng cách lập ra nhóm NSYNC. Nhóm NSYNC thành lập năm 1996 tại Orlando, Florida gồm 2 thành viên cốt cán, Justin Timberlake và JC Chasez. Nhóm chiêu mộ thêm 3 thành viên khác Chris Kirkpatrick, Joey Fatone, Lance Bass. So với Backstreet Boys, NSYNC phải mất một thời gian mới nổi tiếng. Các album của NSYNC được quảng bá tại châu Âu trước khi phổ cập tại Mỹ. Có lẽ đây là chiến thuật của nhà tài phiệt và êkip sản xuất để giảm cạnh tranh của “đàn gà nhà”. Cùng với BSB và NSYNC tại thị trường Bắc Mỹ, các nhóm nhạc Take That, Westlife và Boyzone góp phần kiến tạo đỉnh sóng của các nhóm boyband tại thị trường Anh, Ailen từ nửa cuối thập niên 1990.

Những nhân tố thành công của làn sóng boyband

Đến giờ phút này, nếu các boyband tái hợp chưa chắc họ đạt được thành công rực rỡ như cuối thập niên 1990. Vậy yếu tố nào tạo nên cơn sóng thần như Backstreet Boys hay NSYNC ?

Thứ nhất, yếu tố kiên quyết là đội ngũ thanh niên trẻ trung, vũ đạo sôi nổi (và đừng quên phải là da trắng). Đối với các nhóm boyband, vũ đạo gần như kỹ năng bắt buộc khi âm nhạc thời kỳ này mang đậm ảnh hưởng kênh truyền hình MTV. Thứ hai, họ có khả năng hòa thanh, phối bè khá ăn ý, tạo được hiệu ứng đồng đều. Thứ ba, các nhà sản xuất khai thác triệt để thể loại âm nhạc teen-pop dễ nghe: dance-pop, R&B, hip-hop. Hơn thế, ca từ ủy mị, vô cùng hấp dẫn giới trẻ lúc đó nhờ các ballad ngọt ngào về tình yêu. Điển hình như ca khúc As long as you love me của nhóm BSB với phần lời “Anh không quan tâm em là ai, em đến từ đâu. Chỉ cần em yêu anh. Cuộc đời anh do em định đoạt”.

Cuối cùng, điều rất quan trọng phải khẳng định rằng các boyband gặp thời. “Thiên thời”: Ở thập niên 1990, kinh tế hưng thịnh nhất trên toàn cầu, đặc biệt hai cường quốc Anh, Mỹ không lún sâu vào khủng hoảng và bệnh dịch. “Địa lợi”: Mảnh đất teen-pop còn quá màu mỡ, bị bỏ ngỏ nhiều năm kể từ thời The Beatles hay NKOTB. Khoảng trống đó được New Kids on The Block phủ sóng ở thập niên 1980 và phải đợi đến cuối thập niên 1990 mới có thể bùng nổ. “Nhân hòa”: Thế hệ Millenials (Thiên niên kỷ), sinh từ năm 1981 đến 1996 với thói quen sử dụng internet, điện thoại di động và mạng xã hội. Họ dường như thích những ca khúc dễ nghe, trữ tình, tiết tấu nhanh gọn. Đồng thời, giáo dục và chất lượng sống cải thiện tại các nước phát triển cũng ảnh hưởng lớn tới gu nghe nhạc.

Sự ra đời các boyband như BSB, NSYNC đáp ứng gu văn hóa của thế hệ Thiên niên kỷ. Cơn sóng teen-pop được hậu thuẫn bởi nhiều yếu tố thuận lợi nên có sức tấn công mạnh mẽ trên diện rộng khắp toàn cầu.

Sự thoái trào, tan rã và sự nghiệp solo

Ngạn ngữ Anh - Mỹ có câu Easy come, easy go (Dễ đến thì dễ đi). Sau 5 năm hưng thịnh của các boyband từ 1995 đến 2000, làn sóng boyband nhanh chóng thoái trào. Không chỉ vậy, các ông bầu, trong đó có Lou Pearlman, dính phải tranh chấp bản quyền và pháp lý với các nhóm boyband. Về phương diện âm nhạc, giới phê bình cho rằng các boyband không có nhiều nét mới mẻ và giữa các nhóm có sự cạnh tranh gắt gao.

Cũng có ý kiến cho rằng nhóm boyband tan rã vì các thành viên chủ chốt theo đuổi sự nghiệp solo. Đơn cử, “gã trai hư” Robbie Williams lại làm nên chuyện khi tách khỏi nhóm Take That. Hay Justin Timberlake hoàn toàn vùng vẫy solo khi tách khỏi NSYNC. Tuy nhiên, các boyband như Backstreet Boys, 98 Degrees, Westlife đều không sản sinh các ngôi sao solo xuất sắc. Do đó, sau nhiều năm, các nhóm lại tìm cách tái hợp, nhằm khôi phục ánh hào quang năm nào. Đơn cử, như Take That hay Westlife đều đoàn tụ sau nhiều nỗ lực solo không thành công.

Gần đây nhất, năm 2021, nhóm BackStreet Boys và NSYNC ra tuyên bố sẽ biểu diễn chung tại Los Angeles với tên gọi Back-Sync. Đây hứa hẹn là trải nghiệm mới mẻ cho khán giả muốn thưởng thức “lẩu thập cẩm” boyband. Dự án này gợi nhớ tới các siêu phẩm bom tấn của hãng Marvel Studio vì họ tập hợp hết các siêu anh hùng trong cùng một bộ phim.

Sau 20 năm, thị hiếu khán giả đã hoàn toàn thay đổi. Thời gian sẽ trả lời liệu dự án hợp tác các boyband có thành công như mong đợi không. Ít nhất các khán giả trung thành sẽ có món ăn mới mẻ hơn là nghiền ngẫm những ký ức âm nhạc một thời.

(Theo All Music, Rollingstone)



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1638 Posted : Friday, September 3, 2021 3:23:16 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)


Những tình khúc Pháp đẹp nhất qua giọng ca Michel Delpech

21/08/2021 - Tuấn Thảo / RFI
''Photos Souvenirs'' (Những tấm hình kỷ niệm) là tựa đề tập nhạc của Michel Delpech được trình làng vào mùa hè năm 2021. Đây là album tưởng niệm đầu tiên phát hành đúng 5 năm sau ngày nam danh ca người Pháp qua đời (đầu năm 2016) vì bệnh ung thư ở tuổi 69. Tuyển tập chọn lọc này bao gồm 11 nhạc phẩm ăn khách tiếng Pháp do Michel Delpech ghi âm cách đây gần hai thập niên.

Theo thông tin từ phía gia đình của nam danh ca, vào năm 1996, Michel Delpech đã nhận lời tham gia vào dự án thu thanh cho bộ đĩa ''Les plus belles Chansons Françaises'' (Những bài hát Pháp đẹp nhất) phản ánh nửa thế kỷ sáng tác nhạc Pháp từ năm 1946 đến năm 1996.

Dự án khá quy mô này bao gồm toàn là những bản ghi âm lại (cover) tập hợp rất nhiều giọng ca nổi tiếng, trong đó có Nicole Croisille, Guesch Patti, Gilbert Montaigné, Richard Anthony, Serge Lama... trình bày lại ca khúc của các nghệ sĩ đàn anh hay là các tác giả cùng thời. Về phần mình, Michel Delpech chủ yếu chọn trình bày các tác giả mà ông hằng ngưỡng mộ kể cả Gainsbourg, (Je suis venu te dire que je m'en vais / Nói với người ta ra đi), Nino Ferrer (Le Sud / Miền Nam) hay Michel Berger (Quelques mots d'amour / Vài lời thương yêu).

60 ca khúc ghi âm cho bộ đĩa Nửa thế kỷ nhạc Pháp

Theo lời vợ (Geneviève) của nam danh ca, Michel Delpech đã dành hơn hai tháng để ghi âm khoảng 60 bản nhạc cho bộ đĩa gồm 30 CD này. Để tưởng nhớ danh ca quá cố, gia đình ông đã chọn lựa trong 60 bài này, khoảng 10 ca khúc mà sinh thời ông cho là hay nhất. Các bài hát (ghi âm vào năm 1996) nay được hòa âm lại qua tài phối khí của Dominique Blanc-Francard, kỹ sư âm thanh từng đoạt giải thưởng âm nhạc Pháp Victoires de la Musique vào năm 1992 nhờ cộng tác với David McNeil và Julien Clerc.

Gia đình của nam danh ca đã mượn lại tựa đề bài hát ''Photos Souvenirs'' (Những tấm hình kỷ niệm) của tác giả William Sheller để làm chủ đề cho tuyển tập chọn lọc của Michel Delpech. Bản thân ông, lúc sinh tiền vừa là ca sĩ kiêm tác giả, cho nên Michel Delpech chọn những bài hát của những nhà soạn nhạc mà ông mến phục tài năng. Theo lời con trai của nam danh ca (Emmanuel Delpech), lúc còn sống, bố anh đặc biệt yêu chuộng nhạc phẩm ''Quelques mots d'amour''. Michel Delpech khâm phục tài nghệ soạn giai điệu cũng như đặt ca từ của Michel Berger, dùng những lời lẽ rất đơn giản để diễn đạt chiều sâu nội tâm. Và ông từng cho biết ông ước gì viết được một bài hát như bài ‘‘Quelques Mots d’Amour’’ mà sau đây là phần phóng tác.

Nhìn mọi người xung quanh ; Mà vẫn như thiếu vắng ; Chút cảm giác hiu quạnh ; Cho hồn thêm vị đắng

Nhịp tim vẫn êm đềm ; Nhẹ đập chưa thay đổi ; Không gì xoa dịu nổi ; Tiếng nhạc buồn sâu đêm

Chỉ cần thiếu một người ; Vũ trụ vắng tất cả ; Ghép tim mạch hóa đá ; Đành muộn mất trọn đời

Chợt nghe hồn hóa bướm ; Vươn cánh tới sao trời ; Yêu thương chỉ mong đợi ; Nhắn đôi lời mà thôi

Trong số 10 ca khúc do Michel Delpech ghi âm lại, ngoài Gainsbourg, Sheller và Berger (Quelque chose de Tennessee / Một chút gì của Tennessee), còn có Michel Jonasz, Philippe Chatel, Julien Clerc, Alain Souchon hay Laurent Voulzy (Coeur Grenadine / Trái tim ngọt ngào), đa số đều là nghệ sĩ chủ yếu là phái nam của cùng một thế hệ. Album này cho thấy cái nhìn tinh tế của Michel Delpech về các bạn đồng nghiệp, nhưng đó cũng là cái thời (vàng son) của chính mình, khi giọng ca của Michel Delpech ngự trị trên đỉnh cao cho tới những năm 1984-1985, trước khi thoái trào và nhường chỗ lại cho thế hệ ca sĩ / tác giả Pháp cực thịnh những năm 1980 như Goldman, Berger hay Balavoine…

Những tấm ảnh kỷ niệm : Lời lẽ đơn giản, chiều sâu nội tâm

Như nam danh ca Michel Delpech có lần nhận xét : Bài hát, tiếng nhạc là một thứ gì đó có vẻ không quan trọng mà thật ra lại rất hữu ích. Đến một ngày nào đó, khi ta không còn được nghe những giai điệu thân quen trong cuộc sống, thì lúc ấy ta mới cảm nhận được sự trống vắng. Nói cách khác, có những bài hát đã đi vào tâm hồn từ lúc nào không hay, ngay cả khi chúng ta không chú tâm lắng nghe.

Sinh thời, Michel Delpech là một ca sĩ kiêm tác giả ăn khách những năm 1960 và 1970, khi thực hiện phần hòa âm lại, nhóm sản xuất giữ nguyên chứ không chỉnh sửa giọng ca của ông, khác hay chăng là ở trong cách phối khí mới, không quá tân kỳ hiện đại, nhưng đủ để nhấn mạnh ý tứ của tác giả bài hát nguyên tác : cách đọc của Michel Delpech cho thấy ông hiểu thấu lối dùng chữ của bạn đồng nghiệp, cách hát của ông vì thế có chiều sâu mà vẫn tự nhiên.

Một số ca khúc trên tuyển tập này từng là những sáng tác về đam mê đôi lứa, tình yêu đầu đời (''Fais moi une place'' hay là ''Coeur Grenadine'') Michel Delpech hát lại ở độ tuổi hồi xuân, với những tình cảm thiết tha của một người từng trải, biết đau khổ mất mát là như thế nào. Ngay trong những tình khúc thật buồn với nỗi đau vô hạn, giọng ca của ông vẫn thanh thản, thắm thiết dịu dàng. Tựa như một nhà nhiếp ảnh với lối quan sát tường tận tinh tế, với ánh mắt bao dung trìu mến, Michel Delpech nắm bắt được những cung bậc cảm xúc thật gần gũi, để rồi truyền tải những khoảnh khắc đẹp nhất của một đời người.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1639 Posted : Saturday, September 4, 2021 1:39:45 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Chopin, những áng thơ trên phím ngà

04/09/2021 - Hoài Dịu / RFI
Trái ngược với những etude các thời kỳ trước, bản nhạc chỉ tập trung phát triển, rèn luyện kỹ thuật chơi đàn, thì etude ở giai đoạn âm nhạc lãng mạn như của Chopin hay Liszt là những tác phẩm nghệ thuật, được cô đọng từ nhiều cảm xúc khác nhau. Ấy là những áng thơ rạng rỡ, những hình ảnh như mơ, như thật, để lặng ngắm, để giữ chúng cho riêng mình.

Mười hai bản Etude , tập Op.25 mà Chopin đề tặng nàng Marie d’Agoult, người vợ sắp cưới của ông, một lần nữa minh chứng cho tài năng viết thơ bằng nhạc của nhạc sỹ xuất chúng đất Ba Lan.

Mở đầu tập này, bản Etude số 1 (op.25) « Dòng suối » hay còn gọi là « Etude của đàn harpe » với vô số dải hòa âm mờ ảo. Ở đây Chopin muốn ưu tiên kỹ thuật chơi hợp âm rải song song với giai điệu khá bay bổng ở phần tay phải. Theo như Schumann, nhà soạn nhạc lãng mạn người Đức, thì khi bản nhạc kết thúc, ta có cảm giác như vừa thấy điều gì đó nửa hư nửa thực, thoắt chạy trốn mất mà ta không kịp bắt lấy nó.

Niềm an ủi và những nốt nhạc lỗi

Được mệnh danh « Niềm an ủi », bản số 2 giọng fa thứ (Op.25) mà Schumann gọi nó là « bài hát của một đứa trẻ đang mơ ngủ ». Dưới nét lướt bồng bềnh của tiết tấu chùm ba, những nốt nhạc dịu nhẹ tựa theo đó mà trôi vào giấc nồng của bé. Cũng như những Etudes khác của Chopin, bản này là một trong nhiều lựa chọn thường xuyên trong các chương trình hòa nhạc. Bởi đó là sự hợp nhất hoàn hảo giữa yếu tố nghệ thuật và thử thách kỹ thuật.

Lúc sinh thời, Chopin không bao giờ có ý định gọi tên hình tượng âm nhạc cụ thể cho từng đứa con tinh thần của mình. Tuy nhiên mỗi giọt âm thanh, mỗi ý nhạc của ông luôn khiến người nghe có cảm giác như xem một bức họa , đọc một áng thơ, liên hệ một hình ảnh nghệ thuật nào đó. Nói cách khác, ông có một tiếng đàn rất riêng, một thứ ngôn ngữ cô đọng từ trái tim khát khao yêu thương và một tâm hồn thanh tao mang tên Chopin.

Etude số 5 (Op.25) đôi khi còn được gọi là « Nốt nhạc lỗi », là bởi hòa thanh của étude này có rất nhiều âm nghịch tai được đưa vào một cách cố ý. Tác phẩm có hai phần tương phản : phần thứ nhất với tiết tấu hoạt bát, có nhiều nốt chõi, đưa người nghe về với ký ức tuổi thơ, là nét mặt rạng ngời của những đứa trẻ đang nô đùa. Phần thứ hai, giai điệu thơ mộng (ở tay trái) trên nét chạy rộng dài (ở tay phải), là cánh đồng đầy gió, là chân trời xa vợi, chất chứa bao ước mơ thơ trẻ sáng trong.

« Đôi khi mỏng manh tựa làn khói, khi thì rung động hạnh phúc, khi lại tinh khiết như pha lê, không thì ồn ào bận rộn ». Tất cả được gói ghém trong bản Etude số 6 (Op.25) giọng son thăng thứ, còn gọi là Etude « Quãng ba ». Trong suốt toàn bộ tác phẩm, tay trái chạy quãng ba khi thì ở gam bán cung (gamme chromatique) khi lại ở gam nguyên cung (gamme diatonique). Cái khó ở đây là làm sao để không bị lẫn lộn giữa hai kiểu gam và việc sử dụng ngón tay thế nào cho phù hợp với từng gam. Trong khi đó, tay trái ngân nga giai điệu đồng quê : một điệu nhảy ngẫu hứng trên thảo nguyên ắt chăng sẽ buông đi những gánh nặng , lo âu thường nhật ?

Những cánh bướm đồng xanh

Một điểm lặng giữa ốc đảo étude thơ Chopin, bài số 7 (op.25) vang lên như một bản nocturne chậm rãi, u tối. Nỗi hoài niệm về cố hương với những đối âm xót xa và lời muộn phiền tuôn ra từ những ngón tay trên phím ngà. Bản nhạc này, đôi khi được người ta gọi tên là « Trên đàn cello », do bởi giai điệu mang tính tự sự viết trên các nốt trầm. Một số nhạc sỹ sau này đã chuyển soạn nó thành tác phẩm song tấu cho đàn cello và piano. Mặc dù mang hơi thở nocturne nhưng bản thân vẫn giữ chức năng của một étude, cho phép người nghệ sỹ rèn luyện kỹ thuật chơi nhạc phức điệu, đối âm xen kẽ với vài tính năng điêu luyện khác.

« Cánh bướm » là tên gọi của Etude số 9 (op.25), một bản nhạc nhanh và nhẹ nhàng được yêu chuộng nhất. Độ khó về kỹ thuật của bài này nằm ẩn sau tiết nhịp 2 /4, trong đó tay phải chơi hợp âm không ngừng nghỉ, xen kẽ với quãng tám, lúc phải đánh nhấn, liền tiếng(légato), lúc thì nảy ngón tay (staccato). Thế nên, để chinh phục bản này, người chơi phải rèn luyện sư mềm mại và dẻo dai đặc biệt ở phần cổ tay để đạt tới ngưỡng mà khi âm thanh thoát ra, nghe tựa hồ như những cánh bướm mỏng manh dập dờn, đậu rồi lại bay giữa đồng cỏ xanh. Một điều thú vị nữa mà không phải ai cũng biết, không hiểu do vô tình hay cố ý mà motif âm nhạc « Cánh bướm » của Chopin dường như cùng nguồn cảm hứng với bản Sonate giọng son trưởng, chương 3, opus 79 của nhà soạn nhạc Beethoven.

Chopin chưa bao giờ có ý nghĩ về một tác phẩm thơ văn khi đặt bút sáng tác. Tuy nhiên, mỗi nốt nhac, mỗi câu đàn vang lên là bài thơ rất đẹp. Dù có buồn bã hay hạnh phúc, dù là nước mắt hay tiếng cười, những trang thơ đó cứ theo hoài nhân thế, để rồi vỗ về , để mà thủ thỉ như một người bạn đường của chúng ta trên quãng đời này.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1640 Posted : Sunday, September 5, 2021 12:48:39 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,409

Thanks: 6948 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

« Cuộc đính hôn lâu dài » : Những sắc màu tương phản khó phai

03/09/2021 - Lệ Thu / RFI
Không lâu sau tác phẩm điện ảnh kinh điển “Cuộc đời tươi đẹp của Amélie Poulain”, đạo diễn Jean Pierre Jeunet, một lần nữa, lại đạt tới những thành công vang dội cùng “Cuộc đính hôn lâu dài” vào năm 2004 với 12 đề cử César (giành 4 giải) và 2 đề cử Oscar.

Bộ phim được liệt vào dạng chủ đề lãng mạn chiến tranh, hư cấu một câu chuyện về sự tìm kiếm gần như tuyệt vọng của một người phụ nữ trẻ tên Mathilde với chồng chưa cưới của cô là Manech, người có thể đã bị giết chết trong thời gian chiến tranh thế giới thứ I, ngay trước trận Somme. Để rồi từ những tìm hiểu và điều tra của Mathilde, rất nhiều sự thật, nhiều cảnh huống về cuộc chiến và cả số phận những người trong và ngoài cuộc được phơi bày.

Dựa theo cuốn tiểu thuyết cùng tên của tác giả Sebastien Japrisot, xuất bản năm 1991, nhưng “Cuộc đính hôn lâu dài” đã tạo nên một dấu ấn riêng, gần như đứng độc lập được với tác phẩm gốc, bởi bức tranh đặc sắc mà Jeunet đã vẽ nên. Trong suốt hơn 2 tiếng đồng hồ, người xem như được chiêm ngưỡng một tuyệt phẩm với đầy những sắc màu tưởng như tương phản, nhưng lại vô cùng đồng điệu và hòa quyện vào nhau. Bộ phim với khối lượng nhân vật khá nhiều, vặn xoắn, các tình tiết thay đổi liên tục, đưa đẩy khán giả từ phán đoán này tới phán đoán khác, lúc vui, lúc buồn cùng hành trình đi tìm người yêu của Mathilde để rồi cuối cùng, tất cả thở phào khi, như một câu chuyện cổ tích, nó đã có một Happy Ending đúng nghĩa.

Chiến tranh nhuốm màu đen tối

Cho dù ở đâu hay vào thời điểm nào hay đối với bất cứ dân tộc nào thì chiến tranh luôn mang màu sắc đen tối nhất. Mở đầu phim, Jeunet đã đẩy người xem tới chiến trường Bingo Crépuscale ác liệt, với hình ảnh xác một người lính bị xé làm nhiều mảnh, với mưa bùn ngập ngụa, khói của khí độc và năm người lính Pháp đang trên đường bị đưa đi xử tử. Họ bị buộc tội đào ngũ. Đó là một người thợ mộc đa tình, một anh thợ hàn thẳng tính luôn muốn thức tỉnh người khác rời khỏi cuộc chiến, một nông dân dũng cảm cứng cỏi nhất, một gã ma cô thành thị giỏi lừa đảo dối trá và cuối cùng là Manech, anh chàng mới bước qua tuổi 20, làm nghề đánh chuông ở nhà thờ. Tất cả họ đều, một cách vô tình hay cố ý, làm mình bị thương để rời khỏi cuộc chiến càng nhanh càng tốt. Cái cuộc chiến mà với họ và với cả những người khác là thứ nhuốm màu tối thẫm vô vọng, là những bữa ăn như cám heo và là thân thể đồng đội nổ tung reo rắc khắp các chiến hào.

Nhưng họ không bị xử tử như một quân nhân, mà lại bị đẩy ra ngoài nơi mà người ta gọi là “No man’s land”, là vùng đất ranh giới giữa hai chiến tuyến của Pháp và Đức. Sĩ quan cấp trên của họ, Lavrouye, cảm thấy vui vẻ hơn, nếu họ bị quân Đức săn đuổi và bắn nổ tung như pháo hoa. Lại thêm một dải màu đen được phơi bày ở đây, đó chính là sự phi nhân đạo trong một bộ phận những người cầm đầu, những kẻ ăn trên ngồi trốc, chưa từng ra trận, chưa từng chịu cơn đói khổ cùng cực và cái chết cận kề, ngay cả khi cuộc chiến đang ở vào giai đoạn khốc liệt nhất.

Cũng chính là Lavrouye đã xé đi quyết định tha bổng của tổng thống dành cho năm người lính khốn khổ ngay sau đó, đẩy họ vào tận cùng tuyệt vọng. Chẳng có một lý do chính đáng nào được đưa ra cho hành động của vị sĩ quan này, ngoài câu “thích thì làm”.

Đau đớn nhất là biết bao mưu mô toan tính để thoát khỏi cuộc chiến đều không thành, kể cả khi, bạn thân của anh chàng thợ mộc Bastoche sẵn sàng đưa vợ mình vào tay Bastoche, cố gắng để vợ có thai đứa con thứ 6 và anh ta sẽ được trở về nhà. Nhưng người vợ không những không có thai mà trớ trêu thay, cô còn nảy sinh tình cảm với Bastoche và phản bội chồng theo đúng nghĩa. Cuộc chiến đã khiến cho những mất mát của họ không chỉ là mất đi một phần cơ thể, mà còn là một phần của trái tim với biết bao tổn thương ghi dấu mãi mãi.

Màu xanh hi vọng

Xen lẫn vào giữa những tối đen ấy là vài giây phút lóe lên màu xanh hi vọng, dù còn yếu ớt nhưng đủ để khán giả có thể nhìn thấy sự Yêu thương. Đó là lúc Manech được đầu bếp của đội “phục vụ” món bánh mì tẩm mật ong nướng cùng bát chocolate trắng thượng hạng trước khi bị đẩy ra vùng đất “No man’s land”. Là lúc ngay giữa cuộc chiến căng như dây đàn, máy bay địch lượn vòng vòng trên trời và những nòng pháo chĩa thẳng về phía quân đội Pháp, Manech vẫn kiên nhẫn khắc lên cái cây duy nhất còn đứng vững giữa chiến trường ba chữ M, có nghĩa là “Mathilde cưới Manech”. Khát khao được trở về, khát khao Yêu và Được Yêu có lẽ là động lực vô hình giúp chàng trai trẻ vượt qua tất cả những gì là điên cuồng nhất của cuộc chiến.

Để rồi, một màu xanh thật sự tràn qua phủ lên thứ rêu hi vọng, khi Mathilde nhận được tin Manech đã chết và cô hoàn toàn không tin vào điều đó. Đến đây, khán giả cảm thấy một Amélie Poulain khác, cũng với vai diễn tuyệt vời của nữ diễn viên Audrey Tautou, nàng thơ của điện ảnh Pháp, trong vai một đứa trẻ mồ côi có tật nói chuyện một mình và một bên chân tập tễnh vì hậu quả của bệnh bại liệt. Vẫn với đôi mắt to, long lanh, sáng bừng hi vọng, Mathilde chưa bao giờ ngưng tin tưởng là Manech còn sống. Cô giữ vững niềm tin ấy ngay cả khi hết thảy mọi người đều cho rằng anh đã chết và những việc cô đang làm là vô nghĩa.

Mathilde dốc đến những đồng tiền cuối cùng mà cha mẹ để lại cho mình để đi khắp nước Pháp tìm tung tích những người có thể kết nối câu chuyện của chồng chưa cưới, thậm chí thuê cả thám tử tư giỏi nhất ở Paris. Niềm tin mãnh liệt ấy đã lan tỏa khiến cho nhiều người cảm thông và muốn giúp cô hơn.

Trên chặng đường tìm kiếm của Mathilde, biết bao nhiêu mặt tối của cuộc chiến, cũng là bao nhiêu thân phận người đàn bà được phơi bày. Người bị chồng đẩy vào tay bạn thân và cuối cùng trở thành ngoại tình. Người vì khao khát trả thù mà lần lượt giết những kẻ đã gián tiếp, hoặc trực tiếp hại chết người tình của mình như là Tina Lambordi, bạn gái của tay ma cô thành thị, để rồi sau đó phải đối mặt với án tử hình bị chém đầu. Thông qua những câu chuyện này, người ta thấy rất rõ ràng chiến tranh không chỉ ác liệt ở trên chiến trường, mà nó còn len lỏi vào cuộc sống, biến chúng trở nên tồi tệ ở bất cứ phương diện nào.

Những bước chân tập tễnh của Mathilde đi tới đâu là gieo màu xanh hi vọng tới đó. Càng nhiều người hi vọng thì cơ hội Manech của cô còn sống lại càng tăng lên. Có những lúc tưởng như cô sẽ gục ngã khi vị thám tử đưa tới thông tin về ngôi mộ có đề tên Manech, khi nhiều nhân chứng nói đã chứng kiến cái chết của anh, nhưng không, số phận vẫn mỉm cười với Mathilde bởi cô vẫn gắng gượng đứng lên và nỗ lực tìm kiếm không ngừng nghỉ.

Màu vàng yêu đương tràn ngập

Gam màu sắc chủ đạo của “Cuộc đính hôn lâu dài” là màu vàng của yêu thương ấm nồng. Phần lớn trong hơn 2 tiếng đồng hồ, ngoài những trường đoạn trên chiến trường, bộ phim trải một màu vàng óng ả như mật ong, tươi sáng, đầy hi vọng và đẹp đẽ. Tình Yêu đã đem đến cho Manech sự tự tin và những suy nghĩ tích cực nhất. Trong lúc mọi người đều cảm thấy tồi tệ khi sắp bị vứt ra vùng ranh giới giữa quân Pháp và Đức, thì chàng trai trẻ 20 tuổi này lại vừa ăn bữa ăn ngon lành cuối cùng, vừa nói rằng anh sẽ về nhà sau buổi hành quyết.

Nếu chú ý, khán giả sẽ thấy chiếc găng tay mà Manech được đồng đội tặng, chiếc găng tay len màu đỏ với những chấm trắng li ti được anh đeo vào bên tay phải. Đó là bàn tay Manech đã dùng để đặt lên bầu ngực Mathilde trong cái đêm đầu tiên họ ở với nhau trên ngon hải đăng. Bàn tay anh giữ chặt và cảm nhận trái tim cô. Manech vẫn tâm sự với đồng đội rằng “tim cô ấy đập trong bàn tay em”, có lẽ vì thế mà anh muốn chiếc găng tay sẽ giữ ấm cho nó, để mãi lưu giữ trái tim và tình yêu của Mathilde dành cho mình.

Hai người như là một đôi thanh mai trúc mã, thân thiết từ nhỏ cho tới lớn và dành cả tình cảm cho nhau. Họ chỉ biết đến nhau. Tình yêu lúc này như một liều thuốc thần kì để giữ cho Manech sống sau khi trúng một loạt đạn từ phía quân Đức và mắc cả chứng viêm phổi nặng. Hành trình tìm kiếm Manech của Mathilde và hành trình cố gắng giành giật sự sống của Manech đã được Tình Yêu đưa lối. Còn gì có thể mạnh mẽ hơn những xúc cảm vẫn luôn được nuôi dưỡng và nâng niu?

Chắc là không cần phải nhắc tới những gì Mathilde và Manech dành cho nhau khi gặp lại sau bao trắc trở, hi vọng rồi lại thất vọng rồi lại hi vọng. Chỉ biết là dù có bị mất trí nhớ hoàn toàn, thậm chí phải học đọc và viết từ đầu thì Manech vẫn nói một câu khi anh nhìn thấy Mathilde. “Em có đau khi bước đi không?” - câu nói mà anh đã nói lần đầu tiên khi anh thấy Mathilde tập tễnh trên đôi chân đã teo vì bại liệt ngày còn thơ bé, đứa lên 9, kẻ lên 10.

Thế là đủ hiểu, tất cả sẽ lại nở hoa, kết trái. Tất cả sẽ lại là một màu xanh hi vọng và vàng óng ả yêu đương, là dấu ấn khó phai trong mỗi chúng ta.



Users browsing this topic
Guest (10)
83 Pages«<80818283>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.