Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

86 Pages«<7980818283>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1601 Posted : Friday, June 25, 2021 1:02:43 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Viện Hàn lâm Mỹ thuật Pháp tôn vinh nhiếp ảnh gia Annie Leibovitz

25/06/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Năm 2021 là năm công nhận tài năng của giới nữ nghệ sĩ. Hôm 23/06 vừa qua, Viện Hàn lâm Mỹ thuật Pháp đã thông báo trao tặng một trong giải thưởng quan trọng nhất cho nhà nhiếp ảnh người Mỹ Annie Leibovitz. Đồng thời, Viện Mỹ thuật cũng đã bỏ phiếu chọn 3 phụ nữ Pháp làm thành viên trong các ban điêu khắc, kiến trúc và nhiếp ảnh.

Giải thưởng của Viện Hàn lâm Mỹ thuật, một trong 5 cơ quan trực thuộc Hàn Lâm Viện của nước Pháp không những công nhận tài năng của một nghệ sĩ trong lãnh vực chuyên môn của họ, mà còn đánh dấu thành tựu của cả một sự nghiệp. Cách đây hai năm, Viện Mỹ thuật đã thành lập giải thưởng William Klein, nhân danh nghệ sĩ người Mỹ gốc Do Thái đa tài, giỏi trong nhiều bộ môn nghệ thuật khác nhau (đạo diễn, biên kịch, họa sĩ, nhà tạo hình, video thử nghiệm, thiết kế đồ họa ….)

Nổi tiếng trong làng nhiếp ảnh quốc tế nhờ bộ sưu tập ảnh chụp New York 1954-1955, William Klein được giới chuyên nghiệp công nhận như một bậc thầy, tiên phong sáng tạo trong lãnh vực nhiếp ảnh đường phố. Cứ hai năm được trao một lần, giải William Klein không chỉ đơn thuần là một danh hiệu cao quý mà còn đi kèm với một phần thưởng bằng hiện kim trị giá 120.000 euro. Vào năm 2019, người đầu tiên đoạt giải này là nhà nhiếp ảnh người Ấn Độ Raghu Rai. Hai năm sau, đến phiên nữ nhiếp ảnh gia Mỹ Annie Leibovitz được xướng tên trên bảng vàng.

Bức ảnh chụp John Lennon và Yoko Ono : định mệnh trớ trêu

Sinh năm 1949 tại bang Connecticut, Hoa Kỳ, Annie Leibovitz thời còn trẻ theo học Trường cao đẳng Nghệ thuật San Francisco Art Institute. Lúc đầu bà chọn học nghề vẽ nhưng sau đó lại chuyển qua nghề nhiếp ảnh, sau khi được thầy cô khuyến khích nhờ có một nhãn quan khác lạ nhân các khóa thực tập sáng tác. Thành danh khi mới vào nghề nhờ chụp ảnh phóng sự cho "Rolling Stone", Annie Leibovitz trở thành cộng tác viên thường trực của tạp chí này trong vòng hơn một thập niên. Vào năm 1972, một tấm hình của bà đã đi vòng quanh thế giới sau khi được nhiều tờ báo lần lượt đăng lại. Đó là bức ảnh chụp Tổng thống Nixon lên trực thăng rời khỏi Nhà Trắng sau khi buộc phải từ chức do vụ Watergate.

Đến mùa đông năm 1980, Annie Leibovitz đã thực hiện điều mà bà gọi là một trong những phiên chụp ảnh quan trọng nhất trong sự nghiệp của mình : loạt ảnh chụp cặp vợ chồng nghệ sĩ Yoko Ono và John Lennon. Bức ảnh đăng trên trang bìa tạp chí Rolling Stone cho thấy một John Lennon trần như nhộng, trong tư thế nằm nghiêng, đang cuộn mình lại để ôm trọn Yoko trong vòng tay của mình. Phiên chụp ảnh này lại vô tình trở thành một khoảnh khắc định mệnh ''trớ trêu'', bởi vì đó lại là những tấm hình cuối cùng của nhạc sĩ kiêm thành viên sáng lập nhóm Tứ Quái The Beatles, mà không ai có thể biết trước. Đằng sau vòng tay tha thiết quấn quýt thương yêu, lại xuất hiện tiếng gọi oan nghiệt, ngàn thu vĩnh biệt. Chỉ vài giờ sau đó, tối hôm 08/12/1980, John Lennon bị bắn chết ngay trước cổng nhà. Ảnh chụp hai vợ chồng John và Yoko qua ống kính của Annie Leibovitz một lần nữa lại đi vòng quanh thế giới, tấm hình ''di chúc'' này được báo Rolling Stone đăng tải, sau ngày John Lennon bị sát hại.

Sau 13 năm hợp tác (từ 1970 đến 1983), Annie Leibovitz rời Rolling Stone về làm việc cho tuần báo Vanity Fair. Bà phát huy sở trường chụp ảnh chân dung các thần tượng điện ảnh và sân khấu. Một trong những cú đột phá ngoạn mục nhất vẫn là bức ảnh chụp đăng trên trang bìa Vanity Fair tháng 8 năm 1991, cho thấy ngôi sao màn bạc Demi Moore, khỏa thân và đang có bầu. Bức ảnh này cũng trở nên rất nổi tiếng, gợi hứng cho nhiều tác giả và nghệ sĩ khác sau này, trong đó có Banksy vào năm 2006.

Hai vế nổi bật trong sự nghiệp sáng tác nhiếp ảnh

Kể từ năm 1998 trở đi, Annie Leibovitz chuyển sang ngành nhiếp ảnh thời trang, nhưng trong suốt sự nghiệp của bà vẫn tồn tại hai xu hướng nổi bật : người phác họa chân dung các nhân vật nổi tiếng thời đại và đồng thời nhà nhiếp ảnh chuyên nắm bắt những khoảnh khắc riêng tư thân mật. Trong vế thứ nhất, Annie Leibovitz đã chụp chân dung của nhiều nhân vật nổi tiếng khác nhau, từ nữ hoàng Elisabeth Đệ Nhị đến tổng thống Pháp Emmanuel Macron, từ gia đình tổng thống Mỹ Barack Obama đến các nhân vật như ông hoàng nhạc pop Michael Jackson, vô địch quần vợt Serena Williams…

Những bức ảnh chụp chân dung (thường là theo ''đơn đặt hàng'') lại có những yếu tố ''đột xuất'', ngoạn mục nên dễ gây bất ngờ chẳng hạn như vô địch điền kinh nam Carl Lewis đi giầy cao gót, ngôi sao màn bạc da màu Whoopi Goldberg lại tắm trong bồn sữa trắng, như thể nhà nhiếp ảnh dùng chi tiết nghịch dụ để khuynh đảo bố cục hài hòa, nhưng đồng thời dùng góc nhìn để nhấn mạnh cá tính của nhân vật trong ảnh.

Còn trong vế thứ nhì, Annie Leibovitz có một lối tiếp cận phóng khoáng, đơn giản và tự nhiên hơn. Ảnh chụp (dù có chuẩn bị từ trước) vẫn không cho thấy một sự sắp đặt nào cả. Annie Leibovitz phát huy thêm loại ảnh chụp phản ánh thực tế thường ngày, kể cả những tấm hình chụp cuộc sống riêng tư của bà với người bạn đời là nữ tác giả Susan Sontag. Lấy cảm hứng từ thể loại nhiếp ảnh ''nhật ký'' này, Annie Leibovitz lại hoàn tất một tác phẩm để đời. Bộ ảnh chụp ''Women'' (Phụ nữ) tập hợp chân dung và hình ảnh của hàng trăm phụ nữ đời thường xuất thân từ mọi tầng lớp xã hội, sợi chỉ đỏ xuyên suốt vẫn là nghị lực vươn lên trong cuộc sống, dù họ ở bất kỳ nơi đâu, trải qua bất cứ hoàn cảnh nào

Công nhận sự đóng góp của phụ nữ trên mọi phương diện

Bản thân nghệ sĩ Annie Leibovitz rất hãnh diện khi được trao giải William Klein, vì thời còn trẻ bà ngưỡng mộ ông cũng như các bậc đàn anh lẫy lừng khác là hai nhiếp ảnh gia Robert Frank (người Mỹ gốc Thụy Sĩ) và Henri Cartier-Bresson (người Pháp). Một cuộc triển lãm ''toàn tập'' bao gồm nhiều bức ảnh chụp tiêu biểu cho các thời kỳ của Annie Leibovitz sẽ được tổ chức tại trung tâm Paris trong khuôn viên Hàn Lâm Viện từ ngày 27/10 đến 28/11/2021.

Qua việc trao giải thưởng này cho nhà nhiếp ảnh người Mỹ Annie Leibovitz và đồng thời bầu 3 phụ nữ Pháp làm thành viên, trong đó có cô Anne Poirier vào trong ban Điêu khắc, Anne Demogian trong ban Kiến trúc và Dominique Issermann ban nhiếp ảnh, Viện Hàn lâm Mỹ thuật đã tham gia vào một xu hướng thịnh hành trong những năm gần đây.

Đã đến lúc các định chế văn hóa công nhận đứng mức sự đóng góp của phụ nữ trên mọi phương diện của cuộc sống, kể cả sáng tác nghệ thuật. Các bảo tàng lớn như Louvre, Orsay hay Trung tâm Pompidou đều đã có nỗ lực đề cao vai trò của phụ nữ trong các bộ môn văn hóa. Một cách để nhắc nhở rằng mãi cho đến năm 1897, tức là hơn mọt thế kỷ sau cuộc Cách mạng Pháp, Trường Mỹ thuật quốc gia mới chịu mở cửa đón nhận nữ sinh.



AFP đoạt giải báo chí châu Á về việc đưa tin những khoảnh khắc đầu tiên về Covid-19 tại Vũ Hán

25/06/2021 - Thùy Dương / RFI
Hãng tin Pháp AFP hôm qua 24/06/2021 đoạt giải trong cuộc thi danh giá nhất châu Á dành cho báo chí về hoạt động đưa tin về những khoảnh khắc đầu tiên đại dịch Covid-19, bùng lên ở trung tâm thành phố Vũ Hán, Trung Quốc hồi tháng 01/2020.

AFP hôm nay 25/06 cho biết nhiếp ảnh gia người Chilê Hector Retamal, văn phòng Thượng Hải, đã giành giải xuất sắc nhất về nhiếp ảnh của Hiệp hội các nhà xuất bản báo chí ở châu Á (SOPA). Nhiếp ảnh gia người Venezuela, Leo Ramirez, văn phòng Bắc Kinh, đã giành giải nhì ở hạng mục "Phóng sự video xuất sắc".

Cùng với phóng viên người Pháp Sébastien Ricci, hai nhiếp ảnh gia nói trên đã đến Vũ Hán, Trung Quốc vào ngày 23/01/2020, đúng ngày thành phố miền trung Trung Quốc bị phong tỏa và khép kín hoàn toàn với thế giới bên ngoài.

Trong 8 ngày, họ là nhóm nhà báo của cơ quan truyền thông quốc tế duy nhất có thể đưa tin về tình hình đại dịch ở thành phố 11 triệu dân, với rất nhiều bức ảnh và video gây ấn tượng trong bối cảnh dịch bệnh đe dọa.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1602 Posted : Saturday, June 26, 2021 7:28:28 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Từ Romain Gary đến Émile Ajar: “Tôi cuối cùng đã thể hiện bản thân trọn vẹn”

25/06/2021 - Sơn Ca / RFI
“HẾT RỒI” [...] “Tôi đã từng sống”. Đó là câu mở đầu và kết thúc tiểu thuyết Lời hứa lúc bình minh xuất bản năm 1960 của nhà văn Romain Gary. 15 năm sau, Gary ẩn mình dưới bút danh Émile Ajar viết tiểu thuyết Cuộc sống ở trước mặt, trở thành người duy nhất đoạt 2 giải Goncourt.

Trong tiếng Nga, Gary nghĩa là “đốt cháy” và Ajar là “than hồng”. Câu chuyện về nhà văn, nhà ngoại giao, đạo diễn, phi công người Pháp gốc Nga, người sống muôn cuộc đời trong một cuộc đời, trở nên thú vị hơn từ đây.

Gary từng viết trong Lời hứa lúc bình minh: “Đến giờ tôi vẫn coi cuộc sống là một thể loại văn học”, để rồi ông sáng tạo vượt khỏi đường biên của văn chương và biến cuộc đời thành một sân khấu lớn. Từ bút danh Romain Gary đến Émile Ajar là một câu chuyện hấp dẫn mà Gary đã dựng lên, khiến giới văn chương Pháp bị cuốn vào, còn mình, tự do ngồi sau sân khấu viết cuốn nọ nối cuốn kia, tung hỏa mù, khiến họ hoài nghi rồi tin tưởng, giữa thật giả giả thật về Gary và Ajar.

Từ Romain Gary đến Émile Ajar

Romain Gary tên thật là Roman Kacew, đoạt giải Goncourt lần đầu tiên năm 1956 với tiểu thuyết Rễ của trời.Năm 1974, Romain Gary xuất bản 3 tiểu thuyết dưới 3 bút danh khác nhau: Romain Gary, Émile Ajar và Shatan Bogat. Chính xác hơn, một mình Gary phân thân thành 4 người trong 3 cuốn sách. Cuốn La nuit sera calme là một cuộc phỏng vấn hư cấu giữa Romain Gary và François Bondy, một người bạn thời thơ ấu. Thực chất, François Bondy chỉ cho Gary mượn tên còn lại toàn bộ nội dung Gary tự phỏng vấn và tự trả lời. Trong đó, Gary viết: “Khi tôi bắt đầu một cuốn tiểu thuyết, đó là để đến nơi tôi không hiện hữu, để khám phá những điều diễn ra nơi nội tâm người khác, để rời bỏ tôi, để tái sinh tôi.”

Đây có thể là lời dẫn ngầm ẩn trước văn đàn cho sự xuất hiện lần đầu tiên của bút danh Émile Ajar. Ẩn mình sau bút danh, Romain Gary đã nhờ người cháu họ có tên là Paul Pavlowitch đứng ra đóng thế. Pavlowitch kể:“Vào cuối năm 1972, Romain Gary nói với tôi rằng ông định viết “một cái gì đó khác dưới một cái tên hoàn toàn khác”, bởi vì, ông ấy khăng khăng rằng, “chú không còn có được sự tự do cần thiết nữa”.” (1)

Năm 1975, tiểu thuyết Cuộc sống ở trước mặt của Émile Ajar đoạt giải Goncourt. Gary nói Pavlowitch viết thư từ chối giải thưởng, nhưng nguyện vọng bị Hội đồng trao giải bác bỏ. Báo giới bắt đầu nghi ngờ Ajar và Gary liên quan đến nhau khi phát hiện Gary và Pavlowitch là chú cháu. Romain Gary lập tức thanh minh trên Le Monde rằng mình không phải là Ajar, đồng thời vội vàng chạy sang Genève, chui vào một căn hộ yên tĩnh lên kế hoạch “cứu lấy” Émile Ajar trước khi “bị bại lộ”.

Trong 15 ngày, Gary đã viết tiểu thuyết Pseudo và cho xuất bản năm 1976 dưới tên Ajar. Pseudo được viết dưới dạng tiểu thuyết tự truyện. Nhân vật trong tiểu thuyết có tên là Paul Pavlowitch, muốn nói lên sự thật, về bút danh Ajar của mình, về sự đeo đuổi của báo chí, về người chú Gary: “Tôi là Émile Ajar [...] Tôi là tác giả của chính tôi và tôi tự hào về điều đó. Tôi là có thật. Tôi không phải là trò lừa bịp”. Sau đó ông gọi cho Pavlowitch nói rằng bác đã bịa ra cháu một kẻ điên khùng và bịa cả ra bác nữa. “Cháu có đồng ý không?” (2) Người cháu không những vui vẻ chấp nhận mình bị điên mà còn giúp ông bác đánh máy bản thảo. Bằng “thủ thuật chính là không để người ta cảm thấy có thủ thuật”(3) Gary đã dập tan mọi nghi ngờ của báo giới và tiếp tục xuất bản cuốn sách thứ 4 dưới tên Ajar vào năm 1979.

Từ Lời hứa lúc bình minh đến Cuộc sống ở trước mặt

Ajar không thực sự là một cái tôi khác hoàn toàn Gary. Ajar chỉ là một mảnh ghép đủ đầy để Gary trở nên trọn vẹn. Lời hứa lúc bình minh và Cuộc sống ở trước mặt là hai tiểu thuyết có liên quan đến nhau mà sợi dây liên kết là tình mẫu tử, là khao khát thêm một lần được có mẹ trong đời.

“Hết rồi. Biển Big Sur không một bóng người, còn tôi, vẫn nằm trên cát, đúng chỗ tôi đã ngã xuống[...]Hết rồi. Biển Big Sur trống vắng hàng trăm cây số, nhưng thỉnh thoảng khi ngẩng đầu lên, tôi lại thấy mấy chú hải cầu trên một mỏm đá trước mặt[...]Thế đấy. Sắp phải rời xa biển, nơi tôi nằm nghe biển khơi đã rất lâu rồi. Tối nay, ở Big Sur, sẽ có sương mù nhẹ, trời sẽ se lạnh, còn tôi, tôi chưa bao giờ học cách nhen lửa để tự sưởi ấm mình. Những chú hải cẩu đã lặng im trên những mỏm đá, và tôi ở đó, nhắm mắt lại, miệng mỉm cười, tôi tưởng tượng một chú hải cẩu nhẹ nhàng đi về phía mình còn mình thì bỗng cảm thấy một chiếc mõm thân thương cà vào má vào vai...Tôi đã từng sống.”

Đó là những câu văn xúc động trong tiểu thuyết Lời hứa lúc bình minh, khi Gary trở về sau chiến tranh mới hay mẹ đã mất. Mẹ Gary, trước khi mất, đã viết sẵn 200 lá thư và nhờ người quen gửi cho con vào chiến trường. Trong những tháng ngày vào sinh ra tử, tuyệt vọng khốn cùng, nhờ những lá thư của mẹ, Gary đã thấy mẹ luôn hiện hữu trong thân xác mình, người ta đã quên cắt dây rốn giữa ông và mẹ.

Làm sao một cuốn sách khiến ta không thể thôi cười ở từng trang mà cuối cùng lại làm ta khóc? Làm sao đằng sau lớp vỏ văn chương hài hước, hài hước trong tất cả mọi nghịch cảnh và bất hạnh của đời sống, vẫn có thể khiến ta cảm được nỗi cô đơn, niềm khao khát yêu thương và tình cảm con người thiết tha, ngậm ngùi đến thế?

“Đối với tôi, trong suốt chặng đường của mình, tính hài hước là một người bạn thân thiết, nhờ nó mà tôi có được những khoảnh khắc chiến thắng nghịch cảnh thực sự.” Gary đã viết như thế trong Lời hứa lúc bình minh, và nét đặc trưng văn chương ấy không hề mất đi khi chuyển sang Cuộc sống ở trước mặt.

Lời hứa lúc bình minh là tự truyện của Gary từ năm 8 tuổi khi sống bên mẹ, người có tình yêu thương khiến Gary “suốt đời phải chết khát bên bờ mỗi con suối.” Mỗi kỷ niệm để Gary nhớ lại luôn là những ký ức được vẽ bằng những bức tranh đậm màu bởi tính chất của nó luôn được đẩy đến đỉnh điểm từ tính cách quyết liệt và mạnh mẽ của người mẹ, và ở đó Gary, Gary đầy cô đơn chui vào trong đống gỗ thèm khát cái liếm mặt của một con mèo xa lạ, Gary yếu đuối nhưng nguyện làm tất cả mọi điều vì mẹ.

Mẹ Gary tuyên bố ông sẽ trở thành đại sứ Pháp, sẽ được tặng Huân chương Bắc đẩu Bội tinh, sẽ trở thành nhà văn nổi tiếng. Nước Pháp với bà luôn thiêng liêng, bất khả chiến bại, đẹp nhất trần gian. Bà đã “ký hiệp ước với số phận” khẳng định con mình sẽ không chết trong chiến tranh. Đằng sau vẻ cực đoan ấy là sự tần tảo, hy sinh, vật lộn với đời sống mưu sinh để có tương lai tốt đẹp. Về sau, Gary đã thực hiện được tất cả mọi lời tiên tri của mẹ, kể cả sự sống. Với Gary, “dường như thế giới này không đủ rộng lớn để chứa đựng hết tình yêu thương tôi dành cho bà”.

Có lẽ, điều Gary day dứt nhất trong lòng là những ngày cuối đời của mẹ, ông đã không được ở bên khi bà trút những hơi thở cuối cùng. Nên tiểu thuyết Cuộc sống ở trước mặt là nơi ông có thể làm được điều đó, hóa thân thành cậu bé Momo dành tình yêu thương cho Madame Rosa và ngược lại.

Cuộc sống ở trước mặt là câu chuyện kể về cậu bé Momo được nuôi dưỡng bởi Madame Rosa, người lập ra "trung tâm chăm sóc trẻ em ngoài giá thú". Trong tiểu thuyết có một đoạn văn mang tính siêu thực khi Momo trò chuyện với ông Hamil:

- Một ngày nào đó cháu sẽ đi Nice, cháu cũng thế, khi nào cháu trẻ.

- Sao cơ, khi nào cháu trẻ? Cháu đã già rồi sao? Cháu mấy tuổi rồi, cháu bé của ta?

Và một cảnh khi quay ngược những thước phim trong phòng lồng tiếng, Momo thấy cuộc đời mình trôi ngược về quá khứ và hình ảnh mẹ sượt qua trong ký ức.

Đây là dấu hiệu chỉ dẫn lối thông nhau giữa tiểu thuyết Lời hứa lúc bình minh và Cuộc sống ở trước mặt. Khi đi sâu hơn vào những điểm tương đồng và trái ngược giữa hai tiểu thuyết, ta có thể thấy Gary tạo ra Ajar đểrời bỏ mình và tái sinh mình.

Họ đều sống trên những căn hộ cao tầng khiến bà Mina và Madame Rosa đều phải lên xuống cực nhọc. Hai cậu bé đều không có tình yêu thương của bố, đều nhận được những tấm ngân phiếu hàng tháng. Cái chết của hai người bố không gây xúc động gì nơi Romain và Momo. Romain rất thích cảm giác được mèo hay sư tử biển liếm mặt, còn Momo tưởng tượng vào buổi tối có sư tử vào liếm mặt và ngủ cạnh mình. Điểm chung đặc biệt lớn nhất là tình mẫu tử của hai cậu bé và hai người phụ nữ, dù Madame Rosa không phải mẹ của Momo thì tác giả cũng đã làm ta tin rằng đó là tình mẫu tử.

Nói về sự khác biệt, ở tiểu thuyết trước, Romain là một cậu bé yếu đuối và được bảo bọc trước mẹ bao nhiêu thì ở tiểu thuyết sau Momo là cậu bé chủ động, phá cách và tự do bấy nhiêu. Cậu xăng xái ra đường kiếm tiền, là chỗ dựa của Madame Rosa. Ở tiểu thuyết trước, tinh thần người mẹ dường như hiện hữu trong thể xác của Romain, hai người như hòa làm một trong những khoảnh khắc mong manh của kiếp người, và cuộc đời Romain đã sống là để dành trọn vẹn cho mọi ước mơ của mẹ; còn ở tiểu thuyết sau, Momo yêu thương Madame Rosa nhưng cậu được là chính mình, nhìn yêu thương trong cuộc đời theo một cách khác, dung dị hơn.

Mẹ Romain trong Lời hứa lúc bình minh lúc nào cũng nhắc nhở con về một nước Pháp tươi đẹp, bất khuất và những ước mơ danh giá, còn Cuộc sống ở trước mặt dựng lên bối cảnh đời sống con người ở đáy tận cùng của nước Pháp với những người sống bằng nghề đĩ điếm, những đứa trẻ sinh ra bị bỏ rơi. Cậu bé Momo nói với ông Hamil rằng "việc trở thành anh hùng chẳng có nghĩa lý gì so với việc có bố". Momo chính là hóa thân của Gary mong ước được thấu hiểu, nên ông xây dựng hình ảnh những người đàn ông tốt bụng luôn luôn nói với Momo rằng cậu là một đứa trẻ nhạy cảm, có tâm hồn đẹp và khác biệt.

Để thực hiện nguyện vọng được chăm sóc mẹ trong những năm tháng cuối đời, tác giả đã cho rất nhiều người đến viếng thăm, chăm sóc và nhảy múa mua vui cho Madame Rosa. Cuối cùng, ông hóa thân thành cậu bé Momo, ở bên Madame Rosa trong tổ Do thái của bà, đổ hàng tá chai nước hoa lên người bà, tô mặt bà đến khi không thể nào tô nổi, và nằm bên cạnh bà đến khi người ta phải phá cửa xông vào vì phát hiện ra những mùi đặc biệt.

Kết

“Tôi đã sinh ra”, là câu văn Gary viết trong Lời hứa trước bình minh nói về cảm giác của mình sau khi xuất bản tiểu thuyết đầu tay vào năm 1945. Cuốn sách cuối cùng của Gary, cuốn Cuộc đời và cái chết của Émile Ajar, xuất bản một năm sau khi Gary qua đời, tiết lộ sự thật về 4 tiểu thuyết ông viết dưới bút danh Ajar, và Paul Pavlowitch chỉ là người đóng thế,

Ngày 2.12.1980, Gary đã tự sát bằng một khẩu súng. Không ai biết chính xác vì sao Gary quyết định từ giã cõi đời, nhưng trong lá thư để lại ông viết: “Vì sao ư? Có lẽ nên tìm câu trả lời trong tiêu đề cuốn tự truyện La nuit sera calme và câu cuối cùng trong cuốn sách cuối cùng của tôi. “Bởi vì ta không thể nói tốt hơn“. Tôi cuối cùng đã thể hiện mình trọn vẹn.” (4)

“HẾT RỒI”[...]“Tôi đã từng sống”. (5)

*

(1) Người đàn ông mà chúng ta đã tin, Paul Pavlowitch, Fayard, 1981.

(2) và (3): Cuộc đời và cái chết của Émile Ajar, Romain Gary, Gallimard, 1981.

(4) http://www.1-jour.fr/2-d...-romain-gary-se-suicide/

(5) Lời hứa lúc bình minh, Romain Gary, Nguyễn Duy Bình dịch, NXB Văn học và Công ty sách Nhã Nam, năm 2009.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1603 Posted : Sunday, June 27, 2021 7:32:38 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Fleetwood Mac : Ban nhạc xuất sắc của thế kỷ 20

26/06/2021 - Gia Trình / RFI
Fleetwood Mac được coi là cây đại thụ trong làng âm nhạc với bề dày thành tích hơn nửa thế kỷ tồn tại. Trong phần 1, tạp chí Âm Nhạc của RFI giới thiệu nhóm nhạc xuất sắc của thế kỷ 20 và những cung bậc khủng hoảng mà nhóm nhạc đã trải qua : nghiện ma túy, mâu thuẫn nội bộ, trục trặc tình cảm, tan vỡ và tái hợp.

Bảng vàng thành tích

Thành lập từ năm 1967, Fleetwood Mac hoàn toàn có quyền tự hào về gia tài âm nhạc đồ sộ. Ban nhạc tiêu thụ 120 triệu đĩa hát, có tên trên Đại lộ Danh vọng Hollywood năm 1998 và được xướng danh trong Rock and Roll Hall of Fame. Riêng album Rumours (Tin đồn, 1977) trở thành album thành công vang dội về thương mại, tiêu thụ hơn 40 triệu bản. Hơn 40 năm sau khi ra mắt, Rumours vẫn trụ hạng tại các bảng xếp hạng âm nhạc hai bên bờ Đại Tây Dương. Điều này càng khẳng định giá trị âm nhạc “vàng ròng” của nhóm nhạc pop/rock này.

Fleetwood Mac gồm 5 thành viên kỳ cựu: Mick Fleetwood - chơi trống và bộ gõ, John McVie - chơi bass, Christine McVie (nữ) - hát chính và chơi keyboards, Stevie Nicks (nữ) - hát chính, Linsey Buckingham, chơi guitar chính. Ở thập niên 1970, đội hình 2 nữ, 3 nam của Fleetwood Mac là hình mẫu lý tưởng giữa một rừng nhóm nhạc nam giới. Dù xáo trộn nhiều thành viên sau đó, tâm trí khán giả vẫn đóng đinh với năm ngôi sao kỳ cựu này.

Khởi nguồn chỉ chơi nhạc blues, Fleetwood Mac chuyển mình sang folk-rock, rock and roll. Nhờ sự tham gia của Buckingham và Nicks cuối năm 1974, nhóm đã hoàn toàn lột xác. Sau thành công vượt bậc của album Rumours (1977), nhóm cũng trình làng 3 album phòng thu cũng thành công khác là Tusk (1979), Mirage (1982), Tango in The night (1987). Âm nhạc của nhóm mộc mạc, đơn giản nhưng rất hài hòa giữa các nhạc cụ. Vẻ đẹp chiều sâu thể hiện trong cách hòa giọng và phần phối khí sắc sảo.

Cuối thập niên 1980, sự ra đi của Buckingham và Nicks lại gây xáo trộn cho nhóm. Năm 1993, các thành viên kỳ cựu như Nick, Buckingham, McVie đã cùng tái hợp để biểu diễn trong lễ nhậm chức của tổng thống Mỹ Bill Clinton. Tuy nhiên, nhóm nhạc chưa thể tái hợp vì Nicks và McVie sớm chia tay sau đó. Năm 1997, các thành viên cũ tái hợp, tạo nên sức mạnh cộng hưởng của nhóm. Album trình diễn live The Dance lại "dội bom" các bảng xếp hạng âm nhạc. Tuyển tập tái hiện sinh động nhất màu sắc âm nhạc đa dạng của nhóm sau gần một thập kỷ vắng bóng Buckingham và Nicks. Ba single trích ra từ album, Landslide, The Chain và Silver Springs, cũng được đề cử giải Grammy cho Trình diễn Pop, Rock xuất sắc nhất năm 1998.

Ban nhạc của“Tin đồn”

Ở đỉnh cao sự nghiệp, album Rumours (1977) đánh dấu mốc son sáng chói trong sự nghiệp của nhóm nhạc. Tuy nhiên, ít người biết rằng các thành viên tiệc tùng, sử dụng cocaine trong quá trình sáng tạo. Đồng thời, các thành viên trong nhóm chịu áp lực nặng nề của tình cảm đổ vỡ, mâu thuẫn cá nhân ảnh hưởng đến quá trình sản xuất. Hai vợ chồng McVie chia tay sau 8 năm chung sống. Cặp đôi Buckingham và Nick thường xuyên cãi cọ, tay trống Fleewood ly dị vợ.

Những xáo trộn trong đời sống cá nhân trở thành miếng mồi ngon cho báo chí tung tin đồn. Báo chí đưa tin ca sỹ McVie bị ốm nặng nhập viện, các thành viên cũ của nhóm quay trở lại dịp kỷ niệm 10 năm thành lập. Album liên tiếp bị trì hoãn trong việc phối khí và hậu kỳ. Sau 11 tháng, album mới được chính thức ra mắt vào cuối năm 1976. Rumours có thể coi là album đổ vỡ, chia ly xuất sắc nhất mọi thời đại.

Về mặt âm nhạc, album chú trọng tiết tấu nhịp khỏe khoắn và keyboard điện tử tạo nên chất liệu pop/rock và soft rock. Đồng thời, âm thanh mộc (acoustic) pha trộn hài hòa với âm thanh điện tử là một điểm nhấn của album. Hai bản nhạc hit trong album là Go your own way và Don’t Stop thể hiện rõ nhất điều này. Ca khúc The Chain (Mắt xích) là ví dụ khác của hòa âm phức tạp, thiên hướng rock mạnh mẽ.

Giới phê bình dành cho album nhận xét thiện cảm trên nhiều phương diện. Thứ nhất, sự đổi vai của ba giọng ca trong nhóm tạo nên ngọt ngào, thú vị nhất của Fleetwood Mac. Thứ hai, âm thanh nguyên thủy, đậm đặc cảm xúc chinh phục được đôi tai người nghe. Đặc biệt, các thành viên nỗ lực không tưởng để sáng tạo một album để đời sau những đổ vỡ trong tình yêu - hôn nhân.

Cũng có ý kiến đánh giá thấp album này vì nó hơi tẻ nhạt, thô mộc. Nhưng trên tất cả, Buckingham, cây guitar, nhạc sỹ sáng tác, sản xuất, đã đóng vai trò “linh hồn” cho album này. Giai điệu các bài hát đầy ám ảnh, giàu cảm xúc được xây dựng từ cuộc sống rất thực của các thành viên trong nhóm. Một điểm đặc biệt xuất sắc ở Rumours là việc giao tiếp bằng âm nhạc. Các thành viên không nói chuyện trực tiếp mà dùng ca từ diễn đạt suy nghĩ, cảm xúc cá nhân.

Lindsey Buckingham, đã viết lời trong ca khúc Second Hand News (Tin tức cũ mèm): One thing I think you should know, I ain’t gonna miss you when you go (Một điều em nên biết anh sẽ không nhớ em khi em ra đi). Tất nhiên, Buckingham muốn ám chỉ Nicks, người đã viết lời ca khúc Dreams (Giấc mơ): You say you want your freedom, well, who am I to keep you down (Giờ anh nói anh muốn được tự do, Em không thể giữ được anh).

Rạn nứt bên trong ban nhạc

Vừa hoạt động trong nhóm, hai thành viên Stevie Nicks và Linsey Buckingham tách riêng để thực hiện các album solo. Đối với Nicks, chất giọng khàn, dầy của bà là thỏi nam châm đối với khán giả yêu nhóm nhạc. Album Bella Donna (1981) của Steve Nicks thành công rực rỡ nhờ các bản hit xuất sắc như Stop Draggin' My Heart Around, Edge of Seventeen. Đối với Linsey, ông cũng thành công không kém nhờ album solo, Law and Order (1981).

Khi phép thử chơi solo thành công, chuyện Nick và Buckingham rời nhóm chỉ là sớm hay muộn. Sau album Mirage (1982), cả ba thành viên Nick, McVie, Buckingham đều tập trung vào sự nghiệp solo của riêng mình. Buckingham rời nhóm sau khi thực hiện album Tango in the night (1987).

Dù giới phê bình nhận định trái chiều, album Tango in the night có mức hấp thụ thương mại rất cao. Các bản hit như Little Lies, Seven Wonders, Everywhere đều mang dấu ấn của tay guitar Buckingham. Ông mang tới trải nghiệm với âm thanh điện tử (synthersizer) hài hòa cùng các nhạc cụ khác. Sự chia tay của Buckingham khiến Fleetwood Mac lao dốc nghiêm trọng. Hai album sau đó không lên nổi hạng vàng.

Năm 2021, Fleetwood Mac tái hợp một cách toàn diện sau khi hai thành viên Mick và Linsey hòa giải bất đồng 3 năm trước. Điều thú vị nhất là họ chuyển hóa được mối quan hệ và đời sống cá nhân phức tạp thành những bản nhạc rất có hồn. Tại sao tình yêu, mâu thuẫn khó có thể giết chết ban nhạc như Fleetwood Mac? Câu trả lời sẽ nằm ở phần tiếp theo.



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1604 Posted : Tuesday, June 29, 2021 2:15:28 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

100 năm ngày sinh của nhà văn Pháp Frédéric Dard

29/06/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Hôm nay 29/06/2021 đánh dấu đúng 100 năm ngày sinh của nhà văn Frédéric Dard, tác giả của khoảng 400 quyển truyện đủ loại. Sinh thời, nhà văn người Pháp trở nên nổi tiếng nhờ bộ tiểu thuyết ăn khách với nhân vật thám tử Antoine ''San-Antonio''. Được phát hành từ năm 1949 đến năm 2001, bộ tiểu thuyết này gồm 175 tựa sách khác nhau, đã được bán hơn 250 triệu quyển trên thế giới.

Để kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Frédéric Dard, thành phố Les Muraux, Yvelines, ngoại ô Paris, khởi động chương trình sinh hoạt ''100 Piges'' (tiếng lóng có nghĩa là 100 tuổi). Ngoài triển lãm và hội thảo xung quanh tác phẩm của nhà văn tại thư viện thành phố, còn có liên hoan phim chiếu lại khoảng 15 tác phẩm chuyển thể từ tiểu thuyết trinh thám của Frédéric Dard. Trong số này có các bộ phim "La Vieille qui marchait dans la mer" của đạo diễn Laurent Heynemann, với Jeanne Moreau và Michel Serrault trong vai chính, hay là phim "Toi, le venin" của đạo diễn Robert Hossein với nữ diễn viên Marina Vlady. Các bộ phim này được giới thiệu lại tại rạp chiếu phim ở trung tâm thành phố Les Mureaux, từng được đặt tên Frédéric Dard vào năm 1995.

Bộ tiểu thuyết trinh thám với hơn 250 triệu bản

Nhà văn người Pháp đã từng sống trong vòng hai thập niên tại Les Mureaux (1948-1968), khi ông dời về vùng ngoại ô thủ đô, làm việc cho tờ báo Paris-Soir. Chính tại căn nhà riêng ở số 45 trên đại lộ Foch, mà ông đã viết những quyển tiểu thuyết trinh thám ăn khách đầu tay. Để đặt tên cho nhân vật chính, ông đã nhắm mắt chỉ tay vào bản đồ, ngẫu nhiên rơi vào thành phố San Antonio ở bang Texas, Hoa Kỳ. Nhân vật Antoine San-Antonio được khai sinh và rồi từ đó trở thành một trong những bộ truyện ăn khách nhất của ngành xuất bản tại Pháp. Tiểu thuyết San-Antonio đầu tiên (trong một bộ truyện gồm 175 quyển) được phát hành vào năm 1949. Kể từ những năm 1960 trở đi, nhiều tựa sách đã lập kỷ lục số bán, mức trung bình của mỗi cuốn tiểu thuyết là 300.000 bản.

Sinh năm 1921 trong một gia đình nghèo tại thị trấn Bourgoin Jallieu (tỉnh Isère) cách thành phố Lyon khoảng 40 cây số về phía đông, Frédéric Dard ban đầu tốt nghiệp ngành kế toán rồi sau đó mới chuyển sang ngành báo chí. Tiền nhuận bút thời bấy giờ (đầu những năm 1940) không được là bao nhiêu, cho nên để nuôi gia đình, ngoài công việc thư ký tòa soạn, ông còn buộc phải làm thêm rất nhiều kể cả viết truyện ngắn đăng báo, sáng tác truyện thiếu nhi, sửa kịch bản, viết tin quảng cáo hay lời thoại cho phim … Có lẽ cũng từ hoàn cảnh gia đình mà Frédéric Dard rèn luyện cách viết nhanh và nhiều, ông sáng tác liên tục đều đặn và ít khi nào chịu ngơi nghỉ.

Trả lời phỏng vấn báo chí vào năm 1978, nhân dịp ông nhận giải thưởng của ngành xuất bản sau khi kho tiểu thuyết của ông cán mốc 100 triệu bản, Frédéric Dard cho biết ông là một tác giả may mắn, nhận được sự hưởng ứng của nhiều thành phần độc giả và thói quen ''viết nhiều'' của ông phần lớn xuất phát từ những khó khăn trong bước đầu sự nghiệp. Bà Josiane Gonny, từng là thư ký riêng, đánh máy bản thảo cho nhà văn công nhận rằng ông làm việc rất nhanh, dù chỉ gõ với ba ngón tay. Bà cho biết các quyển tiểu thuyết San-Antonio có độ hấp dẫn cao, đôi khi cuốn hút đến nỗi cô thư ký quên hẳn việc gõ chữ để có thể đọc câu chuyện từ đầu đến cuối.

Hiện tượng xuất bản nhờ chiến lược tiếp thị mạnh mẽ

Theo ông Maxime Gillio, tổng thư ký Câu lạc bộ bạn đọc Frédéric Dard và đồng thời điều hành mạng thông tin ''Thế giới của San-Antonio", nhà văn viết tiểu thuyết như thể bị ''ghiền thuốc'', ngay cả trong những lúc an nhàn nghỉ ngơi. Cứ sau một ngày không được viết là ông lại cảm thấy khó chịu. Dường như sáng tác có tác dụng trấn an một người luôn có tâm trạng bồn chồn, lo lắng. Trong sự thành công của San-Antonio, ngoài tính miệt mài chăm chỉ của tác giả, còn có tài năng tiếp thị của nhà xuất bản Armand de Caro : tiểu thuyết trinh thám San-Antonio trong vòng nhiều thập niên hầu như được bày bán ở khắp nơi, từ nhà ga tỉnh lẻ cho tới các cửa hàng thuốc lá. Nhà xuất bản chấp nhận tăng số tiền tác quyền cho nhà văn Frédéric Dard, nhưng đổi lại ông phải giao ''sản phẩm'' đúng thời hạn và đôi khi phải viết tới ba quyển theo đơn đặt hàng chỉ trong một năm. Nhờ vào chiến lược tiếp thị mạnh mẽ mà tiểu thuyết San-Antonio trở thành một hiện tượng của ngành xuất bản vào những năm 1980.

Thời nay, ít có tác giả nào, bất kể sức sáng tạo có dồi dào cách mấy, lại có thể sáng tác liên tục mà không ảnh hưởng tới ''chất lượng'' của tác phẩm. Tại Pháp, theo mạng thông tin ActuaLitté hồi đầu tháng 06/2021, nhà văn Amélie Nothomb nổi tiếng là một trong những ngòi bút sáng tác đều đặn nhất, cho biết cô đang viết quyển tiểu thuyết thứ 102, nhưng không phải quyển nào cũng được phát hành và theo hợp đồng Amélie Nothomb mỗi năm chỉ cần giao một tác phẩm cho nhà xuất bản Albin Michel. Theo chủ tịch Liên đoàn quốc gia ngành xuất bản Vincent Montagne, hầu hết các nhà phát hành thời nay đều không xuất bản sách theo kiểu đại trà như vài thập niên trước, để tránh bị quy chụp là coi trọng số lượng hơn chất lượng.

Thời nay, tiểu thuyết của Frédéric Dard vẫn được tái bản nhưng một cách có chọn lọc, hình thức cũng kín đáo hơn chứ không còn được quảng cáo rầm rộ như trước. Để chinh phục thêm độc giả mới, tiểu thuyết San-Antonio được chuyển thể thành truyện tranh, hai tựa tiểu thuyết vừa được phóng tác lại qua ngòi bút của họa sĩ Michael Sanlaville (từng đoạt giải thưởng lớn tại liên hoan truyện tranh Angoulême năm 2015).

Tái bản bộ toàn tập 175 quyển tiểu thuyết San-Antonio

Qua đời vào năm 2000, Frédéric Dard đã để lại một di sản khá đồ sộ, ngoài 400 tác phẩm gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận, kịch bản phim còn có 10 vở kịch nguyên tác hay phóng tác. Ngoài ra, ông còn đăng rất nhiều bài viết và sử dụng đến 17 bút danh khác nhau. Nhân kỷ niệm 100 ngày sinh của ông, một tuyển tập dày 600 trang mang tựa đề "Des nouvelles de moi", bao gồm hàng trăm truyện ngắn, sáng tác trong giai đoạn 1940-1985 nay lần đầu tiên được nhà xuất bản Fleuve cho in thành sách. Theo lời nhà phê bình Alexandre Clément, người đã viết lời mở đầu sau khi nghiên cứu tập hợp lại nhiều văn bản rời rạc chưa từng được phổ biến, các mẩu truyện ngắn cho thấy cái tài sáng tác của Frédéric Dard dưới một góc độ khác, trong khi đó nhân vật San-Antonio thu hút thêm khá nhiều người hâm mộ trên thế giới, sách được nhiều nhà sưu tầm tìm mua và các bản in đầu tiên đạt tới giá thật cao trong các cuộc bán đấu giá.

Nối bước nhân vật Jules Maigret (của tác giả Georges Simenon), thám tử Antoine San-Antonio về sau này được đánh giá cao hơn. Văn phong của Frédéric Dard mang nhiều ảnh hưởng của các văn hào Mỹ William Faulkner và John Steinbeck. Thể loại truyện hồi hộp trinh thám của nhà văn Frédéric Dard lại có nhiều nét giống như nhà văn người Anh Peter Cheyney, tác giả đã khai sinh hai nhân vật Slim Callaghan và Lemmy Caution trong loạt tiểu thuyết trinh thám, gián điệp, một số truyện cũng từng được dựng thành phim.

Cuối cùng, bộ toàn tập gồm 175 tiểu thuyết của Frédéric Dard cũng được nhà xuất bản "Éditions 12-21" tái phát hành dưới dạng phiên bản điện tử. Các tựa sách ở đây được xếp theo từng thập niên. Theo giới ghiền đọc San-Antonio, bộ truyện trinh thám sáng tác vào những năm 1980 (41 cuốn tiểu thuyết) được xem như là rất ăn khách, nhưng giới hâm mộ vẫn thích nhất hai giai đoạn những năm 1950 (37 quyển) hay là 1960 (35 quyển). Trong hai thập niên này, tính sáng tạo của nhà văn Frédéric Dard chẳng những dồi dào mà còn đạt tới những đỉnh cao táo bạo.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1605 Posted : Thursday, July 1, 2021 12:17:04 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)


Pháp : Các rạp chiếu phim khởi sắc nhân Ngày hội Điện ảnh

01/07/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Với hơn 8,5 triệu lượt khán giả trong vòng một tháng (tính từ ngày 19/05), các rạp chiếu phim tại Pháp đã dần dần phục hồi doanh thu. Giới sản xuất cũng như các nhà phân phối phim cảm thấy phần nào an tâm hơn trước việc dỡ bỏ nhiều quy định phòng dịch : không còn giới nghiêm kể từ 20/06 và không còn hạn chế tỷ lệ khán giả vào các rạp chiếu phim từ hôm 30/06/2021.

Trong giới chuyên ngành, hầu như mọi người đều tỏ vẻ phấn khởi lạc quan nhân kỳ tổ chức Ngày hội Điện ảnh (La Fête du Cinéma) từ ngày 30/06 cho đến 04/07/2021, giá mỗi suất chiếu phim là 4 euro, tức rẻ hơn một nửa so với giá trung bình. Sau khi bị hủy bỏ vào năm ngoái, Ngày hội Điện ảnh năm nay diễn ra trong một bối cảnh tương đối thuận lợi hơn. Các rạp chiếu phim có thể tiếp đón 100% khán giả thay vì 65% như cách đây một tháng. Doanh thu bắt đầu tăng trở lại và điều đó mở đường cho việc khai thác dòng phim thương mại, trong đó có nhiều sản phẩm diện ảnh theo kiểu blockbuster của Mỹ cũng như phim Pháp với kinh phí cao.

Giới trẻ hưởng ứng việc xem phim ngoài rạp

Theo ông Éric Marti, giám đốc công ty Comscore France, chuyên nghiên cứu doanh thu và thị trường phim tại Pháp, kế hoạch mở lại từng bước các sinh hoạt văn hóa, trong đó có các rạp chiếu phim ở tuyến đầu, đã diễn ra một cách khá tốt đẹp. Mặc dù ban đầu các rạp hát chỉ đón nhận 35% khán giả, rồi tỷ lệ này từ từ được nâng lên tới 65% và cuối cùng đạt mức tối đa là 100%, khán giả ở Pháp nhất là giới trẻ đều đã nhiệt tình hưởng ứng các rạp chiếu phim trong từng giai đoạn và qua đó cho thấy đối với họ, việc xem phim ở rạp là điều không thể thiếu trong cuộc sống.

Sau hơn 7 tháng bị đóng cửa, các rạp chiếu phim Pháp đã thu hút 2,2 triệu lượt người xem trong tuần lễ đầu tiên hoạt động trở lại. Còn trong các tuần sau đó, số khán giả vẫn được duy trì ở một mức khả quan là 2 triệu lượt người xem mỗi tuần. Rốt cuộc một tháng sau khi cho phép các rạp chiếu phim mở lại với một số điều kiện, đã có 8,5 triệu khán giả ở Pháp đã rủ nhau đi xem xinê. Tuy còn số này vẫn còn chưa bằng 14 triệu lượt người xem (tính trung bình) hồi tháng 5 hay tháng 6/2019 theo số liệu của Trung tâm Quốc gia Điện ảnh CNC, nhưng theo đà này có nhiều triển vọng số khán giả sẽ tìm lại mức bình thường từ đây cho tới cuối mùa hè năm nay.

Yếu tố tâm lý của việc chích ngừa đối với khán giả Pháp

Theo lời ông Marc-Olivier Sebbag, chủ tịch liên đoàn các rạp chiếu phim Pháp FNCF, khán giả vào rạp đông đảo trước hết cũng vì họ cảm thấy an tâm hơn : các rạp chiếu phim áp dụng chặt chẽ các quy định vệ sinh và giãn cách, chiến dịch tiêm chủng cũng rộng rãi hơn. Nhờ vậy, có khá nhiều khán giả trở lại xem phim sau khi họ đã được tiêm mũi đầu, trùng vào thời điểm các rạp hát bắt đầu tiếp đón thêm số người xem.

Tác dụng trấn an của các đợt chích ngừa đi cùng với việc mở lại các hàng quán thúc đẩy người tiêu dùng ở Pháp khao khát tìm lại những thú giải trí như trước đây. Theo cô Aurélie Delage, một chủ rạp phim ở vùng Charente, yếu tố tâm lý là cực kỳ quan trọng, hồi mùa hè năm trước, cho dù các rạp chiếu phim có mở cửa nhưng vẫn không thu hút được đông đảo người xem, do đa số khán giả vẫn còn sợ sệt và tránh đến những chỗ có đông người tụ tập. Tinh hình mùa hè năm nay đã khác hẳn phần lớn cũng nhờ vào các đợt vac-xin.

Gọi là ‘‘Ngày hội Điện ảnh’’ nhưng La Fête du Cinéma diễn ra trong 5 ngày liên tục và trong một bối cảnh thuận lợi hơn, với ngày xuất hiện trở lại của nhiều bộ phim thương mại trong đó có phim kinh dị như tập nhì của ‘’Vùng đất câm lặng’’ (A Quiet Place II), tập ba của Conjuring ‘‘Ma xui Qủy khiến’’, phim hành động thì có ‘’Con đường phủ băng’’ (Ice Road), tập nhì của ‘’Hitman & Bodyguard’’, ‘‘Cơn thịnh nộ chết người’’ (Wrath of Man), phim phiêu lưu thì có ‘’Cruella’’, phim hoạt hình phóng tác từ manga "Demon Slayer". Trong thể loại phim xã hội từng đoạt nhiều giải thưởng điện ảnh tại kỳ trao Oscar hay liên hoan Sundance có ‘’Nomadland’’ của Chloé Zhao (Triệu Đình) hay phim Hàn Quốc ‘‘Rau cần nước’’ (Minari). Về phía phim Pháp, các tác phẩm được chờ đợi nhiều nhất vẫn là phim điệp viên "OSS 117", phim hài "Vua Kaamelott", phim tiểu sử "Eiffel" về cuộc đời của người đã từng khai sinh ngọn tháp cùng tên.

Tác động của Cannes lên doanh thu phòng vé

Đa số các bộ phim ở đây nhất là trong thể loại phiêu lưu hành động thu hút tới nửa triệu lượt khán giả chỉ trong vài ngày. Theo mạng thông tin Comscore, đà phục hồi của các rạp chiếu phim tại Pháp trước hết là nhờ các fan trẻ tuổi ghiền xem xinê. Cho dù họ có thể xem phim trên các nền tảng trực tuyến, nhưng giới trẻ ở Pháp vẫn rủ nhau đi xem phim ở rạp và chính cũng vì thế mà các bộ phim như ‘’Demon Slayer’’, ‘’Conjuring 3’’ hay là ‘’A Quiet Place’’ đều lập kỷ lục doanh thu vào đầu mùa hè ở các phòng vé.

Theo đánh giá của giới chuyên ngành, những số liệu này là một tín hiệu đáng mừng bởi vì các nhà phân phối sợ nhất một điều : mở lại rạp chiếu phim mà bị vắng khách. Các chủ rạp phim giờ đây có thể vững tâm hơn một chút : sau Ngày hội Điện ảnh trong vòng 5 ngày (từ 30/06 đến 04/07) lại đến ngày khai mạc Liên hoan điện ảnh Cannes trong gần 2 tuần lễ (từ 06/07 đến 17/07). Vào lúc đó, các quy định ràng buộc đều đã được dỡ bỏ, giúp cho các rạp chiếu phim nhân lên gấp hai hay gấp ba lần số khán giả. Theo ông Marc-Olivier Sebbag, chủ tịch liên đoàn các rạp chiếu phim Pháp FNCF, liên hoan Cannes cũng có tác động lên doanh thu các rạp hát. Nhiều bộ phim được trình chiếu trong khuôn khổ liên hoan Cannes, dù có nằm trong chương trình tranh giải Cành cọ vàng hay không, đều được khai thác hầu như cùng lúc tại hàng ngàn màn ảnh lớn trên khắp nước Pháp.

Đó là trường hợp của bộ phim ca nhạc "Annette" của đạo diễn Pháp Leos Carax quy tụ trên màn ảnh lớn hai ngôi sao Marion Cotillard và Adam Driver, nhân buổi lễ khai mạc. Hai bộ phim thương mại khác cũng được chiếu trong liên hoan kỳ này là tập 9 của ‘‘Fast and Furious’’ và tập 3 của loạt phim gián điệp hài hước "OSS 117" với Jean Dujardin trong vai chính. Bộ này được chiếu để bế mạc liên hoan trước khi được cho ra mắt công chúng tại các rạp. Hy vọng rằng các rạp phim không gặp trở ngại nào lớn trong việc khôi phục doanh thu phòng vé. Một yếu tố hết sức quan trọng, bởi vì từ đầu tháng 09/2021 trở đi, chính phủ Pháp sẽ ngưng các khoản trợ cấp, từng giúp cho gần 6.000 phòng chiếu phim cầm cự về mặt tài chính trong suốt mùa dịch Covid-19.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1606 Posted : Friday, July 2, 2021 12:06:38 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Đôi tình nhân trên cầu Pont Neuf - Chuyện tình của những trái tim tan vỡ

02/07/2021 -Lệ Thu / RFI
Nếu một lúc nào đó, bạn cất công tìm kiếm trên các trang mạng xã hội nổi tiếng để tìm hiểu những bộ phim tuyệt vời về Paris thì chắc hẳn, bạn sẽ không thể bỏ qua tác phẩm hiếm có “Les Amants du Pont Neuf”. Tạm dịch là “Đôi tình nhân trên cầu Pont Neuf” (tên tiếng Anh là “The lovers on the bridge”), bộ phim của đạo diễn Leos Carax ra mắt lần đầu tiên vào năm 1991.

Chuyện phim kể về Alex, một người biểu diễn đường phố nghiện rượu và thuốc an thần đã phải lòng nàng họa sĩ Michèle đang mang căn bệnh khiến thị giác của cô càng ngày càng giảm sút. Một tình yêu say đắm giữa hai kẻ lang thang tại cây cầu cổ nhất Paris, cầu Pont Neuf, đã diễn ra. Mới nghe qua thì có vẻ đây là một bộ phim tình cảm lãng mạn đơn thuần nhưng nếu chỉ có vậy, “Đôi tình nhân trên cầu Pont Neuf” đã không lọt vào Top 10 những bộ phim hay nhất về Paris. Dù cho đến nay, tác phẩm đã được 30 năm tuổi nhưng không ai nói đó là một câu chuyện đã cũ.

Do gặp phải nhiều trục trặc khiến cho thời gian hoàn thành bộ phim bị kéo dài hơn so với dự kiến, song sự ra đời của tác phẩm đã nhận được sự hoan nghênh nồng nhiệt từ giới phê bình phim tại Pháp cũng như trên thế giới. Bộ phim được đề cử tại các giải César, giải phim châu Âu xuất sắc, giải BAFTA, đồng thời nhận được các giải thưởng phim châu Âu cho nữ diễn viên xuất sắc và quay phim xuất sắc. Đạo diễn, kiêm biên kịch của phim, Leos Carax vừa là một đạo diễn, là một nhà phê bình lại vừa là một nhà văn. Bởi vậy mà ông được chú ý với phong cách phim rất Thơ cùng những miêu tả đau khổ về tình yêu. Chính vì thế, trong “Đôi tình nhân trên cầu Pont Neuf” người ta không chỉ Yêu, mà người ta còn Yêu với những nỗi đau tan vỡ có thật.

Bức tranh tình yêu

Những thước phim đầu tiên của tác phẩm khiến khán giả rùng mình bởi sự thật trần trụi về những người lang thang ở Paris, trong đó có Alex. Vóc người nhỏ bé, xiêu vẹo, rất hiếm khi tỉnh táo bởi tác dụng của rượu và thuốc an thần, Alex được tạo nên là một hình ảnh hoàn toàn không đẹp, thậm chí có thể nói là xấu xí. Anh tự cho rằng mình không thể được sống yên ổn nếu rời khỏi cây cầu Pont Neuf, một trong những cây cầu cổ nhất thành phố, nơi mà người ta đang lập rào chắn để sửa chữa.

Dường như, bạn chỉ bình yên khi bạn ở cái nơi những người khác coi là “Danger” - nguy hiểm - như tấm biển đang giăng ngang chắn đường lên cầu. Nơi ấy, sẽ không ai có thể làm phiền hoặc làm bạn bị tổn thương. Rất nhiều lần trên phim, trong những câu thoại ít ỏi của mình, Alex nhắc đi nhắc lại cụm từ “trở lại cây cầu” như là cảm giác được quay về nhà. Đó là nơi anh gặp Michèle, cũng là lần đầu tiên anh tự nhìn thấy bản thân qua bức phác thảo của cô, với gương mặt kinh hoàng, hoảng loạn và méo mó khi anh bị tai nạn ô tô do quá phê thuốc và Michèle vô tình là nhân chứng. Bản phác thảo khiến anh chạy theo cô, cảm thấy một sự gắn kết kì lạ với người họa sĩ lang thang này.

Rồi, Alex vô tình phát hiện ra bức thư trong người Michèle lúc cô bị ngất đi. Từ đây, anh biết được thân thế, gia đình và cả tình yêu xưa cũ của Michèle là một nghệ sĩ Cello có tên Julien.

Những tan vỡ không tên

Trong “Đôi tình nhân trên cầu Pont Neuf”, người ta thích những cảnh đối lập giữa cây cầu xưa cũ với những tòa nhà rực rỡ ánh sáng sang trọng. Người ta thích cái cách Alex làm việc, trong đêm, không một âm thanh nào ngoài tiếng anh phun dầu từ miệng và tiếng ngọn lửa bùng lên.

Giải thưởng Phim Châu Âu dành cho nữ diễn viên xuất sắc thuộc về Juliette Binoche trong vai Michèle nhưng với nhiều người, Denis Lavant đã biến Alex trở nên thật sống động và tự do. Denis Lavant có thể không phải là một Alex hào hoa, điển trai, hấp dẫn. Hoàn toàn không. Tại sao lại phải là một người với vẻ ngoài ăn hình nếu ẩn sâu bên trong, bạn có một tâm hồn thật đẹp? Những chi tiết nhỏ thôi … khi Alex ăn cắp một con cá để làm cho Michèle món sushi, kiếm tiền để chăm lo cho cô tốt hơn, làm những việc điên rồ để cô vui như là tấn công một nhân viên cảnh sát để lấy được chiếc cano đưa cô lướt sóng giữa đêm hay đơn giản chỉ là dùng khăn bông lau khô tóc cho cô và lời dặn “không nên để đầu ướt khi đi ngủ”.

Từ đầu phim, Alex được xây dựng như một gã tồi, liên tục say xỉn và phê thuốc không ngớt, chỉ đến khi cảnh anh biểu diễn phun lửa diễn ra thì dường như người ta mới thấy một Alex khác. Những cú máy gấp gáp, lia nhanh, những đoạn đặc tả, cận cảnh vào đôi tay nhanh nhẹn, đôi chân mềm mại với cú lộn nhào điêu luyện, tư thế ngã gọn gàng như một chú mèo của Alex cho thấy phẩm chất của một nghệ sĩ biểu diễn thực thụ. Ánh sáng mạnh mẽ, động tác dứt khoát, gương mặt và đôi mắt biết nói khác hẳn một Alex loạng choạng giữa cơn say hay phê thuốc. Nếu với Michèle, việc cô chọn sống lang thang trên cây cầu như là sự trả đũa cho những chán nản vì căn bệnh đang lấy dần đi thị giác của cô thì hoàn toàn không có lời tâm sự nào để lý giải tại sao, cái gì đã đẩy Alex ra đường với biết bao chán chường và tuyệt vọng đến thế. Đó, chỉ là một tan vỡ không thể gọi tên.

Họ đến với nhau tự nhiên như cây cỏ phải mọc lên vào mùa hè mát mẻ, có những quấn quýt, chia sẻ, giận hờn và cả ghen tuông. Hai trái tim tan vỡ hòa vào làm một, bù đắp mất mát của nhau, dù có mặt của người thứ ba, là Hans, người được mệnh danh là Bố già của cây cầu, thì họ vẫn gắn bó không thể tách rời.

Ấn tượng khó phai

Cả bộ phim giống một bản tình ca kỳ lạ với những khúc nhạc vui, buồn, nhanh chậm đan xen lẫn lộn đầy màu sắc và nhịp điệu. Trong đó, có hai trường đoạn để lại những ấn tượng cực mạnh kể cả về hình ảnh, âm nhạc lẫn diễn xuất mà ai đã từng xem phim cũng tin rằng mình sẽ không bao giờ có thể quên được. Đó là trường đoạn Alex và Michèle nhảy múa trên cây cầu giữa không gian rực sáng pháo hoa ngoạn mục. Cả bầu trời và dòng sông Seine bừng lên đẹp không thể tả. Cú máy dài gói trọn khoảnh khắc quý báu họ dành cho nhau, một là lúc hai người nhảy múa như điên dại và một là lúc họ “du ngoạn” trên sông Seine bằng cano lướt ván vừa đánh cắp được. Nó khiến người xem cảm nhận có vẻ cái hạnh phúc và niềm vui ấy sẽ kéo dài mãi, không bao giờ kết thúc, không ai muốn nó dừng lại. Âm nhạc mạnh mẽ thôi thúc cuồng nhiệt và gương mặt hai người cũng bừng sáng trong nhau.

Vì thế mà trường đoạn ấn tượng thứ hai ở ga tàu điện ngầm lại tạo nên một cảm giác khác hẳn. Hầu hết là những cú máy ngắn, lia nhanh, gây sốc. Đặc biệt, tiếng Cello vừa réo rắt, rạo rực, lại vừa như gấp gáp, đe dọa tạo nên ám ảnh mãnh liệt. Người ta thấy những giây phút cút bắt tình yêu đầy trái ngang khi Michèle đuổi theo tiếng Cello để tìm Julien, nghệ sĩ Cello đã từng yêu và rời bỏ cô, còn Alex thì đuổi theo tiếng Cello vì muốn xua anh ta đi trước khi Michèle xuất hiện, không để hai người gặp nhau.

Vị kỉ, phần tất yếu trong tình yêu

Alex là một kẻ vị kỉ. Tại sao? Chắc chắn là vì anh quá yêu Michèle, muốn giữ cô cho riêng mình mãi mãi. Tình yêu mang đặc tính “chiếm hữu” rất lớn, Alex cũng không phải ngoại lệ, đặc biệt là khi anh cho rằng mình không có gì đủ lớn và đủ mạnh để giữ Michèle lại. Không ít hơn ba lần trong phim, Alex đã làm mọi cách để níu giữ Michèle trước nỗi ám ảnh cô sẽ rời bỏ anh. Lần đầu tiên là khi họ có một khoản tiền cùng nhau. Michèle đã sợ mùa đông sẽ tới trên cây cầu và họ không thể tiếp tục ở đó. Cầm 2000 đồng trong tay, cô toan tính việc sẽ làm gì với nó. Vì cô đã từng nói “tình yêu cần một phòng ngủ chứ không phải nơi có gió lùa” nên Alex càng cảm thấy một sự đe dọa. Anh đã cố tình khiến Michèle tự làm rớt chỗ tiền xuống sông để cô không thể mơ tưởng một nơi nào khác ngoài cây cầu an toàn của anh.

Lần thứ hai, sự ích kỉ trở nên điên rồ hơn khi Alex phát hiện ra gia đình Michèle đã tìm ra người có thể chữa bệnh cho cô và đang tìm kiếm cô. Nỗi sợ hãi cô đơn và bị bỏ rơi xâm chiếm Alex, trong cơn cuồng điên, Alex đã đốt trụi những tấm áp phích dán trong ga tàu điện ngầm, đốt trụi cả chiếc xe tải mini của người thợ được thuê dán áp phích và khiến anh ta bị bỏng nặng. Và lần cuối cùng, ở cuối phim, sau ba năm phải đi tù vì tội đó, Alex gặp lại Michèle, anh cũng sẵn sàng xô cả hai xuống sông Seine giữa cái giá lạnh của Paris chỉ vì cô nói cô đang chết dần. Để rồi ngay sau đó, họ lại hoảng sợ khi không thể nhìn thấy nhau dưới dòng sông tối đen lạnh lẽo kia. Để rồi sau đó, họ lại cùng đứng trước mũi chiếc xà lan chở cát, cùng hướng về tương lai và cười vào mũi khổ đau dù chưa biết cái tương lai kia sẽ có màu gì.

Tình yêu trong sáng, rất Người của Alex và Michèle đã được miêu tả thật vô cùng hoang dại mà có lẽ chưa từng một bộ phim nào có thể làm được như trong “Đôi tình nhân trên cầu”. Cả những đắm say, những điên rồ, những đuổi bắt, những tiếng cười và những giọt nước mắt đều ẩn chứa niềm đam mê và nỗi đau. Nhưng hạnh phúc là một cái gì rất khó để định nghĩa và gọi tên, bởi dù trong nỗi đau nào thì khi con người ta còn cảm thấy hạnh phúc bên nhau, người ta sẽ tìm đến với nhau.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1607 Posted : Saturday, July 3, 2021 1:41:06 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Fleetwood Mac - Tình yêu có giết chết ban nhạc thế kỷ ?

03/07/2021 - Gia Trình / RFI
Chuyện tình cảm giữa các thành viên trong nhóm Fleetwood Mac luôn tốn giấy mực của báo chí. Sự đổ vỡ, mâu thuẫn tưởng chừng sẽ giết chết ban nhạc năm 1976 và đẩy Fleetwood Mac vào khủng hoảng cuối thập niên 1980. Kỳ lạ thay, càng khủng hoảng, ban nhạc càng thành công hơn. Phần 2 của tạp chí Âm Nhạc về nhóm nhạc Fleetwood Mac dành giải đáp thắc mắc : Tình yêu có giết chết ban nhạc thế kỷ ?

Stevie Nicks, Linsey Buckingham và Mick Fleetwood

Trước khi gia nhập nhóm, Nicks và Buckingham đã có mối quan hệ sâu sắc từ thập niên 1960. Lúc gia nhập nhóm năm 1974, họ là cặp uyên ương trong âm nhạc, từng phát hành album chung. Chuyện tình cảm của họ không liên tục, xuyên suốt mà đứt quãng khiến Nicks và Buckingham nỗ lực hàn gắn. Đến năm 1976, tình cảm giữa họ đứt vỡ trong quá trình thực hiện album kinh điển Rumours. Có lẽ cá tính quá mạnh khiến cho cả hai nghệ sỹ gặp vấn đề.

Sau khi chia tay Buckingham, Nicks lại có mối quan hệ với tay trống Mick Fleetwood vào năm 1977. Lúc đó, Fleetwood vẫn đang chung sống với người vợ đầu, Jenny Boyd. Cho dù Nicks và Fleetwood đồng ý sớm chấm dứt mối quan hệ, cuộc hôn nhân giữa Fleetwood và Boyd sớm đi vào ngõ cụt.

Năm 1983, Nicks lên xe hoa với Kim Anderson, chồng của bạn thân Robin sau khi người bạn thân qua đời do căn bệnh máu trắng. Nữ ca sỹ sinh năm 1948 chia sẻ : “Lúc đó, tôi quyết định sẽ chăm sóc con của Robin khi cô ấy qua đời. Chúng tôi cưới không phải vì yêu mà vì quá đau khổ”. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân duy nhất của Nicks chỉ tồn tại trong vòng 3 tháng.

Mick Fleetwood và Jenny Boyd

Nhà sáng lập nhóm nhạc kiêm tay trống, Mick Fleetwood kết hôn với người mẫu Jenny Boyd năm 1970 và có hai con gái chung. Không lâu sau, Mick phát hiện vợ mình có quan hệ với tay guitar của nhóm lúc đó là Bob Webston. Mối quan hệ vụng trộm của vợ Mick ảnh hưởng nghiêm trọng tới ban nhạc. Mick đã yêu cầu Bob rời khỏi nhóm năm 1974. Tuy nhiên, Mick cũng ly dị Jenny Boyd một năm sau, 1975. Họ sớm tái hợp ít lâu sau nhưng mối quan hệ tình cảm giữa Fleetwood và Nicks lại giết chết hôn nhân mong manh với Jenny Boyd. Sau đó, Mick hẹn họ với người bạn thân của Stevie Nicks, là Sarah Recor.

John McVie và Christine McVie

Không quá ồn ào như hai cặp đôi kia, chuyện tình giữa John McVie, tay guitar bass và tay keyboard Christine cũng gây xáo trộn ít nhiều. Cặp đôi McVie kết hôn năm 1968. Lúc đó, John McVie là thành viên sáng lập nhóm còn Christine chưa tham gia Fleetwood Mac. Người vợ tham gia nhóm nhạc năm 1970 và lại nảy sinh mối quan hệ với Martin Birch, chuyên gia âm thanh và Curry Grant đạo diễn ánh sáng của Fleetwood. Cặp đôi McVie ly dị năm 1976 nhưng Christine McVie vẫn ở lại nhóm đến tận năm 1998. Sau đó, Christine đính hôn và hủy hôn ước với Dennis Wilson, tay trống nhóm Beach Boys.

Những bản hit sinh ra từ đổ vỡ tình cảm

Khác với nhóm ABBA, tan vỡ tình cảm chưa phải là dấu chấm hết. Tình yêu và sự đổ vỡ là chất xúc tác mạnh mẽ cho những sáng tác đầy rung cảm của Fleetwood Mac. Các thành viên tìm cách gói ghém cảm xúc của họ trong những bản hit như Silver Springs (Dòng suối bạc). Ca khúc được sáng tác và thể hiện qua giọng ca của Stevie Nicks. Nó lột tả nguyên vẹn cảm xúc của Nicks khi tới hồi kết mối quan hệ lãng mạn với Linsey Buckingham.

Bài hát khá dài và có tiết tấu chậm rãi nên không được đưa vào album Rumours (1977). Silver Springs gợi nhớ tới nơi ở cũ của đôi tình nhân Nicks - Buckingham. Nicks thổ lộ “Tôi viết bài này để nói về Linsey. Cái tên Silver Springs khá thú vị đối với tôi. Câu hát “Anh có thể là Dòng suối bạc của tôi, muốn ám chỉ một điều đặc biệt với cuộc đời tôi.” Giai điệu bài hát mộc mạc nhưng ca từ phản ánh sự ghen tuông, hận thù của một người đàn bà sau cuộc chia ly. Kỳ lạ, sau buổi biểu diễn tái hợp The Dance (1997), ban nhạc làm sống lại ký ức âm nhạc đẹp thưở nào. Ca khúc được biết đến rộng rãi sau gần 20 năm ra đời.

So I'll begin not to love you ; Turn around, you'll see me runnin' ; I'll say I loved you years ago ; And tell myself you never loved me no ; Don't say that she's pretty ; And did you say that she loves you? Baby, I don't want to know.

Em sẽ không còn yêu anh nữa ; Quay mặt đi, anh sẽ thấy em chạy trốn ; Em nói rằng em từng yêu anh nhiều năm trước ; Nói với bản thân em rằng anh chưa từng bao giờ yêu em ; Đừng nói với em cô ấy đẹp lắm ; Anh có nói với em rằng cô ấy yêu anh ; Anh yêu, em không muốn biết điều đó.

Chuyện chia ly của Nicks và Buckingham còn ghi dấu ấn trong 2 ca khúc Go Your Own Way (Ra đi theo con đường của em), You make loving fun. Trong Go your own way, Buckingham cũng mô tả trạng thái cảm xúc trái chiều đan xen. Một mặt, ông muốn gạt người tình cũ ra khỏi cuộc đời mình bằng mọi giá. Mặt khác, ông lại hy vọng người tình tìm được bến bờ hạnh phúc mới. Sự mâu thuẫn, đối lập cảm xúc có thể cảm nhận rõ rệt. Buckingham tạo được đối trọng với Nicks trong một vài ca khúc xuất sắc như thế. Họ biến âm nhạc thành cuốn nhật ký để ghi chép mớ cảm xúc hỗn độn. Do vậy, lời ca luôn ám ảnh, hiện thực với tiết tấu nhịp mạnh mẽ.

Đối với Christine McVie, bà ghi dấu ấn chuyện tình tan vỡ với tác phẩm Little Lies (Lời nói dối vô hại). Ca khúc được Christine McVie sáng tác cùng người chồng sau đó Eddy Quintela. Bài hát ra mắt vào năm 1987 trong album Tango in the night của nhóm.

Theo chia sẻ của Christine McVie, ý tưởng của bài hát là “Nếu tôi có cơ hội, chắc chắn tôi sẽ làm khác đi. Nhưng vì không có, tôi phải tiếp tục lừa dối chính mình mặc dù tôi biết anh ấy sẽ nói dối tôi.” Tuy không rõ ràng, nhưng ca khúc ám chỉ tới mối quan hệ tan vỡ của Christine với người chồng cũ John McVie hoặc với Dennis Wilson. So với Stevie Nicks, mối quan hệ của Christine McVie còn phức tạp chằng chịt gấp bội phần. Bài hát nhanh chóng lọt vào top 10 bảng xếp hạng Billboard, trở thành một trong 3 ca khúc phát sóng nhiều nhất trên radio Anh, Mỹ cuối thập niên 1980.

Although I'm not making plans ; I hope that you'll understand there's a reason why ; Close your, close your, close your eyes ; No more broken hearts ; We're better off apart, let's give it a try ; Tell me, tell me, tell me lies.

Mặc dù em không lên kế hoạch gì cả ; Em hy vọng anh sẽ hiểu lý do tại sao ; Hãy nhắm mắt lại, nhắm mắt lại ; Không còn trái tim tan vỡ nào hết ; Chúng ta nên chia tay nhau, hãy thử làm điều đó ; Hãy nói dối em, nói dối em.

Rắc rối của ban nhạc hỗn hợp

Nội bộ nhóm Fleetwood Mac có lẽ phức tạp hơn các ban nhạc khác vì có tới hai thành viên nữ. Hơn thế nữa, Nicks và McVie đảm nhận vai trò nòng cốt trong ban nhạc: sáng tác, chơi nhạc cụ và hát chính. Họ tạo được sự đa dạng, bổ trợ nhau về cảm xúc, màu sắc âm nhạc phong phú. Tuy nhiên, sự phức tạp tính cách cũng dễ lan tỏa sang đời sống cá nhân. Có ý kiến cho rằng giữa Nicks và McVie luôn có sự thù địch và mâu thuẫn. Nhưng cả hai nữ nghệ sỹ đều bác bỏ nghi ngờ trên.

Một điểm chung thú vị giữa Nicks và McVie là họ hết lòng hy sinh cho sự nghiệp mà không có con cái. Nicks từng phá thai khi có bầu với Don Henley, ca sỹ chính nhóm The Eagles khi sự nghiệp solo nở rộ. McVie gặp nhiều sóng gió tình trường nhưng chưa bao giờ có ý định sinh con. Cảm xúc đổ vỡ dồn nén như chiếc lò xo khiến những sáng tác của Nicks và McVie có sức bật mạnh mẽ.

Những bản hit nảy nở từ tình yêu và đổ vỡ của Nicks, McVie, Buckingham là đáp án cho câu hỏi lớn. Tình yêu khó lòng giết chết được ban nhạc như Fleetwood Mac nhưng nó gây ra xáo trộn lâu dài. Cách Fleetwood Mac trở nên vĩ đại chính là nhờ việc chèo lái qua khủng hoảng cá nhân. Họ đã gạt bỏ cái tôi, sự ái kỷ để tìm đến liệu pháp tâm hồn và tài chính mang tên ÂM NHẠC.


hongvulannhi  
#1608 Posted : Sunday, July 4, 2021 2:49:48 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,825

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5354 time(s) in 3600 post(s)
UserPostedImage

HONG VU LAN NHI
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 7/4/2021(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1609 Posted : Monday, July 5, 2021 1:22:15 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Pháp xuất bản ''Hành trình của Flaubert'' nhân 200 năm ngày sinh của nhà văn

05/07/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Năm 2021, nước Pháp kỷ niệm 200 năm ngày sinh của văn hào Gustave Flaubert (12/12/1821). Nhân dịp này, nhà xuất bản Gallimard đã phát hành quyển sách hướng dẫn ''Flaubert, itinéraire d’un écrivain normand'' (Flaubert, hành trình của một nhà văn vùng Normandie) của nữ tác giả Stéphanie Dord-Crouslé, thuộc Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học CNRS của Pháp.

Năm 2021 là ''Năm Flaubert'' và cho dù nhà văn đã sinh ra vào tháng 12, những sinh hoạt kỷ niệm quan trọng nhất tại Pháp lại diễn ra kể từ mùa hè này, thay vì chờ đến cuối năm. Do là nguyên quán của tác giả, vùng Normandie đã lên kế hoạch tổ chức một chương trình đa nghệ thuật khá hoành tráng, với sự tham gia của các trường đại học, các trung tâm văn hóa, các viện bảo tàng của hơn 20 thành phố khác nhau trong đó có Rouen, Le Havre, Évreux, Deauville, Caneleu, hay Lyons la Forêt ….. Chủ tịch danh dự của chương trình ''Flaubert 2021'' là ngôi sao màn bạc Isabelle Huppert, từng đóng vai Emma trong bộ phim ''Madame Bovary'' do đạo diễn Claude Chabrol thực hiện vào năm 1991, dựa theo tiểu thuyết nổi tiếng cùng tên.

Vùng nguyên quán tổ chức ''Năm Flaubert'' hoành tráng

Việc phát hành cuốn sách hướng dẫn nằm trong khuôn khổ chương trình sinh hoạt chính thức ''Năm Flaubert 2021'', với 150 sự kiện lớn nhỏ diễn ra chủ yếu ở ba tỉnh Calvados, Eure, Seine Maritime, từ đây cho tới cuối năm 2021. Tác giả quyển sách, cô Stéphanie Dord-Crouslé, đã nhiều năm dày công nghiên cứu về tác phẩm văn học của Flaubert nói riêng và môi trường sáng tác của nhà văn nói chung. Sau khi viết tiểu luận về tác phẩm ''Bouvard et Pécuchet'' (được phát hành sau khi nhà văn Flaubert qua đời vào năm 1880), cô tham gia vào việc soạn phiên bản hoàn chỉnh cho bộ toàn tập Flaubert trong tủ sách La Pléiade, được cho ra mắt độc giả hồi tháng 6 năm 2021. Cũng trong khuôn khổ ''Năm Flaubert'', bộ toàn tập của nhà văn Pháp được bổ sung thêm với nhiều tác phẩm, từ 3 tập sách ban đầu nay được nâng lên thành 5 tập.

Trong quá trình nghiên cứu về Gustave Flaubert, tác giả Stéphanie Dord-Crouslé đã trở thành một con ''mọt sách'' từ lúc nào không hay. Một cách nghiêm túc, cô đi tìm, rồi đối chiếu những văn bản gốc, xác định quá trình sáng tác của nhà văn Pháp. Theo đề nghị hợp tác của Hội đồng tỉnh Seine-Maritime với nhà xuất bản Gallimard, quyển sách hướng dẫn mang tính phổ thông đại chúng vừa được cho ra mắt độc giả. Quyển sách này tựa như một nguyệt san văn hóa được in bằng khổ lớn, thay vì dưới dạng bỏ túi, bao gồm khá nhiều tranh vẽ minh họa và ảnh chụp xưa cũng như nay, để đưa độc giả theo vết chân của nhà văn Gustave Flaubert (1821-1880).

Sinh trưởng tại thành phố Rouen, Gustave Flaubert xuất thân từ một gia đình khá giả. Thân phụ ông là bác sĩ trưởng khoa phẫu thuật, sống và làm việc tại nhà thương Hôtel Dieu. Sau khi bệnh viện này đóng cửa, phần còn lại của di tích được biến thành Bảo tàng Flaubert và lịch sử ngành y khoa. Song thân của nhà văn đã mua một căn nhà tại làng Croisset (xã Canteleu), cách Nhà thờ Đức Bà thành phố Rouen khoảng 6 cây số. Chính tại ngôi nhà này, Gustave Flaubert đã viết nhiều tác phẩm quan trọng trong đời ông, kể cả Madame Bovary (Bà Bovary, 1857), Salammbô (1862), L'Éducation sentimentale (1869), La Tentation de Saint Antoine (Sự cám dỗ của thánh Antoine, 1874), Trois contes (Ba truyện kể, 1877) ….. Ngôi nhà Pavillon Croisset giờ đây được biến thành một viện bảo tàng nho nhỏ, hướng nhìn ra bờ sông Seine.

Một trong những tiểu thuyết gia vĩ đại của phương Tây

Nhà văn Flaubert thường lấy cảm hứng sáng tác từ những khung cảnh thân quen nuôi dưỡng bao kỷ niệm thời ấu thơ, hình ảnh của vùng Normandie qua những thành phố Trouville, Honfleur, Pont-l'Évêque, hay không khí những ngôi làng đồng quê Ry hay Lyons la Forêt bàng bạc trong tác phẩm của Flaubert. Trong vòng 30 năm, nhà văn Pháp đã ấp ủ sáng tác các tiểu thuyết của mình tại tư gia, đến nỗi ông được mệnh danh là ''văn sĩ ẩn dật'' khép mình trong cuộc sống đạm bạc… như thể tiêu chí sống cho sáng tác nghệ thuật là trên hết.

Nhưng thực tế, theo nhà nghiên cứu Dord-Crouslé, không hẳn là như vậy: nếu như một mặt Flaubert chọn sự ''cô lập'' để tránh bị xao lãng trong sáng tác, thì mặt khác ông cũng rất thích các thú vui chốn phồn hoa đô hội. Cuộc sống hào nhoáng ở Paris qua những chuyến đi nhiều ngày là dịp để cho nhà văn Flaubert tiếp xúc trao đổi với các bạn hữu chuyên cầm bút từ Zola, Hugo, Maupassant, hai anh em nhà Goncourt cho tới George Sand… Chính cũng tại Paris mà ông đã gặp nhà văn kiêm nhiếp ảnh gia Maxime Du Camp. Cả hai cùng đồng hành về Phương Đông : Ai Cập, Syria, Palestine, rồi trở về qua ngõ Hy Lạp và Ý (1849-1851), Flaubert sau đó trở lại Tunisia (1858) để viếng thăm vịnh Tunis và khu khảo cổ Carthage, nhằm hoàn tất tiểu thuyết lịch sử ''Salammbô''.

Thông qua nhiều hình ảnh minh họa, quyển sách hướng dẫn đối chiếu bưu thiếp thời xưa với ảnh chụp thời nay để làm sống lại nhiều địa điểm, nơi chốn mà nhà văn Flaubert đã từng đặt chân qua, nhưng giờ đây không còn nữa… Sử dụng hình ảnh cũng là cách để cho nhà nghiên cứu thu hút thêm sự chú ý của bạn đọc, nhất là thành phần độc giả trẻ tuổi có thêm lối vào để khám phá thế giới tiểu thuyết của Flaubert. Đó có thể là nghịch lý thời công nghệ số, nhưng thông qua cuộc triển lãm về Gustave Flaubert tại Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Rouen, rõ ràng là một số tác phẩm của Flaubert như ''Ba truyện kể'' hay là ''Salammbô'', một khi phóng tác thành truyện tranh lại càng thu hút thêm nhiều độc giả.

Từ bối cảnh hư cấu đến chi tiết thực tế

Qua việc đối chiếu các văn bản gốc (không chỉ riêng gì các bản thảo văn học mà đôi khi còn có cả các giấy tờ hành chính), nhà nghiên cứu Stéphanie Dord-Crouslé đem lại bằng chứng khoa học xác nhận hoặc phủ nhận các giai thoại và truyền thuyết xung quanh nhà văn người Pháp, lúc sinh tiền đã trở nên nổi tiếng nhờ tiểu thuyết ''Madame Bovary'' (Bà Bovary), xuất bản vào năm 1857, để rồi với thời gian trở thành một trong những tiểu thuyết gia vĩ đại của phương Tây.

Quyển tiểu thuyết ''Madame Bovary'' phác họa bối cảnh của thị trấn hư cấu Yonville, mà theo truyền thuyết được mô phỏng theo ngôi làng Ry, nhưng thực tế không hẳn là như vậy. Vào năm 1991, đạo diễn Chabrol đã đặt ống kính tại Ry để quay phim ''Bà Bovary'' và kể từ năm 2017, ngôi làng này cũng tổ chức liên hoan ''Madame Bovary'' khiến cho nhiều độc giả bị nhầm lẫn giữa khung cảnh tái tạo với thực tế.

''Bà Bovary'' dựa vào câu chuyện thật của bà Delphine Delamare, tự kết liễu cuộc đời tại ngôi làng Ry vào năm 1848. Ngoài đời, bà Delphine là vợ của bác sĩ Delamare, nguyên là học trò của thân phụ nhà văn Gustave Flaubert. Gợi hứng từ câu chuyện thật này, ông đã viết nhiều năm sau đó tác phẩm "Bà Bovary". Khi được in thành sách, quyển tiểu thuyết thường đăng trên trang bìa bức tranh mang tựa đề ''Chân dung của một phụ nữ trẻ'' (Portrait d'une jeune femme) của Joseph Désirée Court (1797-1865).

Lúc sinh tiền, ông là một họa sĩ nổi tiếng ở Rouen và ông đã từng vẽ nhiều bức tranh chân dung cho gia đình Flaubert, trong đó có các bức chân dung của người mẹ ruột (Julie) và cô em gái (Juliette) của nhà văn Flaubert. Do quan hệ khá gần gũi giữa họa sĩ Court với nhà Flaubert, bức tranh của ông thường được hiểu lầm rằng đó là chân dung của "Bà Bovary". Quyển sách hướng dẫn của Stéphanie Dord-Crouslé chẳng những đưa bạn đọc đi theo vết chân của Gustave Flaubert, nhưng đồng thời giúp phân biệt đâu là bối cảnh hư cấu, đâu là chi tiết thực tế.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1610 Posted : Thursday, July 8, 2021 11:26:08 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Điện Ảnh : Olivia de Havilland và Kinuyo Tanaka, hai người đàn bà tiên phong

07/07/2021 - Thanh Hà / RFI
Liên hoan Cannes thường bị chị trích không dành một chỗ xứng đáng hơn cho các nhà làm phim nữ. Trong số 73 Cành Cọ Vàng mới có một phần thưởng đó được trao cho nữ đạo diễn Jane Campion. Trên thực tế, Festival điện ảnh Pháp luôn là một đồng minh của phái đẹp trong làng nghệ thuật thứ 7.

Năm ngày trước lễ khai mạc Liên hoan, ban tổ chức mời công chúng thưởng thức miễn phí bộ phim phác họa lại sự nghiệp của tài tử điện ảnh Olivia de Havilland (1916-2929). Trong lịch sử của Liên hoan Cannes, năm 1965, bà là nữ chủ tịch ban giám khảo đầu tiên.

Người đàn bà thép

Olivia de Havilland, con người bất khuất do nữ đạo diễn Daphné Baiwir thực hiện. Olivia là một công dân Anh, sinh tại Nhật Bản. Bà lớn lên và thành đạt trên đất Hoa Kỳ, là một ngôi sao sáng của làng điện ảnh Hollywood từ những năm 1930. Cuối đời, Olivia đã chọn nước Pháp là ngôi nhà cuối cùng. Thế giới biết đến tên bà qua vai diễn Melanie trong bộ phim Cuốn Theo Chiều Gió, dựa trên tiểu thuyết cùng tên. Olivia de Havilland đã hai lần đoạt giải Oscar dành cho nữ diễn viên xuất sắc nhất vào năm 1947 với To Each His Own, và 1950 nhờ bộ phim The Heiress.

Trong thế giới điện ảnh với nhiều mảng tối được che giấu trong hậu trường. Olivia de Havilland không chỉ là một nữ diễn viên với gương mặt hiền hậu, với vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành. Năm 26 tuổi bà không ngần ngại kiện ông trùm Hollywood thời đó là Jack Warner đòi đàm phán lại hợp đồng « công bằng » hơn cho những nghệ sĩ, diễn viên bị huy động tham gia Thế Chiến Thứ Hai và cô gái với vóc dáng thùy mị này đã giành phần thắng trong cuộc đọ sức pháp lý. Với một chiếc đũa thần của Anne Warner mọi việc đã được sắp xếp ổn thỏa và nữ diễn viên trẻ Olivia de Havilland được toại nguyện, mãi mãi là gương mặt trung hậu Melanie trong Cuốn Theo Chiều Gió.

Kinuyo Tanaka, người mở đường

Chương trình Cannes Classic dành để giới thiệu với khán giả những tác phẩm, những nhà làm phim kinh điển của nghệ thuật thứ 7 thế giới năm nay dành một chỗ đứng trong trọng cho nữ diễn viên kiêm đạo diễn Nhật Bản Kinuyo Tanaka (1910-1977)

Bà bắt đầu đóng phim từ năm 14 tuổi, để lại dấu ấn qua hơn 200 vai diễn. Kinuyo Tanaka là nữ diễn viên được cây đại thụ của điện ảnh xứ hoa anh đào là Ozu yêu thích nhất. Bà từng là vợ của nhà làm phim Hiroshi Shimizu vào thời điểm mà ông đang trên đỉnh cao danh vọng. Nhưng rồi Kinuyo Tanaka đã chinh phục con tim của đạo diễn Kenji Mizoguchi đến nỗi ông thực hiện 14 bộ phim với Tanaka. Mizoguchi thậm chí xem bà như bửu bối của riêng mình. Người đàn bà độc lập này không là của riêng ai. Bà đã cãi lời Mizoghchi cộng tác với những đối thủ của ông và trong đời sống nghệ thuật bà không chấp nhận chỉ là thân tầm gửi.

Năm 1949 sau một chuyến tham quan Hollywood, nữ diễn viên Nhật bắt tay vào việc thực hiện để nói lên ngôn ngữ điện ảnh của riêng mình. Tổng cộng Kinuyo Tanaka thực hiện sáu bộ phim trong thời gian từ năm 1953 đến 1961. Là một phụ nữ đứng trên phim trường, đằng sau ống kính trong xã hội còn phong kiến như Nhật Bản ở vào thập niên 1950, Kinuyo Tanaka là người mở đường. Liên hoan Cannes năm nay giới thiệu với khán giả tác phẩm Tsuki wa noborin, tạm dịch là Trăng lên, thực hiện năm 1955. Đó là câu chuyện của một người đàn ông góa vợ, nuôi dậy ba cô con gái.



Liên hoan phim Cannes, sân khấu ngoài mong đợi của nền ca nhạc

08/07/2021 - Thanh Hà / RFI
07/07/2121 phải chăng là Ngày Lễ Hội Âm Nhạc tại Liên hoan Cannes ? Ca nhạc và điện ảnh như bóng với hình. Có lẽ vì thế mà ban tổ chức dành một chỗ đứng riêng biệt cho Céline Dion, Jane Birkin hay ban nhạc Mỹ The Velvet Underground.

Nếu như ban song ca pop – rock Sparks đã mở màn Festival lần thứ 74 trong bộ phim Annette đêm khai mạc liên hoan, thì hôm qua 07/07/2021 mọi chú ý dồn về bộ phim tài liệu The Velvet Underground của đạo diễn Todd Haynes. Trong hai giờ đồng hồ Haynes đưa người mộ điệu vào thế giới của Lou Reed, John Cale, Moe Tucker, Sterling Morrison… Năm 1967 ban nhạc rock này cho ra đời đĩa hát đầu tiên với ảnh bìa là một bức họa do chính Andy Warhol thực hiện. Hơn nửa thế kỷ sau, Velvet Underground vẫn là một huyền thoại với sức hút nam châm hiếm thấy trong làng giải trí.

Cùng ngày hôm qua, khán giả Cannes hả hê với phim Aline, một bộ phim phóng tác từ cuộc đời của nữ ca sĩ từ vùng Québec - Canada, Céline Dion. Tác phẩm này do nữ diễn viên Pháp Valérie Lemercier thực hiện và thủ vai chính. Aline đã sẵn sàng để hội ngộ với khán giả từ bảy tháng qua nhưng đã phải tạm « ngủ yên » vì đại dịch và các rạp xi-nê đóng cửa. Như để bù đắp lại phần nào bất công đó, Liên hoan Cannes mời Aline đến bên bờ biển biếc ở hạng mục Hors Compétition – không tranh giải. Phim được dự trù công chiếu vào tháng 11 năm nay.

Nếu như Aline là bộ phim thứ sáu nữ diễn viên Valérie Lemercier thực hiện thì ngôi sao điện ảnh Charlotte Gainsbourg lần đầu điều khiển ống kính caméra với bộ phim tài liệu Jane par Charlotte xoay quanh quan hệ mẹ-con phức tạp giữa tác giả và người mẹ là ca sĩ Jane Birkin.

Jane par Charlotte ghi lại những khoảnh khắc đầy xúc động khi một già, một trẻ cùng trở về mái nhà xưa, ở số 5 đường Verneuil, Paris : tổ ấm của cố danh ca Serge Gainsbourg với hai mẹ con Jane và Charlotte. Đó cũng là nơi Serge đã yêu thương con riêng của vợ, cô bé Kate Barry như chính con gái mình. Kate qua đời năm 2013, ở tuổi 46.

Jane và Charlotte là hai ngôi sao trong làng điện ảnh và ca nhạc Pháp. Không dễ chút nào đối với cô con gái đã lớn lên dưới cái bóng của mẹ. Sân khấu đèn màu, hiềm khích, sự ganh tị và cả tình yêu thương hay những bi kịch trong cuộc đời đã đẩy xa Charlotte khỏi vòng tay người mẹ. Như một lời tạ tội, trả lời báo chí Jane Birkin thổ lộ : Jane par Charlotte cho phép mẹ con bà gần nhau sau 10 năm xa cách.

Hình ảnh Jane và Charlotte tay trong tay rạng ngời trên thảm đỏ Cannes đêm qua, sau trên dưới 50 năm thăng trầm sự nghiệp. Sau nhiều mất mát tình cảm chắc chắn rằng Jane và Charlotte không bao giờ rời xa nhau nữa.



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1611 Posted : Friday, July 9, 2021 12:26:24 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Benedetta, người tu hành và giới tính : Cú sốc đầu tiên tại Liên hoan Cannes 2021

09/07/2021 - Thanh Hà / RFI
Cùng với ban giám khảo Cannes, khán giả Pháp hôm nay 09/07/2021 khám phá Benedetta của đạo diễn Hà Lan, Paul Verhoeven. Một thiếu nữ vào nhà dòng vì tin chắc cô là vợ của Chúa Giêsu. Bên cạnh đức tin, tín ngưỡng, Benedetta là một con người bằng xương bằng thịt với những tham vọng, nhục dục như phần còn lại trong thế gian.

Benedetta dựa trên tác phẩm « Sơ Benedetta, thánh nữ và đồng tính » của nhà văn Mỹ Judith C. Brown. Tất cả bắt nguồn từ một câu chuyện có thực từ một nữ tu sĩ người Ý, thế kỷ thứ 17. Benedetta có niềm tin và tình yêu tuyệt đối dành cho đấng Tối Cao. Cô tin vào sứ mệnh được giao phó và từng bước chinh phục quyền lực, thay thế Mẹ bề trên điều hành tu viện. Với nhiều nghị lực, sự thông minh và cả sự gian xảo, độc ác, Benedetta tìm cho mình một chỗ đứng trong thế giới và xã hội mà mọi quyền sinh sát đều được đặt trong tay nam giới.

Bốn thế kỷ trước khi có đại dịch Covid-19, vùng Toscana, miền trung nước Ý phải đối mặt với dịch tả. Nhờ Benedetta cách ly tu viện với thế giới bên ngoài, mọi người được bình an cho đến khi một ông cha đại diện cho quyền lực của Tòa Thánh đẩy cánh cổng bước vào bên trong tu viện.

Đã nhiều lần đến Cannes với những tác phẩm bắt công chúng và giới phê bình phải bàn luận rất nhiều, Paul Verhoeven tiếp tục đem lại cho khán giả những cú sốc mạnh khi đặt tình yêu, giới tính, dục vọng ngang hàng với tín ngưỡng và tôn giáo, khi không che đậy, giấu diếm những đòi hỏi xác thịt ngay cả ở nơi tu hành. Năm 1992 đạo diễn người Hà Lan này đã được cả thế giới chú ý nhờ bộ phim Bascic Instinct với những màn nóng khiến khán giả phải vã cả mồ hôi.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1612 Posted : Saturday, July 10, 2021 5:27:47 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Amélie Poulain - Hạnh phúc là những bình dị không tên

09/07/2021 - Lệ Thu /RFI
Trên hầu hết các nền điện ảnh lớn nhỏ của Thế giới, rất hiếm khi người ta có thể tìm thấy những tác phẩm vừa có tính nghệ thuật cao lại vừa đạt được sự thành công về mặt giải trí. Đôi khi, được cái nọ lại mất cái kia. Nhưng, với “Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain” thì dường như định nghĩa “phim nghệ thuật” và “phim giải trí” đã hòa vào làm một.

Ngay sau khi ra đời, bộ phim đã được 5 đề cử giải Oscar, đoạt nhiều giải thưởng tại các Liên hoan phim châu Âu và gặt hái thành công lớn tại Pháp vào năm 2002 với hàng loạt giải thưởng César, đồng thời, có doanh thu phòng vé lên tới gần 174 triệu đô la, cao gần gấp 20 lần số vốn ban đầu. Không những thế, tác phẩm Tâm lý hài này còn được tờ Thời báo New York đánh giá là một trong “1.000 bộ phim xuất sắc nhất mọi thời đại”.

Điều gì đã khiến cho đạo diễn kiêm đồng biên kịch của phim, Jean-Pierre Jeunet, lại thành công đến vậy, mặc dù, bộ phim được công chiếu tại Mỹ ngay sau thảm họa 11 tháng 9 năm 2001 và chính Jean-Pierre Jeunet đã phải thốt lên “coi như bộ phim đã chết yểu” trên thị trường phim ảnh lớn nhất thế giới này. Nhưng ngược lại với lo lắng của Jean-Pierre Jeunet, chỉ riêng trên đất Mỹ, “Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain” đã thu về được hơn 30 triệu đô la. Biết đâu, đó lại chính là lúc con người ta cần tới những điều đẹp đẽ, những thứ tưởng như xa vời với thực tại đang đầy biến động và đau khổ, người ta cần một câu chuyện cổ tích.

Paris - thành phố của những chuyện cổ tích

Bộ phim lấy bối cảnh ở Paris, thành phố ấm áp, đẹp mơ màng với ba màu chủ đạo là xanh lá, vàng cam và đỏ chín. Đó là một Paris của những quầy bán báo xinh xẻo, những cửa hàng rau quả tươi rói, những con mèo thích nghe chuyện cổ tích và những người dân hiền lành đáng yêu. Là nơi phép màu ẩn trong từng góc phố và tình yêu ngập trong bầu khí quyển. Là nơi kể câu chuyện về Amélie Poulain, một cô gái làm bồi bàn tại một quán café nhỏ, trong sáng, tốt bụng, với những kế hoạch tuy không lớn lao nhưng lại đem đến những thay đổi to lớn cho mọi người sống quanh cô.

Ngay trong phút đầu tiên, “Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain” mở ra hình ảnh con đường lát đá tưới ánh sáng vàng cam tuyệt đẹp của Paris như cổ tích khiến người ta hình dung ngay lập tức một câu chuyện đẹp với sự chào đời có vẻ đầy ngẫu hứng của Amélie, khi mà những điều tưởng như không ai để ý vẫn đang diễn ra hàng ngày … Đó là tốc độ của một con nhặng đang bay hay một nhà hàng với những chiếc ly đang nhảy múa trên bàn vì gió. Cuộc đời Amélie cũng bắt đầu một cách khác thường bởi điều vô cùng hư cấu, cô bé bị cha cho rằng có bệnh tim, mà thật ra, chỉ vì quá yêu quý cha nên cô đã không thể giữ cho tim mình không nhảy nhót mỗi khi ông kết thúc chuỗi ngày làm việc dài tại bệnh viện để về nhà. Amélie được cha mẹ giữ trong nhà, học tại nhà, không được tiếp xúc nhiều với bên ngoài. Amélie hầu như không có bạn ngoài những người bạn tưởng tượng nào đó và một vài sở thích kì lạ như thọc tay vào túi đậu, dùng thìa gõ vào bánh bọc đường, thích ngắm nhìn gương mặt người khác vào lúc tối trời, chú ý tới các tiểu tiết xung quanh hay ném đá thia lia trên dòng kênh xanh.

Tất cả những chi tiết này được nhà làm phim đưa ra dưới cái nhìn hài hước, chua chát cười ra nước mắt, lại được kể bằng giọng điệu của một người dẫn chuyện khá hùng hồn. Thậm chí, những điều có vẻ tồi tệ đến với tuổi thơ của Amélie, kể cả cái chết của mẹ cô, cũng mang màu sắc trào lộng đậm chất Pháp khiến cho nó trở nên nhẹ nhàng và dễ cảm hơn hẳn. Nó khiến cho khán giả càng thêm tò mò về những thứ sẽ xảy ra sau này với cô gái bé nhỏ có tuổi thơ dữ dội, cuộc sống khép kín và những sở thích khác người kia.

Nàng tiên bé nhỏ

Và rồi, ngày định mệnh đã tới, khi xem bản tin về cái chết của công nương Diana, Amélie vô tình làm rơi nắp lọ kem dưỡng da xuống sàn nhà. Một viên gạch bật ra, để lộ một chiếc hộp “kho báu” được một cậu bé nào đó cất giấu hơn 40 năm trước. Ngỡ ngàng trước phát hiện kỳ diệu ấy, Amélie quyết định tìm và trả lại cho cậu bé - giờ đã là một ông già - kỉ vật quý báu xưa cũ ấy. Bản tính nhút nhát nhưng lại sẵn có trí tưởng tượng phong phú, cô không lộ mặt mà tìm những cách khác nhau để tiếp cận ông. Những giọt nước mắt xúc động của ông Protodeux và cách mà ông gọi người đã mang lại kỉ vật là “Thiên thần hộ mệnh” đã gieo trong lòng Amélie niềm hạnh phúc khôn nguôi. Cô bất thần như hòa nhịp cùng tâm hồn ông già, dấy lên nguyện vọng được cứu giúp cả thế gian. Ngay sau khoảnh khắc ấy, cái cách mà Amélie giúp đưa ông già mù khác qua đường, vừa đi trên phố vừa mô tả phố xá, mô tả mọi người, mọi vật xung quanh như là cách chính cô bắt đầu nhận thức về cuộc sống thật háo hức hăng say.

Bé bỏng, xinh xắn, đôi mắt to tròn vừa ngây thơ vừa đẹp đẽ, Amélie giống như một nàng tiên Tinker Bell bước ra từ cổ tích, luôn sẵn sàng giơ chiếc đũa thần lên để giúp đỡ mọi người, đem điều kỳ diệu tới cho cuộc sống của người khác một cách bí mật. Cô luôn tìm ra những cách kì quái, lạ lùng để đạt được mục đích của mình. Cô khiến cho người xem phải hồi hộp theo dõi, phán đoán cô sẽ làm gì tiếp theo để rồi bật cười thú vị và thật sự “phải lòng” cô không một chút băn khoăn.

Amélie “đánh cắp” thần lùn của cha rồi nhờ một người bạn làm tiếp viên hàng không đưa nó đi khắp nơi, chụp hình gửi về cho cha xem, để giúp cha có động lực thực hiện ước mơ đi du lịch vòng quanh thế giới. Cô giúp cho cô phục vụ trong quán café cùng mình có được tình yêu của một người khách quen. Cô lấy cắp những bức thư cũ của người chồng đã mất của bà dì cùng tòa nhà, chắp ghép nó thành bức thư khác rồi gửi cho bà, làm ra vẻ bức thư bị thất lạc bao năm giờ mới tới tay bà, chỉ để chứng minh ông còn yêu bà mãi đến hơi thở cuối cùng. Cô trừng trị gã chủ tiêm rau chỉ vì gã đã đối xử không ra gì với anh chàng phụ việc tội nghiệp. Cô thu lại tất cả những điều kỳ diệu của cuộc sống trên tivi gửi cho ông họa sĩ già hàng xóm bị bệnh xương thủy tinh và không thể ra ngoài. Tất cả đều xuất phát từ trái tim ấm áp biết yêu của Amélie, để rồi, trên con đường giúp mọi người xung quanh được hạnh phúc, cô, cuối cùng, cũng tìm được hạnh phúc cho mình.

Tình yêu trong chiếc khăn bông mềm mại

Không cần đến những cảnh ân ái hay những nụ hôn cuồng nhiệt để diễn tả một tình yêu mạnh mẽ đầy khao khát trong Amélie. Chỉ là cái cách cô nhìn ngắm Nino - người dường như đã có Duyên với cô từ ngày cả hai còn thơ bé, chỉ là cái cách cô dẫn dắt anh chàng chạy ngược xuôi theo những mũi tên màu xanh, hay chỉ là cái cách cô hôn khẽ lên khóe môi anh, lên mắt anh. Ngay cả lúc Amélie hiểu lầm rằng Nino đã hẹn hò với một người khác thì sự đau đớn, không hiểu sao, cũng có thể ngọt ngào đến thế. Cô định làm bánh nhưng nhà đã hết men nở. Tâm tưởng cô hình dung ngay tới cảnh Nino sẽ đội mưa đi mua men nở cho cô và bí mật mang đến nhà. Tấm rèm lay động. Amélie có thể cảm thấy Nino ngay lúc đó, sau lưng cô. Tiếng piano nhẹ nhàng vang lên, cùng tiếng mưa và chú mèo nhỏ vừa bước qua tấm rèm khiến cho người xem có thể cảm nhận được cả niềm đau và giọt nước mắt của Amélie mặn ngọt đầu môi.

Những điều Amélie cảm nhận thật đẹp. Những rung động của cô thật đẹp. Tình yêu sâu sắc của cô với Nino thật đẹp. Nhưng, nó sẽ không đi tới đâu cả nếu cô giữ nó ở mãi trong lòng, nếu cô, cũng giống như ông họa sĩ già hàng xóm, tiếp tục “ở trong nhà”. Đoạn kết phim như một hồi chuông làm thức tỉnh Amélie, có những điều khiến bạn phải bước ra ngoài để khám phá, để khẳng định mình, để Yêu. “Cháu không bị bệnh xương thủy tinh như ta, nhưng nếu cháu không đuổi theo chàng trai ấy thì trái tim cháu sẽ vỡ vụn như những mẩu xương của ta”. Amélie ngay lập tức tỉnh ngộ. Mơ mộng không có nghĩa là bạn chỉ ở yên trong thế giới riêng của bạn. Mơ mộng là khi bạn thật sự sống với nó và đem nó ra với thế giới, giúp thế giới của bạn đẹp hơn, như bạn đã làm với những người khác.

Bộ phim hấp dẫn khán giả không chỉ ở nhân vật chính mà còn ở tất cả các nhân vật phụ xoay quanh Amélie. Ai cũng lập dị, cũng khác biệt nhưng đều “tốt” theo cách riêng và đem lại màu sắc riêng của họ, hoàn toàn không giống với bất cứ nhân vật nào khác trong một bộ phim nào khác.

Thật khó có thể nói điều gì là đẹp nhất trong “Amélie”. Từ bối cảnh, tới âm nhạc, tới diễn xuất của diễn viên … Có lẽ, cái tuyệt vời chính là cảm giác dễ chịu suốt hai tiếng mà bộ phim mang lại và người xem hoàn toàn không khó để nhận ra rằng “không ngờ mình có thể vui từ những điều giản dị như thế”.



Yann Tiersen - Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain

03/09/2016 - Hoài Dịu / RFI
Ngọt ngào, dịu êm, trong sáng và lãng mạn. Đó là những mỹ từ mà người ta đã trìu mến dành tặng cho dòng suối nhạc tuôn trào từ tâm hồn nhạc sĩ xứ Bretagne,Yann Tiersen. Mặc dù trong khoảng thời gian 1995 -1996, ông đã cho phát hành hai album nhạc không lời khá hay như «La Valse Des Monstres» và « Rue Des Cascades» nhưng tên tuổi Yann Tiersen thực sự được công chúng biết đến nhiều nhất khi đạo diễn Jean-Pierre Jeunet mời ông sáng tác âm nhạc cho bộ phim « Le Fabuleux Destin d'Amélie Poulain» ( tạm dịch là: Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain).

Album nhạc phim «Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain» đã thực sự khẳng định tên tuổi Yann Tiersen qua những giải thưởng danh giá như « Victoire de la musique» cho nhạc phim hay nhất, «Word Soudtrack Awards» cho nhạc phim hay nhất của năm và giải Cesar về âm nhạc hay nhất viết cho phim. Hơn 600.000 bản được bán sạch, album đã giữ vị trí quán quân trong nhiều tuần liên tiếp vào năm 2002, cũng như chiếm một lượng thính giả vô cùng đông đảo và rộng khắp.

«Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain » mà chúng ta nghe hôm nay, ra đời từ một cuộc gặp gỡ rất tình cờ. Vào một ngày, đạo diễn Jean-Pierre Jeunet nghe thấy giai điệu của Tiersen trên xe ô tô của người phụ tá, lúc ấy Yann Tiersen chưa thực sự có tên tuổi, bị cuốn hút chỉ sau một lần nghe, Jean-Pierre Jeunet đã mời nhạc sĩ hợp tác cho bộ phim cùng tên của mình.

Album bao gồm 20 bài trong đó có hai bản không do Yann Tiersen viết ( đó là « Si tu n’étais pas là» của Fréhel và «Guilty» của Al Bowlly»), số còn lại là những bản nhạc lấy từ những album trước đây của ông và những bản mà ông viết riêng cho bộ phim cùng tên «Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain».

Là người gốc Bretagne, Yann Tiersen được sinh ra ở Brest nhưng trải qua phần lớn tuổi thơ ở Rennes. Nơi đây, do niềm say mê âm nhạc của mình, cha ông đã cho cậu bé Yann theo học violon và piano ở nhạc viện. Yann Tiersen không phải là một học sinh giỏi ở trường phổ thông, nhưng đổi lại Yann rất xuất sắc trong những giờ học nhạc. Luôn đắm mình trong không gian tràn ngập âm nhạc chuyên nghiệp đó, Yann Tiersen không ngừng tự làm phong phú bản thân bằng cách học chơi thêm rất nhiều nhạc cụ khác như: accordéon, clavecin, xylophone...

Hơn nữa ông cũng bắt đầu sáng tác nhạc cho nhiều bộ phim ngắn và những tác phẩm sân khấu. Cuối những năm 1980, do không còn hứng thú với những khuôn mẫu, chuẩn mực hàn lâm, Yann Tiersen từ bỏ nhạc viện để tham gia vào các nhóm nhạc rock, và biểu diễn thường xuyên với tư cách là nghệ sĩ ghita.

Thực ra ngay từ album đầu tay «La Valse Des Monstres», phát hành năm 1995, màu sắc âm nhạc của Yann Tiersen đã có một gu rất riêng. Đó là những mảng âm thanh bay bổng chỉ dành riêng cho nhạc cụ, trong đó có sự ưu ái đặc biệt đối với đàn accordéon và piano. Một thứ âm nhạc tinh tế chắc hẳn là dư vị của những năm tháng theo học nhạc cổ điển tại nhạc viện. Một âm hưởng khác nữa, là những giai điệu dàn trải, đôi chút buồn mang mác, hay những điệu valse êm đềm, trong sáng. Tất cả đã tạo nên một phong cách rất Tiersen. Và album « Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain » không phải là trường hợp cá biệt.

Hẳn nhiên, chúng ta không thể bỏ qua «La Valse d’Amélie» trong album nhạc phim này, đó là bản nhạc được chính tác giả sáng tác và thể hiện. Giai điệu được chơi trên nền điệu valse, quay đều không dứt, đưa ta vào thế giới trẻ thơ với những vòng đu quay rất đỗi lung linh. Từng âm sắc nối tiếp xuất hiện : tiếng phong cầm vui tươi mở màn điệu nhảy, rồi tiếng chuông thánh thót ngân nga nhường đường cho tiếng kèn melodica, tất cả như chìm đắm vào đêm khiêu vũ thần tiên.

Bản valse trong sáng ấy gắn kết với hình ảnh người thiếu nữ Paris tên là Amelie (nhân vật trong phim). Giai điệu chủ đề được tác giả biến tấu bằng nhiều cách khác nhau. Đó là lý do tại sao có đến bốn bản mang tên «La valse d’Amélie» trong cùng một album. Tuy nhiên mỗi bản được chơi bởi những nhạc cụ không giống nhau, được phối khí khác đi, để phù hợp với từng diễn biến tâm lý của cô gái Amélie và từng bối cảnh trong bộ phim.

Đối với Yann Tiersen , « Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain » là đứa con tinh thần mang lại cho ông sự danh giá đáng kể nhưng cũng tạo ra không ít « hiểu lầm» trong con đường sáng tác của mình. Ở Pháp , Yanne Tiersen luôn chỉ được nhắc đến như tác giả của mỗi album nhạc phim « Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain». Ông nói « Điều này có thể là do sự không thấu hiểu từ công chúng. Jean-Pierre Jeunet đã chọn rất nhiều bản valse, những bản viết cho đàn accordéon, những thứ ấy đã được phát hành trong đĩa nhạc «Rue Des Cascade» trước đó của tôi».

Đúng là, Tiersen có nhiều tác phẩm khác đa màu sắc và âm hưởng phong phú như album «Le Phare» hay « Sky Line » mang phong cách rock, chứ không chỉ là valse, không chỉ là âm sắc phong cầm mà thôi. Điều đó vô tình làm thu nhỏ hình ảnh những đứa con mà ông đã sản sinh trên chặng đường sáng tác âm nhạc của đời mình. Tiersen nói tiếp « Về mặt tích cực, đó là cơ hội cho phép công chúng khám phá thế giới âm thanh của album "Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain". Điểm không hay ở đây là nó đã đưa ra một cách nhìn sai lầm và coi tôi như một kẻ lười biếng. Đúng là hơi bực mình ».

Nhắc đến Yann Tiersen là nhắc đến những nét nhạc miên man tâm tình, mỗi giai điệu là mỗi cung bậc cảm xúc. Có khi thì âu yếm thủ thỉ, có khi đầy đam mê, dạt dào. Những bản nhạc không lời trong đĩa nhạc phim đó là dấu ấn một thời của cả thế hệ những năm đầu thập niên 2000. Hầu như tất cả các nghệ sỹ nghiệp dư, ai cũng muốn một lần chơi vài điệu nhạc từ bản balade, valse hay «khúc đồng dao» của khu vườn âm thanh « Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain ». Những tiêu đề quen thuộc như «Comptine d’Un Autre Eté», «Le Moulin», «La Dispute» và «La Redécouverte» là những minh chứng trường tồn trước thử thách thời gian, cảm xúc luôn hiện hữu dù cho hơn 15 năm đã đi qua.

Yann Tiersen là một người đàn ông điềm đạm nhưng lại là một nghệ sỹ sống rất «vội». Vốn không thích «chờ đợi» lâu, hầu như mỗi năm ông cho ra đời đều đặn một tới hai đĩa nhạc và có nhiều chuyến lưu diễn trong và ngoài nước Pháp. Khá trung thành với nhạc hòa tấu, nhạc không lời, cộng với bản sắc riêng của cá nhân, số lượng gần 17 album mang nhiều phong thái khác nhau trong đó có cả nhạc rock, đủ để có một chân dung sắc nét về Yanne Tiersen: Dịu dàng, trầm lắng nhưng không kém phần dữ dội và đầy phá cách.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1613 Posted : Sunday, July 11, 2021 2:01:02 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Nhạc Pháp : Tình khúc mới khi trời chớm hạ

10/07/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Trong số các album tiếng Pháp được cho ra mắt đầu mùa hè năm 2021, đáng chú ý hơn cả là tập nhạc mới của Clara Luciani. Ca sĩ người Pháp xuất hiện trở lại với album thứ nhì tràn đầy khát vọng và sức sống, sau khi đoạt danh hiệu Giọng ca nữ xuất sắc nhất nhân kỳ trao giải thưởng âm nhạc Pháp, Victoires de la Musique, đầu năm 2020.

Mang tựa đề vỏn vẹn một chữ là ''Coeur'' (Tâm), album thứ hai của Clara Luciani bao gồm 11 ca khúc mới. Hầu hết các bài hát ở đây đã được sáng tác rồi ghi âm trong thời kỳ nước Pháp bị phong tỏa, vì thế Clara Luciani muốn thổ lộ nhắn nhủ, một cách đơn giản gần gũi nhất những lời nói thiết tha, ấp ủ trong ''Trái Tim'' của mình.

Trong số những ca khúc mới sáng tác cho album thứ hai này, có nhạc phẩm ''Sad & Slow'' (Buồn và Chậm) ghi âm với nam danh ca người Pháp Julien Doré. Đây là lần thứ nhì hai nghệ sĩ trẻ này hợp tác với nhau. Trước đó, đã có bản song ca ''L'île au lendemain'' với giai điệu nhẹ nhàng sâu lắng, từng được phát hành trong album thứ 5 của Julien Doré.

''Xin giữ mãi những nụ hôn cháy bỏng

Hương tình yêu đừng phai nhạt sắc hồng

Trên phím ngà, điệu dương cầm buồn chậm

Cầu mưa rơi mắt sa mạc cay nồng''

Bằng những lời lẽ bóng bẩy mà dịu dàng và tựa đề một chữ đơn giản mà không khô khan, Clara Luciani lại tóm tắt được điều thiết yếu đối với nhiều nghệ sĩ trong thời gian qua. Thay vì là khựng lại đà sáng tạo của họ, thời kỳ phong tỏa vừa qua lại càng làm cho các nghệ sĩ có thêm cảm hứng sáng tác. Trong trường hợp của Clara Luciani, cô muốn kết hợp nội dung ca từ đượm buồn chứ không sầu thảm, với những giai điệu trẻ trung yêu đời (theo phong cách của Claude François, Jackson Five hay là Abba).

Barbara Pravi : Ngôi sao chớm mọc trên vòm trời ca nhạc

Phiên bản tiếng Pháp của nhạc phẩm ''The Winner takes it all'' từng ăn khách trước đây của nhóm Abba tạo dấu gạch nối với giọng ca mới Barbara Pravi. Ban nhạc Thụy Điển Abba đã từng đoạt giải thưởng ca nhạc truyền hình châu Âu Eurovision vào năm 1974 (với ca khúc Waterloo), còn Barbara Pravi đã về nhì cuộc thi này hồi trung tuần tháng 05/2021. Tuy không đoạt giải nhất nhưng màn biểu diễn đầy ấn tượng của nhạc phẩm ''Voilà'' đã tạo cơ hội cho tác giả kiêm ca sĩ trẻ tuổi này gặt hái thêm nhiều thành công ở nước ngoài. Một tháng sau cuộc thi, hiệu ứng Eurovision giúp cho ca khúc tiếng Pháp này được xếp hạng cao trên các nền tảng trực tuyến hay tại các thị trường châu Âu. Một ngôi sao sáng vừa xuất hiện trên vòm trời ca nhạc.

Lịch biểu diễn của Barbara Pravi cũng đã bắt đầu chật kín kể từ mùa thu trở đi với một vòng lưu diễn nước Pháp và các nước châu Âu như Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Thụy Sĩ. Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là tập nhạc đầu tay ''hậu Eurovision'' mà cô phải thực hiện cho xong vào mùa hè này. Bởi vì cho tới nay, cô đã ghi âm nhiều đĩa đơn nhưng vẫn chưa có một album phòng thu xứng đáng, cho thấy tài nghệ của Barbara Pravi cả về mặt diễn xuất lẫn sáng tác. Hy vọng rằng tài năng chớm nở của cô sẽ càng rực rỡ khi trời vào hạ.

''Nous'', chưa mất tất cả khi vẫn còn đôi ta

Cũng như cô bạn đồng nghiệp Clara Luciani, Julien Doré đã lập kỷ lục số bán với album mang tựa đề ''Aimée'' phát hành vào mùa thu năm 2020. Sau khi đạt tới mức 3 lần đĩa bạch kim, tập nhạc này vừa được tái bản với nhiều phiên bản hòa âm mới và bài hát bổ sung, nâng số ca khúc ghi âm lên thành 14 thay vì 11 như ban đầu.

Thành danh nhờ đoạt giải nhất chương trình Nouvelle Star vào năm 2007, Julien Doré sau đó đã không ''biến mất'' như nhiều giọng ca khác xuất thân từ các cuộc thi hát truyền hình, mà lại trụ vững nhờ cái tài diễn đạt của anh cũng như lối hát cực trầm nhưng với nhiều giọng gió.

Nhạc phẩm ''Nous'' (Chúng ta) với cách tạo hình ngộ nghĩnh, qua video clip của một phi hành gia đi tắm biển với hai con khủng long T-Rex tí hon, đã chinh phục đông đảo nhiều người nghe. Giai điệu lạc quan yêu đời này hẳn chắc sẽ là một trong những ca khúc thịnh hành vào mùa hè năm nay.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1614 Posted : Monday, July 12, 2021 9:10:12 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Stillwater, hay một người Mỹ ở Marseille

11/07/2021 - Thanh Hà / RFI
Một người Mỹ ở Marseille : đó có thể là tên gọi khác cho bộ phim Stillwater của đạo diễn Tom McCarthy do nam tài tử Matt Damon thủ vai chính. Gần như toàn bộ câu chuyện diễn ra ở thành phố cảng Marseille, miền nam nước Pháp, nơi có nhà tù Les Beaumettes, có những mỏm núi vươn mình ra biển, có những chung cư tồi tàn và các băng đảng buôn ma túy áp đặt luật chơi.

Bill Baker, một công nhân khoan dầu ở bang Oklahoma, lên đường sang Pháp, thăm Allison. Con gái anh thi hành bản án chín năm tù vì tội ngộ sát cô bạn cùng phòng. Allison kêu oan và tiết lộ danh tính thật của thủ phạm. Bill một mình đi tim sự thật để cứu đứa con duy nhất của anh, như để chuộc lại lỗi lầm của chính mình trong quá khứ.

Không rành một chữ tiếng Pháp, chẳng hiểu gì hơn về luật giang hồ ở Marseille, nhưng rồi Bill may mắn được Virginie giúp đỡ. Anh yêu thương Maya, đứa con gái còn nhỏ tuổi của cô, như chính con mình.

Matt Damon từng nổi tiếng với nhân vật Jason Bourne hay François Pienaar thủ quân đội tuyển rugby của Nam Phi trong tác phẩm Invictus. Dưới ống kính của Tom McCarthy, nam diễn viên Mỹ này nhập vai một ông bố vụng về, có phần thô lỗ. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, trước mỗi bữa ăn, Bill luôn phải cầu nguyện và anh luôn van xin Thượng Đế che chở cho Allison.

Về phần Tom McCarthy, năm 2016, ông từng đoạt hai giải Oscar dành cho kịch bản độc đáo nhất và phim xuất sắc nhất nhờ tác phẩm Spotlight. Dựa trên câu truyện thực khi báo Boston Global điều tra về vụ tai tiếng liên quan đến nhiều tu sĩ công giáo lạm dụng tình dục trẻ em.

Lần này, Stillwater là một bộ phim thể loại điều tra hình sự và tác phẩm này khác xa với những bộ phim giải trí của Hollywood.



Ozon : Nhựa Sống trong sự tự chọn lấy cái Chết

12/07/2021 - Thanh Hà / RFI
Ngôi sao điện ảnh Sophie Marceau đêm 07/07/2021 rực rỡ trên thảm đỏ Liên hoan Cannes sau ba năm vắng bóng các phim trường. Đạo diễn François Ozon và đoàn làm phim "bảo vệ" tác phẩm Tout s’est bien passé, nói về tình cha con, về hai mặt của một đồng tiền : Nhựa Sống và Cái Chết.

André Bernheim, 85 tuổi bị tai biến. Còn rất minh mẫn nhưng ông hoàn toàn phải phụ thuộc vào những người chung quanh. Tuổi già và bệnh tật trở thành những tên cai ngục giam hãm ông trên giường hay khá lắm là chiếc xe lăn. André van xin cô con gái yêu, là Emmanuèle do Sophie Marceau thủ vai : « Hãy giúp ông chấm dứt bể khổ này ». Với Emmanuèle, đó là một mệnh lệnh từ một người cha ích kỷ, bướng bỉnh như một đứa trẻ quá được nuông chiều. Emmanuèle không thể từ chối sứ mệnh André trao cho cô, vì cả đời « chưa ai từ chối ông một điều gì ».

Với Tout s’est bien passé, François Ozon đưa lên màn ảnh lớn cuốn sách cùng tên của nhà văn Emmanuèle Berheim nói về thảm cảnh của gia đình bà. Nhưng đấy cũng là thực tế trong xã hội Pháp nơi mà hai chữ « an tử » chưa được luật pháp nhìn nhận và « trợ tử » vẫn bị coi là một hành động tước đoạt cuộc sống. Khác với tại Thụy Sĩ, quyền tự chọn lấy cái chết thanh thản là một đề tài tranh cãi gay gắt trong xã hội Pháp.

Để thuyết phục con gái giúp mình trong chuyến đi cuối cùng sang Thụy Sĩ, André nói « vì còn yêu cuộc đời, vì còn nhiều ham muốn, nên ông không thể chấp nhận sống kiểu này » : Sống trong trạng thái thực vật. Nam diễn viên André Dussollier thủ vai người cha một cách tài tình : lúc thì cáu kỉnh, giận hờn, khi thì châm biếm, mỉa mai nhưng không bao giờ khuất phục tuổi già và bệnh tật.

Chín năm trước đây, phim Amour của Michael Haneke cũng nói về tình yêu và cái chết đã ra về với Cành Cọ Vàng. Lần này bằng một ngôn ngữ hài hước và với nhịp điệu dồn dập, với Tout s’est bien passé, François Ozon như mượn cái chết để ca ngợi muôn vàn vẻ đẹp trong cuộc sống.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1615 Posted : Tuesday, July 13, 2021 12:37:03 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Quốc ca Pháp được phóng tác nhân Thế vận hội Paris 2024

13/07/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Vài hôm trước lễ Quốc khánh Pháp (14/07), Ủy ban Olympic Paris 2024 lại thông báo chọn sáng tác của nghệ sĩ Pháp Woodkid làm ca khúc chính thức nhân kỳ Thế vận hội mùa hè, tổ chức tại Paris trong 3 năm tới. Trên mạng xã hội, Woodkid đã phổ biến trích đoạn đầu tiên trong phần nhạc nền của đoạn phim video ''Made for Sharing'', mời toàn thế giới cùng đến Pháp chia sẻ kỳ Đại hội thể thao.

Dòng nhạc của Woodkid mang ảnh hưởng của ca sĩ Björk và của nhóm Kraftwerk, đều được xem là tiên phong trong thể loại nhạc điện tử. Lần này, nghệ sĩ trẻ tuổi đã chọn chủ đề bản Quốc ca Pháp ''La Marseillaise'' rồi chuyển thể giai điệu này thành một khúc nhạc dồn dập hoành tráng, kết hợp âm thanh cổ vũ cao trào với không khí nhiệt tình trên các sân thể thao. Do tác giả Claude Joseph Rouget de Lisle sáng tác vào năm 1792, bài Quốc ca Pháp ''La Marseillaise'' đã có hàng trăm phiên bản phóng tác khác nhau, trong khá nhiều thể loại, kể cả phiên bản cổ điển của diva người Mỹ Jessye Norman nhân kỷ niệm 200 năm Cách mạng Pháp, lối chuyển thể sang nhạc jazz của nhạc sĩ Claude Bolling, theo nhạc pop của William Sheller hay điệu reggae của tác giả quá cố Serge Gainsbourg …

Quốc ca Pháp phối theo nhạc điện tử và hòa âm giao hưởng

Nhưng trong trường hợp của Woodkid, có lẽ đây là lần đầu tiên Quốc ca Pháp được chuyển thể thành ca khúc khai mạc Thế vận hội. Được đặt tên là ''Prologue'' (Lời mở đầu), khúc nhạc này đã được ghi âm với Ban hợp ca của Đài phát thanh Radio France và Dàn nhạc Giao hưởng Quốc gia. Dài tổng cộng 12 phút, khúc nhạc được phân chia thành nhiều chương. Theo lời nhạc sĩ Woodkid, giai điệu được gợi cảm hứng từ bản Quốc ca Pháp ''La Marseillaise'' nhưng về cấu trúc lại mô phỏng theo nghệ thuật xếp giấy origami của Nhật Bản, trong cách cô đọng tiết tấu, sắp đặt gọn lại những nốt nhạc mở đầu, để rồi dàn trải triển khai khi được phối với 100 nghệ sĩ trên cùng một sân khấu bao gồm toàn ban đồng ca cũng như dàn nhạc quốc gia. Phiên bản phóng tác mới của ''La Marseillaise'' kết hợp cùng lúc với lối hòa âm điện tử với bộ đàn dây của ban nhạc giao hưởng.

Bên cạnh việc phát hành trích đoạn đầu tiên gồm khoảng 2 phút trên đoạn video minh họa ngắn ''Made for sharing'', khúc nhạc sẽ chính thức được phát sóng tại Tokyo vào thời điểm rước đuốc Thế vận hội đến Paris vào ngày 08/08/2021. Cũng nhân dịp này, Woodkid sẽ tổ chức một buổi biểu diễn miễn phí dành cho công chúng ngay dưới chân tháp Eiffel. Đây có lẽ là dịp để cho nghệ sĩ người Pháp giới thiệu rộng rãi hơn các sáng tác riêng, song song với việc hợp tác với Ủy ban Olympic Paris 2024.

Woodkid sáng tác cho hiệu thời trang Louis Vuitton

Tuy là một nhân vật khá nổi tiếng trong làng truyền thông cũng như ngành thiết kế thời trang, nhưng cho tới giờ Woodkid vẫn chưa hẳn là một gương mặt quen thuộc với công chúng Pháp. Trong lãnh vực thời trang cao cấp, Woodkid đã làm việc chung trong nhiều năm trời với nhà thiết kế Pháp Nicolas Ghesquiere, giám đốc các bộ sưu tập thời trang phái nữ cho Louis Vuitton. Trong gần một thập niên, Woodkid đã tạo dựng không gian âm thanh với sắc thái riêng biệt cho các đợt biểu diễn thời trang hiệu Vuitton trên sân khấu.

Thế nhưng, Woodkid không tự bó mình vào ngành thời trang y phục mà còn mở rộng hợp tác với nhiều nghệ sĩ trong các lãnh vực khác nhau như nhiếp ảnh (JR Jean René), điện ảnh (Robert de Niro) qua bộ phim ''Ellis Island''. Anh cũng từng làm giám đốc nghệ thuật cho ca sĩ Pharrell Williams, nhưng quan hệ hợp tác đem lại nhiều thành quả nhất vẫn là soạn nhạc cho ngành múa ballet đương đại, kể cả đoàn múa New York City Ballet, hay đoàn ballet của Opéra de Paris dưới sự chỉ đạo của Aurélie Dupont.

Năm nay 38 tuổi, Woodkid tên thật là Yoann Lemoine sinh trưởng ở vùng phụ cận thành phố Lyon, trong một gia đình mà bố là chuyên viên thiết kế quảng cáo. Tuy nổi tiếng từ năm 2015 trong lãnh vực soạn nhạc, nhưng thật ra ban đầu anh đeo đuổi ngành điện ảnh (nhất là trong khâu làm phim hoạt hình 3D), sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng thiết kế đồ họa. Sau một thời gian du học tại Mỹ, Woodkid trở về Paris lập nghiệp, anh bắt đầu làm việc từ năm 2004 trong lãnh vực tranh minh họa trước khi được biết đến nhờ tài thực hiện video clip ca nhạc cho nhiều nghệ sĩ tên tuổi Pháp cũng như quốc tế.

Thử nghiệm sáng tác trong nhiều môn nghệ thuật

Cho dù trong thời gian đầu anh không kiếm đủ tiền để trang trải toàn bộ chi phí cuộc sống, nhưng Woodkid vẫn nhận lời làm công tác thiện nguyện, hợp tác với các hiệp hội nhằm gây quỹ chống bệnh Aids. Anh trau dồi tay nghề qua việc thực hiện những bộ phim video ngắn trong các chiến dịch vận động thông tin, nhờ sở trường này mà anh đã đoạt khá nhiều giải thưởng vào năm 2009, nhân kỳ liên hoan quốc tế phim quảng cáo. Tài năng của anh lọt vào mắt giới sản xuất ở Mỹ và cũng từ đó, anh được mời sang làm việc tại các phòng thu ở Los Angeles. Woodkid bắt tay thực hiện nhiều video clip cho các ca sĩ nổi tiếng, trong đó có Katy Perry, Rihanna, Drake hay Lana Del Rey …

Có lẽ cũng như nhiều nghệ sĩ đa tài khác, Woodkid thay vì chọn một hình thức nghệ thuật duy nhất, lại thích thử nghiệm nhiều thể loại và bộ môn khác nhau. Sau khi thành danh nhờ video clip, anh lại chuyển qua hợp tác với làng thiết kế thời trang và kể từ năm 2013, anh chọn con đường sáng tác âm nhạc. Dù vậy, anh vẫn không theo mô hình truyền thống của giới ca sĩ Pháp, mà lại thích kết hợp dòng nhạc mang tính ''thử nghiệm'' của mình với nhiều lãnh vực khác nhau, kể cả thời trang, trò chơi điện tử, video quảng cáo hay là múa ballet đương đại… Một trong những sáng tác đầu tay của anh (Iron) đã từng được dùng trong đợt quảng cáo cho trò chơi video ‘‘Assassin Creed Revelations’’, nhờ vậy album đầu tiên của Woodkid đã lập kỷ lục về số bán với gần một triệu bản.

Hiện giờ, Woodkid đang làm việc trên album phòng thu thứ ba và anh tiến hành cùng lúc nhiều dự án khác nhau, kể cả soạn nhạc cho các bộ phim truyện, tác phẩm sân khấu hay phim quảng cáo. Do từ thời nhỏ anh rất hâm mộ các đạo diễn bậc thầy như Stanley Kubrick và Andrei Tarkovski, nên Woodkid vẫn chưa từ bỏ ý định thực hiện ước mơ của mình : Anh muốn, đến một ngày nào đó, viết trọn một kịch bản rồi bấm máy thực hiện thành phim truyện. Anh hy vọng sẽ làm được điều này trước khi anh quá tuổi. Từ nay tới đó, nghệ sĩ người Pháp vẫn đeo đuổi các dự án thử nghiệm để làm giàu ý tưởng. Việc sáng tác cho Thế vận hội Paris 2024, đối với Woodkid, là một chặng đường đem lại nhiều kinh nghiệm cần thiết trong suốt quá trình sáng tạo.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1616 Posted : Wednesday, July 14, 2021 8:51:25 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)


Chợ phim quốc tế Cannes đi tìm một mô hình mới cho thời kỳ hậu Covid-19

13/07/2021 - Thanh Hà / RFI
Năm 2020, 80 % doanh thu của nền công nghiệp điện ảnh Pháp « bốc hơi » vì virus corona. Làng điện ảnh Mỹ mất 2 tỷ đô la sau vỏn vẹn 2 tháng Covid-19 hoành hành tại Trung Quốc và đến cuối tháng 5/2020, thiệt hại lên tới 17 tỷ đô la.

Làm thế nào để vực dậy nền công nghiệp điện ảnh sau hơn một năm rưỡi bị đại dịch ? Làm thế nào để khán giả quay lại các rạp chiếu phim ? Báo chí liệu có bi quan quá đáng khi cho rằng virus corona có nguy cơ khai tử Hollywood ?

Buồn hiu chợ phim Cannes 2021

Khách tham quan bất ngờ với những gian trưng bày thưa thớt, gần 3/4 diện tích khu vực bị bỏ trống. Không thấy đại diện của các hãng phim Trung Quốc hay Nhật Bản, Ấn Độ hay Mỹ, Brazil trong khuôn viên này. Khu vực dành cho điện ảnh Tây Ban Nha yên ắng với một vài tấm áp phích trên tường. Gian hàng của Ý cũng vậy. Một quầy giới thiệu phim của Kirghizistan lạc lõng gần gian trưng bày của Israel.

Mới chỉ 2 năm trước, vào tháng 05/2019, chợ phim Cannes là điểm hội ngộ của 12.500 người trong ngành đến từ 122 quốc gia. Chợ phim của Cannes cũng có thảm đỏ để đón những khách mời đến dự hơn 100 cuộc hội thảo. Đây cũng là nơi hơn 850 bộ phim được trình chiếu cho giới chuyên nghiệp qua gần 1.500 xuất chiếu khác nhau. Năm 2019 phá nhiều kỷ lục : Lần đầu tiên, hơn 2.700 bộ phim đã được bán ra trong dịp này, trong số đó có đến 330 bộ phim tài liệu.

Covid-19 giải thích cho sự vắng lặng của khu chợ phim ở Cannes năm nay. Đại đa số các sinh hoạt đều diễn ra qua cầu truyền hình.

Ở mãi tận cùng lối đi trong khu chợ phim là cả một không gian rộng lớn của UniFrance, với sân thượng nhìn ra biển. UniFrance là một hiệp hội được hình thành từ năm 1949, để quảng bá cho nền điện ảnh Pháp với thế giới bên ngoài. Hàng năm vào tháng Giêng, hiệp hội này tổ chức « chợ phim Pháp lớn nhất » tại Paris. Ngoài Cannes, UniFrance hiện diện tại các liên hoan phim uy tín của thế giới từ Toronto đến Berlin, hay lễ hội điện ảnh của Hồng Kông, Los Angeles …

Điện ảnh Pháp không quá tệ

UniFrance đến Cannes lần này trong bối cảnh cả ngành công nghiệp điện ảnh của thế giới đang lao đao. Ở hải ngoại, số khán giả vào rạp xem phim Pháp năm ngoái giảm 70 % so với 2019. Tuy nhiên, trả lời đài RFI Việt ngữ, Gilles Renouard, phó tổng giám đốc UniFrance không quá bi quan. Ông giải thích : Covid-19 đẩy mọi người vào tình cảnh đen tối. Số lượng khán giả vào xem phim đã giảm mạnh, vì rất nhiều rạp chiếu phim trên thế giới đã đóng cửa trong nhiều tuần lễ và nhiều đợt. Dù vậy, vẫn có 13,7 triệu người nước ngoài đi xem phim Pháp (hơn 45 triệu vé vào cửa năm 2019) và điện ảnh Pháp cũng thu về được hơn 86 triệu euro (275 triệu euro năm 2019), Pháp đã xuất khẩu cho các đối tác nước ngoài được hơn 600 bộ phim, thay vì 869 phim một năm trước đó.

Nhìn kỹ hơn về các hoạt động của UniFrance theo từng khu vực địa lý, Gilles Renouard giải thích : « Phim Pháp hiện diện khắp mọi nơi trên thế giới và đối với chúng tôi thì khu vực nào cũng quan trọng. Riêng tại châu Á, phim Pháp được đón nhận tốt, đặc biệt là ở Nhật và Hàn Quốc và đôi khi là cả tại Trung Quốc. Đối với Đông Nam Á, nhiều nước đang mở thêm các rạp chiếu phim, trong số này có Việt Nam. Unifrance theo dõi chuyển biến này và muốn đồng hành với họ để điện ảnh có một chỗ đứng xứng đáng tại các quốc gia này ».

Phó giám đốc UniFrance cho biết tiếp vì sao trong năm vừa qua, Pháp đứng khá vững trên thị trường phim quốc tế : « Như tất cả mọi nền điện ảnh trên thế giới, phim Pháp bị ảnh hưởng nhiều dưới tác động của khủng hoảng y tế. Tuy nhiên, do các hãng phim ở Hollywood từ chối cho phát hành vào thời điểm khó khăn này, đây cũng là cơ hội đối với điện ảnh Pháp. Tại nhiều nơi trên thế giới, các rạp chiếu phim vẫn được hoạt động và họ cần có phim để phục vụ công chúng. Cũng phải nói thêm là trong hơn một năm rưỡi qua, các phim trường của Pháp vẫn hoạt động và nhờ vậy vẫn có phim mới để đáp ứng nhu cầu của thị trường và phân phối cho các đối tác nước ngoài. Thêm vào đó, các hãng phim Pháp đã có những bước chuẩn bị cho giai đoạn hậu Covid-19 ».

Qua phim ảnh Pháp là hình ảnh của nước Pháp

Thể loại nào của phim Pháp có sức thu hút hơn cả ? Gilles Renouard, thuộc hiệp hội UniFrance, trả lời : « Xu hướng hiện tại là đa dạng hóa các thể loại phim, phim kinh dị cũng có, phim hoạt họa cũng có và nhu cầu về phim nhẹ nhàng giải trí hiện đang rất lớn. Đức hay Nga rất ưa chuộng loại phim giải trí của Pháp. Còn khách hàng châu Á, đặc biệt là tại Nhật Bản hay Hàn Quốc thì thị hiếu hướng về thể loại phim có chọn lọc một chút và đó cũng có thể là những bộ phim mang tính chất thử nghiệm. Chẳng hạn như ngay sau thành công của bộ phim Chân dung một cô gái bốc lửa do Céline Sciamma thực hiện, tất cả những tác phẩm khác của Sciamma cũng đã được phân phối hết cho các đối tác Á châu. Thành công đó là một cú hích cho điện ảnh Pháp. Về phía thị trường Việt Nam, chúng tôi nhận thấy thị hiếu của khán giả ở đây thiên về những bộ phim giải trí nhẹ nhàng, phim để cả nhà cùng có thể xem được ».

Ông Renouard cũng nói rõ hơn về sức hấp dẫn của điện ảnh Pháp trong mắt các nhà phân phối ngoại quốc : « Lợi thế đầu tiên của điện ảnh Pháp là tài năng, ở đây tôi muốn nói đến cả một thế hệ mới, từ các diễn viên đến đạo diễn, kỹ thuật viên, nhiếp ảnh gia. Họ đang mang lại một làn gió mới trên các phim trường. Họ là những sứ giả đưa điện ảnh của Pháp ra thế giới bên ngoài.

Có rất nhiều đạo diễn Pháp được mời công tác ở ngoại quốc và đó cũng là một kênh đắc lực đưa phim Pháp bay cao, bay xa. Lợi thế nhứ nhì là môi trường làm phim được Trung Tâm Điện Ảnh Quốc Gia bảo trợ rất đắc lực. Sự bảo trợ đó bao gồm từ tài chính đến việc khuyến khích các nhà phân phối tham gia vào khâu sản xuất. Lợi thế thứ ba là phim ảnh Pháp gợi lên cho khán giả hình ảnh của nước Pháp, văn hóa Pháp. Do vậy, phim Pháp rất dễ chinh phục các đối tác nước ngoài ».

Thu hút trở lại chú ý của công chúng

Nhưng câu hỏi quan trọng nhất có lẽ là nền công nghiệp điện ảnh Pháp cần làm những gì để chinh phục trở lại khán giả một khi các rạp chiếu phim mở cửa trở lại ? Và liệu rằng sau đại dịch, công chúng có còn hăng hái đi xem phim nữa hay không ? Gilles Renaourd phân tích : « Mục tiêu đặt ra ở đây là, cùng với các đối tác nước ngoài của UniFrance, khởi động lại các chương trình công chiếu phim ảnh của Pháp. Chính vì vậy năm nay vào dịp Quốc Khánh 14 tháng 7, mà người Anh, Mỹ gọi là ngày Bastille Day, chúng tôi tổ chức chiếu phim Pháp liên tục trong 24 giờ tại 60 quốc giả khác nhau. Đây nhất loạt là những bộ phim mới lần đầu đến với khán giả ở Munich, Berlin, Tokyo hay Sao Paulo. Chúng tôi muốn đưa điện ảnh đến gần nhất với khán giả ở mọi nơi vào thời điểm các rạp chiếu phim mở cửa trở lại.

Ngoài ra trong hoàn cảnh hiện tại, chúng tôi đã phải thích nghi với tình huống và thay đổi hoàn toàn cung cách hoạt động. Nghề của chúng tôi là phải đi ra nước ngoài, phải tiếp xúc với các nhà sản xuất, với các đoàn phim, với các nhà phân phối : virus corona ngăn cản chúng tôi làm tất cả những công việc đó. Covid-19 hạn chế đáng kể số khán giả vào xem phim, một phần các rạp chiếu phim ngưng hoạt động trong nhiều tuần lễ, thậm chí là nhiều tháng. Chúng tôi bắt buộc phải tìm ra những kênh mới để đưa phim ảnh đến với đại chúng. Unifrance đã tổ chức hàng loạt các sự kiện qua video, thực hiện các cuộc phỏng vấn, giao lưu qua cầu truyền hình. Thậm chí, chúng tôi thực hiện cả những đoạn phim quảng cáo và phổ biến qua mạng.

Do các rạp chiếu phim bị đóng cửa, chúng tôi cũng đã chuyển hướng khuyến khích xem phim qua màn ảnh nhỏ trong khi chờ đợi phim lại được chiếu ở rạp … Nhưng mong muốn sau cùng thì vẫn là đưa khán giả trở lại các rạp chiếu phim ».

Tiêu điều làng Hollywood

Nhìn sang kinh đô của nghệ thuật thứ 7 thế giới, virus corona cướp mất hào quang của Hollywood. Tháng 11/2020, hãng phim Disney thông báo sa thải 32.000 nhân viên trên thế giới, chủ yếu là nhân viên trong các trung tâm giải trí. Trước đó, những tên tuổi như MGM, Paramount cũng đã chia tay với một phần cộng tác viên. Theo thông tin từ trang mạng Dot.la của thành phố Los Angeles, có từ 120.000 đến 150.000 nhân viên phục vụ trong các phim trường bị cho thôi việc. Các nhà sản xuất làm ăn thua lỗ. Báo Hollywood Reporter tháng1/2021 ghi nhận « Tính đến 13/03/2020 công nghiệp điện ảnh Mỹ thua thất thu 7 tỷ đô la » do các rạp chiếu phim tại nhiều nước trên thế giới đóng cửa vì đại dịch Covid-19. Với đà này, đến cuối tháng 5/2020, thiệt hại lên tới 17 tỷ đô la. Trong trường hợp virus corona kéo dài thì « những kịch bản đen tối nhất là một thực tế ».

Vài tuần trước liên hoan Cannes, chủ nhân rạp Cinerama Dome, một biểu tượng của làng điện ảnh Mỹ tại thành phố Thiên Thần, thông báo vĩnh viễn đóng cửa các rạp chiếu phim Pacific Theatres vì lý do tài chính.

Có tin đồn là các nhà phân phối Netflix, hay hãng phim Disney và thậm chí là tập đoàn Apple sẽ mua lại Cinerama Dome. Tuy nhiên, theo giáo sư Gene del Vecchio, đại học Nam California, thật là bất công nếu đổ tất cả trách nhiệm cho Covid-19, bởi trước đại dịch, « các rạp chiếu phim ở Mỹ đã trong tình trạng tài chính khó khăn », virus corona chỉ là một đòn chí tử trong bối cảnh các nhà sản xuất liên tục đi tìm lợi nhuận và các tập đoàn cung cấp như Netflix ngày càng trong thế mạnh để khai tử màn ảnh lớn. Đó là mối họa thứ nhì, nguy hiểm không kém virus corona, mà Hollywood đang phải đối mặt.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1617 Posted : Saturday, July 17, 2021 8:30:33 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Những ca khúc tiếng Pháp “hai số phận”

17/07/2021 - Gia Trình / RFI
Nhạc Pháp thường bị đánh giá thấp hơn giá trị thật. Khi chuyển ngữ sang tiếng Anh, nhiều ca khúc gốc Pháp lại thành công vang dội. Liệu có phải khoác chiếc áo tiếng Anh thay đổi hoàn toàn cục diện ? Tạp chí Âm Nhạc kỳ này điểm lại một số ca khúc nhạc Pháp “hai số phận” như thế.

Charles Aznavour - Tous les visages de l’amour - She - 1974

Ca khúc được Charles Aznavour sáng tác năm 1974. Nhạc sỹ, ca sỹ cũng ghi âm tới bốn phiên bản ngoại ngữ khác nhau Pháp, Đức, Ý và Tây Ban Nha. Đây là nỗ lực đáng khen ngợi nhằm quảng bá tác phẩm rộng rãi đến công chúng. Ca từ đẹp, giai điệu lịch lãm là ấn tượng khó phai về bài hát. Charles Aznavour còn gây bất ngờ hơn khi ông giới thiệu một phiên bản tempo nhanh hơn, hào sảng hơn. Ca khúc từng leo lên hạng 1 ở Anh Quốc nhưng lại khá thất thế tại quê nhà và cả bên bờ Đại Tây Dương.

Hai mươi tư năm sau, năm 1998, bài hát xuất hiện trong diện mạo mới, trang nhã không kém, bằng tiếng Anh. Nam nghệ sỹ Elvis Costello đã hát lại ca khúc bằng phiên bản tiếng Anh có tựa đề She (Cô ấy). Bài hát được chọn làm nhạc nền phim tình cảm lãng mạn Notting Hill có siêu sao Julia Roberts thủ vai. Thành công rực rỡ của bộ phim cùng nụ cười tỏa nắng của Julia khiến cho Cô ấy có bước đại nhẩy vọt. Tác phẩm soán ngôi trên bảng xếp hạng âm nhạc khắp châu Âu.

Ca khúc dễ dàng thoát được cái bóng nhạc Pháp 24 năm trước. Rất nhẹ nhàng, nhà sản xuất Trevor Jones giữ được linh hồn của bài hát đậm chất Pháp: tinh tế, hài hòa nhưng không nhạt nhòa. She là ví dụ khiến cho người nghe bất ngờ tìm lại bản gốc tiếng Pháp (Tous les visages de l’amour). Có lẽ nếu ra đời đúng thời điểm và soundtrack nhạc phim Notting Hill, có thể bản gốc tiếng Pháp đã có số phận khác biệt.

She may be the face I can't forget ; The trace of pleasure or regret ; May be my treasure or the price I have to pay ; She may be the song that summer sings ; Maybe the chill that autumn brings ; Maybe a hundred different things ; Within the measure of a day.

Cô ấy có gương mặt khiến tôi không thể nào quên ; Dấu vết của sự hân hoan hay hối tiếc ; Có thể kho báu hay cái giá mà tôi phải trả ; Cô ấy có thể là bản tình ca mùa hè ; Có thể là chút lạnh giá mùa thu ; Hàng trăm thứ khác nhau trong cùng một ngày.

Les Feuilles Mortes - Autumn Leaves - 1946

Quay ngược về thập niên 1940, bản nhạc Les Feuilles Mortes (Những chiếc lá úa) có lẽ chung một số phận. Ca khúc jazz kinh điển được sáng tác bởi Joseph Kosma, nhạc sỹ gốc Hungary. Phần lời tiếng Pháp do Jacques Prévert sáng tác năm 1946. Tiết tấu nhịp chậm rãi, giai điệu man mác khiến bài hát rất cuốn hút với người nghe. Sản phẩm hợp tác giữa Joseph và Jacques được sáng tác giữa lòng kinh đô ánh sáng Paris.

Ca khúc được chọn lồng trong bộ phim Les Portes de la nuit (Gates of the night). Tuy nhiên, mức độ phổ biến của Les Feuilles Mortes vẫn còn hạn chế cho đến tận 5 năm sau. Nhạc sỹ John Mercer chuyển ngữ Les Feuilles Mortes thành bản nhạc tiếng Anh Autumn Leaves. Kỳ lạ thay, sức sống của “Những chiếc lá úa” như được hồi sinh. Hơn một ngàn bản ghi âm khác nhau của Autumn Leaves ra mắt. Các ngôi sao trứ danh như Nat King Cole (1955), Doris Day (1956) và Frank Sinatra (1957) không thể bỏ qua một giai điệu trữ tình sâu lắng đến vậy.

Hơn thế nữa, mãnh lực của Autumn Leaves còn lan sang nhạc không lời. Nghệ sỹ piano Roger Williams đã lần đầu ghi tên bảng xếp hạng âm nhạc nhờ phần piano của Autumn Leaves. Bài hát tiếng Anh gặp đúng thời kỳ jazz bùng nổ ở thập niên 1940-50. Khi chuyển ngữ, ca khúc đã tiếp cận lượng khán giả trên diện rộng hơn. Sự da diết, nồng nàn trong chất tình ca Pháp tìm đường đến thẳng trái tim khán giả.

Claude François - Comme d’habitude - My way - 1967

Nhắc tới Frank Sinatra, khán giả yêu nhạc đều nhớ tới bản nhạc đỉnh cao My Way. Nhưng ít người biết rằng đó là ca khúc gốc tiếng Pháp. Bản nhạc gốc có tên gọi Comme d'habitude được nhạc sỹ Claude François sáng tác vào năm 1967. Ca khúc trở thành hiện tượng vào thời điểm đó khi leo tới hạng 1 tại Pháp. Mặc dù người yêu nhạc khá ưa thích ca khúc trên sóng radio, sức tiêu thụ lại khá chậm, chỉ được 350 nghìn bản trong vài tuần.

Khi đó, danh ca Paul Anka và nhà xuất bản hãng đĩa của Paul là Gilbert Marouani cùng có mặt tại Paris. Họ vô tình nghe ca khúc trên truyền hình và ngay lập tức “phải lòng” bản nhạc. Thỏi nam châm Comme d’habitude đã dẫn tới đề nghị Anh hóa ca khúc. Paul đã viết lời ca khúc tiếng Anh tựa đề My Way. Frank Sinatra có may mắn ghi âm ca khúc và trình làng đúng một năm sau đó, tháng 12 năm 1968. Bản nhạc có độ lan tỏa mạnh mẽ, đưa tên tuổi Frank Sinatra trở nên vô cùng nổi tiếng.

Cần phải lưu ý vai trò rất lớn của Paul Anka. Ông không dịch sát bản gốc mà sáng tạo một cuộc sống mới cho ca khúc. Bản gốc chỉ đề cập tới thói quen của cặp đôi trong mối quan hệ tình cảm. Trái ngược hẳn, bản nhạc tiếng Anh là trải lòng của một người đàn ông từng trải, đối diện với tử thần nhưng không hối tiếc về cuộc đời trải qua. Tuy dựa trên cùng một nền nhạc và cấu trúc ca từ, Comme d’habitude đã có cuộc sống mới khi được chuyển sang tiếng Anh.

Jacques Brel - Ne me quitte pas - If you go away và Le Moribond - Seasons in the sun

Nhạc sỹ người Bỉ Jacques Brel được ví như một tài năng đặc biệt. Những ca khúc u buồn tiếng Pháp của ông là nguồn cảm hứng bất tận cho các ca sỹ. Khi một số bản hit như Ne me quitte pas (If you go away) và Le Moribond (Seasons in the sun) được chuyển ngữ sang tiếng Anh, khán giả gần như quên hẳn bản gốc tiếng Pháp.

Năm 24 tuổi, Jacques Brel chuyển sang sống tại Paris vào năm 1953 sau khi quá chán nản, bế tắc với cuộc sống tại nhà máy sản xuất bìa carton của gia đình ở Bruxelles. Ông bỏ lại người vợ, cả gia đình non trẻ để ký hợp đồng hãng đĩa Philips tại Pháp. Hai ca khúc của ông được biết đến nhiều hơn nhờ hát bằng tiếng Anh. Le Moribond là ca khúc sầu não kể về người đàn ông sắp qua đời. Khi chuyển qua tiếng Anh, Season in the sun (Những mùa đầy nắng), bài hát giũ bỏ màu sắc buồn thảm để thành ca khúc vui nhộn, dí dỏm. Bản gốc “Tôi muốn họ khiêu vũ khi đưa tôi xuống hố” được đổi thành “Chúng tôi vui vẻ, chúng tôi có những mùa đầy nắng”.

Tương tự, bản hit Ne me quitte pas có giai điệu buồn khá ám ảnh, nhưng đã giảm thiểu sức mạnh u buồn trong bản tiếng Anh If you go away. Chính xác hơn phải dịch là “Đừng bỏ anh mà đi”. Nhưng giai điệu buồn ám ảnh của bài hát lại khiến cho hàng loạt ngôi sao tên tuổi muốn ghi dấu ấn riêng như Nana Mouskouri, Frank Sinatra, Barbara Streisand, Glen Campell. Cho dù có nhiều phiên bản cover bằng tiếng Anh, khó ai diễn tả chân thực hơn tác giả sáng tác ra bài hát. Có lẽ Jacques Brel quá nổi tiếng về cảm xúc tuyệt vọng trong những sáng tác thách thức tình yêu và cái chết. Vì thế, khi chuyển sang tiếng Anh, cảm xúc u buồn bị giảm nhẹ tối đa khiến cho bản nhạc “dễ thở” hơn nhiều.

Những bài hát “hai số phận” không chứng minh rằng hát tiếng Anh hấp dẫn hơn hát tiếng Pháp mà chỉ ra rằng sự thành công của một ca khúc cần sự may mắn và tính thời điểm. Ngoài ra, các tác giả chuyển ngữ rất giỏi trong việc gia giảm cảm xúc, ngữ cảnh cho phù hợp với đa số khán giả. Trong âm nhạc, sự phát triển đều có tính kế thừa.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1618 Posted : Tuesday, July 20, 2021 1:43:23 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Điện ảnh Pháp tạo sinh khí mới cho phim hồi hộp kinh dị

20/07/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Cành cọ vàng Liên hoan Cannes 2021 vừa được trao hôm 17/07 cho bộ phim Pháp ''Titane'' của nữ đạo diễn trẻ tuổi Julia Ducournau. Tác phẩm này chọn mạch phim hồi hộp kinh dị để nói về chủ đề chuyển đổi giới tính dưới một góc nhìn khác lạ. Đây là bộ phim kinh dị thứ 6 của Pháp được phát hành trong năm nay, cho thấy giới làm phim đang tập trung khai thác thể loại này.

Phim ma, phim hồi hộp, phim hình sự, kỳ ảo hay khoa học viễn tưởng, hầu hết các thể loại này (trong tiếng Pháp còn được gọi là ‘‘film de genre’’ hay là ‘‘série B’’) đều được giới phê bình Pháp xếp vào hàng phim giải trí. Trong vài thập niên gần đây, làng phim Pháp thường hay đầu tư vào các dự án quay tác phẩm chính kịch, làm phim tình cảm xã hội hay lịch sử cổ trang chứ ít khi nào chọn dòng phim kinh dị để thực hiện các tác phẩm ''đình đám'' với kinh phí cao.

Nhiều phim Pháp được phát hành vào cùng một thời điểm

Thế nhưng, phim giải trí (đặc biệt là dòng phim kinh dị) đang thịnh hành trở lại tại Pháp, đến nổi nhiều người trong giới chuyên ngành gọi đó là một ''vùng đất hứa''. Thể loại này không cần nhiều vốn đầu tư mà lại có khả năng thu lời cao. Sau một năm bị tác động bởi dịch Covid-19, các nhà sản xuất phim Pháp lao vào khai thác dòng phim này ít rủi ro mà lại thu hồi vốn thật nhanh và trong một số trường hợp, phim kinh dị lập kỷ lục doanh thu ở phòng vé. Kể từ đầu tháng 06/2021 khi các rạp chiếu phim tại Pháp hoạt động trở lại, các bộ phim ăn khách nhất vẫn thuộc vào dòng phim hồi hộp kinh dị. Đó là trường hợp của Vùng đất câm lặng ''A Silent Place'' tập nhì, Ma xui Qủy khiến ''Conjuring'' tập ba, cũng như Ngõ phố kinh hoàng ''Fear Street''…

Sau một thời gian dài ít quan tâm đến phim ma hay phim kinh dị, làng điện ảnh Pháp chủ yếu phân phối thể loại này do nước ngoài sản xuất (chủ yếu là phim Anh Mỹ), giờ đây các nhà sản xuất Pháp chuyển sang khai thác trở lại dòng phim kinh dị, mà từ trước tới nay vẫn thường được công chúng Pháp nhiệt tình hưởng ứng, nhất là thành phần khán giả trẻ tuổi yêu chuộng cảm giác mạnh và ‘‘mồ hôi lạnh’’. Điều đó giải thích vì sao trong mùa hè năm nay, có khá nhiều tác phẩm của Pháp được cho ra mắt khán giả hầu như vào cùng thời điểm. Đầu tiên hết có ''The Deep House'' (Căn nhà ma dưới nước) của hai đạo diễn Pháp Alexandre Bustillo và Julien Maury. Kế đến có Sói hoang ''Teddy'' của hai tác giả Ludovic & Zoran Boukherma, Kẹt bẫy tử thần ''Méandre'' của đạo diễn Mathieu Turi mà về ý tưởng gợi hứng phần nào từ loạt phim ''Lưỡi Cưa'' của Mỹ (Saw & Spiral).

Sản xuất một dòng phim kinh dị theo kiểu Pháp

Chỉ trong một thời gian ngắn, nhiều hãng phim tại Pháp đã lần lượt ra đời nhằm khai thác thể loại này. Chẳng hạn như chi nhánh Pháp của tập đoàn Sony đã tạo ra hãng phim "Parasomnia" dành để sản xuất phim truyện cũng như công ty "Darklight Content" chuyên phân phối các nội dung trên các nền tảng trực tuyến, có thể là phim nhiều tập, phim lẻ hay phim tài liệu. Cả hai công ty này do ông Xavier Couture điều hành. Cựu giám đốc đài truyền hình Canal+ vốn có nhiều kinh nghiệm trong hai lãnh vực hợp tác đầu tư và sản xuất phân phối.

Bên cạnh đó, còn có hãng phim "Wild West", vừa được khai trương tại thành phố Bordeaux. Công ty mới này được tài trợ bởi một hãng phim nổi tiếng là "Wild Bunch International" có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực phân phối phim giải trí. Chẳng hạn như bộ phim ''Oxygène'' của đạo diễn Pháp Alexandre Aja với nữ diễn viên Mélanie Laurent trong vai chính, vừa được phát hành vào đầu hè trên mạng Netflix. Về phần mình, hãng phim Capricci vừa tung ra thị trường hồi trung tuần tháng 6 bộ phim "La Nuée" (Đàn châu chấu), tác phẩm này từng đoạt hai giải thưởng lớn của cả giới phê bình lẫn công chúng nhân kỳ Liên hoan Gérardmer dành riêng cho thể loại phim ''kỳ lạ''.

Tham vọng của các hãng phim mới vẫn là sản xuất phim kinh dị theo phong cách Pháp, có thể là phim theo đơn đặt hàng nhưng không phải là tác phẩm làm theo công thức có sẵn. Công ty Wild West dự trù sản xuất một chục bộ phim mỗi năm, chủ yếu là phim lẻ, phim nhiều tập. Công việc chỉ đạo được giao cho những tài năng trẻ của làng điện ảnh, môt số tác phẩm sẽ có đủ vốn đầu tư để mời các diễn viên tên tuổi cùng hợp tác. Trong số các dự án đầu tiên được công bố có "Dead Man shoes" do đạo diễn Jean-Pascal Zadi, phóng tác từ tác phẩm kinh dị nổi tiếng ''Les mains d’Orlac'' hay là phim "Vincent doit mourir", thuộc vào dòng phim xác sống zombie, "Incarnation'' kết hợp thể loại hồi hộp với phim hài, hoặc là "India Hair", phim kinh dị trong thế giới khoa học viễn tưởng…

Mô hình Blumhouse thành công nhờ làm phim với kinh phí thấp

Có thể nói là hai thập niên sau các hãng phim Mỹ, đến phiên giới sản xuất ở Pháp giờ đây muốn tạo luồng sinh khí mới cho dòng phim hồi hộp kinh dị, phần lớn cũng do hoàn cảnh kinh tế. Sau cú sốc kinh tế của dịch Covid-19, điện ảnh Pháp cần có một kế hoạch phục hồi nhanh chóng và khả thi. Các hãng phim mới gợi hứng nhiều từ mô hình của Blumhouse Productions, một công ty chuyên sản xuất điện ảnh truyền hình Mỹ. Do Jason Blum thành lập, hãng phim này từng nổi tiếng với những bộ phim kinh dị với kinh phí thấp như ''Paranormal Activity'' (Hiện tượng siêu nhiên), ''The Gift'' (Món quà bí ẩn), ''Split'' (Tách biệt) hay là ''''Get Out (Trốn thoát) ….

Dự án đôi khi chỉ cần đầu tư vài triệu đô la nhưng doanh thu lại cao hơn gấp 20 lần. Khi một bộ phim ăn khách ở rạp, Blumhouse dựa vào sự thành công đó để tạo ra một dòng sản phẩm khai thác cùng thương hiệu như trường hợp của ''Insidious'' (Quỷ quyệt), ''Sinister '' (Điềm gở), ''The Purge'' (Ngày thanh trừng). Vào năm 2014, công ty Blumhouse gầy dựng uy tín nhờ sản xuất bộ phim ''Whiplash'' (Khát vọng nhịp điệu) từng được đề cử giải Oscar, ở hạng mục tác phẩm hay nhất.

Về phía Pháp, tuy không được sản xuất đại trà, nhưng dòng phim kinh dị từng để lại những tác phẩm đáng kể, thường được đánh giá cao về mặt kịch bản như ''Les Diaboliques'' (Henri Georges Clouzot - 1955), ''Les Yeux sans visage'' (Georges Franju -1960), ''Le Locataire'' (Roman Polanski -1976), trong khi các tác phẩm gần đây hơn thì lại gần giống với phim của Hollywood như ''Haute Tension'' (Alexandre Aja - 2003) hay ''La Horde'' (Y. Dahan & B. Rocher - 2010). Hiện vẫn còn quá sớm để khẳng định rằng đây là một xu hướng nhất thời hay là một phong trào điện ảnh có khả năng trụ vững thực sự.

Dù gì đi nữa, sự kiện liên hoan Cannes trao Cành cọ vàng cho tác phẩm ''Titane'' chứng tỏ rằng nhờ vào tầm nhìn và nhãn quan của nữ đạo diễn, một bộ phim ban đầu bị cho là thuộc ''hạng B'' nhưng rồi lại được ban giáms khảo nâng lên hàng tác phẩm nghệ thuật. Biết đâu chừng, phim ''Titane'' tạo tiền lệ giúp cho dòng phim này được đánh giá cao hơn. Bộ phim đầu tay của Julia Ducournau (mang tựa đề ''Grave'') phát hành vào năm 2016, cũng thuộc vào thể loại kinh dị và trong tác phẩm thứ nhì của mình, nữ đạo diễn trẻ tuổi người Pháp đã thành công trong việc đẩy lùi ranh giới chẳng những trong chủ đề giới tính, mà còn trong thể loại phim : nội dung có nhiều cảnh giết người gớm ghiếc, người xem có thể sẽ buồn nôn nhưng không thể xếp tựa phim này (cũng như trường hợp của ''The Crying Game'' từng đoạt Oscar trước đây dành cho kịch bản xuất sắc) vào bất kỳ một hạng mục nào cả.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1619 Posted : Friday, July 23, 2021 6:08:42 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

"Di chúc Pháp" của Andreï Makine: Viết, từ ban công đu đưa đến căn hầm mộ

23/07/2021 - Sơn Ca / RFI
“Lững thững bước, nheo mắt che bớt ánh nắng mặt trời đã trở lại, tôi quay về ... nhà. Nhà tôi! Vâng, tôi nghĩ thế, tôi ngạc nhiên nhận ra mình nghĩ thế và bật cười đến nỗi ho sặc sụa khiến người qua đường quay nhìn. Cái hốc khám thờ này, xây từ hơn một thế kỷ trong khu vực nghĩa trang ít được thăm viếng vì không có mộ nổi tiếng - nhà tôi đấy.”

Đoạn văn trên trích trong phần cuối tiểu thuyết Di chúc Pháp của Andreï Makine. Trong tiếng Pháp, từ “chez moi”, ngoài nghĩa “nhà tôi” còn có nghĩa là “quê hương tôi”. Nghĩa trang được nhắc đến là nghĩa trang Père-Lachaise nơi Makine đã sống trong những ngày đầu lưu vong ở Pháp. Tại đây, ông đã bắt đầu ghi chép về tiểu sử bà Charlotte Lemonnier. “Tôi khẳng định chỉ có các tác phẩm sáng tạo bên bờ huyệt mộ, hoặc khi đã ở thế giới bên kia mới chống lại được thử thách của thời gian.”Những ghi chép ấy, về sau trở thành tiểu thuyết Di chúc Pháp, xuất bản năm 1995, đưa Andreï Makine lên đỉnh cao của danh vọng với ba giải thưởng, giải Goncourt, giải Médicis, và giải Goncourt dành cho học sinh trung học.

Andreï Makine sinh năm 1957, tại Sibéria, là nhà văn gốc Nga nhưng sáng tác bằng tiếng Pháp. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, ông đã trải qua những năm tháng đầu tiên trong trại trẻ mồ côi trước khi được chăm sóc bởi bà ngoại, người dạy tiếng Pháp và nuôi dưỡng tình yêu nước Pháp trong ông. Năm 1987, ông tới Pháp theo diện tị nạn chính trị, sau đó trở thành giáo sư ngôn ngữ và văn hóa Nga. Hai bản thảo đầu tiên của Makine bị từ chối vì nhà xuất bản không tin tưởng sáng tác bằng tiếng Pháp của một người Nga. Ông đã bịa ra tên một người dịch tác phẩm của mình để được xuất bản.

Ra mắt tiểu thuyết đầu tay vào năm 1990, hai năm sau, Makine hoàn thành luận án tiến sĩ tại Sorbonne về tác phẩm của nhà văn Nga Ivan Bounine với tựa đề "Thi học của nỗi hoài nhớ". Thành công của tiểu thuyết Di chúc Pháp đã giúp Makine được nhập quốc tịch Pháp ngay trong năm sau, điều mà ông đã từng bị từ chối nhiều lần. Sau này, Makine còn giành thêm nhiều giải thưởng văn chương khác và các tác phẩm của ông được dịch ra 30 tiếng trên thế giới. Sự nổi tiếng đến mức khiến ông lựa chọn ẩn mình dưới bút danh Gabriel Osmonde trong vòng 10 năm với 4 tiểu thuyết. Năm 2016, ông được bầu làm thành viên Viện Hàn Lâm Pháp.

Di chúc Pháp là cuốn tiểu thuyết chứa đựng sự thơ mộng của ký ức, sự diệu kỳ của trí tưởng tượng, về hành trình đi tìm danh tính và nguồn cội của Makine. Cuốn tiểu thuyết cho ta thấy sức mạnh bền bỉ của những câu chuyện kể, nơi hình ảnh được tiếp nhận và khuếch tán thông qua lăng kính nhạy cảm của tâm hồn. Makine đặc biệt mô tả những khoảnh khắc tâm hồn con người bừng sáng khi những câu chuyện kể đi vào những tầng sâu thẳm, những góc khuất, những khoảng lặng để chạm đến từng sợi dây rung động của người nghe.

Tiểu thuyết dựng lên nhiều nước Pháp khác nhau qua điểm nhìn và thời gian khác nhau của nhân vật: ngoài nước Pháp trong ký ức của bà Charlotte, còn là một nước Pháp trong cái nhìn thơ mộng của cậu bé Aliocha qua lời kể của bà, một nước Pháp khác lạ khi cậu đọc sách từ thư viện, một nước Pháp được nhào nặn bằng văn phong riêng khi cậu kể lại cho bạn bè; một nước Pháp hiện thực khi cậu đã trưởng thành và đặt những bước chân tha hương vào lòng đất nước cậu hằng mơ mộng, và cuối cùng là một nước Pháp khi bà Charlotte qua đời để lại lá thư giải đáp câu hỏi về một bức ảnh bí ẩn từ thời thơ ấu.

Sự dịch chuyển giữa hai ngôn ngữ cũng làm Aliocha cảm nhận được sự khác biệt giữa hai nền văn hóa và hai đất nước. Chính nước Nga đã làm Aliocha đau đớn, làm cậu có những chuyển biến mạnh mẽ, có những giằng xé nội tâm giữa hai danh tính Pháp-Nga, giữa thế giới huyền ảo và trần trụi, nơi con người dù có trí tưởng tượng phong phú đến đâu vẫn không theo kịp thực tại phũ phàng.

Không khí bao trùm ở nửa đầu tiểu thuyết là thảo nguyên mơ mộng của cậu bé Aliocha với chiếc ban công như đu đưa mỗi khi bà kể chuyện:

“Phủ đầy hoa, chiếc ban công này như treo lơ lửng giữa đám sương mù nóng nực thảo nguyên. Mặt trời rừng rực màu đồng sà xuống chân trời, dần dà chốc lát rồi lặn nhanh chóng. Vài ngôi sao đầu tiên run rẩy trên nền trời. Mùi hương cây cỏ nồng nàn bay lên tận chỗ chúng tôi theo chiều gió hây hây. [...] Chiếc ban công khẽ chòng chành, hẫng đi dưới bàn chân, bắt đầu bay lượn. Chân trời dịch gần lại cứ như thể chúng tôi lao tới nó xuyên qua làn hơi đêm. Ngay phía trên đường chân trời chúng tôi nhận ra cái ánh lấp lánh nhợt nhạt tưởng chừng như những vảy sóng lăn tăn trên mặt một dòng sông. [...] Bây giờ chúng tôi thấy mọc lên từ mặt biển kỳ ảo ấy những khối đen tòa nhà, những chóp nhà thờ, những cột đèn đường một thành phố. [...] Nước Pháp của bà chúng tôi, tựa hồ một Atlantide mù sương đang xuất hiện trên mặt sông.”

Gaston Bachelard, triết gia nghiên cứu về tưởng tượng và mộng mơ, cho rằng mọi tưởng tượng của con người đều bắt nguồn từ bốn vật chất: nước, lửa, khí và đất. Nhưng với Makine, mỗi cử chỉ tình cờ đều trở nên thiết yếu, một thoáng chốc được cắt ra từ dòng chảy đều đều của thời gian, đều trở thành một cõi nhân sinh nhỏ xíu, với không gian và bầu trời của nó (1). Từ bất kể một chi tiết nào của đời sống, Makine cũng có thể làm sống động một thời khắc lịch sử, một quãng đời con người, một cảm giác thơ mộng hay phẫn nộ đớn đau, giống như cách Marcel Proust, từ hương vị của chiếc bánh madeleine nhúng vào chén trà, đã làm sống dậy cả một tuổi thơ, “làm cho cả thành phố lẫn vườn hoa đều đi ra từ một chén trà” (2).

Nhưng sự sống dậy một vũ trụ lung linh từ hương vị chiếc bánh Madeleine của Proust là những hình ảnh đã được nhìn thấy từ trong quá khứ. Còn hình ảnh trong vũ trụ của Makine tạo ra hoàn toàn mới, là những hình ảnh về nước Pháp, về cuộc đời bà Charlotte mà Makine chưa từng thấy bao giờ.

Từ trong “chiếc va li Sibéria của bà”, “cái túi cầu Pont-Neuf”, “mảnh đá Verdun”, những bài thơ, những câu chuyện văn chương, những mẩu báo cũ, những bức ảnh ... Makine đã mở ra thế giới cổ tích về nước Pháp và về cuộc đời thăng trầm của bà Charlotte xuyên qua chiều dài những cuộc chiến tranh, xuyên qua không gian hai đất nước. Makine rất khéo léo sắp đặt những chi tiết nhỏ ở đầu tiểu thuyết, ở đầu mỗi chương đoạn và dùng thủ pháp khẩu súng của Chekhov để lặp lại nó một lần nữa mỗi khi kết thúc một chuyện kể.

Nửa đầu tiểu thuyết là thời thơ ấu thơ mộng, còn nửa sau là những giằng xé nội tâm giữa hai danh tính Nga và Pháp của chàng thanh niên Aliocha. Văn chương Pháp và sự mộng mơ về nước Pháp khiến cậu lạc lõng và là kẻ bên lề trong xã hội mini ở trường học. Khi sống trong ngôi nhà của chú dì, nghe người lớn nói chuyện với nhau về hiện thực trong đời sống Nga, đặc biệt chuyện bà Charlotte bị hãm hiếp trên sa mạc, Aliocha “đau đớn đến nỗi thấy in lên trong ngực những đường viền trái tim mình cháy bỏng”. Cậu “tự đánh mình cho đến mức mặt sưng phồng và dàn dụa nước mắt”. Bởi cái làm cậu kinh hoàng, còn tệ hơn cả sự kinh hoàng xảy ra trên sa mạc, là câu chuyện đó được kể lại trong ngôn ngữ Nga, bằng giọng bình thường thản nhiên như không. “Cậu bước đi trong tuyết loãng, xa lạ với cái chiều xuân trong trẻo hơn cả người từ trên Sao hỏa.”

Di chúc Pháp không chỉ viết về cuộc đời của bà Charlotte, một người Pháp sống trên nước Nga, mà còn là cuộc đời của Aliocha, người ít nhiều mang sự tự hào về dòng máu Pháp chảy trong mình, về mầm mống Pháp đã cấy vào mình bằng tất cả hiểu biết và tình yêu với nước Pháp. Hai mươi năm sau, Aliocha đã tìm đường đến với nước Pháp mơ mộng của mình, đối diện với những khó khăn của một người tha hương bên lề nước Pháp.

Ở tận cùng của tuyệt vọng và những vụn vỡ tâm hồn trước thực tại, những ký ức về nước Pháp xưa cũ của bà Charlotte đã xuất hiện trở lại một cách thần kỳ, thôi thúc Aliocha quay trở về nơi trú ẩn của mình trong nghĩa trang và viết, viết không ngừng. Và từ “chez moi”, không chỉ là căn hầm mộ nơi Aliocha trú ngụ về mặt vật lý, mà chính sự sống dậy về nước Pháp thơ mộng thời thơ ấu đã khiến anh cảm thấy mình được kết nối với bà Charlotte, với quê hương tâm hồn của mình, với danh tính mà anh cảm thấy mình đúng là mình nhất, và điều đó đã nâng đỡ anh nhất, để bắt đầu viết, xuất bản và trở thành nhà văn.

Nhưng di chúc Pháp mà bà Charlotte để lại không dừng lại ở đó. Lá thư của bà sau khi mất, đến với Aliocha nhiều năm sau, trả lời câu hỏi về một bức ảnh mà thời thơ ấu bà đã lảng tránh trò chuyện về nó. Bí mật được hé lộ này đã để lại một hiện thực khác về nguồn cội Pháp và danh tính của Aliocha, đặt anh trước một ngã rẽ mới của cuộc đời. Anh vừa tập làm quen với hình ảnh của một người phụ nữ trong bức ảnh bí ẩn, vừa cảm thấy bà Charlotte đang hiện diện “trên những con phố đang thiu thiu ngủ.”

Từ ban công nhỏ đu đưa trên thảo nguyên Saranza đến căn hầm mộ nơi nghĩa trang Père-Lachaise, Aliocha là hiện thân của Andreï Makine, đã trở thành nhà văn như thế.

Chú thích:

(1) Tạp chí Lire, số 292 tháng Hai, năm 2021.

(2) Bên phía nhà Swan trong bộ sách Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust, Nhã Nam và NXB Văn học, năm 2013.

Những câu in nghiêng còn lại trong bài viết đều trích từ tiểu thuyết Di chúc Pháp, Bùi Hiển dịch, NXB Hội nhà văn, năm 1998.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1620 Posted : Saturday, July 24, 2021 8:08:14 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,592

Thanks: 6949 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Nhạc Pháp song ca, hương xưa sắc mới

24/07/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Chương trình ''Góc vườn Âm nhạc'' của RFI tuần này được dành để nói về các bản song ca tiếng Pháp thịnh hành trong thời gian qua. Để giữ mối liên lạc với giới hâm mộ, nhiều ca sĩ thường hay thực hiện những phiên bản hòa âm khác lạ của những bài hát mà họ hằng yêu thích như trường hợp của Angèle, Louane, Gims, Slimane hay Christine & the Queens...

Thời kỳ phong tỏa cũng đã cho ra đời nhiều dự án ghi âm mới, tiêu biểu nhất là album song ca của tác giả Grand Corps Malade.

Mang tựa đề đơn giản là ''Mesdames'' (hiểu theo nghĩa Quý cô, Quý bà), tập nhạc này là album phòng thu thứ 7 của Fabien Marsaud, nổi tiếng với nghệ danh Grand Corps Malade và là một trong những tác giả Pháp đầu tiên ăn khách nhờ thể loại thơ nói (slam poetry). Được phát hành vào mùa thu năm 2020, tập nhạc này bao gồm 10 ca khúc trong đó, anh đan xen giọng đọc cực trầm của mình với các giọng ca nữ trẻ tuổi đáng chú ý nhất hiện thời.

Tuyển tập song ca của Grand Corps Malade

Album này từng đoạt giải ca khúc xuất sắc nhất, nhân kỳ trao tặng giải thưởng âm nhạc Victoires de la Musique của Pháp đầu năm 2021. Trong số các bản song ca mới, đáng ghi nhận hơn cả là tình khúc ''Mais Je t'aime'' với Camille Lellouche và gần đây hơn nữa là nhạc phẩm ''Derrière le Brouillard'' (Đằng sau lớp sương mù) ghi âm với nữ ca sĩ Louane, thành danh tại Pháp cách đây 7 năm, sau khi tham gia chương trình The Voice phiên bản tiếng Pháp.

"Tiếng mông lung che khuất trời hy vọng ; Lớp sương mù phủ bóng khúc dư âm ; Dù trong tim muôn nghiệt ngã âm thầm ; Thà đứng lên từng bước qua vực thẳm ; Thêm một lần đành hứng chịu bão giông".

Năm nay 44 tuổi, Fabien Marseaud thời còn trẻ đã gặp tai nạn nghiêm trọng, bị chấn thương cột sống năm anh tròn 20 tuổi. Sau nhiều tháng điều trị phục hồi chức năng, anh có thể dùng gậy để đi đứng trở lại, nhưng buộc phải từ bỏ giấc mộng trở thành vận động viên bóng rổ chuyên nghiệp.

Fabien khám phá thể loại thơ nói năm anh 26 tuổi, để rồi trở thành một nghệ sĩ slam nổi tiếng từ năm 2007 trở đi, với nghệ danh Grand Corps Malade, hàm ý một thân xác to lớn nhưng không lành lặn. Bài hát ''Derrière le Brouillard'' mà anh đồng ghi âm với Louane nói về nỗi can đảm cũng như nghị lực để đứng dậy sau nhiều lần bị vấp ngã, điều quan trọng vẫn là thoáng dư âm của niềm hy vọng ''Đằng sau lớp sương mù''...

Bước kế tiếp của Slimane sau tập nhạc song ca với Vitaa

Ca khúc ''Si t'étais là'' (hiểu theo nghĩa Nếu mẹ còn đó) là một ca khúc ăn khách trên album thứ nhì của Louane, phát hành vào năm 2017. Bài hát đã được viết chỉ một thời gian rất ngắn sau khi song thân của cô đều lần lượt qua đời vì bệnh ung thư. Được sáng tác như một lời tâm tình nhắn nhủ với người đã khuất, do bố mẹ của Louane đã ra đi quá sớm để có thể chứng kiến sự thành công của đứa con gái trên đường đời sự nghiệp, và Louane cảm thấy hối tiếc vì đã không thật sự tìm hiểu nỗi khổ của song thân, thời mà cha mẹ cô vẫn còn sống trên đời này.

Dù vậy Louane vẫn chưa đánh mất niềm tin, và nếu như song thân vẫn còn đó, thì có lẽ họ sẽ khuyên con mình nên giữ niềm vui trong cuộc sống. Có lẽ cũng vì thế mà cô chọn ''Joie de Vivre'' (có nghĩa là Sống vui) làm tựa đề album mới (thứ ba) của mình. Còn nhạc phẩm ''Si t'étais là'' do rất cảm động nên trở thành một ca khúc thường được chọn trong các cuộc thi hát. Ban song ca Vitaa & Slimane cũng từng hát lại ca khúc này trên sân khấu sau khi lập kỷ lục số bán trong năm qua với đĩa nhạc Versus, đạt tới mức 6 lần đĩa bạch kim.

Phiên bản 2021 của ca khúc chủ đề nhạc kịch ''Notre Dame de Paris''

Từ song ca đến tam ca, chỉ cần một bước mà thôi. Slimane từng thành danh nhờ về đầu mùa thứ 5 cuộc thi hát The Voice tại Pháp vào giữa năm 2016. Sau khi tham gia khá nhiều dự án ghi âm, nam ca sĩ Slimane lần này xuất hiện trong một ca khúc hợp tác với hai anh em nghệ sĩ nhạc rap Gims và Dadju. Sinh tại Kinhasa, Gims năm nay 35 tuổi từng ăn khách vào đầu năm 2008 khi là thành viên chính của nhóm Sexion d'Assaut. Từ năm 2013 trở đi, Gims hoạt động solo và đã trình làng 4 album phòng thu.

Trên phiên bản bổ sung cho tập nhạc gần đây nhất phát hành trong thời kỳ phong tỏa, vì thế album được đặt tên là ''Le Fléau'' (Tai họa), hai anh em Gims và Dadju đã cùng với Slimane ghi âm lại một bản nhạc từng được công chúng Pháp bình chọn là một trong những tình khúc hay nhất thế kỷ XX. Nhạc phẩm "Belle" (Giai Nhân) là ca khúc chủ đề của vở nhạc kịch ''Nhà thờ Đức Bà Paris''. Hơn hai thập niên sau ngày ra đời, ca khúc này nay lại được phát hành với một phiên bản hòa âm hương xưa sắc mới.

Trước hoàn cảnh khó khăn ràng buộc, cảm hứng sáng tạo lại sinh ra nhiều thành quả, có thể giải tỏa nỗi đau, cho bao vị đắng thăng hoa thành giai điệu ngọt ngào.


Users browsing this topic
Guest (9)
86 Pages«<7980818283>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.