Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

44 Pages«<3334353637>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
hongvulannhi  
#681 Posted : Monday, February 7, 2011 11:47:32 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,355

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
My bi Tau choi kham...

UserPostedImage

Lang Lang at the piano, March 2008
Không thâm đâu phải là Tầu.
Xin chuyen den ban chuyen VUI dau nam.
Lang Lang ngoáy mũi Obama


Mở đầu cuộc viếng thăm Mỹ quốc hai ngày, Hồ Cẩm Đào đã được Tổng Thống Obama trải thảm đỏ tiếp đón trọng thể tại Tòa Bạch trong ngày 20.1 vừa qua. Báo chí cũng đã tường thuật đầy đủ chi tiết buổi thảo luận giữa hai vị lãnh đạo được xem là có quyền lực nhất hiện nay.

Dân Mỹ hãnh diện khi thấy Tổng thống của mình ngang nhiên vuốt móng con rồng đỏ châu Á khi đưa ra nhiều vấn đề „nhạy cảm“ như đòi hỏi Hồ Cẩm Đào phải mở rộng Tự do, Dân chủ Nhân quyền cho người dân hơn nữa. Phản ứng của Hồ Cẩm Đào được đánh giá là nhẹ nhàng khôn ngoan. Tránh né những gì tránh được và chấp nhận những gì không thể chối cải.
1-0 cho Obama?

Vào buổi tối cùng ngày, Obama mở tiệc mừng Hồ Cẩm Đào (hay tự mừng chiến thắng trong ngày của mình?). Thức ăn sang trọng cộng thêm phụ diễn văn nghệ. Nghệ sĩ không thể thiếu trong một buổi tiệc long trọng với Hồ Cẩm Đào là chàng nhạc sĩ dương cầm danh tiếng Lang Lang người Tàu.

Phải nói ở phương Tây, dù một người không yêu âm nhạc đi chăng nữa, không ai lại không biết đến anh chàng Lang Lang, người mũm mĩm, thấp bé nhưng chơi dương cầm thì không thể nào chê được. Lang Lang rời Trung quốc lúc 14 tuổi sang sinh sống tại New York cũng đã hơn 14 năm nay. Là một nhạc sĩ dương cầm trứ danh Lang Lang là thượng khách quen thuộc của Tòa Bạch Ốc là chuyện không khó hiểu.

Vào gần cuối buổi dạ tiệc chiêu đãi Hồ Cẩm Đào, Lang Lang đánh một bản nhạc thật tuyệt. Tuyệt đến nỗi quan khách Mỹ „Ô-vây-sần“ (Ovation). Đứng lên rồi lạu ngồi xuống vỗ tay tán thưởng. Obama còn „điệu đàng“ đi tới ôm hôn Lang Lang. Điểm độc đáo hơn nữa là một người lạnh lùng như Hồ Cẩm Đào cũng đứng lên ôm hôn Lang Lang và đây chính là chuyện lạ khó hiểu.

Ăn uống no say, Hồ Cẩm Đào giã từ Obama để ngày mai đi xuống thăm viếng Chicago. Tòa Bạch Ốc tự vỗ tay khen thưởng đã tổ chức buổi lễ thành công ngoài chờ đợi. Nhưng (lại cái Nhưng quái ác) bọn Blogger, rồi các „con cừu“ lề phải bên Trung quốc tung ra quả bom: Lang Lang chơi đểu. Bản nhạc Lang Lang đánh đàn hồi hôm mà mấy ông bà Mỹ „Ô-vây-sần“ là bản „Tổ quốc tôi“ nhạc tựa trong cuốn phim tuyên truyền tâm lý chiến „Trận chiến tại ngọn núi Shangganling“ (Battle on Shangganling Mountain) được Trung cộng thực hiện trong thời gian xảy ra cuộc chiến Triều Tiên (1950-1953). „Tổ quốc tôi“ là một bản nhạc hùng ca quen thuộc từ trẻ con đến người già cả tại Trung quốc đều thuộc nằm lòng, ca tụng „đội quân thiện chí“ của Trung Cộng sang giúp cho Bắc Triều Tiên đánh quân Mỹ tan tác trong trận đánh đẫm máu dành Shangganling. Câu hát quen thuộc trong bài này là:

Bạn bè thì ta dọn rượu vang quý,
Chó sói đến thì thì ta đón bằng khẩu súng săn.

Theo liên hệ trong cuộn phim „Trận chiến tại ngọn núi Shangganling“ thì chó sói chính là quân Mỹ. Đây là một bài ca chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Đến đây thì người ta bắt đầu hiểu lý do Hồ Cẩm Đào trong buổi tối chiêu đãi đứng lên ôm hôn Lang Lang thắm thiết tình đồng chí như vậy.

Một chiến dịch „bán chính thức“ hiện được tung lên trên Internet tại Trung quốc để ca tụng người hùng Lang Lang dám chơi khăm dân Mỹ. Dân Tàu ào ạt cười ghẹo sự ngu xuẫn, đánh giá một nước giàu có mà lại thiếu văn hóa của người Mỹ. Một Blogger viết trên sina.com: „ Bản nhạc được chơi ngay trên đất Mỹ thật có ý nghĩa nhưng không hiểu tụi nó có hiểu không nữa? hahaha…“

Một đề nghị được đưa ra là gắn huy chương cho Lang Lang, người đã lấy lại niềm tự hào cho dân Tàu, người can đảm dám chửi Mỹ ngay chính tại trung tâm quyền lực của nước Mỹ.

Có người cho rằng, Lang Lang chơi „đúng chổ, đúng lúc và đúng bản nhạc“. Đây là một lối dùng chữ đầy tức giận nhái theo câu nói của tướng Omar N. Bradley đã từng diễn tả trước Thượng Viện Mỹ về cuộc chiến Triều Tiên „một cuộc chiến sai lầm, không đúng lúc, không đúng chổ và không đúng kẻ thù“. Omar N. Bradley muốn nói, tại sao Mỹ đã tham dự cuộc chiến Triều Tiên mà lại không mở rộng đánh sang Trung Cộng luôn thể.

Lần này người Tàu cũng ăn mừng rầm rộ không khác gì sau trận khủng bố 11/9 tại New York với hơn 3000 người dân vô tội bị giết.
Lang Lang gỡ huề 1-1 cho Trung quốc?

Là một nghệ sĩ gốc Tàu được người dân Mỹ quý mến, được xem là thần tượng trên đất Mỹ không khác gì anh chàng Yao Minh cầu thủ bóng rổ NBA, Lang Lang tìm cách giải thích hành động của mình khi chơi bản nhạc chống Mỹ ngay trong Tòa Bạch Ốc và cho rằng hoàn toàn không có một ẩn ý chính trị khi chọn bản nhạc này:

I selected this song because it has been a favorite of mine since I was a child. It was selected for no other reason but for the beauty of its melody.

I am, first and foremost, an artist. As such, I play music to bring people together. (Nguyên văn được đăng chính thức trên homepage của Lang Lang)

Lang Lang chọn bản nhạc vì anh ta yêu thích ngay từ thời còn bé con và cũng chỉ vì âm điệu hay chứ không biết về nội dung chống Mỹ của nó? Trí óc của Lang Lang như vậy là có vấn đề vì anh ta rời khỏi quê hương khi đã 14 tuổi, quên lời ca mà nhớ âm điệu là một điều khó thuyết phục. Là một nghệ sĩ, mà lại là một nghệ sĩ danh tiếng, khi đánh đàn Lang Lang như thả hồn vào bản nhạc mà lại cho rằng không cần biết đến lời ca như thế nào thì lại càng khó thuyết phục hơn.

Lời phủ nhận không mang ẩn ý chính trị khi chọn bài nhạc của Lang Lang lại càng không có giá trị khi theo dõi những câu trả lời của anh ta trong một cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình Phoenix phát từ Hồng Kông vào ngày 20.1 lúc 7 giờ sáng giờ Bắc kinh tức 6 giờ chiều ngày 19.1 giờ Washington, trước giờ bắt đầu buổi yến tiệc dành cho Hồ Cẩm Đào. Đây lại là không phải một buổi phát trực tiếp truyền hình mà cuộc phỏng vấn đã được thực hiện trước đó một ngày:

“Tôi muốn chơi bản ‘Tổ quốc tôi’ vì tôi nghĩ rằng, một khi tôi chơi bản này trong buổi dạ tiệc tại Tòa Bạch Ốc thì đó là điều giúp cho nhân dân Trung quốc có thể rất tự hào về chính mình. Qua bản nhạc này chúng tôi có thể bày tỏ cảm xúc. Tôi cho rằng đây là điều hay. Ngoài ra tôi cũng yêu âm điệu bài nhạc, mỗi lần nghe là mỗi lần tôi cảm động.”
Vai trò của Bắc Kinh

Không chỉ một mình Lang Lang mà ngay chính bộ sậu Bắc kinh cũng đã lên tiếng phủ nhận trách nhiệm trong vụ Sì-Căng-Đan do Lang Lang gây ra.

Tuy nhiên một điều khó chối cải là theo nghi thức ngoại giao, toàn bộ chương trình gặp gỡ cũng như chương trình đêm dạ tiệc khoản đãi đều được ban tổ chức tại Tòa Bạch Ốc lên chương trình và thông báo trước cùng phái đoàn của Hồ Cẩm Đào. Ngay chính Tommy Vietor, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc trả lời trên đài ABC News: “Anh ta (tức Lang Lang) tự chọn và cho biết tên bản nhạc và nói rằng đây là một bản nhạc rất quen thuộc tại Trung quốc.”

Người Mỹ không hiểu ý nghĩa của bài ‘Tổ quốc tôi’ đã đành, ban tổ chức của Tòa Bạch Ốc không hiểu ý nghĩa bản nhạc để chấp nhận cho Lang Lang trình diễn làm nẩy ra câu hỏi về kiến thức của họ và nguyên cả bộ sậu Bắc Kinh không phản đối vì bản nhạc gây nhục cho nhân dân Mỹ trong một buổi lễ ngoại giao quan trọng như vậy là một thái độ khiêu khích coi thường chính phủ và nhân dân Mỹ. Chỉ tiếc là người Mỹ không chịu hay cố tình không thấy điểm này! “Tất cả mọi phỏng đoán đây là việc gây nhục cho Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ là không đúng. Lang Lang chỉ chơi âm điệu, không lời và không một lời phê bình chính trị nào hết”, theo lời của Tommy Vietor, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc.

Qua câu chuyện cậu bé Lang Lang ngoáy mũi Obama người ta lại càng thấy rõ sự ngây thơ của chính phủ Mỹ trước một con cáo già Bắc kinh sắp biến thành tinh. Những ai vẫn đang còn tuyệt đối tin tưởng vào sức mạnh và quyền lực của một siêu cường Hoa Kỳ hãy lấy đó làm bài học trước khi để cho Bắc kinh nhuộm đỏ toàn cầu.
Phương Tôn Tháng 2.2011


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Tiểu Vũ Vi  
#682 Posted : Monday, February 7, 2011 4:17:17 PM(UTC)
Tiểu Vũ Vi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 3,362

Was thanked: 3 time(s) in 3 post(s)

UserPostedImage

Thương chúc anh hai một mùa sinh nhật tràn đầy niềm vui và hạnh phúc ...

Tiểu Vũ Vi  
#683 Posted : Monday, February 7, 2011 4:23:37 PM(UTC)
Tiểu Vũ Vi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 3,362

Was thanked: 3 time(s) in 3 post(s)
UserPostedImage

Thân chúc các anh chị và thân hữu Uyển Nhi Trang cùng quý quyến Một năm mới Tân Mão An Khang Thịnh Vượng và Hạnh Phúc Như Ý


Tu Bich  
#684 Posted : Monday, February 7, 2011 7:43:50 PM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Cuộc khủng hoảng Ai Cập trong bối cảnh toàn cầu

Báo cáo đặc biệt
George Friedman

Chưa rõ ràng điều gì sẽ xảy ra trong cuộc cách mạng Ai Cập này. Không có gì đáng ngạc nhiên là nó đã xảy ra. Hosni Mubarak đã làm tổng thống trong hơn một phần tư thế kỷ, kể từ vụ ám sát Anwar Sadat. Ông ta đã già và ốm yếu. Không ai mong chờ ông ta sống lâu hơn, và cái kế hoạch rõ ràng của ông ta, là ông ta sẽ được người con trai Gamal thay thế vẫn không xảy ra mặc dầu nó đã có thể cách đây một năm. Không có ai, ngoài những kẻ thân cận nhất, muốn cho cái kế hoạch truyền ngôi của ông ta được thực hiện. Khi người cha yếu đi, thì sự kế tục của Gamar trở nên ít có khả năng xảy ra hơn. Việc Mubarak không vạch ra được một kế hoạch truyền ngôi đáng tin cậy tạo điều kiện bất ổn khi ông ta chết. Vì mọi người biết rằng sẽ có một sự bất ổn khi ông ta chết, hiển nhiên có những người thấy hành động trước khi ông ta chết thì ít thuận lợi. Những người này là ai và họ muốn gì, đó là vấn đề.

Chúng ta hãy bắt đầu bằng cách xem xét chế độ này. Năm 1952, Đại tá Abdel Nasser dàn dựng một cuộc đảo chính quân sự hạ bệ chế độ quân chủ Ai Cập, các sĩ quan dân sự trong quân đội và ảnh hưởng của Anh ở Ai Cập. Nasser tạo ra một chính phủ mới dựa trên lực lượng quân đội như một lực lượng ổn định và tiến bộ chủ yếu ở Ai Cập. Cuộc cách mạng của ông là thế tục và xã hội chủ nghĩa. Tóm lại, nó là một chế độ nhà nước chủ nghĩa thống trị bởi quân đội. Khi Nasser chết, Anwar Sadat thay thế ông. Khi Sadat bị ám sát thì Hosni Murabak thay thế. Cả hai người này, cũng như Sasser, đều từ quân đội mà ra. Tuy chính sách ngoại giao của họ có thể thay đổi nhưng chế độ thì vẫn giữ nguyên.
Những kẻ thù của Mubarak

Yêu cầu Mubarak từ chức đến từ nhiều giới, trong đó có những thành viên của chế độ - đặc biệt là quân đội - những người coi việc Mubarak không muốn cho phép họ điều khiển cuộc kế thừa là gây nguy hiểm cho chế độ. Đối với một số người trong họ, những cuộc biểu tình vừa là nguy cơ vừa là cơ hội. Hiển nhiên, những cuộc biểu tình này có thể ra ngoài tầm kiểm soát và phá huỷ chế độ. Mặt khác, các cuộc biểu tình có thể đủ sức mạnh để buộc Mubarak từ chức, cho phép thay thế bởi - chẳng hạn Omar Suleiman, trùm tình báo mà mới đây đã được Mubarak bổ nhiệm làm phó tổng thống - và do đó cứu chế độ. Như vậy không có nghĩa là nói rằng họ xúi giục các cuộc biểu tình, nhưng chắc một số người đã thấy những cuộc biểu tình là một cơ hội.

UserPostedImage

UserPostedImage

Quần chúng Ai Cập nổi dậy trong thế
rời rã của chính giới đối lập

Đây đặc biệt là trường hợp theo nghĩa là những người biểu tình bị chia rẽ sâu sắc giữa họ với nhau, và như vậy còn xa mới có khả năng tạo ra một phong trào quần chúng kiểu phong trào đã lật đổ Shah ở Iran năm 1979. Quan trọng hơn, những người biểu tình rõ ràng thống nhất với nhau trong việc chống cá nhân Mubarak, và trong một phạm vi rộng hơn, thống nhất trong việc chống chế độ. Ngoài chuyện đó ra, có sự chia rẽ sâu sắc giữa những người chống đối.

Các phương tiện truyền thông Phương Tây coi cuộc nổi dậy này như một đòi hỏi tự do dân chủ theo kiểu Phương Tây. Chắc chắn có nhiều người đòi hỏi điều đó. Điều chưa rõ ràng là nó đang khích động nông dân, công nhân và thương nhân Ai Cập đồng loạt vùng lên. Những quyền lợi của họ liên hệ với tình trạng kinh tế Ai Cập hơn là với những nguyên tắc của một nền dân chủ tự do rất nhiều. Như ở Iran năm 1979, cuộc cách mạng dân chủ, nếu chỉ tập trung ở những người dân chủ thì không thể thắng nếu nó không tạo ra được một sự ủng hộ rộng lớn hơn.

Một nhân tố khác trong cuộc nổi dậy này là phong trào Huynh Đệ Hồi Giáo (Muslim Brotherhood). Phần lớn các nhà quan sát nhất trí rằng Muslim Brotherhood vào lúc này không còn là một phong trào cực đoan và quá yếu, khó có thể ảnh hưởng đến cách mạng. Điều này có thể, nhưng chưa rõ ràng. Muslim Brotherhood có nhiều nhánh, trong đó có những nhánh đã tắt tiếng sau khi bị Mubarak đàn áp. Chưa rõ ràng ai sẽ nổi lên nếu Mubarak đổ. Chưa chắc là họ yếu hơn những người biểu tình dân chủ. Thật sai lầm khi cho rằng sự thận trọng của Muslim Brotherhood là do yếu ớt mà ra. Có thể là họ đã chờ một cơ hội tốt và làm giảm nhẹ quan điểm thật của họ, đợi đến một thời điểm mà việc truyền ngôi của Mubarak cung cấp cho họ. Tôi nghi rằng Muslim Brotherhood có khả năng ảnh hưởng trong quần chúng Ai Cập lớn hơn những người biểu tình ngả về Phương Tây hay Mohamed ElBaradei, cựu thủ trưởng Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế, người đang nổi lên như một lãnh đạo mới của họ.

Tất nhiên người ta bàn đến quan điểm của Tổng thống Mỹ Barak Obama, hay châu Âu, hay người Iran đang làm gì? Tất cả những người đó chắc chắn đã nghĩ và thậm chí đã có những kế hoạch. Theo ý tôi, cố gắng định hướng động lực chính trị của một nước như Ai Cập từ Iran hay Hoa Kỳ là vô ích, và tin rằng những gì đang diễn ra ở Ai Cập là kết quả những âm mưu của họ là vô nghĩa. Nhiều người quan tâm điều gì đang xảy ra ở đó, và nhiều người đang nói đủ chuyện và thậm chí tiêu tiền vào điều tra hay Twitter. Chế độ ở Ai Cập có thể bị ảnh hưởng theo cách ấy, nhưng một cuộc cách mạng thật sự không phụ thuộc vào những gì Liên Hiệp Châu Âu hay Tehran nói.

Có bốn kết quả khả dĩ. Một là, chế độ này sẽ sống sót. Mubarak có thể ổn định được tình hình, và dễ xảy ra hơn, một sĩ quan cao cấp khác của quân đội có thể thay thế ông ta sau một khoảng thời gian. Một khả năng khác trong kịch bản chế độ sống sót là, có thể một cuộc đảo chính của các đại tá, như chúng tôi đã nói đến. Khả năng thứ hai là, những người biểu tình có thể buộc tổ chức những cuộc bầu cử trong đó Elbaradei hoặc một nhân vật như ông có thể được bầu, và Ai Cập có thể lật đổ cái mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa mà Nasser dựng lên, và tiến lên con đường dân chủ. Khả năng thứ ba là Ai Cập sẽ chìm vào hỗn loạn chính trị. Con đường dễ dẫn đến đó nhất là những cuộc bầu cử dẫn đến kẹt đường chính trị trong đó ứng cử viên có thể đứng vững được lại không được bầu. Nếu tôi có quyền chọn, tôi sẽ cá chế độ tự ổn định và Mubarak ra đi, vì sự yếu đuối tương đối và sự chia rẽ của những người biểu tình. Nhưng đó là một phỏng đoán chứ không phải dự báo.
Ý nghĩa địa chính trị

Dù điều gì xảy ra thì nó cũng đều có ý nghĩa rất lớn đối với người Ai Cập. Nhưng chỉ có một số trong những kết quả này có ý nghĩa đối với thế giới mà thôi. Đối với những người Islamist cực đoan, viễn cảnh của một nước Ai Cập cực đoan hoá là một cơ may. Đối với Iran, một kết quả như thế có thể không dễ chịu. Iran hiện giờ là một trung tâm đang nổi lên của phong trào Islamist cực đoan, nó sẽ không hoan nghênh kẻ cạnh tranh từ Ai Cập, mặc dầu nó có thể hài lòng với một Ai Cập Islamist hành động như một đồng minh của Iran (một điều không dễ gì đoan chắc).

Đối với Hoa Kỳ, một Ai Cập Islamist sẽ là một thảm hoạ chiến lược. Ai Cập là trọng tâm của thế giới A Rập. Điều này có thể sẽ không chỉ thay đổi động lực của thế giới A Rập, nó còn đảo ngược chiến lược của Mỹ từ cuối cuộc chiến tranh Israel-Ai Cập vào năm 1973. Quyết định của Sadat đảo ngược liên minh của ông ta với khối Xô Viết và thành lập liên minh với Hoa Kỳ đã phá hoại vị trí của Liên Xô ở Địa Trung Hải và trong thế giới A Rập, và củng cố vị trí của Hoa kỳ một cách cực kỳ vững chắc. Sự giúp đỡ của tình báo Ai Cập sau ngày 9/11 là cực kỳ quan trọng trong việc ngăn chặn và làm suy yếu Al Qaeda. Nếu Ai Cập không hợp tác nữa hay trở thành thù địch, chiến lược của Mỹ sẽ bị huỷ hoại nghiêm trọng.

Mất mát lớn hơn sẽ là Israel. An ninh quốc gia của Israel đã dựa trên hiệp ước của nó với Ai Cập, do Menachem Begin kí, một hiệp ước từng chịu nhiều phê phán từ phái hữu Israel. Việc phi quân sự hoá bán đảo Sinai không chỉ bảo vệ mặt phía nam của Israel, nó còn có nghĩa là sự sống còn của Israel không còn bị nguy ngập nữa. Israel đánh ba cuộc chiến tranh (1948, 1967,1973) can hệ đến chính sự tồn tại của nó. Mối đe doạ luôn luôn đến từ Ai Cập, và không có Ai Cập gây rối, thì không có liên minh các cường quốc nào đe doạ nổi Israel (trừ khả năng hiện nay còn xa là vũ khí hạt nhân của Iran).

Nếu Ai Cập định xoá bỏ Hiệp ước Trại David và qua thời gian sẽ xây dựng lại quân đội của nó thành một lực lượng hùng mạnh, thì mối nguy cơ đối với Israel tồn tại từ trước khi ký hiệp định này sẽ lại nổi lên. Điều này có thể không diễn ra nhanh chóng, nhưng Israel sẽ phải đối phó với hai thực tế. Một là quân đội Israel không đủ lớn hay đủ mạnh để chiếm và kiểm soát Ai Cập. Hai là sự phát triển của quân đội Ai Cập sẽ áp đặt những phí tổn nặng nề lên Israel và thu hẹp không gian để thi thố của nó.

Như vậy có một kịch bản có tiềm năng làm cho những người Islamist cực đoan mạnh lên trong khi đặt Mỹ, Israel, và có khả năng cả Iran nữa vào vị thế bất lợi, tất cả vì những lý do khác nhau. Kịch bản này chỉ nổi lên nếu có hai sự việc sau đây xảy ra. Một là Muslim Brotherhood phải trở thành lực lượng chính trị áp đảo ở Ai Cập. Hai là, họ phải cho thấy hoá ra là họ cực đoan hơn phần lớn các nhà quan sát hiện nay nghĩ về họ, hay là, họ phải, khi có quyền lực, dần dần trở nên cực đoan hơn.

Nếu những người ủng hộ dân chủ thắng, và nếu họ bầu một người giống như ElBaradei, thì khó có khả năng diễn ra kịch bản trên đây. Phái dân chủ thân Phương Tây chủ yếu lo lắng về những vấn đề trong nước, vì họ là thế tục và không muốn trở lại trạng thái chiến tranh trước khi có hòa ước Davis, bởi vì điều đó sẽ đơn giản làm quân đội mạnh lên. Nếu họ mạnh lên, thì tình hình địa chính trị sẽ giữ nguyên không đổi.

Tương tự như vậy, tương quan địa chính trị sẽ giữ nguyên không đổi nếu chế độ của quân đội vẫn giữ được chính quyền - chỉ trừ một kịch bản. Nếu nó quyết định rằng sự mất lòng dân của chế độ có thể được làm dịu bớt bằng cách giả định một chính sách chống Phương Tây và chống Israel nhiều hơn - nói cách khác, nếu chế độ quyết định chơi con bài Islamist, thì tình hình sẽ tiến triển như một chính phủ Muslim Brotherhood sẽ làm. Thực vậy, khó tưởng tượng là có một liên minh với Muslim Brotherhood được thiết kế để ổn định chế độ. Đã từng xảy ra những sự việc còn lạ lùng hơn thế.

Khi chúng ta nhìn vào động lực chính trị của Ai Cập, và cố gắng tưởng tượng liên hệ của nó với hệ thống quốc tế, chúng ta có thể thấy nhiều kịch bản trong đó một số kết quả chính trị sẽ có những tác động sâu xa lên tình hình thế giới. Điều này không có gì ngạc nhiên. Khi Ai Cập là một nhà nước của Nasser thân Liên Xô, thế giới là một nơi rất khác so với thời trước Nasser. Khi Sadat thay đổi chính sách ngoại giao của ông ta thế giới thay đổi theo. Nếu chính sách ngoại giao của Sadat thay đổi, thế giới lại thay đổi lần nữa.

Phần lớn những kết quả mà tôi hình dung để Ai Cập gần nguyên như cũ. Nhưng không phải tất cả. Tình hình là, như người ta nói, chưa ngã ngũ, còn kết quả thì chẳng tầm thường.

Georges Friedman
Nguồn: ”The Egypt Crisis in a Global Context: A Special Report”. Stradfor Intelligence, 30/01/2011 Bản dịch của Hiếu Tân đăng trên Blog Phạm Nguyên Trường, ngày 04/01/2011

hongvulannhi  
#685 Posted : Monday, February 7, 2011 8:29:27 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,355

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
Chuyến trở về đặc biệt

Chủ Nhật, 06/02/2011 07:59

UserPostedImage

Năm 1965, cậu bé 10 tuổi Lê Thành Ân rời Sài Gòn theo người thân sang Mỹ. Và 45 năm sau, ông trở lại quê nhà trong vai trò tổng lãnh sự với nhiệm kỳ 3 năm, bắt đầu từ cuối tháng 8-2010. “Là tổng lãnh sự Mỹ người Việt đầu tiên ở Saigon, đối với tôi đó vừa là vinh dự vừa là thách thức” - ông Ân bày tỏ.

Một bức bình phong được đặt cạnh lối vào nhà ông Lê Thành Ân, sắc gỗ đen ánh lên vẻ thâm nghiêm. Chưa thôi ngẩn ngơ với chùm tranh sơn mài tả cảnh sinh hoạt dân gian cổ xưa được cẩn trên đó, khách đến thăm nhà ông lại trầm trồ trước những tủ, kệ đầy ắp bình gốm và cơ man tượng Phật, mục đồng, nho sinh, chú Tiễu, ông Táo, cô Tấm... bằng đất nung.

Giữa không gian sống hiện đại nhưng đậm chất Á Đông ấy, hoa phong lan khoe sắc khắp những góc phòng và trên chiếc độc bình gốm sứ ngự giữa chiếc bàn khách ngoài kia điểm xuyết mấy cành đào tươi rói. Hương Xuân - vị Tết như đã sớm tràn ngập mái ấm này!

“Năm nay là lần đầu tiên sau 45 năm chúng tôi ăn Tết tại quê cũ. Điều đó thật ý nghĩa và thú vị đối với tôi vì được đón Tết cổ truyền của dân tộc trong năm bắt đầu nhiệm kỳ mới với vai trò tổng lãnh sự” - ông Ân mở đầu câu chuyện.
Cơ duyên trên đất khách

Lê Thành Ân là người con thứ bảy trong gia đình gồm có 9 người con ở Gò Công (thuộc tỉnh Tiền Giang ngày nay), khi lên 10 tuổi được người thân đưa sang Washington D.C (Mỹ) ở với người cô và mẹ của cô. Khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước vào tháng 4-1975, Lê Thành Ân đang là sinh viên năm thứ ba ngành kỹ sư điện tử tại Đại học George Washington.

Từ sự kiện năm 1975, ông được gặp Lâm Chí Tâm - con gái của một quan chức ngành ngân hàng chính quyền cũ - qua các hoạt động từ thiện trên đất Mỹ. Duyên kỳ ngộ, tình yêu giữa hai người nảy nở và đến năm 1981, họ thành vợ thành chồng.

“Đám cưới của chúng tôi lúc ấy đậm chất truyền thống, cô dâu và chú rể đều mặc áo dài, khăn đóng” - bà Tâm nhớ lại. Khoảng 5 năm sau, gia đình ông Ân đoàn tụ khi mẹ ông sang Mỹ theo chương trình định cư có trật tự (cha ông đã mất trước đó, năm 1972); nhiều người thân của ông ở Việt Nam cũng sang Mỹ và Pháp định cư.

UserPostedImage

Ông Lê Thành Ân, Tổng Lãnh sự Mỹ người Việt đầu tiên tại Saigon.
Ảnh: HỒNG THÚY

“Tôi gia nhập ngành ngoại giao vào năm 1991 sau 15 năm làm công chức ở Bộ Hải quân Mỹ” - ông Ân kể. Cũng vào năm ấy, ông đưa cả gia đình sang Bắc Kinh (Trung Quốc) để nhận nhiệm sở với cương vị viên chức ngoại giao.

Lần lượt những năm sau đó là Tokyo (Nhật Bản), Kuala Lumpur (Malaysia), Singapore, Seoul (Hàn Quốc), Paris (Pháp) và bây giờ là Saigon. Lần này, Lê Thị Mỹ Liên - 26 tuổi, con gái đầu của ông bà - và con trai kế là Lê Thành Nghiêm, 25 tuổi, không theo gia đình sang Việt Nam vì đang học tiến sĩ và làm cho công ty tại Mỹ; còn cô con gái út Lê Thị Mỹ Anh, 17 tuổi, cùng ba mẹ về lại quê cha đất tổ.
Văn hóa cội nguồn không phai

UserPostedImage

Sống ở nhiều nơi và tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau nhưng chất Việt Nam trong ông Ân và những thành viên gia đình hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Ông Ân và bà Tâm thường trò chuyện bằng tiếng Việt và luôn nhắc các con nói tiếng mẹ đẻ trong nhà.

Mong cho thế giới luôn hòa bình và mối quan hệ Việt - Mỹ ngày càng phát triển.
Tổng Lãnh sự
Lê Thành Ân
Họ có một quy ước đối với các con là mỗi khi gặp bà ngoại hoặc bà nội đều phải nói bằng tiếng Việt. Ông Ân cho biết: “Bé út (Mỹ Anh) nay đã đọc được tiếng Việt, vào quán có thể đọc thực đơn để gọi món ăn mà không sợ... bị đói. Sử dụng tiếng mẹ đẻ để luôn nhớ mình là người Việt, đó là cách giữ gìn văn hóa nguồn cội”.

Trong cuộc trò chuyện với tôi (được yêu cầu nói bằng tiếng Anh theo nguyên tắc của ngành ngoại giao), thỉnh thoảng ông Ân nói tiếng Việt, rất tròn câu rõ chữ! Bà Tâm, khi nghe chồng nhắc đến văn hóa nguồn cội, đã kể say sưa về những ngày Tết cổ truyền của gia đình trên đất khách.

“Từ 23 tháng Chạp, chúng tôi bàn soạn mâm cúng ông Táo. Cũng xôi chè, hoa quả, hương đèn cùng lời khấn cầu mong bếp nhà ấm cúng quanh năm, rồi tiễn ông Táo về trời” - bà Tâm kể.

UserPostedImage

Ông Ân phụ họa: “Ở những nước có tổ chức Tết âm lịch mà chúng tôi từng cư trú như Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Hàn Quốc thì ăn Tết lớn hơn. Riêng ở Mỹ, cộng đồng người Việt đón Tết khá xôm tụ.

UserPostedImage

Ông Lê Thành Ân và vợ - bà Lâm Chí Tâm - tại tư gia. Ảnh: HỒNG THÚY

Những ngày trước Tết, vợ chồng tôi đi mua sắm quần áo mới cho bản thân và các con, sau đó lo trang hoàng trong nhà. Ngày Tết, nhà tôi chưng rất nhiều hoa, nào đào, nào mai, nào phong lan và có thêm vài chậu quất... Ngoài ra còn có mâm ngũ quả nữa.

Gia đình tôi theo đạo Phật nên có lập bàn thờ cúng tổ tiên và bàn thờ Phật. Sau lễ cúng giao thừa, chúng tôi đi lễ chùa và sáng mùng 1 ở nhà chờ những người có “tên đẹp” như Tài, Thọ, Lộc... đến xông đất! Rồi các thành viên trong gia đình tụ họp lại, xếp hàng trước bàn thờ thắp hương vái gia tiên, sau đó chúc Tết lẫn nhau, người nhỏ tuổi hơn phải cung kính bái lạy người lớn, tiếp đến là trao tiền mừng tuổi”.
Thích nhạc Trịnh, mê cải lương

Thật bất ngờ khi nghe Tổng Lãnh sự Lê Thành Ân cho biết ông thích nhạc Trịnh Công Sơn, yêu những bản tình ca ngọt ngào và triết lý của nhạc sĩ tài danh này.

Thú vị hơn, mỗi khi có chương trình Chuông vàng vọng cổ ở Saigon là ông Ân đưa vợ đi xem; vở cải lương ông thích nhất là Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài. Rất dễ hiểu bởi tại nơi ông chào đời, vọng cổ và đờn ca tài tử rất phổ biến.

“Những làn điệu vọng cổ Nam Bộ mượt mà nhắc tôi nhớ lại thời thơ bé từng được ba mẹ dẫn đi xem cải lương. Ký ức ấy vẫn theo tôi đến bây giờ và không thể nào phai mờ được” - ông Ân chia sẻ.

Kể từ khi lấy ông Ân cách đây 29 năm, bà Tâm lui về làm nội trợ. Bàn tay khéo léo và tài vun vén của người vợ, người mẹ với những bữa ăn ngon đã trở thành hậu phương an lành của ông Ân và các con.

Những ngày Tết năm nay trên quê hương, bà Tâm dự định vẫn nấu những món ăn truyền thống mà bà đã từng nấu bao năm qua cho gia đình và để đãi khách như tôm kho tàu, thịt kho trứng, cải chua, dưa giá... “Mứt và bánh kẹo, tôi sẽ ra chợ Bến Thành mua. Tôi sẽ tự gói bánh tét, nấu một bữa chay vào sáng mùng 1 theo lễ tục Phật giáo. Món “ruột” Tết này tôi sẽ làm là xôi vò cơm rượu. Tôi làm được những món đó cũng nhờ ba mẹ, anh chị đôi bên - những người lưu giữ văn hóa cổ truyền rất kỹ - bày dạy cho” - bà Tâm cho biết.

Theo ông Ân, năm nay có thể Mỹ Liên và Thành Nghiêm không có điều kiện sang Việt Nam vui Tết cùng gia đình nhưng phong vị Tết trong nhà ông sẽ vẫn đầy ắp. “Tết này đặc biệt hơn, tôi sẽ mặc áo dài khăn đóng màu xanh, vợ tôi sẽ mặc áo dài màu đỏ đi lễ. Theo thông lệ, Tổng Lãnh sự quán Mỹ tại Saigon sẽ tổ chức tiệc tất niên. Khi đó, tổng lãnh sự sẽ lì xì cho con cháu của các nhân viên”.
Đặc ân và trách nhiệm

Trở lại Saigon sau 45 năm, ông Lê Thành Ân cảm thấy thích thú và bất ngờ trước vẻ đổi thay của thành phố. “Nét Sài Gòn cũ vẫn còn hiện hữu ở nhiều con đường, khu dân cư, biệt thự cổ, phố Tây. Nhịp sống thật sôi động và hối hả. Những công trình mới, hiện đại đang mọc lên khắp nơi” - ông Ân nhận xét.

Ông Lê Thành Ân cho rằng việc sang nhậm chức tổng lãnh sự nhiệm kỳ 3 năm tại Saigon lần này là một chuyến trở về đặc biệt của bản thân ông. Là tổng lãnh sự Mỹ người Việt đầu tiên nhận nhiệm sở tại quê nhà, đối với ông đó vừa là đặc ân vừa là thách thức.

UserPostedImage

Tổng Lãnh sự Lê Thành Ân cùng vợ - bà Lâm Chí Tâm (bìa trái) - và con gái út
Lê Thị Mỹ Anh trong trang phục truyền thống Việt Nam. Ảnh: Hồng Thúy

Ông nói: “Đây là vinh dự lớn của tôi khi được Tổng thống Barack Obama bổ nhiệm làm đại diện cho Chính phủ Mỹ tại Saigon, đại diện cho các giá trị Mỹ, làm cầu nối trong việc phát triển mối quan hệ của hai nước.

Tôi nhận thức rõ sự kỳ vọng của nhiều người Mỹ, bao gồm cả cộng đồng Việt kiều đối với tôi nên sẽ nỗ lực hết mình”. Một trong những ưu tiên của Tổng Lãnh sự Lê Thành Ân trong nhiệm kỳ của mình là tập trung phát triển hợp tác giáo dục, giúp sinh viên, trí thức Việt Nam có cơ hội và điều kiện học tập tại Mỹ. Gia đình ông còn dự định tham gia công tác xã hội, gây quỹ từ thiện... để giúp đỡ trẻ em và người nghèo ở Việt Nam.

UserPostedImage

Năm mới, qua giai phẩm Người Lao Động Xuân Tân Mão, Tổng Lãnh sự Lê Thành Ân gửi gắm: “Tôi chúc mọi người có sức khỏe tốt và thịnh vượng. Mong cho thế giới luôn hòa bình và mối quan hệ Việt - Mỹ ngày càng phát triển, sẵn sàng đối thoại để hướng đến một tương lai tốt đẹp hơn”.
Dương Quang
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#686 Posted : Tuesday, February 8, 2011 3:02:22 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,154

Thanks: 6941 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

BÊN BỜ YÊU THƯƠNG


Xuân An

Giặc Pháp xâm chiếm nước ta đã từ lâu, nhưng gặp sức phản kháng của toàn dân rất mãnh liệt . Mùa xuân 1946 quân pháp đổ bộ tái chiếm Bắc Việt, Hồ Chí Minh vội vã ký với Pháp thỏa ước sơ bộ, cho phép Quân Pháp tái chiếm Việt Nam với mười lăm ngàn quân . Ðổi lại Việt Minh được phép thành lập Quân đội riêng với mười ngàn quân . Trận thử lửa đầu tiên của Việt Minh do Võ nguyên Giáp chỉ huy đánh vào Hải Phòng ngày 20 thánh 11- 1946 làm phía Việt Minh tổn thất sáu ngàn quân . Ngày 19 tháng 12, Việt Minh lại tấn công nhà máy điện Hà nội và các điểm trọng yếu khác trong thành phố . Quân Pháp phản công lại mãnh liệt, Việt Minh phải rút về Hà Ðông và Hồ Chí Minh đại diện cho Việt Minh kêu gọi “ Toàn quốc kháng chiến “ . Quân Pháp lập các đồn bót trên cả nước, mở các cuộc bố ráp bắt bớ dân lành vô tội vạ, gây nên làn sóng công phẩn mãnh liệt lên tầng lớp thanh niên yêu nước . Tỉnh Bình Thuận trong những năm “ Toàn dân kháng chiến,” hầu hết Thanh niên bỏ dỡ việc học hành tham gia các phong trào yêu nước chống Pháp . Thời kỳ này tổ chức Việt Minh lớn mạnh, đây là một tổ chức tập hợp hầu hết các đảng phái yêu nước đứng lên chống Pháp . Ðảng Cộng sản chưa dám công khai lộ mặt là một Ðảng Phát xít, độc tài, tay sai của Ðệ tam Quốc tế Cộng sản nên cũng có nhiều người ngộ nhận tham gia .
Tại Làng Bình Lâm, nằm trên Tỉnh lộ 8, con đường nối Phan Thiết đi Ma Lâm lên tới Di Linh . Làng quê này thanh bình yên vui, nhưng từ khi Quân Pháp lập căn cứ chính tại Ma Lâm, Những đồn bót chân rít nằm từ Ma Lâm đến Mương Mán, trong đó có Ðồn Tân Nông là cứ điểm quan trọng dùng để khống chế vùng Tam Giác Sắt . Chúng thường xuyên hành quân khủng bố đốt phá xóm làng, hầu hết vùng thôn quê trở nên điêu tàn . Người ta bỏ làng lên rừng ở không hợp tác với giặc, ngoài Bắc Bình Thuận hàng chuỗi Cứ điểm Quân sự được dựng nên từ Cà Ná, Long Hương, Duồn, Phan Rí Cửa, Hòa Ða, Cầu Xóm Lụa Chợ Lầu, Lương Sơn, tạo thành thế hổ trợ liên hoàn cho nhau . Hùng chàng thanh niên con nhà Phú nông, Làng Bình Lâm được gia đình cho vào Sài Gòn học, sau khi học lớp chín, Hùng xin vào học trường Y tá, hy vọng nhỏ nhoi là trở về quê giúp đỡ những người dân nghèo quê anh . Sau khi tốt nghiệp, không chịu nỗi trước cảnh nước mất nhà tan nên bỏ về quê tham gia đoàn quân kháng chiến
Trước khi vào rừng chiến đấu chống Pháp, Hùng nghe lời gia đình cưới vợ để có kẻ nối giòng sau này vì Hùng là con trai độc nhất . Vợ Hùng là cô gái quê cùng làng hiền hậu đảm đang, săn sóc cho gia đình chồng rất tốt . Hùng manh dạn ra đi trao gánh nặng cho người Vợ hiền mới cưới .
Trong thời gian này dân chúng vùng quê sống trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, một cổ hai tròng, sưu cao thuế nặng . Một số đã bỏ lên rừng lập làng mới, không hợp tác với chính quyền do Pháp bảo trợ . Chiến khu là núi rừng bạt ngàn từ Hàm Tân cho đến Cà Lon, Ðồng Trên, Ðồng Bò, Minh Mỵ, Vĩnh Hảo, Cà Ná . Về Hướng đông một dải động cát hoang vu nằm sát biển, từ La Gàn đến Mũi Né với các Ðịa danh Hòn Rơm , Bàu Bà, Bàu Ông, Nhơn Thiện, Cây Găng, Bầu Thiêu trở thành những chiến khu bất tử . Mật khu Lê Hồng Phong là đây .
Hùng được giao cho nhiệm vụ thành lập các Trạm xá để chữa trị thương binh phục vụ cho chiến trường đang sôi động . Lúc này những trận đánh khốc liệt giữa Việt Minh và quân Pháp diễn ra thường xuyên như các trận tấn công Ðồn Duồn, Thiện Giáo, Mương Mán, táo bạo hơn VM còn dám phục kích đánh Pháp vào ban ngày tại Chợ Lầu gây thiệt hại nặng cho quân Pháp . Nhưng sau khi Việt Minh rút lui, quân Pháp tăng viện tràn đến đốt nhà, bắn giết nhiều người vô tội chỉ vì trước nhà có vết máu, hoặc có xác chết của giặc Pháp .Trong thời kỳ này dân chúng toàn Tỉnh, ngoại trừ những thành phố lớn là còn sinh khí phồn thịnh, còn lại bỏ làng bỏ xóm vào rừng ẩn náu, sau ngày hòa bình lập lại sau 1954 mới trở về làng xưa .
Hùng di chuyển từ nơi này đến nơi khác vì công vụ, cũng có đôi lần anh lén lút về nhà thăm Cha mẹ già và người vợ trẻ . Tâm hồn người thanh niên ôm trọn lý tưởng cao cả thật đáng quý, nhưng anh không hiểu hết mặt trái của trò chơi Chính trị . Hùng không biết rằng Ðảng Cộng sản Việt Nam đã lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân để tiến hành một cuộc chiến tranh không cần thiết cho sự sống còn của dân tộc, mục đích của Cộng sản Việt Nam là thay mặt Ðệ Tam Quốc tế Cộng sản thực thi Cách mạng vô sản trên toàn Ðông Dương . Như ta đã thấy, lúc này là thời điểm chín mùi để giành lai độc lập cho nước nhà từ tay Thực dân Pháp mà không cần đổ xương máu . Ấn Ðộ, Phi luật Tân độc lập năm 1946, Miến Ðiện 1947, rồi lần lượt Nam Dương, Mã lai, Libia, Sudan, Ghana, Tân Gia Ba . . . Cuộc chiến tranh vô bổ do Cộng sản phát động đã làm suy yếu nội lực của nước nhà đến tận cùng . Một bằng chứng hiển nhiên cho thấy Việt Minh sau tháng 4 – 1945 là tay sai của Nga Hoa . Võ Nguyên Giáp theo lệnh của Hồ Chí Minh đưa hai Sư đoàn đầu tiên sang Trung quốc để trang bị vũ khí, rèn cán chỉnh quân, khi trở về không còn là bộ đội Việt Minh nữa mà trở thành Quân đội Nhân Dân Việt Nam . Như vậy chứng tỏ huyền thoại Việt Minh chỉ là cái bung sung cho Cộng sản lợi dụng, Cộng sản muốn độc chiếm quyền cai trị, nên đã bán đứng, triệt hạ các đảng phái yêu nước khác, hoạc chỉ điểm cho Pháp bắt một cách tàn bạo, như trường hợp cụ Phan Bội Châu,và.Nguyễn Thái Hoc cùng các anh em trong Việt Nam Quốc dân đảng .
Trong thời gian xa nhà, Hùng quen với môt cô Y tá xinh đẹp cùng tham gia cho Việt Minh . Hai người yêu nhau, tình yêu này mới thật sự với Hùng, người vợ trước đến với Hùng chẳng qua là làm vừa lòng Cha mẹ . Hương cô gái miền Biển mặn Phan Rí Cửa, gia đình cũng thuộc loại khá giả, vì nghe theo tiếng gọi của đất nước, nên lên chiến khu tham gia kháng chiến . Cũng nên nói thêm, Thanh niên nam nữ thời đó ở vùng quê hết đường chọn lựa, không ai muốn bỏ nhà to cửa lớn, cuộc sống sung túc của một gia đình giàu có mà lên sống nơi rừng sâu núi thẩm, thiếu thốn tiện nghi, mạng sống lại không bảo đảm vì các trận càn quét của Quân Pháp, nhưng nếu không theo Việt Minh là lập tức được dán cho cái nhản theo Tây, coi như bản án tử hình treo lơ lửng trên đầu, nhiều người đã bị chết oan vì không chịu hợp tác với Việt Minh .
Ta cũng đã thấy nhân dân ta cũng đã dành được độc lập từ tay Pháp . Ngày 11 tháng 3 – 45 sau hai ngày Nhật đảo chánh Pháp Hoàng Ðế Bảo Ðại đã đại diện toàn dân đọc bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập . Ðây mới chính là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Dân tộc Việt Nam, không như Cộng sản trâng tráo cho Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Ðộc lập lần thứ hai ngày 2-9-45 tại Ba Ðình nhằm dành công kháng chiến cho Ðảng Cộng sản .
Pháp bại trận tại Ðiện Biên Phủ, phải ký Hiệp định Geneve tháng 7 - 54 . Trong thực tâm người Pháp chỉ muốn giao lại Việt Nam cho Chính Quyền Quốc Gia vì có như vậy tài sản của kiều dân Pháp tại Việt Nam mới bảo đảm . Tuy nhiên vì để trao đổi hai chục ngàn tù binh mà Pháp phải đồng ý chia hai đất nước Việt Nam theo lời đề nghị của Hồ Chí Minh . Như vậy chuyện chia đôi đất nước là do Cộng sản gây ra chứ không phải do chính quyền Quốc gia hoặc do ai khác. Chiến thắng Ðiện Biên Phủ là chiến Công của toàn dân Việt Nam, một mình Ðảng Cộng sản không làm được chiến công này .
Hùng phải tập kết ra Bắc theo lệnh Ðảng bỏ lại cha mẹ và người vợ quê mùa chưa có con ở Bình Lâm,Thiện Giáo . Ngày ra đi chỉ có người vợ sau là cô Y tá Hương và đứa con trai lên bốn tuổi tiễn đưa . Hương trở về nhà xưa làm ăn nuôi còn chờ chồng trở lại như lời đã hứa, dầu thế nào cũng vẫn thủy chung không thay đổi .
Hòa bình lập lại trên quê hương, Miền Nam điêu tàn vì chiến tranh . Chính phủ Miền Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Ngô Ðình Diệm đã đưa Miền Nam đến Phú cường chỉ trong thời gian ngắn . Trái lại Miền Bắc tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa không tưởng, đưa Miền Bắc về thời kỳ lạc hậu qua cái gọi là Cải cách ruộng đất, nhân dân Miền Bắc sống dưới tầng của đáy địa ngục. Ðất nước hòa bình chưa bao lâu Bác và Ðảng lại lên kế hoạch tiến hành chiến tranh xâm lược Miền Nam trù phú, năm 1960 chúng cho ra đời cái gọi là Mặt trận Giải phóng Miền nam lừa bip, ai cũng biết đó là tay sai của Cộng sản nằm vùng nổi lên, và là con chủ bài của Cộng sản Bắc Việt .
Chiến tranh leo thang ngày một mãnh liệt, người Mỹ và Ðồng Minh nhảy vào rồi ra đi bỏ lại cho Quân đội Miền nam chiến đấu đơn độc với bầy lang sói, Tham vọng của Bác và Ðảng là quyết lấy trọn Miền Mam dâng cho Quốc tế Cộng sản . Tiến đứa con trai lên bốn đưa tiễn cha ngày nào giờ đã khôn lớn, được mẹ cho ăn học, nay đã trở thành một Thiếu úy Sĩ quan QLVNCH . Tiến chiến đấu tại quê hương anh lớn lên, vì sự sống còn của quốc gia dân tộc, anh đã thấy được cái bộ mặt của Cộng sản gian trá mặc dù trong đó có người cha yêu dấu của anh Trái lại mẹ Th/úy Tiến cô Y tá Việt Minh năm nào vẫn còn mù mờ về quốc cộng và tiếp tục bị lừa đảo, tin tưởng vào Cộng Sản chỉ vì bà ta có người chồng tập kết, bị đám nằm vùng móc nối nên cũng lén lút tiếp tế tiền của cho Việt cộng . Bà ta hy vọng một ngày kia người chồng cũ sẽ trởvề đem lại nguồn hạnh phúc dù muộn màng .Nhiều lần mẹ anh đã dùng tình cảm mẹ con lôi kéo anh làm nội tuyến cho VC, nhưng anh cương quyết chối từ .
Hai mẹ con đã vì chuyện này mà cãi vã với nhau nhiều lần . Trong những ngày tháng 3/75 khi Vùng I và Vung II lọt vào tay Cộng Sản, một lần nữa bà ta lại thúc giục anh bỏ ngũ, bà sẽ đưa anh vào rừng với Cách mạng để lập công . Nhưng một lần nữa anh chối từ, Thiếu úy Tiến đã cùng đồng đội chiến đấu đến giây phút cuối cùng, ngày trở về Phan Rí Cửa anh bị đưa đi vào giam tại Lao xá và sau đó là Cà Tót . Mặc dù mẹ của Tiến đã dùng chút ảnh hưởng của bà là người có công với Cách mạng để xin cho thằng con khỏi vào tù, nhưng một khi Cách mạng đã thắng lợi rồi thì cái công trạng nhỏ nhoi của bà có coi ra gì, tất cả đều quay lưng với người mẹ của thằng Sĩ quan ngụy .
Niềm hối hận vì đã tin theo lời chúng, bất chấp hiểm nguy tiếp tế gạo tiền thuốc men, nếu không có cái bia hộ mạng là thằng con Thiếu úy của bà có lẽ bà đã bầm giập trong nhà tù nào đó . Niềm hy vọng duy nhất của bà là chờ cha của Tiến chồng bà trở về trong đoàn quân chiến thắng sẽ đưa con trai bà thoát khỏi cản tù đầy . Nhưng .....
Một tháng sau ngày tháng tư đen, một Cán bộ Cộng Sản vào tiếp thu Bệnh Viện Phan Thiết, với cương vị giám đốc Bệnh Viện . Ông ta chính là người Y tá năm xưa tên Hùng, sau khi ra Bắc được ơn mưa móc của Ðảng cho tu nghiêp lấy cái bằng Bác Sĩ, nay đã là vị Giám đốc một Bệnh viện lớn oai phong lẫm liệt, tháp tùng cùng ông Giám đốc là một bà vợ trẻ với hai thằng con trai còn nhỏ . Trên đường vào Phan Thiết ông không buồn ghé lại Phan Rí Cửa để ghé thăm người vợ xưa với thằng con trai . Lâu lắm ông mới lên Bình Lâm nhà cũ của ông coi cha mẹ và người vợ cũ còn hay mất, cha mẹ thì đã mất lâu rồi và người vợ cũ nay đã già xấu xí nhưng vẫn sắt son đợi chờ dù biết rằng ông đã một lần bội phản . Ngài Bác sĩ Giám đốc không muốn nhìn lại người vợ cũ vì sợ mất mặt với cấp dưới và làm mất lòng cô vợ trẻ, ông Bác sĩ của cách mạng cũng đã quên đi vĩnh viễn người vợ xưa đã một thời là bạn đồng chí và đứa con trai .
Nghe những người tập kết về cho biết chồng bà đã vào Nam và đang là ông Giám đốc của Bệnh Viên Tỉnh nhà, mẹ của Tiến mới biết cha nó đã về Phan Thiết nhưng không một lần về tìm về thăm mẹ con bà . Thật bàng hoàng đau xót và hận kẻ bạc tình, bà cũng không muốn nhìn người chồng phụ bạc đó, nhưng bà cần tìm ông để lãnh thằng con ra khỏi tù, vì thế bà tìm vào Bệnh Viện Phan Thiết để tìm người xưa, bà không mong chấp nối lại tình xưa, vì biêt người chồng bội bạc đã có vợ trẻ khác .
Tại Bệnh viện Phan Thiết, trong một phòng lớn có máy lạnh, ông Giám đốc đang ngồi chễm chệ trên chiếc ghế bọc nhung sau chiếc bàn gỗ trắc bóng loáng, bất giác giật mình vì một người đàn bà không có hẹn gặp bước vào nhìn ông chầm chập . Bà ta không muốn lên tiếng trước để coi nguời đàn ông đó có còn nhận ra mình không ? Ông Giám đốc nheo mắt hách dịch nhìn người đàn bà và hỏi
_ Bà là ai, vào đây có việc gì ?
Người đàn bà chính là bà Hương vợ cũ ông giám đốc, bà cảm thấy đất trời như đảo lộn, cả người vợ đã từng có với ông ta một đứa con thế mà ông không nhận ra được thế thì Tình yêu mà bà đã giành cho ông ta hơn hai mươi năm nay uổng phí quá . Ðôi mắt người đàn bà thâm quần sau nhiều đêm thức trắng nghĩ đến chồng , con, đến những đồng chí ăn cháo đá bát chảy dài hai hàng nước mắt, Bà ta đưa hai bàn tay nhăn nheo lên bụm lấy mặt nức nở nói .
_Ông không nhận ra tôi sao ?
Giám đốc Hùng một thoáng bối rối, ngỡ ngàng nhìn kỹ vào gương mặt người đàn bà và ký ức chợt hiện đến và nhớ lại dù mơ hồ và hỏi nhỏ .
_ Bà có phải là Hương má thằng Tiến ?
Người đàn bà gật đầu và tiếp tục thổn thức . Ông giám đốc đứng dậy rời khỏi ghế đi đến gần người đàn bà nói .
_ Tha lỗi cho tôi Hương, Tôi đã có gia đình khác và vợ tôi không muốn tôi có quan hệ với những mối tình xưa, Hương ! tôi không muốn phụ bạc bà và con nhưng tôi không thể . Ngừng một giây ông Giám đốc nói tiếp .Con mình thằng Tiến nó thế nào ? nó đã có gia đình chưa ?
_Tôi vào đây tìm ông là để ông lãnh nó ra khỏi tù, nó là một Sĩ quan của Miền Nam, Thiếu úy Ðại đội Phó, con mình nó còn độc thân . Nó đang bị người của các ông nhốt tại trại tù Cà Tót, vì chút tình cha con ông lãnh nó về để lâu e rằng nó chết mất .
Người cha Giám đốc trù trừ, không có ý kiến dứt khoát nói .
_ Thì bà cứ để nó học tập tiến bộ một thời gian rồi tôi sẽ đến thăm nó và bảo lãnh nó về .
Mẹ của Tiến quắc mắt nhìn người đàn ông như xa lạ, bà biết chắc những Cán bộ Cộng sản rất sợ giây giưa tới thành phần Sĩ quan ngụy, măc dù có là con ruột của mình đi nữa vì sợ cản trở bước đường thăng tiến của mình . Trong phần lý lịch có một vết nhơ, có thằng con là Sĩ quan ngụy thì không còn tương lai .Bà Hương nói tiếp .
_ Nhưng mà tôi nghe nói ở Cà tót rất độc, có tin đồn là có nhiều người chết vì sốt rét và bị bỏ đói, bị hành hạ . Tôi van xin ông hãy cứu con mình, tôi hứa là sẽ không làm phiền ông sau này nữa, tôi sợ nếu ông không lãnh nó về ngay bây giờ có thể ông không thấy mặt con, nó chết mất
Nét mặt ông giám đốc trở nên đăm chiêu, và cuối cùng ông nói .
_ Thôi được bà hãy về đi, khi nào tôi về Ủy ban Tỉnh họp tôi sẽ nhờ các đồng chi có thẩm quyền can thiệp, có gì về thằng Tiến thì cho tôi biết .
Người mẹ lí nhí cám ơn và quay ra cửa với một tâm trạng não nề, bà ta không hình dung ra được phải chăng những người Cộng sản đều có trái tim sắt đá hay vì một tham vọng say mê quyền lực nào mà biến đổi con người trở thành vô cảm .
Bà Hương cũng muốn một lần lên Trại tù thăm thằng con, nhưng khó khăn quá, bà không đủ sức để đi lên . Qua hai ngày đi bộ giữa rừng núi muôn trùng, đầy cạm bẫy, muỗi mòng . Những người trẻ vợ Lính đi thăm chồng tháng trước về ngã bệnh sốt rét nằm liệt giường, bà sợ quá nên bỏ ý định thăm con mặc dù bà rất muốn .
Trong thâm tâm bà nghĩ, cái lũ quái vật Cộng sản này trả thù hèn hạ quá . Học tập gì mà đưa lên chốn rừng núi không thấy bóng mặt trời, đầy muỗi mòng sốt rét . Trong linh cảm của người mẹ bà không an tâm về con mình .
Ngày được tin những người tù trại Cà Tót được chuyển về Tổng trại 8 tại Sông Mao, bà Hương hối hả lên đứng ngoài vòng rào hy vọng để nhìn thấy con mình cho vơi niềm thương nhớ nhưng không thấy đâu cả . Một người bạn của con bà nhận ra bà và nói cho bà biết qua hàng rào kẽm gai ngăn cách, Thiếu úy Tiến con của bà đã chết bỏ xác tại Cà tót vì sốt rét . Người mẹ khi biết con mình bỏ xác tại trại tù liền quỵ xuống tại chỗ . Thôi rôi còn đâu nữa, ngày Việt cộng về bà vui mừng bao nhiêu thì nay chính bà nuốt những đắng cay đau khổ của cuộc đời . Bà không hình dung được ông Giám đốc Bác sĩ sẽ ra sao khi biết tin con mình chết, hay là vẫn dửng dưng như không có gì . Nghiệt ngã thay cha là Bác sĩ Giám đốc một bệnh viện bề thế mà con mình lại bị chết vì căn bệnh sốt rét trong nhà tù, và suốt cuộc đời còn lại ông ta có chút ân hận gì không ? khi không nhìn thấy mặt thằng con một lần mặc dù ông ta có thể .
Biết đâu câu chuyện trên đây lại không xảy ra nơi nào đó trên dải đất Miền Nam sau ngày tháng tư oan nghiệt . Trang sử đã khép lại nhắc tới chỉ thêm xót xa, không phải nhắc lại chuyện này để gây thêm căm thù oán hận, mà để cho người đời thấy mặt thật của những người Cộng sản .

Xuân An
Từ Tây Bắc Hoa Kỳ
Tháng 2/2011
hongvulannhi  
#687 Posted : Tuesday, February 8, 2011 4:22:35 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,355

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
LINH MỤC NGUYỄN VĂN LÝ SẴN SÀNG TRỞ LẠI TRẠI NHÀ TÙ NHỎ SAU THỜI GIAN CHỮA BỆNH
Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2011-02-08

Vào ngày 15 tháng 2 sắp tới là thời gian 1 năm mà Linh mục Nguyễn Văn Lý được tà quyền CSVN cho về nhà để chữa bệnh sẽ hết hạn.
Vietcatholic

UserPostedImage

Linh mục Nguyễn Văn Lý bi lôi ra khỏi phiên tòa. Vietcatholic

Mặc lâm có cuộc nói chuyện với Linh Mục Lý để tìm hiểu liệu ông có phải chấp hành lệnh này để quay trở lại nhà tù hay không hay sẽ tiếp tục được gia hạn một thời gian nữa, mời quý thính giả theo dõi những thông tin mới nhất mà Linh Mục Lý cho biết sau đây:
Bệnh thì có bớt nhưng lập trường thì không thay đổi
Mặc lâm: Thưa Linh Mục trước tiên xin được hỏi thăm sức khỏe của Linh Mục sau một năm an dưỡng tại Nhà Chung có tiến triển gì khả quan hay không?
LM. Nguyễn Văn Lý: -Có hồi phục được khoảng 60%, ở tay và chân bị liệt đấy, ngoài ra thì sức khỏe bình thường.
Mặc lâm:-Thưa Linh Mục, từ khi ra khỏi trại giam đến nay nhà nước có cho phép ông cử hành thánh lễ với giáo dân hay không?
LM. Nguyễn Văn Lý: -Thường thì chuyện đó họ không đề cập đến đâu, họ không nói chuyện phép tắc gì cả. Thực tế thì tôi vẫn làm lễ trong Nhà chung này bởi vì tôi không có giáo xứ. Tôi làm lễ trong những dịp nào đó mà giáo dân đi qua thì cũng như bình thường nhưng chỉ những giáo dân thân quen thôi.

Những lễ Giáng sinh, lễ Tất niên hay Giao thừa, lễ Đầu năm hay lễ Bổn mạng của tôi thì không ai cần cả. Những lễ của giáo phận như lễ phong chức Linh mục, lễ Làm phép dầu ngày thứ Năm tuần thánh ở nhà thờ Chánh Tòa thì tôi vẫn đồng tế với anh em linh mục thôi.

UserPostedImage

Tấm ảnh lịch sử- Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng
ngay tại phiên tòa trước mặt công chúng. RFA file

Tôi nói gia đình sẽ không làm(đơn xin gia hạn) đâu vì đã làm thì làm vô thời hạn chứ gia đình không làm có thời hạn đâu. Còn có thời hạn là quyết định của nhà nước, thì nhà nước cứ làm. Họ trả lời là cứ để họ làm nhưng họ chỉ mong tôi cho họ tới họ làm hồ sơ thôi.
Mặc lâm:-Thưa Linh Mục, từ ngày về chữa bệnh tại Nhà Chung của giáo phận Huế thì những cán bộ đại diện chính quyền có tiếp xúc với ông hay không, đặc biệt là vào những ngày mà lệnh tạm tha cho ông sắp hết hạn?
LM. Nguyễn Văn Lý: -Họ có vào thăm tất cả 4 lần, và khi họ vào thăm hai lần cuối cùng thì họ có nói rằng họ muốn trước Tết âm lịch họ đến để làm thủ tục gia hạn. Họ mong gia đình nên có một cái giấy đề nghị gia hạn ở ngoài để điều trị.
Mặc lâm:-Trước đề nghị rất cởi mở này thì Linh Mục trả lời ra sao thưa ông?
LM. Nguyễn Văn Lý: -Tôi nói gia đình sẽ không làm đâu vì đã làm thì làm vô thời hạn chứ gia đình không làm có thời hạn đâu. Còn có thời hạn là quyết định của nhà nước, thì nhà nước cứ làm. Họ trả lời là cứ để họ làm nhưng họ chỉ mong tôi cho họ tới họ làm hồ sơ thôi. Họ đề nghị như vậy hai lần, tôi trả lời rằng quý vị muốn làm gì thì làm nhưng nếu đem bác sĩ đến để khám và chữa bệnh cho tôi thì tôi không chấp nhận, bởi vì ngay trong trại giam tôi cũng đã khước từ sự điều trị của nhà nước rồi.

Họ nói rằng thôi thì họ tới nói chuyện cũng được. Để họ căn cứ trên cơ sở đó để làm hồ sơ cho kịp chớ sau tết thì không kịp, vì hồ sơ phài làm qua nhiều công đoạn, liên quan đến nhiều cơ quan. Đó là lần cuối cùng họ gặp tôi vào cuối năm 2010.

Thứ nhất tôi đứng đơn tố cáo tội bán nước và tội phản quốc của nhà nước. Thứ hai là đầu năm 2011 tôi có lời kêu gọi tiến hành giải thể chế độ cộng sản. Ngày 30 tháng Giêng tôi có thơ yêu cầu họ phải trả lời dứt khoát việc lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam bị mất.
Mặc lâm:-Trước những lời từ chối bất ngờ của Linh Mục thì phản ứng của họ ra sao thưa ông?
LM. Nguyễn Văn Lý: -Từ đó đến giờ thì không thấy họ nói gì cả nhưng do cái chỗ mà tôi mới làm có vẻ nghiêm trọng nên có lẽ họ thấy khó khăn. Đó là thứ nhất tôi đứng đơn tố cáo tội bán nước và tội phản quốc của nhà nước. Thứ hai là đầu năm 2011 tôi có lời kêu gọi tiến hành giải thể chế độ cộng sản. Ngày 30 tháng Giêng tôi có thơ yêu cầu họ phải trả lời dứt khoát việc lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam bị mất. Nay thì mấy ông có phương án gì để thu hồi lại lãnh thổ lãnh hải? Tôi cũng kêu gọi giải thể chế độ, phát động phong trào chống giặc Tàu, tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội. Sắp tới chúng tôi tiến hành thiết lập chế độ đa nguyên đa đảng.
Ở trong trại giam hay ở ngoài thì cũng như nhau
Mặc lâm:-Thưa Linh Mục theo những gì mà ông vừa cho biết thì chắc chắn ông sẽ gặp nhiều vần đề nghiêm trọng vì theo như mọi nguời đều biết những lời kết án dù sao cũng không làm chính quyền lo ngại cho bằng lời kêu gọi tổ chức đa nguyên đa đảng một cách công khai, cũng như kêu gọi tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội là hành động chống chính quyền. Liệu ông đã chuẩn bị thế nào cho những khó khăn chắc chắn sẽ xảy ra cho ông trong thời gian tới?

UserPostedImage

Ngày 15 tháng 3, 2010 linh mục Nguyễn Văn Lý đã được đưa về
Nhà Hưu Dưỡng của Gìáo phận Huế để điều trị. RFA file
LM. Nguyễn Văn Lý: -Tôi nghĩ rằng chính họ khó khăn chứ tôi thì có khó khăn gì đâu? Bởi vì tôi ở trong trại giam hay ở ngoài thì cũng như nhau thôi. Tôi luôn luôn quan niệm là tôi đi nhận nhiệm sở mới cho nên bây giờ họ đem xe tới mang tôi di thì tôi đi nhận chỗ mới trong trại giam. Vô trại giam thì tôi chiến đấu trong trại giam.

Tôi luôn luôn quan niệm là tôi đi nhận nhiệm sở mới cho nên bây giờ họ đem xe tới mang tôi di thì tôi đi nhận chỗ mới trong trại giam. Vô trại giam thì tôi chiến đấu trong trại giam.

Tôi sẽ tuyệt thực từng đợt và cứ mỗi lần tuyệt thực thì tôi lại được một trang giầy để tôi viết. Mỗi bữa cơm như vậy thì được một trang, một ngày tôi được ba trang tôi viết những điều tôi muốn nói với nhà nước. Họ làm biên bản là tôi chống đối nhưng thực ra những lời tôi viết tôi hy vọng nó sẽ lên tới Tổng cục an ninh.

Kỳ đi tù vừa rồi thì tôi cũng đã viết được hơn 50 trang những gì cần thiết tôi muốn nói với chế độ này. Do đó tôi luôn luôn chủ dộng còn họ luôn luôn bị động và do đó khó khăn thì chính họ khó khăn chứ tôi có khó khăn gì đâu?

Bây giờ họ để tôi ở ngoài thì họ khó khăn vì họ phải cử người canh gác chung quanh Tòa giám mục liên tục ngày đêm, hiện giờ vẫn đang canh gác đây. Còn nếu họ đưa tôi vào trại giam thỉ chính họ sẽ chịu áp lực của dư luận quốc tế, của Liên hiệp quốc, ngay cả với Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc thì đều trái với những gì đã ký với quốc tế...vì vậy chính họ mới lúng túng khó khăn chứ tôi không có gì khó khăn chi cả.
Mặc lâm:-Thưa xin Linh Mục cho một câu hỏi cuối, như những điều Linh Mục vừa kể thì viễn cảnh nhà nước sẽ bắt Linh Mục vào lại trại giam sẽ không phải là không thể xảy ra, thưa ông có nhắn nhủ gì với đồng bào trong và ngoài nước trước khi không còn cơ hội để nói chuyện như ngày hôm nay thưa Linh Mục?

Tôi xin nhắn với mọi người rằng chế độ cộng sản Việt Nam chắc chắn phải lụi tàn. Nguyên tắc triết lý phải như thế. Bởi vì không có sự dối trá, sự đe dọa sợ hãi nào mà kéo dài mãi được, Người dân sẽ đến lúc ý thức được rằng sức mạnh bạo lực dựa trên dối trá, dựa trên thủ đoạn thì chỉ là sức mạnh ảo
LM. Nguyễn Văn Lý: Xin cám ơn anh với câu hỏi này. Tôi xin nhắn với mọi người rằng chế độ cộng sản Việt Nam chắc chắn phải lụi tàn. Nguyên tắc triết lý phải như thế. Bởi vì không có sự dối trá, sự đe dọa sợ hãi nào mà kéo dài mãi được, Người dân sẽ đến lúc ý thức được rằng sức mạnh bạo lực dựa trên dối trá, dựa trên thủ đoạn thì chỉ là sức mạnh ảo, sức mạnh mong manh.

Nhưng bây giờ đến khi nào nó lụi tàn thì do ý thức của người dân hiểu được rằng sức mạnh lẽ phải nằm ở nơi mình thì mình áp lực thì họ sẽ nhuợng bộ. Vậy cái quan trọng ở chỗ chế độ cộng sản này mạnh, nhưng thực sự nó yếu nó mong manh.Nếu người dân tin sức mạnh của lẽ phải của sự thật, của tình thương thì đương nhiên chế độ này sẽ lụi tàn sớm.

Lời nhắn gửi cuối cùng của tôi muốn nói với mọi người rằng bóng tối là một sức mạnh ảo, nó chỉ có mặt khi ánh sáng chưa tới. Cái quan trọng là người dân phải đứng về phía ánh sáng và lấy ánh sáng đó chiếu vào bóng tối thì bóng tối sẽ tan dần đi.
Bởi ánh sáng mới là thực tại thật. Ánh sáng của sự thật, ánh sáng của lẽ phải, sánh sáng của tình thương. Ánh sáng đó thuộc về 90 triệu người dân trong và ngoài nước. Còn bóng tối nó thuộc về người cộng sản và thuộc về những ai sợ hãi mà theo cái bóng tối đó. Xin cảm ơn.


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#688 Posted : Tuesday, February 8, 2011 6:41:01 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,154

Thanks: 6941 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
Sydney: Diễn hành văn hóa Mừng Xuân Tân Mão

Với chủ đề “Truyền thống phong phú hóa cuộc sống”, cuộc diễn hành văn hóa năm nay nhằm giới thiệu thêm vài nét đặc sắc của văn hoá Việt Nam với mọi tầng lớp, đặc biệt là với các thế hệ trẻ và với những người bạn Úc, góp phần vào nỗ lực bảo tồn và phát huy văn hóa Việt, mang lại niềm hãnh diện cho người Việt về những giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc. Cuộc diễn hành văn hóa năm nay gồm ba tiết mục chính:
Vinh Quy Bái Tổ

UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage

Một trong những hình ảnh đẹp nhất trong văn học Việt Nam. Người sĩ tử sau bao nhiêu năm tháng dồi mài kinh sử, đã thi đậu trong ba kỳ thi Hương, thi Hội và thi Đình, đạt học vị Tiến sĩ. Được Đức Vua ban bổng lộc và chức quyền, người sĩ tử ngày xưa, nay là Trạng Nguyên (Tiến sĩ Thủ Khoa) cùng đoàn tùy tùng trở về làng để bày tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với tổ tiên, cha mẹ, thầy dạy học cùng những người đã cưu mang giúp đỡ mình thuở trước, đồng thời mang lại sự vẻ vang cho làng xóm, nơi mình đã được sinh ra, giáo dục và trưởng thành. Trong cuộc diễn hành hôm nay, Trạng Nguyên ngồi trên ngựa có vợ hiền chung thủy ngồi võng theo sau, như vẫn được ghi nhận trong văn chương “Ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau”.
Đoàn Rước Dâu Trong Đám Cưới Cổ Truyền

Hôn nhân là một trong những phong tục quan trọng nhất của người Việt, gồm nhiều nghi lễ và giai đoạn khác nhau, thay đổi theo thời gian và từng địa phương. Cách chung, ít nhất phải có hai lễ là lễ đính hôn và lễ cưới. Trong cuộc diễn hành, chúng ta sẽ thấy đoàn rước cô dâu về nhà chồng sau lễ cưới, với ông bà chủ hôn dẫn đầu có hai em bé cầm lồng đèn mở đường, kế đến là cha mẹ của chú rể, sau đó là cô dâu chú rể có lọng che, phù dâu và phù rể, bạn hữu của cô dâu chú rể và bà con hai họ cùng các quả đựng quà cưới được “lại quả”. Của hồi môn của cô dâu cũng được gánh theo sau.
Trên Đường Đến Hội Nghị Diên Hồng
UserPostedImage
Đây là một trong những hình ảnh hào hùng nhất thể hiện lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết cao độ của người Việt để giữ gìn bờ cõi. Vào năm 1284, đáp lời kêu gọi của vua Trần Nhân Tôn muốn biết ý kiến của toàn dân là nước Việt nên quyết tâm chống lại hay là đồng ý để Bắc phương tiến binh ngang qua lãnh thổ nước mình trên đường xâm chiếm phương Nam, các bô lão từ khắp miền vượt đường xa lũ lượt về để họp Hội Nghị tại điện Diên Hồng hầu nói lên nguyện vọng của toàn dân là quyết tâm bảo vệ đất nước dù phải hy sinh. Căn cứ vào quyết tâm đó của hội nghị, vua Trần Nhân Tôn đã cùng các tướng lãnh chỉ huy cuộc chiến đấu bảo vệ bờ cõi. Sau nhiều gian nguy trước sức mạnh như vũ bảo của quân thù, cuối cùng người Việt Nam đã đẩy lui được quân xâm lược ra khỏi đất nước thân yêu.

Cuộc diễn hành văn hóa được khởi đầu với Đội Trống Diễn Hành cùng giới trẻ trong trang phục truyền thống đẹp mắt và hai bảng “Chúc Mừng Năm Mới – Year of The Cat” có hình con mèo “Tân Mão”.

Hướng Đạo Việt Nam, Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam NSW, Thiếu Nhi Thánh Thể, We Can-vas Inc, Hội Ái Hữu Cựu Nữ Sinh Trưng Vương, Gia Đình Phật Tử, Glamour World Beauty, Hội Cao Niên Đông Dương NSW, Hội Cao Niên Việt Nam tại Marrickville, Hội Cao Niên Việt Nam tại Canterbury và Hội Thân Hữu Cao Niên Việt Nam NSW cử nhân sự tham dự cuộc diễn hành văn hóa nầy.
UserPostedImage
Cuộc diễn hành do Ông Nguyễn Văn Thuất OAM thiết kế và điều hợp.

---
Cultural Parade – Year of The Cat

Under the theme “Traditions enrich our lives” this year’s cultural parade aims to introduce to all Australian friends in our culturally and linguistically diverse community especially young people some of the treasures of the Vietnamese culture in the hope that this activity would demonstrate the pride that Vietnamese people take in their tradition and cultural values and at the same time foster the effort of preserving and developing Vietnamese culture in Australia. The cultural parade of this year is comprised of three main items:

The Most Honourable Doctor’s Return Procession
After a very long time of hard studying, passing the three examinations at provincial and national levels, and acquiring the Top of the Doctorate Degree awarded by the King, the young gentleman who is now called "The Most Honourable Doctor" is returning home with his new title and his servicemen, accompanied by his lovely wife, to pay tribute to his teacher, his parents as well as his ancestors. On this journey, he rides a horse, followed by his wife on a hammock which is carried by 2 servicemen. The Most Honourable Doctor’s return has brought about great pride and reputation to all of his relatives and local people who are now standing along the roads in welcoming him back to their village.

Traditional Wedding Procession
Marriage has been very important for Vietnamese and comprises of different stages. Basically there are 2 main ceremonies. At this stage, the Groom’s family is on their return with the Bride after the wedding ceremony at the Bride's family. The procession is led by 2 children holding lanterns followed by a married couple who play the role of the chiefs of this marriage. Behind the chiefs of the marriage are the groom’s parents. Next, the Bride and the Groom with their bridesmaid and best man are followed by relatives and friends of both families. There are two people carrying 2 canopies to give the Bride and the Groom enough shade and make them feel comfortable during the journey. The boxes containing offerings from the Groom’s family is now being brought back to them (after the Bride’s family received most – but not all - of the offerings). That’s why the Groom’s family is bringing them back. At the end of the procession are two men carrying a chest containing jewellery and presents given to the Bride by her family.

Senior Citizens on their way to Dien Hong Conference
This conference is a symbolic image of the Vietnamese’s patriotism and unity in their national defence against foreign invasions. In 1284, Vietnam was facing an imminent invasion from the North, King Tran Nhan Ton issued an edict to convene a conference on national defence at Dien Hong Royal Castle and urged his people to attend the conference. The King wanted to consult with the people about whether they should give in to the invaders and accept foreign occupation of the country to avoid defeat and save people’s lives or stand up to the enemy, given the fact that the enemy was so much stronger militarily. In response to the King’s call, senior citizens from all over the country went to the capital city to attend the conference in which they unanimously decided to confront the invaders at any costs. After the conference, and based on the will of the people, King Tran Nhan Tong and his generals came up with a counter-attack plan which was later launched successfully in defeating the enemy.

The cultural parade is led by the drum band of the Vietnamese Scout Groups and the two banners “Happy New Year – Year of the Cat” followed by young people wearing beautiful traditional costumes.

Organisations participating in the parade today are: Vietnamese Scout Groups, We Can-vas Inc, Vietnamese Students Association NSW, The Eucharistic Movement, Buddhist Youth Association, Glamour World Beauty, Indo-Chinese Senior Citizens Association of NSW, Trưng Vương Girls High School Alumni, Vietnamese Senior Citizens Associations in Canterbury and in Marrickville, and Vietnamese Elderly Friendship Association.

The cultural parade is arranged and coordinated by Mr. Thuat Van Nguyen OAM. (lyhuong.net)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#689 Posted : Tuesday, February 8, 2011 6:55:03 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,154

Thanks: 6941 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
Hội chợ Tết 'Xuân Ước Mơ' tưng bừng khai mạc
Saturday, February 05, 2011

Còn kéo dài tới hết Chủ Nhật

Nguyên Huy/Người Việt

GARDEN GROVE (NV) - Trong nắng Xuân chan hòa, ấm cúng tại Little Saigon vào sáng hôm mùng Ba Tết Tân Mão, 5 tháng 1 năm 2011, Hội Xuân Sinh Viên năm nay với chủ đề “Xuân Ước Mơ” đã tưng bừng khai mạc tại khu công viên Garden Grove Park thuộc thành phố Garden Grove.

UserPostedImage
Chào cờ khai mạc Hội Xuân Sinh Viên Tân mão 2011.

Cả chục ngàn đồng hương đã từ mọi ngả đổ về hội chợ Tết Sinh Viên khiến các con đường quanh khu hội chợ kẹt cứng trong nhiều tiếng đồng hồ trước giờ khai mạc.

Cho đến 12:45 phút sáng, lễ khai mạc mới được cử hành. Ðoàn sinh viên gồm các cựu chủ tịch tổng hội và trưởng ban tổ chức Hội Xuân các năm qua đã cùng nhau rước lá Ðại Kỳ VNCH với đoàn rước Quốc Quân Kỳ do liên quân trong Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Nam Cali phụ trách tiến lên lễ đài.

Lá đại kỳ dùng trong buổi lễ này là quốc kỳ của VNCH treo tại Tòa Ðại Sứ VNCH tại Paris, Pháp, theo lời ban tổ chức loan báo. Biến cố 30 tháng 4, 1975 xảy ra ở trong nước, Tòa Ðại Sứ phải đóng cửa. Tổng Hội Sinh Viên VN tại Paris lúc ấy đã tháo gỡ lá cờ xuống gìn giữ và đã trao lại cho Tổng Hội Sinh Viên VN ở Nam California vào năm 1984. Từ đó mỗi năm tổ chức Hội Xuân, các Ban Chấp Hành của tổng hội luôn luôn khai mạc Hội Xuân bằng lễ rước Ðại Kỳ trong nghi thức chào cờ Việt Mỹ để như gìn giữ hồn thiêng sông núi

UserPostedImage
Ðoàn Rước Tổ Tiên sau khi hành lễ.

Trưởng ban tổ chức Hội Xuân Sinh Viên năm nay là Chủ Tịch Tổng Hội Lý Vĩnh Phong. Trong diễn văn khai mạc, Lý Vĩnh Phong đã giải thích ý nghĩa của chủ đề Hội Xuân Sinh Viên năm nay, đó là “Xuân Ước Mơ. Ước mơ cho một cộng đồng VN ở hải ngoại vững mạnh, đoàn kết. Ước mơ cho tuổi trẻ VN tăng tiến hơn để rạng danh dân tộc VN.”

Lý Vĩnh Phong cũng nhắc đến 30 năm qua, Tổng Hội Sinh Viên VN Nam California đã liên tục tổ chức những Hội Xuân, đánh dấu một chặng đường mà Tổng Hội Sinh Viên VN Nam California đã không chỉ phục vụ cho tập thể của mình mà còn cho cả cộng đồng. Hội Xuân năm nay cũng là đánh dấu 10 năm cùng thành phố Garden Grove tổ chức Hội Xuân, gìn giữ được truyền thống tốt đẹp của dân tộc đồng thời cũng phục vụ được đồng hương trong những ngày Xuân mới.

Lý Vĩnh Phong cũng cho biết Hội Xuân năm nay ngay cửa vào, ban tổ chức đã dựng Tượng Quang Trung Nguyễn Huệ, một trong những anh hùng của dân tộc đã đánh đuổi ngoại xâm phương Bắc rất oanh liệt, là để nhắc nhở mọi người chúng ta hiểm họa Bắc phương xâm lược đang đè nặng lên đất nước.

Nhắc đến sự thành công của hầu hết các Hội Xuân do Tổng Hội Sinh Viên VN tổ chức từ bấy lâu nay, Lý Vĩnh Phong cho rằng: “Sự thành công không phải là sự có mặt của đông đảo chức quyền quan khách đến tham dự, cũng không phải từ số tiền lời hội chợ lên đến hàng trăm ngàn mỗi năm, mà sự thành công ấy là tuổi trẻ VN ở hải ngoại đã duy trì và phát huy được truyền thống văn hóa VN.”

Kết thúc bài diễn văn, Lý Vĩnh Phong đã thay mặt anh chị em sinh viên trong Tổng Hội hứa “quyết tâm đi tiếp con đường phục vụ cộng đồng” đồng thời Lý Vĩnh Phong cũng kêu gọi: “Trong những ngày vui này, chúng ta không nên quên công cuộc tranh đấu tự do, dân chủ cho đất nước của những nhà đấu tranh trong nước. Chúng ta hãy làm một cái gì đó góp vào công cuộc tranh đấu ở trong nước đế VN được tươi sáng hơn.”

Tiếp đó, Ban Tổ Chức mời các bô lão niên trưởng trong cộng đồng người Việt ở Nam California lên cùng làm lễ cúng Tổ với những nghi thức tế lễ do CLB Hùng Sử Việt và Hội Ðền Hùng phụ trách.

UserPostedImage
Gái xuân xưa đi trẩy Hội Xuân.

Cùng trong lúc này đoàn rước Quốc Tổ Hùng Vương gồm hàng trăm nam nữ sinh viên học sinh trong những lễ phục cổ truyền theo sau kiệu đặt Linh Vị Tổ tiến vào lễ đài. Ðoàn rước thật vui mắt với những trai tráng và các thôn nữ trong “Làng Việt Nam” súng sính khăn đóng áo the thâm và các bộ áo tứ thân, khăn lưng điều bỏ giọt thể hiện sinh động sức sống mãnh liệt dân tộc VN qua các thời đại. Vẫn theo các MC thì đoàn rước đã được Tổng Hội phối hợp cùng Ðoàn Thanh Niên Phan Bội Châu tổ chức. Ðoàn rước này không chỉ tham dự vào lễ khai mạc mà còn hiện diện trong suốt ba ngày Hội Xuân tại “Làng Việt Nam” trong hội chợ với rất nhiều tiết mục văn hóa cổ truyền như dựng nêu, tế thần, bói quẻ đầu năm, ngày xuân hái lộc v.v...

Nhìn vào Hội Xuân hàng năm do tuổi trẻ Nam California tổ chức, mỗi năm ý nghĩa “tuổi trẻ tiếp bước cha anh” càng ngày càng rõ nét. Ðó là điều khó thể chối cãi. Cái đẹp trong Hội Xuân năm nay là đằng sau tuổi trẻ trách nhiệm tổ chức là cả khối cộng đồng người Việt, được cụ thể hóa qua sự hiện diện của Liên Quân QLVNCH dàn hàng trong lễ chào cờ và của hàng trăm ngàn đồng hương đến du Xuân trong suốt ba ngày hội.
hongvulannhi  
#690 Posted : Tuesday, February 8, 2011 9:54:56 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,355

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
Người đốt đuốc cho Tunisia

Tuesday / February 8, 2011 2:48 PM
Nam Nguyên

UserPostedImage

Muhamad Bouazizi, ngọn đuốc sống làm sụp đổ chế độ độc tài Ben Ali
(photo The World)

Đúng ra là người ấy đã tự biến mình thành bó đuốc để soi sáng lương tri cho những kẻ độc tài và đánh thức sức mạnh tiềm ẩn trong những con người bị áp bức đè nén. Tên anh là Muhamad Bouazizi, sống ở tỉnh Sidi Bouzid thuộc miền trung Tunisia. Cha mất sớm khi Bouazizi chỉ mới 3 tuổi, ông qua đời vì bị bệnh tim khi phải bán sức lao động để kiếm những đồng tiền còm cỏi tại nước láng giềng Lybia. Khi mới lên 10 Bouazizi đã phải phụ mẹ đi bán hàng rong vào ban đêm để ban ngày có thể đến trường, nhưng cũng phải bỏ học khi Bouazizi 17 tuổi để phụ gia đình nuôi các em ăn học. Ước mơ của Bouazizi cũng rất đơn giản là sẽ tậu được một chiếc pickup truck để việc bán rong được thuận lợi hơn, là thay vì phải dùng xe đẩy tay. Nhưng đó cũng chỉ là ước mơ không bao giờ thành hiện thực. Vì Bouazizi đã ra đi vĩnh viễn ra đi vào ngày mồng 4 tháng 1 vừa qua khi mới 26 tuổi, 18 ngày kể từ khi anh tự đổ xăng vào mình đến trước trụ sở chinh quyền địa phương và châm lửa biến thành một thứ ánh sáng khiến kẻ độc tài phải lo sợ phải bỏ nước mà chạy.

Bouazizi có cả thảy 6 anh em, anh là anh cả. Cuộc sống đối với anh là một cuộc vật lộn từ tuổi thơ. Lang thang đẩy xe bán hàng rong trên đường phố luôn bị cảnh sát quấy nhiễu lấy lý do là bán hàng rong không có giấy phép, mà theo sự xác nhận sau này của một viên chức chính quyền Sidi Bouzid là không cần một loại giấy phép như thế. Nhưng đó chỉ là cái cớ để họ xách nhiễu và làm tiền những người như anh. Họ đã nhiều phen tịch thu hàng hóa của anh, trong khi đó là nguồn sinh lợi duy nhất của gia đình Bouazizi.

"Con giun xéo lắm cũng oằn", đó là vào buổi sáng định mệnh 17 tháng 12 năm 2010. Bouazizi lại bị xách nhiễu. Lần này là từ một nữ cảnh sát tên Hamid, bà này cùng với hai người phụ tá không những họ hất đổ và tịch thu hàng của Bouazizi mà còn sỉ nhục tát anh giữa đám đông, nhưng việc bà ta xúc phạm tới người cha quá cố của anh là điều đã vượt mức chịu đựng của Bouazizi, niềm kiêu hãnh cuối cùng của người thanh niên cũng bị tước đi. Quá uất ức anh chạy đến văn phòng chính phủ địa phương yêu cầu được gặp họ, nhưng chẳng ai chịu tiếp anh. Họ làm ngơ trên nỗi đau của anh. Anh cũng đã cảnh cáo họ là "Nếu các người không muốn gặp tôi tôi sẽ tự đốt mình". Thế là anh tự đổ xăng lên người và châm lửa.

Trong suốt 18 ngày vật lộn với những vết thương bỏng nặng để duy trì sự sống, tin tức ấy lan nhanh trong nhóm người trẻ tuổi Tunisia, những người trẻ có trí thức, có bằng cấp nhưng lại không có công ăn việc làm, mà suốt ngày chỉ biết còn túm tụm tại các quán cà phê để nghe ngóng tin tức và việc làm. Họ chia sẻ với nỗi đau của Bouazizi, và trút nỗi giận của họ lên chính quyền của Ben Ali, vị tổng thống đã cầm quyền hơn 23 năm tại Tunisia. Trong khi dân chúng cả nước chịu đựng nạn thất nghiệp trên 30%, thì gia đình ông này lại là biểu tượng của sự giàu sang, mà cho tới lúc đào tẩu, vợ ông này cũng nhanh tay cuỗm đi một tấn rưỡi vàng từ ngân hàng trung ương của quốc gia. Điều này làm người ta nhớ đến cặp vợ chồng đệ nhất tham nhũng độc tài của Philippines trước đây là Ferdinand Marcos và vợ là Imelda.

Có thể nói cái chết của Bouazizi chỉ là giọt nước cuối cùng của sự chịu đựng của người dân với một chính thể độc tài. Những kẻ ngồi xổm trên quyền lực quá lâu như Ben Ali thường hay vô cảm với cảm giác của người dân. Họ chỉ bừng tỉnh một khi quyền lực của họ bị thách thức triệt để, nhưng thường đã quá muộn màng. Trong những ngày cuối cùng tại bện viện của Bouazizi. Ben Ali muốn xoa dịu dân chúng bằng cách đến thăm và an ủi gia đình anh, nhưng mọi thứ đã trể tràng. Bouazizi không còn là nỗi đau của một gia đình, mà là nỗi đau của một xã hội, mà Ben Ali không ai khác hơn chính là người phải chịu trách nhiệm cho việc đó. Người dân Tunisia thề bắt kẻ phải chịu trách nhiệm cho cái chết của Bouazizi, cái chết của niềm hy vọng của một xã hội. Họ thề sẽ trả thù cho anh. Chính vì thế gia đình Ben Ali vội chạy thoát sang Arab Xêút, một xứ độc tài khác và là một quốc gia biểu tượng của thế giới Hồi Giáo để được che chở. Cũng như nhận định của Adam Boutza trong bài Việt Nam sẽ là một Tunisia, đây không phải là vấn đề Hồi Giáo hay không Hồi Giáo, mà đây là vấn đề công bằng xã hội và tự do cá nhân đã bị chà đạp.

UserPostedImage

Cuộc nổi dậy của người Tunisia đã tạo ra một phản ứng giây chuyền trong các nước lân bang như Ai Cập và Yemen, người dân ở những nơi này cũng đã quá bất mãn với những ông lãnh đạo già nua độc tài nhưng vẫn cố bám víu lấy quyền lực và hầu như không bao giờ chịu thừa nhận sự thất bại của mình trong việc lãnh đạo đất nước. Họ cần phải bị thay thế bằng cách này hay cách khác trước khi xã hội mới có thể tiến lên được. Hiệu ứng dây chuyền này có lẽ đặt Hoa Kỳ và chính phủ của Thổng Thống Obama vào một phép thử của một mặt ủng hộ cho lý tưởng tự do nhân quyền như là một cam kết của chính phủ Hoa Kỳ với thế giới, hay là cứu lấy chính phủ của các ông tổng thống độc tài già nua nhưng lại là đồng minh hiếm hoi và khá trung thành trong thế giới Hồi Giáo. Cho tới nay người ta chỉ nghe được những tuyên bố hàng hai từ Washington như kiểu: "Ai Cập nên cho phép sự thay đổi xảy ra". Nhưng chắc chắc Hoa Kỳ phải làm một cái gì đó để có thể tiếp tục duy trì ảnh hưởng tại khu vực này.

Có lẽ Bouazizi cũng đã được an ủi phần nào, và còn may mắn hơn một số người dân Việt nam. Vì dân Tunisia đã không để anh chịu uất ức, lẻ loi khi chết. Họ đã được truyền sức mạnh từ hành động của anh và đã có hành động để thay đổi xã hội.

Còn những người buôn thúng bán bưng tại Việt Nam như Bouazizi thì phải kể là, nhiều hơn về số lượng, và lâu hơn về thời gian, 36 năm chứ không phải là 23 năm như Tunisia. Họ tuy đông đảo, nhưng như không tồn tại. Chẳng mấy ai lắng nghe hay ủng hộ họ, chứ đừng nói tranh đấu cho họ. Họ thường xuyên chịu sự xách nhiễu của chính quyền từ công an khu vực đến quản lý thị trường. Đến ngay cả những con chó của các gia đình đại gia giàu có vô tâm. Có ai nghe họ và đáp lời cho nỗi đau của họ? Người viết bài này thật sự nghi ngờ rằng nếu có một người buôn thúng bán bưng tại Việt Nam có hành động như Bouazizi rồi cũng sẽ bị lãng quên như một kẻ không may trong cái nhìn bàng quan của mọi người nơi đây.

Có người nhận định rằng rằng người Việt Nam quá sợ hãi chính quyền nên trở nên hèn nhược, và điều đó đã trở thành một thói quen - thói câu an cá nhân. Điều này cũng đúng một phần, nhưng có lẽ chưa hoàn toàn chính xác. Với một dân tộc luôn đấu tranh cho sự sinh tồn suốt chiều dài lích sử như Việt Nam, nỗi sợ hãi không dễ gì thống trị được họ. Theo nhận định của của người viết bài này thì chính cái đặc tính suy nghĩ thiếu sâu sắc nên dẽ dàng dẫn đến sự chấp nhận hoàn cảnh, mới là nguyên nhân chứ không phải là nỗi sợ hãi. Cũng bởi sự kém sâu sắc này, nên đôi khi dễ dàng chấp nhận hoàn cảnh một cách thụ động, kể cả khi hoàn cảnh ấy hết sức nghịch lý. Sự chấp nhận và chịu đựng chính thể Cộng sản độc tài hiện nay cũng nằm trong sự nông cạn và thiếu quyết đoán đó. Những cái mà chính thể này mang lại so với cái mất mát về lâu về dài là không tương xứng. Mất mát một phần lãnh thổ là cái dễ nhận ra và thấy được. Còn mất mát những giá trị tinh thần và đạo đức là những cái mất khó nhận ra, nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp tới sự lành mạnh của một dân tộc mà để từ đó mọi thứ đổ đốn xảy ra trong khắp xã hội. Tuổi trẻ mất đi lý tưởng, sống một cách ích kỷ, trí thức lại thiếu lòng thiếu chí, nếu không muốn nặng lời là khá ươn hèn. Hai chữ "Trí thức" với đa số giờ đây chỉ còn dùng để kiếm cơm, để "lên" đời, để có một cuộc sống vật chất thoải mái hơn mà không cần suy nghĩ về những điều còn quan trọng hơn. Số khác lại bị đóng khung với thú tiêu khiển chữ nghĩa hay độc thoại không hơn không kém. Trong khi ấy, nỗi sợ thì cuối cùng cũng sẽ vượt qua kể cả nỗi sợ về cái chết, mà người Việt khá bình thản với nó. Nhưng chính những sự bằng lòng một cách nông cạn, thiếu suy nghĩ sâu sắc, thiếu dứt khoát trong lập trường, là những cái sẽ còn đeo bám và tạo ra nhiều hệ lụy cho người Việt sau này, kể cả thời hậu CS. Điều này chưa hẳn là dân trí thấp, mà là thói quen, một thói quen rất đáng bị lên án. Đây mới là cái mà theo tác giả bài viết này là cái đáng sợ nhất cho người Việt Nam. Họ đã quá dễ dàng chấp nhận mà đôi khi là chấp nhận những cái chẳng ra gì, như cái chế độ hiện tại chẳng hạn.
Ai sẽ có khả năng đốt đuốc cho Việt Nam?
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#691 Posted : Tuesday, February 8, 2011 2:27:16 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,355

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
Mùa xuân mới, hi vọng mới

UserPostedImage
Tác giả: Huỳnh Thục Vy

Năm Canh Dần đã qua đi cùng với những ngày cuối năm thật ảm đạm và lạnh giá. Mồng Một Tết năm Tân Mão, trời sáng trong và nắng ấm, gió nồm hây hẩy thổi. Trước cái ngoại cảnh tươi đẹp và căng tràn sức xuân ấy lòng người cũng phấn chấn và hân hoan. Tôi ngồi đây, trong căn phòng nhỏ và bừa bộn của mình, nhìn ra khung trời xanh trong và lộng gió ngoài kia, cảm nhận sâu sắc sự đổi thay của đất trời và một lần trẻ lại của nhân tâm trong những ngày đầu xuân. Thật vui thay- vui cho một lần thay áo mới của vũ trụ và vui cho những niềm hi vọng đang ấp ủ trong lòng người.

Năm nay, người dân quê tôi ăn Tết vui hơn và to hơn mọi năm. Những ngày này nhìn đâu cũng thấy hoa lá xanh tươi, người người mặt mày rạng rỡ du xuân và thăm hỏi nhau theo cái cung cách truyền thống của dân tộc. Và trong những câu chuyện “trà dư tửu hậu” ấy, tôi được nghe mọi người bàn tán về lá thư chúc tết của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết năm nay có vẻ buồn. Các chú bác (bạn bè của ba tôi) đều đồng ý với nhau rằng: chắc ông Nguyễn Minh Triết không còn ở trong Bộ Chính trị nữa (cơ quan quyền lực tối cao của Đảng Cộng sản Việt nam, và do đó cũng là trung tâm quyền lực của cả Việt Nam), và sẽ không còn là Chủ tịch nước trong vài tháng tới nên ông đọc lá thư chúc Tết với giọng văn buồn buồn như thế.

Nghe mọi người trò chuyện, tôi thầm nghĩ : vậy thì ông Triết này tệ quá. Ông này là chủ tịch nước, tức là Nguyên thủ quốc gia theo Hiến định, ở đỉnh cao quyền lực trong một thời gian khá lâu. Và theo quy định của Đảng cộng sản Việt Nam những ai quá 65 tuổi thì phải ra đi, để phù hợp với chủ trương “trẻ hóa” nội bộ lãnh đạo Đảng. Điều này đối với ông Nguyễn Minh Triết đầu phải ngoại lệ. Hơn nữa, ông là người lãnh đạo quốc gia (dù có đúng nghĩa hay không ), thì ít nhất cũng phải biết vui cho cái vui của người dân, lo cho cái lo chung của dân tộc. Gần chín mười triệu người dân Việt Nam đang đón một mùa xuân mới .

Theo truyền thống và luân lý cổ truyền, trong những ngày này dù cho ai đó có hoàn cảnh buồn riêng tư đi nữa thì cũng phải tạm quên đi để cũng chia sẻ niềm vui với mọi người. Đó chính là phong thái đáng có của một nhà lãnh đạo, ít nhất là trong những ngày Tết. Thêm vào đó, dù ông này có rời khỏi chiếc ghế Chủ tịch nước thì con cháu ông, những thân hữu của ông vẫn tiếp tục hưởng vinh hoa phú quý chứ có mất mát gì đâu?! Vậy thì sao ông phải đọc lá thư chúc Tết ngắn hơn lệ thường với cái giọng buồn buồn ấy? Thiển nghĩ chắc phải có một nguyên nhân tiềm ẩn đằng sau, nghiêm trọng hơn nhiều.

Từ những ngày đầu năm 2011, bạo động đã làm chấn động quốc gia Bắc Phi –Tunisia với những cuộc xuống đường chống chính phủ độc tài Zine El Abidine Ben Ali của hàng ngàn người dân nước này do tình trạng thất nghiệp và giá lương thực tăng cao, mở đầu cho làn sóng chống chính phủ độc tài của nhiều quốc gia thuộc thế giới Ả Rập khác, là biểu hiện cho sự bất bình của người dâng lên lên đến mức cao nhất đối với sự cai trị độc tài về chính trị và quản lý yếu kém về kinh tế của các chính quyền sở tại. Những cuộc phản kháng bắt đầu và thành công ở Tunisia đã buộc nhà độc tài Ben Ali và gia đình phải đi lưu vong .

Rồi cuộc cách mạng hoa lài này đã khởi nguồn cho một làn sóng đòi tự do dân chủ lan sang cả Ai Cập, Syria, Jordan, Yemen với “hiêu ứng domino”, đã làm cho cả một chính quyền độc tài cộng sản tàn bạo và lớn mạnh nhất thế giới như Trung cộng cũng phải lo sợ và tìm cách đối phó, huống gì những người cộng sản Việt Nam. Cổ nhân nói “đồng bệnh tương lân”, ông Triết lo buồn cũng đúng thôi. Cái căn bệnh căm ghét tự do dân chủ, sợ phản kháng là căn bệnh chung của mọi nhà độc tài khắp thế giới. Chắc không chỉ riêng ông Triết lo cho tương lai của con cháu mình mà những người cộng sản cũng hoang mang không kém cho cái tương lai không xác định của chế độ.

“Quan nhất thời, dân vạn đại”, những người lãnh đạo có thể thay nhau nắm quyền, rồi lần lượt rời khỏi ghế quyền lực, rồi cả một chế độ cũ có thể bị thay thế bằng một chế độ mới; nhưng dân chúng mới là những người nuôi sống chính quyền, những người sẽ phải chịu tai họa vì những dốt nát của nhà cầm quyền, và vì thế là những người chủ thực sự của quốc gia từ thời đại này đến thời đại khác. Ngàn đời sự thật này không thay đổi. Ông Nguyễn Minh Triết và những người cộng sản ngày hôm nay có lý do chính đáng để buồn vì tình hình quốc tế bất lợi cho họ, thì chúng ta-những “phó thường dân”, nhưng chính là những người sẽ chịu trách nhiệm cho tương lai dân tộc – có lý do để hi vọng. Đối với chúng ta, Tunisia như cánh én trong mùa xuân mới-một mùa xuân của nhiệt huyết đấu tranh cho khát vọng được thọ hưởng một cuộc sống tốt đẹp hơn, nhân bản hơn, tự do hơn.

Mùa xuân là mùa của tình yêu thương và tuổi trẻ, của nhiêt huyết và hi vọng. Tôi thương dân tộc tôi-dân tộc anh hùng có bốn ngàn năm Văn hiến đã và đang phải gò lưng nuôi cả một chế độ độc tài bất công, không những thế lại bị tước hết các quyền tự do được sống như những con người chân chính và có ý chí.

Trong tình yêu thương ấy, với nhiệt huyết trào dâng trong lòng một cô gái trẻ, tôi đang mơ một ngày cả nước Việt Nam từ Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn, tất cả chúng ta- những người Việt Nam không phân biệt già trẻ, nam nữ, Phật giáo đồ hay con Chúa…cùng xuống đường trong những khẩu hiệu chống độc tài, tham những, đòi quyền tự do dân chủ. Và rồi sẽ cùng nhau kiến tạo một Việt Nam với diện mạo mới.

Tam Kỳ, ngày 9 tháng 2 năm 2011
© Huỳnh Thục Vy
© Đàn Chim Việt
1 Phản hồi cho “Mùa xuân mới, hi vọng mới”

1. Huỳnh SG says:

08/02/2011 at 09:39

Chào Vy,

Đọc những ước mơ, hoài bão của em, chúng tôi thật sự xúc động. Em như bông hoa đỏ thắm nở ra trong mùa xuân này, hương của loài hoa ấy đang và sẽ lan tỏa trong không gian rộng của một nước Việt Nam thân yêu. Sống mà không có những ước mơ thì cuộc sống sẽ vô nghĩa biết bao. Em yên tâm nhé, có hàng ngàn bạn trẻ như em, tổi hơn em cũng đang đồng hành với ước mơ của em đấy. Rồi có một ngày không xa, điều đó sẽ thành hiện thực thôi em ạ. Tất cả đang chờ đợi ngày ấy rất gần, rất gần thôi! Mọi người đang chờ hiệu lệnh
Huỳnh, SG
***

*Mong ước mơ và hoài bão của Huỳnh Thục Vy sẽ thành sự thực một ngày không xa, muốn vậy , ước mơ và hoài bão phải được kết họp bằng hành động để tạo cơn sóng thần Tunisami cho một VN theo như câu kết Huỳnh Thục Vy là cùng nhau kiến tạo một Việt Nam với diện mạo mới.
TỉnhThức
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#692 Posted : Tuesday, February 8, 2011 5:42:55 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,154

Thanks: 6941 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
Cuộc Cách Mạng Cờ Vàng

UserPostedImage
Người Việt hải ngọai đón Xuân, trong một khí hậu thật giá lạnh, tuyết, nước đá bao phủ nhiều thành phố, mặc dù vậy các hội chợ Tết vẫn tiếp tục tổ chức lien tiếp hàng tuần. Đặc biệt Tết năm nay, tại N. Texas, lại nhằm vào mùa Super Bowl, nên trong khi người Việt rộn rang đón mừng năm mới, thì người dân bản xứ lại lo sửa sọan đón chào trận đấu lịch sử của football tại vận động trường lộng lẫy Dallas Cowboys, tại thành phố Arlington
Những người ái mộ khắp nơi đã tụ tập về đây rất đông làm cho các thành phố Dallas, Fort Worth, Arlington và các vùng phụ cận trở nên ấm cúng hơn . Tại downtown Fort Worth, hàng chục ngàn người đã đến tụ tập thưởng thức các shows về thể thao trên TV và radio của ESPN. Những người ái mộ cả hai đội banh Pittsburgh Stellers và Green Bay Packers với gương mặt vui tươi sung sướng, họ hò hét, vẫy tay, vẫy nón, quăng cả áo mũ lên sân khấu để mong được người ta chụp hình
Trong khi đó tại Ai Cập, hàng trăm ngàn người, cũng ra đường để hò hét, để vầy tay nhưng không phải là tiếng reo hò, vẫy tay hạnh phúc . Người dân Ai Cập không hài lòng với cuộc sống nghèo đói, bất công dưới sự cai trị độc tài của chính phủ nên họ mới tràn ra đường để biểu tình phản đối .Nhà cầm quyền nước này đã tìm đủ mọi cách để ngăn cản việc đưa tin qua internet hoặc điện thọai cầm tay, nhung phần đông người dân trong số 20 triệu người đã liên lạc báo tin cho nhau qua hệ thống thông tin điện tử bằng nhiều cách . Các phóng viên quốc tế cũng bị phong tỏa, cướp dụng cụ máy móc không cho hành nghề. Biến động này đà làm cho các quốc gia phải di tản những công dân của mình ra khỏi Ai Cập, trong một tình trạng ứ đọng chưa từng có tại phi trường Cairo.
Tổng Thống Obama cũng đã tỏ ý mong muốn chính phủ Ai Cập thay đổi chính phủ để đáp ứng với nguyện vọng của người dân. Phát ngôn viên của tòa Bạch Ốc, ông Robert Gibbs từ chối câu hỏi là TT Obama có kêu gọi TT Mubarak từ chức hay không . Ông nói chỉ có dân chúng Ai Cập mới có quyền quyết định tương lai chinh trị của đất nước họ mà thôi. Một điều đáng ghi nhận là xe tăng quân đội đã hiện diện tại công trường Tahrir, nhưng họ đã không đàn áp hay tấn công người biểu tình, mà lại còn lại còn có vẻ thân thiện với người biểu tình nữa, mặc dù TT Mubarak từng là chỉ huy lực lượng không quân trước khi trở thành tổng thống nên ông ta hy vọng dựa vào quân đội để duy trì quyền lực . Đô đốc Mike Mullen, chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân Hoa Kỳ đã ca ngợi thiện chí của quân đội Ai Cập
Trước làn song đấu tranh này, Trung Cộng đang lo ngại sự ảnh hưởng dây chuyền chống chính phủ, nên họ cũng đã chận việc vào internet các trang web nhu Twitter, Facebook, và chỉ cho dân dùng tin tức từ Tân Hoa Xã mà thôi, cho thấy họ rất lo sợ internet trở thành công cụ hữu hiệu nhất cho những người chống đối; nhưng hàng triệu người dân Trung Quốc đã sử dụng những blogs để liên lạc với nhau. Từ lâu Trung Cộng vẫn lo ngại các phong trào ly khai ở các vùng Tân Cương, Tây Tạng cùng với sự phẩn nộ của dân chúng về tình hình tham nhũng, hối lộ, chiếm đất đai của họ sẽ châm ngòi biểu tình lớn như ở Tunisia và Ai Cập
Sự việc nổi dậy của dân Ai Cập và các nước Hồi Giáo chung quanh, tiếp theo cuộc cách mạng Hoa Nhài tại Tunisia thành công, buộc TT độc tài Ben Ali phải ra đi trước nguyện vọng người dân, làm cho người Việt tị nạn cũng hy vọng sẽ có một cuộc nổi dậy tương tự tại quê nhà; mặc dù nhìn thực trạng tại Việt Nam bây giờ có nhiều người nhận xét, có thể khó xảy ra; lý do dễ hiểu, đảng Cộng Sản cai trị dân bằng chính sách độc tài và ngu dân, họ bưng bít tất cả mọi tin tức bất lơi cho đảng, còn người dân thấp cổ bé miệng, nghèo đói vì thiên tai, lũ lụt, tất bật lo cho cái bao tử hàng ngày , và có ai lên tiếng chống đối là họ có công an đàn áp, bỏ tù , lớn hơn thì đã có quân đội sẵn sàng nhả đạn vào dân .Một tạp chí nổi danh là Foreign Policy đã cho biết “ Việt Nam là đồng minh đáng xấu hổ nhật của Hoa Kỳ”. Human Right Wach cũng đã lên tiếng cảnh cáo những vụ đàn áp dân chúng càng ngày càng gia tăng, và cũng như Trung Cộng, Việt Nam dựng tường lửa internet, ngăn chận các trang web và yêu cầu các công ty cung cấp dịch vụ phải cài đặt những bộ phận theo dõi người dùng. Qua kỳ đại hội thứ 11 của đảng CS Việt Nam, những tên đầu sỏ cũng giống như TT của Tunisia, Yemen, hay Ai Cập, cũng ngần ấy người, chỉ thay đổi vị trí cho nhau để cai trị đất nước đã qua bao nhiêu thập niên. Những gương mặt già nua, độc tài chuyên chế làm đất nước nghèo đói phải được lật đổ. Và nếu so sánh sự độc tài, chuyên chế, đàn áp thì Việt Nam còn tệ hơn các nước Hồi Giáo nhiều vì vậy, sự nổi dậy, sớm hay muộn chỉ là vấn đề thời gian
Trước thềm năm mới Tân Mão, đón xuân nhưng lòng ngậm ngùi nhìn về cố quốc, và mặc dù sau hơn 35 dưới sự cai trị độc tài của CS, Việt Nam chưa có cuộc nổi dậy nào đáng kể nhưng với một chiều dài lịch sử bất khuất, đánh Tàu, đuổi Tây của người dân Việt , và cũng như lời tuyên bố của ông Gibbs về Ai Cập, chỉ có người dân Việt Nam mới quyết định được số phận của nước mình, chắc chắn sẽ có một ngày “tức nước vỡ bờ”, và dưới sự phù trì của hồn thiêng Sông Núi, toàn dân cùng đứng lên lật đổ chế độ Cộng Sản, để có một ngày chứng kiến sự ra đi của những kẻ cai trị độc tài, như cuộc cách mạng Hoa Nhài, dân Việt sẽ có những cuộc tụ tập ngòai đường không phải là biểu tình nữa mà sẽ biến thành những ngày hội lớn như những ngày vui mà người dân ở các xứ Tự Do đang được hưởng, và chúng ta có thể hãnh diện với cuộc cách mạng Lá Cờ Vàng và đòi lại tên Sài Gòn thân thương trong một cái Tết thật gần. Thu Nga_Dallas
Mắt Buồn  
#693 Posted : Wednesday, February 9, 2011 12:58:10 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,515

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
DUYÊN "TAM HẠP"

Cứ mỗi lần sắp sang năm mới là bà Tâm lo tìm lịch, coi tử vi rồi thông báo cho các con cháu, dâu rễ nhất là đứa nào rơi đúng vào năm tuổi với những lời căn dặn rất kỹ càng. Bây giờ, đang vào tháng Giêng dương lịch, chỉ còn một tháng nữa là bước sang năm Tân Mão, bà Tâm đã gọi phôn dặn dò Duyên từ mấy tuần trước: “Năm nay là năm tuổi của thằng Xuân đó nghen, người ta nói “nam La Hầu, nữ Kế Đô”, đàn ông năm tuổi mà “gặp” sao La Hầu là nặng lắm nhưng năm nay nó “gặp” sao Kế Đô tuy có nhẹ hơn một chút nhưng cũng là sao hạn, nói nó coi chừng sức khoẻ với lại cẩn thận chuyện xe cộ. Tụi bây bên đạo không tin nhưng năm tuổi đứa nào má cũng cúng sao hạn, để giải bớt tai ương, binh hoạn, đỡ lắm con à.”. Anh Xuân, ông xã Duyên là người Bắc, Công giáo, ít chịu tin về bói toán tử vi, lúc trước ở chung với gia đình vợ ba bốn năm, ông bà người Nam, theo đạo Phật, nghe bà nói về những việc cúng bái, kiêng cữ riết anh chỉ biết… cười trừ. Bây giờ, ông bà đã ra ở nhà riêng với lý do là có bảy đứa con mà ở với đứa này thì đứa khác phân bì, cho nên ngoài ba đứa em của Duyên ở Utah, mỗi năm gặp một lần vào dịp Giáng Sinh hoặc Hè, còn lại bốn chị em Duyên ở vòng quanh Los Angeles, cứ thay nhau đến thăm, chở ông bà đi chùa hoặc xuống phố Bolsa đi chợ, thăm bạn bè.

Duyên theo đúng sách vở “xuất giá tùng phu” nên đã là con chiên của Chúa từ sau ngày lên xe hoa, nhưng cũng vẫn nhớ… nằm lòng những câu nói đã trở thành “phong dao tục ngữ” hay “sấm truyền” từ thuở còn ở nhà với mẹ như: - “Dần Thân Tỵ Hợi, Thìn Tuất Sửu Mùi, Tý Ngọ Mẹo Dậu là Tứ Hành Xung”. Bốn tuổi trong mỗi nhóm này xung khắc với nhau lắm, làm ăn hay sống chung với nhau thì… khó thọ, khó phát tài, phát lợi, các con ráng tránh nghen.” Trong khi đó, Duyên thấy gia đình của mình đã có sờ sờ “Tam Hành Xung” trước mắt là bà Tâm tuổi Hợi, hai đứa em của Duyên rơi ngay vào tuổi Thân và tuổi Dần. Vậy mà bao nhiêu năm qua, Duyên chưa thấy có “cái xung” nào trầm trọng xảy ra cả.

Năm Duyên 15 tuổi, nhà từ con hẻm nhỏ ở đường Phan Đình Phùng được dời ra căn phố lớn hai tầng ở đường Phan Chu Trinh, ngay khu trung tâm chợ Biên Hòa, con đường từ đầu dốc dẫn xuống bờ sông Đồng Nai, cả ngày lẫn đêm, lúc nào cũng rộn rịp tiếng người và xe cộ. Không còn những buổi đi về nhà ban đêm phải chạy thật nhanh trong con hẻm tối, khi nhìn trước sau không một bóng người đồng hành, để cố vượt qua khúc đường có cây me lớn, cành lá xum xuê, đối diện ngay cánh cửa sau nhà chị Kiểm, tiệm bán chạp phô, vì nghe đồn có người đã thấy con ma ngồi vắt vẻo trên cây me hát ru con vào lúc nữa khuya. Ngôi nhà mới đã cho chị em Duyên một luồng sinh khí mới. Cô Út Yến cũng được ra đời sau đó. Ông bà Tâm ngày càng làm ăn phát đạt hơn. Con cái đều được học hành đỗ đạt, nên người. Một lần, khi phụ bà Tâm tính sổ lương cho thợ, Duyên nghe mẹ… tiết lộ: “Tao với ba mầy nằm trong nhóm tuổi Tam Hạp “Hợi Mẹo Mùi”, có duyên nên làm ăn khá giả chỉ có tội là hay “khắc khẩu” thôi”. Duyên tủm tỉm cười, quả thật, ba tuổi Mùi, mẹ tuổi Hợi coi như nhà đã có “nhị hạp”, vậy mà nói chuyện với nhau chừng đôi ba câu thì đã thấy không ổn rồi. Dù chỉ là những chuyện rất nhỏ nhặt, hai ông bà cũng cãi cọ vài câu mới chịu. Bà tiếp tục kể thêm một lô tuổi Tam Hạp cho Duyên biết, nào là: “Thân Tý Thìn, Sửu Tỵ Dậu, Dần Ngọ Tuất, Hợi Mẹo Mùi”, có duyên trong những tuổi này mới tốt con à!”.

Dòng đời trôi chảy rất êm đềm trong mái gia đình vừa có “tam hành xung” lẫn “nhị hạp” của Duyên. Cuộc sống thật chan hòa, hạnh phúc nếu không có biến cố 30 tháng tư, với biết bao cảnh gia đình chia lìa, tan nát. Đôi lúc Duyên tự hỏi: những con người phải chịu số phận đó không biết là vì đã đến lúc gặp phải cái “vận số” được định sẵn do năm tuổi, hoặc tới hạn xung khắc của họ không? Hay là do chính lòng người và mưu toan của những kẻ vô thần? Với cuộc sống khó khăn, thay đổi từng ngày, ông Tâm phải đi học cải tạo, Bà Tâm một mình đôn đáo tìm cách chay lo cho ông về nhà và các con tìm đường vượt biển. May thay, hai năm sau khi ông Tâm trở về nhà, bà Tâm đã lo được 5 đứa con ra nước ngoài. Duyên và đứa em trai là một trong những chuyến của các năm cuối cùng trước khi các trại tị nạn bắt đầu đóng cửa, ngăn cấm, không nhận các thuyền nhân đến nữa.

Gặp lại Xuân ở trại tị nạn Indo, lúc hai người đang chờ phỏng vấn để đi định cư ở Mỹ. Duyên đã biết Xuân vài lần qua các bạn đồng nghiệp khi còn ở Việt Nam, nhưng chỉ là sơ giao với những câu thăm hỏi thông thường. Không nghĩ là duyên nợ nên Duyên rất ơ hờ với những lời trêu chọc của bạn bè cùng barrack. Cho đến khi nhận lời anh tỏ tình, Duyên vẫn còn hoang mang, ngần ngại. Và khi biết anh tuổi Mẹo, Duyên suýt bật cười vì chợt nhớ đến câu “thần chú” của mẹ ngày xưa: “Hợi Mẹo Mùi, là duyên tam hạp”. Mình là tuổi Mùi. Anh ấy là tuổi Mẹo, vậy là tốt duyên rồi! Nghĩ thế chứ không dám nói ra, với lại “yêu người chứ có phải yêu tuổi đâu”. Nhưng sau một thời gian chuyện trò, quen biết, Duyên mới khám phá ra rằng anh Xuân và Duyên cũng có rất nhiều cái “hạp” nhau lắm! Anh thích nghe nhạc Trịnh, nhạc Vũ Thành An, Từ Công Phụng, thích đọc sách, nghiên cứu thơ văn, xem phim tình cảm… Bài thơ, văn hay chuyện phim nào Duyên vừa mới “nhấp nhứ” vài câu là anh đã tuôn ra một mạch. Tuyệt chiêu của anh là thuộc cả tập thơ “Tâm Tình Hiến Dâng” của Rabindranath Tagore mà Duyên rất “mê” từ thời trung học và cứ thế, mỗi chiều anh tìm đến barrack Duyên, trò chuyện hoặc đọc những đoạn trong tập thơ mà anh tâm đắc cho Duyên nghe. Mối tình đã nảy nở và lớn dần trong Duyên từ những “dây mơ rễ má” đó. Thời gian này, cô bạn thân của Duyên gửi cho tập thơ Nguyễn Tất Nhiên làm quà sinh nhật trên đảo, thế là có dịp cho những buổi tối thi nhạc giao duyên bên ánh đèn dầu dưới dãy bếp của barrack 35, trại Galang thật vô cùng… lãng mạn!

Đến lúc sang Mỹ, sau khi chấp nhận lời cầu hôn của Xuân, Duyên hơi lo ngại khi viết thư về báo tin và xin phép ba mẹ ở Việt Nam là Duyên sẽ theo chồng lẫn theo đạo. Để cho chắc ăn, Duyên còn nói rõ trong thư: “anh Xuân tuổi Mẹo, có duyên trong “tam hạp”, đừng lo má ơi!”. Không biết có phải vì thế mà ba mẹ Duyên viết thư qua trả lời đồng ý… cái rụp hay không? Bà còn khuyên:- “Đạo nào cũng là đạo, miễn mình ăn hiền ở lành, biết tu thân tích đức con ơi!”. Sau này, khi đã được qua Mỹ sum họp với các con, mỗi khi nói chuyện với Duyên, bà Tâm vẫn hay nhắc: “Con tuổi Mùi, thằng Toàn (con trai lớn) cũng tuổi Mùi, ẩn tuổi mẹ. Chồng con tuổi Mẹo, con Thúy (con gái thứ hai) cũng tuổi Mẹo, ẩn tuổi cha. Vậy mà tụi bây làm ăn không “phất” được thì má cũng không biết làm sao đây!”. “Phất” ở đây, ý bà muốn nói là “ăn nên làm ra”, tạo nhiều của ăn của để. Điều này, đôi khi cũng làm Duyên thắc mắc: “Ủa, vậy là tử vi… trật lất, tại sao gia đình mình “tụ” được toàn là những thứ “kiết” không, chứ đâu có cái nào “hung” đâu, mà sao không … giàu như người ta vậy kìa?”.

Một số bạn bè, người thân khi nghe Duyên nói thế đã gạt phắt đi bảo: “Này, ông bà giàu có như thế mà còn đòi hỏi gì nữa, giàu hào của sao bằng hào con. Gia đình hạnh phúc, con cái đông đúc mà lại ngoan ngoãn, biết vâng lời, có tiền đến mấy cũng không mua được đâu nhé!” khiến Duyên giật mình. Quả thật, từ ngày lấy nhau đến giờ rất ít khi vợ chồng to tiếng với nhau, chắc Xuân thuộc loại Mèo Tam Thể, nhủn nhặn, hiền lành, dễ tính nên cưng chiều vợ, mỗi khi Duyên giận thì Xuân luôn làm lành trước. Và khi Xuân nổi nóng thì Duyên… thổi cho nguội bằng cách… lặng thinh. Với hai cô con gái, và hai cậu con trai, mỗi đứa cách nhau ba tuổi, đã đủ cho thời khóa biểu của Duyên đầy kín một ngày, nhưng bù lại chúng luôn thương yêu, lắng nghe và vâng lời ông bà, bố mẹ, chăm chỉ học hành, siêng năng tham gia các sinh hoạt tôn giáo, xã hội. Bốn đứa con là bốn “tác phẫm” tuyệt vời. Không phải là Duyên đang có một kho tàng châu báu đó sao? Năm ngoái, Duyên và Xuân vừa mừng “Lễ Bạc”, nhân dịp anniversary ngày cưới, cả nhà chụp chung một tấm hình với gương mặt ai cũng tươi cười rạng rỡ. Duyên nghe hạnh phúc tràn trề!

Vì vậy, sáng nay khi bà Tâm gọi sang để nhắc Duyên lát trưa qua chở bà đi chợ Việt Nam mua thức ăn, tiện thể xin quyển lịch “Tam Tông Miếu” (loại lịch bóc từng tờ) để bà coi ngày giờ, kiêng cữ cho cả năm, Duyên đã cười vang trong phone và nói với mẹ rằng: ”Má ơi, cái duyên “Tam Hạp” má nói hồi xưa đó coi vậy mà cũng… ứng nghiệm lắm đó nghen!” Bên kia đầu dây bà Tâm chưng hửng:” Ủa , mà chuyện gì vậy con?”.
Tưởng Dung Tháng Giêng, 2011
hongvulannhi  
#694 Posted : Wednesday, February 9, 2011 3:15:09 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,355

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)

UserPostedImage
NẮNG VUI

Chùm tia nắng muôn màu rực rỡ
Chiếu lung linh mừng chúa Xuân sang
Có hồng Đào, Mai vàng truớc ngõ
Bầy én vui rộn rã theo đàn.

Rồi nhạc đâu hòa theo trong gió
Tiếng ru êm trầm lắng tâm tư
Lòng bỗng dưng dạt dào nỗi nhớ
Hoa bâng khuâng rụng cánh bơ thờ.

Làn mây trôi về nơi xa thẳm
Nhớ nhung chi từ cõi hư vô
Gửi người xa, vời trông đăm đắm
Hỏi thầm thôi, chờ đến bao giờ?

Nắng đã lên, bừng lên sức sống
Gió vu vơ thổi tới chân mây
Trong thinh lặng, đất trời lặng lẽ
Màu nắng vui toả lấp tràn đầy.
HONG VU LAN NHI 2/9/11
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#695 Posted : Wednesday, February 9, 2011 6:35:15 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,154

Thanks: 6941 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)


Giám đốc điều hành Google giúp châm ngòi vụ nổi dậy ở Ai Cập.

( Freed Google executive helped spark Egypt revolt )

Bởi HADEEL AL-SHALCHI và KARIN LAUB Ngày mùng 7/2/2011. Nguyễn Tường Tâm chuyển ngữ.

Thứ tư, 09 Tháng 2 2011 12:04


UserPostedImage
Ảnh AFP

CAIRO -AP–Một giám đốc trẻ của Google, người bị nhà chức trách Ai Cập bắt giữ trong 12 ngày, đã nói trong ngày Thứ Hai, mùng 7-2-2011 rằng anh ta đứng đằng sau trang mạng Facebook giúp châm ngòi điều mà anh gọi là “cuộc cách mạng của giới trẻ internet.” (the revolution of the youth of the Internet.) Một nhóm nhân quyền có trụ sở tại Hoa Kỳ cho hay gần 300 người đã thiệt mạng trong 2 tuần lễ đụng độ.

UserPostedImage
Wael Ghonim- giám đốc trẻ của Google ở Egypt

Anh Wael Ghonim, một giám đốc tiếp thị (marketing manger) cho Google, đã khóc trong suốt cuộc phỏng vấn truyền hình đầy xúc động chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi anh được phóng thích. Anh mô tả cách thức anh sử dụng thời gian bị giam bịt mắt trong khi bố mẹ anh lo lắng không biết anh lúc đó đang ở đâu. Anh nói rằng anh không bị hành hạ và những người thẩm vấn anh đã đối xử một cách tôn trọng đối với anh.

Anh nói “Đây là cuộc cách mạng của giới trẻ internet và bây giờ là cuộc cách mạng của toàn dân Ai Cập.” Anh nói thêm rằng anh giật mình ngạc nhiên khi lực lượng an ninh bắt giữ anh gọi anh là kẻ phản quốc. Anh nói thêm, “Bất cứ ai có ý tưởng tốt đều là kẻ phản quốc, vì theo thói thường bây giờ điều đó là xấu.” Anh Ghonim là một người Ai Cập trông nom thị trường của Google tại Trung đông và Phi châu từ Dubai, một tiểu quốc trong Vương quốc Ả Rập Thống Nhất. Anh nói tiếp, “Nếu tôi là một kẻ phản quốc thì tôi đã ở trong ngôi biệt thự của tôi tại Dubai và kiếm nhiều tiền và nói như những người khác, ‘Hãy để cho đất nước này tiêu vong mẹ nó đi’ (‘Let this country go to hell.’). Nhưng chúng tôi không phải là những kẻ phản quốc.”

Anh Ghonim đã trở thành anh hùng trong các cuộc biểu tình kể từ khi anh mất tích vào ngày 27 tháng 1, hai ngày sau khi các cuộc chống đối bắt đầu. Anh xác nhận tin tức từ các người chống đối cho hay anh là giám đốc điều hành (administrator) trang mạng Facebook có tên “Tất cả chúng ta là Khaled Said” ["We are all Khaled Said"] (1). Trang mạng này là một trong các phương tiện tổ chức cuộc biểu tình khởi sự phong trào vào ngày 27/1.

Anh nói rằng anh bị vồ (snatched) ngoài đường hai ngày sau khi các cuộc chống đối bùng nổ lần đầu tiên vào ngày 25/1. Sau khi anh rời nhà người bạn, thì bốn người đàn ông bao vây anh, xô anh xuống đất và bịt mắt anh mang anh tới cơ quan an ninh. Anh cho biết anh đa số thời gian trong những ngày sau đó anh bị bịt mắt và thẩm vấn. Anh cho hay các điều tra viên tin rằng có ngoại nhân ủng hộ phong trào, nhưng anh Ghonim nói rằng chỉ có những người trẻ Ai Cập, “Những người yêu nước.” Anh gọi cuộc bắt anh là “bắt cóc” và là một “tội phạm”. Anh mạnh mẽ đổ lỗi sự yếu kém của đất nước cho đảng cầm quyền của tổng thống Mubarak và anh nói rằng điều tốt đẹp đối với họ là hãy bỏ đảng đó đi và khởi sự một điều gì mới để dành lại sự kính trọng của nhân dân. Anh kết luận, “Tôi không muốn trông thấy phù hiệu của đảng cầm quyền ở bất cứ đâu trên đất nước này. Cái đảng này đã phá hoại đất nước. Cán bộ đảng là bọn bẩn thỉu.”

————————————————-

(1) Ghi chú của người dịch: trên trang mạng, GlobalVoices

Câu chuyện về Khaled Said như sau: Khaled Said, một thanh niên Ai Cập 28 tuổi người thành phố miền duyên hải Ai Cập Alexandria, đã bị hành hạ tới chết bởi hai cảnh sát muốn lục soát anh theo đạo luật tình trạng khẩn cấp (emergency law). Anh hỏi lý do và lệnh tòa án thì hai viên cảnh sát giết anh ta. “We are all Khaled Said” là trang mạng Facebook được thành lập ngay sau khi anh ta bị giết để lên án sự tàn bạo của cảnh sát. Trang mạng này được viết bằng tiếng Ả Rập lẫn tiếng Anh.

Câu chuyện chi tiết còn rùng rợn hơn được mô tả trên blog “The murder of Khaled Said”.

Luật sư Muhammad Abdel Aziz mô tả như sau: “Vào ngày Chủ Nhật, anh Khaled đang ở trong quán cà phê Internet vào khoảng 11:30 khuya. Hai cảnh sát viên tới vòi tiền anh ta. Khi anh ta nói là anh ta không có tiền thì họ đánh anh ta. Đầu anh ta va vào mặt bàn bằng đá hoa cương và anh ta bắt đầu chẩy máu. Hai cảnh sát viên này lôi Khaled ra khỏi quán và tiếp tục đánh anh ta. Anh ta la lớn “Tôi sắp chết, buông tôi ra” và anh ta ngã lăn ra sàn. Sau đó anh ta chẩy máu. Ngay sau đó một dược sĩ và một nhân viên cấp cứu y tế đi ngang đã xác nhận anh ta chết sau khi bắt mạch anh ta. Các nhân chúng cho hay một xe cảnh sát tới chở Khaled đi. Gia đình cảnh sát liên lạc với gia đình anh ta và nói rằng xác anh ta đang ở trong nhà quàn Kom-el-Dekka. Nhưng gia đình không được cho vào nhà xác. Tại Viện kiểm sát (prosecutor’s office), nhà chức trách đã cho mẹ và anh của Khaled hay rằng anh ta đã nuốt một gói ma túy và có nhân chứng thấy sự việc. Nhưng Ahmad Badawy, một người hoạt động cho nhân quyền tại Alexandria đã tới quán cà phê vào ngày hôm sau, 11/6 nơi sự vụ xảy ra và cho biết các nhân chứng đã cho anh ta hay rằng gói ma túy là của hai cảnh sát đã đánh Khaled.


© Nguyễn Tường Tâm (Bản tiếng Việt)

© Đàn Chim Việt
Tu Bich  
#696 Posted : Wednesday, February 9, 2011 8:26:30 AM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Quân Lực Trung Quốc Đe Dọa Các Nước Láng Giềng và Hoa Kỳ
Nguyễn Quốc Khải
dịch

10 tháng 02 năm 2011

UserPostedImage

Hình 1: Hỏa tiễn và tầu ngầm là hai võ khí lợi hại của Trung Quốc.

Trung Quốc trở thành một lực lượng quân sự phải đối phó trong vùng Tây Thái Bình Dương. Hoa Kỳ nên phản ứng ra sao?

Vào 35 năm trước đây, Chủ Tịch Đặng Tiểu Bình kết tội Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc (People’s Liberation Army – PLA) là “bệ rạc, biếng nhác, tự cao tự đại, phung phí, và chậm chạp.” Mặc dù vậy, ba năm sau khi khởi sự canh tân đất nước, ông Đặng Tiểu Bình đặt quân đội vào ưu tiên thứ tư sau nông nghiệp, kỹ nghệ, và khoa học. Khi vị tư lệnh hải quân đưa ra kế hoạch để biến Trung Quốc thành một lực lượng hải quân hùng mạnh của thế giới, ông ta đã không biết trước rằng ông phải đạt được mục tiêu này trước năm 2040.

Về sau hiện đại hóa quân đội đã trở thành một ưu tiên nhờ vào hai trường hợp Hoa Kỳ sử dụng hỏa lực tân tiến. Thứ nhất, việc Hoa Kỳ sử dụng võ khí chính xác trong chiến dịch Desert Storm thuộc chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất [1990-1991] đã làm cho Trung Quốc nhận thức được rằng không thể phòng vệ bằng số lượng. Thứ hai, khi Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc hăm dọa Đài Loan bằng cách thử nghiệm hỏa tiễn vào năm 1996, Tổng Thống Bill Clinton đã ra lệnh cho hai hải đoàn xung kích với hàng không mẫu hạm tiến vào vùng eo biển Đài Loan. Một trong hai lực lượng này dẫn đầu bởi hàng không mẫu hạm mang một cái tên khiêu khích là USS Independence [Đài Loan muốn trở thành một quốc gia độc lập với Trung Quốc].

Sự đổ vỡ của Liên Bang Xô Viết đã thuyết phục những nhà lãnh đạo Trung Quốc là một cuộc chạy đua võ trang với một đại cường duy nhất sẽ phung phí tiền bạc và sẽ đe dọa đến uy quyền của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Đối đầu để thử thách Hoa Kỳ là một việc vô nghĩa. Thay vào đó, Trung Quốc tập trung vào việc sản xuất võ khí không đối sứng (asymmetric weapons). [Đây là loại vũ khí nhắm vào yếu điểm của kẻ thù tương đối mạnh].

Sự tiến bộ của Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc rất khó có thể đo lường được với chiến lược phi chính thống này. Tây Phương có những quan điểm rất khác biệt nhau. Những nhà phân tách quân sự nhận thấy ưu thế của Hoa Kỳ trên biển bị đe dọa nhiều hơn trong vùng phía tây Thái Bình Dương. Những chuyên viên an ninh của Trung Quốc thường chế giễu tất cả những tin đồn gây ra hốt hoảng. Ai đúng ai sai?

Vấn đề hiện đại hóa PLA nổi bật về ba lãnh vực. Trước hết, Trung Quốc đã thiết lập cái mà Ngũ Giác Đài gọi là “chương trình hỏa tiễn đạn đạo (ballistic missile) và hỏa tiễn hành trình (cruise-missile) năng động nhất thế giới với căn cứ ở trên đất liền” Quân Đoàn Pháo Binh II của Trung Quốc trang bị hỏa tiễn với tầm ngắn 1,100 dặm nhắm vào Đài Loan và đang được cải thiện để bắn xa hơn, chính xác hơn và mang được đầu đạn lớn hơn. Quân Đoàn Pháo Binh II cũng đang cải thiện hỏa tiễn tầm trung, có khả năng mang theo đầu đạn quy ước hoặc nguyên tử. PLA cũng dàn trận hàng trăm hỏa tiễn hành trình tầm xa bắn từ trên không hoặc từ mặt đất. PLA đang phát triển loại hỏa tiễn chống chiến hạm đầu tiên trên thế giới trang bị với một bộ phận mang theo đầu đạn nguyên tử và có khả năng từ bên ngoài quay trở lại bầu khí quyển để tăng phần hiệu quả.

Thứ hai, Trung Quốc đang cải tiến và bành trướng đội tầu ngầm. Những tầu ngầm này nay có thể đậu tại căn cứ mới hoàn tất ở Đảo Hải Nam, ở ngoài khơi bờ biển phía nam của Trung Quốc. Trong giai đoạn 8 năm tính đến 2002, Trung Quốc đã mua 12 tầu ngầm của Nga thuộc loại Kilo, đây là một cải tiến lớn so với loại tầu ngầm cũ thuộc loại Ming và Romeo. Kể từ lúc đó đến nay, Hải Quân Trung Quốc đã bắt đầu loại tầu ngầm do Trung Quốc vẽ kiểu có tầm xa và khó bị lộ, kể cả loại Jin chạy bằng nguyên tử trang bị hỏa tiễn đạn đạo và loại Shang, tầu ngầm tấn công chạy bằng nguyên tử. Trung Quốc có khoảng 66 tầu ngầm so với 71 tầu ngầm của Hoa Kỳ tương đối tối tân hơn. Theo Kokoda Foundation, một tổ chức nghiên cứu của Úc, Trung Quốc có thể có tới 85-100 chiếc tầu ngầm vào năm 2030.

Thứ ba, Trung Quốc tập trung cố gắng vào cái gọi là “informatisation” theo lối nói ngọng do Chủ Tịch Giang Trạch Dân sáng tạo ra vào năm 2002 để mô tả làm sao PLA cần phải hoạt động như một lực lượng duy nhất, biết sử dụng những dụng cụ đo lường vật lý bén nhậy (sensor), thông tin, chiến tranh điện tử và chiến tranh liên mạng. Trung Quốc ngày nay biết rõ hơn những gì đang xẩy ra phía xa trong Thái Bình Dương nhờ vào sự phối hợp của vệ tinh, hệ thống ra đa vượt qua khỏi chân trời, hệ thống ra đa tần số cao dò tìm sát mặt đất, phi cơ thám thính không người lái và những vật dụng thăm dò dưới mặt nước.

Trung Quốc cũng đang chế tạo võ khí hủy diệt vệ tinh. Các vệ tinh của Hoa Kỳ bị mờ bởi tia laser bắn từ mặt đất. Vào năm 2007, một hỏa tiễn đạn đạo phóng đi từ căn cứ không gian Xichang ở Sichuan phá vỡ một vệ tinh thời tiết – Đây không phải là một kỳ công, tuy nhiên đã làm các nước khác giận dữ vì nó tạo ra 35,000 mảnh vụn trong không gian.

Tin tặc của Trung Quốc cũng bận rộn. Vào tháng 3 năm vừa qua, những nhà nghiên cứu Canada đã khám phá ra một hệ thống do thám bao gồm 1,300 máy điện toán, trong đó có nhiều máy nằm ở bên trong Trung Quốc, đã xâm nhập vào các hệ thống điện toán của chính phủ. Trung Quốc đã tấn công vào những mục tiêu của Đài Loan và Tây Phương ít nhất 35 lần trong một thập niên kết thúc vào năm 2009 theo Northrop Grumman, một công ty đấu thầu của Hoa Kỳ. Ngũ Giác Đài công nhận không rõ là PLA là thủ phạm của những cuộc tấn công này, nhưng lập luận rằng những nhà phân tách có thẩm quyền của Trung Quốc nhận thấy rằng võ khi điện toán là quan trọng.
Vũ khí mới

Những chuyên viên quân sự Hoa Kỳ, Úc và Nhật Bản nghĩ rằng những võ khí mới của Trung Quốc vừa kể trên tạo thành một đe dọa to lớn hơn là những kế hoạch nổi cộm như hạ thủy những hàng không mẫu hạm trong 10 năm tới. Ông Alan Dupont của Đại Học Sydney tại Úc nói rằng “những hỏa tiễn và võ khi điện toán đang trở thành những võ khí chọn lựa cho những quốc gia thua kém về võ khi quy ước.”

Theo Trung Tâm Thẩm Định Chiến Lược và Ngân Sách (Centre for Strategic and Budgetary Assessments – CSBA), một viện nghiên cứu của Hoa Kỳ, hỏa lực của Trung Quốc sẽ đe dọa các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại Á châu. Cho đến nay các căn cứ này được an toàn đối với mọi cuộc tấn công ngoại trừ võ khí nguyên tử. Hỏa tiễn của Quân Đoàn Pháo Binh II của Trung Quốc có thể làm hệ thống phòng vệ các căn cứ mất tác dụng, phá hủy các sân bay, cũng như một số lớn binh sĩ và chiến hạm. Nhật Bản hiện nay đã nằm trong tầm bắn của hỏa tiễn Trung Quốc. Một số hỏa tiễn này đang nhắm thẳng vào Đài Loan. Guam sẽ nằm trong tầm hỏa tiễn không bao lâu nữa.

Tầu ngầm, hỏa tiễn, và hỏa tiễn hành trình chống chiến hạm đe dọa những hải đoàn xung kích bao gổm hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ trong vòng 1,000 – 1,600 hải lý tính từ bờ biển Trung Quốc. Theo Ông Ross Babbage, một nhà phân tách quân sự Úc và là sáng lập viên của Kokoda Foundation, nếu Trung Quốc có hỏa tiễn chống chiến hạm, bay nhanh và không báo trước, rất khó mà có thể chống lại những hỏa tiễn này. Những võ khí không gian và võ khí điện toán mà Trung Quốc gọi là cái chùy của kẻ sát nhân trong cuộc tấn công bất ngờ được hoạch định để phá nát hệ thống điện tử tinh vi nhưng mong manh của Hoa Kỳ. Điều này làm cho quân lực của Hoa Kỳ mù một nửa và câm và những căn cứ và hàng không mẫu hạm càng dễ bị tấn công.

UserPostedImage

Hình 2: Khả năng hỏa tiễn của Trung Quốc.

Nói tóm lại, khả năng tấn công của Trung Quốc đã tiến xa hơn là việc ngăn chặn Hoa Kỳ can thiệp vào bất cứ cuộc xung đột nào giữa Trung Quốc và Đài Loan. Ngày nay, Trung Quốc có thể phóng hỏa lực của mình vượt xa giới hạn 12 dặm (19km) tính từ bờ biển nơi mà Hoa Kỳ đã một thời tự do tung hoành mà không cần suy đi nghĩ lại. Ông Okamoto, một nhà phân tách an ninh Nhật Bản, tin rằng chiến lược của Trung Quốc là kiểm soát hoàn toàn cái mà những kế hoạch gia gọi là chuỗi đảo thứ nhất (First Island Chain). Cuối cùng, Trung Quốc muốn chặn đứng khả năng của hạm đội của Hoa Kỳ về việc bảo vệ quyền lợi của Hoa Kỳ ở vùng Tây Thái Bình Dương.

Những viên chức cao cấp nhất của Hoa Kỳ đã để ý đến những biến chuyển trên. Năm ngoái, Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Robert Gates báo động rằng “đầu tư [của những quốc gia như Trung Quốc] vào các lãnh vực võ khi điện toán, chống vệ tinh, chống chiến hạm, võ khí không gian, và hỏa tiễn đạn đạo có thể đe dọa sự phát triển hỏa lực của Hoa Kỳ và yểm trợ đồng minh ở Thái Bình Dương – đặc biệt là những căn cứ không quân tiền phương và những hải đoàn xung kích bao gồm hàng không mẫu hạm.”

Ông Ross Babbage nói thẳng thừng hơn: “kế hoạch quốc phòng hiện nay là vô giá trị.” Ông và những nhà phân tách thuộc CSBA lập luận rằng Hoa Kỳ cần phải suy tính lại về chiến lược tại Thái Bình Dương. Hoa Kỳ cần phải tăng cường các căn cứ và khả năng phá vỡ những cuộc tấn công của Trung Quốc với các vật nghi trang và bằng cách phân tán rộng phi cơ và chiến hạm trong toàn vùng. Quân lực của Hoa Kỳ phải có kế hoạch tiếp vận tốt hơn và có thể chiến đấu ngay cả trong trường hợp hệ thống tin tức bị hư hỏng.

Một việc nghiêm trọng là quân lực của Hoa Kỳ cần phải có khả năng hủy diệt hệ thống trinh sát, do thám điện tử và thẩm định thiệt hại của Trung Quốc. Một số những hệ thống này được bảo vệ bởi một hệ thống đường hầm ngoài tầm hủy diệt của võ khí Hoa Kỳ.
Thái Bình chỉ là cái tên

Những nhà phê bình thường nói rằng những người tham dự vào chiến tranh lạnh đang mắc phải căn bệnh gọi là hội chứng mất kẻ thù (enemy deprivation syndrome). Để bắt đầu, một số người có cảm tưởng sai lầm rằng chi tiêu về quốc phòng của Trung Quốc gia tăng. Ngân sách của PLA giữ cùng một nhịp độ với tổng sản phẩm nội địa (gross domestic product - GDP) trong 10 năm vừa qua. Trong hai thập niên trước đó tỉ lệ của ngân sách này so với GDP giảm. Các chuyên viên không đồng ý với nhau về kích thước của ngân sách quốc phòng của Trung Quốc mà nhà cầm quyền chỉ tiết lộ có một phần. Ông Sam Perlo-Freeman thuộc Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Quốc Tế Stockholm ước tính rằng chi phí quốc phòng của Trung Quốc trong năm 2009 là $99 tỉ theo giá biểu của năm 2008. Một số ước tính khác cao hơn và con số chính thức của Trung Quốc là $70 tỉ. Hoa Kỳ dự trù một chi phí quốc phòng là $663 tỉ. Tỉ lệ chi tiêu quốc phòng trên GDP của Trung Quốc không bằng một nửa con số của Hoa Kỳ và thấp hơn các con số của Trung Quốc trong những năm 1990s. Ông Perlo-Freeman nói: “Không có nhiều bằng chứng của một cuộc chạy đua võ trang.”

Một số người nghi ngờ về phẩm chất của võ khí do Trung Quốc chế tạo. Một đô đốc hải quân Hoa Kỳ về hưu nói rằng phần lớn dụng cụ của Nga mà Trung Quốc mua là đồ vô dụng. Mặc dù đạt được một số tiến bộ, Trung Quốc chậm trễ về hướng dẫn, kiểm soát, động cơ turbine, dụng cụ chế tạo máy móc, dụng cụ định bệnh và nhận diện (diagnostic and forensic equipment), và việc phác họa và chế tạo với sự trợ giúp của máy điện toán. GS Dupont nói: “Trung Quốc đã đạt một bước tiến xa nhưng hiện đại hóa quân đội từ nay về sau trở nên khó khăn hơn.”

Một số người nghi ngờ về nhân lực của Trung Quốc. PLA chuyên nghiệp hơn so với thời kỳ còn là một quân đội nông dân, nhưng thiếu kinh nghiệm. Ông Nigel Inkster thuộc Viện Nghiên Cứu Quốc Tế về Chiến Lược (International Institute for Strategic Studies – IISS) nhớ lại rằng một trong những người sáng lập ra hải quân Trung Quốc đã nói: “Không phải là tôi không biết lái tầu, nhưng vấn đề là tôi chưa bao giờ nhìn thấy biển.”

Những vấn đề phức tạp như chiến tranh tầu ngầm cần nhiều năm mới nắm vững. Ông Christian Le Mière thuộc IISS nói rằng: “Khi ông chiến đấu, sẽ thấy có nhiều lỗ hổng. Khi chưa chiến đấu, ông không biết những lỗ hổng đó nằm ở đâu.” Vị đô đốc về hưu nghĩ rằng quân lực Trung Quốc thiếu sự tin cậy. Điều này sẽ làm họ chậm chạp ở chiến trường. Ông nói: “Chúng ta cho lực lượng của chúng ta trách nhiệm và sáng kiến. Đối với họ, điều này rất kỵ”

Ông Robert Ross thuộc Đại Học Harvard lý luận rằng những người bi quan đánh giá quá cao mối đe dọa của Trung Quốc và đánh giá quá thấp sức mạnh của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ có khả năng để theo rõi tầu ngầm của đối phương tốt hơn. Hoa Kỳ tài giỏi hơn về võ khí điện toán và ít nhược điểm hơn Trung Quốc về không gian – cũng chỉ vì Hoa Kỳ có sẵn hệ thống dư phòng. Trung Quốc sẽ gặp khó khăn để xâm nhập hệ thống phòng thủ chiến hạm bằng những biện pháp trả đũa và bằng cách ngụy trang điện tử của Hoa Kỳ. Ông Carlyle Thayer của Viện Nghiên Cứu Quốc Phòng Úc ghi nhận rằng Hoa Kỳ đã đưa vào Thái Bình Dương 32 trong số 53 tầu ngầm tấn công nhanh và ba tầu ngầm nguyền tử loại Ohio.

Mặc dù cuộc tranh luận này có những sự kiện không chắc chắn, nhưng có ba điều sau đây mọi người đồng thuận. Thứ nhất là Trung Quốc đã buộc chiến hạm Hoa Kỳ phải suy nghĩ làm sao và khi nào có thể tiến gần vào bờ biển Trung Quốc. Càng gần bờ bao nhiêu, các chiến hạm Hoa Kỳ càng phải đối phó với hỏa tiễn và tầu ngầm và càng có ít thời gian để phản ứng. Bất cứ ai lái một hàng không mẫu hạm trị giá $15 tỉ - $20 tỉ với một thủy thủ đoàn khoảng 6,000 người sẽ phải suy nghĩ hai lần trước khi chấp nhận thêm rủi ro. Để phủ nhận quyền sở hữu biển cả mà Hoa Kỳ đã ngự trị nhiều thập niên vừa qua, Trung Quốc không cần phải kiểm soát duyên hải của mình mà chỉ cần đe dọa những chiến hạm của Mỹ tại đó. Ông Hugh White, cựu viên chức về an ninh và quốc phòng Úc tiên đoán rằng miền tây Thái Bình Dương sẽ trở thành “vùng không hoạt động của hải quân.”

Thứ hai, Trung Quốc tăng cường khả năng sức mạnh. Tầu ngầm, phi cơ chiến đấu, hỏa tiễn, chiến tranh Internet và điện tử, trước đây tồi tệ, nay là một mối đe dọa. Võ khí của Trung Quốc sẽ tiếp tục cải thiện, và quân lực Trung Quốc sẽ gặt hái được kinh nghiệm. Nếu kinh tế không lụn bại, ngân sách sẽ gia tăng về mức tuyệt đối hay theo tỉ lệ của GDP. Nếu mọi thứ khác không thay đổi, Trung Quốc có thể phóng hỏa lực vào sân sau của mình dễ hơn là Hoa Kỳ phải phóng hỏa lực qua Thái Bình Dương. Như ông Gates nói: “Những căn cứ trú ẩn an toàn trong vùng tây Thái Bình Dương mà hải quân Hoa Kỳ hưởng trong gần cả sáu thập niên vừa qua sẽ phải chịu rủi ro.”

Thứ ba, mặc dầu Hoa Kỳ có thể trả đũa Trung Quốc, nhưng trước hết Hoa Kỳ phải vượt qua một số trở ngại. Chi thiêu về quân sự của Hoa Kỳ tại Á châu bị lu mờ bởi sự cần thiết cắt giảm chi phí của chính phủ nói chung và những ưu tiên quân sự khác như Afghanistan. Ông Jonathan Pollack thuộc Brookings Institution, cho thấy rằng một vài ý kiến như thay thế hàng không mẫu hạm bằng tầu ngầm, sẽ gập sự chống đối của hải quân và của những dân biểu muốn bảo vệ quyền lợi của cử tri. Ông Pollack nói tiếp: “Đối với nhiều sĩ quan, đặc tính để nhận biết hải quân gắn liền vào hàng không mẫu hạm và hỏa lực mà các hàng không mẫu hạm này phóng ra. Giảm số lượng của các hàng không mẫu hạm là một tiến trình khó nhọc.” Trên hết, những thay đổi lớn về hoạch định quân sự cần vài thập niên: Hoa Kỳ cần nghĩ về Trung Quốc vào năm 2025.

Tất cả những phân tích trên đây đều hướng về một nguyên tắc quan trọng. Hoạch định quân sự khác với ngoại giao. Những nhà ngoại giao chú trọng đến những gì họ nghĩ rằng nhà nước có khuynh hướng làm, nhưng những kế hoạch gia quân sự phải làm việc với những gì mà họ nghĩ nhà nước có thể làm. Ý định thay đổi và nhà nước có thể làm lạc hướng. Nếu ông có trách nhiệm bảo vệ quốc gia của ông, ông cần phải có khả năng đối phó ngay cả với những đe dọa không chắc có thực.

Lập luận này cũng đúng với Trung Quốc. Hoa Kỳ không ngần ngại tham chiến trong những năm vừa qua. Cách đây không lâu một đô đốc Trung Quốc đã về hưu ví hải quân Hoa Kỳ như một kẻ tội phạm “lang thang ngay ngoài cửa của một gia đình.” Sức mạnh của Hoa Kỳ vào những năm 1990s đã làm cho Trung Quốc cảm thấy bất an. Vì vậy Trung Quốc đã biến cải PLA để hỗ trợ chính sách đối với Đài Loan và bảo vệ vùng duyên hải quan trọng về phương diện kinh tế. Tuy nhiên, bởi gia tăng bảo vệ an ninh cho chính mình, Trung Quốc làm giảm an ninh của các nước láng giềng và Hoa Kỳ. Có thể, Trung Quốc không có ý định sử dụng võ khí một cách hung hăng. Nhưng những kế hoạch gia quân sự Hoa Kỳ không thể dựa vào tiên đoán này. Do đó họ phải có phản ứng.

Theo chiều hướng này, hai quốc gia không bao giờ có ý định làm hại, nhưng có thể bắt đầu cảm thấy mối đe dọa từ quốc gia kia. Nếu ông không trang bị võ khí, ông bỏ ngỏ để dễ dàng bị tấn công. Nếu ông võ trang, ông đe dọa quốc gia kia. Ông Herbert Butterfield, một sử gia Anh gọi trường hợp này là “một tình trạng khó khăn tuyệt đối và một nan giải không thể giảm bớt được”. Đây là một lý do tại sao mối quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ sẽ có thể trở nên tồi tệ.

The Fourth Modernisation
Friend or Foe - Special Report on China’s place in the world
Nguồn: The Economist, 04-12-2010 / khoahoc.net
Người dịch: Nguyễn Quốc Khải

hongvulannhi  
#697 Posted : Wednesday, February 9, 2011 9:31:29 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,355

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
Quê hương tôi 50 năm nhìn lại… (phần I)
Nguyễn Hồng Phúc

10 tháng 02 năm 2011

Bài viết có tính cách sưu tầm, phỏng ra từ nhiều tài liệu và hồi ký của nhiều nhân vật quan trọng để phản ảnh cái nhìn lịch sử thật khách quan, vô tư và phi chính trị.....Nếu như có sự thiếu sót và sai lầm là do kiến thức chưa được thâm sâu hoặc do ký ức bắt đầu phai nhạt chứ nhất định không phát xuất từ sự cố tâm bóp méo sự thực...

Xin chân thành cảm tạ các bạn hữu đã đóng góp ý kiến thật xây dựng cho bài viết:

Anh Nguyễn Khắc Liệu – Melbourne Autralia
GS Nguyễn Chí Thân - Sunderland University Thủ Đức Việt Nam
Huỳnh Ngọc Minh - Portland, Oregon
Ngô thị Xuân Nga – Toronto Canada
Nguyễn thị Tuyết – Brussels, Belgium
Thiếu tá KQ Vũ Tất Thắng – Montréal, Canada...
Anh Ngô Khôn Trí – Montréal Canada
* * *
Phần 1
Quê hương tôi xưa và nay

Tôi yêu quê tôi, xanh xanh lũy tre.
Quê hương tuổi thơ đi qua đời tôi.
Đường làng quanh co, sông Thu êm đềm.
Thả diều đá bóng nắng cháy giữa đồng.
Biển trời mênh mông tôi bơi ngày ấy.
Tiếng tu hú gọi thấy nhớ biết bao.

Tôi xa quê hương, bao năm tháng qua.
Nhưng trong trái tim không bao giờ xa.
Lời mẹ ru con hiu hiu trưa hè.
Mùa lụt nước lũ bắt cá giữa đường.
Kỷ niệm yêu thương cho tôi ngày ấy,
Biết đâu tìm lại, biết đâu mà tìm.

[img=left]http://www.khoahoc.net/photo/quehuongtoi-1.gif[/img=left]
Hẳn không ai quên được những câu thơ trên với hai chữ “quê hương” nghe rất thân thương và gần gũi. Mặc dù chúng ta sống ở hải ngoại nhưng trong lòng mỗi người chúng ta vẫn hướng về nơi chôn nhau cắt rún dưới nhiều hình thức khác nhau, hai chữ quê hương không thể nào bị xoá mờ trong kí ức…. Khi tôi còn bé ở trường thầy cô dạy cho biết là nước Việt Nam được so sánh ngang hàng những nước láng giềng Đại hàn, Phi Luật Tân, Thái lan và trên Mã lai Á, Miến Điện, Lào và Cam Bốt, v.v.v…

Mỗi khi có dịp trò chuyện hay nhậu nhẹt tán gẫu với bạn bè ở những lứa tuổi và trình độ học vấn khác nhau, tôi thường đề cập về vấn đề hiện tại và tương lai nước Việt Nam mình.

Tại sao nước Việt Nam mình ngày nay không tiến bộ bằng hoặc kém xa hầu hết các quốc gia vùng Đông Nam Á như những nước nêu trên. Có người cho rằng vì Việt nam thuộc chế độ CS là chế độ kềm hãm thì không tiến được, có người cho rằng Việt Nam thiếu chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài hay Việt Nam mình thiếu nhân tài, tài nguyên hoặc chính phủ không có chính sách thu hút chất xám hải ngọai để về giúp nước như Nhật bản sau thế chiến thứ hai, vân vân và vân vân….Tất cả những câu trả lời trên đều đúng nhưng ở một vài góc độ nào đó mà thôi. Sự tiến triển của một đất nước không chỉ tùy thuộc vào một hay vài yếu tố khác nhau. Nó không đơn thuần như người bạn đổ lỗi vào chế độ CS là xong chuyện. Nói như thế là nói theo chủ nghĩa « đề huề » là muốn chấm dứt đề tài cho lẹ để chuyển qua đề tài khác. Đó là cái nhìn hơi « thiển cận ». Một Trung Quốc hay Liên Xô cũng là những xứ C.S và bây giờ họ tiến rất xa so với Việt Nam chúng ta…Trong khi hoàn tất bài viết này thì Trung Quốc vừa vượt qua Nhật bản về kinh tế toàn cầu với 5.4 ngàn tỉ US về Tổng sản lượng quốc gia (GDP) chỉ sau Mỹ với 14.8 ngàn tỉ US và trước Nhật với 5.2 ngàn tỉ US. Người ta dự đoán với đà tiến triển kinh tế của Trung Quốc như hiện nay đến năm 2020 Trung Quốc sẽ qua mặt Mỹ để trở thành đại siêu cường quốc kinh tế.

Nhưng tiếc thay nước Việt Nam chúng ta phải trải qua hằng bao thế kỷ chiến tranh người dân phải hi sinh cho đất nước, tài nguyên quốc gia phải phục vụ cho ngân sách chiến tranh. Đất nước ngày càng cạn kiệt nguồn tài nguyên quí giá. Rồi sau khi thống nhất người dân Việt Nam phải đối diện một lần nữa về tệ nạn tham nhũng. Đất nước lùi bước thay vì tiến lên như những quốc gia lân cận kể trên…

Ngày nay nhìn lại quê hương sau 50 năm chúng ta thử tìm hiểu những yếu tố chính làm trì hoản sự tiến triển quốc gia. Chúng ta nhìn lại những nước láng giềng đang tiến triển nhanh để suy luận về những yếu tố cần thiết có thể giúp phát triển đất nước Việt Nam, hầu mong tìm một giải pháp đánh giá nước chúng ta ...trong tương lai.

Một vài trang viết không thể diễn tả được hết lịch sử huy hoàng với hơn 4,900 năm văn hiến của một dân tộc Việt Nam chúng ta. Vì thế chúng tôi xin ghi lại đoạn đường đất nước trải qua với những sự kiện chính yếu của nền lịch sử ấy một cách ngắn gọn. Nước Việt Nam bị đô hộ bởi Trung quốc hơn 1000 năm trước. Những triều đại kế tiếp như Văn Lang và Âu Lạc đều thuần phục sự bành trướng của Trung Quốc. Đến năm 938 là lúc Việt Nam giành được độc lập. Việt Nam vẫn là một chư hầu và luôn phải đối phó với những cuộc xâm lược của cường quốc láng giềng Trung Quốc lớn hơn ta trăm lần. Các cuộc xâm lược ấy, cũng như ba cuộc xâm lược của người Mông Cổ giữa 1255 và 1285 đều bị dân tộc ta đánh đẩy lùi. Hoàng đế Trần Nhân Tông của Việt Nam sau này dùng ngoại giao để xin gia nhập vào xứ Tần hầu mong tránh xung đột thêm. Thời kỳ độc lập tạm thời kết thúc ở giữa thế kỷ 19, khi đất nước bị thực dân Pháp xâm chiếm ở Đông Dương (1945-1954).[7]

Khi thực dân Pháp xâm nhập vào Việt Nam giữa thế kỷ 19, sự thống nhất của nền kinh tế nông nghiệp và sinh hoạt được chia theo kiểu địa phương hoá. Tuy nhiên thực dân Pháp vẫn cố tình phát triển các vùng một cách khác biệt, củng cố miền Nam để sản xuất nông nghiệp và miền Bắc về công nghiệp. Mặc dù có sự thổi phồng về sự phát triển khu vực như xuất khẩu - than từ miền Bắc, gạo từ phía Nam – sự nhập khẩu hàng hóa của Pháp đã khuyến khích rất nhiều nền thương mại nội bộ.

Khi Việt Nam bị phân chia thành 2 miền Bắc và Nam năm 1954, họ cũng đã cảm nhận sự khác biệt về chính trị: cộng sản ở miền Bắc và tư bản ở miền Nam. Kể từ đó cuộc chiến tranh đã phá hoại trầm trọng nền kinh tế của Việt Nam.

Bắc, Nam, và Trung Việt Nam trong lịch sử được phân chia bởi sự khác biệt về địa phương và ngôn ngữ. Nhưng đến giữa thế kỷ 19 và bắt đầu thời kỳ thuộc địa Pháp, nền kinh tế ấy vẫn nghiêng về nông nghiệp và sinh hoạt được chia theo làng mạc.

[img=right] http://www.khoahoc.net/photo/quehuongtoi-2.gif[/img=right]
Trước khi trở thành thuộc địa Pháp, nông nghiệp luôn luôn là nền tảng của đất nước. Văn hoá lúa gạo bắt đầu ở vùng đồng bằng sông Hồng với sự phát triển của đê điều. Việt Nam trở thành cái nôi của lâm sản và cũng là một hàng hóa cống hiến cho Trung Quốc trong thời gian chiếm đóng của họ cho đến thế kỷ thứ mười. Các triều đại của thời độc lập của Việt Nam từ thế kỷ thứ mười đến mười chín, do hệ tư tưởng Nho giáo, hỗ trợ nông nghiệp là nền tảng của xã hội. Người nông dân, các quan chức và người thân của hoàng gia đều được cấp đất. Quyền sở hửu đất đai được đảm bảo bằng pháp luật. Đất đai có thể được chuyển giao, bán hoặc thế chấp. Sản phẩm xuất ra từ các vùng đất sẽ bị đánh thuế và thu thập được trong kho thóc để dành dự bị nếu nạn đói có thể xãy ra, chiến tranh hoặc thảm họa thiên tai. Thương mại và thị trường hoạt động tự do theo luật pháp và trở thành nguồn lợi tức quốc gia từ thuế má. Lưu chuyển tiền mặt hoặc tiền xu đã được sử dụng bởi cả Trung Quốc và Việt Nam. Tiền giấy bắt đầu xuất hiện từ các triều Lê (1428-1788). Các thương nhân lớn Trung Quốc được phép trao đổi hàng hoá với Việt Nam. Trong thế kỷ 18, thương nhân châu Âu đến Việt Nam. Hãng công ty Đông Ấn (Dutch Esast Indies) VOC đã làm nghành thương mại sầm uất vào những triều đại thuộc chúa Nguyễn. Vũ khí phương Tây trở thành sản phẩm nổi bật nhất trong hoạt động kinh tế ở thế kỷ 17.

Tuy nhiên tình hình kinh tế của Việt Nam luôn chịu áp lực từ chiến tranh và thiên tai. Nạn đói xảy ra nhiều lần, từ thế hệ này đến thế hệ khác. Nhờ việc mở rộng đất đai của chúa Nguyễn về phía nam, sự di dân Việt và binh sĩ được gửi đi để mở vùng đất mới chiếm ở đồng bằng sông Cửu Long.

Trong thời thuộc địa, người Pháp cần nguyên liệu và tìm thị trường để tiêu thụ hàng hóa Pháp sản xuất. Họ thực hiện một kế hoạch phát triển khu vực miền bắc và nam một cách riêng biệt. Miền Nam Việt Nam phù hợp hơn cho nông nghiệp và tương đối nghèo về tài nguyên công nghiệp nên được phát triển về nông nghiệp trong khi miền Bắc giàu có thiên nhiên về tài nguyên khoáng sản nên được chọn là khu vực tập trung công nghiệp để phát triển.

[img=left]http://www.khoahoc.net/photo/quehuongtoi-3.gif[/img=left]
Người Pháp muốn duy trì sự kiểm soát chặt chẻ thuộc địa họ bằng cách bóp méo nền kinh tế cơ bản của Việt Nam, bằng cách nhấn mạnh về sự khác biệt khu vực kinh tế. Ở miền Bắc, trong khi việc dẫn nước tưới lúa vẫn là chính yếu thì Pháp lại đề nghị trồng trọt cà phê, chè, bông vải và thuốc lá. Chính quyền thuộc địa cũng phát triển một số ngành công nghiệp khai khoáng, chẳng hạn như mỏ than, sắt, và kim loại. Ngành công nghiệp đóng tàu được bắt đầu tại Hà Nội; và đường sắt, đường giao thông, trạm điện, và các công trình thuỷ lợi được xây dựng. Tại miền Nam, nông nghiệp phát triển tập trung vào việc trồng lúa, gạo và cao su là mặt hàng chính của xuất khẩu. Thương mại trong nước và ngoài nước được tập trung xung quanh khu vực SàiGòn-Chợ Lớn. Công nghiệp ở miền Nam bao gồm chủ yếu là các nhà máy chế biến thực phẩm và nhà máy sản xuất hàng tiêu dùng.

Sự phát triển của xuất khẩu - than từ miền Bắc, gạo từ phía Nam - và nhập khẩu hàng hóa của Pháp sản xuất, tuy nhiên, khuyến thích thương mại nội bộ. Một mô hình phát triển thương mại, theo đó gạo từ miền Nam được chuyển ra Bắc để đổi lấy than và hàng hóa sản xuất nhập vào Nam.

[img=right]http://www.khoahoc.net/photo/quehuongtoi-4.gif[/img=right]
Trong Thế chiến thứ II, Đế quốc Nhật Bản trục xuất người Pháp ra khỏi Việt Nam rồi tiếp tục thôn tính nước ta, mặc dù họ vẫn còn giữ lại vài cố vấn cao cấp Pháp trong thời gian chiếm đóng của họ. Sau chiến tranh, Pháp cố gắng thiết lập lại chế độ thực dân của mình nhưng cuối cùng bị thất bại trong Chiến tranh Đông Dương. Hiệp định Genève 1954 chia đất nước Việt Nam làm hai với một lời hứa hẹn của cuộc bầu cử dân chủ để thống nhất đất nước. Tuy nhiên, thay vì sự thống nhất đất nước đem lại thanh bình cho người dân thì sự phân chia lảnh thổ Nam Bắc đã dẫn đến chiến tranh nội bộ Việt Nam. Trong thời gian nội chiến này Trung Hoa và Liên Xô hỗ trợ miền Bắc trong khi Hoa Kỳ hỗ trợ miền Nam gây nên hàng triệu người đã hi sinh cho cuộc chiến tranh ý thức hệ - cộng sản và quốc gia. Cuộc chiến tranh tương tàn sát hại đồng bào, anh em cùng máu mủ với nhau được chấm dứt với sự sụp đổ của Sài Gòn vào tay CS Bắc Việt ngày 30 tháng 4 năm 1975. Khi nước Việt Nam được thống nhất thì lại tiếp tục bị đàn áp nội bộ và quốc tế cô lập về kinh tế cũng chỉ vì chiến tranh lạnh và sự xâm lược của CS Việt Nam qua biên giới Campuchia. Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam thay đổi chính sách kinh tế của họ và bắt đầu bắt chước Trung Quốc cải cách kinh tế thị trường và mở cửa cho ngoại quốc và Việt Kiều vào đầu tư. Từ giữa năm 1980, nền kinh tế Việt Nam được tăng trưởng một mức đáng kể và cũng giảm đi phần nào sự đàn áp chính trị, mặc dù dư luận hải ngoại vẫn luôn tố cáo CS về sự tham nhũng cũng như vi phạm nhân quyền tại VN.

Hội nghị Genève năm 1954 kết thúc sự hiện diện của Pháp tại Việt Nam và phân chia đất nước thành hai quốc gia ở vĩ tuyến 17, đang chờ quốc tế giám sát một cuộc bầu cử tự do trên cơ sở thống nhất của đất nước. Ông Ngô Đình Diệm, một cựu sĩ quan cũng là một người Công giáo thuần túy và nặng về Nho giáo, được cựu Bảo Đại chọn làm Thủ tướng nước Việt Nam. Ông Bảo Đại là vì vua cuối cùng của nhà Nguyễn đã bị Việt Minh thoái vị từ muà thu năm 1945. Đến năm 1949 chính phủ Pháp đưa ông về Việt Nam để nhận chức Quốc trưởng tháng 7 năm 1954. Trong khi ông Diệm cố gắng giải quyết sự khác biệt giữa các dân quân vũ trang ở miền Nam với chương trình Ấp Chiến lược, Bảo Đại đã được thuyết phục để giảm bớt quyền lực của mình. Từ đó Thủ tướng Ngô Đình Diệm được sự ủng hộ của Hoa Kỳ ông bắt đầu chống đối Quốc trưởng. Ông Diệm tổ chức cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 23 tháng 10 năm 1955 để lật đổ Bảo Đại và tự tuyên bố là Tổng thống của nền Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam. Chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) được chính thức tuyên bố tại Sài Gòn ngày 26 tháng 10 năm 1955. Hoa Kỳ bắt đầu cung cấp viện trợ quân sự và kinh tế cho VNCH, đào tạo quân lực VNCH và đưa các cố vấn Hoa Kỳ vào Việt Nam để hỗ trợ xây dựng hạ tầng cơ sở cho chính phủ mới. Cũng trong năm 1954, lực lượng Việt Minh chiếm miền Bắc Việt Nam theo quy định Genève. Hai triệu dân Bắc Việt di cư đến miền Nam Việt Nam để tránh chế độ Cộng sản miền Bắc. Đồng thời, lực lượng vũ trang Việt Minh từ miền Nam Việt Nam cũng đã được di chuyển về miền Bắc Việt Nam, cũng theo Hiệp định Genève. Tuy nhiên, một số cán bộ cao cấp Việt Minh bí mật ở lại miền Nam để theo dõi chặt chẽ tình hình địa phương. Nhân vật quan trọng nhất trong số những người ở lại là Lê Duẩn.

[img=left]http://www.khoahoc.net/photo/quehuongtoi-5.gif[/img=left]
Hiệp định đình chiến Genève qui định một cuộc bầu cử để xác định chính phủ một nước Việt Nam thống nhất. Tuy nhiên, chỉ có Pháp và Việt Minh chịu ký kết hiệp định trong khi Hoa Kỳ và chính phủ Ngô Đình Diệm từ chối không chấp nhận thỏa thuận, vì e sợ rằng Hồ Chí Minh sẽ giành chiến thắng trong cuộc bầu cử do sự nổi bật về kinh nghiệm chiến tranh của ông ta và có thể sẽ thiết lập chủ nghĩa cộng sản trên toàn lảnh thổ Việt Nam. Ông Ngô Đình Diệm đã dùng một số biện pháp mạnh mẽ để bảo vệ miền Nam Việt Nam vì nhận thức được mối đe dọa nội bộ. Ông loại bỏ hay kêu gọi về hợp tác những lực lượng võ trang Bình Xuyên, và các giáo phái tôn giáo Cao Đài và Hòa Hảo. Trong tháng 10 năm 1955, ông truất phế Bảo Đại và tự xưng tổng thống và thành lập nền đệ nhất Cộng Hòa Việt Nam, sau khi gian lận sự trưng cầu dân ý. Ông đàn áp bất kỳ phe đối lập chính trị nào, bắt giữ các nhà văn nổi tiếng như Nguyễn Tường Tam, là người đã tự tử trong tù trong khi chờ xét xử. Ông Diệm cũng hành động tích cực để loại trừ các đối tác cộng sản vẫn còn hiện hữu ở miền Nam. Ông thành lập Đảng Cần Lao Nhân Vị, hòa đồng triết lý cá nhân và lao động phỏng theo mô hình tổ chức kiểu Đảng Cộng sản, mặc dù lập trường chống Cộng và giới Công giáo vẫn tiếp tục ủng hộ Ông. Một chính sách gây nhiều bàn cãi là « Ấp chiến lược » với mục đích chính là nhằm để xây dựng và củng cố làng xã để đề phòng chống Cộng sản. Tuy nhiên, chính sách này đã không có hiệu quả như sự mong muốn vì trên thực tế cộng sản trà trộn vào thường dân và với trực quan thường không thể phân biệt được họ. Chương trình này trở thành kém phổ biến vì nó hạn chế quyền tự do của dân làng và thay đổi cách sống truyền thống của họ.[10] Chapter 13

Năm 1960, tại Đại hội thứ ba của Đảng Cộng sản Việt Nam – sự biến thể của Đảng Lao động từ năm 1951, Lê Duẩn dự họp từ miền Nam ra và mạnh mẽ ủng hộ việc sử dụng chiến tranh cách mạng để lật đổ chế độ ông Diệm, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa Mác-Lênin vào toàn cõi Việt Nam. Mặc dù một vài thành viên trong Đảng chống đối việc sử dụng vũ lực để chống chính quyền miền Nam, Lê Duẩn vẫn giành được chức đệ nhất Bí thư của Đảng. Vì chủ tịch Hồ Chí Minh đã lão hóa cho nên Lê Duẩn hầu như đã lấy hết quyền lực từ Cụ Hồ. Bước đầu tiên của kế hoạch chiến tranh hoá của ông đã được phối hợp bởi một cuộc khởi nghĩa nông thôn ở miền Nam (Đồng Khởi) và lập nên Mặt trận Dân tộc Giải phóng Việt Nam (giải phóng) vào cuối năm 1960. Nguyễn Hữu Thọ, một luật sư miền Nam được giao chức lãnh đạo bù nhìn của Mặt trận giải phóng vì quyền hành thực sự thuộc vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Vũ khí, phương tiện và quân đội được mang từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam thông qua đường mòn Hồ Chí Minh, xuyên qua nội địa Lào và Campuchia trước khi vào miền Nam. Nhờ sự viện trợ mạnh mẽ của những nước như Trung Quốc và Liên Xô. Lê Duẩn tách xa chính sách « duyệt xét lại » của Nikita Khrushchev. Tuy nhiên dưới chế độ Leonid Brezhnev, Liên Xô viện trợ ồ ạt và cung cấp cho Bắc Việt Nam với nhiều vũ khí hạng nặng, như T-54 xe tăng, pháo binh, máy bay siêu thanh phản lực MIG, tên lửa chống hàng không, v.v.v.

[img=right]http://www.khoahoc.net/photo/quehuongtoi-6.gif[/img=right]
Trong khi đó, tại miền Nam Việt Nam, mặc dù cá nhân Ngô Đình Diệm rất được dân chúng tôn trọng, nhưng ông vẫn duy trì một chế độ gia đình trị và độc tài. Cuộc bầu cử gian lận và ông Diệm thường xuyên đối xử một cách biệt đãi với đồng bào Công giáo trên nhiều phương diện. Chính sách đàn áp tôn giáo của ông gây ra hàng loạt biểu tình của cộng đồng Phật giáo sau khi 8 người biểu tình bị thiệt mạng trong cuộc đàn áp vào ngày Phật đản 7 tháng 5 năm 1963 tại Huế trong khi họ phản đối lệnh cấm trưng lá cờ Phật giáo của ông Diệm. Sự cố này khơi dậy hàng loạt biểu tình kêu gọi sự bình đẳng tôn giáo. Trường hợp nổi tiếng nhất của Hòa thượng Thích Quảng Đức, người tự thiêu cho đến chết để phản đối sự đàn áp của ông Diệm. Các hình ảnh của sự kiện này làm dư luận trong nước cũng như ngoại quốc chống đối cực điểm. Trước dư luận quốc tế ông Diệm khó mà biện minh chính sách kỳ thị tôn giáo của ông. Sự căng thẳng này chưa được giải quyết thì vào ngày 20 Tháng 8 một lực lượng cảnh sát đặc biệt trung thành với cố vấn Ngô Đình Nhu dưới sự chỉ huy của tướng Lê Quang Tùng đã đột kích vào chùa Xá Lợi, Ấn Quang và nhiều ngôi chùa Phật giáo miền Nam làm nhiều người thiệt mạng. Tại Hoa Kỳ, chính quyền Kennedy rất lo ngại rằng các nổ lực chống Cộng của Mỹ ở Đông Nam Á đã bị chế độ Diệm phá hoại. Nói cách khác là ông Diệm không muốn Mỹ thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam theo chiến lược Domino của họ. Vào ngày 1 Tháng 11 năm 1963, các tướng lĩnh miền Nam Việt Nam do tướng Dương Văn Minh thiết kế một cuộc đảo chính lật đổ (coup d'etat) ông Diệm vì tin tưởng rằng Hoa Kỳ sẽ không can thiệp hoặc cắt đứt viện trợ Việt nam. Cả hai ông Diệm và ông Nhu đều bị giết chết trong lúc 2 sĩ quan thuộc hạ của tướng Dương Văn Minh - đại uý Nhung và thiếu tá Nghĩa hộ tống hai ông từ nhà thờ Cha Tam (Saint Francois-Xavier) về Bộ Tổng Tham Mưu để hội đồng quân nhân cách mạng xét sử.[1]

Giữa năm 1963 và 1965, tình hình chính trị tại miền Nam cực kỳ bất ổn vì không có chính phủ chính thức để có thể ổn định tình hình quốc gia lâu dài. Tiếp theo đó có nhiều cuộc đảo chính xảy ra nhiều lần trong năm – tướng Nguyễn Khánh, tướng Trần Thiện Khiêm và tướng Cao Văn Viên muốn lật đổ nhóm ông Dương Văn Minh và Trần văn Đôn tháng 1 năm 1964 và kết quả sau đó là tướng Khiêm bị bắt buộc lưu vong. Trong khi đó quân giải phóng miền Nam lợi dụng tình thế hổn loạn chính trị mở rộng địa bàn hoạt động của họ và ghi nhận được nhiều thành quả quân sự quan trọng. Năm 1965, Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đưa quân tới miền Nam để bảo đảm an ninh trong chiến dịch “Ngăn chận Cộng sản” (containment policy) và bắt đầu ném bom đe doạ miền Bắc vì nghĩ rằng nếu miền Nam rơi vào tay Cộng sản thì các quốc gia khác ở Đông Nam Á sẽ bị cộng sản hoá theo lý thuyết Domino. Các đồng minh của Mỹ như Úc, Tân Tây Lan, Nam Hàn, Thái Lan, Phi luật Tân và Đài Loan cũng gửi quân tới Nam Việt Nam. Mặc dù quân đội Mỹ thành công trong công việc chặn đứng các lực lượng cộng sản và với sự hiện diện của quân đội nước bạn, các vụ đánh bom bành trướng rộng rãi trên khắp miền Nam và các tệ nạn xã hội cũng bành trướng xung quanh các căn cứ Mỹ làm chạm tự ái về lòng tự hào dân tộc của nhiều người Việt, Bắc lẫn Nam, gây ra rất nhiều thù ghét Mỹ để từ đó những thành phần này trở nên có cảm tình với Bắc Việt và quân giải phóng.

Ngày 9 tháng 3 năm 1966, Tổng Tư lệnh Không quân Nguyễn Cao Kỳ và Tướng Nguyễn Văn Thiệu nắm quyền một cuộc đảo chính và lập ra « nội các Chiến tranh » để ổn định chính trị và hứa sẽ tổ chức một cuộc bầu cử dưới áp lực của Mỹ.

[img=left] http://www.khoahoc.net/photo/quehuongtoi-7.gif[/img=left]
Năm 1967, miền Nam Việt Nam thi hành một cuộc bầu cử Quốc hội và tổng thống. Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu được bầu vào chức Tổng thống, đưa chính quyền miền Nam vào mức độ ổn định về chính trị hơn.

Tuy nhiên, trong năm 1968 quân giải phóng phát động một chiến dịch lớn bất ngờ tấn công tất cả các thành phố lớn miền Nam trong dịp Tết (Biến cố Tết Mậu Thân hay ở miền Bắc gọi là "Tổng Tấn Công’’-vi phạm hiệp định ngưng bắn) trong khi người dân đang vui Tết và quân đội được nghĩ phép thăm gia đình. Quân giải phóng và C.S Bắc Việt chiếm thành phố Huế, sau biến cố Mậu Thân nhiều ngôi mộ tập thể đã được tìm thấy nơi đây. Nhiều người trong số các nạn nhân tìm thấy có quan hệ với chính quyền miền Nam hay cộng sự viên Mỹ (Thảm Sát Tết Mậu Thân). Chỉ một thời gian ngắn sau Tết Mậu Thân các lực lượng giải phóng bị đẩy ra khỏi tất cả các thành phố ở miền Nam và hầu như bị tiêu tán gần hết. Những năm sau đó quân chính quy Bắc Việt với pháo binh và xe tăng hùng hậu lần lượt đưa vào miền Nam để chuẩn bị những cuộc đại tấn công. Cũng vài tháng sau biến cố Tết Mậu Thân, một đơn vị lính Mỹ đã tàn sát 347 dân làng và trẻ em vô tội ở Mỹ Lai miền Trung vì họ tình nghi là có du kích Việt Cộng trà trộn trong dân chúng, sự cố nầy gây ra nhiều phẩn nộ và phản đối cực kỳ của dư luận khắp thế giới. Sau vụ điều tra của chính phủ Mỹ thời bấy giờ, họ chỉ buộc tội thiếu uý William Calley, đơn vị Charlie và kết án 2 năm tù. Thật tội nghiệp cho 347 thường dân vô tội bị thảm sát và được trả giá bằng 2 năm tù của một thiếu uý Mỹ.

Năm 1969, Hồ Chí Minh qua đời với ước vọng là cơ thể của ông được hỏa táng. Tuy nhiên, đảng Cộng sản vẫn ướp cơ thể của Ông để trưng bày trước công chúng và xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trên Quảng trường Ba Đình tại Hà Nội theo đúng phong cách của Lăng Lenin tại Moscow.

Mặc dù cuộc biến cố Tết Mậu Thân là một sự thất bại quân sự nặng nề cho Việt Cộng, nhưng đó là một chiến thắng chính trị tuyệt vời cho miền Nam vì nó chuyển một thông điệp cho Mỹ hiểu rằng chiến tranh chống Cộng không thể thắng dễ dàng. Tổng thống Mỹ Richard Nixon (68-72) vào văn phòng làm việc với một cam kết là sẽ chấm dứt chiến tranh với « danh dự ». Ông muốn bình thường hóa quan hệ Mỹ với Trung Quốc vào năm 1972 và làm bớt căng thẳng với Liên Xô (chiến tranh lạnh). Như vậy là Nixon đã lợi dụng một chiến lược mới để đối phó với khối Cộng sản, lợi dụng việc rạn nứt giữa Trung Quốc và Liên Xô. Làm đồng minh với một Trung quốc vẫn có lợi hơn Việt Nam vì cuộc chiến quá tốn kém ở Việt Nam bắt đầu bị kém hiệu quả cho vấn đề ngăn chận cộng sản. Nixon đề nghị "Việt Nam Hoá Chiến Tranh" với chủ trương dùng quân đội miền Nam để ngăn chận sự bành trướng của Cộng sản xuống khu vực Đông Nam Á, nhưng vẫn tiếp tục nhận viện trợ Mỹ (1.1 tỉ US những năm 1970-74 xuống 700 triệu cho tài khoá năm 74-75) và nếu cần thiết sẽ được Mỹ hổ trợ về không quân và hải quân. Chiến lược mới bắt đầu được thể hiện thì gặt hái được một số thành quả, vào năm 1970, quân đội Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) thực hiện thành công cuộc tấn công đánh phá các căn cứ Bắc Việt tại Campuchia; năm 1971 Quân Lực VNCH thực hiện được một vụ tấn công vào Nam Lào để cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh trong Chiến dịch Lam Sơn 719, nhưng kém hiệu quả ở các vị trí cao độ bị chiếm giữ bởi pháo binh mạnh mẽ của quân Bắc Việt (căn cứ Tchépone). Mùa hè đỏ lửa năm 1972, Quân Lực VNCH tổ chức thành công chiếm lại thị trấn An Lộc từ tay quân chính quy Bắc Việt và tái chiếm lại thị xã Quảng Trị gần khu phi quân sự ở miền Trung Việt Nam trong cuộc Tổng tấn công Phục Sinh.

[img=right]http://www.khoahoc.net/photo/quehuongtoi-1-8.gif[/img=right]
Đồng thời, Nixon cũng làm áp lực Hà Nội và Sài Gòn để ký Hiệp định Ngưng Bắn Paris năm 1973, để cho các lực lượng quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam. Mỹ làm áp lực Hà Nội bằng các vụ đánh bom Giáng sinh năm 1972. Tại miền Nam ông Nguyễn Văn Thiệu luôn phản đối chính sách hoà giải dân tộc với bất kỳ người Cộng sản nào và đã bị Mỹ đe dọa là rút các khoản viện trợ vào Việt Nam.

Tháng 3 năm 1973 Hiệp định Tái Ngưng bắn và tái lập hoà bình có hiệu lực, nhưng ngay sau đó quân CS mở cuộc bao vây tấn công vào đồn Tống Lê Chân trong phạm vi QĐ 3 Biệt Động quân trú đóng, Bắc Việt vẫn tiếp tục leo thang chiến tranh như đã dự định trước bởi Lê Duẩn và QLVNCH vẫn cố gắng chiếm lại vùng lãnh thổ bị mất. Tại Mỹ, Nixon từ chức sau khi vụ bê bối Watergate. Miền Nam Việt Nam được xem như là mất đi sự ủng hộ mạnh mẽ từ phía Mỹ. Theo Tổng thống Gerald Ford tiếp nối Richard Nixon cho biết Đảng Dân Chủ đang nắm quyền ở Mỹ đã trở nên dè dặt hơn về vấn đề viện trợ quân sự cho miền Nam.

Năm 1974, quân đội miền Nam đã chiến đấu khán cự lại Trung Quốc nhưng vẫn bị mất Hoàng Sa trong lúc đang kiểm soát quần đảo này. Cả Bắc Việt và Mỹ đều không muốn can thiệp vào vấn đề tranh chấp lảnh thổ nầy.

Đầu năm 1975, quân đội Bắc Việt Nam do tướng Văn Tiến Dũng phát động một cuộc tổng tấn công lớn vào các tỉnh Tây Nguyên như Buôn Mê Thuột (thủ phủ của Tây Nguyên mất vào CS ngày 13-3-75), Đắc Lắc và Phước Long (07-01-75). Quân đội Việt Nam Cộng Hoà đã dự đoán cuộc tấn công vĩ đại nầy vì quân CS được trang bị rất tối tân để mong chiếm lãnh Ban Mê Thuột cho nên Bộ tổng Tham Mưu ra lệnh rút quân về phòng thủ các tỉnh lân cận như Kontum và Pleiku. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh di chuyển toàn bộ quân đội từ miền Trung về các khu vực ven biển, cũng như viện trợ Mỹ bị thu hẹp lại, các lực lượng miền Nam Việt Nam không có khả năng duy trì vì thiếu tiếp tế và yểm trợ. Tuy nhiên, do thiếu hậu cần tiếp viện và mất liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu cộng với hoả lực phòng không quá mạnh mẽ của quân CS trong một thời gian quá ngắn, trong lúc thực hiện cuộc hành quân triệt thoái toàn bộ Quân đoàn 2 (do thiếu tướng Phạm Văn Phú làm Tư Lệnh) đã sa lầy trên những con đường núi hẹp, hàng ngàn người dân sự đè giẩm lên nhau để trốn nạn và bị phục kích trên đường di tản. Các đơn vị binh chủng khác nhau đã bị cắt tín hiệu truyền tin hay nhận được lệnh rút quân rất mâu thuẫn từ Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn về việc có nên chiến đấu hay rút lui, và cuối cùng Ban Mê Thuột và Đắc Lắc rơi vào tay CS một cách quá dễ dàng. Số thường dân cố gắng chạy trốn vào Sài Gòn qua đường bộ, hàng không và đường biển bị chết dọc đường không kém số thương vong của quân đội. Tôi nhớ Đại Tá Phạm Bá Hoa có nhận định trong cuốn hồi ký của ông là “ai chiếm giữ được Cao nguyên miền Trung, người đó sẽ nắm phần chiến thắng...”.

Vào đầu tháng 4 năm 1975, miền Nam Việt Nam thiết lập một tuyến đường phòng thủ cuối cùng tại Xuân Lộc dưới sự chỉ huy của thiếu tướng Lê Minh Đảo. Hai sư đoàn Bắc Việt đã bị thất bại nặng nề trong việc xâm nhập đường bộ vì gặp sự kháng cự mãnh liệt cộng với việc sử dụng bom CBU của Mỹ – loại bom hút hết dưỡng khí - phải vòng xuống tấn công Biên hoà và đã bị thiệt hại nặng nề. Tổng thống Nguyễn văn Thiệu từ chức ngày 23-04-75 và trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương. Rồi một lần nữa ngày 27-04 quyền hành được trao vào tay đại tướng Dương Văn Minh.

[img=left]http://www.khoahoc.net/photo/quehuongtoi-1-9.gif[/img=left]
ĐT Dương Văn Minh là nhân vật chính lãnh đạo cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm năm 1963. Đến giữa thập niên 1970, ông đã ngang nhiên ủng hộ phía “Thành Phần Thứ Ba” hay “Trung lập”, các tướng lãnh nghĩ rằng, trung lập thì trước sau gì cũng thiên về phía CS. Quân Cộng sản trà trộn vào miền Nam cố gắng vận động đề xuất chính trị để cho tướng Dương Văn Minh lên chức Tổng thống, với hy vọng thuyết phục ông ngăn chặn cuộc chiến đổ máu cho Sài Gòn vào những ngày cuối của chế độ VNCH. Mặc dù nhiều đơn vị quân đội miền Nam vẫn còn sẵn sàng để bảo vệ Sài Gòn, và Quân Đoàn 4 Chiến thuật vẫn còn nguyên vẹn ở Đồng bằng sông Cửu Long, ông Dương Văn Minh vẫn ra lệnh đầu hàng vào ngày 30 Tháng 4 1975, hầu mong tránh sự đổ máu nếu Sài Gòn chống cự và sẽ bị tiêu diệt. Tuy nhiên, tai tiếng của quân đội Bắc Việt được cảm nhận như những kẻ phản bội lòng dân và hàng trăm ngàn người miền Nam chạy trốn khỏi đất nước để tìm tự do bằng tất cả các phương tiện: máy bay, trực thăng, tàu, thuyền đánh cá và xà lan. Hầu hết những người di tản tìm tự do đã được Hạm đội Hoa Kỳ ở biển Nam Trung Hoa tiếp đón hay đã hạ cánh ở Thái Lan. Những người tị nạn đường biển được biết đến như là "thuyền nhân". Trong một trường hợp nổi bật nhất là một phi công Việt Nam với vợ con trên chiếc máy bay Cessna nhỏ đã an toàn hạ cánh một cách kỳ diệu và sống sót mà không có một sự chuẩn bị nào trước (mail hook) trên tàu USS Midway.

Trong thời gian này, Bắc Việt là một nước xã hội chủ nghĩa với một nền kinh tế tập thể, một bộ máy an ninh rộng lớn để đảm bảo chế độ độc tài của giai cấp vô sản, một bộ máy tuyên truyền mạnh mẽ và hiệu quả để tập hợp những người hi sinh cho Đảng, một hệ thống tình báo tuyệt vời được gài vào chính quyền miền Nam - như điệp viên Phạm Xuân Ẩn, Huỳnh Ngọc Trọng và Vũ Ngọc Nhạ được cài vào trong chính phủ và chính sách đàn áp dữ dội những phe đối lập chính trị. Thậm chí một số cựu chiến binh và cán bộ cộng sản nổi tiếng như Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Hoàng Minh Chính đã bị ngược đãi trong thời gian cuối những năm 1950 với các sự kiện Nhân Văn Giai Phẩm và vụ hành xử năm 1960 với vụ án Xét Lại Chống Đảng. Tuy nhiên, cuộc điều chỉnh sắt thép này cùng với sự hỗ trợ từ Liên Xô và Trung Quốc, đã tạo cho Bắc Việt một lợi thế quân sự tại miền Nam. Các nhà lãnh đạo Bắc Việt cũng đã được nung đúc một lòng quyết tâm chiến đấu can trường ngay cả khi phải đối diện với số thương vong lớn và tàn phá hoàn toàn binh chủng của họ. Họ cũng rất ngây thơ yêu nước, sẵn sàng hy sinh cho giải phóng "miền Nam" và thống nhất "Tổ quốc".

Sau 30 tháng 4 năm 1975, không giống như Khmer Đỏ ở Campuchia, những người thắng cuộc miền Nam cam kết không có “sự đẫm máu”, nhưng trên thực tế hầu hết các quan chức chính phủ và quân nhân cũ đều được đưa tới các trại cải tạo.

Con đường xây dựng và phát triển miền Bắc được khởi sự từ sau khi chia đôi đất nước năm 1954. Nhưng phải đợi đến năm 1958 miền Bắc mới thực sự tiến hành « công cuộc cải cách xã hội chủ nghĩa ». Chính quyền thiết lập nền kinh tế chỉ huy, đồng nghĩa với « quốc hữu hoá » mọi ngành sản xuất, kiểm soát chặt chẽ việc phân phối hàng hoá bằng hệ thống mậu dịch quốc doanh. Người dân miền Bắc luôn sống trong sự nghèo khổ và thiếu thốn vật chất cho đến năm 1975…

Sau khi giải phóng, nhiều bộ đội Bắc Việt vào Nam, họ bị choáng váng và kinh ngạc với tầm vóc đồ sộ, nguy nga và sầm uất của miền Nam. Cán bộ bắt đầu nhận ra rằng họ đã bị nhồi sọ với tuyên truyền rằng người dân miền Nam đều nghèo khổ, bị khai thác bởi các đế quốc tư bản nước ngoài và đối xử như nô lệ. Trái ngược với những gì họ đã tưởng tượng, họ nhìn thấy một sự phong phú của miền Nam như thực phẩm và hàng tiêu dùng, quần áo thời trang, rất nhiều sách và âm nhạc tân thời. Những sản phẩm mà chưa bao giờ họ thấy ở miền Bắc.

Năm 1976, Việt Nam chính thức thống nhất và đổi tên thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), với thủ đô là Hà Nội. Đảng Cộng Sản Việt Nam thay thế "Đảng Lao động" và Bí thư thứ nhất, một thuật ngữ được sử dụng bởi Trung Quốc, cũng thay bằng chức Tổng thư ký, được sử dụng bởi Liên Xô, được giao phó cho Lê Duẩn. Mặt trận Giải phóng bị giải thể. Đảng tập trung vào sự phát triển công nghiệp nặng và tập thể hóa nông nghiệp. Trong vài năm tới, doanh nghiệp tư nhân sẽ bị tịch thu và đưa vào hợp tác xã, chủ cũ những doanh nghiệp này sẽ bị đưa đến khu kinh tế mới. Các nông dân bị cưỡng chế vào hợp tác xã do nhà nước kiểm soát. Vận chuyển thực phẩm và hàng hóa giữa các tỉnh bị cấm đoán và được coi là bất hợp pháp ngoại trừ chính phủ. Trong vòng một thời gian ngắn, Việt Nam bị rơi vào sự thiếu hụt trầm trọng về thực phẩm và các nhu cầu cơ bản. Đồng bằng sông Cửu Long, ngày xưa là một trong những vùng sản xuất gạo hàng đầu thế giới, ngày nay phải đối mặt với nạn đói.

Về quan hệ nước ngoài, CHXHCNVN trở nên liên kết ngày càng chặt chẽ với Liên Xô, bằng cách tham gia Hội đồng Kinh tế Mutual Assistance (COMECON), và ký kết một hiệp ước hữu nghị, mà thực ra là một liên minh quân sự với Liên Xô. Đây là thời điểm căng thẳng nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc đồng thời cùng với sự cạnh tranh của Trung Quốc với Liên Xô và xung đột bùng nổ ở Campuchia (là đồng minh của Trung Quốc). Việt Nam bị cô lập vì lệnh cấm vận thương mại của Hoa Kỳ và đồng minh của họ.

Nhiều người nắm giữ vị trí cao trong chính quyền miền Nam cũ, quân đội, trong giới văn học và tôn giáo, đều bị đưa đến các trại cải tạo, dưới hình thức là những trại tù lao động. Các điều kiện phi nhân tính và sự bạc đãi trong các trại tù này vẫn còn gây ra nhiều ấn tượng xấu và sự hiềm thù với chế độ mới sau nhiều thập kỷ.

Chính phủ CHXHCNVN thực hiện chế độ độc tài vô sản ở miền Nam như họ đã áp dụng ở miền Bắc. Mạng lưới của Công An kiểm soát mọi khía cạnh của đời sống nhân dân. Việc thành lập và kiểm tra "hộ khẩu" cũng như kiểm soát chặt chẽ mọi nguồn "lương thực và thực phẩm" để có thể quản lý mọi người dân trong từng khu vực của địa phương. Kiểm duyệt nghiêm khắc và cực kỳ bảo thủ cấm đoán trong lĩnh vực âm nhạc, nghệ thuật và văn học. Tất cả các tôn giáo được tái tổ chức lại cũng như nhà thờ và chùa chiền đều bị nhà nước kiểm soát. Bất cứ ai có ý kiến tiêu cực chống đối Đảng, chính quyền, Cụ Hồ, hay bất cứ điều gì liên quan đến chủ nghĩa CS đều bị gán vào tội « phản động » và sẽ bị trừng phạt với hậu quả khác nhau, có thể bị công an bỏ tù, bị trục xuất khỏi trường học hoặc nơi làm việc, thậm chí có thể mang bản án tử hình, vân vân.... Tuy nhiên, chính quyền Cộng sản không thể kiểm soát hết thị trường chợ đen là nơi mà thực phẩm, hàng tiêu dùng, và hàng văn học cấm vẫn có thể được mua với giá cao. Bộ máy công an cũng không ngăn nỗi một mạng lưới bí mật đưa người dân vượt biên trốn chế độ mới. Rất nhiều trường hợp, nhân viên an ninh đã được hối lộ và thậm chí có liên quan trong việc tổ chức vượt biên.

[img=right]http://www.khoahoc.net/photo/quehuongtoi-1-10.gif[/img=right]
Những điều kiện sống khó khăn bần cùng dẫn đến một cuộc di cư của hơn một triệu người Việt bí mật vượt biên bằng nhiều phương tiện như đường biển hoặc đường bộ qua Campuchia. Đối với những người chạy trốn bằng đường biển, tàu thuyền của họ thường không đủ sức chống trội với bão tố và không dự trữ lương thực và nước uống đầy đủ cho cuộc hành trình. Nhiều người đã bị bắt hoặc bị xử bắn bởi Công an duyên hãi Việt Nam, lớp người khác bỏ mạng trên biển do tàu thuyền chìm hay gặp bão tố, chết đói và khát. Nhưng mối đe dọa lớn nhất là cướp biển (hải tặc) trong vịnh Thái lan, nhiều thuyền nhân vượt biên bị cướp, hãm hiếp và sát hại thảm thiết. Rất nhiều trường hợp toàn bộ con tàu bị cướp giựt rồi bị tàn sát tập thể. Lắm khi phụ nữ bị hãm hiếp ngày trước rồi sau đó bị bán vào những ổ mại dâm ở Thái. Những người vượt biên bằng đường bộ qua Campuchia phải đối mặt với mối nguy hiểm không kém. Họ phải đối diện với Khmer Đỏ và du kích Serei Khmer khi qua các lĩnh vực khai mỏ. Có người tị nạn bị cướp, hãm hiếp và giết chết sau đó. Một số khác may mắn hơn chạy trốn sang các trại tạm cư ở Malaysia, Indonesia, Philippines, và Hồng Kông, trực chờ phái đoàn Liên Hiệp Quốc đến tuyển lựa để gửi đi đệ tam quốc gia. Nhiều trại nổi tiếng chứa người tị nạn Việt nam như Pulau Bidong ở Malaysia, Galang ở Indonesia, Bataan ở Philippines và Songkla ở Thái Lan. Cũng có một số ít thuyền nhân cố gắng đi khá xa như Úc châu với con thuyền bé lúc nhúc đông đúc dân tị nạn.

Hầu hết người tị nạn được tái định cư ở các nước khác trong vòng 5 năm, những người khác bị lưu giữ trong các trại lâu hơn một thập kỷ. Trong thập niên 1990, một số trường hợp đặc biệt nhiều người tị nạn đã không thể tái định cư ở một quốc gia thứ ba nên bị trục xuất về Việt Nam. Trong thời gian ấy các cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ, Canada, Úc, Pháp, Tây Đức và Anh hàng loạt gửi quà cứu trợ và những nhu cầu cần thiết khác như thuốc men, vải vóc, kem đánh răng, thức ăn khô và xà phòng về Việt Nam để giúp thân nhân với điều kiện kinh tế khó khăn. Nhiều người gửi tiền về Việt Nam bán chính thức với hối suất cao hơn so với giá thị trường của chính phủ Việt Nam. Một số ít gia đình may mắn khác được bảo lãnh sang ngoại quốc để ổn định.

Trong khi đó tình hình Việt Nam trở nên tồi tệ hơn do sự mất mát của 1.5 triệu quân và dân miền Nam cộng với cuộc di tản của hơn 1 triệu người tị nạn, trong đó có hàng chục ngàn chuyên gia, trí thức, kỹ thuật, và công nhân lành nghề.

Cuối năm 1978, sau nhiều cuộc tấn công lẻ tẻ của chế độ Pol Pot – còn gọi là Khmer Đỏ - vào lãnh thổ Việt Nam, Việt Nam trả đũa bằng cách đưa quân sang Cam Bốt để lật đổ Pol Pot. Các đảng dân chủ Campuchia mới được dựng ra với Heng Samrin làm Chủ tịch đều thân Việt nam. Quân Khmer Đỏ của Pol Pot liên minh với các lực lượng du kích không cộng sản do Norodom Sihanouk và Son Sann cầm đầu chiến đấu chống lại lực lượng Việt Nam và chế độ Phnom Penh mới. Một số quan chức cao cấp của chế độ Heng Samrin đầu những năm 1980 chống lại sự kiểm soát của Việt Nam đưa đến một cuộc thanh trừng loại bỏ Pen Sovan, Thủ tướng và Tổng thư ký của Cách mạng Đảng Nhân dân Campuchia. Cuộc chiến kéo dài đến năm 1989 khi Việt Nam rút quân đội và bàn giao chính quyền Campuchia lại cho Liên Hiệp Quốc. Cuộc xâm lược Việt Nam vào lãnh thổ Campuchia đã ngăn chận được cuộc diệt chủng của hàng triệu người Campuchia bởi Khmer Đỏ. Đầu năm 1979, Trung Quốc tràn xuống biên giới Việt-Hoa để "dạy cho Việt Nam một bài học" cho cuộc xâm lược Campuchia và ép bức làm nghĩa vụ của người Hoa đang sống tại Việt nam. Chiến tranh Trung-Việt tuy ngắn ngũi nhưng gây ra khá nhiều thương vong cho cả hai bên.

Giữa năm 1976 và 1986 đất nước thống nhất hoạch định tổ chức một nền kinh tế mới. Mặc dù mục tiêu chỉ định tăng gia sản xuất đề ra bởi phần hai của Kế hoạch 5 năm (1976-1981) nhằm mục đích thống nhất Nam Bắc và từ đó tăng lợi tức các ngành công nghiệp, nông nghiệp và thu nhập quốc gia. Nhưng mục đích không được thực hiện hiệu quả vì nền kinh tế ấy vẫn bị duy trì bởi những ổ sản xuất nhỏ cộng thêm năng suất lao động thấp, thất nghiệp, thiếu hụt vật ìiệu công nghệ, hàng tiêu dùng và thức ăn không đầy đủ.

Hiến pháp thứ ba của Việt Nam dựa trên ãơ sở Liên Xô được viết vào năm 1980. Đảng Cộng sản là đảng duy nhất được ghi trong Hiến pháp để đại diện cho người dân để lãnh đạo đất nước.

Năm 1980, phi hành gia Phạm Tuân đã trở thành người Việt Nam đầu tiên vùng châu Á được đi vào không gian trên Soyuz 37 của Liên Xô để phục vụ các trạm không gian Salyut 6.

Trong thời gian đầu những năm 1980, nhiều tổ chức người Việt hải ngoại được lập ra với mục đích lật đổ chính phủ Cộng sản Việt Nam thông qua các cuộc đấu tranh vũ trang. Hầu hết các nhóm đã cố gắng xâm nhập vào Việt Nam bằng đường bộ nhưng cuối cùng đã bị loại bỏ bởi an ninh Việt Nam và lực lượng vũ trang. Đáng chú ý nhất là tổ chức do Hoàng Cơ Minh từ Mỹ, Võ Đại Tôn từ Úc, và Lê Quốc Túy từ Pháp. Hoàng Cơ Minh đã bị giết trong một cuộc phục kích tại Lào. Võ Đại Tôn bị bắt bỏ tù và được thả vào những năm 1990. Lê Quốc Túy trốn thoát sang Pháp sau khi nhiều đồng chí của ông đã bị bắt và xử tử. Lê Quốc Túy sau đó qua đời tại Pháp bằng chất độc.

Trong suốt những năm 1980, Việt Nam nhận được gần 3 tỉ đồng US mỗi năm do viện trợ kinh tế và quân sự từ Liên Xô. Trao đổi thương mại với Liên Xô và với các quốc gia thuộc khối COMECON (Hội đồng Tương trợ Kinh tế). Một số cán bộ, nhận thấy được khuyết điểm của nền kinh tế nhân dân, bắt đầu bỏ nguyên tắc và mạo muội mạo hiểm để thử nghiệm việc kinh doanh tư nhân. Những nỗ lực đầu tiên của kinh tế thị trường này đều bị trừng phạt, nhưng những năm sau đó họ được xem như là người tiên phong của nền kinh tế thị trường.

Kế hoạch 5 năm thứ ba (1981-1985) được đề xướng ra sau đó một cách khiêm tốn hơn bằng cách hoà đồng giữa tư tưởng và thực dụng. Kế hoạch mới đặt trọng tâm vào sự phát triển của nông nghiệp và công nghiệp. Mỗi vùng được tự do lập kế hoạch và nâng cao kỹ năng quản lý (managerial skills) của các công chức chính phủ.

[img=left]http://www.khoahoc.net/photo/quehuongtoi-1-11.gif[/img=left]
Việt Nam rơi vào một khủng hoảng trầm trọng năm 1985 do một nền kinh tế còn quá thô sơ cộng với những thiếu sót và sai lầm của cơ chế tập trung, quan liêu và bao cấp. Người dân hai miền Nam Bắc bị rơi vào bước đường cùng của « xã hội chủ nghĩa ». Nước Việt Nam được xếp vào hạng nghèo đói và gần như lạc hậu nhất trên thế giới. Nhận thấy được khuyết điểm đó nên năm 1986 Việt Nam phát động một chiến dịch « đổi mới kinh tế » bằng cách cải cách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển tiếp từ một nền kinh tế « bao cấp » để biến thành hợp định (partnership) và kinh tế thị trường theo định hướng chủ nghĩa xã hội và được gọi là « nền kinh tế thị trường của xã hội chủ nghĩa ». Chương trình « đổi mới » tổng hợp kế hoạch kinh tế mới với kinh tế thị trường và khuyến khích tư nhân thành lập doanh nghiệp tư trong việc sản xuất hàng tiêu dùng và đầu tư nước ngoài, kể cả doanh nghiệp vốn nước ngoài.

Phải đợi đến năm 1988 người dân mới thấy sự khác biệt của « con đường đổi mới » sau khi chế độ « khoán » được đưa ra, theo đó mỗi nông dân được xem như một đơn vị kinh tế.

Đầu năm 1989, sau một năm mở cửa kinh tế chưa hoàn toàn, tôi trở về Việt Nam thăm lại quê hương sau 16 năm xa cách.

Chiếc AirBus 320 của Philippine Airline lượn trên bầu trời Tỉnh Long An trước khi hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Khi máy bay gần đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất dưới những ánh sáng đèn le lói không như hiện tại, lòng người không khỏi bồi hồi xúc động. Rồi máy bay từ từ đáp xuống lòng vui không tả xiết đến. Khi máy bay chạm xuống đường băng đa số Việt kiều trên máy bay la thét vui mừng vì đã thấy lại Việt Nam thân yêu ngày nào mà họ tưởng sẽ không bao giờ có cơ hội gặp lại. Cũng có nhiều người nhỏ những giọt nước mắt mừng vui…Hai bên đường băng vẫn tiêu điều với lô cốt hình bán vòng cung che mưa cho trực thăng quá cũ kỹ. Đó là những vết tích còn sót lại của sự hiện diện của quân đội Mỹ một thời tại Việt Nam.

Số người đi đón thân nhân lúc nhúc đông nghẹt tại phi trường so với số Việt kiều hồi hương. Điều mà tôi chưa bao giờ thấy ở những phi trường quốc tế khác. Sau thủ tục hải quan, rất ư luộm thuộm vì là năm đầu tiên Việt Nam mở cửa cho Việt kiều và người ngoại quốc vào Việt Nam cho nên việc kiểm soát rất gắt gao. Họ mở tung hành lý và khám xét, nhân viên hải quan lục lạo hành lý để kiểm tra, nhất là phim ảnh và sách báo, mà họ cho là văn hoá đồi truỵ nhập lậu vào Việt Nam. Nhưng tôi biết là họ muốn làm khó dể để kiếm thêm tiền mà thôi. Tôi không sợ gì cả, vì tôi không làm chính trị cũng không chống đối ai cho nên có gì đâu mà sợ. Nhiều người già cả, vì không muốn bị hỏi han lung tung khó khăn nên họ được thân nhân báo trước là nhét vài đô la vào thẻ thông hành (passport) thì sẽ được cho đi nhanh hơn. Chính những sự việc nhỏ vặt như thế người Việt hải ngoại đã tiếp tay vào việc tạo hiện tượng tham nhũng hối lộ phần nào tại khâu hải quan.

Ra khỏi phi trường, tôi gặp lại đầu tiên là gương mặt cha tôi sau đó là mẹ tôi và cả gia đình tôi, tôi nhận ra cha mẹ tôi đã có nhiều nếp nhăn hằn sâu trên trán. Em trai út của tôi rất ngỡ ngàng và xa lạ với tôi vì khi ra đi nó còn nằm trong nôi. Ba má tôi và gia đình mừng rỡ gặp lại tôi sau 16 năm không khỏi cảm động tay bắt mặt mừng. Không sao tả hết tình cảm tức thời lúc ấy, nhất là mẹ tôi.

Chiếc xe 4 bánh đưa tôi và gia đình về khách sạn Century trên 68A đường Nguyễn Huệ theo lệnh chính phủ lúc ấy. Sau tuần thứ hai tôi mới được về với gia đình và phải trình giấy tờ tạm trú với Công An Phường, cũng như những thủ tục khác liên quan...Xe chở chúng tôi len lỏi và lách qua hàng loạt xe đạp và xe gắn máy một cách khó khăn. Cảnh này tôi chưa từng thấy những năm 72. Cảm giác tôi lúc ấy khó diển tả được, tôi tưởng là mình vẫn còn nằm mơ, không ngờ sau 16 năm xa quê hương rồi giờ đây tôi đã có mặt ở tận quê hương mình. Cảnh vật và người xem ra cũng khá xa lạ. Trong lúc Ba Má tôi không ngừng hỏi han tôi về cách sống và làm việc ở Canada, hỏi thăm con cái, vân vân…nhưng đầu óc tôi lúc ấy vẫn không ngừng từ kinh ngạc này đên kinh ngạc khác. Thú thật lúc đầu tiên gặp những anh công an ở phi trường, tôi vẫn cố lánh mặt họ vì chưa quen. Ngày xưa khi còn ở Sài gòn mỗi khi đi đường tôi vẫn sờ sợ mấy anh cảnh sát chặn lại hỏi giấy tờ, phạt ẩu và đòi hối lộ. Ngày nay trở lại Việt nam tôi vẫn còn cảm giác ấy nhưng lại sợ hơn vì họ có thể giữ tôi lại Việt Nam bất cứ lúc nào, nếu họ muốn. Tôi cũng an tâm phần nào vì dù sao tôi vẫn là Việt kiều, với lại ngày nay trở về quê hương với tiền đô la xanh, với hối suất lúc ấy là 8,000 đồng cho mỗi đô, nên trong túi ít ra cũng có đủ tiền hối lộ công an nếu có chuyện gì xảy ra.

Từ phi trường về khách sạn phải đi qua trại Hoàng Hoa Thám và ra khỏi cổng « Bộ Tổng Tham mưu cũ », ngày nay trở thành công viên Hoàng Văn Thụ cho trẻ em chơi. Phố xá san sát, hàng quán tấp nập dọc theo đường Trường sơn làm lòng tôi bâng quơ vì tất cả đã đổi thay giống như ngôi nhà đã đổi chủ nên cách trang trí đã khác hẳn với thời kỳ tôi đi du học. Trường Quốc Gia Hành Chánh khang trang trên đường Trần Quốc Toản ngày xưa, nay trở thành nhà hát Hoà Bình đường 3 tháng 2 trình diễn văn nghệ và Dinh Độc Lập cũ, nay trở thành viện bảo tàng chiến tranh. Chỉ riêng Thảo Cầm Viên thì mấy con thú vẫn còn tồn tại … Đêm đêm tôi cùng gia đình đi xem văn nghệ ở Vườn Tao Đàn hay hí viện Hoà Bình, nhạc xanh vừa được thay thế nhạc đỏ với giọng ca truyền cảm của ca sĩ Cao Minh và chị Hồng Ngọc. Ba Mẹ tôi lại thích cải lương, vì đất nước vừa mới mở cho nên mọi người háo hức đi rạp Trần Hưng Đạo để xem những vở tuồng cải lương vang tiếng một thời với nghệ sĩ Ngọc Giàu, Bảo Quốc, Lệ Thuỷ, Minh Phụng, Thanh Thanh Tâm , Vũ Linh, Tài Linh, vân vân…Lúc ấy chỉ có vài phòng trà được phép mở cửa như Đêm Màu Hồng nằm trên đường Nguyễn Huệ, Caravelle trên đường Tự Do và Rạp Rex…Nói chung nét sinh hoạt về đêm ở Sài gòn khá nhộn nhịp và sống động. Quán nhậu bình dân mọc ra nhan nhãn, nhất là khu Thanh Đa cuối đường Hồng Thập Tự nối dài với đủ loại bia nhập như Heineken, Kirin, Budweiser, Fosters, Bia Saigon xanh, Saigon đỏ, bia 33, vân vân….

Ấn tượng đầu tiên của tôi ở Việt Nam là người đông hơn, sinh hoạt tấp nập hơn nhưng dân tình có vẻ nghèo hơn xưa. Nhưng mỗi khi chiều đến dân chúng kéo ra ngồi ngoài tiệm hay nhà hàng để nhậu nhẹt khắp nơi, khác nhiều với ngày xưa…Có lẽ ngày nay dân tình thảnh thơi hơn vì không sợ bắt lính, tuổi trẻ năng động ăn chơi hơn, người cũng già đi vì phiền não…Lúc ấy chỉ có 2 trung tâm giải trí hiện ra ở Sàigòn như Suối Tiên và Đầm sen.

Tôi rất thích đọc sách. Trước khi về lại Canada tôi có đến nhà sách Khai Trí để mua một số sách và truyện xuất bản sau nầy với giấy đen đủi như mực.

Chúng tôi cũng có dịp tham quan Hà Tiên, Đà Lạt, Nha Trang, Vũng tàu, Đà Nẳng, Hội An và Huế. Nghỉ ngơi tại Sài gòn vài ngày sau đó tôi nóng lòng muốn về quê sớm nên 4 hôm sau chúng tôi lái xe trên quốc lộ 1A, quốc lộ 4 ngày xưa thẳng tiến về Sóc Trăng yêu dấu…Quê tôi là 1 trong 6 tỉnh miền cuối Việt gọi là Sóc Trăng miền Lục Tỉnh và phải qua hai con phà – Tiền giang trước Vĩnh Long và Hậu giang trước Cần Thơ. Đường xa lộ còn hẹp và rất nguy hiểm với lưu lượng xe đò xe gắn máy không kể người chăn bò, xe Honda 2 bánh chạy lềnh khênh trên xa lộ. Kèn được liên tục bấm inh ỏi nhưng đàn xe Honda vẫn thoải mái lái giữa xa lộ không cần biết xe hơi bấm còi.…Trước khi đến phà, cũng như ngày xưa người, xe Honda 2 bánh và xe cộ chen chúc xếp hàng đợi lên phà dưới trời nóng bức. Xe hơi 4 bánh được ưu tiên qua phà nhưng cũng phải mất trung bình hơn nửa tiếng để xếp hàng trước khi được lên phà.

Những vùng đồng quê của đồng bằng sông Cửu Long mà tôi có dịp đi qua cũng thay đổi khá nhiều. Nhiều tỉnh lộ và hương lộ được tráng nhựa nhưng chất lượng không được tốt như những xứ tân tiến. Đa số làng mạc đều có điện dẫn đến và truyền hình. Đây là sự tiến bộ đáng kể. Hai bên quốc lộ 1A lúa xanh mơn mởn mà trước kia vào mùa nầy là đất khô cằn cỗi, một phần cũng do chiến tranh. Một điều mà tôi chưa hoặc hiếm thấy ngày xưa…

Về đến Sóc Trăng đúng vào dịp Tết Nguyên đán, tôi tìm lại phần nào thời thơ ấu với pháo nổ dòn tai đêm Giao thừa. Nhưng nghe nói đó là lần cuối cùng được đốt pháo Tết vì tai nạn xãy ra rất nhiều do sự bất cẩn đùa giỡn khi đốt pháo của trẻ em. Hồ Nước Ngọt được sửa chữa rất nhiều để trở thành khu giải trí hạng nhất của tỉnh.

Tại Nha Trang và Đà Nẵng cũng như những nơi đến thăm, tôi đã gặp nhiều cựu chiến binh tàn tật bị bỏ quên, họ mang gậy đi xin từng đồng bạc của du khách qua đường, ở chùa chiền và những khu du lịch. Lòng tôi bùi ngùi và se lại, thương tiếc một thời oanh liệt huy hoàng của những người không may này còn kẹt lại Việt Nam…

Các chính sách « đổi mới » đã và đang có ảnh hưởng mạnh mẽ trên nhiều phương diện của kinh tế Việt Nam và nhất là kinh tế tư nhân. Vào năm 1990, sự cởi bỏ cấm vận hoàn toàn qua chuyến thăm chính thức sau 25 năm của tổng thống Mỹ Bill Clinton, sự thành công của doanh nghiệp tư và cải cách nông nghiệp đề ra dưới sự « đổi mới » có dấu hiệu tốt. Hơn 30,000 doanh nghiệp tư nhân đã được thành lập và nền kinh tế đang phát triển với một tốc độ hàng năm hơn 7% , và sự nghèo đói đã gần như giảm đi một nửa.

[img=left]http://www.khoahoc.net/photo/quehuongtoi-1-12.gif[/img=left]
Những năm sau 1990, 1994, 1999 và năm 2000 tôi cũng đã trở lại thăm quê. Cứ mỗi lần về thì thấy có sự khác biệt và tiến triển. Hai lần cuối tôi có dịp thăm Hà Nội và Hải Phòng lần đầu tiên để thăm quê vợ. Cha mẹ tôi cùng tháp tùng trong chuyến thăm miền Bắc này. Hà nội ba mươi sáu phố phường là nơi tôi vẫn nghĩ cả đời chắc chẳng bao giờ có dịp thăm viếng. Thế rồi ngày nay trở lại quê hương, mình có cái may mắn tham quan thủ đô cũ với chùa Một Cột, Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Văn Miếu, Vịnh Hạ Long, Hoa Lư Tam cóc. Phố xá Hà Nội không khác mấy khung cảnh Sàigòn có điều nhỏ hơn với nhà lầu, tiệm buôn, nhà hàng khách sạn, người người tấp nập và xe gắn máy…. Đi đâu cũng thấy sinh hoạt tấp nập nhưng người dân vẫn còn rất nghèo. Quốc gia và người dân rất cần dịch vụ du lịch và ngoại tệ đổ vào từ nước ngoài để cho kinh tế đất nước khấm khá hơn…Hai lần đến thăm Hà Nội tôi chỉ tiếc chưa được thăm chùa Hương mà thôi. Khi vào nhà ga Hà Nội để mua vé xe lửa trở về Sàigòn tôi mới vỡ lẽ là có 2 giá khác nhau – 70 đô cho dân trong nước và 140 đô cho Việt kiều và người ngoại quốc. Ngay những khu du lịch hay tham quan cho du khách cũng có 2 loại giá vào cửa. Chúng tôi trả cao gấp 2 lần dân địa phương. Bãi biển Mũi Né bắt đầu xuất hiện vài khu nghỉ mát như Bamboo Village, Palmira và Victoria Phan Thiết Resorts.

Sinh hoạt ở miền Nam lúc này có tiến triển và nhộn nhịp hơn, với hàng trăm ngàn Việt kiều về tấp nập về từ các nơi trên thế giới.

Một vài hãng xí nghiệp hợp tác ngoại quốc bắt đầu hoạt động tại Việt Nam như hãng nước ngọt Coca-Cola và hãng bia Chương Dương. Một đường hướng kinh tế mới bắt đầu thành hình và phát triển mạnh…

Để có một cái nhìn toàn diện về khả năng phát triển của Việt Nam ở hiện tại và trong tương lai, người ta phải xét qua nhiều phương diện – đầu tư nước ngoài (Foreign Direct Investment), sản xuất công nghiệp, xuất khẩu, nông nghiệp, dịch vụ, thị trường chứng khoán, bất động sản, tiềm năng du lịch, giáo dục thực tiễn, hạ tầng cơ sở, vân vân…

Cũng như những Việt Kiều sống tha hương, nếu không có ngày xưa ấy chắc hẳn chúng ta đang là những công dân xuất sắc cho xã hội. Nhưng người Việt Nam đi đến đâu cũng mang đức tính cần cù nhẫn nại chịu khó, và cũng là bí quyết thành công ở xứ người. Việt Nam hai tiếng thân thương mang theo trong lòng mỗi người Việt xa xứ.
Nguyễn Hồng Phúc – Sưu tầm & Nghiên Cứu ( xem tiếp phần 2 )



Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#698 Posted : Wednesday, February 9, 2011 9:22:47 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,154

Thanks: 6941 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
Việt Nam : Dự trữ ngoại tệ chỉ còn 10 tỷ đô la cuối 2010

UserPostedImage "Trong bản báo cáo công bố ngày 20/01/2011, Ngân hàng Hoa Kỳ - Bank of America thẩm định là trong quý một năm nay, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam vẫn tiếp tục giảm, chỉ còn ở mức tương đương gần một tháng nhập khẩu. Đến quý hai 2011, dự trữ sẽ tụt giảm, về cơ bản coi như mức số không – zero."
Đức Tâm, rfi
Theo Reuters, trích đăng tin báo chí trong nước hôm nay, ông Võ Hồng Phúc, bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư cho biết là vào cuối năm ngoái, 2010, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam chỉ còn vào khoảng hơn 10 tỷ đô la. Thông tin này làm tăng thêm lo ngại về sự sụt giảm mức dự trữ ngoại tệ của Việt Nam.
Ông Phúc không nói rõ chi tiết. Hơn nữa, số liệu chính xác về mức độ dự trữ ngoại tệ là bí mật nhà nước tại Việt Nam.
Dự trữ ngoại tệ bắt đầu giảm trong năm 2009 vào lúc Việt Nam phải đối mặt với các khó khăn kinh tế như : đồng tiền quốc gia bị mất giá, lạm phát tăng cao, thâm thủng cán cân thương mại nghiêm trọng.
Vào cuối năm 2008, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam là vào khoảng 24 tỷ đô la. Đến tháng 12 năm 2009, Ngân hàng Nhà nước ước tính, dự trữ giảm xuống còn 16 tỷ đô la. Đầu tháng Giêng năm nay, theo thẩm định của các ngân hàng ngoại quốc, thì con số này xuống dưới 12 tỷ đô la.
Từ giữa năm 2008 đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã 5 lần phá giá tiền đồng và theo giới chuyên gia thì sự tin tưởng vào đồng tiền quốc gia ở mức thấp.
Cuối năm ngoái, bất chấp áp lực lạm phát, chính quyền Việt Nam tuyên bố không hạ giá đồng tiền quốc gia vào trước Tết Nguyên Đán, đầu tháng hai này. Hôm qua, một chuyên gia thuộc công ty Dragon Capital, được Reuters trích dẫn, phỏng đoán là sau Tết, khi các thị trường trở lại hoạt động bình thường, có thể tiền đồng lại bị phá giá, ở mức độ thấp, nhằm giảm bớt chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá không chính thức.
Việt Nam dự tính sẽ có mức tăng trưởng từ 7 đến 7,5% trong năm nay vào lúc lạm phát trong tháng Giêng vừa qua lên tới gần 10%, thâm hụt cán cân thương mại và ngân sách tiếp tục tăng, áp lực hạ giá đồng tiền quốc gia ngày càng mạnh và dự trữ ngoại tệ ở mức thấp.
Trong bản báo cáo công bố ngày 20/01/2011, Ngân hàng Hoa Kỳ - Bank of America thẩm định là trong quý một năm nay, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam vẫn tiếp tục giảm, chỉ còn ở mức tương đương gần một tháng nhập khẩu. Đến quý hai 2011, dự trữ sẽ tụt giảm, về cơ bản coi như mức số không – zero.
Tu Bich  
#699 Posted : Wednesday, February 9, 2011 11:03:17 PM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Quyền lực chính trị đem đến giàu sang

Wednesday, February 9, 2011
Hà Tường Cát

Khi dân chúng Ai Cập trút phẫn nộ vào những biểu tượng của chế độ bằng sự đốt phá các trạm cảnh sát và trụ sở trung ương đảng cầm quyền của Tổng Thống Hosni Mubarak, thì tòa nhà tráng lệ trong một khu phố sang trọng cũng đặc biệt bị nhắm đến.

Người biểu tình nỗ lực, đến ba lần, để đốt nơi này.

UserPostedImage

Tổng Thống Hosni Mubarak (Hình: KHALED DESOUKI/AFP/Getty Images)
Bất mãn chế độ

Tòa nhà này là của một đại doanh gia ngành thép, cũng là nhân vật tay trong rất thân cận với chế độ, ông Ahmed Ezz, bạn thân và là người tin cẩn của Gamal Mubarak, con trai của Tổng Thống Mubarak.

Trong nhiều năm, ông Ezz được coi là “tâm điểm” của tiền bạc, chính trị và quyền lực, kiểm soát hai phần ba thị trường thép nội địa, đứng đầu ủy ban ngân sách Quốc Hội, đảng viên trung thành trong đảng cầm quyền.

Sự bất mãn của dân chúng về tình trạng làm giàu bất chính của thành phần có chức, có quyền, đã thúc đẩy cuộc nổi dậy.

Tờ Christian Science Monitor, trong một bài phóng sự tại công trường Tahrir, dẫn lời một cô giáo rằng: “Chúng tôi là đa số thầm lặng, đã không lên tiếng từ lâu, nhưng bây giờ không như vậy nữa.” Một nữ công nhân làm việc ở một bệnh viện nói rằng chị bất mãn vì tình trạng thực thẩm tăng giá và khó kiếm được nơi cư ngụ. Theo lời chị: “Tôi bỏ các con ở nhà đến đây để tranh đấu cho tương lai,” và nói thêm: “Chưa bao giờ tôi làm như thế này.”

Tình trạng bất công, tham nhũng, lạm dụng chức quyền của những thành phần đảng viên đảng cầm quyền, là sự kiện phổ biến ở tất cả mọi chế độ độc đảng. Thiếu nền tảng dân chủ, đường lối phát triển kinh tế thị trường chỉ tạo cơ hội thuận lợi cho một giới ưu đãi thụ hưởng đặc quyền đặc lợi tới một tầm mức quá đáng trong khi cuộc sống của đại đa số quần chúng không được cải thiện bao nhiêu.

Tổng Thống Hosni Mubarak, 82 tuổi, là nhà lãnh đạo Ai Cập suốt 29 năm bằng chế độ cảnh sát trị. Khởi đầu từ một phi công chiến đấu năm 1950, và được đưa qua Liên Xô học lái máy bay Tu-16 “Badger,” loại máy bay oanh tạc hai động cơ phản lực, Mubarak đã thăng cấp mau chóng. Anwar Sadat, một cựu sĩ quan quân đội, kế vị Gamal Abdel Nasser năm 1970 làm tổng thống thứ nhì của Ai Cập, phong Mubarak làm Tư lệnh Không Quân năm 1972 rồi tới 1975 chọn làm phó tổng thống.

Sáu năm sau trong cuộc diễn binh, một sĩ quan thuộc nhóm Hồi Giáo quá khích ngừng xe trước khán đài và xông tới nổ súng bắn chết Sadat. Mubarak ngồi bên cạnh, chỉ bị thương nhẹ ở tay. Vào thời gian ấy, các quan sát viên Tây phương không ai tin là Hosni Mubarak, vốn rất ít được dân chúng biết tới, sẽ trở thành vị tổng thống lâu dài nhất của Ai Cập. Ông trấn áp tất cả mọi thành phần đối lập và tự coi như là người duy nhất có thể đem lại an ninh trật tự cho đất nước. Câu nói trở thành nổi tiếng của Mubarak là: “Tôi, hoặc những kẻ ám sát Tổng Thống Sadat.”
Ðộc quyền mọi thứ

Trong thực tế Ai Cập, quân đội vẫn là căn bản quyền lực của quốc gia về chính trị, đồng thời lại có nhiều quyền lợi kinh tế cũng như mối liên hệ chặt chẽ với các giới chức cao cấp trong chính phủ. Sự chấp nhận thay đổi hay ý muốn duy trì vai trò hiện hữu của các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp là yếu tố then chốt cho tương lai cuộc cách mạng quần chúng đã bùng lên nhưng chưa biết sẽ đi đến kết thúc như thế nào.

Ðất nước Ai Cập dưới chế độ Hosni Mubarak từ lâu nay vẫn được coi là nơi mà tiền bạc mua được quyền lực chính trị và quyền lực chính trị đem đến giàu sang. Tuy khó có thể chứng minh được tất cả những điều này, người dân Ai Cập nhìn thấy sự trỗi vượt lên của thành phần giàu có, đều tin rằng tình trạng mánh mung, chia chác và tham nhũng tràn lan khắp nước. Và đại diện cho tầng lớp giàu sang nhờ sự quen biết và chạy chọt chức quyền này là một nhóm doanh gia giàu có, liên hệ chặt chẽ với Gamal Mubarak, con trai của tổng thống, cũng như các bộ trưởng quan trọng và các thành viên đảng cầm quyền.
“Những kẻ liên hệ với Gamal trở thành người giàu có nhất nước,” theo lời Hala Mustafa, một nhà nghiên cứu chính trị, rời khỏi đảng cầm quyền nhiều năm trước đây vì nói rằng đảng không chịu thi hành cải cách chính trị.

“Họ giữ thế độc quyền về mọi thứ trong nước,” ông Mustafa nhận định.

Ðại doanh gia ngành thép, Amed Ezz, là một trường hợp như vậy. Theo tin của tờ New York Times, ông Ezz nay bị rớt đài, bị thành phần lãnh đạo chế độ coi như gánh nặng, tìm cách lánh xa trước sự giận dữ, căm hờn của người dân ào ạt xuống đường. Ông bị điều tra vì tình nghi tham nhũng. Tài sản của ông bị phong tỏa, không được phép rời khỏi nước. Về phần mình, Ezz từng bác bỏ các cáo buộc tham nhũng trong quá khứ, và đến ngày Chủ Nhật tuần qua, không ai biết ông ở đâu. Nay tên của ông nằm trong danh sách những người bị dân chúng lôi ra mắng chửi ở công trường Tahrir Square, thành biểu tượng của tất cả những gì tệ hại trong chế độ Mubarak.

“Ahmed Ezz hút máu dân,” theo lời Osama Mohamed Afifi, một sinh viên xuống đường tham dự biểu tình hôm Chủ Nhật. “Ông ta là người duy nhất được bán thép tại Ai Cập, và ông ta bán với giá cao hơn thép có thể mua được ở những nơi khác như Trung Quốc.”

Tuy con số Tổng Sản Lượng Nội Ðịa (Gross Domestic Product GDP) có tăng lên, phần trăm dân nghèo ở Ai Cập lại tăng theo. Các lời đồn về tình trạng tham nhũng, hối lộ, được nghe thấy khắp nơi. Người ta ước lượng, Tổng Thống Mubarak và gia đình ông có nhiều tỉ dollars, nhưng các chuyên gia nói rằng các con số này chỉ là những lời đồn không bằng chứng.

Tờ Guardian ở Anh dẫn lời các chuyên gia về Trung Ðông cho biết, theo phân tích của họ, Hosni và Gamal Mubarak cùng gia đình có tài sản lên tới 43.5 tỷ bảng Anh (70 tỷ US dollars). Tài sản này bao gồm tiền gởi trong các ngân hàng Anh và Thụy Sĩ cùng rất nhiều bất động sản ở London, New York, Los Angeles cũng như các khu du lịch có giá trị dọc theo bờ biển Hồng Hải.

Tờ báo tiếng Á Rập, Al Khabar, trong một bài phóng sự năm ngoái, nói rằng gia đình Mubarak có những cơ sở địa ốc ở Manhattan, New York và Rodeo Drive khu Beverly Hills, Hollywood.

Một công điện ngoại giao mật, gửi đi năm 2006 và được WikiLeaks công bố, nói về một bản báo cáo dài 274 trang của một tổ chức đối lập nêu chi tiết tham nhũng liên quan đến bà vợ của tổng thống, Suzanne Mubarak, cũng như Gamal Mubarak và người em là Alaa. Công điện do Ðại Sứ Mỹ Francis J. Ricciardone, gửi đi từ Cairo, nói rằng các cáo buộc này không có bằng chứng rõ rệt nhưng cho thấy sự căm phẫn của dân chúng ngày càng tăng.
Cấu kết quyền lợi

Phân tích sự phát triển kinh tế ở Ai Cập, tờ New York Times cho biết dịch vụ mua bán thép của gia đình Ahmed Ezz chỉ phát triển vào thập niên 90s khi Ai Cập, trước sự thúc đẩy của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), tiến hành một loạt các biện pháp cải tổ nền kinh tế quốc gia.

Trên lý thuyết, những thay đổi này giúp chuyển cả một hệ thống kinh tế từ sự kiểm soát của chính quyền sang nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, trong thực tế, lại thấy xuất hiện một hình thức tư bản phe đảng, “móc ngoặc” cấu kết với nhau, theo các chuyên gia Ai Cập và quốc tế. Các ngân hàng của nhà nước làm ăn theo sự quyết định của chế độ, sẵn sàng cho những gia đình có liên hệ mật thiết với chế độ được vay tiền, nhưng từ chối không cho những người không có sự quen biết với giới chức nhà nước được vay đồng nào.

Ahmed El Naggar, giám đốc đặc trách nghiên cứu kinh tế tại trung tâm nghiên cứu “Al-Ahram Center for Political and Strategic Studies,” nói rằng giới chức chính quyền bán đất công cho những gia đình quen biết lớn với giá hạ. Họ cũng cho các đại công ty quốc tế mua lại các công ty quốc doanh với giá rẻ mạt, để được tiền hối lộ.

Cùng lúc, chính quyền Ai Cập đòi giới đầu tư ngoại quốc phải thành lập công ty liên doanh với các công ty Ai Cập. Những gia đình nào có mối liên hệ tốt với chế độ sẽ được ưu tiên đứng vào các liên doanh béo bở này. “Rõ ràng là cả một nền kinh tế bị khống chế bởi một số ít người,” theo Eberhard Kienle, chủ tịch cơ quan nghiên cứu “Center for Near and Middle Eastern Studies” tại trường “School of Oriental and African Studies” ở London.

Làm trầm trọng thêm tình trạng này là hiện tượng “khoe của” của giới tư bản giàu sụ ở Ai Cập. Họ xây những căn nhà nguy nga tráng lệ ở sa mạc bên ngoài thủ đô Cairo và dọc theo bờ biển. Họ lái những chiếc xe Mercedes-Benze mới tinh dọc theo các con đường tồi tệ không được tu bổ ở Cairo với hộ tống của xe cảnh sát.

Báo chí Tây phương còn phanh phui ra những mối quan hệ của Tổng Thống Mubarak với các giới chức chính quyền ngoại quốc. Theo BBC, tờ báo châm biếm nổi tiếng lâu đời ở Pháp, Le Canard Enchainé (Con Vịt buộc) cho biết Thủ Tướng Pháp Francois Fillon trong mùa lễ cuối năm vừa qua đã đến Ai Cập từ 26 tháng 12 đến 2 tháng 1. Ðây là chuyến đi riêng và ông Fillon bay từ Paris đến Cairo trên một máy bay của chính phủ nhưng đã trả tiền theo đúng quy định của Pháp. Tại Ai Cập, ông tiếp kiến với Tổng Thống Hosni Mubarak và được cho mượn một máy bay riêng và tàu thủy cho việc du lịch cũng như được đài thọ tất cả mọi phí tổn ăn ở trong những ngày nghỉ lễ.
Các phân tích gia chính trị cho hay, sự kiện ông Ahmed Ezz nay bị điều tra, cùng với một số người khác ở Ai Cập, không phải là để triệt hạ tham nhũng, nhưng để giảm bớt sự phẫn nộ của dân chúng mà không thay đổi hệ thống cai trị. “Chính quyền đang nhắm vào Ahmed Ezz như là kẻ tham nhũng ghê gớm,” theo lời Issandr El Amrani, một nhà báo độc lập và cũng là một blogger theo dõi kỹ lưỡng sự liên hệ về tiền bạc, quyền lực và chính trị trong các bài viết của ông. “Liệu rằng ông ta có tham nhũng hơn thành phần an ninh, hơn các tướng lãnh hay các bộ trưởng không?”
hongvulannhi  
#700 Posted : Thursday, February 10, 2011 4:05:05 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,355

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
Trần Dạ Từ, người đứng sau những khởi động đáng ghi nhớ

Wednesday, February 09, 2011
Du Tử Lê
Bài 2 (*)

Trong tập “Nguyên Sa Hồi Ký” (NS/HK) do Ðời, California, xuất bản năm 1998, ở phần Hai, chương “Nồi niêu soong chảo,” thi sĩ Nguyên Sa đã đề cập tới phần đời làm báo đầy biến động, nhiều đương đầu hào hứng (sau cuộc cách mạng 1 tháng 11, 1963 tại miền Nam,) của nhóm ký giả trẻ: Nhóm “Nồi niêu soong chảo” do nhà thơ Trần Dạ Từ đại diện.

UserPostedImage

Từ trái qua: Thanh Thoại, Ðỗ Kim Ninh, Nhã Ca, Trần Dạ Từ.
Hàng sau: Trần Ðại Lộc, Phan Văn Phùng, Lê Ðình Ðiểu, Ðỗ Quý Toàn
(sau đêm đọc thơ tại khuôn viên Ðại Học Văn Khoa, Sài Gòn). (Hình: Nhã Ca)

Nguyên Sa viết:

“Những ngày Sáng Tạo có tiền kiếp. Thời gian bỏ đi có tiền kiếp của nó. Những ngày ở Sống với Chu Tử là một tiền kiếp khác, xôn xao Lương Sơn Bạc. Tờ Sống ra được có một số thì bị đình bản, anh em báo Sống với Ðằng Giao, Tú Kếu, Trần Dạ Từ nhóm ký giả trẻ gọi là ‘nồi niêu soong chảo’ lếch thếch nồi soong ra đi đầu quân, khi thì ở Tiền Tiến với ông chủ nhiệm Ðỗ Công Dụng, khi thì Hòa Bình với Linh Mục Trần Du, khi khác là Tranh Ðấu của chủ nhiệm Ngô Ðức Mão, một đệ tử của cụ Nguyễn Thế Truyền, Mai Châu bỏ tiền...” (NS/HK, trang 213)

Trên hành trình báo chí gập ghềnh, cam go lý tưởng, qua mấy chục nhật báo khác nhau, thời gian đáng nhớ nhất của tác giả “Thuở Làm Thơ Yêu Em” có lẽ là thời gian ông phải đương đầu với cuộc tranh chấp sống mái với người bỏ tiền in tờ Tranh Ðấu. Vì thế, ông đã tìm tới “Ông đội mũ” (bí danh Trần Dạ Từ đặt cho thi sĩ Nguyên Sa). Với Nguyên Sa thì dường như, đó cũng là một kỷ niệm đáng nhớ, khi ông viết:

“Trần Dạ Từ là một tiền kiếp khác. Phải rồi, Trần Dạ Từ là tiền kiếp. Tiền kiếp đẩy tôi tới nhà in, tôi vẫn đội mũ nguyên trên đầu, Trần Dạ Từ dắt tới trước mặt tôi chủ nhân của nhà in nói đây là ông anh tôi, liệt kê các loại võ nghệ tài chính và xã hội, kể từ hôm nay ông anh sẽ lo mọi vấn đề tiền bạc. Tôi gật đầu bảo chứng người em tiền kiếp, tôi nói tôi trả tiền, cứ in, ngày nào thanh toán ngày đó, không cần để tới sáng ngày mai. Viên quản lý vui vẻ ngay, máy in đang chờ, thợ in đang chờ, có người lãnh nhận việc trả tiền là bật đèn xanh...” (NS/HK, trang 214). Kết quả, “đại gia” Mai Châu đã phải “tung khăn” đầu hàng “Ông đội mũ!”

Lập lại sự việc này, tôi không có ý muốn đề cập tới tình thân giữa Nguyên Sa, Trần Dạ Từ. Một tình thân mang tính tinh truyền từ kiếp trước. Một tình thân đã vượt xa cái biên giới hạn hẹp của chữ và, nghĩa.

Lập lại sự việc này, tôi chỉ muốn nhấn mạnh, phải chăng định mệnh đã chọn, trao những dụng cụ cần thiết, như cuốc, xẻng... vào tay Trần Dạ Từ để ông xắn sâu và, xới lên những khoáng-sản-tinh-thần. Những khả năng trí tuệ tiềm ẩn nơi con người sinh ra, vốn mang sẵn một “định mệnh dữ dội” (?)

Lập lại chuyện này, tôi cũng chỉ muốn nhấn mạnh, qua trên dưới ba chục nhật báo của miền Nam Việt Nam, 20 năm mà, Lê Hà Vĩnh tức Trần Dạ Từ đóng vai tổ chức ban biên tập, cắt đặt bằng hữu ông vào những vai trò, chức vụ có tính vận hành, quyết định. Nhưng, tuyệt nhiên, độc giả không hề thấy dù chỉ thấp thoáng bóng dáng hay tên tuổi họ Lê trên “manchette” báo.

Tôi muốn cám ơn thi sĩ Nguyên Sa, qua trích đoạn hồi ký kể trên.

Từ đó, tôi muốn gọi họ Lê là: “Người đứng sau những khởi động đáng ghi nhớ.”

Cũng vậy, tôi muốn gửi lời cám ơn ca sĩ Khánh Ly, qua một đoạn viết ngắn, nơi trang 2 booklet đi kèm đĩa nhạc “Nụ Cười Trăm Năm” (nhạc Trần Dạ Từ), khi cô viết:

“Mùa Hè 1959, ông Mặc Thu, sếp chương trình Tiếng Thơ đài phát thanh Saigon, trịnh trọng bảo một anh nhóc tì, ‘Thi sĩ coi cháu Mai tập bài này, điệu ru con miền Bắc.’ Tức cười. Năm ấy tôi 14. Thi sĩ bất quá chỉ hơn dăm ba tuổi. Hai anh em cùng dân bà Cả Ðọi, đi xin ngâm thơ để kiếm cơm. Biết nhau từ đó...”

Tôi nói, tôi muốn gửi lời cám ơn ca sĩ Khánh Ly vì, nhờ bảng chỉ đường đơn sơ này, tôi mới được biết tác giả “Nụ Hôn Ðầu” đã bước vào lãnh vực phát thanh rất sớm. Ðó là những năm đầu thập niên (19)60, khi người Mỹ mở cuộc thi tuyển, chọn ra một số người để huấn luyện họ trở thành những chuyên viên phát thanh chính quy, cho lãnh vực phát thanh ở miền Nam Việt Nam. Và, họ Lê là một trong số người được tuyển.

Nhắc lại giai đoạn “hai anh em cùng dân bà Cả Ðọi,” nhà thơ Trần Dạ Từ nói, ông nhớ ông có theo học một khóa phát thanh, diễn ra trong một ngôi biệt thự kín khuất ở đường Chi Lăng, Gia Ðịnh. Học viên được chỉ dạy cặn kẽ từ cách viết một bản tin cho phát thanh, tới kỹ thuật biên tập một chương trình. Học viên cũng được dạy và thực tập sử dụng âm thanh, cách chọn lựa, ứng dụng “sound effect.” Kỹ thuật “in/out” một buổi phát thanh, v.v... Tất cả những lớp học đó, đều diễn ra trong những wagon xe lửa, như những studio lưu động, đặt trong biệt thự vừa kể.

Ông nói, khoảng gần 2 năm sau, kỹ thuật phát thanh do người Mỹ dạy, mới được người Mỹ đem về khu cư xá Thành Tín, ở đầu đường Hồng Thập Tự và, giao việc quản trị cho quân đội VN, với ngân sách của Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ.

Nói cách khác, hậu thân của giai đoạn này, chính là đài Tiếng Nói Tự Do với ông Vũ Quang Ninh (thời còn mang cấp bậc đại úy).

Họ Lê cũng nhớ, thời gian đầu của đài Tiếng Nói Tự Do, ngoài cá nhân ông, trong vai trò trưởng ban Phóng Viên, còn có Phan Tùng Mai (con nhà cách mạng Phan Văn Hùm), trưởng ban Biên Tập; Nguyễn Sơn, trưởng ban Nghiên Cứu; Nhã Ca phụ trách biên tập chương trình Văn Học Nghệ Thuật...

Ở giai đoạn hình thành, đài Tiếng Nói Tự Do được phép tuyển thêm phóng viên. Ðài đã phỏng vấn một số sinh viên đang theo học trường Bộ Binh Thủ Ðức. Một trong những sinh viên sĩ quan được tuyển chọn về làm phóng viên cho đài, là nhà báo tên tuổi sau này, Nguyễn Thượng Hiệp. (6)

Từ bảng chỉ đường đơn sơ của ca sĩ Khánh Ly, nơi booklet của CD “Nụ Cười Trăm Năm” (nhạc Trần Dạ Từ), hôm nay, tôi mới được biết, sự ra đời của phong trào hát cộng đồng vào khoảng giữa thập niên (19)60, cũng có dấu ấn của “người đứng sau những khởi động đáng ghi nhớ” Trần Dạ Từ.

Ký ức họ Lê cho biết, trong một buổi tham dự trại Suối Thông/Ðà Lạt, 1965 do thanh niên, sinh viên tổ chức, cùng với cố nhà báo Lê Ðình Ðiểu, ông chú ý tới một nhạc sĩ trẻ ôm cây ghi ta thùng, hát một số ca khúc có nội dung phản ảnh những băn khoăn, khắc khoải có tính cách thời đại, như nỗ lực đi tìm tiếng nói chung cho lớp tuổi của họ. Ông càng chú ý hơn nữa, khi thấy các bạn trẻ hân hoan tham dự vào tâm tình, chuyển động của ca khúc, qua tiếng vỗ tay. Nhịp theo. Hào hứng.

Trần Dạ Từ bàn với Lê Ðình Ðiểu:

“Nên đem anh chàng này về Saigon, Ðiểu à!”

Nhưng bằng cách nào?

Vấn đề ở chỗ đó!

Một lần nữa, tôi lại thấy dường như định mệnh đã chọn, trao những dụng cụ cần thiết, như cuốc, xẻng... vào tay Trần Dạ Từ, để ông xắn sâu và, xới lên những khoáng-sản-tinh-thần, một mặt nào đấy, làm thành ý nghĩa một thời cho miền Nam, 20 năm.

Số là thời gian đó, nhà thơ Trần Dạ Từ đang làm cố vấn cho nhà văn Huy Quang/Vũ Ðức Vinh, tổng giám đốc Hệ Tổng Truyền Thanh Việt Nam. Nhiệm vụ của ông là cung ứng những chương trình phát thanh đặc biệt theo yêu cầu của nhà văn Huy Quang, hoặc góp ý với ông tổng giám đốc, trong những vấn đề thuộc lãnh vực chuyên môn.

Ở cương vị này, Trần Dạ Từ đã thực hiện được một chương trình “mẫu,” gọi là “chương trình hát cộng đồng,” thu ngay tại đài Saigon, với hàng chục ca viên một lúc. Nhà văn Huy Quang thích lắm. Ông nói, “đài cần có những chương mới mẻ như thế.”

Tuy nhiên, cũng chính vì sự quá mới mẻ - Hiểu theo nghĩa, hồi nào giờ, các đài phát thanh của miền Nam chỉ quen phát những chương trình song ca, tam ca, tứ ca. Nói chung là hợp ca. Chưa bao giờ đài có chương trình “cộng đồng ca” với hàng chục ca viên. Vì thế, nhà văn Huy Quang nghĩ, ông cần phải có được sự chuẩn thuận của cấp cao hơn: Tổng ủy viên Thông Tin - Chiêu Hồi (tức bộ trưởng Thông Tin-Chiêu Hồi cũ).

Như tôi từng nói, bản chất họ Lê vốn quyết liệt, đeo đuổi tận cùng những gì đã dự trù. Nên, để thành tựu được mơ ước của mình, ông cùng Lê Ðình Ðiểu và một số bạn khác, thực hiện một băng “mẫu.” Do ông và các bạn hát; đưa trình tổng ủy viên Thông Tin-Chiêu Hồi thời đó: Tướng Nguyễn Bảo Trị. (7)

Nghe và y cứ trên những trình bày của Lê Ðình Ðiểu, Trần Dạ Từ... về nhu cầu giới trẻ cần những hình thức sinh hoạt mới, linh động, lành mạnh, tươi tốt... Tướng Trị đồng ý. Sự đồng ý của ông, có nghĩa “đèn xanh” được bật cho hệ thống Truyền Thanh Việt Nam, phát thanh rộng rãi những ca khúc mang tính “cộng đồng ca” nhắm vào lớp thính giả thanh viên, sinh viên.

Ðó là cánh cửa thứ nhất, mở vào phong trào du ca, sau này.

Cũng từ bảng chỉ đường đơn sơ của ca sĩ Khánh Ly, nơi booklet của CD “Nụ Cười Trăm Năm” (nhạc Trần Dạ Từ), hôm nay, tôi mới được biết, ngay từ (19)60 Trần Dạ Từ và một số bằng hữu của ông, như Thanh Thoại, Lê Ðình Ðiểu, Ðỗ Quý Toàn, Trần Ðại Lộc, Ðỗ Kim Ninh... đã khởi xướng phong trào đọc thơ (chỉ đọc, không ngâm) tại sân trường Ðại Học Văn Khoa Saigon.

Rất mau chóng, ngọn lửa đem thi ca vào đời thường, đã cháy lan qua các khuôn viên đại học khác. Như Vạn Hạnh, Ðà Lạt, Huế... Trước khi phong trào tỏa rễ, đâm chồi ra đường phố; với những cuộc đọc thơ tại các quán café, hay những họp mặt văn nghệ của văn nghệ giới trẻ.

Vẫn ở vị trí của “Người đứng sau những khởi động đáng ghi nhớ,” hôm nay, nhắc lại, họ Lê còn hưng phấn cho biết:

“Khi tôi đọc thơ Thanh Tâm Tuyền, với những câu như:
“Vứt mẩu thuốc cuối cùng xuống giòng sông
“mà lòng mình phơi trên kè đá
“con thuyền xuôi
“chiều không xanh, không tím, không hồng
“những ống khói tầu mệt lả...”

“Các bạn trẻ cho biết họ hiểu ngay. Họ không thấy đó là những câu thơ khó hiểu như khi đọc bằng mắt...” (8)

Cá nhân, tôi vẫn lấy làm tiếc sau khi giải thưởng văn học nghệ thuật toàn quốc, bộ môn thơ, năm 1971, trao cho thi phẩm “Thuở Làm Thơ Yêu Em” Trần Dạ Từ thì, giữa các nhà thơ như Vũ Hoàng Chương, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Mộng Tuyết, Trần Dạ Từ,... đã xẩy ra một cuộc tranh biện khá ồn ào, kéo dài nhiều tháng! (9)
Du Tử Lê
(Kỳ sau tiếp)
Chú thích:

(*) Bài 1 nhan đề “Mùa Xuân và, Ðêm-từ-biệt... Trần” in trong giai phẩm 2011, Nhật báo Người Việt, Xuân Tân Mão.

(6) Nhà báo Nguyễn Thượng Hiệp đã qua đời vào tháng 11, 2009.

(7) Cựu Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị hiện cư ngụ tại miền Nam California.

(8) Trong “Bao Giờ,” thơ Thanh Tâm Tuyền.
(9) Ðọc Nguyễn Ðức: “Năm mới chuyện cũ: Giải thưởng văn hóa (?) nghệ thuật toàn quốc năm 1971,” tạp chí Văn Học Cali, số 70 & 71, Xuân Nhâm Thân. (Tư liệu của nhà thơ Thành Tôn)


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest
44 Pages«<3334353637>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.