Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

73 Pages«<1718192021>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hà Phương Hoài  
#361 Posted : Saturday, November 7, 2009 6:54:39 AM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank:: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,237
Location: USA

Thanks: 144 times
Was thanked: 102 time(s) in 61 post(s)

Mời Tham Khảo: Quân Sử VNCH với những trận đánh lịch sử

http://www.vietnam-on-li...ap/quansuvnch/qsvnch.htm
hph
Linh Phuong  
#362 Posted : Saturday, November 7, 2009 11:05:01 AM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

Hoa Phặc phiền sau vai núi
07/11/2009

UserPostedImage

Hùng vốn là chàng trai phóng khoáng. Khi đến vùng núi này và nghe câu hát về hoa phặc phiền, anh muốn đi tìm nó.

Dòng Năng ùng ục khi đi qua hang núi. Trông nó lúc này hệt con thú hoang bị trúng tên nơi cuống họng đang cố nẩy lên, đẩy những âm thanh thoát ra trong cơn đau đớn man dại. Những cơn sóng đánh mạnh vào hai bên bờ như những chiếc lưỡi mác chao qua lại.

Trời chiều ảm đạm, con thuyền độc mộc lướt nhanh vào miệng hang rồi khuất hẳn sau vách đá lô nhô. Không khí hăng hăng mùi phân dơi.

Nâng máy ảnh lia vài ba kiểu, Hùng vội vã giục người đàn ông cầm lái tăng tốc, đi sâu vào trong. Anh vừa thấy thấp thoáng đằng xa bóng áo chàm trên một con thuyền độc mộc. Đến bãi cát mịn giữa lòng hang, anh ra hiệu cho thuyền dừng lại. Sau khi neo thuyền lên bãi cát, người đàn ông ngó lơ đi nơi khác, vẻ mặt không chút biểu cảm.

Không mang theo đèn pin, chẳng thể đi sâu vào lòng hang, Hùng đành bảo ông lái cho thuyền quay về. Người đàn ông trầm tĩnh, cân chỉnh đuôi tôm cho thuyền chạy sát bờ, sóng nhấp nhô va vào hốc đá.

Đang lẩm nhẩm một câu hát về loài hoa phặc phiền, đột nhiên, người đàn ông cầm lái đưa tay tắt máy. Rồi ông buông tiếng thở dài đánh thượt để mặc con thuyền nhè nhẹ tiến vào bãi đậu.

Mệt bã người, Hùng uể oải bước ra khỏi khoang, cố ngoái lại dặn người chủ thuyền: “Mai bác đưa con đi nữa nhé!”.

Ông hỏi: “Cậu đi đâu?”, Hùng đáp: “Con chưa biết!”. Ông ta buông tiếng “À” rồi mắt dõi nhìn xa xăm.



Bến neo thuyền vắng lặng, chỉ còn lại người đàn ông trầm ngâm ngồi vê vê điếu thuốc chậm rãi đưa lên miệng. Vẫn cái nhìn vô định, ông khẽ thở dài lẩm nhẩm một câu gì đó. Tiếng máy lại phành phạch nổi lên, con thuyền rời bến rồi cứ thế trôi tuột vào mịt mùng sương, trong bóng chiều chạng vạng.

Tiếng tích tắc từ chiếc đồng hồ để bàn dần đưa Hùng vào trạng thái vô thức. Anh có thói quen đặt chiếc đồng hồ để bàn ngay sát bên tai, có vẻ như kỳ quặc nhưng chính điều đó đã giúp anh qua được những cơn mất ngủ từng kéo dài cả tháng trời. Khi đang ngủ chập chờn, Hùng chợt nghe loáng thoáng có tiếng gọi bên liếp phên. Tiếng gọi ban đầu nghe gần lắm, nhưng khi Hùng lắng nghe, nó lại có vẻ mơ hồ xa xăm. Choàng tỉnh dậy, Hùng ngó ra ngoài vuông cửa, thấp thoáng dưới trăng bóng con thuyền lướt nhẹ, qua lùm cây, không phải mơ, rõ là một con thuyền.

Kim đồng hồ chỉ 12 giờ. Tiếng tích tắc, tích tắc lúc này nghe rờn rợn. Hùng vùi mình dưới tấm thổ cẩm mãi vẫn không tài nào dỗ lại được giấc ngủ. Tức mình, anh ngồi dậy, với tay cầm chiếc đồng hồ tháo bung pin, tiếng tích tắc như vẫn còn đâu đó cứ vang mãi trong màn đêm ma mị.

Hình ảnh con thuyền bí ẩn nơi hang sâu lúc chiều lại thấp thoáng hiện ra. Có bóng sơn nữ áo chàm vẫy vẫy tay gọi, Hùng vụng về cố cho thuyền chạy sát theo chiếc độc mộc của nàng, tiếng cười lanh lảnh tan vào sóng. Bỗng chốc, tất cả mù mịt quay cuồng trong những lớp sương dày đặc nối đuôi nhau chạy tràn mặt nước.

Hùng mở mắt, ánh sáng chói loà nơi vuông cửa phản chiếu từ mặt hồ, rọi thẳng vào mặt làm hai mắt anh nhíu lại, cay cay.

Hoa phặc phiền là thứ hoa gì mà mấy ngày nay Hùng lặn lội tìm kiếm đến mất ăn, mất ngủ. Bóng áo chàm kia là ai hay chỉ là ảo giác? Con thuyền đó là thật, vậy bóng người trên độc mộc ấy đã biến vào đâu nơi lòng hang tối đen đến nhường kia?

Hùng cố tìm mọi cách lý giải những câu hỏi trong đầu mình nhưng mọi giả định anh đưa ra đều không thoả đáng.

Ngoài bến, khách tấp nập lên xuống, họ đeo trên vai nào máy quay, máy ảnh đủ loại với vẻ háo hức. Người đàn ông chở anh hôm qua đang lặng lẽ neo thuyền vào một hốc đá. Thấy anh, ông ta khẽ gật đầu chào.

Nhón nhẹ chân, Hùng leo vội lên thuyền bảo ông chở lại hang đá hôm qua. Dưới cái nắng gắt gay, ông gò lưng dồn sức quay mạnh cần máy, tiếng nổ phành phạch ngắt quãng rồi vọt lên, con thuyền chao qua, lao vút ra lòng hồ.

Ngả người dưới khoang thuyền, mặc những tầ nước bắn tung lên ngực áo, Hùng miên man nhìn những đám mây trôi tuột phía sau. Hoa phặc phiền, sự tích hoa phặc phiền, câu hát về hoa phặc phiền, tất cả kéo về trong sự liên tưởng suy diễn của một gã trai phóng túng…

Người lái thuyền nhìn Hùng đăm chiêu. Hùng bỗng nhớ đến lúc ông ta hát câu ca có nhắc đến loài hoa phặc phiền. Hùng nghĩ: “Khi ấy ông ta nghĩ gì mà thở dài thế nhỉ? Có thể người đàn ông này biết được chút gì về loài hoa đó hoặc có một ký ức nào về nó chăng? Phải rồi, có thể lắm”.

Sự hiếu thắng luôn làm Hùng mỏi mệt. Lẽ ra anh đã có thể hỏi người đàn ông này về loài hoa nghe như cổ tích ấy, nhưng anh đã không làm điều đó. Anh muốn tự mắt nhìn ngắm, khám phá rồi phán đoán xem đâu là hoa phặc phiền giữa bạt ngàn các loài hoa nơi núi thẳm này.

Hùng không muốn người ta dẫn anh đến tận nơi, chỉ tận mắt rằng đây là hoa phặc phiền mà anh đang tìm đấy. Làm thế thật nhạt nhẽo quá, buồn tẻ quá.

Tiếng máy nổ vang vọng vào vách núi. Hùng tự nhủ, dưới sâu thẳm lòng hồ kia có biết bao câu chuyện, ngay cuộc sống của cư dân vùng hồ cũng đã biết bao điều kỳ bí sao không dám phá. Và anh cũng chẳng hiểu điều gì đã thôi thúc mình đeo đuổi loài hoa chỉ mới nghe qua trong một câu then của người Tày.

Vẻ mặt người đàn ông ở cuối đuôi thuyền rất đăm chiêu. Khuôn mặt không vui không buồn, nói chung ông ta chẳng gây cho Hùng ấn tượng gì.

Con thuyền đang chạy bỗng máy hộc lên vài tiếng rồi lịm đi theo đà khẽ xoay giữa lòng sông khi chỉ còn cách cửa hang chừng vài trăm mét.

Vẻ mặt ông lái vẫn chẳng chút thay đổi. Ông khom người loay hoay sửa máy. Kể mà cứ bập bềnh trên hồ thế này cũng thú, nhưng anh đang cố khám phá bóng áo chàm kia. Hùng muốn khẳng định chắc chắn những gì anh đã thấy là thật chứ không phải ảo giác.

Tiếng máy giật cục rồi đanh giòn cất lên, con thuyền rẽ sóng đi vào hang. Chiếc độc mộc vẫn neo buộc bên bãi cát mịn yên bình, chẳng thấy bóng áo chàm kia đâu. Không thể, rõ ràng anh đã thấy nó kia mà. Hùng buột miệng hỏi: “Khi nãy bác có thấy người con gái áo chàm trên độc mộc không?”.

Người đàn ông lắc đầu. Suốt ba ngày lênh đênh trên mặt nước ông chỉ nói khi thật cần thiết, còn lại hầu như im lặng. Chính điều đó làm Hùng tò mò. Anh nghi ngờ cái lắc đầu của người lái thuyền. Nhưng dù sao cũng chẳng để làm gì.

Thuyền đỗ lại trên bãi cát mịn, cạnh chiếc độc mộc nhỏ đang đến kỳ mục ruỗng. Với một con thuyền nửa phần ngập nước như vậy, đúng là chẳng thể nào chèo được. Vậy là anh đã gặp ảo giác thật.

Hùng vơ vội chiếc đèn pin và bước ra khỏi thuyền. Anh hăm hở leo lên những mỏm đá trong lòng hang. Chút ánh sáng yếu ớt từ chiếc đèn chỉ đủ để Hùng thấy thấp thoáng những nhũ thạch loang loáng phản chiếu ánh đèn. Lòng hang tối tăm, ẩm mốc, mùi phân dơi nồng nặc xộc lên mũi.

Lòng vòng hồi lâu, Hùng phát hiện một ngách hang đi ngược lên đỉnh núi. Lối vào chỉ đủ một người lách qua.

Toan đi lên theo lối nhỏ ấy, anh bỗng giật mình bởi tiếng người đàn ông lái thuyền. Không biết người đàn ông đã theo Hùng vào hang từ khi nào. Giọng ông lành lạnh: “Ra thôi, trời sắp nổi giông rồi!”.

“Sao bác biết!”, Hùng ngạc nhiên hỏi lại. “Mấy mươi năm sông nước bảo tôi thế!”, người đàn ông lạnh lùng đáp trả. Hùng tiếc rẻ nhìn lên khe đá lưỡng lự, ông phải giục thêm lần nữa Hùng mới chịu bước đi.

Con thuyền nổ máy, ra khỏi hang. Trời vẫn còn trong xanh, chỉ có một đám mây đen phủ lên mặt trời. Hùng thắc mắc, người lái thuyền bảo phải ra cho kịp trước khi giông về kẻo mưa thượng nguồn đổ nước vào lòng hang, không ra nổi.

Hùng nghe thì biết vậy, chứ nhìn nét mặt của ông lái thuyền chẳng có vẻ gì là lo lắng về cơn giông nào đó sắp đến.

Thuyền cập bờ, móc ví trả tiền ông lái, anh tự nhủ mai sẽ thuê một con thuyền khác. Người đàn ông cầm tiền chẳng buồn đếm, vội vã cho thuyền quay ngược vút lao đi.

Đêm đến, chiếc đồng hồ trở nên vô dụng trong việc dỗ dành giấc ngủ của anh. Ngoài trời đen kịt, tiếng côn trùng rỉ rả. Cảm giác liêu trai trùm kín không gian. Chưa khi nào cảm giác hoang lạnh lại vây riết anh thế này. Cố nhắm mắt lẩm nhẩm đếm… một, hai… hai mốt, hai hai… một nghìn… nghìn hai…

Lại tiếng kêu khe khẽ vọng từ phía bờ hồ, có ai đó đang gọi anh, giọng mảnh lắm, mơ hồ tựa gió. Hùng nhoài người áp tai vào liếp phên, nín thở nghe ngóng. Tiếng gọi nhỏ hơn rồi mất hẳn, không gian yên tĩnh lạ thường.

Cả đêm, anh không tài nào chợp mắt. Cứ nghĩ đến chiếc thuyền độc mộc, bóng áo chàm cùng tiếng gọi trong đêm khiến anh gai người. Lẽ nào là ma? Hùng vốn chẳng tin trên đời có ma quỷ, nhưng những gì đã nghe, đã thấy đang cố thuyết phục anh về một điều gì bất thường đang diễn ra nơi vùng hồ này.

Hai chiếc lá xoay tròn, khẽ chao liệng trong không khí rồi rơi xuống mặt hồ. Người đàn bà cuối con thuyền liến thoắng liên hồi không thôi: Ấy là dòng Năng giận đấy. Nhiều chuyện lạ lắm nhé. Cậu có nghe tiếng bì bõm đêm đêm không? Ôi dào, dạo mới lên đây tôi nghe người ta kể nhiều về ma hồ, không tin. Người đâu mà… tôi bảo này, mà thôi, cậu cũng sẽ chẳng tin, tôi hồi mới lên cũng vậy”.

Người đàn bà cứ thế nói, chẳng cần biết Hùng có nghe hay không. Rồi bỗng dưng bà quay sang hỏi: “Cậu có vợ chưa? Đàn ông như cậu, lấy đâu chẳng được vợ”.

Im lặng. Người đàn bà tiếp tục nói: “Mà này nói thật nhé, ở lâu trên này gái nó chài cho đấy”. Anh đáp: “Xấu như cháu ai chài chứ!”. “Tôi nói thật đấy!”, nói rồi người đàn bà đưa mắt nhìn chăm chăm vào lồng ngực Hùng khiến anh muốn nghẹt thở.

Anh thoáng rùng mình không biết vì lạnh hay vì cái nhìn đầy nhục dục của người đàn bà. Con thuyền đang chạy thẳng bỗng rẽ trái đột ngột làm Hùng ngã nhào xuống dòng nước.

Người đàn bà ghìm máy, mụ ngó theo khẽ cười rồi lao ùm xuống. Đang chới với Hùng cảm giác có bàn tay túm chặt vào ngực áo, người anh nổi ngang dòng nước. Người đàn bà hì hục vứt anh như vứt gỗ lên thuyền. Rồi mụ lóp ngóp trèo lên và ngã vật ra, đè cả khối thịt núc ních lên người Hùng.

Con thuyền dạt dần vào sâu trong vách núi. Mùi đàn bà thoang thoảng, Hùng gắng đẩy mụ ra nhưng không nổi đành nằm im. Tay mụ chạm nhẹ vào hạ bộ anh, tay còn lại chống xuống sàn thuyền uể oải nhấc người. Được thể, anh vùng dậy nhưng một lần nữa người anh chạm phải người mụ, cả khối thịt lại ngã vật, đè lên anh. Tiếng thở người đàn bà trở nên gấp gáp hơn, bàn tay to bè của mụ lần xuống cạp quần của anh. Hùng hoảng hốt vùng vẫy. Mụ gấp gáp nói: “Yêu em đi, xin anh đấy, một lần này thôi!”.

Anh mím chặt môi gồng mình xoay ngang. Người đàn bà bị bất ngờ, ngã nhào xuống dòng nước. Mụ chới với bám vào mạn thuyền loay hoay leo lên, rồi cứ thế ngồi bưng mặt khóc.

Phải lâu lắm Hùng mới bình tĩnh được. Anh bỗng thấy mình có lỗi. Người này gần bằng tuổi mẹ anh chứ đâu có ít. Con thuyền vẫn bập bềnh giữa dòng sâu. Gió hiu hiu thổi ngược mái tóc ướt nhèm của mụ.

Thuyền về bến, mấy chục con mắt đổ dồn về phía Hùng khi anh bước ra khỏi thuyền của người đàn bà kỳ lạ. Họ xì xào, bàn tán gì đó. Anh trả tiền, đi một mạch về nhà trọ để mặc quần áo ướt nằm đổ vật xuống giường. Vậy là một ngày nữa lại qua đi.

Lần này, Hùng quyết định đi chuyến cuối cùng, dù vẫn còn hai ngày nữa mới phải về lại cơ quan. Anh bắt đầu chán nản, mệt mỏi với cái ý nghĩ điên rồ của mình.

Bến vắng, chỉ có người đàn ông mấy hôm rồi đưa anh ngồi trầm ngâm đốt thuốc. Hùng buộc phải lên thuyền ông vì không còn lựa chọn nào khác. Ông có vẻ khó chịu nhưng vẫn nổ máy đưa anh đi.

Suốt chuyến đi, hai người không nói một câu. Anh thấy có lẽ như thế sẽ hay hơn. Con thuyền từ từ đi vào hang núi như mọi khi. Sau khi để anh lên bờ, người đàn ông lặng lẽ quay thuyền sang chỗ đất trống ngoài hang rồi đốt thuốc.

Không còn ai làm phiền, Hùng tiếp tục leo lên vách đá đi sâu vào trong. Ánh sáng phía ngoài hắt theo khe đổ xuống chói loà. Thì ra, đây là một ngách thông lên sườn đồi. Cái ngách ấy bị một tảng đá to chặn lại, Hùng cố gồng mình đẩy tảng đá sang một bên. Loay hoay gần một giờ đồng hồ mới tạo được một khoảng trống đủ để anh len qua.

Vừa ra khỏi ngách đá, anh không tin nổi mắt mình. Trên triền núi bạt ngàn cỏ dại với những cánh hoa rực rỡ sắc màu. Anh không ngờ ngay sườn núi này lại có một thảm hoa đẹp đến vậy. Lấy máy ảnh chớp lia lịa, Hùng hả hê nằm lăn lên đám cỏ cạnh bãi hoa. Mùi hương dìu dịu phảng phất dần ru anh vào giấc ngủ.

Mưa rơi xuống thảm hoa bắn tung toé lên người Hùng làm anh tỉnh giấc. Xa xa, thấp thoáng một cái lều, Hùng cắm đầu chạy lại. Vừa quay người phủi nước trên áo quần, anh giật mình khi gót chân chạm vào tấm gỗ cắm ngay sau lưng.

Trên tấm gỗ khắc dòng chữ Nông Thị Sao, khuyết mất phần năm sinh. Đất mộ đã cũ nhưng tấm bia thì rõ là mới. Túp lều này cũng chỉ mới dựng, cọ còn khá mới. Hùng chắp tay khấn xin chủ nhân ngôi mộ cho anh được trú lại cho đến khi trời tạnh.

Khi trời quang, anh nhìn lại thảm hoa kia. Trông nó như có hàng trăm, hàng triệu con bướm đủ màu sắc đậu trên những ngọn cây xanh mơn mởn. Hoa phặc phiền, lẽ nào đây chính là loài hoa bấy lâu nay anh đang tìm kiếm. Trời ơi, nếu đúng là hoa phặc phiền, chẳng trách người xưa đi theo câu hát say sắc hoa phặc phiền quên cả đường về với người thương.

Trời xâm xẩm tối, Hùng lặng lẽ ngắt vội một vài bông hoa cho vào túi áo rồi lần xuống hang. Người đàn ông vẫn ngồi bên kia bờ đốt thuốc, anh huơ tay mấy hồi ông ta mới chậm rãi cho thuyền đến đón.

Chiếc thuyền trễ nải trên dòng nước đang dâng cao. Hùng giục người lái thuyền cho tăng tốc, ông như không nghe anh nói vẫn chậm rãi đưa thuốc lên miệng. Rồi bất chợt ông hỏi “Thế nào? Anh đã thấy hoa phặc phiền rồi chứ?”.

“Hoa ở trên sườn núi đó có đúng là hoa phặc phiền không bác?”, Hùng hỏi lại. Ông lái không đáp chỉ khẽ gật đầu. Rồi ông bảo: “Cậu có muốn nghe một câu chuyện có liên quan đến triền hoa đó không?”.

“Bác kể cháu nghe đi!”. Hùng hào hứng. “Cậu có thấy ngôi mộ ở đó không, tôi sẽ kể cho cậu nghe về ngôi mộ ấy”. Ông chậm rãi cất từng câu, mắt hướng về phía núi âm u.

“Ngày ấy, ở Cốc Tộc có một đôi trai gái yêu nhau thắm thiết lắm. Người con trai có thân hình vạm vỡ, tiếng nói vọng làn nước hồ. Những ngày lễ, anh ta có thể giã được cả trăm cối bánh dày, tiếng lượn của anh đã làm bao cô gái say lòng. Nhưng chỉ có nàng Sao lọt mắt anh ta. Chuyện tình của đôi trai gái ấy cả mường trên, mường dưới đều biết, ai cũng chúc mừng cho họ. Rồi một ngày, họ tìm thấy sau vách đá có đường thông lên sườn núi, nơi ấy không biết cơ man nào là hoa phặc phiền. Và từ đó sườn núi kia trở thành nơi hò hẹn của họ”.

“Người con trai có người bạn rất thân, mẹ của anh bạn mắc bệnh nặng cần tìm cây mộc thiên để chữa bệnh. Loài cây này chỉ mọc ở nơi nào có hoa phặc phiền. Và người con trai quyết định cùng bạn lên núi tìm thuốc quý”.

Kể đến đây, người đàn ông khẽ thở dài, rồi tiếp: “Và chỉ có một trong hai người đó trở về. Cả mường đều bảo người bạn đã giết chết anh ta để chiếm đoạt nàng Sao. Cậu có tin là người bạn ấy làm chuyện đó không?”.

“Cháu không biết, nhưng cũng có thể!”, Hùng đáp. Bỗng nét mặt ông lái tối sầm lại, ông cho thuyền tăng tốc lướt sóng lao đi.

“Cháu chỉ nói có thể thôi biết đâu có uẩn khúc gì đó”, Hùng nói để xua tan bầu không khí căng thẳng. “Ừ, cậu nghĩ phải đấy!, ông lái đáp lời rồi cho thuyền chậm lại. Ông tiếp tục câu chuyện: “Thực ra người con trai ấy rơi xuống núi khi đang hái thuốc cho mẹ bạn. Tìm mãi không thấy xác nên người bạn mới quay về. Nàng Sao cũng nghĩ như người trong bản nên căm giận anh ta lắm. Rồi nàng lên sườn núi làm cái lều ở đó, không về. Một đêm mưa gió lớn, nàng cảm lạnh và mất trong túp lều ấy. Loài hoa mà cậu tìm kiếm kia đã chứng kiến cả hai cái chết của họ, có lẽ vì vậy nên dù sặc sỡ nhưng sắc hoa vẫn có nét gì đó buồn thương ghê lắm”.

“Thế ai đã dựng lều và đắp mộ cho nàng Sao?”, Hùng hỏi. “Là người bạn của người yêu nàng Sao đấy, từ đó, người bạn thân ấy đã chặn lối lên sườn núi để không ai phá không khí yên tĩnh yêu thương của hai người”, ông lão lý giải.

“Nhưng cháu thấy tấm bia mới khắc và túp lều cũng mới lợp, như thế là đã có người lên?”, Hùng hỏi, vẻ hiếu kỳ.

“Đúng vậy, tôi đã làm điều đó”, ông lão khẳng định. Hùng vặn lại: “Ông chính là bạn của người con trai ấy!”.

“Đúng vậy!”, ông vừa đáp vừa nhìn thẳng vào mắt anh để khẳng định một lần nữa. Chiếc thuyền khẽ cập bãi, Hùng trả tiền nhưng ông từ chối với một khẩn cầu: “Xin cậu đừng bao giờ quay lại triền núi kia”, rồi ông cho thuyền trở ra hồ.
Đêm đến, Hùng mang máy ảnh ra xem lại, nhưng hỡi ôi, máy bị nước mưa làm hỏng cả. Chỉ còn mấy bông hoa héo rũ không còn sắc, nhợt nhạt như cái xác trên bàn nước. Có lẽ phặc phiền chỉ rực rỡ ở chính triền núi ấy và câu chuyện tình của đôi trai gái kia không thể mang xa hơn triền núi. Hùng lặng lẽ thu xếp đồ đạc chuẩn bị cho ngày mai bắt chuyến xe sớm về thị xã, phặc phiền trong câu hát người xưa thoảng đến trong màn đêm tĩnh lặng.
Tu Bich  
#363 Posted : Saturday, November 7, 2009 11:48:31 AM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Dòng sông Mekong bị bức tử

Thời gian gần đây, có hai sự kiện liên quan đến kinh tế và môi trường sống của các nước hạ lưu sông Mekong, trong đó có Việt Nam, được dư luận bên ngoài quan tâm còn nhiều hơn là chính người trong cuộc. Đó là Trung Quốc chuẩn bị cho việc vận hành đập thủy điện lớn thứ tư ở thượng nguồn sông Mekong và sự hợp tác của Mỹ về dự án sông Mekong trong một cố gắng làm giảm thiểu nguy cơ cho các quốc gia trong vùng.

Đã có rất nhiều bài báo lên tiếng về cơn khát năng lượng của Trung Quốc là lý do để nước này khai thác tiềm năng thủy điện lớn của sông Mekong, bất chấp điều ấy có thể ảnh hưởng tiêu cực đến các nước hạ lưu hàng trăm năm nay sống hiền hòa bên dòng sông này
Đập Mạn Loan trên thượng nguồn sông Mekong.

Sau khi đưa vào vận hành ba đập thủy điện lớn là Mạn Loan, Cảnh Hồng và Đại Chiếu Sơn, vào tháng 9 tới đây Trung Quốc sẽ đưa đập thủy điện Tiểu Loan vào hoạt động. Đập này cao 292 mét, gần bằng tháp Eiffel ở Paris, công suất dự kiến 4.200 Megawatt, hơn gấp ba lần công suất của ba nhà máy thủy điện đang vận hành. Điều đáng lo ngại hơn cả là dung lượng cực lớn trong hồ chứa của đập Tiểu Loan lên đến 15 tỉ mét khối nước, gấp năm lần tổng dung lượng của ba con đập đã hoàn thành trước đó cộng lại.

Song song với Tiểu Loan, một con đập khác lớn hơn cũng đang được Trung Quốc ráo riết thi công là đập Nuozhadu, với hồ chứa lên tới gần 23 tỉ mét khối nước, dự kiến hoàn thành vào năm 2014.

Nguy cơ nước sông Mekong bị các đập thủy điện Trung Quốc ở đầu nguồn hút hết với những hậu quả khôn lường đối với các nước nằm ở hạ lưu là một trong những vấn đề từng được các nhà nghiên cứu đề cập nhiều vài năm nay.

Vào tháng 5-2009, một công trình nghiên cứu giữa Cơ quan Bảo vệ Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) và Viện Công nghệ học châu Á (AIT) đã cảnh báo kế hoạch xây dựng tám con đập trên thượng nguồn có thể trở thành mối đe dọa đáng kể cho dòng sông và nguồn tài nguyên thiên nhiên đến từ sông Mekong, đặc biệt là nguy cơ đối với Việt Nam và Campuchia.

Đối với Việt Nam, lưu lượng nước sông Mekong giảm do ảnh hưởng các đập thủy điện Trung Quốc sẽ làm gia tăng hiểm họa triều cường tại vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), một phần diện tích đất đai bị hóa phèn sẽ không trồng trọt được. Cộng thêm với nguy cơ mực nước biển dâng cao do biến đổi khí hậu, các diện tích canh tác rộng lớn có thể sẽ bị ngập lụt, buộc hàng triệu người dân phải di cư.

ĐBSCL vốn là vựa lúa của cả nước, nên thiệt hại sẽ rất nghiêm trọng. Đó là chưa kể hồ chứa của các đập này sẽ giữ lại rất nhiều phù sa của con sông nên sẽ ảnh hưởng đến hạ lưu. Riêng ĐBSCL thường nhận được rất nhiều phù sa, lượng nước cũng khá, nay nếu nước ít đi, lượng phù sa sẽ giảm trong lúc nước biển có thể lấn sâu vào lưu vực sông Cửu Long phía hạ lưu.

Đối với Campuchia, tình hình cũng không sáng sủa hơn. Mực nước sông Mekong bị giảm sẽ đe dọa đến vựa cá của toàn vùng là Biển Hồ khiến cho kế sinh nhai của hàng triệu ngư dân bị tổn hại.

Cho dù Trung Quốc bào chữa cho việc xây đập ở thượng nguồn sông Mekong là nhờ đó mà giảm được lượng nước chảy vào mùa mưa, giúp các nước phía hạ lưu không bị lụt, giúp cho bờ sông không bị xói mòn, nhưng theo giới bảo vệ môi trường, chỉ mới ba con đập nhỏ đi vào hoạt động mà tác động tiêu cực đối với các nước ở phía hạ lưu đã xuất hiện. Cụ thể là nguồn cá bị giảm sút đáng kể trong lúc hiện tượng bờ sông bị sạt lở vì xói mòn đã phát sinh từ Myanmar qua miền Bắc Thái Lan và miền Bắc Lào.

Ông Nguyễn Đức Hiệp, chuyên viên môi trường tại Úc từng nhiều năm nghiên cứu vấn đề này, cho rằng: “Trung Quốc nói là nhờ đập Tiểu Loan và các đập nước khác trên thượng nguồn, có thể điều hòa được lưu lượng nước sông Mekong, thế nhưng thực tế là trong năm ngoái, bất chợt trong mùa lũ, nước dâng lên rất mạnh ở hạ lưu, vùng Hạ Lào và Đông Bắc Thái Lan bị lụt rất lớn, bờ sông bị xói mòn, nhiều làng mạc bị phá hủy. Dân ở những nơi đó than phiền là tai họa đến từ các đập nước trên thượng nguồn phía Trung Quốc.

Đã có những lời phản đối từ phía Thái Lan và Lào. Cho đến nay, Trung Quốc vẫn không tham gia Ủy hội sông Mekong với bốn nước Việt Nam, Thái Lan, Lào và Campuchia. Chẳng qua là vì họ muốn được làm bất cứ việc gì trên lãnh thổ của họ mà không cần quan tâm đến các nước phía hạ lưu”.

Nhà nghiên cứu Michael Richardson, thuộc Viện nghiên cứu Đông Nam Á có trụ sở tại Singapore, trong bài viết “Đập tại Trung Quốc biến Mekong thành dòng sông bất hòa” đăng trên trang web Yale Global đã cho rằng do không có một hiệp định quốc tế nào chi phối việc sử dụng các con sông liên quốc gia, nên Trung Quốc là nước ở đầu nguồn nắm thế thượng phong và giành quyền tùy nghi phát triển khúc sông trên lãnh thổ của họ mà không cần tham khảo ý kiến ai.

Trong khu vực hạ lưu có Ủy hội sông Mekong, một định chế liên chính phủ tập hợp bốn nước vùng hạ lưu, tuy rất quan tâm đến vấn đề nhưng lại không có uy thế gì đối với Trung Quốc. Cho đến nay, Trung Quốc tránh không gia nhập định chế này vì e ngại kế hoạch xây đập trên thượng nguồn có thể bị các nước Đông Nam Á ở hạ lưu giám sát kỹ lưỡng.

Mới đây có tin sự hợp tác giữa Ủy ban Mekong và Ủy ban sông Mississippi (Mỹ) bắt đầu khởi động nhanh chóng ngay sau chuyến thăm Đông Nam Á của Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton tham dự Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) hồi tháng trước. Hai bên đã ra thông báo ghi nhớ hợp tác nhằm giải quyết những tồn tại trong lĩnh vực tài nguyên thiên nhiên nước.

Hai ủy ban trên đã đồng ý hợp tác trao đổi kỹ thuật và nghiên cứu những biện pháp tối ưu trong việc điều chỉnh sự thay đổi của khí hậu làm ảnh hưởng đến hệ thống dòng chảy. Hai ủy ban cũng đồng ý hợp tác cùng nhau khuyến khích việc phát triển hệ thống thủy điện bền vững, giải quyết vấn đề đảm bảo đáp ứng nguồn thủy sản là lương thực thực phẩm, tổ chức quản lý phòng chống thiên tai lũ lụt và tăng cường thông thương đường sông và thương mại đường sông.

Chủ tịch Ủy ban sông Mississippi cho biết: “Chúng tôi có nhiều kinh nghiệm về chuyên môn và thành thạo nghiệp vụ để đương đầu với những thách thức trên. Việc hai bên hợp tác gần gũi và thường xuyên tiến hành trao đổi sẽ mang lại những lợi ích tốt nhất”.

Ngày 9-7-2009, Chính phủ nước ta đã chính thức lên tiếng bày tỏ thái độ quan ngại trước việc các đập thủy điện xây dựng trên thượng nguồn sông Mekong có thể gây tác hại tới dòng chảy con sông và môi trường sinh thái đặc biệt với các nước hạ lưu. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lê Dũng tuyên bố rằng Mekong là con sông quốc tế, việc khai thác cần tính đến lợi ích các nước trong lưu vực, bảo vệ môi trường và dân cư sinh sống dọc sông. Đây là lần đầu tiên Việt Nam lên tiếng về vấn đề này.

Ngoài việc bày tỏ thái độ một cách ôn hòa, chúng ta vẫn chưa có một trung tâm nghiên cứu về tác hại do thiếu nguồn nước, cũng chưa một công trình nghiên cứu cấp nhà nước nào được thực hiện, mà chỉ có một số công trình của cá nhân các nhà khoa học liên quan đến đánh bắt thủy sản, lưu lượng nước và phù sa tại ĐBSCL. Một nghiên cứu quy mô lớn cùng với các cuộc hội thảo để tìm phương án đối phó, tuy bây giờ có trễ nhưng vẫn còn hơn là chờ nước đến chân mới nhảy, mất bò mới lo làm chuồng, như cách làm lâu nay của các cơ quan chức năng.
Hãy cứu sông Mekong

Chiến dịch vận động cứu sông Mekong do các nhà môi trường thuộc “Liên hiệp cứu lấy sông Mekong (Save the Mekong Coalition - SMC) chủ xướng, tính đến cuối tháng 6-2009 đã thu hút được gần 17.000 người sau hơn ba tháng triển khai, trong số đó có hơn 11.000 cư dân trong vùng lưu vực sông Mekong và khoảng 5.000 người khắp nơi trên thế giới ký tên vào một bản kiến nghị.

UserPostedImage

SMC được thành lập năm 2008 với nhiệm vụ chính là bảo vệ sông Mekong mà mục tiêu trước mắt là theo dõi chặt chẽ việc Trung Quốc xây dựng khoảng 11 đập thủy điện ở thượng lưu con sông, đe dọa đến nguồn sống cũng như cách sống của hàng chục triệu cư dân ở hạ nguồn con sông.

Bản kiến nghị bằng bảy thứ tiếng nói trên đã được gửi đến chính phủ các nước thành viên của Ủy hội sông Mekong (Mekong River Commission - MRC) là Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.

Thế nhưng đáng buồn hơn cả là có vẻ như Nhà Nước VN chưa quan tâm đúng mức về hiểm họa khôn lường ấy, thể hiện qua việc chỉ vỏn vẹn hơn 300 người Việt Nam ký tên vào bảng kiến nghị nói trên, so với Lào là 611 người, Campuchia là 2.673 người, Thái Lan 7.756 người.

Nên chăng các tổ chức, đoàn thể trong nước mở cuộc vận động người dân hưởng ứng chiến dịch của SMC, bằng cách vào trang web: http://www.savethem ekong.org/ ?langss=vi

Ghi tên mình vào bảng kiến nghị là góp phần tham gia vào việc bảo vệ môi trường sinh thái của dòng Mekong nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng.
Theo PHẠM THÀNH SƠN
Hà Phương Hoài  
#364 Posted : Saturday, November 7, 2009 1:15:01 PM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank:: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,237
Location: USA

Thanks: 144 times
Was thanked: 102 time(s) in 61 post(s)

Tremendous pictures!

UserPostedImage


Astronomers Select Top Ten
Most Amazing Pictures Taken by Hubble Space Telescope in Last 16 Years
'...they illustrate that our universe is not only deeply strange, but also almost impossibly beautiful.'
Michael Hanlon/AH (Nov 25th, 2006)

After correcting an initial problem with the lens, when the Hubble Space Telescope was first launched in 1990, the floating astro-observatory began to relay back to Earth, incredible snap shots of the 'final frontier' it was perusing.
Enjoy!

Hubble Telescope's top ten greatest space photographs. Awesome!!!


UserPostedImage

The Sombrero Galaxy - 28 million light years from Earth - was voted best picture taken by the Hubble telescope. The dimensions of the galaxy, officially called M104, are as spectacular as its appearance It has 800 billion suns and is 50,000 light years across.

UserPostedImage

The Ant Nebula, a cloud of dust and gas whose technical name is Mz3, resembles an ant when observed using ground-based telescopes... The nebula lies within our galaxy between 3,000 and 6,000 light years from earth

UserPostedImage

In third place is Nebula NGC 2392, called 'Eskimo' because it looks like a face surrounded by a furry hood. The hood is, in fact, a ring of comet-shaped objects flying away from a dying star. Eskimo is 5,000 light years from Earth.

UserPostedImage

At four is the Cat's Eye Nebula.

UserPostedImage

The Hourglass Nebula, 8,000 light years away, has a 'pinched-in-the-middle' look because the winds that shape it are weaker at the center

UserPostedImage

In sixth place is the Cone Nebula. The part pictured here is 2.5 light years in length (the equivalent of 23 million return trips to the Moon).

UserPostedImage


The Perfect Storm, a small region in the Swan Nebula, 5,500 light years away, described as 'a bubbly ocean of hydrogen and small amounts of oxygen, sulphur and other elements'.

UserPostedImage

Starry Night, so named because it reminded astronomers of the Van Gogh painting. It is a halo of light around a star in the Milky Way.

UserPostedImage

The glowering eyes from 114 million light years away are the swirling cores of two merging galaxies called NGC 2207 and IC 2163 in the distant Canis Major constellation.


UserPostedImage

The Trifid Nebula. A 'stellar nursery', 9,000 light years from here, it is where new stars are being born.
langthang09  
#365 Posted : Saturday, November 7, 2009 2:33:54 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)


UserPostedImage


UserPostedImage
Mùa Đông Của Anh

Xuân hồng của em anh mang đi đâu ?
Hoa tươi nhụy thắm biến đâu rồi ?
Sao em chỉ thấy hàng cây xám
Run rẩy hôn thầm chiếc lá rơi ...

Hạ nồng của em anh mang đi đâu ?
Còn nghiêng một vóc dáng hao gầy
Những vòng hoa nắng chừ rơi rớt
Theo giọt lệ nhoà loang trên tay ...

Thu mộng của em anh mang đi đâu ?
Trăng mơ vừa mới bước qua cầu
Sương thu đã kéo màn ly biệt
Để lại ngàn mây ngất ngất đau ...

Sao lại cho em mùa Đông hở anh ?
Anh gom băng tuyết tự bao giờ ?
Đúc toà nhung nhớ trong giá lạnh
Nhốt kín hồn em cả bốn mùa .
Tiểu Thơ

langthang09  
#366 Posted : Saturday, November 7, 2009 2:42:41 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)
Thiền và khả năng nhận thức

UserPostedImage

Thiền là phương pháp hiệu quả để thư giãn và giảm các ngưỡng sinh lý, kể cả giảm mức độ hoạt động tinh thần. Thiền giảm lo âu, căng thẳng và tăng cường sự tự tin. Nhiều nhà tâm lý dùng thiền để cải thiện thành tích vận động viên, ít nhất cũng giúp họ trấn tĩnh trước một sự kiện thể thao quan trọng. Cũng có ý kiến cho rằng, thiền có thể giúp phát lộ những tiềm năng còn đang ẩn giấu.

Khi các phật tử Thiền tông muốn đạt tới một trạng thái "tâm linh" cao hơn, họ thường dùng một quy cách đã có từ ngàn xưa. Đó là thiền, một kỹ thuật tập trung sự chú ý để đạt tới một trạng thái biến đổi của ý thức. Khác với quan niệm thường gặp, thiền xuất hiện trong hầu hết các tôn giáo lớn, như Thiên Chúa hay Do Thái giáo.

Hiện ở Mỹ, nhiều người tập phương pháp của Maharishi Mahesh, được gọi là thăng thiền TM (transcendental meditation), mặc dù các phương pháp khác cũng rất phổ biến. TM dùng cách thức cơ bản là lặp đi lặp lại một mantra - một âm thanh, một từ hay một vần. Các phương pháp khác thì hướng sự chú ý tới bức tranh, ngọn nến hay một bộ phận cơ thể. Chìa khóa thành công chung là tập trung vào đối tượng cho đến khi quên hết các kích thích bên ngoài và đạt tới một trạng thái khác của ý thức. Nói cách khác, thiền giúp thanh lọc các tạp niệm để vươn tới một trạng thái tinh thần siêu việt nào đó.

Nói chung, người tập thiền thường cảm thấy thư giãn. Kiên trì tập thiền có thể cải thiện sức khỏe. Năm 1989, Alexander thấy người già tập trên ba năm có tuổi thọ cao hơn, vì thiền có tác dụng hạ mức tiêu thụ oxy, giảm nhịp hô hấp, giảm nhịp tim và huyết áp, hạ mức thán khí và lactate trong máu, thay đổi sóng điện não. Tuy nhiên, những thay đổi đó cũng xuất hiện với các hình thức thư giãn khác, cho thấy chúng còn quá "thô" khi lượng giá một kỹ thuật khá kì lạ như thiền.

Năm 1993, nhà tâm lý Benson chứng tỏ có thể thiền qua một quy trình khá đơn giản: ngồi nhắm mắt trong phòng kín, thở sâu theo nhịp, lặp đi lặp lại một mantra. Sau 20 phút, đa số người thực hành đều thấy thư giãn rõ rệt. Tập hai lần hàng ngày, kỹ thuật đạt hiệu quả như thiền kinh điển trong việc thư giãn cả thể xác và tâm hồn.
Hình ảnh của thiền

Ngược với những ý kiến nghi ngờ, hơn 10 năm nay, ngành thần kinh học bắt đầu đo được trạng thái thiền bằng nhiều kỹ thuật tạo ảnh não mới như tạo ảnh bằng bức xạ positron PET hay bức xạ đơn photon SPECT. Nhờ theo dõi dòng máu lưu thông trong não, chúng cho biết vùng não nào hoạt động khi ta đang thiền, đang trải nghiệm một kinh nghiệm tâm linh hay đang hoạt động nhận thức (như học ngoại ngữ chẳng hạn).

Những nghiên cứu đó được tổng kết trong nhiều ấn phẩm, điển hình là cuốn Thiền và bộ não (844 trang) của James Austin, do Viện Công nghệ Massachusetts danh tiếng của Mỹ xuất bản năm 2001. Tờ Tuần tin tức (Mỹ) ngày 14/5/2001 đưa ra hình ảnh bộ não trong trạng thái thiền. Khi đó, cảm xúc tôn giáo liên quan với hoạt tính vùng giữa, những hình ảnh thiêng gắn với vùng phía sau bên dưới thùy thái dương; còn khi thùy đỉnh trấn dịu, người đang thiền có thể thấy mình hòa làm một với vũ trụ…

Cần lưu ý hình ảnh vùng Broca ở thùy trán và vùng Wernicke ở thùy thái dương bên trái. Đó là hai vùng liên quan với ngôn ngữ. Người bị tổn thương vùng Broca khó phát âm đúng, nói rất vất vả nhưng nghe và đọc bình thường. Còn khi tổn thương vùng Wernicke, sẽ không còn khả năng hiểu nghĩa của ngôn ngữ nữa. Khi thiền, có người nghe thấy "tiếng nói từ bên trong". Hình ảnh PET cho thấy, khi đó vùng Broca hoạt động. Bình thường thì ta biết đó là tiếng nói bên trong của bản thân, nhưng khi đang thiền thì thông tin cảm giác bị giảm thiểu, nên nhiều người hiểu lầm là chúng gắn với một nguyên nhân bên ngoài, như thánh thần hay ma quỷ. Đó cũng là lý do người tâm thần có thể giết người, khi cho rằng mình đang thực hiện mệnh lệnh của một đấng tối cao nào đó. Nhiều nhân vật lừng danh như Dostoyevsky, Thánh Paul, Mẹ Teresa, Proust… cũng được xem là có ổ động kinh tại thùy thái dương, nên rất giầu cảm xúc tâm linh.
Thiền và học ngoại ngữ

Tuy chưa được theo lớp học của Giáo sư Lê Khánh Bằng cũng như chưa đọc giáo trình Phương pháp tự học và hướng dẫn tự học ngoại ngữ có chất lượng và hiệu quả cao, người viết bài này vẫn mạnh dạn cho rằng, cách đặt vấn đề của phương pháp học ngoại ngữ bằng thiền như thế có nhiều điều chưa ổn.

Thứ nhất, giáo trình vẽ hai trung khu tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ tách biệt nhau trên não người. Đây là điều khá lạ vì khi nói về cấu trúc vỏ não của ngôn ngữ, người ta thường vẽ hai vùng Broca và Wernicke. Ngoài ra là các vùng thị giác (để đọc), thính giác (để nghe), vận động (để đọc), cũng như nhiều cấu trúc dưới vỏ não khác. Điều đó là hiển nhiên vì nhận thức là sự kết hợp tinh diệu giữa các hoạt động ý thức vỏ não và các hoạt tính vô thức dưới vỏ. Chúng ta rất băn khoăn vì không hiểu tiếng Anh và tiếng Pháp có nằm trong cùng một trung khu hay không. Theo giáo trình thì chắc là không vì với người Mỹ chẳng hạn, tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ, còn tiếng Pháp là ngoại ngữ. Vậy một người biết 20 ngoại ngữ sẽ có 20 trung khu trên vỏ não?

Vì không có máy móc kiểm chứng giả thuyết của Giáo sư Lê Khánh Bằng, nên ta đành bằng lòng với những suy luận vậy. Rất khó tin là trên vỏ não lại có nhiều trung khu ứng với từng ngôn ngữ, vì đó chính là sự lãng phí lớn. Một cách thô thiển, có thể xem não là một máy tính với khả năng tính toán song song siêu hạng. Có lẽ, bộ não chỉ dùng các vùng nói trên chung cho mọi ngôn ngữ mà thôi. Tất nhiên, nếu các tác giả đưa ra được những bằng chứng thuyết phục, chúng tôi sẽ rút lại suy luận này.

Thứ hai, dường như đó không phải học ngoại ngữ qua thiền, vì "việc đầu tiên mà các học viên phải làm là… thư giãn và thở. Sau đó học viên bước vào thiền tĩnh, mắt nhắm nghiền, toàn thân bất động". Và họ được hướng dẫn "tập đọc chữ cái, các âm cơ bản" rồi tiến lên học các bài cụ thể. "Tiếp theo là thiền động, vẫn tập trung cao độ vào môn học, nhưng có sự hỗ trợ của tay viết, cử chỉ, điệu bộ nếu cần, sau đó học viên viết ra những suy nghĩ của mình bằng tiếng Anh hay tiếng Việt, tùy theo trình độ".

Đối chiếu với kỹ thuật thiền nói ở trên, ta thấy kỹ thuật học ngoại ngữ như thế không phải là thiền. Bản chất của thiền là giảm các hoạt động tinh thần để hướng tới sự thư giãn như một cách thanh lọc tinh thần, giữ bỏ tạp niệm. Vì thế nó thích hợp với các xã hội phương Tây vốn quay cuồng với nhịp sống công nghiệp. Bí quyết thành công của thiền là sự cách ly cảm giác, tức hạn chế kích thích bên ngoài mà chỉ tập trung vào mantra. Theo lời Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương thì đó là cách "làm trống" bộ não. Còn khi học ngoại ngữ, ta phải tập đọc, tập phát âm, tập các bài học theo hướng dẫn; tiếp đó lại suy nghĩ và viết ra các suy nghĩ đó… Đó đều là kích thích cảm giác, theo một nghĩa nào đó thì đều là "tạp niệm" cả. Nói cách khác, thiền và học ngoại ngữ là hai việc khác nhau về bản chất.

Thứ ba, chỉ 5 buổi tập trong 5 tuần mà hình thành được trung khu ngoại ngữ thì thật khó tin, vì điều đó trái với cách thức vận hành chung của vũ trụ. Làm gì có chuyện chi phí tối thiểu mà kết quả lại tối đa như thế? Kinh nghiệm thông thường cho thấy, phải lao tâm khổ tứ rất nhiều mới có thể bước đầu làm chủ một sinh ngữ. Vậy các tác giả hãy đưa ra bằng chứng thuyết phục cho sự tồn tại của một trung khu ngoại ngữ như thế sau mỗi khóa học. Và nếu đúng như thế thì tại sao ta không phổ biến phương pháp ra toàn thế giới để nhân loại không còn vất vả khi tìm hiểu nhau?

Cuối cùng, đúng như một chuyên gia tiếng Anh đã nhận xét, thực chất của phương pháp có lẽ chỉ là: thiền giúp đầu óc thanh thản, loại bỏ các suy tư không cần thiết để tập trung toàn bộ tinh lực vào bài học. Vì thế kết quả có thể tốt hơn. Trẻ em Làng SOS mạnh dạn, hoạt bát và phát âm tốt hơn cũng có thể giải thích như vậy, vì như đã nói, thiền có thể phát lộ những tiềm năng còn đang ẩn giấu. Còn lại những lập luận như tạo được trung khu ngoại ngữ chỉ sau 5 buổi tập, tình trạng "leo cột mỡ"… đều mang dấu ấn suy luận chủ quan. Chúng chưa được khẳng định bằng khoa học (như các trắc nghiệm tâm lý hay chụp ảnh não chẳng hạn). Vì thế ta cũng không nên căn cứ vào những lời động viên, khuyến khích của một số nhà khoa học nổi tiếng mà cho rằng, phương pháp học ngoại ngữ bằng thiền nói trên đã là đáng tin cậy về mặt học thuật.
Đỗ Kiên Cường
hongvulannhi  
#367 Posted : Saturday, November 7, 2009 6:15:04 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)

UserPostedImage

Dấu Yêu ơi,

Sáng nay, trời bỗng dưng đẹp, nắng bỗng vàng hơn mọi khi, vì LN cảm thấy lòng vui vui, khi từ Bết Bắt (Bed, Bath & Beyond ) đi bộ trên con đường có lá vàng rơi rụng trở về nhà. Nhìn lá vàng nằm yên trên lối đi, LN không còn thì giờ nghĩ đến buồn, mà chỉ thấy lòng đang vui, và bước chân như muốn bước nhanh hơn để về nhà, vì gói đồ trong tay, ôm nặng quá.

Mục đích chính là đi bộ cho có tí thể thao, vì đã lâu, LN ngại đi Bally, Nhớ đến G, đã từng nói trúng tim đen của LN, là " không có tính kiên nhẫn " cho nên việc gì rồi cũng dở dang thôi.

LN đi bộ ra bank trả tiền nợ credit card. Mua nhiều nợ lắm thì phải lo trả nợ thôi. LN đứng xếp hàng sau bà Mỹ đen, và vui vì thấy LN so với bà ta, hãy còn thanh tơ mảnh chỉ lắm.Tongue LN lại nghĩ thầm, chả dại gì mà lại xếp hàng sau tt và Dedde, nhất là đứng ngang bằng với Thanh Sơn nữ thì đúng là số 10 chẳng sai tí nào Tongue

Biết thì biết vậy, ấy thế mà hôm thứ Năm, Bích Huyền rủ đi ăn, cũng lại chẳng bao giờ biết từ chối. Đã thế, lần đầu tiên LN gọi tô lớn, dù biết trước bánh phỏ sẽ để dư thừa, nhưng vì thịt bò filrt thì mềm ngon, nên, cũng vhỉ vì tham ăn mà ra. Hahaha, vì Bích Huyền trả tiền, nên BH cứ mời mãi, chị lấy thêm đĩa thịt không mà ăn... LN dễ nghe theo, nên cũng gọi thêm đĩa thịt và hai chị em cũng miếng ra miếng vào rồi cũng hết. Phải thành thật khai báo, LN ăn nhiều hơn BH.

Tiệc phở trưa nay cũng có Hải tôi, nhưng ăn xong là Hải chạy đi ngay, hình như bạn bè đang chờ trong nhà quàn, đám ma ai đó, không nghe Hải nói.

BH có thì giờ đưa LN đi thăm phố, nhất là để quảng cáo, tiệm cháo lòng ngon với đầy đủ bộ lòng như dồi mỡ, dồi thịt, gan, tiết, dồi trường v..v...

Lần đầu tiên LN đi chợ với BH, cho nên, cứ thấy BH đòi thử, hết giò bì, đến giò bò thì là, rồi dồi, rồi tiết, và cứ thử xong thì lại:

- Bà cho tôi 1 lbs giò, 1 lbs lòng heo...

Cứ thế, bà hàng lại cắt đưa cho BH ăn thử.

Thằng con trai bà chủ quán, lại quảng cáo:

- Cháo lòng mua một tặng một

Mắt BH lại sáng lên:

- Mua đi chị, em khao, chị một, chị Bê một. Chiều nay về ăn, khỏi nấu cơm.

Nghe BH bàn thì cũng có lý, LN bèn gọi Kim Bê thông báo sự tình và nhắc chiều nay có cháo lòng rồi, đừng thổi cơm nữa. Ông Táo chắc mừng vì chiều nay được nghỉ ngơi.

BH còn cứ thắc mắc, sao chị LN không lấy con gà to... mà lại lấy con gà nhỏ thế. LN thật thà:

- Thì bà chủ quán bảo con gà nhỏ ngon hơn.

LN nói nhỏ với BH, thì cứ tin bà ta một lần đi, nếu như không đúng, thì từ nay về sau bà ta không làm sao gây lại được niềm tin trong chị nữa đâu. Một lần thất tín, vạn lần mất tin mà...

Thế rồi, hai tô cháo buy one get one free ấy đã chia được 4 bát nhỏ cho Kim sầu mộng, Kim Chi, Kim Bê và LN. Dĩ nhiên là Kim Bê phải có thêm cơm và các món ăn khác.

Có lẽ tại BH khao, nên mọi người ăn ngon lành.

Đó là câu chuyện hôm thứ năm, không liên quan gì đến ngày hôm nay thứ Bảy, vì LN vừa đi Bết Bát ( bed bath & beyond ) về, mua được mấy thứ rẻ quá là rẻ, cho nên dù không cần thiết, vẫn cứ mua, đem về nhiều khi chả biết cất đâu nữa.Tongue

LN khệ nệ ôm về, đi bộ cho khoẻ cẳng khoẻ giò, mà vì ôm mấy thứ nặng, nên giò cẳng không thấy khoẻ mà chỉ thấy mỏi thôi!

Bây giờ LN nghỉ ngơi chút xíu sau khi đã tường trinh mòi chuyện trong ngày, giống như phóng viên báo chí tường trình mọi việc xảy ra khắp nơi vậy.

LN cũng vừa vào hột thư, thấy TVV mang vào bài hát nghe dễ thương, LN đem về đây cho Dấu Yêu nghe, và cám ơn TVV nhiều.

http://www.youtube.com/watch?v=DV4q2pK_eTg

Mời Dấu Yêu thưởng thức CD của Khê Kinh Kha...
HONG VU LAN NHI


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#368 Posted : Saturday, November 7, 2009 6:54:38 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)
* Cám ơn anh Đoàn T Liêm - hvln - --------------------------------
Sau khi Liên Xô giải thế, Phong trào Cộng sản còn lại những gì ?
(What’s left of the Communist Movement?)

Bài của : Đòan Thanh Liêm


Sự sụp đổ bức tường Bá linh vào năm 1989, và sự giải thể của Liên bang Xô viết vào năm 1991 liền sau đó, đã đánh dấu một bước ngoặt rõ rệt của lịch sử thế giới vào cuối thế kỷ XX. Sau 20 năm tức là khỏang cách của một thế hệ, chúng ta đã có đủ thời gian để quan sát và lượng định về sự chuyển biến của cục diện thế giới trong thời đại “hậu cộng sản” vào đầu thế kỷ XXI hiện nay.

1/ Trước hết, là không còn một cơ cấu tổ chức nào mà có thể được gọi là “Phong trào Quốc tế Cộng sản” (World Communist Movement) do Liên Xô lãnh đạo như hồi thập niên 1960-70 nữa. Và do đó cũng không còn có một khối cộng sản để đối địch với khối tư bản; mà cuộc chiến tranh lạnh giữa Nga và Mỹ, phát sinh từ ngay sau lúc chiến tranh thứ hai chấm dứt cũng tự động mà tiêu tan luôn. Hậu quả là hiện nay, thế giới chúng ta không còn phải lo sợ về một cuộc chiến tranh tòan cầu do sự tranh chấp giữa 2 siêu cường Liên Xô và Mỹ, giống như trường hợp đối đầu nảy lửa gay cấn giữa 2 lãnh tụ Kruschev và Kennedy trong cuộc khủng hỏang Cuba hồi năm 1962 nữa.

Mà cũng chẳng còn một chủ thuyết bao gồm tòan diện các tín điều như tổ chức “Đệ tam quốc tế” (Comintern) vẫn truyền bá hồi thập niên 1930-40 nữa rồi. Trên thế giới ngày nay, chẳng còn một lãnh tụ đảng cộng sản nào mà còn dương dương xưng tụng “ lý thuyết về ba dòng thác cách mạng” như ông Lê Duẫn đã từng dõng dạc tuyên bố tại Việt nam sau hồi tiến chiếm được miền Nam năm 1975. Ý cuả nhà lãnh đạo cộng sản Việt nam muốn nói là : Lực lượng cách mạng đã toàn thắng ở trong khối xã hội chủ nghiã, tại các nước trong thế giới thứ ba, và đang dâng lên cả trong nội bộ các nước tư bản nưã. Vì thế mà họ mới trưng ra khắp nơi các khẩu hiệu đến là nực cười như : “Chủ nghiã Marx – Lénine bách chiến bách thắng”, “Chủ nghiã xã hội là đỉnh cao của trí tuệ loài người” v.v...

Việc thêm cái mục “Tư tưởng Mao Trạch Đông” hay “Tư tưởng Hồ Chí Minh” gắn liền vào với chủ thuyết kinh điển Marx-Lénine, thì lại càng làm mờ nhạt thêm cái căn bản lý thuyết mà vốn là rường cột của phe xã hội chủ nghĩa cho đến ngay thập niên 1980 gần đây mà thôi.

2/Không còn bóng dáng nào của chủ nghĩa cộng sản trên tòan thể các quốc gia thuộc Âu châu ngày nay nữa, kể cả tại các quốc gia vốn xưa kia nằm trong Liên bang Xô viết.

Điều này rất đáng chú ý, bởi lẽ chủ thuyết Marx-Engels cũng như cuộc cách mạng Bolshevik đều được phát sinh ra tại Âu châu, và cho đến giữa thập niên 1980, thì có đến một nửa Âu châu vẫn còn nằm trong khối cộng sản do Liên Xô lãnh đạo. Ta sẽ phân tích chi tiết tình hình này ở Âu châu hiện nay như sau đây :
A/ Tại Tây Âu : Trước đây vào thập niên 1950 – 60, các đảng cộng sản ở Pháp và Italia rất là hùng hậu mạnh mẽ, có lúc thu được đến trên 30% phiếu bầu cuả cử tri toàn quốc, khiến cho họ đã nhiều lần khuynh loát được chính quyền tại các nước này. Ấy thế mà hiện nay, các đảng này đã tuột dốc thê thảm, hầu như chỉ còn là một cái bóng mờ nhạt trong đời sống chính trị quốc gia. Mặc dầu họ đã công khai từ bỏ lập trường “tranh đấu giai cấp” và xoá bỏ chủ trương “vô sản chuyên chính, baọ lực cách mạng”, thì các đảng cộng sản này cũng vẫn chẳng còn thu hút được sự ủng hộ cuả quần chúng như trước đây nưã. Còn tại các nước khác như Anh quốc, Bỉ, Hoà lan, v.v..., thì các đảng cộng sản tuy vẫn tồn tại, nhưng hầu như không còn khả năng lôi cuốn được mấy ai mà còn phấn khởi tin tưởng hay tham gia sinh hoạt với đường lối “cách mạng vô sản” nưã.

Nhân tiện cũng xin ghi chú thêm là : Vào hồi thập niên 1970 trở đi, các đảng cộng sản tại Tây Âu, đặc biệt tại Italia và Tây ban nha đã có một đường lối khá cởi mở, thông thóang được mệnh danh là “cộng sản Âu châu (Euro – communism). Đường lối này cũng tương tự như chủ trương của giới lãnh đạo cộng sản Tiệp khắc trong vụ “Mùa xuân Praha năm 1968” với khẩu hiệu “Xã hội chủ nghĩa với bộ mặt nhân bản” (socialism with human face). Các nhà nghiên cứu gần đây đã đánh giá rằng chủ trương nhân bản thông thóang này đã có sức thuyết phục trong nội bộ giới lãnh đạo Xô Viết và nhờ đó mà Liên Xô đã không ra tay can thiệp vào phong trào đòi tự do dân chủ ở Đông Âu, khiến đưa đến sự sụp đổ của cộng sản ở vùng này, và rồi kéo theo cả sự tan vỡ tòan bộ của hệ thống Xô viết. Như vậy, ta cũng nên ghi điểm son cho công trạng của Euro-communism trong việc gián tiếp góp phần vào việc xóa bỏ cộng sản ở Đông Âu và làm tan rã đế quốc Liên Xô.
B/ Tại Đông Âu : Kể từ cuối năm 1989, các nước Đông Âu đều đã rũ bỏ hoàn toàn chế độ cộng sản và tiến hành được công cuộc chuyển hoá dân chủ (democratic transition) một cách thật êm thắm ngoạn mục. Tất cả các nước này đều đã thiết lập được một chế độ chính trị đa nguyên đa đảng, xây dựng được một nền kinh tế thị trường rất thành công vững mạnh. Và đặc biệt đã hội nhập được với Cộng đồng Âu châu, cũng như gia nhập được với khối liên minh phòng thủ Nato. Nhờ vậy mà các nước cưụ cộng sản này đã bắt kịp được với trào lưu tiến bộ về mọi mặt cuả các quốc gia dân chủ ở Tây Âu. Khu vực xã hội dân sự gồm hàng ngàn, hàng vạn các tổ chức phi chánh phủ, bất vụ lợi, cùng với các tổ chức văn hoá-giáo dục-xã hội xuất phát từ các tôn giáo đã được phục hồi một cách vững chắc, khiến tạo được tiền đề cho một “nền dân chủ tham gia” cuả quảng đại quần chúng khắp nơi (a participatory democracy). Đây rõ rệt là một quá trình dân chủ hoá đích thực và dứt khoát không thể nào đảo ngược lại, để trở về với thể chế độc tài toàn trị cộng sản như trước đây được nưã (an irreversible process).

Ta có thể đánh giá ngắn gọn được rằng cái tiến trình dân chủ hóa này đã thành công xuất sắc tại Tiệp khắc, Hungary, Balan và đặc biệt là tại nước Đức nữa. Bởi lẽ Tây Đức đã hết lòng cưu mang đón nhận người anh em từ bên phía Đông về hiệp nhất với mình. Và sự kiện vị Thủ tướng hiện nay là Bà Angela Merkel vốn xuất thân từ bên Đông Đức là một biểu hiện tuyệt vời của sự thống nhất nước Đức trong tinh thần hiếu hòa và tự do dân chủ vốn đã ăn rễ lâu đời trong truyền thống văn hóa của Âu châu.
C/ Tại chính nước Nga và các nước thuộc Liên bang Xô viết cũ, thì cũng lại không hề có dấu hiệu nào là chế độ cộng sản còn có thể “tái xuất hiện”.

Hiện tình chính trị xã hội trong khu vực này, mà xưa kia người cộng sản khắp nơi trên thế giới vẫn coi như “thành trì cuả chủ nghiã xã hội”, lại càng đáng cho chúng ta chăm chú theo dõi quan sát chi tiết rành mạch hơn. Như ta đã biết kể từ năm 1991, Liên Xô đã bị chia thành 15 nước cộng hoà riêng biệt, trong đó nước Nga là môt nước lớn nhất và là đại diện kế thưà cuả Liên bang Xô viết đã được chính thức khai tử vào ngày 25 tháng 12 năm 1991. Kể từ ngày đó nước Nga đã phải rất vất vả khó nhọc với sự “thanh toán di sản” cuả Liên bang đối với 14 nước cộng hoà kia. Chỉ riêng với số 25 triệu người thuộc sắc tộc Nga mà lại còn sinh sống phân tán ở các nước cộng hoà biệt lập đó, thì đã là một việc phức tạp làm điên đầu cho giới lãnh đạo cuả nước đàn anh này rồi. Và những cuộc căng thẳng xung đột liên tục có khi biến thành chiến tranh đẫm máu như ở Chechnya hồi năm 1994-95, hay mới đây tại Georgia đã và con đang làm cho nước Nga phải liên miên đối phó với những hậu quả rất ư nặng nề cuả cái quá khứ do “đế quốc đỏ” để lại cho mình rồi. Mặc dầu đảng cộng sản vẫn tồn tại ở nước Nga, nhưng mới đây trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về kinh tế tài chánh vào năm 2008, thì đảng này cũng không hề dám động tĩnh gì để khai thác “thời cơ bất ổn” này, nhằm lật lại thế cờ hầu đưa đảng cộng sản trở lại nắm chánh quyền như trước kia được nưã.
Trường hợp của Liên bang Nam Tư được tách ra thành 6 nước riêng biệt, thì cũng tương tự như của Liên Xô, tức là sự “tranh chấp về chủng tộc” mới là đặc tính chính yếu của các quốc gia, chứ không phải là cuộc “tranh đấu giai cấp” như trong kinh điển của chủ nghĩa Marxist (ethnic conflict, chứ không phải là class struggle). Lại nữa, riêng tại nước Nga hiện nay thì đã có đến cả nửa triệu các tổ chức phi chánh phủ (NGO) mới được thành lập, với khả năng đáp ứng kịp thời đối với nhu cầu thực tiễn thường ngày của người dân; đó là một thay thế rất hiệu quả cho chánh sách an sinh xã hội mà trước đây chánh quyền cộng sản vẫn tự hào cho đó là một điểm son của chế độ. Kết cục là mặc dầu bản thân người lãnh đạo nước Nga là Vladimir Putin vốn xuất thân từ lò mật vụ KGB, thì ông ta cũng đã chẳng thể tiến hành việc tái lập chế độ cộng sản được, dù ông có lề lối cai trị với bàn tay sắt của một nhà độc tài chuyên chế như nhiều người vẫn phê phán về ông.

Còn về phần 14 quốc gia khác mà được tách ra từ Liên Xô, thì mối ưu tư về việc củng cố chủ quyền quốc gia cho mỗi nước của mình lại mới chính là yếu tố nòng cốt để xây dựng và phát triển sự thịnh vượng của đất nước. Và sự xóa bỏ chủ nghĩa cộng sản tại các quốc gia này rõ rệt là một sự kiện lịch sử dứt khóat, mà điển hình nhất là tại 3 nước cộng hòa vùng Baltic là Estonia, Latvia và Lithuana.
Đó là tình hình hiện nay tại khu vực được coi như là quê hương của cuộc Cách mạng Tháng Mười do người cộng sản Bolshevik khởi xướng thành công từ năm 1917 dưới sự lãnh đạo của Lénine.

3/ Chỉ còn lại có 5 quốc gia sau đây là do đảng cộng sản giữ độc quyền lãnh đạo. Đó là 4 nước ớ Á châu, gồm có Trung quốc, Việt nam, Bắc Triều tiên và Lào quốc. Và một nước khác ở Châu Mỹ La tinh, đó là Cuba.

Nói chung thì tuy do đảng cộng sản còn nắm giữ quyền bính, nhưng tuỳ theo mỗi nước mà chế độ cộng sản cũng đã “đổi màu” nhiều rồi, không còn tính cách sắt máu khắc nghiệt như cách nay vài ba chục năm nưã. Họ theo đúng khẩu hiệu “Đổi mới hay là Chết” để mà thích nghi với tình trạng biến chuyển cuả thời đại, hầu có thể duy trì được sự tồn tại cuả mình.

Ta sẽ lần lượt xét đến trường hợp riêng biệt cuả từng nước một trong số 5 quốc gia này.
A/ Trước hết là Bắc Triều Tiên, được coi là một nước cộng sản quá khích, hung hãn, độc ác và tàn bạo nhất trên thế giới ngày nay.Tính chất phong kiến hủ lậu còn rất nặng nề do việc “cha truyền, con nối”, bắt đầu từ Kim Nhật Thành trao cho con là Kim Chính Nhất nắm giữ quyền lãnh đạo tại xứ sở này. Và bây giờ Kim Chính Nhất lại đang chuẩn bị “truyền ngôi” cho một người con của mình; như vậy là sắp bắt đầu đến thế hệ thứ ba của dòng họ Kim tiếp nối giũ quyền thống trị tại một nước vần được coi là giữ vững truyền thống cách mạng cộng sản.

Với chế độ sắt máu, khắc nghiệt, nền kinh tế lẹt đẹt không sao phát triển được, khiến cho dân chúng đói khổ cùng cực, đến nỗi phải liều mình vượt biên giới để thóat qua Trung quốc tìm cách kiếm ăn. Một số rất ít có may mắn đào thóat qua được với bà con ở phía Nam Triều Tiên, để mà làm lại cuổc đời hầu có được một cuộc sống xứng đáng với phẩm giá con người. Dân thì đói khổ lầm than như vậy, mà giới lãnh đạo ở xứ này vẫn cứ ngoan cố phung phí ngân sách, tài sản quốc gia vào công việc chế tạo võ khí rất đắt tiền, cụ thể là kho võ khí hạch tâm để hù dọa, làm yêu sách đối với Mỹ, Nhật, Đại Hàn… nhằm tống tiền, đòi viện trợ thực phẩm, nhiên liệu vật liệu đủ mọi thứ. Cái tác phong “ăn vạ kiểu Chí Phèo “ này đã khiến cho công luận thế giới liệt kê Bắc Triều Tiên vào hàng ngũ mấy “quốc gia côn đồ” (rogue state).

Nhưng mà về lâu về dài, cứ cái đà kinh tế tụt hậu bết bát như hiện nay, thì Bắc Triều Tiên không thể làm sao cạnh tranh được với sự phồn thịnh rất vững chắc của Nam Triều Tiên với dân số đông đảo gấp quá 2 lần, mà lợi tức tính theo đầu người thì lại gấp mấy chục lần. Tình trạng này cũng y hệt như giữa Đông Đức và Tây Đức cách nay mấy chục năm, trước khi bức tường Bá linh sụp đổ.
B/ Trường hợp của Lào quốc, một nước cộng sản hiền lành nhất.Là một nước nhỏ với dân số có chừng 8 triệu, Lào bị Việt nam khống chế và cũng được Trung quốc chèo kéo, o bế. Tuy vậy chế độ cộng sản ở đây được coi là bớt khắc nghiệt nhất, trái hẳn với ở Bắc Triều Tiên. Người dân Lào vẫn còn giữ được lề lối bình thản, hiền hậu theo ảnh hưởng sâu đậm cuả Phật giáo.Sự gần gũi về văn hoá, ngôn ngữ, tôn giáo với dân tộc láng giềng Thái lan về phiá Tây về lâu dài có khả năng làm quân bình với ảnh hưởng cuả Việt nam và Trung quốc ở phiá Đông và Bắc. Và cái quá khứ nặng nề từ cuộc chiến tranh Đông Dương 1945 - 75 cũng lần hồi bị vượt qua trong viễn tượng nước Lào mỗi ngày thêm tiến triển với công cuộc hội nhập với cộng đồng điạ phương Đông Nam Á vậy.
C/ Trường hợp cuả nước khổng lồ Trung hoa với dân số 1,300 triệu đang trỗi dậy thành một siêu cường, nhờ sự thành công thần kỳ về kinh tế thương mại trong 30 năm qua, khiến cả thế giới phải chú tâm theo dõi. Rõ ràng là tính thực dụng truyền thống cuả dân tộc Đại Hán đã giúp họ thoát ra khỏi cơn mê loạn cuả cuộc cách mạng văn hoá cuả lãnh tụ Mao Trạch Đông ở vào tuổi cuối đời cuả ông hồi cuối thập niên 1960.Người kế vị Đặng Tiểu Bình đã phát biểu thật rõ ràng trong câu nói lịch sử : “ Mèo trắng hay đen thế nào cũng được, miễn là nó bắt được chuột”. Tức là ý ông muốn nói : Không cần câu nệ vào giáo điều cộng sản, mà điều quan trọng là làm sao phát triển kinh tế để đem lại sự ấm no cho dân tộc và sự cường thịnh cuả xứ sở. Và chỉ trong vài chục năm, với chính sách “mở cưả ra với bên ngoài, đặc biệt là với khối Âu Mỹ, Trung hoa đã gặt hái được những thành tựu xuất sắc vượt bậc nhờ ở sư thu hút được kỹ thuật tiến bộ và vốn liếng đầu tư khổng lồ từ khối đông đảo người Hoa kiều hải ngoại, cũng như cuả Nhật, Đại hàn, Mỹ và cả Tây Âu, đặc biệt là cuả Đài loan.

Cái sự thành công vĩ đại này đã củng cố cho điạ vị cuả giới lãnh đạo cộng sản ở Bắc kinh, nhưng mặt khác nó cũng làm nhẹ bớt đi tính chất khắc nghiệt tàn bạo cuả nạn giáo điều cuồng tín cố hưũ mà điển hình là cuả thời kỳ Mao Trạch Đông lãnh đạo. Dù vẫn còn bảo thủ với lối cai trị độc tài chuyên chế với sự bóp nghẹt tự do dân chủ, mà cụ thể là sự tàn sát Thiên An Môn năm 1989 và nhất là sự đàn áp môn phái Pháp Luân Công gần đây, cũng như sự mạnh tay kềm kẹp tại Tây Tạng, Tân Cương; thì đảng cộng sản vẫn chẳng ngăn cản được sự phát triển khu vực xã hội dân sự, đặc biệt là trong các đô thị đông đúc và thịnh vượng ở Trung hoa hiện nay. Và ngay cả trong hàng ngũ cán bộ đảng viên cộng sản, họ đã thâu nhận cả giới doanh nhân tư sản như là một thành phần quan trọng cần thiết cho sự xây dụng và phát triển quốc gia. Đường lối thực dụng trong công cuộc canh tân đổi mới này đã ảnh hưởng cả đến các đảng cộng sản đàn em, mà điển hình là cộng sản Việt nam mà ta sẽ phân tích trong mục tiếp liền theo đây.
D/ Kể từ khi Liên Xô tan vỡ, đảng cộng sản Việt nam phải quay về bám viú vào đàn anh Trung quốc, mà chỉ mới một thập niên trước đó họ đã tố cáo là một kẻ thù phương bắc với mộng “bá quyền nước lớn”, nhất là sau trận chiến tranh biên giới đầu năm 1979 mà Trung quốc gọi là “phải dậy cho Việt nam một bài học”. Giới lãnh đảo cộng sản Việt nam đã phải cay đắng nuốt nhục để xin làm hoà với đàn anh Trung quốc, mà hậu quả tai hại nhất là phải “dâng đất dâng biển cho Bắc kinh”. Việc này hiện đang là mối nguy cơ trầm trọng cho sự tồn vong cuả đất nước, khiến cho dân chúng càng thêm bất mãn với giới lãnh đạo già nua, hủ lậu và ngoan cố ở Hanoi.Rõ ràng là đảng cộng sản đã chỉ lo bảo vệ quyền lợi riêng tư cuả chính mình, chứ không phải là chăm sóc cho quyền lợi chính đáng cuả đất nước, cuả toàn thể dân tộc.
Nhưng mặt khác, sự đổi mới về kinh tế do chủ trương mở cưả ra với bên ngoài theo gương cuả Trung quốc thì đã đem lại cho Việt nam một sự thành công đáng kể khả dĩ có thể cứu vãn phần nào cho vị thế lãnh đạo cuả đảng cộng sản để vẫn giữ được quyền bính trong tay. Mặc dầu Hanoi vẫn tìm cách bưng bít thông tin, xiết chặt sự hoạt động cuả các tổ chức tôn giáo, cấm đoán các tổ chức chính trị văn hoá độc lập v.v..., thì họ cũng vẫn phải nhượng bộ để cho xã hội dân sự bắt đầu phát triển trong một số lãnh vực. Do vậy mà tính chất độc tôn, độc quyền cuả đảng cộng sản cũng bớt đi được sự cực đoan cứng rắn trước đây, khi họ mới tiến chiếm được miền Nam và chủ trương “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghiã”! Sự tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền cuả các thành phần trẻ ở trong nước trong những năm gần đây, mặc dầu bị đàn áp nặng nề, thì vẫn được tiếp diễn và được sự hưởng ứng mạnh mẽ cuả quần chúng, kể cả trong giới tôn giáo. Đó là một viễn tượng lạc quan cho tiến trình dân chủ hoá tại Việt nam ngày nay vậy.
E/ Trường hợp cuả Cuba và Châu Mỹ La tinh.

Chế độ cộng sản ở Cuba đã tồn tại được 50 năm. Và mặc dầu bị cắt hết nguồn viện trợ kể từ khi Liên Xô tan rã, Cuba vẫn còn đứng vững được với sự khâm phục và cổ võ cuả một số quần chúng tại châu Mỹ La tinh như là biểu tượng cuả anh chàng “ David tý hon” mà dám ra tay đối đầu thách thức với “anh khổng lồ Goliath là nước Mỹ” vốn xưa nay ít được thiện cảm cuả những nước nhỏ ở phiá Nam bán cầu.

Về kinh tế, Cuba cũng bị trì trệ như các nước cộng sản trước đây và lại không chịu đổi mới như Trung quốc, Việt nam. Phần lớn số ngọai tệ có được là do của các kiều bào từ hải ngọai gửi về cho thân nhân, hoặc do khách du lịch, chứ phần thu nhập nhờ xuất cảng cũng không được bao nhiêu. Nhưng Cuba có ưu điểm là duy trì được hệ thống chăm sóc y tế đại chúng tương đối khá vững chắc và hiệu quả. Nền giáo dục phổ thông cũng được chú trọng, mặc dầu ngân sách quốc gia cũng chẳng được dồi dào bởi lẽ năng suất kinh tế quá yếu kém. Mặt khác Cuba vẫn còn được một số chính quyền thiên tả và chống Mỹ như Venezuela chi viện giúp đỡ, để có thể còn giữ vững được cái biểu tượng là “anh hùng chống Mỹ” tại khu vực châu Mỹ La tinh. Nhưng nói chung, thì cái lý tưởng Marxist cực đoan đã bắt đầu suy yếu đi nhiều, chứ không còn hung hãn như hồi 30-40 năm trước nữa.

Còn tại khu vực tòan thê Châu Mỹ La tinh, thì sau khi chế độ thiên tả của Salvador Allende tại Chili bị thất bại năm 1973 và chế độ Sandinista thiên cộng sản ở Nicaragua sụp đổ vào đầu thập niên 1980, không còn một nước nào lại có khả năng biến thành một thứ “Cuba thứ hai” nữa. Cho nên công trình “xuất cảng cách mạng” do Fidel Castro và Che Guevara khởi xướng từ thập niên 1960 đã không thể nào thành công được tại khu vực Nam bán cầu, cũng như tại Phi châu như Angola, Mozambique, Ethiopia v.v…

4/ Để tóm lược lại, ta có thể ghi lại mấy nét chính yếu như sau :
• Thứ nhất : Thọat đầu số đông quần chúng đi theo cộng sản, đó là vì lý tưởng công bằng xã hội, chống đối việc giới chủ nhân khai thác bóc lột người lao động. Họ cũng tham gia công cuộc tranh đấu do người cộng sản tổ chức lãnh đạo nhằm chống thực dân đế quốc, bài trừ phong kiến địa chủ. Đó là giai đọan “cách mạng dân tộc dân chủ”. Nhưng đến khi thành công, nắm được chính quyền trong tay rồi, thì đảng cộng sản phát động giai đọan cách mạng sắt máu, dùng bạo lục để xây dựng nền “chuyên chính vô sản”, “diệt trừ giai cấp tư sản”, “thực hiện kinh tế chỉ huy để nắm giữ độc quyền về kinh tế”, “tiêu diệt tôn giáo”, “lọai trừ mọi đảng phái chính trị” v.v…, thì họ đã gây ra bao nhiêu tội ác, làm băng họai mọi tiềm năng của dân tộc, do đó mà đưa đến sự sụp đổ tan rã tòan thể phong trào cộng sản trên thế giới. Rõ rệt là “bạo phát, bạo tàn”, như cổ nhân vẫn thường nói.

• Cái vốn liếng uy tín mà giới lãnh đạo cách mạng tiên khởi tich lũy được trong giai đọan chống thực dân đế quốc, thì sau mấy chục năm độc tài tàn bạo sắt máu, đã bị tiêu tan lãng phí đến độ cạn kiệt hết tất cả rồi. Và càng về sau, thế hệ những người lãnh đạo cộng sản kế tiếp đã không thể nào lôi cuốn quảng đại quần chúng nô nức phấn khởi tham gia ủng hộ họ như trước đây được nữa. Vì thế mà bây giờ họ phải tìm cách “sửa sai, đổi mới” nhằm thích nghi được với hòan cảnh đã thay đổi tòan diện hiện nay. Mà đó thực chất cũng chỉ là những trò vá víu tạm bợ để kéo dài thời gian cho chế độ độc tài tòan trị mà thôi. Bởi vậy cho nên chúng ta có thể xác tín rằng “quá trình dân chủ hóa nhằm xây dựng một chế độ nhân bản và nhân ái là một xu thế tiến bộ tất yếu của thế kỷ XXI, mà không một đảng cộng sản nào có thể làm cản trở ngăn chặn được nữa “.

• Ngày nay ý thức về nhân phẩm và nhân quyền đã được phổ biến rộng rãi cùng khắp mọi nơi trên tòan cầu. Và quần chúng nhân dân đang mạnh dạn muôn người như một, quyết tâm đứng lên thực hiện quyền tự chủ của mình thông qua hàng vạn, hàng triệu những tổ chức độc lập, phi-chánh phủ, bất vụ lợi nhằm giải quyết các nhu cầu chính đáng và thiết thực của chính mình. Họ không còn để cho người cộng sản nắm giữ mãi cái “độc quyền yêu nước để mà tự tung tự tác” như xưa nay được nữa. Bởi thế mà chúng ta có quyền lạc quan cho tương lai tươi sáng của nhân lọai, cũng như cho dân tộc Việt nam yêu quý của mình vậy.

California, Tháng Mười Một 2009 Đòan Thanh Liêm

Tham khảo : 1/ The Rise and the Fall of Communism
by Archie Brown, 2009
2/ A Short History of the XXth Century
by Geoffrey Blainey, 2005-06
3/ A History of Modern Russia by Robert Service, 1997-2003
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#369 Posted : Saturday, November 7, 2009 8:23:17 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,298

Thanks: 6947 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
Spectacle chiếu đèn ở Tour Eiffel để tưởng niệm 120 năm của tour
giới thiệu bởi Mây Vàng

Từ khi bắt đầu năm 2000, tour Eiffel chiếu đèn lấp lánh 5 phút mỗi đầu giờ bắt đầu từ 7h tối đến 12h đêm, tháng 11 này thì sau 5 phút đèn chiếu lấp lánh sẽ kéo dài thêm 12 phút nữa với những màu sắc thay đổi rất ngoạn mục, cảnh chiếu đèn này sẽ kéo dài đến cuối tháng 12 . Các bạn có dịp đến Paris trong thời gian này sẽ thấy được spectacle này, và các bạn ờ Paris và vòng đai lại có dịp thưởng thức cảnh chiếu đèn ngoạn mục này, nhìn tại chổ lộng lẩy hơn trong hình nhiều .
Dưới đây là tour Eiffel nhìn từ Trocadero qua ...




UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage
Tu Bich  
#370 Posted : Sunday, November 8, 2009 12:14:38 AM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Những thiên đường mù tan rã

Tuesday, November 03, 2009
Ngô Nhân Dụng

Trước đây 20 năm, năm 1989, những chế độ cộng sản do Lênin và Stalin dựng lên đã nhanh chóng sụp đổ khắp Âu Châu, như những lâu đài do trẻ em đắp lên bằng cát trên bãi biển bị sóng trào xóa mất. Nhưng hai mươi năm sau khi bức tường Berlin bị đập vỡ, khi nhìn lại, điều làm chúng ta ngạc nhiên không phải là tại sao chủ nghĩa Cộng Sản đã bị xóa bỏ nhanh đến thế. Ðáng ngạc nhiên hơn nữa là tại sao các chế độ Cộng Sản lại sống được lâu như vậy, hơn 70 năm ở Nga và 40 năm ở các nước Ðông Âu? Và sau khi loài người biết rõ sự thật, chúng ta còn thắc mắc tại sao những ý nghĩ không tưởng đến mức điên rồ như vậy lại thu hút được hàng trăm triệu người tin theo trong hơn một thế kỷ để gây tội tình khổ ải cho hàng tỷ người khác, trong đó có hàng trăm triệu người bị chết oan chỉ vì những chính sách kinh tế không tưởng? Ðó là những câu hỏi đáng suy nghĩ trong tuần lễ đầu tháng Mười Một này. Ðặc biệt là cho những người nạn nhân của chủ nghĩa và chế độ cộng sản. Chúng ta sẽ bắt đầu bàn về câu hỏi thứ hai.

Năm 1975 khi cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam, các cán bộ quản giáo lên mặt giảng về “chủ nghĩa Mác Lê nin vĩ đại.” Những người miền Nam phải bó tay, buông súng vì hết đạn năm đó, không ai có thể ngờ rằng chưa đầy 15 năm sau chính họ mới là kẻ cuối cùng lại chiến thắng trên mặt trận tư tưởng; còn những kẻ huênh hoang về những “dòng thác cách mạng” mới thất bại ê chề! Cái chủ nghĩa “bách chiến bách thắng” của họ hiện nguyên hình chỉ là những ảo tưởng do các lãnh tụ độc tài vẽ vời, lợi dụng để nô lệ hóa các đảng viên và dân chúng. Một nửa loài bị bịt mắt, buộc phải sống trong “những thiên đường mù,” như một ẩn dụ của Dương Thu Hương, cho tới khi những thiên đường đó tự tan ra thành mây khói.

Một bạn trẻ người Long Xuyên năm 1978 sắp đến tuổi phải đi bộ đội để được đẩy sang chết ở chiến trường Campuchia, đã được cha mẹ cho đi vượt biên. Vượt biển bất thành, anh bị một cán bộ trong tỉnh, tuổi vào hàng cha chú mắng một trận. Ông cán bộ dọa: “Anh đừng tưởng anh chạy sang Thái Lan, sang Mỹ là thoát nhé! Bánh xe Cách mạng sẽ tiến tới Thái Lan, sẽ giải phóng nước Mỹ, lúc đó anh chạy đi đâu?

Hai chục năm sau, cậu thanh niên đó đã vượt biên lại có dịp trở về nước. Ông chú cấp ủy cũ nay đã quên hết cái bánh xe lịch sử cũ vì rõ ràng nó đang quay ngược chiều, ông chỉ tìm cách tranh thủ vơ vét để tự mình tư bản hóa!

Những người thực sự theo chủ nghĩa Mác xít, vì đọc và nghiên cứu các sách vở của Karl Marx, là những nhà nhà trí thức mơ mộng và những thanh niên trẻ người non dạ. Những người như Tạ Thu Thâu, Trương Tửu, Trần Ðức Thảo ở nước ta thành thật tin vào hệ thống tư tưởng do Karl Marx dựng lên, mà họ biết qua sách vở. Sự thật là chỉ vì họ yêu giấc mơ lớn của Marx, giải phóng giai cấp vô sản và cả loài người, cho nên tin tưởng dễ dàng vào các lý luận của ông ta. Tạ Thu Thâu đã bị bọn cộng sản đệ tam đồ đệ của Stalin hạ sát ngay năm 1946. Còn Trương Tửu và Trần Ðức Thảo mỗi người ngậm một nỗi đau khổ suốt đời, chứng kiến “bọn tiếm vị” nhân danh chủ nghĩa Marx nhưng trong hành động thì phản bội ông thầy.

Các lãnh tụ cộng sản thắng thế chỉ nhờ vào các thủ đoạn gian hùng do Stalin huấn luyện. Chính bọn họ không hề nghiên cứu Karl Marx bao giờ. Ông Hồ Chí Minh đã nói rằng ông không có một tư tưởng nào ngoài tư tưởng Mác Lênin. Nhưng ông cũng chỉ tiếp nhận được những cặn bã của chủ nghĩa Mác Lênin, qua những sách tóm tắt giáo khoa dậy cán bộ ký tên Stalin, mà ông Hồ đã cặm cụi dịch sang tiếng Việt khi trốn trong hang Pắc Bó. Phần lớn những người khác theo cộng sản chỉ vì mê say những khẩu hiệu tuyên truyền của Lênin và Stalin và choáng váng trước sự thành công của họ trong việc cướp chính quyền và củng cố chế độ độc tài đảng trị.

Nếu nghiên cứu và đọc kỹ Karl Marx, thì người hơi tinh ý một chút cũng phải nhận ra ngay là chính “Cuộc cách mạng Tháng Mười” đã chứng tỏ những điều Marx tiên đoán đều sai hết. Và cuộc toàn thắng của Mao Trạch Ðông ở nước Trung Hoa kinh tế lạc hậu lại càng cho thấy tư tưởng của Marx vừa lầm lẫn vừa vô vị trong việc giải thích lịch sử.

Karl Marx đoán rằng sau khi giới tư bản “làm xong nhiệm vụ lịch sử” công nghiêp hóa đời sống kinh tế rồi, những mâu thuẫn nội tại sẽ làm cho nó sụp đổ. Giai cấp vô sản trưởng thành sẽ đứng lên làm cách mạng để tiến tới Chủ nghĩa Xã Hội. Trong thực tế, các chế độ mang danh “Mác xít” đã được thành lập ở những nước hoàn toàn ngoài dự đoán của Marx. Nước Nga năm 1917 và Trung Quốc năm 1949 vẫn là những xã hội nông nghiệp chưa được kỹ nghệ hóa đến mức, giai cấp tư bản chưa thực sự thành hình và tại cả hai nước không hề có những giai cấp vô sản giác ngộ như Marx mô tả.

Tại Việt Nam đã có người nhìn thấy thực trạng xã hội như vậy. Từ năm 1940 Phan Bội Châu đã từng nhấn mạnh rằng ở nước ta lúc đó không hề có giới tư bản, cũng không có giai cấp vô sản. Vì thế cụ Phan khuyên người mình không nên theo chủ nghĩa cộng sản. Cụ Phan chỉ tìm hiểu chủ nghĩa “Mã Khắc Tư” qua các sách chữ Hán, nhưng cụ có đủ óc tỉnh táo và lòng mẫn cảm để nhìn thấy cái chủ nghĩa cộng sản đó không phù hợp với nhu cầu cách mạng của dân tộc Việt Nam.

Chỉ những người mù lòa vì mơ mộng, vì không tưởng, mới chạy theo chủ nghĩa đó. Những người cộng sản đầu tiên ở nước ta đã được khích lệ thêm khi họ nhìn thấy cuộc đảo chính Bôn Sơ Vích ở Nga thành công. Họ không biết rằng chính việc xây dựng chế độ cộng sản ở nước Nga đã là một biến cố phủ nhận tư tưởng Karl Marx rồi. Nhưng bài học quan trọng nhất đối với họ ở Mát Cơ Va là được Stalin nuôi, dạy, huấn luyện các kỹ thuật tuyên truyền, kỹ thuật cướp chính quyền và củng cố quyền lực bằng một hệ thống kiểm soát các đảng viên bằng chủ nghĩa lý lịch, kiểm soát mọi người dân một cách chặt chẽ qua chế độ tem phiếu, hộ khẩu. Năm 1945 ở nước ta những người cộng sản “quốc tế” đã thắng thế các người theo chủ nghĩa dân tộc “quốc gia,” chỉ vì họ nắm vững các thủ đoạn đó. Và năm 1975 cũng giống như vậy.

Phần lớn những cán bộ cộng sản Việt Nam về, kể cả những người đã leo lên hàng lãnh đạo, đều học chủ nghĩa cộng sản theo lối đọc truyền đơn, chủ yếu là học những khẩu hiệu của Stalin do Hồ Chí Minh đem về. Họ học Mác Xít theo lối các nhà Nho thời xưa học thuộc các khẩu hiệu “tu, tề, trị, bình,” hoặc “tam cương, ngũ thường,” vân vân. Rồi cứ như thế, cứ học thuộc lòng là đủ, ai thuộc nhiều khẩu hiệu là giỏi.

Trong hồi ký của Ðoàn Duy Thành, ông kể một cuộc tranh luận giữa giới lãnh đạo cao nhất trong đảng, Ðỗ Mười bị mọi người vặn cho đuối lý, không biết nói gì hơn, chỉ khẳng định: “Có như thế mới là Bôn Sơ Vích!” Mọi người không ai hiểu ông ta nói gì cả, nhưng nghe khẩu hiệu đó rồi thì đều im lặng cả!

Các lãnh tụ và đảng viên đều nhắm mắt hô khẩu hiệu. Họ tập thói quen nhắc lại các khẩu hiệu để phát biểu; lâu ngày quen, dùng việc hô khẩu hiệu thay thế cho hành động suy nghĩ; từ đó nhắm mắt tin vào đảng, vào lãnh tụ là những người gần như chiếm độc quyền đặt khẩu hiệu mới. Hồ Chí Minh chỉ cần nói, “Ðồng chí Stalin nói như thế! không bao giờ nhầm cả,” là tất cả hết thắc mắc! Giống hệt các hủ nho đời xưa hô “Ðức Khổng Tử đã nói” để bịt miệng thiên hạ. Với khí cụ đó, thằng ngồi trên bắt nạt kẻ nằm dưới, chỉ dùng các khẩu hiệu. Lên lớp nhau, chỉ cần múa mép khoe mấy thuật ngữ, mấy danh từ là đủ chứng tỏ mình thông thái, đáng làm thầy và sai khiến thiên hạ. Lối ăn nói ba hoa đó ngay cả khi thay đổi tư bản hóa cũng vẫn còn!

Ông Ðoàn Duy Thành từng làm bí thư Hải Phòng, đã leo lên đến chức phó thủ tướng và được Lê Duẩn để ý chuẩn bị sẽ lên làm tổng bí thư, chẳng may bị Ðỗ Mười phá đám đành chịu thua. Khi đã vỡ mộng làm lớn rồi, ông Thành vẫn còn trung thành với đảng mặc dù chính ông đã nhận ra sự trống rỗng của cả chủ nghĩa lẫn chế độ cộng sản.

Cũng như hầu hết các đảng viên cộng sản khác, ông Thành không biết “chủ nghĩa xã hội” nó là thế nào bởi vì chỉ biết qua các khẩu hiệu mà thôi. Ông thú nhận sự hiểu biết của mình về Mác xít, tóm tắt trong một câu: “Chỉ biết là phải làm cho mọi người sung sướng!” Muốn cụ thể hơn, ông giải thích: “...hoặc như Marx nói hàng hóa phải nhiều như nước chảy ra, mới tiến lên cộng sản được.” Tin tưởng vào một chủ nghĩa như vậy thì chẳng khác gì một tín đồ của một tôn giáo tin vào cõi thiên đường, cực lạc. Không thể gọi là một lý thuyết, một chủ nghĩa được, nhất là lại tự xưng là một chủ nghĩa khoa học!

Bởi vì chỉ cần nhắm mắt tin mà không được thắc mắc, không đảng viên nào dám hỏi: “Làm cách nào để hàng hóa phải nhiều như nước chảy?” Marx không nói vì Marx không nghĩ đến vấn đề đó. Mà cả tập đoàn lãnh đạo cộng sản trong gần một trăm năm cũng không biết làm cách nào! Khi kinh tế các nước cộng sản sụp đổ vì trì trệ quá lâu, các lãnh tụ chỉ còn các tìm đường xoay trở lấy, được đâu hay đó.

Vì không thể dùng các khẩu hiệu của Stalin mà làm ra cơm gạo được nữa! Ông Ðoàn Duy Thành lấy làm hãnh diện khoe ông là một người đầu tiên áp dụng phương pháp “khoán sản trong nông nghiệp” ở nước ta, khi Ðặng Tiểu Bình cũng thay đổi bên Trung Quốc. Nhưng dù muốn áp dụng phương pháp đó ở địa phương mình, ông Thành cũng không dám làm, vì biết Trường Chinh là người “chống khoán sản” mạnh nhất, sau cuộc thí nghiệm ở Vĩnh Phú khiến một bí thư tỉnh bị trù dập.

Trong những năm đầu thập niên 1980 miền Bắc bị nạn đói, nhiều nông dân ở Thanh Hóa đã chết đói. Nhưng lập trường của Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản vẫn kiên cố giữ vững khẩu hiệu “tập thể hóa,” ai nói khác là mất hết địa vị, quyền lợi bao năm mới giành được. Ðảng không chấp nhận cho nông dân được tự do canh tác và hưởng các thành quả do sức lao động của mình tạo ra. Ðoàn Duy Thành rất đau đớn khi viết: “Ðói thì đói, nhưng chỉ sợ mất lập trường, mất chủ nghĩa xã hội...” Ông thú nhận tiếp: “mà chủ nghĩa xã hội thì có ai mà hình dung ra được cụ thể như thế nào?”

Ðó là nỗi đau lòng của một cán bộ cộng sản sống trong thiên đường mù, hết lòng tin vào chủ nghĩa dù không biết nó đưa mình đi đâu! Dù muốn giữ lòng tin của một tín đồ, nhưng Ðoàn Duy Thành vẫn phải nhìn ra sự thật, cảnh đau lòng mà đảng Cộng Sản đã gây ra cho nước ta: “Một nước nông nghiệp lại thiếu lương thực, đành chịu chết đói, chỉ vì sợ mất chủ nghĩa xã hội, (sợ) phá vỡ hợp tác xã!”

Tấn thảm kịch của một nửa nhân loại, trong đó có đồng bào Việt Nam chúng ta, là do những kẻ đi xây thiên đường mù gây ra. Năm 1989 những thành trì của chủ nghĩa cộng sản ở Âu Châu đã sụp đổ khi mọi người sống trong đó đều tỉnh mộng, tự mở mắt ra và tự giải thoát lấy mình. Chưa bao giờ một hệ thống tư tưởng và tổ chức chính trị bị vỡ tan tành mà không một ai thương tiếc, không một ai thắp cho một nén hương như vậy.

Chỉ tội nghiệp cho Karl Marx! Ví thử như chủ nghĩa của ông không bao giờ được đem ra sử dụng làm lợi khí tuyên truyền và củng cố chế độ cộng sản thì tới giờ này chắc ông vẫn được lịch sử coi là một nhà tư tưởng lớn không may mắn. Năm 1989 lịch sử nhân loại thay đổi, những điều ông suy nghĩ, ấp ủ suốt một đời cuối cùng hiện nguyên hình chỉ là những giấc mơ hão huyền vẽ ra bằng ngụy biện. Ông mơ mộng chỉ vì mang thiện chí của một người trí thức ước mong trở thành một “thánh tiên tri” mới. Tiếc là đến giờ này ông vẫn chưa được nhắm mắt, vì còn những nhóm lãnh tụ độc tài ở Trung Hoa, Bắc Hàn, Cuba và Việt Nam, vẫn lợi dụng tên của ông để củng cố quyền hành và lợi lộc của họ chủ nghĩa đó chỉ còn là những khẩu hiệu trống rỗng để tiếp tục thống trị và bóc lột những người khác.

Tu Bich  
#371 Posted : Sunday, November 8, 2009 12:28:22 AM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Khu trục hạm USS Lassen ghé Đà Nẵng: Chuyến trở về ly kỳ của một cậu bé tỵ nạn

Saturday, November 07, 2009

UserPostedImage

Lê Bá Hùng, người gốc Việt sinh ra ở Huế và nay là hạm trưởng USS Lassen,
rời khu trục hạm trên thuyền nhỏ đi vào bờ, trong chuyến ghé thăm chính thức
cảng Ðà Nẵng hôm 7 Tháng Mười Một, 2009. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

UserPostedImage
Trung Tá Lê Bá Hùng (phải) bắt tay các sĩ quan hải quân Việt Nam trong buổi lễ
đón chào tàu chiến USS Lassen tại Ðà Nẵng. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

ÐÀ NẴNG 7-11 (TH) - Vào ngày miền Nam Việt Nam sụp đổ, Lê Bá Hùng mới có 5 tuổi theo gia đình đi tỵ nạn chính trị trên một chiếc tàu đánh cá cùng với 400 người.

Ba mươi bốn năm sau, ông quay về cố hương cũng trên một chiếc tàu nhưng với tư cách hạm trưởng của một trong những chiến hạm tối tân nhất của Hoa Kỳ.

Hạm Trưởng Lê Bá Hùng hướng dẫn khu trục hạm USS Lassen vào cảng Tiên Sa, nơi có bãi biển đẹp nổi tiếng. Khu trục hạm USS Lassen, trị giá $800 triệu đô la, chiều dài 509 feet, trang bị hỏa tiễn bình phi Tomahawk với một thủy thủ đoàn 300 người. USS Lassen và soái hạm USS Blue Ridge của hạm đội 7 là những chiến hạm đến thăm Việt Nam gần đây nhất trong một chuỗi những chuyến viếng thăm thân hữu của Hải Quân Hoa Kỳ ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 2003 khi hộ tống hạm USS Vandergriff thăm cảng Sài Gòn.

Ngày 30 Tháng Tư 1975 là ngày gia đình của Thiếu Tá Hải Quân Lê Bá Thông dắt vợ con, trong đó có cậu bé Lê Bá Hùng, leo lên một chiếc tàu đánh cá chen chúc đầy người chạy trốn Cộng Sản với một tương lai bất định. Họ được dương vận hạm USS Barbour County của Hải Quân Hoa Kỳ vớt khi đã hết cả đồ ăn, nước uống và chiếc tàu thì hết dầu. Họ được đưa tới căn cứ Hoa Kỳ ở Philippines, chuyển tới một trại tạm cư ở California rồi định cư ở một thành phố phía Bắc tiểu bang Virginia, nơi họ làm lại cuộc đời.

“Tôi từng nghĩ sẽ về lại Việt Nam một ngày kia nhưng tôi thật sự không tính trước được là mình sẽ trở về trong vai trò hạm trưởng của một chiến hạm Hoa Kỳ,” Trung Tá Hùng nói với báo chí khi bước chân lên bờ hôm Thứ Bảy. “Ðây là một vinh dự cá nhân tuyệt vời.”

“Tôi rất lấy làm tự hào là một công dân Hoa Kỳ và cũng tự hào về nguồn gốc Việt Nam của tôi,” ông Hùng nói trong một cuộc phỏng vấn với báo Người Việt đăng hôm nay.

Cuộc thăm viếng của chiến hạm Lassen tượng trưng cho nỗ lực từ cả hai phía Hoa Kỳ và Việt Nam nhằm gia tăng mối quan hệ như một sự cân bằng với sức mạnh của Trung Quốc ở khu vực mà không muốn làm nước láng giềng phương Bắc khổng lồ của Việt Nam chống lại.

Nằm thẳng về hướng Ðông của Ðà Nẵng là quần đảo Hoàng Sa, nơi Việt Nam và Trung Quốc vẫn đang tranh chấp chủ quyền. Quần đảo này, Trung Quốc chiếm năm 1974 sau một trận hải chiến với Hải Quân VNCH. Nằm xa hơn về hướng Ðông Nam, hai bên cũng đang tranh chấp về quần đảo Trường Sa với một số nước khác trong khu vực. Nơi đây có dấu hiệu tiềm năng dầu khí rất lớn.

Quê ông Hùng ở Huế. Có những tấm hình phổ biến trên mạng cho thấy ông đã cùng chị em tắm biển ở bãi biển Thuận An. Nơi chiến hạm cặp bờ thăm viếng chỉ cách thành phố Huế khoảng 105 km, nơi ông còn nhiều họ hàng.

Quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam thay đổi nhanh chóng sau khi bình thường hóa năm 1995 dưới thời Tổng Thống Clinton. Mậu dịch song phương phát triển nhanh chóng và quan hệ quân sự cũng nhích lên nhưng rất chậm chạp trước sự ngó chừng sát sao của Bắc Kinh.

Việt Nam cần trang bị quân đội và hải quân, không quân cho tối tân hơn, nhưng bị giới hạn bởi ngân sách eo hẹp. Một mặt khác, Hoa Kỳ khó lòng bán võ khí tối tân cho Việt Nam vì phải qua Quốc Hội với nhiều chống đối, điều kiện ràng buộc, phần khác Việt Nam vẫn là một nước Cộng Sản. Ðó là chưa kể tới thái độ của Bắc Kinh cũng góp phần ảnh hưởng. Hai năm qua, Việt Nam mua của Nga 6 tầu ngầm và một số chiến đấu cơ, nhưng không thể so sánh gì với sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Trang bị quan trọng cho quân đội Việt Nam từ trước đến nay đều đến từ Nga, một đồng minh Cộng Sản cũ nay vẫn còn những quan hệ chặt chẽ.

Ông Hùng không còn nhớ nhiều về thời ấu thơ ở Việt Nam nhất là chuyến hải hành 3 ngày trên chiếc tàu đánh cá mà gia đình ông chạy trốn, nhưng ông ghi nhớ những kỷ niệm, hình ảnh của tấm gương mà người cha của ông, Hải Quân Thiếu Tá VNCH Lê Bá Thông, làm gương cho ông.

Năm nay ông Thông 69 tuổi, chưa hề quay lại Việt Nam lần nào. Khi mới tới Mỹ định cư ở Virginia, ông Thông làm cho một siêu thị để nuôi gia đình. Ông đã đi lên từ người đứng phụ bỏ hàng vào bao (bag boy) và trở thành quản lý (manager) cho siêu thị.

“Tôi luôn luôn muốn như cha tôi.” Ông Hùng nói. “Ông kiên nhẫn và vượt thắng mọi thử thách.”

Trong mấy ngày ở Ðà Nẵng, quân nhân của hai chiến hạm Mỹ sẽ tham dự “các dự án quan hệ cộng đồng tại trường tiểu học Hòa Quý, tham gia các hoạt động thể thao với sinh viên Ðại Học Ðà Nẵng, đón tiếp khách tham quan tàu, và tham quan các địa danh lịch sử và văn hóa quanh Ðà Nẵng”, theo báo SGTT.

Nhiều báo ở Việt Nam loan tin vắn tắt hai chiến hạm Hoa Kỳ bắt đầu thăm viếng Việt Nam 4 ngày từ hôm Thứ Bảy. Họ nói một người Việt Nam làm hạm trưởng nhưng không nói tới chi tiết Hạm Trưởng Trung Tá Lê Bá Hùng là con trai của một hải quân thiếu tá VNCH.

Trung Tá Hùng tốt nghiệp Học Viện Hải Quân năm 1992, từng được thưởng nhiều huy chương và cũng đã tốt nghiệp trường chỉ huy tham mưu của quân đội Hoa Kỳ. Ông là người gốc Việt Nam đầu tiên làm hạm trưởng một chiến hạm Hoa Kỳ từ cuối Tháng Tư 2009. (TN)




Tu Bich  
#372 Posted : Sunday, November 8, 2009 12:31:59 AM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Phỏng vấn Hạm trưởng USS Lassen, HQ Trung Tá Lê Bá Hùng

Saturday, November 07, 2009

UserPostedImage
Trung tá Lê Bá Hùng tại cảng Tiên Sa, Đà Nẵng. (Hình: Getty Images)
‘Văn hóa, con người, truyền thống Việt Nam quan trọng trong đời tôi’
Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER (NV) - Gọi Việt Nam là “mảnh đất tổ tiên” và nêu cao “tính cần cù, sự nhẫn nại và đức hy sinh” của thân phụ, một cựu sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng Hòa, Hải Quân Trung Tá Hoa Kỳ Lê Bá Hùng nói với báo Người Việt ông “vui mừng được là một phần của tình hữu nghị” giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, trong một cuộc phỏng vấn lần đầu tiên với một tờ báo Việt ngữ hải ngoại.

Ngày 7 Tháng Mười Một năm 2009, khu trục hạm tối tân trang bị hỏa tiễn điều khiển tầm xa USS Lassen (DDG 82) dưới sự chỉ huy của hạm trưởng, Hải Quân Trung Tá Lê Bá Hùng, cập cảng Tiên Sa, Ðà Nẵng, mở đầu cho chuyến viếng thăm của Hải Quân Hoa Kỳ đến Việt Nam.

Trước giờ Hạm Trưởng Lê Bá Hùng “có mặt ở cảng và sẽ rất bận rộn,” ông dành cho Người Việt cuộc phỏng vấn bằng điện thư ngày 6 Tháng Mười Một, 2009.

Xin giới thiệu cuộc phỏng vấn giữa phóng viên Người Việt và Hải Quân Trung Tá Lê Bá Hùng, hạm trưởng đầu tiên gốc Việt của lực lượng Hải Quân Hoa Kỳ, đến với quí độc giả.

Ngọc Lan: Xin giới thiệu ít nét về bản thân ông.

Trung Tá Lê Bá Hùng: Tôi sinh ra ở Huế và rời Việt Nam cùng gia đình năm 1975. Tôi lớn lên ở miền Bắc tiểu bang Virginia và theo học tại Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ, tốt nghiệp năm 1992. Là một sĩ quan tác chiến, tôi đã phục vụ trên 5 chiến hạm của Hải Quân Hoa Kỳ, trong đó bao gồm cả khu trục hạm USS Lassen (DDG 82) hiện nay.

Ngọc Lan: Cảm tưởng của ông như thế nào khi là người Mỹ gốc Việt đầu tiên làm hải quân trung tá?

Trung Tá Lê Bá Hùng: Tôi rất lấy làm tự hào là một công dân Hoa Kỳ và cũng tự hào về nguồn gốc Việt Nam của tôi. Là một trung tá của Hải Quân Hoa Kỳ, tôi có được đặc ân và vinh dự phục vụ tổ quốc mình cũng như cha tôi đã thực hiện điều đó khi ông là một hải quân trung tá của miền Nam Việt Nam.

Ngọc Lan: Có bất kỳ sự ảnh hưởng nào từ thân phụ ông, một sĩ quan hải quân của miền Nam Việt Nam trước đây, đến việc ông trở thành một sĩ quan hải quân Hoa Kỳ không?

Trung Tá Lê Bá Hùng: Ảnh hưởng của cha tôi đến việc tôi trở thành một sĩ quan hải quân khá sâu sắc. Cho dù cha tôi chưa bao giờ buộc tôi chọn nghiệp hải quân, nhưng bản thân cha tôi, một tấm gương cần cù, sự nhẫn nại và đức hy sinh - cả khi còn là một sĩ quan hải quân miền Nam Việt Nam lẫn khi là một thường dân Mỹ đi làm để chăm lo cho gia đình mình - là một điều to lớn. Tôi muốn nối gót cha mình trở thành mộtsĩ quan hải quân là vậy.

Ngọc Lan: Suy nghĩ và tâm trạng ông như thế nào khi sắp sửa đặt chân lên mảnh đất mình đã được sinh ra?

Trung Tá Lê Bá Hùng: Tôi rất cảm động có cơ hội được đại diện cho Hải Quân Hoa Kỳ và đất nước tôi - Hoa Kỳ - trong chuyến viếng thăm này. Nhưng tôi cũng nhận thức sâu sắc rằng Việt Nam, với văn hóa, con người, và truyền thống đó, đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời tôi. Ðây là mảnh đất tổ tiên, là nơi tôi đã mơ ước quay về trong suốt nhiều năm.

Ngọc Lan: Thân phụ ông là người của quân đội miền Nam Việt Nam đã tham gia cuộc chiến chống lại chính quyền Việt Nam hiện tại. Vậy cảm nghĩ của ông là gì khi nhận nhiệm vụ thắt chặt mối quan hệ hợp tác giữa Hoa Kỳ với Việt Nam, kẻ thù trước đây của thân phụ ông?

Trung Tá Lê Bá Hùng: Hoa Kỳ và Việt Nam đang phát triển tình hữu nghị bạn bè. Chuyến viếng thăm này là biểu tượng cụ thể cho mối quan hệ đó. Tôi lấy làm vui mừng được là một phần của tình hữu nghị đang phát triển này, cũng như mọi thành viên trong thủy thủ đoàn của tôi cũng vậy.

Vài giờ sau cuộc phỏng vấn với báo Người Việt, khu trục hạm USS Lassen cập bến cảng Tiên Sa.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#373 Posted : Sunday, November 8, 2009 12:44:09 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,298

Thanks: 6947 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)
UserPostedImage



UserPostedImage
hongvulannhi  
#374 Posted : Sunday, November 8, 2009 12:57:57 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)
Tự truyện của một tiến sĩ Harvard, người Trung Hoa: Người thầy giáo giỏi nhất

Wednesday, October 28, 2009

Lời toà soạn: Mời qúi vị độc giả thửơng thức một chuyện đời thật cảm-động của một tiến-sĩ nguời Trung-Hoa, tốt nghiệp toán học tại Đại-Học Harvard.Chuyện đời thường thì ở đâu cũng là sự thật đáng nêu gương cả.Tựa đề do toà soạn chọn.Xin trân trọng cám ơn anh Nguyễn Đình Cường đã email cho bài này.(QV)
Mẹ tôi, người mẹ tốt nhất thế gian tên Lý Diệm Hà

Ngày 5/9/1997, ngày tôi rời gia đình đi nhập học ở khoa Toán trường Đại học Bắc Kinh. Ngọn khói bếp dài cất lên từ trên nóc ngôi nhà nông dân cũ nát gia đình tôi. Người mẹ chân tập tễnh của tôi đang nấu mì sợi cho tôi, những sợi mì này có được do mẹ đã đổi năm quả trứng gà cho hàng xóm, chân mẹ bị thương vì mấy hôm trước, để thêm tí tiền cho tôi nhập học, mẹ nhận đẩy một xe chất đầy rau từ thôn ra thị trấn, trên đường bị trật chân.

Bưng bát mì, mắt tôi trào lệ. Buông đũa, tôi quỳ xuống đất, xoa nắn chỗ chân mẹ sưng phồng lên to hơn cả cái bánh bao, tôi chẳng biết nói gì… Nhà tôi vô cùng nghèo khó ở làng Đại Hữu Đới, huyện Vũ Thanh, thành phố Thiên Tân.

Khi tôi ra đời, bà nội ngã bệnh ngay trên giường sưởi. Tôi bốn tuổi, ông nội lại mắc bệnh hẹp khí quản và bán thân bất toại; các món nợ nần trong nhà lớn dần theo thời gian, năm tháng. Khi bảy tuổi, tôi được đi học, mẹ lại phải đi vay mượn rất nhiều để trang trải học phí cho tôi. Tôi thường đi nhặt những mẩu bút chì đã bị bỏ đi, còn ngắn tũn. Tôi phải dùng dây buộc thêm vào nó một cái que làm cán để viết. Lại còn dùng một cái dây chun thay tẩy để xoá sạch những cuốn vở bài tập đã viết, rồi viết lại lên đó. Mẹ thương tôi đến mức, cũng có lúc nuốt nước mắt đi vay vài hào bên hàng xóm để mua vở và bút chì cho tôi. Nhưng mẹ luôn vui vẻ vì bất kể bài kiểm tra nhỏ hay kỳ thi lớn, tôi luôn đứng đầu, toán thường được 100/100 điểm. Được mẹ khích lệ, tôi càng học càng ham và thực sự không hiểu trên cuộc đời này còn gì vui sướng hơn là học. Tôi đã thông thạo cộng trừ nhân chia và phân số, số phần trăm từ trước khi vào tiểu học. Vào tiểu học, tôi bắt đầu tự học chương trình toán lý hoá của bậc trung học thổ thông. Khi lên trung học, thành phố Thiên Tân tổ chức kỳ thi vật lý của bậc trung học, tôi là đứa học trò nông thôn duy nhất của cả năm huyện ngoại thành Thiên Tân được giải, một trong ba người đỗ đầu. Tháng 6 năm đó, tôi được đặc cách vào thẳng trường Trung học số 1 danh tiếng của Thiên Tân, tôi vui sướng chạy như bay về nhà.
Nhưng thật buồn, khi tôi báo tin vui, nét mặt bố mẹ tôi vẫn không hết những nét khổ đau. Bà nội vừa mất nửa năm, ông nội đang cận kề thế giới bên kia, nhà tôi đã mắc nợ tới hơn mười ngàn Nhân dân tệ. Tôi lặng lẽ quay về bàn học, nước mắt chan hòa suốt cả ngày. Đến tối, tôi nghe thấy nhà ngoài có tiếng cãi cọ. Thì ra mẹ tôi đang định dắt con lừa con của nhà đi bán, cho tôi đi học, nhưng bố tôi không chịu. Ồn ào làm ông nội tôi nghe thấy. Bệnh nặng, trong lúc buồn bã ông đã lìa đời. Sau lễ tang ông nội, gia đình tôi lại mắc thêm vài ngàn tệ nợ nần.
Mẹ định bán lừa cho tôi đi học, nhưng ba không đồng ý.

Không dám nhắc đến việc đi học nữa, tôi cất tờ “Giấy báo nhập học” thật kỹ vào trong gối, hàng ngày ra đồng làm việc cùng mẹ. Sau hai hôm, tôi và bố cùng lúc phát hiện ra: con lừa con biến mất rồi. Bố sắt mặt lại, hỏi mẹ: “Bà bán con lừa con rồi sao? Bà bị dở hơi không? Sau này lấy gì kéo xe? Lương thực hoa màu bà đẩy xe tay nhé, bà tự cõng nhé? Bà bán lừa một hai trăm bạc liệu cho nó học được một học kỳ hay là hai học kỳ?”. Hôm đó mẹ đã gào khóc, dùng một giọng rất dữ dội rất hung dữ để át lại bố: “Con mình đòi đi học thì có gì sai? Nó là đứa duy nhất huyện này thi lên được trường số 1 của thành phố, tôi không thể để cho tiền đồ của nó bị lỡ dở được. Tôi sẽ dùng tay đẩy, dùng lưng vác, để cho con tôi đi học…”

Tôi thật sự muốn quỳ dập đầu trước mẹ. Mẹ đưa tôi 600 tệ bán lừa. Tôi được học, mà còn học tiếp, thì mẹ ơi, mẹ sẽ khổ sở biết bao nhiêu, vất vả bương chải thêm bao nhiêu nữa vì con?
Mùa thu năm đó tôi quay về nhà lấy áo lạnh, thấy bố tôi gầy guộc, da vàng bọc xương đang nằm trên giường sưởi. Mẹ lặng lẽ bảo tôi: “Sơ sơ thôi, bị cảm, sắp khỏi rồi”. Tình cờ, hôm sau tôi xem vỏ lọ thuốc của bố, thì nhận ra đó là thuốc ngăn ngừa sự phát triển của tế bào ung thư. Tôi khóc hỏi mẹ mọi chuyện là thế nào. Mẹ nói, từ sau khi tôi đi học, bố bắt đầu đi ngoài ra máu, ngày càng nặng lên. Mẹ vay sáu nghìn tệ đưa bố lên Thiên Tân, Bắc Kinh đi khắp nơi, cuối cùng xác định là ung thư đường ruột. Bác sĩ yêu cầu bố phải mổ gấp. Mẹ đang định đi vay tiền tiếp, nhưng bố kiên quyết không cho. Ông nói, bạn bè họ hàng đã vay khắp lượt rồi, chỉ vay mà không trả thì còn ai muốn cho mình vay nữa! Hàng xóm kể với tôi: Mẹ dùng một phương pháp thủ công và vất vả nhất trên đời để gặt lúa mạch. Mẹ không đủ sức gánh lúa mạch ra sân kho để tuốt hạt, mẹ cũng không có tiền thuê người giúp, mẹ bèn gặt dần, lúa mạch chín chỗ nào gặt chỗ đó, sau đó dùng xe cải tiến chở về nhà, tối đến mẹ trải một tấm vải nhựa ra sân, dùng hai tay nắm từng nắm lúa mạch đập lên một hòn đá to… Lúa mạch trồng trên ba mẫu đất của nhà, một mình mẹ làm, mệt đến mức không đứng dậy nổi nữa thì mẹ ngồi xổm xuống cắt, đầu gối còn chảy máu vì quỳ, bước đi cà nhắc… Thương mẹ khôn xiết, tôi vừa khóc vừa chạy về nhà, gọi mẹ:
“Mẹ ơi mẹ, con không đi học nữa đâu…”. Kết quả, mẹ vẫn tống tôi lên trường. Tiền sinh hoạt phí mỗi tháng của tôi chỉ có 60 đến 80 tệ (1 US dollar = 7 Nhân dân tệ), thật thảm hại khi so với những người bạn học đồng niên, mỗi tháng họ có tới 200-240 tệ. Nhưng chỉ mình tôi biết, món tiền nhỏ này mẹ tôi cũng phải tằn tiện lắm, từ ngày đầu tháng đã dành từng hào từng hào, bán từng quả trứng gà, rau xanh lấy từng đồng từng cắc. Có lúc dành dụm không đủ đã phải giật tạm dăm ba chục. Mà bố tôi, em trai tôi, dường như chẳng bao giờ có thức ăn, nếu nhà ăn rau cũng chẳng dám xào mỡ, chỉ chan tí nước dưa muối ăn qua bữa. Mẹ không muốn tôi đói, mỗi tháng mẹ chăm chỉ đi bộ hơn mười cây số mua mì ăn liền với giá bán buôn. Rồi cứ cuối tháng, mẹ vất vả cõng một túi nặng lên Thiên Tân thăm tôi. Trong túi ấy ngoài những gói mì tôm ra, còn có nhiều xếp giấy loại mẹ phải đi bộ 6km tới một xưởng in ngoài thị trấn để xin cho tôi (đó là giấy để tôi làm nháp toán), cả một chai tương cay rất to, cải bẹ muối thái sợi, và cả một cái tông đơ để cắt tóc. Cắt tóc nam ở Thiên Tân rẻ nhất cũng phải 5 tệ, mẹ muốn tôi dành tiền cắt tóc để mua thêm lấy vài cái bánh bao mà ăn. Tôi là học sinh cấp 3 duy nhất của Thiên Tân mà đến cả rau ở bếp ăn nhà trường cũng không mua nổi. Chỉ có thể mua vài cái bánh bao, mang về ký túc ăn cùng mì sợi khô hoặc chấm với tương ớt, kẹp dưa muối để ăn qua bữa. Tôi cũng là học sinh duy nhất không có giấy kiểm tra: Chỉ có thể tận dụng giấy một mặt của xưởng in để viết bài. Tôi là đứa học sinh duy nhất chưa bao giờ dùng xà phòng: khi giặt quần áo tôi thường đi nhà bếp xin ít bột kiềm nấu ăn (dùng để hấp bánh bao, làm bánh nướng, làm nước sôđa...) để thay xà phòng. Nhưng tôi chưa bao giờ tự ti, tôi cảm thấy mẹ tôi khổ cực cả đời, như người anh hùng chống lại đói khổ. Làm con của người mẹ như thế tôi rất tự hào. Tôi yêu mẹ tôi biết nhường nào. Lúc mới lên Thiên Tân, tiết học tiếng Anh đầu tiên khiến tôi hoa mắt, nhức đầu vì chẳng hiểu gì. Khi mẹ lên, tôi kể cho mẹ nghe tôi sợ tiếng Anh như thế nào, mẹ chỉ cười hiền lành bảo: “Mẹ vẫn biết con là đứa trẻ khổ cực nhất, nhưng mẹ không thích con kêu khó, vì chịu khổ được thì chả còn gì khó nữa con trai ạ.”
Mẹ ơi, con sẽ thành công

Tôi có tật nói lắp, người ta bảo học tiếng Anh cần làm chủ được cái lưỡi của mình, bởi vậy tôi thường lấy một hòn sỏi ngậm vào miệng, rồi luyện tiếng Anh. Hòn sỏi cọ xát vào lưỡi, có lúc máu chảy ra bên mép, nhưng tôi cố gắng kiên trì. Nửa năm qua đi, hòn sỏi nhỏ đã bị mài tròn, lưỡi tôi cũng đã mềm hơn, tiếng Anh của tôi đứng thứ 3 trong lớp. Tôi vô cùng biết ơn mẹ, lời mẹ đã khích lệ tôi vượt qua khó khăn trong học tập. Năm 1996, lần đầu tiên tôi được tham gia cuộc thi Olympic tri thức toàn quốc khu vực Thiên Tân, đoạt giải Nhất môn Vật lý và giải Nhì môn Toán học, tôi được đại diện Thiên Tân đi Hàng Châu tham gia Cuộc thi Olympic Vật lý toàn Trung Hoa. Đoạt Cup rồi lên đường dự Olympic Vật lý Thế giới. Tôi không ngăn được khát khao của mình, tôi viết thư báo cho mẹ tin vui và mơ ước của tôi. Nhưng chỉ được giải Nhì, tôi nằm vật ra giường, bỏ ăn. Dù đạt thành tích cao nhất trong đoàn Thiên Tân, nhưng nếu tính cả những khốn khổ của mẹ tôi vào, thì thành tích này không xứng đáng. Về trường, tôi ngồi nghe các thầy phân tích nguyên nhân thất bại, nguyên nhân là: Tôi những muốn phát triển toàn diện cả Toán Lý Hoá, mục tiêu của tôi quá nhiều nên sức lực tinh thần tôi phải phân tán rộng. Tôi tham lam quá chăng?

Nếu tôi chỉ chọn một mục tiêu trước mắt là kỳ thi Toán, nhất định thắng. Tôi hiểu ra điều đó. Tháng 1/1997, cuối cùng tôi đã giành chiến thắng tại kỳ thi Olympic Toán toàn Trung Quốc với điểm số tuyệt đối, lọt vào đội tuyển Quốc gia. Cả mười kỳ thi kiểm tra ở đội tuyển tôi đều là người đứng đầu. Với thành tích đó, tôi được sang Argentina tham gia kỳ thi Olympic Toán quốc tế. Nộp xong phí báo danh, tôi gói ghém sách vở cần chuẩn bị và tương đậu cay của mẹ, sẵn sàng lên đường. Giáo viên chủ nhiệm và cũng là thầy giáo dạy Toán thấy tôi vẫn mặc bộ quần áo cũ của người khác cho, những thứ áo quần cổ lổ màu sắc, kích cỡ lủng củng, liền mở tủ áo của tôi, chỉ vào những áo những quần lùng nhùng vá víu và hỏi: “Quần áo của con thế này đây ư, Kim Bằng?”
Tôi đáp: “Thầy ơi, con không sợ người khác cười con nghèo đâu! Mẹ con vẫn bảo 'phúc hữu thi thư khí tự hoa' (có nghĩa là, trong lòng có sách vở tất mặt mũi sáng sủa), con mặc những thứ này gặp tổng thống Mỹ Bill Clinton cũng chẳng thấy ngượng.”

Ngày 27/7, Olympic Toán học Thế giới lần 38 khai mạc. Chúng tôi thi liên tục trong năm tiếng rưỡi đồng hồ, từ 8h30 phút sáng tới 14h00 chiều. Trong buổi công bố kết quả vào hôm sau, đầu tiên tôi không muốn nghe thấy tên mình được công bố ở vị trí Huy chương Đồng; Sau đó đến lượt công bố Huy chương Bạc, không phải tôi. Cuối cùng, công bố Huy chương Vàng, người đầu tiên và thứ hai không phải tôi, người thứ ba - tên tôi được đọc dõng dạc. Tôi khóc lên vì vui sướng, tôi tự nhủ: “Mẹ ơi, con mẹ thành công rồi!”

Ngay chiều hôm đó, Đài phát thanh Nhân dân Trung ương TQ và Đài truyền hình Trung ương TQ đưa tin tôi và một người bạn nữa đoạt Huy chương Vàng kỳ thi Olympic Toán học. Ngày 1/8, chúng tôi trở về trong vinh quang. Hiệp hội khoa học Trung Quốc và Hội Toán học TQ tổ chức lễ đón thật long trọng.

Lúc đó, tôi rất muốn về nhà, muốn sớm được gặp mẹ, muốn được chính tay đeo tấm huy chương vàng chói lọi lên cổ mẹ. Mười giờ đêm tối hôm đó, tôi cuối cùng đã băng đêm về nhà. Người mở cửa là bố, nhưng người ôm chặt lấy tôi vào ngực trước lại chính là mẹ.

Dưới bầu trời đầy sao, mẹ đã ôm tôi rất chặt ! Ôi mẹ của con mới vĩ đại làm sao, thân thương biết nhường nào!
Lấy tấm huy chương vàng đeo lên cổ mẹ, tôi khóc nhẹ nhõm và hạnh phúc.

Ngày 12/8, trường Trung học số 1 của Thiên Tân chật ních người, mẹ được ngồi lên bàn Chủ tịch danh dự cùng các quan chức ngành giáo dục Thiên Tân và các giáo sư toán học hàng đầu. Hôm đó, tôi đã phát biểu thế này:

“Tôi muốn dùng cả sự sống của tôi để cảm tạ người mẹ đã sinh và nuôi nấng tôi. Mẹ tôi là một người phụ nữ nông dân bình dị, nhưng những đạo lý mẹ dạy tôi nên người đã nâng bước tôi suốt cả cuộc đời.

Tôi bỗng nhớ...
Năm lớp 10, tôi muốn mua cuốn “Đại từ điển Anh-Trung” để học tiếng Anh, không có tiền, nhưng mẹ vẫn nghĩ cách giúp tôi. Sau bữa cơm sáng, mẹ mượn một chiếc xe cút kít, chất một xe rau cải trắng, hai mẹ con tôi đẩy ra chợ huyện cách hơn 40km để bán. Đến được chợ đã gần trưa, buổi sáng đó tôi và mẹ chỉ ăn hai bát cháo ngô nấu với khoai lang đỏ. Lúc đó, đói cồn cào, chỉ mong có ai mua cho hết rau. Nhưng mẹ vẫn nhẫn nại mặc cả từng bó, cuối cùng bán với giá 1 hào một cân. Hai trăm cân rau 21 tệ, nhưng người mua chỉ trả 20 tệ. Có tiền, tôi muốn ăn cơm, nhưng mẹ bảo mua sách trước, đó mới là mục đích chính. Chúng tôi đến hiệu sách hỏi, giá sách là 8,25 tệ, mua sách rồi còn 11,75 tệ. Mẹ chỉ cho tôi 7 hào rưỡi đi mua hai cái bánh bột nướng, một tệ còn lại mẹ bảo cất đi để làm học phí. Ăn hết hai cái bánh bột nướng, đi

Khi nói, mẹ không nhìn tôi, mẹ nhìn xa xăm ra con đường đất ngoài kia, như thể con đường ấy dẫn tới tận Thiên Tân, tới Bắc Kinh. Đi bộ tiếp 40km về nhà, tôi vẫn đói tới mức hoa mày chóng mặt. Ôi chao, lúc này tôi mới nhớ ra đã quên không phần cho mẹ ăn một miếng bánh nướng nào, mẹ tôi chịu đói cả ngày, vì tôi mà kéo xe suốt 80km đường xa. Tôi hối hận tới mức chỉ muốn tát cho mình một cái, nhưng mẹ bảo: “…Mẹ ít học, nhưng mẹ nhớ thuở ấu thơ được thầy giáo dạy cho một câu nói của Gorki: Nghèo đói là trường đại học tốt nhất. Nếu con tốt nghiệp trường đại học này, thì những trường đại học như Thiên Tân, Bắc Kinh... chắc chắn con sẽ đỗ'.

Khi nói, mẹ không nhìn tôi, mẹ nhìn xa xăm ra con đường đất ngoài kia, như thể con đường ấy dẫn tới tận Thiên Tân, tới Bắc Kinh. Nghe mẹ nói vậy, tôi cũng không thấy đói nữa, chân cũng bớt chồn hơn… Nếu nghèo đói là trường đại học tốt nhất, thì tôi muốn nói rằng, người mẹ nông dân của tôi chính là người thầy giáo giỏi nhất của cả đời tôi”.

Dưới khán đài, không biết có bao nhiêu đôi mắt ướt đẫm. Tôi quay người về phía mẹ tôi tóc đã bạc nhiều, cúi người kính cẩn trước người mẹ vĩ đại của tôi, người thày giáo giỏi nhất cuộc đời tôi.

Cám ơn mẹ!
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#375 Posted : Sunday, November 8, 2009 1:52:07 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)

UserPostedImage

Trời mỗi ngày mỗi lạnh hơn, khiến LN rất thích cả hai bàn tay ôm lấy ly caphe nóng. Trong nhà im lặng quá, lặng lẽ như lòng LN lúc này. LN nhìn trời, trời chưa muốn nắng, không gian bàng bạc ánh sáng mờ, gợi nhớ nhung. LN hình dung ra đôi mắt đa tình của người phương xa, và mượn 4 câu thơ của nhà thơ Lưu Trọng Lư để thầm thì với chàng:

Đôi mắt Anh lặng buồn
Nhìn thôi và chẳng nói
Tình đôi ta vời vợi
Có nói cũng khôn cùng.

Không nói thì LN mở nhạc. Giọng ca Celine Dion với những lời ca thật dễ thương. Dễ thương khi nhắc lại những gì trong tâm tưởng, từ khi gặp nhau, đôi mắt ai đã làm vương vấn trái tim hồng...
DẤU YÊU ƠI

Tình em đó nồng nàn như lửa cháy
Ánh lung linh chiếu sáng cả tâm hồn
Chỉ một thoáng khi tình cờ nhìn thấy
Mắt đa tình đã ngự trị trong tim.

Tình em đó như sóng cuồng mưa lũ
Chảy trong anh cuồn cuộn nhớ nhung đầy
Ôi mơ ước như trời mây vần vũ
Biết bao giờ được gần gũi mê say!

Tình em đó dành cho anh tất cả
Chỉ một lời, và mãi mãi không quên
Lời thủ thỉ từng đêm say đắm quá
Giọng ấm trầm như mật ngọt ru êm.
I LOVE YOU

http://www.youtube.com/w...hg452VGc&feature=related

Cám ơn bài hát I Love You, và tiếng hát Celine Dion, đã cho LN hứng khởi để trào lòng thành những câu thơ tình.
HONG VU LAN NHI
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

langthang09  
#376 Posted : Sunday, November 8, 2009 8:37:46 AM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)

UserPostedImage


UserPostedImage
Thu về với anh

Khi xa anh mùa thu buồn chi lạ
Em cô đơn lặng lẽ bước chân về
Biển chập chùng chiều nay cơn bão nổi
Như lòng em thổn thức giữa sầu mê

Gió lạnh lùng ngập tràn vùng nắng tím
Tiếng phong linh dồn dập điệu thì thào
Dòng tóc em bay vô thường trong gió
Từng giọt sầu trên nụ nhớ xanh xao

Trong lặng im cõi lòng mang hoài niệm
Phía không anh mưa tê tái lạnh lùng
Em nhốt kín hồn mình trong khung cửa
Mùă thu về vàng võ mảnh tình chung

Góc phố cũ mưa bay chiều hoang dại
Tình trăm năm hai đứa mãi vẫn còn
Từng chiếc lá trong mùa thu vừa đến
Bay giữa đời giông bão đến héo hon
Tiểu Vũ Vi 03/11/09

langthang09  
#377 Posted : Sunday, November 8, 2009 8:46:45 AM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)
Hội nghị Việt kiều

Theo thông báo của ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ ngoại giao hội nghị “Người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ nhất” sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 19 đến 24/11/2009. Dự kiến sẽ có khoảng gần 1,000 đại biểu Việt kiều về dự hội nghị.

Đây là một sự kiện quan trọng trong cuối năm 2009, thu hút được sự quan tâm của dư luận trong nước và quốc tế. Mặc dù chưa biết rõ nội dung, chương trình của hội nghị nhưng một điều chắc chắn là hội nghị sẽ được tổ chức cũng sẽ như Vésak, APEC vừa qua. Nghĩa là rất “hoành tráng “và cũng là những “màn kịch” để “đánh bóng “cho chế độ, để nâng cao địa vị của quốc gia Việt Nam trên trường quốc tế.
Theo thống kê người Việt ở nước ngoài có khoảng gần 4 triệu trong đó hơn một nửa trong số đó sinh sống ở Mỹ. Mặc dù phải mưu sinh trên những đất nước xa lạ về ngôn ngữ, lối sống nhưng với bản chất cần cù, lạc quan người Việt đã hòa đồng nhanh chóng và đã có những đóng góp đáng kể cho các quốc gia đã cưu mang họ. Với truyền thống đoàn kết, hướng về cội nguồn của dân tộc Việt Nam nên tuy đã nhập quốc tịch nước nơi đang sống, có cuộc sống ổn đinh, khá giả nhưng Việt kiều vẫn luôn quan tâm tới đồng bào trong nước. Những chuyến thăm viếng quê hương, những khoản tiền đáng kể gửi về giúp đỡ người thân, bạn bè, cộng đồng, những công trình bỏ vốn đầu tư là những minh chứng cho tình cảm của họ. Đặc biệt họ luôn mong muốn một đất nước Việt Nam tiến bộ cũng như những đất nước nơi họ sống nên đã có những tiếng nói, hành động ủng hộ hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh đòi tự do dân chủ của đồng bào trong nước. Những năm gần đây cùng với sự phát triển của thông tin Việt kiều còn giúp cho người dân trong nước biết rõ một số sự thật mà nhà nước cộng sản Việt Nam cố tình giấu giếm để bảo vệ chế độ độc tài đảng trị.
Việc dời khỏi quê hương mưu sinh trên những mảnh đất xa lạ rồi trở thành Việt kiều có vô vàn lý do khác nhau nhưng với hơn một nửa số Việt kiều ở Mỹ thì có thể nói rằng lý do của đa số người Việt phải dời khỏi quê hương là tị nạn cộng sản. Sau năm 1975 nhà nước cộng sản đã từng khuyến khích những người dân miền Nam có liên quan đến chế độ cũ vượt biên bằng cách thu tiền, vàng một cách công khai của họ, gọi những người vượt biên là hạng “ma cô, đĩ điếm“là bọn “phản động“. Đến thời mở cửa bắt tay làm ăn với Mỹ những “ma cô, đĩ điếm“, “phản động“trước đây khá giả có nhiều tiền gửi về, đầu tư trong nước được nhà nước gọi là “khúc ruột ngàn dặm“, nghe thật mùi mẫn. Và một hội nghị Việt kiều “hoành tráng” được tổ chức gọi là để “tôn vinh” những “khúc ruột ngàn dặm“sẽ là tất yếu.
Tuy nhiên còn có những lý do khác nữa. Trong thông cáo tổ chức hội nghị ban tổ chức đã không ngần ngại nói toạc ra là tổ chức “hội nghị nằm trong chương trình tiếp tục thực hiên nghị quyết 36”.Việc thực hiện nghị quyết 36 trong những năm gần đây có vẻ như không được “xuôi chèo mát mái” lắm. Nào là ông Dũng, ông Triết đi thăm Mỹ chuyên phải đi cửa sau sợ đụng phải đoàn biểu tình của Việt kiều phản đối chính phủ Việt Nam. Các dự án đầu tư vào Việt Nam của Việt kiều cứ ít dần, nhiều nhà đầu tư phải bỏ của chạy lấy người. Chẳng hiểu do thủ tục hành chính hay các nhà đầu tư đã chán ngấy cái môi trương đầu tư Việt Nam này rồi. Những chuyện “chẳng đâu vào đâu” như mất đất, mất đảo cho Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên nhiều Việt kiều cũng vào hùa với bọn “phản động” phản đối chính phủ. Không thể để tình trạng mất đồng thuận với nhà nước xảy ra nhất là lại ở nước ngoài ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam và thế là đảng, nhà nước thấy cần phải tổ chức gấp một hội nghị để “chấn chỉnh“như đã từng làm với các tổ chức, đoàn thể “quốc doanh“trong nước.
Cũng theo thông báo mục đích của hội nghị là “phát huy trí tuệ, chất xám của Việt kiều trong công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam”. Đọc đến dòng thông báo này những trí thức trong nước nhất là 16 trí thức trong viện IDS (vừa bị tự giải thể) không tránh khỏi chạnh lòng, chua xót. Bởi bao đóng góp tâm huyết về trí tuệ của họ cho nhà nước đã không được tiếp thu thậm chí còn bị vu cho là các thế lực thù địch. Gần một năm trời họ đã góp ý, phân tích thậm chí cả nài nỉ xin đừng khai thác bauxite ở Tây Nguyên nhưng nhà nước vẫn một mực khăng khăng “đây là chủ trương lớn của đảng và nhà nước“. Hiện tình các trí thức trong nước như vậy chắc rằng các trí thức Việt kiều đã hình dung cái kết quả “phát huy trí tuệ, chất xám trong công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam“là như thế nào rồi. Vừa rồi thủ tướng lại ban hành nghị định 97 quy định mọi ý kiến ngược lại với chủ trương của nhà nước không được nêu công khai mà phải tập trung vào một cơ quan có thẩm quyền. Không biết ở hải ngoại đã có các cơ quan này chưa nếu không thì các Việt kiều cứ lấy visa ở đại sứ quán rồi bay về nước mà phản biện còn nếu Việt kiều sợ tốn kém thì cứ ở nhà mà vỗ tay cho khỏe. Có lẽ trong chế độ độc tài đảng trị mọi tri thức “đúng đắn“thì “đỉnh cao trí tuệ“đã chiếm giữ rồi nên các trí thức khác chỉ có quyền đồng ý. Việt kiều nào tham dự hội nghị có ý định phát huy trí tuệ, chất xám đóng góp cho đất nước hãy coi chừng “khúc ruột ngàn dặm“và “các thế lực thù địch” chỉ cách nhau chưa đầy gang tấc thôi.

Một vinh dự cho các Việt kiều là trong hội nghị này sẽ được gặp gỡ tiếp xúc với các lãnh đạo đảng, nhà nước. Một vinh dự thực sự vì lần này các vị lãnh đạo nhà ta đàng hoàng, oai phong đi hẳn cửa trước chứ không phải đi cửa sau như hồi đi Mỹ nữa. Sẽ có những cuộc gặp gỡ “ngoạn muc” giữa một số đại biểu Việt kiều và những người đã thu tiền, vàng của họ rồi “giúp đỡ” họ vượt biên vào những năm cuối thập kỷ 70, đầu 80. Đại biểu nào còn chưa rõ về phát biểu của ông Triết ở Cu Ba thì cứ thẳng thắn đề nghị ông ấy nhắc lại để bà con Việt kiều ở phía tây yên tâm đừng lo có chiến tranh vì hòa bình ở phía ấy đã có Cu Ba bạn của Việt Nam canh giữ.
Trong thông báo cũng nêu “hội nghị Việt kiều là tượng trưng cho tinh thần đoàn kết, hòa hợp hòa giải dân tộc”.Chắc hẳn có nhiều đại biểu Việt kiều bản thân hoặc gia đình đã phải bỏ nước ra đi trong những năm cuối thập kỷ 70 đầu 80 chưa quên được tình cảnh lúc ra đi đói rét, chết chóc lang thang nơi đất khách quê người. Điều họ cần trong hội nghị Việt kiều lần thứ nhất này là nhà nước Việt Nam hãy đưa ra được một lời xin lỗi. Cũng chẳng có hy vọng vì nhà nước đã nợ dân tộc biết bao lời xin lỗi mà đến nay vẫn chưa trả.
Trong đại gia đình dân tộc Việt Nam người Việt ở hải ngoại và người Việt trong nước đều là những người con của gia đình luôn có thương yêu hòa thuận từ xưa đến nay. Những kẻ cố tình gây nên cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn là những kẻ phá hoại tình đoàn kết đó và sự thật này nhiều người Việt Nam đã quá rõ. Khẩu hiệu “tượng trưng cho tinh thần đoàn kết, hòa hợp hòa giải dân tộc“của nhà nước Việt Nam thực chất chỉ nhằm có được sự đồng thuận của các Việt kiều cho các chủ trương chính sách phản lại dân tộc của nhà nước cộng sản.

Theo thông báo dự kiến có khoảng gần 1,000 đại biểu Việt kiều về dự. Dù những đại biểu được cử đi theo hình thức nào thì họ vẫn là những người thành đạt ưu tú nhất của cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Về dự họp các vị đại biểu sẽ được tham gia đóng góp về các vấn đề lớn của đất nước, tham quan, giao lưu với các tầng lớp nhân dân trong nước. Đây là dịp tốt nhất để người Việt hải ngoại hiểu rõ thực trạng của đất nước Việt Nam hiện nay. Các đại biểu hãy cố gắng đến Tây Nguyên để thấy rõ tác hại của khai thác bauxite. Hãy đến biên giới, hải đảo để thấy đất đai của tổ tiên để lại đang mất dần vào tay Trung Quốc. Hãy đến những khu rừng đầu nguồn bị chặt phá vô tội vạ gây nên cảnh lũ lụt cho người dân. Hãy đến thăm những sân gôn hoành tráng ngốn biết bao đất và nước của người dân. Hãy đến thăm dòng sông Thị Vải bị công ty Vê Đan làm cho ô nhiễm nặng nề nhưng vẫn được khen thưởng “vì sức khỏe cộng đồng”… Hãy tiếp xúc với các ngư dân đánh cá Quảng Ngãi để nghe họ kể cho câu chuyện bị bắt bị cầm tù trên chính đất nước của mình và bị đòi tiền chuộc ly kỳ như thế nào. Hãy tiếp xúc với các tù nhân vi phạm điều luật 88 hỏi họ xem đã phạm “tội” gì nếu không phải là “tội” tích cực chống tham nhũng, “tội” yêu nước, “tội” mong muốn đất nước tiến bộ. Hãy tiếp xúc với các dân oan hỏi họ xem oan ức của họ đã được giải quyết chưa… Ít bị ràng buộc bởi pháp luật, việc đóng góp cho các vấn đề lớn của đất nước của các đại biểu sẽ tự do hơn người dân trong nước. Xin các đại biểu nếu không có ý định nói hãy nói giùm cho người dân trong nước những điều khó nói, không được nói,… Đó là yêu cầu nhà nước Việt Nam hãy: Dừng ngay việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên lại khi chưa quá muộn. Mở rộng tự do dân chủ, tự do tôn giáo cho người dân. Kiên quyết đối với các hành động lấn đất, lấn biển của Trung Quốc để bảo toàn lãnh thổ. Đặt quyền lợi của dân tộc, đất nước lên trên hết để cải tổ chính trị thực hiện đa nguyên đa đảng xây dựng một thể chế tự do dân chủ tiến bộ…

Dự đoán kết thúc hội nghị Việt kiều có thể lại có một tổ chức quốc doanh mới ra đời trong cộng đồng Việt kiều chịu sự điều hành của các tổ chức ngoại giao Việt Nam. Tổ chức này thực chất cũng là một cánh tay nối dài của đảng ra hải ngoại. Sau hội nghị này có thể nhà nước Việt Nam lại một lần nữa lòe bịp được Việt kiều, công luận quốc tế rằng nhà nước vẫn có uy tín thu hút được đông đảo lực lượng Việt kiều, nhà nước vẫn biết lắng nghe nhân dân và nghe cả những tiếng nói của người dân ở xa tổ quốc. Có thể nhiều sự thật về tình hình kinh tế, chính trị hiện nay ở Việt Nam sẽ được phơi bày và uy tín của nhà nước cộng sản lại càng thêm giảm sút. Điều này phụ thuộc một phần vào các đại biểu về dự hội nghị
Hoàng Lan 11/2009
hongvulannhi  
#378 Posted : Sunday, November 8, 2009 12:04:22 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)
Câu Chuyện Thầy Lang:
Hãy Là Một Bệnh Nhân Sáng Suốt
BS Nguyễn Ý Đức


Các cụ ta xưa nay vẫn có câu nói “Phúc Chủ, Lộc Thầy” khi đề cập tới mối tương quan giữa thầy thuốc-bệnh nhân.

Chữa được khỏi bệnh là nhờ âm đức ông bà của người bệnh còn thầy thuốc chỉ góp phần khiêm tốn. Đó là vào thời xa xưa, khi mà kiến thức chuyên môn của các vị lương y căn cứ vào kinh nghiệm của thầy, của chính mình, chứ không có hướng dẫn quy mô và khoa học thực nghiệm hỗ trợ.

Ngày nay thì y khoa học đã tiến rất xa trong việc tìm bệnh, trị bệnh cũng như phòng bệnh. Kết quả các nghiên cúu được hệ thống hóa, ghi thành cả kho tài liệu trong sách báo cũng như trên internet để mọi người tham khảo. Người thầy thuốc phải trải qua cả mươi năm để học hỏi kiến thức, kỹ thuật chuyên môn, cho nên họ được trang bị khá đầy đủ trước khi “xuống núi, cứu nhân độ thế”. Họ đóng vai trò quan trọng trong việc cứu chữa bệnh. Trong khi đó, vì rừng kiến thức y khoa quá nhiều, người bệnh không thu nhận được hết, nên họ tùy thuộc vào bác sĩ. “Thôi thì trăm điều “nhờ” ở sự mát tay của quan đốc”.

Nhưng “nhờ” chưa đủ mà còn cần “hợp tác” với bác sĩ.

Một bác sĩ tận tâm cộng với “con bệnh sáng suốt” biết phải làm gì, sẽ dễ dàng thành công hơn trong cuộc chiến chống lại nan y.

Trước hết là làm sao có được một bác sĩ mà mình tin tưởng để trao thân, gửi phận về phương diện điều trị chăm sóc sức khỏe. Bác sĩ nào cũng quan trọng, nhưng vị lương y gần gũi với mình hơn cả là Bác Sĩ Gia Đình.

Thay vì điều trị một cơ quan, bộ phận, một loại bệnh như các bác sĩ chuyên ngành khác, bác sĩ gia đình được huấn luyện để chữa trị “thượng vàng, hạ cám” toàn thân người bệnh, dù là nam hoặc nữ, già hay trẻ, bệnh cấp tính hay kinh niên.

Vị đó cũng là người thực hiện các xét nghiệm sớm tìm ra bệnh cũng như hướng dẫn bệnh nhân trong nếp sống hàng ngày để phòng tránh bệnh. Nếu gặp ca phức tạp, bác sĩ gia đình cũng không ngần ngại hỏi ý kiến hoặc giới thiệu tới bác bác sĩ chuyên môn khác. Vì y học là lãnh vực quá rộng lớn, rất khó cho một người có được đầy đủ các kiến thức.

Ngoài khà năng chuyên môn cao, bác sĩ tận tâm cũng nên dành cho bệnh nhân một khoảng thời gian vừa đủ để nghe kể lể rồi giải thích bệnh tình, trị liệu cho người bệnh.

Cái mục kể lề này xét ra cũng rất quan trọng.

Sáng suốt, thứ tự kể hết bệnh trạng, dù là chi tiết tưởng như nhỏ nhặt.

Các điều mà bác sĩ cần biết gồm có:

-Tất cả các bệnh hiện có hoặc đã xảy ra trong quá khứ

-Danh sách tất cả các dược phẩm đang dùng, dù là do bác sĩ cho đơn, mua tự do hoặc dược thảo.

-Đã chích ngừa loại bệnh nhiễm nào.

-Y sử thân nhân, gia đình

-Tại sao tới bác sĩ hôm nay?

Nghĩa là nói hết mọi chi tiết về bệnh. Dù là phong tình, giang mai, lậu mủ trong quá khứ hoặc kém ước tình chăn gối hiện giờ. Thầy thuốc trị bệnh chứ không phán xét hành vi, hạnh kiểm của mình mà phải e dè, mắc cỡ.

Trước khi gặp bác sĩ, nên ghi các điều muốn nói trên miếng giấy, rồi thứ tự trình bầy. Nhiều khi, vì quá xúc động trước mặt lương y mà mình quên chi tiết này, dấu hiệu kia, một chuyện thường xảy ra cho mọi người. Nên nhớ bác sĩ cũng như nhà thám tử điều tra, cần có các dữ kiện do bệnh nhân cung cấp để tìm phương thức giải quyết vấn đề

Đừng “chần chừ”, chờ coi xem bệnh tiến triển ra sao rồi mới đi khám. Vì đôi khi quá trễ. Một cơn đau bụng ngầm ngầm có thể do ruột dư vỡ mủ. Phân lẫn những vết máu đỏ tươi có thể do ung thư ruột già. Không sớm mổ, không đi nội soi ruột ngay thì nhiễm trùng vùng bụng nghiêm trọng và ung thư đại tràng có thể đã thành hình. Để rồi tự trách mình coi thường, sao lãng, mà bác sĩ cũng tốn nhiều công sức điều trị.

Kể rồi cũng cần hỏi thêm các điều liên quan tới bệnh mà mình chưa biết. Đừng ngần ngại. Nếu không nêu ra thắc mắc, bác sĩ cho là mình đã thấu hiểu tất cả các điều mà họ đã nói.

Ghi rõ các chi tiết cần thiết để khỏi quên. Nhiều bệnh nhân cẩn thận, xin phép bác sĩ cho ghi âm và mang theo người thân để nhớ hộ.

Đừng tự làm thầy thuốc, tự cho toa hoặc tự ý thay đổi toa thuốc của bác sĩ. Chỉ định rằng uống 10 ngày thì cứ uống hết trong 10 ngày, vì bệnh cần số thuốc như vậy để lành. Ngưng thuốc giữa chừng, gia giảm liều lượng mà không hỏi ý kiến lương y thì chỉ “tiếp tay” cho bệnh lâu hết và trở lại mau hơn.

Cũng chẳng nên “bác sĩ cho tôi kháng sinh này, viên con nhộng kia”, vì lần trước thuốc đó làm bệnh hết ngay. Mỗi bệnh có nguyên nhân khác nhau, mỗi tác nhân gây bệnh chỉ nhậy cảm với thuốc riêng biệt.Chứ làm gì có thuốc trị dứt được bá bệnh như thường nghe quảng cáo trên đài, trên báo, trên bươm bướm tờ rơi.

Nếu có một bệnh thường hay tái diễn thì nên cho bác sĩ coi toa thuốc hoặc chai đựng thuốc cũ để bác sĩ dựa vào đó mà điều trị, với thay đổi đôi chút. Như vậy tiết kiệm được thời gian. Nhưng đừng tự tiện ra tiệm mua thuốc đã dùng về uống vì bệnh có thể hơi khác trước, khiến cho thuốc giảm công hiệu. Và không bao giờ dùng dược phẩm đã quá hạn, thay đổi mầu sắc, cấu tạo.

Như đã nói, ngày nay có rất nhiều nguồn cung cấp các kiến thức về bệnh tật, thuốc men, về điều trị, phòng tránh cũng như những quảng cáo, giới thiệu. Trên internet, qua truyền thông báo chí. Vì quá nhiều đôi khi lại trái ngược nhau nên cũng khiến mọi người ngẩn ngơ, chẳng biết thực hư ra sao. Có người dè dặt nói rằng “Đừng tin mọi điều mình đọc” kể cũng quá đa nghi. Nhưng cẩn tắc vô ưu.

Trước hết coi xem kiến thức đó từ đâu mà ra. Do một nhà chuyên môn y học phổ biến hoặc biên tập, góp ý với bài viết của người ngoài lãnh vực. Đó là một sự kiện có chứng minh hay chỉ mới là một ý kiến mới được nêu ra để thăm dò phản ứng. Kiến thức có cập nhật hay là đã quá xưa, vì hiện nay khám phá khoa học ngày càng tiến bộ, càng nhiều. Đặc biệt là những “thông tin” có tính cách hướng dẫn làm sao cho khỏe mạnh mà lại kèm theo giới thiệu một số sản phẩm “đặc chế, gia truyền” đã được giáo sư này, bác sĩ kia khen ngợi, đang dùng.

Sáng suốt để hiểu rõ quyền hạn của người bệnh. Hoa Kỳ có Patient’s Bill of Rights do Hiệp Hội các Bệnh viện soạn thảo năm 1972 và cập nhật năm 1992 trong đó có ghi các quyền hạn này.

Hy vọng là quê hương mình cũng sớm có “Bill” tương tự. Để bệnh nhân được chăm sóc chu đáo, tôn trọng nhân vị. Để biết rằng những gì ghi trong hồ sơ bệnh lý của mình là mình có quyền coi lại và xin bản sao, khi cần. Mình cũng có quyền bổ túc điều mình đã khai mà hồ sơ không ghi lại. Cũng có quyền biết kết quả các thử nghiệm và được giải thích ý nghĩa. Hồ sơ không được tiết lộ cho ai, ngoại trừ khi có yêu cầu của cơ quan tư pháp, công lực hoặc y tế dự phòng để bảo vệ sức khỏe chung.

Kể ra còn nhiều điếu mà người bệnh sáng suốt cần biết cần làm. Nhưng thực hiện được các điều kể trên cũng tạm đủ để duy trì sức khỏe tốt rồi.
Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức M.D.
Texas-Hoa Kỳ



Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#379 Posted : Sunday, November 8, 2009 3:24:03 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,447

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5352 time(s) in 3598 post(s)
TỪ BI YÊU THƯƠNG VÀ CÁ NHÂN His Holiness the Dalai Lama /
Tuệ Uyển chuyển ngữ
23 tháng 07 năm 2009
MỤC TIÊU CỦA ĐỜI SỐNG

Một câu hỏi lớn nhấn mạnh kinh nghiệm của chúng ta, cho dù chúng ta có nghĩ về nó một cách có ý thức hay không: Mục tiêu của đời sống là gì? Chúng tôi đã suy nghĩ về câu hỏi này và muốn chia sẻ những suy tư của chúng tôi trong hy vọng rằng chúng có thể trực tiếp, thực tiển, lợi ích đến những ai đấy đọc đến.

Chúng tôi tin tưởng rằng muc tiêu của đời sống là để được vui tươi-hạnh phúc. Ngay từ khoảnh khắc của sự sinh, mỗi người chúng ta muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Chẳng cần biết điều kiện xã hội hay sự giáo dục (học vấn), hay hệ tư tưởng ảnh hưởng đến điều này. Từ cốt tủy của mỗi chúng ta, chúng ta chỉ đơn giản khao khát sự toại ý. Chúng tôi không biết rằng trong vũ trụ, với vô lượng thiên hà, tinh tú và hành tinh, có một ý nghĩa nào sâu xa hơn không, nhưng tối thiểu, rõ ràng rằng loài người chúng ta, sống trên trái đất đối mặt với công việc để tạo dựng một đời sống vui vẻ cho chính chúng ta. Vì vậy, thật là quan trọng để khám phá điều gì sẽ mang đến mức độ hạnh phúc to lớn.
LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC HẠNH PHÚC

Trong sự bắt đầu, có thể chia những loại hạnh phúc và khổ đau thành hai loại chính: tinh thần và vật chất. Đối với cả hai, chính yếu là tâm chúng ta, hay tư tưởng chúng ta đã cố gắng một ảnh hưởng lớn nhất trong hầu hết mọi hoạt động của chúng ta. Ngoại trừ chúng ta hoặc là bệnh hoạn nghiêm trọng hay bị tước đoạt những sự căn bản cần thiết, những điều kiện vật lý của chúng ta đã hoạt động thứ yếu trong đời sống. Nếu thân thể mãn nguyện, chúng ta phớt lờ nó. Tâm chúng ta, tuy thế, đã ghi nhận mọi sự kiện, cho dù nó nhỏ đến thế nào. Vì vậy chúng ta nên dành hết những cố gắng quan trọng nhất của chúng ta để mang đến sự yên bình của tâm hồn. "Tâm hoà bình, thế giới thanh bình".

Trong kinh nghiệm hạn hẹp của chính mình, chúng tôi đã tìm thấy một mức độ tĩnh lặng to lớn nhất của nội tâm đến từ sự phát triển của tình thương và từ bi.

Càng quan tâm đến hạnh phúc của người khác, sự an lành cát tường của chính ta càng trở nên lớn hơn. Trau giồi một cảm giác gần gũi, ấm áp cho người khác thì tự động tâm tưởng chúng ta sẽ được thoãi mái. Điều này giúp dứt bỏ bất cứ sự sợ hãi hay bất ổn mà chúng ta có thể có hay làm chúng ta căng thẳng, để đối phó với bất cứ chướng ngại nào mà chúng ta chạm trán. Nó là cội nguồn căn bản của thành công trong đời sống.

Khi chúng ta vẫn còn sống trên cõi đời này, cuộc đời tạm bợ này, thế giới này chúng ta sẽ phải vẫn còn chạm trán với những chướng ngại, khó khăn. Nếu tại những thời điểm như vậy, chúng ta mất hy vọng và trở nên thiếu nghị lực, chúng ta đã làm giảm mất khã năng đối phó với khó khăn của chúng ta. Mặt khác, nên nhớ rẳng, không chỉ riêng cá nhân chúng ta mà mỗi người đã và đang phải chịu đựng khổ đau, Viễn cảnh thực tế hơn sẽ tăng cường sự quyết định và khã năng để vượt qua chướng ngại. Thực vậy, với thái độ này, mỗi chướng ngại mới có thể được xem như một cơ hội khác tốt hơn để phát triển tâm chúng ta!

Vì vậy chúng ta có thể phấn đấu dần dần để trở nên từ bi hơn, yêu thương hơn, chúng ta có thể phát triển cả sự cảm thông chân thành với khổ đau của người khác và đồng thời sẽ giúp để tiêu trừ nổi đau của họ. Như một kết quả, sự tịch tĩnh và nội lực của chúng ta sẽ được tăng trưởng.
TÌNH THƯƠNG CẦN THIẾT CHO CHÚNG TA

Một cách căn bản, nguyên nhân vì sao yêu thương và từ bi mang đến hạnh phúc to lớn thì đơn giản rằng đấy là bản tính tự nhiên của chúng ta ấp ủ chúng trên tất cả những thứ khác. Sự cần thiết cho tình thương là nền tảng căn bản cho sự tồn tại của loài người. Nó kết quả từ sự liên đới sâu sắc mà chúng ta chia sẽ với những người khác. Tuy nhiên khã năng và sự thiện nghệ của cá nhân có thể, nếu bị bỏ rơi cô đơn, người ấy sẽ không thể sống sót. Tuy nhiên, sự mạnh mẽ và độc lập của một người có thể cảm nhận trong thời gian thành công và phát đạt; khi họ quá trẻ hay quá già, hay bệnh hoạn người ta phải cần nhờ sự giúp đở hổ trợ của người khác.

Dĩ nhiên, sự lệ thuộc lẫn nhau, là luật căn bản của tự nhiên. Không chỉ trong chủng loại cao cấp của đời sống mà trong những côn trùng nhỏ bé cũng có xã hội hợp quần. Ai có thể không có bất cứ tôn giáo, luật lệ, hay giáo dục, mà có thể sống sót, nhưng bởi nhờ cộng tác lẫn nhau căn cứ trên một sự thừa nhận bẩm sinh của tính chất liên kết. Những hiện tượng vật chất ở trạng thái tinh vi nhất cũng bị chi phối bởi sự phụ thuộc lẫn nhau. Tất cả những hiện tượng từ hành tinh chúng ta đang sống đến đại dương, mây mưa, rừng rậm và bông hoa ở xung quanh chúng ta, khởi lên, vươn lên trong sự lệ thuộc một quy luật tinh vi của năng lượng. Không có những tác động hổ tương cụ thể, chúng sẽ tan rã và tàn hoại.

Điều ấy cho thấy rằng, vì sự tồn tại của chính loài người thì rất tuỳ thuộc vào sự hổ trợ của những thứ khác rằng sự cần thiết của tình thương dựa trên nền tảng căn bản của sự tồn tại của chúng ta. Vì vậy chúng ta cần một sự cảm nhận thành thật của trách nhiệm và chân thành quan tâm đến quyền lợi của kẽ khác.

Chúng ta phải nghĩ loài người thật sự là gi? Chúng ta không giống như những sản phẩm máy móc. Nếu chúng ta đơn giản là thực thể máy móc tồn tại, thế thì những máy móc chính nó có thể làm nhẹ bớt tất cả những khổ đau và đáp ứng nhu cầu của chúng ta.

Tuy nhiên chúng ta không là những tạo vật vật chất duy nhất, thật sai lầm để đặt tất cả những hy vọng cho hạnh phúc với sự phát triển bên ngoài đơn thuần. Thay vì vậy, chúng nên suy nghĩ về cội nguồn và tự nhiên của chúng ta để khám phá những gì chúng ta đòi hỏi.

Bỏ qua một bên những câu hỏi phức tạp của sự hình thành và phát triển của vũ trụ chúng ta, chúng ta có thể ít nhất đồng ý rằng mỗi chúng ta là sản phẩm của bố mẹ chúng ta. Tổng quát, sự thụ thai phát sinh không chỉ trong bối cảnh của khát dục nhưng từ sự quyết định của bố mẹ chúng ta muốn có con. Những quyết định như thế phát sinh trong trách nhiệm và vị tha của bố mẹ và nguyện ước yêu thương nhân ái để chăm sóc con cái cho đến khi chúng có thể tự lo liệu cho đời sống chính chúng nó. Vì vậy, ngay từ khoảnh khắc đầu tiên của sự thụ thai, tình yêu thương của bố mẹ chúng ta đã thẩm thấu trực tiếp trong sự sáng tạo.

Hơn thế nữa, chúng ta hoàn toàn tuỳ thuộc trên sự chăm sóc của những bà mẹ ngay từ những buổi sớm nhất của sự khôn lớn. Căn cứ vào một số nhà khoa học, trạng thái tinh thần một sản phụ, tĩnh lặng hay náo động, có một ảnh hưởng trực tiếp đến đứa bé chưa sinh.

Sự biểu lộ tình thương cũng rất quan trọng ở đời thời điểm sinh sản. Việc sớm nhất chúng ta làm là bú sửa từ bầu vú của những bà mẹ, chúng ta cảm thấy gần một cách tự nhiên với bà mẹ, và bà mẹ phải cảm thương chúng ta để dưỡng nuôi một cách đúng mức; nếu bà mẹ cảm thấy giận hờn hay bực bội dòng sữa có thể không tuôn chảy thoãi mái.

Rồi thì đấy là thời điểm của sự phát triển của bộ não từ lúc mới sinh cho đến ít nhất là ba hay bốn tuổi, suốt trong thời gian này

Trẻ con không thể sống sót nếu không có sự chăm sóc của những người khác, vì vậy tình thương là chât dinh dưỡng quan trọng nhất. Hạnh phúc của trẻ thơ, sự làm lắng dịu nhiều sợ hãi và phát triển khoẻ mạnh của sự tự tin, tất cả tuỳ thuộc trực tiếp trên tình thương.

Ngày nay, nhiều trẻ thơ đã lớn lên trong những ngôi nhà không hạnh phúc. Nếu chúng tiếp nhận ảnh hưởng cụ thể, sau này chúng sẽ kém thương mến bố mẹ chúng và không hiếm xãy ra, chúng sẽ khó thương mến người khác. Đây là điều rất buồn.

Khi trẻ thơ lớn hơn và đến trường, sự hổ trợ cần thiết cho chúng là những giáo viên. Nếu giáo viên không chỉ truyền đạt sự giáo huấn hoàn toàn lý thuyết nhưng cũng đảm đương trách nhiệm việc chuẩn bị cho học sinh một cuộc sống, học sinh của các giáo viên ấy sẽ cảm thấy tin tưởng và tôn trọng và những điều chúng được dạy bảo sẽ để lại những ấn tượng không thể phai mờ trong tư tưởng chúng. Trái lại, những chủ đề được giảng dạy bởi một giáo viên không biểu hiện một sự quan tâm đúng đắn đến học sinh toàn bộ tốt đẹp sẽ chỉ liên quan như tạm thời và không được ghi nhớ lâu dài.

Một cách đơn giản, nếu một người bệnh và được chửa trị trong một bệnh viện bởi một bác sĩ chứng tỏ một cảm giác ấm áp của tình người, bệnh nhân sẽ cảm thấy thoãi mái và bác sĩ khao khát cống hiến một sự điều trị tối ưu, bất chấp trình độ, kỷ năng của bác sĩ như thế nào. Trái lại, một bác sĩ thiếu vắng tình người và hành động biểu hiện thiếu thiện cảm không kiên nhẫn hay liên hệ một cách vô tình, bệnh nhân sẽ cảm thấy khó chịu, lo âu; ngay cả nếu đấy là một bác sĩ có một kỷ năng cao cấp nhất và chứng bệnh đã được chẩn đoán và toa thuốc được cho một cách đúng mức. Thông thường những bệnh nhân cảm thấy bị đối xử khác biệt với sự đầy đủ chất lượng cho sự khỏi bệnh của họ.

Ngay cả chúng ta tham dự vào cuộc đối thoại hằng ngày, nếu một vài người phát biểu với cảm giác nhân tính chúng ta thích thú để lắng nghe và trả lời một cách thích hợp; toàn bộ cuộc đối thoại trở nên hứng thú, dù là đề tài có thể không quan trọng. Trái lại, nếu một người phát biểu lạnh lùng hay lỗ mãng, chúng ta cảm thâý không thoãi mái và mong cuộc đối thoại chóng chấm dứt, cũng như những hành động liên hệ. Từ những sự kiện tấm thường cho đến những sự kiện quan trọng nhất, sự ảnh hưởng và tôn trọng người khác là quan trọng cho hạnh phúc của chúng ta.

Gần đây, khi gặp những nhà khoa học, họ nói rằng tỉ lệ những bệnh tâm thần đã cao đến mức 12% dân số. Rõ ràng rằng qua sự thảo luận chúng ta thấy rằng nguyên nhân chính của sự căng thẳng không phải là sự thiếu thốn nhu cầu vật chất nhưng là sự thiếu vắng sự quan tâm của người khác.

Vì vậy, khi chúng ta có thể thấy từ mọi thứ chúng tavđã viết như thế, một sự việc dường như đối với chúng tôi: cho dù chúng ta có để tâm đến nó một cách liên tục hay không, từ ngày chúng ta sinh ra, sự cần thiết của ảnh hưởng của con người là ở trong máu của chúng ta. Ngay cả nếu ảnh hưởng đến từ động vật hay ai đấy mà chúng ta thông thường nghĩ là kẽ thù, cả thiếu niên và người lớn sẽ hướng về phía ấy một cách tự nhiên.

Chúng tôi tin rằng không ai sinh ra mà không cần đến tình thương. Điều này chứng tỏ rằng, mặc dù một vài trường phái của tư tưởng hiện đại cũng tìm hiểu như thế, loài người không thể được định nghía như chỉ là đơn thuần vật lý duy nhất. Không có đối tượng vật chất, tuy vậy xinh đẹp hay giá trị, có thể làm chúng ta cảm thấy tình thương, bởi vì cá tính sâu sắc và bản tính thật của chúng ta thì căn cứ trên tâm tính bản nhiên.
PHÁT TRIỂN LÒNG TỪ BI - THƯƠNG YÊU

Một vài người bạn của chúng tôi đã từng nói rằng, trong khi từ bi và yêu thương là tốt đẹp và diệu kỳ, vậy mà họ không thấy thật sự liên hệ nhiều. Họ nói rằng, thế giới chúng ta, không phải là một nơi mà những sự tin tưởng như thế có nhiều ảnh hưởng hay năng lực. Người ta nói rằng giận hờn và căm ghét mới là một phần lớn tự nhiên của loài người và loài người sẽ luôn luôn bị khống chế bởi chúng. Chúng tôi không đồng ý như thế.

Loài người chúng ta đã tồn tại trong hình thể như hiện tại đã hàng trăm nghin năm. Chúng tôi tin rằng nếu trãi qua thời gian này tâm tư con người bị khống chế bởi giận ghét và căm thù là chính yếu, thì toàn bộ dân số con người sẽ giảm xuống. Nhưng hôm nay, bất chấp tất cả những cuộc chiến tranh, chúng ta lại thấy rằng dân số của nhân loại đã đông đảo hơn bao giờ hết. Điều này chỉ rõ ràng cho chúng tôi rằng từ bi và thương yêu chiếm ưu thế trên hoàn cầu. Và điều này, tại sao những sự kiện không hài lòng lại là những "tin tức", bởi vì những hành động từ bi thương yêu đã chiếm phần lớn trong cuộc sống hằng ngày là tất nhiên và vì vậy, nó bị lãng quên một cách rộng rãi.

Hơn thế nữa chúng tôi đã từng thảo luận những lợi ích tinh thần chính yếu của từ bi, không những thế nó còn góp phần cho một thân thể cường tráng. Theo kinh nghiệm cá nhân của chúng tôi, một tinh thần ổn định và một thân thể khoẻ mạnh thì liên hệ trực tiếp với nhau. Không cần hỏi, giận dữ và dễ bị khích động làm chúng ta dễ mắc phải bệnh tật hơn. Trái lại, nếu tâm hồn tĩnh lặng, thanh bình và tràn ngập những tư tưởng tích cực, thân thể sẽ không sa sút và làm mồi cho tật bệnh một cách dễ dàng.

Nhưng dĩ nhiên, cũng đúng rằng tất cả chúng ta đều có một tính vị kỷ bẩm sinh đã ngăn trở tình yêu thương của chúng ta đến người khác. Vì vậy, khi mà chúng ta khao khát một hạnh phúc chân thực, điều được mang đến chỉ do một tâm hồn tĩnh lặng, và một sự yên bình của tâm hồn như thế chỉ có thể có được với một thái độ từ bi, làm thế nào chúng ta có thể phát triển điều này? Một cách rõ ràng, nó không đủ khi chúng ta chỉ đơn giản nghĩ về, từ bi là tốt đẹp thế nào!
Chúng ta cần có sự cố gắng phối hợp để phát triển nó; chúng ta phải dùng tất cả những sự kiện trong đời sống hằng ngày để chuyển hoá tư tưởng và thái độ của chúng ta.

Trước nhất, chúng ta phải hiểu rõ ràng về, từ bi thương yêu là nghĩa thế nào, với chúng ta. Rất nhiều dạng của cảm giác từ bi thương yêu bị lẫn lộn với khao khát, thèm muốn, dục vọng và vướng mắc. Chẳng hạn, tình thương của ba mẹ dành cho con cái thường gắn liền với những nhu cầu của những cảm xúc của chính họ, vì vậy nó không là lòng từ bi thương yêu hoàn toàn. Một thí dụ khác, trong hôn nhân, tình yêu giữa chồng và vợ- đặc biệt là lúc mới bắt đầu, khi mỗi người chưa biết sâu sắc những cá tính của nhau - nó tuỳ thuộc vào sự ái luyến hơn là tình yêu chân thật. Sự khao khát của chúng ta quá mạnh rằng người mà chúng ta yêu mến xuất hiện được tốt đẹp như lòng chúng ta mong đợi, trong khi thật sự người ấy thì quá tiêu cực. Thêm nữa, chúng ta có xu hướng thổi phồng những phẩm cách tích cực nhỏ. Vì vậy khi thái độ của người phối ngẫu thay đổi, thì người kia thường chán nản, thất vọng và thái độ cũng thay đổi luôn. Điều này cho thấy rằng tình yêu đã được thúc đẩy bởi nhu cầu cá nhân hơn là bởi sự chăm sóc chân thành cho cá nhân của người khác.

Lòng từ bi thương yêu chân thật không chỉ là một sự đáp ứng tình cảm mà là một nguyện ước vững chắc đặt nền tảng trên lý trí. Vì vậy, một thái độ từ bi thương yêu đúng đắn hướng đến những người khác không thay đổi ngay cả nếu họ đối xử tiêu cực.

Dĩ nhiên, phát triển từ bi thương yêu như thế này thì không dễ dàng! Như đã nói lúc bắt đầu, chúng ta hãy theo dõi những điều sau:
Cho dù người ta xinh đẹp và thân hữu hay không quyến rũ và không thân thiện, một cách căn bản họ cũng là người, chỉ giống chính mình. Giống như ai khác, họ muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Xa hơn nữa, người ta có quyền để vượt qua khổ đau và để được hạnh phúc bình đẳng với mọi người. Bây giờ, khi chúng ta đã nhận ra rằng, tất cả chúng sinh thì bình đẳng cả với khao khát cho hạnh phúc và quyền để đạt được điều ấy, chúng ta tự động cảm thấy sự xúc cảm và gần gũi với tất cả.

Xuyên qua thói quen của tâm chúng ta với cảm giác vị tha bao la, chúng ta phát triển một cảm nhận trách nhiệm cho người khác: nguyện ước để giúp đở họ hành động vượt qua những chướng ngại của họ.

Mặc dù nguyện ước này được lựa chọn, nhưng nó được hướng đến tất cả mọi người. Cho đến khi nào người ta vẫn là người thì kinh nghiệm vui mừng hay đau khổ cũng như chúng ta mà thôi, không có một căn bản nào phân biệt giữa họ hay để thay đổi sự quan tâm đến họ dù họ cư xử tiêu cực.

Hãy để chúng tôi nhấn mạnh rằng, nó là năng lực trong chúng ta, hãy cho kiên nhẫn và thời gian, để phát triển lòng từ bi thương yêu này. Dĩ nhiên, tính vị kỷ của chúng ta, sự ái luyến đặc biệt đến cảm giác độc lập, sự tồn tại của tự ngã, cái tôi làm căn bản chủ yếu để cản trở lòng từ bi thương yêu của chúng ta.Thực vậy, lòng từ bi thương yêu chân chính có thể được kinh nghiệm chỉ khi sự chấp thủ, bám chặc được xoá bỏ. Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta không thể bắt đầu và làm một chương trình để phát triển lòng từ bi thương bây giờ.
CHÚNG TA BẮT ĐẦU NHƯ THẾ NÀO!

Chúng ta nên bắt đầu bằng việc loại trừ những chướng ngại lớn nhất đến lòng từ bi thương yêu: giận dữ và thù ghét. Như chúng ta đã biết, đây là những cảm xúc cực kỳ mạnh mẻ và chúng có thể khống chế cả toàn bộ tâm tư chúng ta. Mặc dù vậy, chúng có thể được kiểm soát. Tuy nhiên, nếu không vậy, thì đây là những cảm xúc tiêu cực sẽ gây tai hại cho chúng ta và làm cản trở sự mưu cầu cho hạnh phúc của một tâm thương yêu - nếu không có ảnh hưởng nào khác trên chúng.

Vì vậy, khi bắt đầu, thật lợi ích để khám phá giá trị của giận dữ hay không giận dữ. Thỉnh thoảng, khi chúng ta thiếu nghị lực trong một hoàn cảnh khó khăn, sự giận dữ dường như một hổ trợ có ích, xuất hiện để mang đến thêm năng lượng, sự tin cậy và quyết định.

Vì vậy, nơi đây, chúng ta phải trắc nghiệm trạng thái của tinh thần chúng ta một cách cẩn thận. Trong khi đúng là giận dữ mang thêm năng lượng, nếu chúng ta khám phá tính tự nhiên của năng lượng này, chúng ta thấy rằng nó là mù quáng: chúng ta không thể chắc chắn rằng kết quả của nó sẽ là tích cực hay tiêu cực. Bởi vì sự giận dữ đã làm mờ tối phần tuyệt hảo của bộ óc chúng ta: sự sáng suốt của nó. Vì vậy năng lượng của giận dữ hầu như luôn luôn không đáng tin cậy. Nó có thể là nguyên nhân của một sự tàn phá rộng lớn , một thái độ đáng tiếc. Hơn thế nữa, nếu sự giận dữ phát triển đến cùng cực, người ấy trở nên như một kẻ bị bệnh tâm thần, hành động trong chiều hướng tổn hại chính tự thân và những người khác.

Tuy nhiên, chúng ta có thể phát triển một năng lực tương xứng nhưng với năng lượng có thể kiểm soát để đối phó với những hoàn cảnh khó khăn.

Năng lượng kiểm soát được này đến không chỉ từ thái độ từ bi yêu thương mà cũng từ lý trí và nhẫn nhục. Đây là những loại thuốc giải cực kỳ hiệu nghiệm đối với giận dữ. Kém may mắn thay, rất nhiều người đã phán đoán sai lầm những phẩm chất này như những dấu hiệu của sự yếu đuối. Chúng tôi tin tưởng sự ngược lại là đúng: rằng đây là những dấu hiệu của một sức mạnh từ bên trong. Từ bi yêu thương là bởi sự dịu dàng, tế nhị, và hoà bình tự nhiên, nhưng nó cũng rất là mạnh mẽ. Nó là như thế đó, yếu đuối, đối với những ai mất sự kiên nhẫn một cách dễ dàng, những ai không vững chắc, và không kiên định. Vì vậy, đối với chúng tôi sự thức dậy của giận dữ là dấu hiệu trực tiếp của yếu đuối.

Cho nên, khi một điều rắc rối khởi lên, cố gắng duy trì khiêm tốn và giữ một thái độ ngay thẳng và được quan tâm rằng kết quả sẽ tốt. Dĩ nhiên, những kẽ khác có thể thừa cơ hội này để lợi dụng, và nếu thái độ duy trì không giao động của chúng ta chỉ khuyến khích sự gây hấn phi lý, hãy mạnh dạn đứng vững. Tuy nhiên điều này nên được thực hiện với từ bi thương yêu, và nếu cần thiết để bày tỏ quan điểm và làm một biện pháp đối phó mạnh mẽ của chúng ta, hãy làm như vậy mà không giận dữ hay mục đích không chính đáng.

Chúng ta nên nhận thức rằng mặc dù người đối nghịch xuất hiện để làm tổn hại chúng ta, cuối cùng, những hành động phá phách sẽ chỉ tổn hại chính họ. Để kiểm soát lại sự vị kỷ của chính chúng ta, sự thôi thúc để trả đủa, chúng ta nên nhắc lại niềm mong ước được thực tập từ bi thương yêu và đảm đương trách nhiệm để giúp đở ngăn ngừa người khác phải khổ đau vì hậu quả những hành động của họ.

Vì vậy, bởi vì sự đo lường chúng ta, việc làm đã được chọn lựa một cách tĩnh lặng, chúng sẽ được ảnh hưởng hơn, chính xác hơn và sinh động hơn. Sự trả đủa căn cứ trên năng lượng mù quáng của giận dữ sân hận và hiếm khi đạt được mục tiêu.
BẠN VÀ THÙ

Chúng tôi phải nhấn mạnh rằng không chỉ đơn thuần nghĩ từ bi yêu thương và lý trí và nhẫn nhục là tốt đẹp, thì sẽ không đủ để phát triển chúng. Chúng ta phải đợi cho đến khi những khó khăn trỗi dậy và rồi thì mới có dịp để mà cố gằng thực hành những điều ấy.

Và ai sẽ tạo ra những cơ hội như vậy? Không phải bạn bè chúng ta, và dĩ nhiên, đấy là những kẽ thù của chúng ta. Họ sẽ là những kẽ trao tặng chúng ta những tình huống khó khăn nhất. Vì vậy nếu chúng ta thực sự ước nguyện để học, chúng ta nên nghĩ rằng những người thù là những vị thầy tuyệt hảo của chúng ta!

Cho một người nuôi dưỡng từ bi và tình thương, sự thực hành kiên nhẫn và khoan dung là căn bản, và cho điều đó, một kẽ thù là rất cần thiết, không thể thiếu được. Vì vậy chúng ta nên cảm thấy biết ơn những kẽ thù của chúng ta, vì họ là kẽ có thể hổ trợ tốt nhất để chúng ta phát triển một tâm tĩnh lặng! Cũng vậy, thường có trường hợp cả cá nhân và trong đời sống cộng đồng, điều đó đã chuyển hoá tình trạng, những kẽ thù thành những người bạn.

Vì vậy sân hận và thù ghét thì luôn luôn tổn hại, và trừ khi chúng ta đã rèn luyện tâm tính và hành động để giảm bớt những mãnh lực tiêu cực của chúng, chúng sẽ tiếp tục để quấy rầy chúng ta và đập phá những cố gắng để chúng ta phát triển một tâm tĩnh lặng yên bình. Sân hận và thù ghét là những kẽ thù thật sự của chúng ta. Đây là những sức mạnh mà chúng ta cần thiết nhất để đối diện và chiến đấu, nó không là những "kẽ thù" tạm thời, chúng xuất hiện một cách gián đoạn suốt cuộc đời chúng ta.

Dĩ nhiên, thật tự nhiên và đúng đắn rằng tất cả chúng ta đều muốn mọi người đều là bạn, chúng ta muốn bạn chứ không muốn kẽ thù. Chúng tôi thường đùa răng nếu bạn muốn ích kỷ, bạn nên rất là vị tha! Chúng ta nên săn sóc những người khác, quan tâm đến lợi ích của họ, giúp đở họ, phục vụ họ, thân hữu hơn, mĩm cười nhiều hơn. Kết quả? Khi chúng ta cần sự giúp đở, chúng ta sẽ thấy vô số người giúp đở! Nếu trái lại, chúng ta thờ ơ với hạnh phúc của người khác, với thời gian chúng ta sẽ là những kẽ thất bại. Và có phải tình thân hữu được sản sinh xuyên qua những mối bất hoà và sân hận, ganh tị và cạnh tranh sôi nổi? Chúng tôi không nghĩ như vậy. Chỉ có tình cảm mang đến cho chúng ta tình bằng hữu chân thật gần gũi.

Trong xã hội vật chất ngày nay, nếu chúng ta có tiền tài và quyền thế, chúng ta dường như có rất nhiều bạn bè. Nhưng họ không phải là những người bạn của chúng ta; họ là bạn của tiền và quyền. Khi chúng ta mất sự giàu có và ảnh hưởng, chúng ta sẽ rất khó tìm thấy những người như vậy.

Vấn đề là khi mọi chuyện tốt lành êm xuôi đối với chúng ta trên thế giới này, chúng ta trở nên tin tưởng rằng chúng ta có thể tự quán xuyến mọi chuyện và cảm thấy rằng chúng ta không cần bằng hữu, nhưng khi tình trạng và sức khoẻ suy đồi, chúng ta nhanh chóng nhận ra rằng chúng ta sai lầm. Đấy là khoảnh khắc mà chúng ta học được rằng ai chính là người thật sự ích lợi và ai là hoàn toàn vô tích sự. Vì vậy để chuẩn bị cho thời khắc ấy, để hình thành nên những người bạn chân thành sẽ giúp đở khi chúng ta cần đến, chúng ta phải phát triển lòng vị tha!

Mặc dù thỉnh thoảng người ta cười phá lên khi chúng tôi nói đến điều ấy, nhưng tự chúng tôi luôn cần thêm bạn. Chúng tôi thích mĩm cười. Bởi vì điều này chúng tôi hiểu biết làm thế nào để có thêm bạn nhiều hơn và làm thế nào để mĩm cười nhiều hơn, và trong cá nhân chúng tôi là những nụ mĩm cười thành thật. Có nhiều loại mĩm cười như là cười mĩa mai, giả tạo hay xã giao. Rất nhiều những nụ cười không tạo được cảm giác hài lòng, và thỉnh thoảng nụ cười ngay cả tạo nên sự nghi ngờ và sợ hải, có đúng thế không? Nhưng một nụ cười chân thành thật sự trao tặng chúng ta một cảm giác tươi mát và chúng tôi tin nó là đặc trưng của loài người. Nếu đây là những nụ cười chúng ta muốn, rồi thì tự chúng ta phải tạo nên lý do để những nụ cười thành thật, tươi mát và hạnh phúc có thể xuất hiện.
TỪ BI YÊU THƯƠNG VÀ CUỘC SỐNG CHÚNG TA

Để kết luận, chúng tôi muốn vắn tắt để mở rộng sự suy tư của chúng tôi trước chủ đề của bài này và mở rộng hơn điểm: hạnh phúc cá nhân có thể cống hiến trong một phương pháp hiệu quả sâu sắc và ảnh hưởng đến toàn bộ việc cải thiện cộng đồng nhân loại.

Bởi vì chúng ta cùng chia sẽ bản chất cần thiết của tình thương yêu, điều ấy là có thể để cảm thấy rằng bất cứ người nào chúng ta gặp, trong bất cứ tình trạng nào, đều là anh em, chị em với nhau. Không kể là khuôn mặt ấy mới mẽ hay khác lạ của trang phục và thái độ như thế nào, không có sự khác biệt nào quan trong giữa chúng ta và những người khác. Thật là cạn cợt nếu chỉ dừng lại sự khác biệt ở bên ngoài bởi vì bản chất tự nhiên của chúng ta là giống nhau.

Một cách căn bản, loài người là một và hành tinh nhỏ bé này là ngôi nhà duy nhất của chúng ta. Nếu chúng ta bảo vệ ngôi nhà này của chúng ta, mỗi chúng ta cần kinh nghiệm qua một giác quan của chủ nghĩa vị tha toàn cầu. Chỉ cần cảm nhận điều này, là chúng ta có thể xoá nhoà động cơ vị kỷ, là nguyên nhân chúng ta lừa dối, làm thất vọng và hành hạ kẻ khác. Nếu chúng ta có sự ngay thẳng và trái tim cởi mở, chúng ta sẽ cảm thấy giá trị của chính nó và sự tin cậy một cách tự nhiên, và không cần phải sợ hãi kẽ khác.

Chúng tôi tin rằng ở tại bất cứ giai tầng nào của xã hội- gia đình, bộ tộc, quốc gia và quốc tế- chìa khoá để một thế giới hạnh phúc hơn và thành công hơn là sự lớn mạnh của lòng từ bi thương yêu. Chúng ta không cần để trở nên sùng đạo hay cần phải tin tưởng ở một học thuyết nào.

Việc cần thiết cho tất cả chúng ta là phát triển những phẩm chất tốt đẹp của con người.

http://lamayeshe.com/oth...rs/hhdl/compassion.shtml

His Holiness the Dalai Lama
Tuệ Uyển chuyển ngữ trich www.khoahoc.net




Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

langthang09  
#380 Posted : Sunday, November 8, 2009 4:03:57 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)
UserPostedImage

UserPostedImage
YÊU

Vẫn biết khi yêu nhau
Là đớn đau khắc khoải
Vẫn biết khi yêu nhau
Là đắng cay mãi mãi

Anh vẫn sẽ yêu em
Không đắn đo chi hết
Không một lời hối tiếc
Không một điều ăn năn

Đã yêu là hiến dâng
Không một lời ân hận
Đã yêu là chấp nhận
Dù ngọt bùi đắng cay

Đã yêu là đắm say
Hai trái tim làm một
Đã yêu thì dù chết
Vẫn không rời xa nhau

Thế giới dù muôn màu
Nhưng tình yêu chỉ một
Là tình yêu đích thực
Bắt nguồn từ con tim.
NTP

Users browsing this topic
Guest
73 Pages«<1718192021>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.