Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

54 Pages«<525354
Options
View
Go to last post Go to first unread
NNT  
#1061 Posted : Monday, September 4, 2017 1:46:50 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,048
Man
Location: USA

Thanks: 2037 times
Was thanked: 4028 time(s) in 2079 post(s)
thanks 2 users thanked NNT for this useful post.
Ngọc Anh on 5/6/2018(UTC), Tí Trễ on 5/6/2018(UTC)
NNT  
#1062 Posted : Thursday, September 28, 2017 10:12:29 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,048
Man
Location: USA

Thanks: 2037 times
Was thanked: 4028 time(s) in 2079 post(s)
thanks 3 users thanked NNT for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 5/2/2018(UTC), Ngọc Anh on 5/6/2018(UTC), Tí Trễ on 5/6/2018(UTC)
NNT  
#1063 Posted : Wednesday, May 2, 2018 5:30:01 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,048
Man
Location: USA

Thanks: 2037 times
Was thanked: 4028 time(s) in 2079 post(s)

Edited by user Wednesday, May 2, 2018 5:31:50 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 3 users thanked NNT for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 5/2/2018(UTC), Ngọc Anh on 5/6/2018(UTC), Tí Trễ on 5/6/2018(UTC)
NNT  
#1064 Posted : Wednesday, May 2, 2018 5:45:20 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,048
Man
Location: USA

Thanks: 2037 times
Was thanked: 4028 time(s) in 2079 post(s)

Lê Phi Ô – Chiến-sĩ vô danh

Posted on August 15, 2014 by minhhieu854
htxp://hung-viet.org/blog1/

Trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam trước họa xâm lăng của Cộng-sản phương Bắc, Quân-Lực VNCH đã có biết bao Anh-Hùng, Liệt-Nữ vị quốc vong thân. Bên cạnh đó… có những sự hy sinh không kém hào hùng ít được nhắc tới, tôi muốn nói đến những người lính không có số quân: “Vợ lính” ! Lê phi Ô.

***

Đúng 02:00 giờ sáng ngày 09 tháng 12 năm 1974, Lính vừa đổi phiên gác thì một ánh chớp cùng tiếng nổ long trời phát ra tại hàng rào hướng tây của Chi-khu, nơi tuyến phòng thủ của một trung đội thuộc Đại-đội chỉ-huy, một trung đội của Đại-đội 3 và tiểu đội thám-báo Tiểu-đoàn. Khói lửa, cát bụi mịt mùng, đặc-công việt cộng đã chui vào hàng rào phòng thủ đặt chất nổ phá hủy nhiều lớp kẻm gai. Lập tức, tổ thám báo của tiểu-đoàn tung nhiều quả lựu đạn vào vùng khói lửa nơi vừa xảy ra tiếng nổ để ngăn chận bọn đặc-công cảm tử địch xông vào.

Trong ánh chớp kèm tiếng nổ của lựu đạn bóng vài tên VC chạy ngược trở ra nhưng đã bị khẩu đại-liên trên vọng gác đốn ngã. Những trái sáng tay và của súng cối 81 ly được phóng lên sáng rực bầu trời, tôi gọi Trung-úy Lưu-đức-Thắng (khóa 24/VBĐL) đại-đội trưởng ĐĐ3/344 cẩn thận mặt Bắc, nơi có một ngôi chùa nhỏ sát cạnh hàng rào phòng thủ… đây là đường tiến sát rất thuận lợi cho VC vì bọn chúng biết lính không bao giờ dám mang súng đạn vào gần chùa dù chỉ để phục kích đêm. Trung-úy Thắng báo đã bắn hạ hai 2 tên địch ngay khi chúng vào tới hàng rào phòng thủ trong cùng… mười phút sau, Thắng cho biết hàng rào đã bị cắt đứt nhiều chỗ, lập tức tôi lịnh cho Trung-úy Thời đại- đội trưởng Đại-đội 2/344 đang bố trí quân tại trại cửa bên ngoài Chi-khu về hướng đông cách Chi-khu 500 thước đưa ngay một trung-đội vào chiếm giữ ngôi chùa nhỏ, trung-đội nầy chạm súng nhẹ và địch bỏ chạy, đây chỉ là tổ cảnh giới của địch.

Đây không phải là trận đánh đơn thuần của đơn vị đặc-công địch, vì đặc-công chỉ lẻn vào âm thầm chứ không phá hàng rào nhiều chỗ như vậy, bọn chúng đang chuẩn bị chiến trường cho những đơn vị lớn hơn. Đúng như tin tức MẬT từ Bộ Tổng-tham-mưu cho biết trước: VC mở chiến-dịch “Tánh-Linh Hoài-Đức” để đánh chiếm hai Chi-khu nầy theo chiến thuật mà chúng gọi là “Bóc vỏ” trước khi tiến đánh Thị-xã Xuân-Lộc, nếu không thành công thì ít ra bọn chúng cũng cầm chân được một số lớn đơn vị của ta để dễ bề đánh chiếm Tỉnh Phước-Long.

Trước đây một tuần, vì áp lực địch quá nặng nên Quân-khu 3 đã tăng cường Liên-đoàn 7/ BĐQ cho Chi-khu Hoài-Đức, Đơn vị BĐQ nầy đóng quân tại khu vực Gia-Huynh nằm trên Tỉnh- lộ 333 về hướng nam và cách Bộ chỉ-huy Chi-khu 10 cây số. Đồng thời Bộ chỉ-huy Tiểu-khu ra lịnh cho Tiểu-đoàn 344/ĐP của tôi rút bỏ xã Võ-Xu và các ấp nằm dọc Tỉnh-lộ 335 về phòng thủ duy nhất cứ điểm Chi-khu và xã Võ-Đắt, tiểu đoàn được tăng cường thêm Đại-đội 512/TS (Trinh-sát)

Quận Hoài-Đức là quận xa nhất của Tỉnh Bình-Tuy, cách Tỉnh lỵ 80 cây số đường chim bay. Xung quanh quận lỵ là rừng cây bạt ngàn, phía đông bắc giáp với Tỉnh Lâm-Đồng toàn núi rừng của chặng cuối dãy Trường-Sơn thuận lợi cho việc che dấu và tiến sát các đơn vị lớn VC mà máy bay quan sát khó phát hiện… những cuộc hành quân lục soát đã khám phá nhiều dấu vết địch cấp trung- đoàn. Tôi cho vài người lính Thượng (sắc tộc Man) giả dạng dân làm rừng xâm nhập những vùng nghi ngờ có địch để thám sát nhưng những người lính nầy ra đi không về ! Những cuộc chuyển quân của Ta và Địch làm cho người dân đoán biết được tình hình rất nghiêm trọng nên gồng gánh ra đi bằng nhiều phương tiện khác nhau. Đêm 25 tháng 12 năm 1974, Chi-khu Tánh-Linh cách Hoài-Đức 15 cây số về hướng đông nam thất thủ.

Quốc lộ 23 – 1970

Chi-khu Hoài-Đức suốt tuần nay bị địch pháo bằng hỏa tiễn 107 ly và cối 82 ly trung bình 500 quả một ngày. Pháo binh của ta chỉ phản pháo cầm chừng vì đạn khan hiếm. Liên-đoàn 7 BĐQ ở phía nam cũng chạm nặng với khoảng 2 Trung-đoàn VC, pháo-đội 105 ly của Pháo-đội trưởng Nguyễn-hữu-Nhân thuộc TĐ181/PB-Sư-đoàn 18BB tăng cường cho LĐ 7/BĐQ đã phải dời vị trí nhiều lần (Nhân là anh vợ của Lê-phi-Ô) Cứ mỗi lần qua vị-trí mới là vị trí cũ bị pháo tan nát, Pháo đội nầy đã bị mất 2 khẩu 105 ly vào tay VC. Thiết đoàn 5 Kỵ-binh vào tăng viện cho LĐ7/BĐQ cũng bị thiệt hại đáng kể (hai sĩ-quan cấp tá bị tử thương).

Ban ngày bị pháo, ban đêm địch liên tục tấn công, xin phi cơ C123 yểm trợ và soi sáng không có… tổn thất lên cao mỗi ngày. Đang cầm máy điều động các đại đội phản công địch thì 2 anh Cảnh-sát dã chiến hớt hãi chạy đến báo: “thưa thẩm quyền, ông trưởng chi của tụi tôi bị VC bắt rồi !”. Tôi tái mặt, chi Cảnh-Sát nằm ngay trong Chi-khu và cách Bộ chỉ-huy tiểu-đoàn của tôi khoảng 30 thước với một tiểu-đội Cảnh-sát dã-chiến, gần mười Cảnh-sát viên và tổ Thám-báo của tiểu-đoàn 5 người… mà bị VC bắt ?! Tôi và thượng-sĩ Hường thường vụ tiểu-đoàn, 2 cận vệ cùng 2 CSDC vội vã băng qua Chi Cảnh-Sát. Việt cộng đã đột nhập định cắt Chi-khu ra làm hai vì hỏa lực tại nơi đây tương đối yếu, trước khi bị anh em Cảnh-sát và lính phản công VC khi rút lui đã bắt được Đại-Úy Long trưởng chi và 2 cảnh-sát viên mang theo. Một số lính tiểu-đoàn và Cảnh-sát tử thương, Tôi tăng cường thêm 3 người lính của toán Hỏa-đầu vụ tiểu đoàn cho Chi Cảnh-sát (vì không còn quân). Trên đường trở lại BCH/tiểu-đoàn, thoáng thấy một bóng người nép vội vào gốc cây xoài bên hông văn phòng Quận cách tôi khoảng 10 thước, dáng dấp khả nghi không giống như lính. Tôi ra dấu cho Thượng-sĩ Hường cùng một anh lính nép vào tường sẳn sàng yểm trợ, tôi và anh cận vệ còn lại bò về hướng cây xoài sẳn sàng nhả đạn. Bóng người lạ xê dịch như muốn chạy, cả hai chúng tôi hướng súng sẳn sàng bóp cò. Bỗng một quả chiếu sáng tay bừng sáng trên trời soi rỏ bóng người lạ chỉ còn cách tôi khoảng 3 thước, không có súng và hình như đàn bà. “Nữ đặc-công VC” ? vừa thoáng nghĩ trong đầu thì anh cận vệ của tôi đã nhảy chồm lên tên Đặc-công còn súng của tôi thì kê sát vào lưng hắn sẳn sàng bắn, anh cận vệ la lên: “mày hả ?”. Anh ta quay lại tôi nói nhỏ: “Con Hạ, ông thầy ơi !”. Tôi quát khẽ: “Mầy làm gì ở đây ?!” – Con bé mặt còn nguyên nét sợ hãi: “Dạ em… dạ em…!”. Vài quả đạn pháo nổ quá gần chúng tôi chạy ùa vào lô-cốt kế cận, tôi hỏi lại: “Mầy làm gì ở đây ?”, Thượng-sĩ Hường nói: “Mấy bữa nay, nó thay thằng Xuân đi tiếp đạn cho anh em”, tôi nói như trách cứ Th/sĩ Hường: “Mấy bữa nay ?! thằng Xuân đâu mà nó phải đi tiếp đạn ?” – “Dạ, thằng Xuân anh của nó… chết rồi !”

Tôi hụt hẫng, cổ họng có cái gì nghèn nghẹn ! Ông già Mai, ba của con bé Hạ một nông dân hiền lành sống với ruộng rẩy, Thằng Đông con lớn của ông đi lính rồi tử trận ngoài miền trung, từ đó mỗi khi đi làm rẫy nhận được tin tức gì của VC ông đều bí mật báo với chính quyền, bọn cơ sở nằm vùng của VC biết được đã chặt đầu ông ngoài rẫy với bản án để răn đe. Thằng Xuân là lính của tiểu-đoàn tôi… con bé không dám ở nhà một mình nên vào đồn sống với anh của nó… bây giờ thằng Xuân chết rồi, nó sẽ sống với ai ?!! – Tôi nói thật khẽ với Th/sĩ Hường như nói với chính tôi: “Bố Hường, tạm thời Bố nuôi con Hạ giùm tôi… để khi nào yên tôi sẽ tính sau !”. Tôi quay về hầm chỉ huy dưới làn mưa pháo của địch như đi dạo phố.

Sau khi Tánh-Linh thất thủ, bọn VC dồn cả lực lượng cấp Sư-đoàn tấn công LĐ7/BĐQ và Chi-khu Hoài-Đức do Tiểu đoàn tôi tử thủ với quân số còn lại khoảng hơn 200 người. Trước trận đánh, vì Bình-Tuy không đủ quân số nên xin tăng cường 2 tiểu-đoàn ĐPQ, Quân-đoàn 3 chỉ tăng cường một tiểu-đoàn ĐPQ cho Chi-khu Tánh-Linh từ Long-An đến (TĐ335/ĐP) còn tiểu đoàn của tôi thì bổ sung quân số lên đến hơn 500 người lấy từ các tiểu-đoàn khác trong Tiểu-khu. Xác chết VC vì không ai chôn nên đã bốc mùi, xác lính thì chôn tạm, phủ poncho. Thương binh còn kẹt lại khoảng 50 người vừa nặng vừa nhẹ vì trực thăng vào vùng không được do phòng không VC dày đặc và nhiều chuyến phải quay đầu lại vì phải ưu tiên cho mặt trận Phước-Long. Liên-đoàn 7/BĐQ triệt thoái khỏi Hoài-Đức… như thế với tiểu-đoàn ĐPQ của tôi còn lại hơn 200 người bị Sư-đoàn 7 việt cộng và Trung-đoàn 812 Sông – Mao + 4 tiểu-đoàn Đặc-công 18, 19, 20 và 200C (từ 6 đến 8 ngàn quân) bao vây tấn công ngày đêm. Thượng cấp cho tôi toàn quyền quyết định đi hay ở, tôi đã cho thăm dò nhiều lần con đường rút nhưng không thể thực hiện được. Nếu lính tráng thì được còn vợ con họ thì sao ? và thương binh nữa ? Chúng tôi quyết định tử thủ.

Tôi gọi 2 đại-đội của tôi bên ngoài thì Đại-đội 1/344 của Đại-úy Trương-Kiêm tan hàng trong đêm mất hẳn liên lạc, Đại-đội 2/344 của Trung-úy Thời thì còn lại 36 người, Đại-đội 512 Trinh-sát của Trung-úy Đường vừa lui lại khu vực chợ cách BCH Chi-khu không xa vì áp lực địch quá mạnh, ngay trưa hôm đó Trung-úy Đường tử thương và Trinh-sát tan hàng. Bây giờ thì không riêng gì con bé Hạ mà cả các chị vợ và con lính cũng được cấp phát súng đạn. Vợ Trung-sĩ Hảo là cô đỡ (Bà Mụ ở nông thôn) trở thành y tá của tiểu-đoàn, hai tay chị đầy máu, một thương binh cánh tay trái chưa đứt lìa hẳn đã bốc mùi thối phải cắt bỏ, không còn thuốc Tê, với lưỡi dao cạo râu chị cố lấy bình tỉnh cắt bỏ cánh tay, anh thương binh cắn răng chịu với hai hàng nước mắt chảy liên tục vì quá đau đớn ! Tôi cố gắng an ủi từng người, anh tài xế của tôi bị gãy chân trái vì đạn pháo, thấy tôi anh ấy khóc. Tôi cố an ủi, bảo rằng vết thương của anh không đến đổi cưa chân đâu, anh ấy nói trong nước mắt: “không phải em sợ cưa chân đâu, nếu em được tải thương coi như chắc chắn được sống… thấy ông thầy còn kẹt lại… em thương cho ông thầy quá !”anh ấy nghẹn lời không nói được, anh ấy đâu biết rằng tôi còn nghẹn hơn anh ấy nữa !!! (sau ngày tôi ra tù, anh ấy hay tin, từ Saigon với đôi nạng gỗ và một chân… lặn lội xuống Bà-Rịa thăm tôi !).

Con bé Hạ đầu quấn khăn tang cho anh nó bằng cuộn băng vải trắng, mặc áo trận, vai mang súng M16 người nó trông cứng cỏi như một người lính thực thụ, mới 16 tuổi mà trông như 30 – 40 tuổi. Một tiểu đội nữ binh mới được bổ sung đặt dưới quyền chỉ huy của Thượng-sĩ Hường, tiểu-đội trưởng là vợ của Trung-sĩ nhất Man-Ngui (người Thượng).

Các toán thám sát được tung ra ngoài nay đã trở về, họ báo là bọn VC dày đặc, tiểu đoàn không còn cách nào rút lui được, nếu cố mở đường máu thì sẽ sống sót may lắm là 1/3. Hôm đó bọn VC không tấn công ban ngày mà chỉ pháo. Tôi đoán là đêm nay bọn chúng sẽ làm thịt chúng tôi… các thương binh còn cầm súng được đều phải ra tuyến ngoài, các Sĩ-quan phải rời bỏ vị trí chỉ huy ra ngoài cùng anh em chiến đấu tới hơi thở cuối cùng kể cả tôi, nhưng đêm đó vẫn yên tĩnh đến lạ lùng và ngạt thở. Đúng 9 giờ sáng ngày 04 tháng 01 năm 1975, với tất cả hỏa lực của đủ loại súng, bọn VC bắn như vãi đậu, tiếng hò hét xung phong man rợ. Anh em chúng tôi mắt mở trừng trừng, tay để sẳn cò súng nghiến răng… chờ giây phút sau cùng của đời mình sẽ đến ! Bọn việt-cộng vẫn chưa xung phong, Đại-úy Đinh-quang-Chính trưởng ban 3 tiểu-đoàn quay lại tôi hét lớn: “Trung-hiếu… khoan cho lịnh bắn, tụi nó dụ cho mình hết đạn đó !”, tôi gật đầu đáp nhận, không riêng gì Đại-úy trưởng ban 3 mà tất cả hình như cũng hiểu như vậy ! Vài lần hò hét xung phong không có kết quả, bọn VC nổi điên xung phong thật… Chiến trường bây giờ là địa ngục, là máu, là thịt xương vung vãi khắp nơi… lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy được địa ngục !!!

Trước đó chừng 20 phút, tôi đàm thoại với một giọng nói lạ trong máy truyền tin bảo tôi cho biết tọa độ chính xác để bắn yểm trợ, VC không thể gạt được tôi, tôi chửi trong máy: “Tiên sư các anh, muốn bắn thì bắn đi, cái Quận to tổ bố không nhìn thấy sao mà còn xin tọa độ!”, và mới đây thôi tiếng người lạ lại vang lên trong máy AN/PRC25: “Yêu cầu Bạch-Vân cho biết tọa độ chính xác của ta và địch !” (Bạch-Vân là danh hiệu của tiểu-đoàn tôi lúc đó), tôi đáp: “Tao ở bên trong, tụi bây ở bên ngoài… muốn chơi thì cứ chơi !” nói xong tôi cúp máy, bọn kiểm thính của tụi nó biết cả danh hiệu truyền tin tiểu-đoàn, biết thì biết… giờ phút nầy bọn chúng nó có muốn biết tên cha mẹ của tôi… tôi cũng cho luôn !

Tôi vừa buông ống liên hợp thì tiếng kèn, tiếng hô xung phong của việt cộng vang trời xen kẻ với tiếng đạn nổ chát chúa long trời lỡ đất. Tiếng đạn đại bác tung cát bụi mịt mù… hình như cả ngàn quả nổ cùng một lượt nhưng không có quả nào lọt bên trong mà nổ phía bên ngoài hàng rào, nổ ngay trên tuyến của việt cộng. Trong cát bụi mịt mờ từng thân xác của bọn sanh Bắc tử Nam bị hất tung lên cao từng đợt, từng đợt, tiếng đạn đại bác nổ liên tục vào bọn VC nghe ghê rợn hơn lịnh xé xác của Kim-Dung tiên sinh. Hơn trăm mạng người còn sống sót của chúng tôi ngẩn ngơ quên cả bóp cò súng, giương đôi mắt nhìn một màn xi-nê sống động và hay hơn tất cả phim chiến tranh mà chúng tôi đã từng xem trước đây. Vì đây là cảnh thật chứ không phải trong màn ảnh, tiếng đạn đại bác vẫn nổ liên tục cho đến trưa… và trong tiếng đại bác reo hò là tiếng máy bay oanh-tạc phản-lực nghe càng lúc càng rõ. Trên bầu trời những chiếc F5 quen thuộc xuất hiện như những thiên thần. Tiếng đại bác vừa ngưng là những F5 nầy chúi xuống thả từng cặp bomb Napal trên đầu giặc biến Võ-Đắt thành biển lửa, quân tử thủ chợt tỉnh cơn mê… há hốc rồi bỗng nhiên vỡ òa tiếng reo hò ầm ỉ: “Quân tiếp viện đến… Quân tiếp viện đến !”. Đại-úy Chính trưởng ban 3 tiểu đoàn chạy lại phía tôi la lớn: “Sư-đoàn 18 vào tới rồi, mình sống rồi Trung hiếu ơi !”, nước mắt lưng tròng, tôi, Đại-úy Chính và hình như tất cả chúng tôi đều khóc ! Những giọt nước mắt sung sướng lăn dài trên gò má rồi chảy xuống chiến bào đã khô cứng vì cát, đất và máu của đồng đội. Võ-Đắt đã được hồi sinh sau 33 ngày sống trong địa ngục !!!

Tôi dạo một vòng quanh tuyến phòng thủ, đứng nghiêm chào trên mỗi xác của đồng đội, ôm chặc hai vai hoặc nắm chặc bàn tay những anh em bị thương để nghe niềm xúc cảm dâng trào trong tim thay cho muôn vạn lời nói ! Khi ngang qua một lô-cốt tôi thấy bé Hạ ngồi khóc, tôi hoảng hốt hỏi cô bé có bị thương không, nó không nói mà đưa tay chỉ xuống hầm. Tôi chui vào, xác của hai chị vợ lính nằm kề bên nhau tay vẫn còn giữ chặc súng, nhìn qua lỗ châu mai khoảng cách gần, xác của 3 tên Việt cộng bị bắn bể đầu. Nhìn lại thân xác các chị nằm đó như người đang ngủ say ! Thưa các chị, xin các chị hãy yên giấc ngàn thu… các chị đã nối bước tiền nhân, không hổ danh con cháu của hai bà Trưng, Triệu. Tổ quốc Việt-Nam, con dân nước Việt muôn đời ghi công và nhớ ơn các chị… tôi xin đại diện cho những người còn sống hôm nay kính cẩn nghiêng mình trước vong linh của những liệt nữ, anh hùng… vô danh, xin ngàn thu vĩnh biệt !

Tôi bước ra khỏi hầm với gương mặt buồn, nhưng tâm tư chứa đầy niềm kiêu hãnh ! Tôi ngước mặt nhìn trời và ngầm cảm ơn đấng thiên liêng đã cho tôi được sống, chiến đấu và được biết thế nào là anh hùng… và, tôi đã may mắn được chiến đấu bên cạnh những người anh hùng !

Lê Phi Ô
Cựu Tiểu Đoàn-Trưởng TĐ344/ĐP
Tiểu-khu Bình-Tuy.

Edited by user Wednesday, May 2, 2018 5:50:27 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 3 users thanked NNT for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 5/2/2018(UTC), Ngọc Anh on 5/6/2018(UTC), Tí Trễ on 5/6/2018(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1065 Posted : Wednesday, May 2, 2018 11:51:48 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,822

Thanks: 6141 times
Was thanked: 2618 time(s) in 1834 post(s)

Ghi Ơn Người Chiến Sĩ
Tiếng hát: Pia Nguyễn
posted 04-30-2018, 04:46 PM / saoroi - MGP



Ghi Ơn Người Chiến Sĩ
Thi Quân - le 29 avr. 2018
Để tưởng niệm ngày Quốc Hận ngày 30 tháng 4 (lần thứ 43 từ lúc miền nam bị cưởng chiếm). Thi Quân xin giới thiệu ca khúc Ghi Ơn Người Chiến Sĩ để ghi ơn các anh chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Các anh đã luôn chiến đấu oai hùng, luôn sống vì nhân dân, vì tổ quốc. Các anh đã hy sinh đời thanh xuân, hy sinh học vấn, hy sinh sự nghiệp. Có anh đã hy sinh máu xương, bị thương tật. Có anh đã hy sinh tánh mạng. Tất cả để bảo vệ miền nam. Để người dân miền nam có được 21 năm sống trong tự do, dân chủ, nhân quyền. Tuy các anh thua trong cuộc chiến vì bị đồng minh bỏ rơi và bị kẻ thù tráo trở. Các anh bị trả thù, bị hạ nhục sau cuộc chiến nhưng đối với tôi các anh sẽ mãi mãi là những anh hùng vì đã chiến đấu cho chính nghĩa và sẽ mãi mãi ghi ơn các anh. Mong những người trẻ hôm nay hãy theo những tấm gương dũng cảm và biết sống vì tha nhân của các anh thì sẽ giúp được nhiều cho tổ quốc và dân tộc Việt Nam.


thanks 3 users thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
Ngọc Anh on 5/6/2018(UTC), NNT on 5/6/2018(UTC), Tí Trễ on 5/6/2018(UTC)
Ngọc Anh  
#1066 Posted : Sunday, May 6, 2018 6:17:36 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 15,022

Thanks: 6223 times
Was thanked: 4911 time(s) in 2329 post(s)
Hồi Ký: Trận Đánh tại Chi Khu Thiện Giáo – Tháng 4, 1975
11/04/20181
Trần Kim Bằng

Hồi Ký: Trận Đánh tại Chi Khu Thiện Giáo – Tháng 4, 1975
Sau hồi ký “Vượt biên đường bộ”, 2015, Bằng được ủy thác, vinh dự góp tay viết về trận đánh tại quận Thiện Giáo, thuộc tỉnh Bình Thuận trong tháng 4 năm 1975 theo lời kể của một vị sĩ quan Quân Lực – Việt Nam Cộng Hòa (QL- VNCH).


Bài viết được trình bày qua hình thức hồi ký, tác giả cho biết sau nhiều đề nghị từ các anh em đồng đội từng sát cánh chiến đấu, các con cháu, luôn yêu cầu ông nên kể lại. Ngoài mục đích di sản cho thế hệ sau về những chiến thắng oai hùng của cha ông trong công việc gìn giữ, bảo vệ đất nước, chống lại sự xâm lược của cộng sản (cs.) vô thần, ông còn mong như đóng góp nhỏ trong việc phản bác những lời nói vô trách nhiệm của cựu Tổng thống Hoa Kỳ, George W. Bush (Junior)* khi cho rằng QL – VNCH không chịu chiến đấu, thay vì ông ta nhìn nhận để miền nam tự do rơi vào tay cộng sản đa phần là do các chính trị gia Mỹ. Phát biểu nông cạn thực đáng trách của ông Bush tạo ra những bực bội cho nhiều người lính của chúng ta, dù cuộc chiến đã tàn từ lâu.


Cá nhân ông và các đồng đội đã hy sinh tuổi thanh xuân, chiến đấu hết mình cho tới khi miền nam thân yêu bị bức tử, vận nước chấm dứt.


Câu truyện đồng thời cũng ước mong như những đóa hoa thơm, thân thương gởi đến các chiến sĩ Địa Phương Quân - Nghĩa Quân (ĐPQ & NQ) của QL - VNCH trên mọi miền giới tuyến, đã nhiều phen đóng góp xương máu cho đất nước... nhưng luôn bị lãng quên, ít được đề cập tới.


*

- Về chiến thắng Thiện Giáo, dẫu muộn màng, nên được kể và ghi lại trong trang sử liệu đấu tranh can trường của QL-VNCH. Trận chiến này ngoài ĐPQ & NQ thuộc tiểu khu Bình Thuận, còn có thêm ít binh lính từ các binh chủng khác như Nhảy Dù, Biệt Động Quân, TQLC, ... di tản về sát nhập chung, tình nguyện chiến đấu. Ở vào thời điểm khi vùng 1, vùng 2 tan rã, tình hình nhiều tuyệt vọng. Chi khu TG. cho gia đình binh sĩ, vợ con quân nhân các cấp di tản trước, riêng các chiến binh, những người chồng, người cha ở lại sẵn sàng chờ địch tới. Dù biết có thể phải hy sinh bản thân, mọi người quyết bảo vệ vùng trách nhiệm được giao phó. Nghĩ lại, thật hãnh diện. Theo nhận xét của người viết, mặc dù ngoài 80, nhưng với trí nhớ minh mẫn, nhiều chi tiết tường thuật rõ ràng vì chính ông là người tham chiến, giữ trọng trách chỉ huy trưởng lực lượng phòng thủ chi khu. Ông cho hay TĐ 230/ĐPQ được tiểu khu Phan Thiết bố trí ngăn địch tại tuyến đầu tức chi khu Thiện Giáo và cuộc đụng độ nặng cuối cùng nổ ra trong tháng tư, chống trả lại 2 trung đoàn việt cộng, trận đánh rất ác liệt và kéo dài khoảng 3 ngày. Với quân số chỉ hơn 1 tiểu đoàn, các chiến sĩ ĐPQ & NQ đã anh dũng, chặn đứng, đẩy lui nhiều đợt tiền pháo hậu xung của địch, và rất may mắn chỉ một vài người bị thương nhẹ, cả tiểu đoàn hầu như vô sự. Chiến thắng đầy tự hào cuối đời binh nghiệp này cũng đã được ghi lại trong trí nhớ của nhiều người dân Bình Thuận. Ông “Anh Ba”, ở cương vị chỉ huy trưởng chiến trường, mặt trận Thiện Giáo, cung cấp thêm nhiều chi tiết về trận đánh này.


- Tiểu sử về U-80, “Anh Ba", tức Đại úy Mai Vi Thành, xuất thân khóa 4 Đồng Đế, ra trường ông phục vụ tại các đơn vị tác chiến quân khu II. Qua nhiều thăng trầm, vào thời điểm trước tháng tư 1975, vì là lính trận chuyên nghiệp, được giao lại quyền Tiểu đoàn trưởng (TĐT)- TĐ 230/ĐPQ kiêm Xử Lý Thường Vụ Chi khu trưởng Thiện Giáo. Sau khi tan hàng 30-4, vc. thù dai, liệt ông vào thành phần “ác ôn”, và chuyển giao ông ra bắc, ở tù qua các trại như Hoàng Liên Sơn, số 5 Thanh Hóa… từ 1975- 1982, vượt biên định cư Hoa Kỳ 1983.


- Anh Ba cũng là con nuôi cũa Chuẩn Tướng Trần văn Hai, Tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, QL - VNCH, vị tướng công chính thanh liêm, người đã tuẫn tiết trong ngày 30-4-1975 tại bản doanh, căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho.



*

Vào truyện…


Giọt mưa Cali rớt vào ký ức
Lăn hồn ta về với núi với rừng
Gặp lại anh em tháng ngày thao thức
Hể hả cười… cùng khói lửa rưng rưng

Thơ Trạch Gầm (Theo mưa đến thăm cà phê lính)


Trận đánh Thiện Giáo (TG.) tháng 4, 1975


Khoảng đầu tháng 4, 1975, sau khi Ban Mê Thuật thất thủ, quân đoàn 2 hầu như tan rã và sát nhập vào quân đoàn 3 theo lịnh Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Mục tiêu quân sự của Hà Nội đã quá rõ ràng, cánh quân Duyên Hải, Trung đoàn 18 thuộc Quân đoàn 2 cộng sản đang tạo áp lực, chuẩn bị tấn công Phan Rang từ phía đông bắc, sau đó dọc theo đường Quốc lộ (QL) số 1 tiếp tục hành quân về phía Nam, với mục tiêu kế tiếp tiến vào địa bàn tỉnh Bình Thuận, xuống chiếm lấy tiểu khu Phan Thiết. Tuy nhiên vì tình hình dân chúng từ vùng I và II bắt đầu di tản ngày càng đông trên quốc lộ 1, có thể không hẳn thuận lợi về mặt chiến thuật nên địch mở thêm mặt trận từ hướng tây, phía bắc tiểu khu Phan Thiết, nhằm khai thông đường tỉnh lộ 8. Nỗ lực ở mặt này, thì bằng mọi giá, phải dứt điểm Chi khu Thiện Giáo, vì đây là cứ điểm phòng thủ quan trọng để vào Phan Thiết. Cùng lúc, nơi mặt tây nam, tiến đánh Định Quán, rồi từ QL. 20 để vào mặt trận lớn hơn là tiểu khu Long Khánh, vòng đai phía bắc, nơi sư đoàn 18 BB của tướng Lê Minh Đảo phòng ngự, bảo vệ cửa ngõ Sài Gòn. Riêng mũi tấn công vô Thiện Giáo, vì là mặt trận then chốt, hầu như địch tập trung toàn lực lượng vũ trang quân khu 6 trên các cao nguyên Lâm Đồng, Bảo Lộc đưa xuống đồng bằng, đem vào trận.


Trận đánh tại chi khu TG. bắt đầu lúc 3 giờ sáng, khoảng ngày 11, 12 tháng 4 năm 1975, và trong 3 ngày giao tranh, với nhiều đợt tấn công biển người, việt cộng (vc.) đều bị chặn đứng và đánh cho tan tác trên các cứ điểm, có thể nói là thảm bại, thiệt hại nặng mặc dù quân số và vũ khí vượt trội gấp 5, 7 lần. Ghìm được chân lực lượng lớn của địch tại đây là niềm tự hào, của tiểu đoàn 230/ĐPQ & NQ, cùng tất cả quân dân cán chính thuộc chi khu TG. Nhưng khi đất nước lâm nguy, lãnh thổ hỗn loạn, rồi miền nam bị bức tử! chiến thắng này lại ở giai đoạn gần… đứt phim, nên theo dòng thời gian đi vào quên lãng, hầu như không ai nhắc tới, chỉ được truyền thông để ý đến cách hời hợt, chung chung sau này.


*

Thiện Giáo nằm trên tỉnh lộ 8, phía Tây Nam sát mật khu Tam giác, phía đông là quốc lộ 1 và mật khu Lê Hồng Phong, tây bắc có dãy Trường Sơn và mật khu Đăng Gia, phía nam là thị xã Phan Thiết. Quận TG. có hơn mười xã như Tân An, Bình An, Hòa Tân, Tân Thành... ngoài 1 xã hay khu trù mật của người bắc di cư với tinh thần chống cộng cao được thành lập từ thời Tổng thống Diệm, thì tất cả những xã khác đều là vùng xôi đậu. Chi khu Thiện Giáo, theo tầm nhìn chiến thuật là cứ điểm quan trọng, cái gai phải nhổ của vc. để tràn xuống phía nam, nên không bao giờ yên ổn, nơi đây với nhiều trận đánh đẫm máu liên miên của cả hai phía, lớn có, nhỏ có, không ngưng nghỉ. Có câu:” Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận”, cọp thì không thấy nhưng ma quỷ là bọn giặc du kích thì đầy, chúng từ các mật khu luôn ra uy hiếp, quấy rối, giành dân, có nơi một vài xã, vc. đã thành lập được cả cơ sở nằm vùng. Nhiều đời quận trưởng TG. đã bị tử nạn bởi phục kích, bị pháo, đánh lén, đánh úp**. Thiện Giáo hiền hòa, nhỏ bé, nhưng như một khiêu khích quá hiển nhiên, lộ liễu với các anh mật khu bao quanh nên thường bị đặc công quấy rối. Vấn đề an ninh thiệt ớn óc! Bởi vậy, cầm sự vụ lệnh trong tay về bình định quận TG. vị chỉ huy cần có mưu lược tài trí. Có lẽ chỉ có 2 loại người: loại to gan, lớn mật, và loại sau, thê thảm hơn, bị… đì.


*

Lực Lượng và phối trí: VNCH. (khoảng 1,200 quân)


TĐ 230/ĐPQ có 5 Đại đội (ĐĐ) cơ hữu. gồm 1 ĐĐ chỉ huy công vụ, 4 ĐĐ tác chiến và 2 ĐĐ biệt lập (tăng phái), thêm 7 trung đội nghĩa quân. Ghi chú thêm về NQ. của tiểu khu Phan Thiết, đặc biệt chi khu TG. là trong khoảng thời gian dài 20 năm ròng rã, sống mái với việt cộng để bảo vệ địa phương của họ, những người lính nghĩa quân nơi đây dạn dày kinh nghiệm và rất thiện chiến, họ đã nhiều phen gây tổn thất nặng cho đối phương, ghi nhiều chiến công.


1 trung đội Cảnh sát dã chiến.

1 đoàn cán bộ Xây Dựng Nông Thôn (lực lượng áo đen)


Chỉ huy trưởng mặt trận là Tiểu đoàn trưởng (TĐT) - Tiểu đoàn (TĐ) 230/ĐPQ kiêm xử lý thường vụ chi khu trưởng chi khu Thiện Giáo, Đại úy Mai Vi Thành, tức Thành Râu, tuy nhiên các chiến hữu và dân chúng Phan Thiết hầu như ai biết ông, đều thân thương gọi "Anh Ba". Anh Ba vốn là cựu TĐT- TĐ 202/ĐPQ đóng tại Cây Táo, trên Quốc lộ 1, nhưng theo yêu cầu của các binh sĩ TĐ 230, được tiểu khu điều động về thế người tiền nhiệm là Thiếu Tá Thổ Thiêm, người gốc Chàm, một vị đức độ, can đảm, chỉ huy giỏi, nhưng phải giải ngũ sau 3 lần lưu ngũ.


- Tiểu đoàn phó 230/ĐPQ là Đại úy Trần Đăng Thiệt, vì 230 phải chuyển sang phòng ngự, bảo vệ khu vực nên ngoài các Đại đội trưởng, phó, tương đối còn đầy đủ nhân sự các phòng ban 1,2,3,4,5 và truyền tin.


Phía địch: Theo nhiều tin tình báo ở thời điểm này, tuy không đủ thời gian kiểm chứng chính xác, nhưng qua khai thác tù binh được biết, quân số ước lượng vào khoảng 2 trung đoàn của lực lượng vũ trang quân khu 6, hơn 5,000 quân? Với toàn bộ du kích miền cao nguyên 2 tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng, trong đó Trung đoàn 812 là nỗ lực chính, và 1 trung đoàn tân lập, được điều động vào trận nhằm dứt điểm quận Thiện Giáo, xóa sổ TĐ 230. Ngoài pháo binh với đầy đủ đạn dược tiếp vận từ mật khu, loại xe tăng V100 được ngụy trang thành T54 khá đe dọa tâm lý, mặc dù sau đó người lính ĐPQ - NQ. TĐ 230 đã chứng tỏ cho thấy dù địch có xe tăng nhưng cũng không làm khó được họ.


Phối hợp: Chi khu Thiện Giáo phối hợp hàng ngang với chi khu Định Quán, địa đầu của tỉnh Xuân Lộc. Địch tấn công Định Quán cùng lúc với chi khu TG. Thiếu Tá Lê văn Chánh, cũng là người bạn thân của anh Ba, nắm quận trưởng kiêm chi khu trưởng Định Quán đã anh dũng tử trận. Việt cộng dùng pháo 100 ly trên xe tăng T59, bắn trực xạ vào hầm chỉ huy sau khi chúng loa gọi nhưng ông thà chết không hàng. Thiếu Tá Chánh hy sinh lúc đang liên lạc vô tuyến với trưởng chi khu TG.


* Lúc 3 giờ sáng khoảng ngày11, 12. Với quyết tâm “giải phóng” TG. hay cứ điểm Ma Lâm, vc. mở màn bằng trận pháo mù mịt vào tất cả mọi vị trí, công sự các đại đội, đặc biệt quả pháo 155 ly đầu tiên rót vào bộ chỉ huy tiểu đoàn, được báo cáo là chui xuống gầm xe của anh Ba nhưng... không nổ. Sau cơn mưa pháo, địch tổ chức nhiều đợt tấn công biển người, chúng vừa phát loa kêu gọi đầu hàng, vừa ồ ạt đánh vào từ mọi mặt đông tây nam bắc nhằm cắt rời các đại đội ra, không tiếp ứng được nhau. Mặt tây bắc của Đại đội 2 (ĐĐ2) do Trung úy Sanh trách nhiệm chịu áp lực nặng nhất bởi vị trí phòng thủ nằm án ngữ nơi trục giao thông chính của liên tỉnh lộ 8, tuy nhiên, như 1 phép lạ, quân trú phòng vẫn đứng vững sau nhiều phen bị cường tập. Vc. sau mỗi đợt pháo luôn cố gắng tràn ngập nhưng lần nào cũng “chém vè”, phải rút ra với tổn thất không ít về nhân mạng, và cho đến khi tàn cuộc vẫn không chiếm được các cứ điểm. Trong lửa cháy lẫn mùi thuốc súng khét lẹt… Anh Ba nhận định với các ban về những tuyên truyền láo từ chính trị viên cs. nhồi vào đầu cán binh của họ, như tinh thần hốt hoảng, lo sợ, mất bình tĩnh của các chiến sĩ ĐPQ & NQ, QL - VNCH sẽ tiếp tục tháo chạy khi nghe tin “quân giải phóng” đến, đã không xảy ra giống như ở ngoài vùng 1, 2. Ông cười cho biết, chúng đâu ngờ quân dân Bình Thuận của chi khu TG từ quan đến lính, đã rất tỉnh táo, kỷ luật, súng đạn đầy đủ, nghiêm chỉnh chờ sẵn. Địch vào đến đâu bị đốn ngã như sung tới đó. Chiếc tank đầu tiên của vc. nhằm uy hiếp tinh thần bị người lính ĐPQ dùng M72 bắn cháy được thông báo cho nhau làm nức lòng mọi người”.


Nhiều người dân TG., sau này kể lại trận đánh tháng tư vẫn hả hê, cho đây là 1 trận thắng lớn, để đời của các chiến sĩ ĐPQ - NQ của QL - VNCH, vốn bị chế diễu là lính "Địa...phao câu", lính... vườn.


Anh Ba cho biết trận TG, với quyết tâm cao độ, ai cũng kiên cường, thà chết để bảo vệ khu vực trách nhiệm của mình cách thần kỳ, mọi người đã anh dũng chống trả, bẻ gãy mọi mưu toan, và đứng vững sau nhiều xung phong cảm tử của địch. Chiến thắng này cho thấy người lính ĐPQ và NQ của chi khu Thiện Giáo xứng đáng được nhận huân chương tiêu biểu, vinh danh cho truyền thống bảo vệ làng xã trên toàn lãnh thổ.


Trận đánh kéo dài cho tới ngày thứ 3, dù tất cả những vị trí, công sự hư hại nặng nhưng người lính ĐPQ & NQ, QL - VNCH tinh thần vẫn cương quyết một lòng, điềm tĩnh tử thủ khi giờ phút thứ 25 đang cận kề.

Tin từ các nơi gọi về...

- Trình Đại bàng, tụi nó chết la liệt, nhiều lắm, có thâu lượm chiến lợi phẩm không?

- Chỉ thu lượm súng đạn, trang bị ngược lại cho mình.


Sau nhiều vô vọng liên lạc về bộ chỉ huy tiểu khu, cuối cùng Anh Ba cũng được biết dân tị nạn từ phía bắc đã về tới thị xã Phan Thiết? toàn bộ tiểu khu Phan thiết với 6 tiểu đoàn đã di tản chiến thuật? Bằng tàu hải quân, một số ra đảo Phú Quý, số khác về Vũng Tàu. Một trung sĩ trước khi cúp máy cho biết không còn bất cứ giới chức nào để ra lệnh, dĩ nhiên không tiếp vận, không yểm trợ, và thẩm quyền phải tự xoay sở lấy... Cánh quân của TĐ. 230/ĐPQ như vậy đã chiến đấu đơn độc ngay trên đầu tuyến, “nhất kiếm trấn ải” trực diện với quân số vượt trội hơn nhiều lần của cs., để làm chậm bước tiến địch?


Đơn độc nhưng lẫm liệt, hào hùng!

Thời điểm ngày cuối, vc. sau nhiều lần tấn công thất bại, với tổn thất nặng nề, chúng ngưng tấn công, đánh giặc nước miếng! vác loa réo liên tục, yêu cầu, đích danh tên người chỉ huy "anh Ba" và các binh sĩ "ngụy": ”các anh đã bị bao vây, mau buông súng, trở về với ... nhân dân, cách mạng sẽ khoan hồng!” (sic).


Kinh nghiệm cho ông biết chúng đang tập họp, chỉnh đốn hàng ngũ, bổ xung cho 1 đợt cảm tử mới, nhất quyết dứt điểm?

Trong khi giao tranh, ban 4 nhận lệnh tổng kết đạn dược, cho biết trang bị cho 1 người chỉ còn giới hạn không đủ để bảo vệ chính mình. Tình hình bi đát, sớm muộn sẽ bị tràn ngập? Anh Ba đã ra lệnh cho 4,5 mũi thăm dò để thoát ra, hầu hết đều bị khóa! lúc này chung quanh chi khu TG. việt cộng đông như đàn kiến, áp lực dày đặc từ mọi hướng. Tuy vậy, cuối cùng, một toán trinh sát cũng tìm được sinh lộ cho toàn quân. Trong âm thầm, tất cả các đại đội được lệnh len lỏi, triệt thoái về phía đông, băng ngang qua QL.1, xâm nhập thẳng vào... mật khu Lê Hồng Phong của địch. Ông đã binh pháp đúng, "tìm đường sống nơi tuyệt lộ", có cách nào tuyệt vời hơn để dưỡng sức cả nghìn quân ngoài chính mật khu của việt cộng, sự tiên đoán chính xác sau khi thẩm định các tin tức tình báo về việc lực lượng cộng sản đã hối hả rời khỏi mật khu Lê Hồng Phong, dốc toàn lực nam tiến, nương rẫy vắng bóng, chúng để lại mọi thứ hầu như nguyên vẹn, người lính tìm được ít lương khô dán mác tàu cộng, đủ để nuôi quân ta được khoảng...1 ngày.


Đạn dược và thực phẩm luôn là thứ cần thiết nhất.

Sau đó, tất cả mọi người được lệnh rời khỏi mật khu, theo đường chim bay, tiếp tục triệt thoái về phía nam.


Giải tán: Khoảng 2 ngày sau đoàn quân về tới tiểu khu Phan thiết, anh Ba bàn bạc với các cấp chỉ huy tiểu đoàn và đi đến quyết định cuối cùng. Trưa ngày 18 tháng 4 ông ra lệnh cho mọi người buông súng, tan hàng, ai về nhà nấy. Lý do, hết lương thực, đạn dược.


Đoạn kết: Sau ngày 30-04-1975, truyền đơn rải từ quận Hàm Thuận, Phan Thiết xuống tới Khu rừng lá ở Hàm Tân, cây số 25 tỉnh Bình Tuy, vào đến Ngã ba Dầu Giây thuộc tỉnh Long Khánh, kêu gọi đồng bào và các cựu quân nhân đầu quân, tìm vào chiến khu "Rừng Lá" để kháng chiến, tiếp tục chiến đấu chống cs. Tờ truyền đơn ký tên Đại tá Ngô Tấn Nghĩa và Đại úy Mai Vi Thành như một xác tín nhằm kêu gọi phục quốc. Dù thật hay giả hoặc phản gián, những tờ truyền đơn này đã trực tiếp vinh danh "Anh Ba", người hùng Bình Thuận, người đã gây cho du kích cộng sản nhiều khiếp đảm, kinh hoàng qua trận đánh cuối cùng tại Thiện Giáo. *** Anh Ba còn cho biết thêm, khi TĐ 230/ĐPQ về tới Phan Thiết, việc đầu tiên là tìm đến kho đạn của tiểu khu để bổ xung vũ khí, trang bị... trong đầu ông đã hình thành một tuyến phòng thủ mới, chuẩn bị ngăn địch vào thị xã, nhưng khốn thay, cả kho đạn cũng đã được di tản? Ông bất lực, ngao ngán nhìn thị xã Phan Thiết lúc đó coi như đã hoàn toàn bỏ ngỏ, và địch thì vẫn chưa vô tới! Thiệt tình!

UserPostedImage

Sau khi toàn quân ”giải tán”. Anh Ba và mấy người anh em thân thương, tìm ra phía biển...


Mai về đâu mảnh cơ đồ,
Các Anh gian khổ cam go giữ gìn?

Thơ Ý Nga (Trận tàn, ta vẫn chưa thua)



Ghi lại theo lời tường thuật của “Anh Ba”, Tiểu đoàn trưởng – TĐ 230 Địa phương quân, Đại úy Mai Vi Thành. Ở vào tuổi này, ông chỉ mong lớp con cháu, hậu duệ luôn nhớ đến cha ông, một lần kia đã chiến đấu kiêu hùng để bảo vệ miền nam thân yêu. Mỗi năm, khi tháng tư về, dành đôi phút, cùng nhau tưởng niệm đến những chiến sĩ VNCH đã “vị quốc vong thân”, những đồng bào đã hy sinh vì lý tưởng Tự Do, được vậy là quý lắm.



Tháng tư, mùa quốc hận, 2018.

Trần Kim Bằng



Chú thích:

* Cựu Tổng thống Bush phát biểu trong một cuộc phỏng vấn.


** Như đã nói, các vị được chỉ định về nắm quận trưởng TG. thời gian này đều... rét vì 3,4 vị tiền nhiệm TG. khi về nhậm chức đều bị tử thương hay hy sinh ngay khi còn tại vị. Thiện Giáo với nhiều làng xã xôi đậu nên địch biết mọi chuyện phía ta, chúng có sẵn “đề lô” trong dân và pháo từ bên kia sông cứ rót vào bộ chỉ huy chi khu quận, sau đó rê chạy, các quận trưởng cựu hay mới về TG. tuổi thọ chỉ là may mắn. Quận trưởng quanh năm uống cà phê...dưới hầm. Anh Ba vốn gốc tác chiến nên coi đây là chuyện nhỏ, ông chỉ thị cho 2 trung đội trinh sát và tình báo giả dạng du kích vc., vác AK lẻn qua bên kia sông trà trộn chung với chúng, vài ngày là giải quyết xong vụ nổ pháo chạy. Khi ông về xử lý thường vụ chi khu TG. thế cho Thiếu Tá Nguyễn văn Lợi (bị thương vì pháo địch, về dưỡng thương ở Tổng Y viện Cộng Hòa), chỉ cần vài tuần là bình định, yên ổn.

*** Điểm qua sách báo việt cộng về trận Thiện Giáo, chỉ thấy có 1 bài vinh danh 1 người đại đội trưởng vc. đánh thắng trận nào đó rất chung chung ở khu 6, Phan Thiết, và thậm chí không nhắc đến tên Thiện Giáo trong những bài viết. Một số chi tiết về lực lượng, tên gọi (quân đoàn, khu…) cộng sản được tham khảo và trích từ báo SGGP cũ, nguồn VTV, nhưng hiện nay các nguồn link gốc của họ đã hết xử dụng được.

- Bản họa đồ vị trí đóng quân của ta và các mũi tấn công của địch.

UserPostedImage

- Hình ảnh internet (minh họa): Các chiến sĩ xây dựng nông thôn, và 2 người sĩ quan Địa Phương Quân (dưới).


Link
https://vietbao.com/a279...-thien-giao-thang-4-1975
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
thanks 4 users thanked Ngọc Anh for this useful post.
Ty Xung 17 on 5/6/2018(UTC), NNT on 5/6/2018(UTC), Tí Trễ on 5/6/2018(UTC), Hoàng Thy Mai Thảo on 5/6/2018(UTC)
Ngọc Anh  
#1067 Posted : Monday, May 28, 2018 7:09:17 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 15,022

Thanks: 6223 times
Was thanked: 4911 time(s) in 2329 post(s)

UserPostedImage


Ngày Chiến Sĩ Trận Vong nhớ về chuyện... 18 Ông La Hán của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vào tháng 5 năm 1975!


Trong cuộc chiến tranh giữ nước vừa qua. Anh hùng không chỉ có ngũ đại tướng quân mà còn hàng vạn những chiến binh vô danh đứng rợp trời dọc theo suốt chiều dài của quân lực. Tỷ như cái chết cực kỳ anh dũng của... 18 ông La Hán.

- Thập bát La Hán!
- Phải. Đó là 18 dũng sĩ của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Khi Tướng Dương Văn Minh đọc bản văn đầu hàng thì họ đang múa súng tại rừng Tân Uyên. Khi xe tăng Việt cộng húc đổ cánh cửa Dinh Độc Lập thời họ đang đánh vỡ mặt bọn du kích ở mật khu Biên Hoà.
- Hách thật.
- Sáng ngày 2 tháng 5. Họ rút tới bờ sông Đồng Nai, định bơi qua phía bên kia để chơi một cú chót thì bị bao vây, bị bắt. Trước khí phách ngất trời của những người lính Biệt Cách, trước thần oai lẫm liệt của những ông La Hán thời đại. Kẻ địch vừa sợ toát mồ hôi, vừa phát hoảng dựng tóc gáy. Nên chúng đem xử bắn hết rồi ném xác xuống sông.
- Thảm lắm thay! Thảm lắm thay!
- Đồng bào quanh vùng. Phần vì cảm thương cho số phận những chiến sĩ đã vị quốc vong thân, phần vì ngưỡng mộ phong thái bất khuất của những đại anh hùng nên đã vớt xác anh em và chôn dọc theo bờ sông. Hỡi ơi, khi sống thì đứng trên đầu sóng ngọn gió, khi chết thời chẳng có được một mảnh gổ đề tên. Tựa như những câu thơ:

“Lính Biệt Cách Dù không thích nghĩa trang
Yêu cô đơn nên mến lá thu vàng
Ghét nghi lể nên âm thầm nằm xuống”.

Hoặc:

“Một mai anh chết trong rừng thẳm
Muôn lá vàng rơi niệm xác thân.”

Bao mỗ thở dài:
- Họ thuộc Biệt Đội nào?
Hán tử trợn mắt:
- Mày cũng biết Biệt Cách Dù?
- Bẩm, xưa tại hạ với Liên Đoàn 81 cũng có một chút duyên.
Hán tử nghẹn ngào:
- Họ thuộc về 3 toán Thám Sát. Thứ nhất là Biệt Đội 1 của Trung Uý Trần Bá Long, thứ nhì là Biệt Đội 2 của Trung Uý La Cao, thứ 3 là Biệt Đội 4 của Trung Uý Nguyễn Văn Qúy.
Hán tử chép miệng:
- Đại tá Phan Văn Huấn đương kim gia đình trưởng Biệt Cách Dù đã liên lạc với các chiến hữu ở Việt Nam để bằng đủ mọi cách phải tìm cho ra các nấm mồ của 18 đại dũng sĩ này. Tin giờ chót cho biết rằng đã kiếm được một hố chôn tập thể 8 người, rằng đã truy cứu được tên tuổi, rằng đã thông báo với thân nhân và đang chuẩn bị tìm nơi an táng.
- Cảm động quá! Cảm động quá!
- Than ôi, vật đổi sao dời, thấm thoát mà cũng đã hơn bốn mươi năm. Trong suốt chiều dài của cuộc chiến tranh đã có hàng vạn chiến sĩ ta đã hy sinh cho tổ quốc, trong đó có hàng ngàn tử sĩ mà xác thân còn gửi đâu đó ở hốc núi, xó rừng, ở lau xậy, ở ven suối. Không có được một tấm bia đá, không có được một nén hương thơm. Hỏi sao mà hồn phách được siêu thoát, hỏi sao mà nấm xương khô được nguyên vẹn. Tựa như lời ai điếu: “Anh hùng hữu hận diệp diệp tiêu”, nghĩa là: “Người anh hùng mang nỗi uất hận, trong khi bao lá cây xào xạc rụng xuống”.

Thôi thì, xin được chắp tay cúi đầu trước anh linh của thập bát La Hán.

Bao Bất Đồng

* Xin cám ơn người cựu chiến sĩ Thám Sát của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đã gửi tặng tấm hình nơi 18 dũng sĩ đã bị Việt cộng xử bắn

Rose Rose Rose Rose Rose Rose Rose Rose Rose
Rose Rose Rose Rose Rose Rose Rose Rose Rose


Edited by user Monday, May 28, 2018 7:10:14 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
thanks 1 user thanked Ngọc Anh for this useful post.
Tí Trễ on 5/29/2018(UTC)
NNT  
#1068 Posted : Sunday, November 4, 2018 5:52:35 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,048
Man
Location: USA

Thanks: 2037 times
Was thanked: 4028 time(s) in 2079 post(s)
Hương Áo Mộng - Chu Sa Lan

Tiểu Sử Chu Sa Lan (1945 - )
Sinh năm 1945 tại Bến Tre.
1963 Tốt nghiệp trường Hồ Ngọc Cẩn Gia Định
1965 Gia nhập QLVNCH năm 1965.
1975 Di tản sang Hoa Kỳ.
Hiện đang cư ngụ tại miền Đông với gia đình.
Viết cho nhiều nhật báo và tạp chí ở Cali với nhiều bút hiệu khác từ năm 1980 cho tới năm 1986.


Điện, ông trung sĩ trưởng toán quân lương của đại đội cười cười khi trao lá thư cũ và nhầu nát cho tôi. Cầm lấy phong thư với cọc tiền lương, tôi nói lời cám ơn Điện xong nhét hai thứ đó vào túi áo rồi bước ra ngoài sân. Nắng bên kia con sông hẹp vàng hực. Hàng dừa nước đong đưa trong gió nhẹ. Ngồi xuống gốc cây quen thuộc ngó ra bờ sông, tôi chậm chạp lấy phong thư ra. Nhìn nét chữ như ” rồng bay phượng múa ” của Huyền, tôi mỉm cười. Hình ảnh cô gái Châu Đốc hiện ra lung linh nhạt mờ trong trí nhớ của tôi. Hơn ba năm rồi tôi không gặp mặt cô giáo thi sĩ. Thư từ khi có khi không. Huyền viết thư cho tôi nhiều hơn tôi viết cho nàng. Xé phong thư hơi nhầu nát, tôi lấy ra tờ giấy học trò. Đây là một việc khác thường, bởi vì Huyền thường hay viết thư trên giấy pelure màu xanh. Lá thư ngắn, gọn.
– Anh thương,
Huyền xin lỗi anh vì gấp quá nên chỉ viết vội vài dòng cho anh. Em vừa nhận được thư của anh Thiều nói sẽ về nhà đầu tháng tới tức là ngày 1-4-1971. Ảnh nhờ em nhắn với anh là nếu có thể anh về nhà gặp ảnh. Ảnh mong gặp anh lắm. Anh cũng biết lâu lắm rồi anh chưa trở lại CĐ, cũng như có một người mong được thấy cái ” bản mặt đáng ghét ” của anh… Vậy anh nhớ về nghen…
Gấp phong thư lại tôi ngồi im nghĩ ngợi. Từ ngày đi lính tới nay đã mấy năm tôi không gặp lại Thiều. Huyền, trong một lá thư cách đây khá lâu có nói, không biết vì lý do gì mà Thiều, đang học đại học sư phạm ở Sài Gòn, đã bỏ dở việc học và tình nguyện đi Thủ Đức. Điều khiến cho tôi ngạc nhiên là thằng bạn nhút nhát và hiền lành, sau khi ra trường lại chọn về Biệt Động đóng đâu đó ở cao nguyên. Đây là dịp cho tôi gặp lại Thiều, thằng bạn từ hồi trung học may mắn còn sống sót trong số gần năm chục thằng ở trung học.
Buổi chiều xuống nhanh. Cơm nước xong, trong căn hầm mà cũng là nhà của mình hơn một năm, tôi nằm im mường tượng tới ánh mắt long lanh buồn của Huyền đêm giã từ cách đây ba năm. Hai đứa ngồi với nhau nơi công viên cạnh bờ sông. Đêm thăm thẳm sâu. Gió lành lạnh làm cho Huyền phải rút sát vào tôi như tìm chút hơi ấm. Tôi im lặng nhiều hơn nói. Trái với lệ thường Huyền cũng im lặng ngã đầu vào vai tôi nhìn dòng sông Hậu về đêm. Chút ánh đèn điện lù mù của công viên vừa đủ soi sáng khuôn mặt buồn nhiều hơn vui của nàng. Ba năm không ngắn nhưng chắc cũng không dài để tôi có thể quên người con gái đặc biệt này.
Một tháng trôi qua bình thường cho tới ngày cuối của tháng 3. Từ Long An tôi đón xe đi Châu Đốc. Đường không xa nhưng phải mất cả ngày vì phải qua bắc Mỹ Thuận và bắc Vàm Cống xong còn phải đón xe từ Long Xuyên về Châu Đốc nữa. Dù đường xá xa xôi cách trở tôi cũng phải đi vì muốn gặp lại thằng bạn thân. Tự trong thâm tâm tôi biết, Huyền mới chính là người mà tôi muốn gặp nhất. Tôi muốn biết ba năm qua nàng có thay đổi gì không, nhất là tình cảm đối với tôi. Dù không muốn bị ràng buộc nhưng nếu biết Huyền vẫn còn yêu thương thì điều đó làm cho tôi sung sướng và hãnh diện. Tôi ích kỷ, nhỏ nhoi, hèn mọn ở chỗ đó. Giống như đứa con nít, có món đồ chơi, dù không thích chẳng thà bỏ xó chứ không chịu để cho nó lọt sang tay người khác. Tôi không muốn nàng yêu ai ngoại trừ tôi. Cho dù sau này nàng có lấy chồng thì hình bóng của tôi vẫn ở trong tim nàng. Cũng như tôi, nếu có lập gia đình với bất cứ ai thì hình ảnh của Huyền vẫn được tôi gìn giữ trong ngăn ký ức của mình. Tôi là người sống để hoài niệm quá khứ và hoài niệm quá khứ để mà sống. Đó cũng chính là sự mâu thuẫn trong tôi. Bởi vậy kỹ niệm thật khó mà phai mờ đối với tôi. Ngồi trong lòng chiếc xe đò cũ kỹ, dơ dáy và ồn ào; tôi để ý nghĩ mặc tình rong chơi cho tới khi xe dừng ở bắc Mỹ Thuận. Theo dòng người xuống phà ra tới giữa sông, nhìn mênh mông nước chảy, tôi nhớ mấy câu thơ của Huy Cận: ” sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp… con thuyền xuôi mái nước song song… người về nước lại sầu trăm ngã...”. Nước đẩy tôi về vùng Thất Sơn trong lần gặp nhau ba năm trước, Huyền đứng cạnh gốc cây thốt nốt. Tà áo dài của nàng lộng gió bay về núi Cấm. Nụ cười hạnh phúc. Tôi hỏi ” … thường ngày Huyền có cười như đi với anh không? ”. Nàng trả lời một câu nghe thật bùi ngùi: ” Chỉ cười khi có anh. Lòng em chỉ ấm khi có anh bên cạnh…”. Tôi ước gì chinh chiến chấm dứt để tôi có thể cởi bỏ quân phục, trở về bên nàng sống một đời bình yên và hạnh phúc. Nhưng súng vẫn nổ, người vẫn chết và tôi, mỗi khi bóng tối ụp xuống, lủi thủi trong căn hầm ẩm mốc, sống cô đơn và buồn bã kéo dài đời lính đóng đồn. Xe dừng nơi Bắc Vàm Cống. Sông Hậu miên man trầm lắng, nước đục phù sa và lang thang lục bình trôi. Ta bên này sông Tiền… Em bên kia sông Hậu… Chờ nhau bao lâu nữa… Hai chữ bên này và bên kia cứ lẩn quẩn trong trí tôi cho tới khi chiếc bắc cập cầu. Lại một lần đổi xe. Người cũng như xe đến rồi đi, thay nơi ở, đổi chỗ về. Từ khi sinh ra tới bây giờ, tôi đã bao lần dời nhà, thay chỗ ở. Nhiều lắm không nhớ hết. Những địa danh mà tôi đã đi qua trong đời lính. Cà Mau với Đầm Dơi, Năm Căn, Sông Ông Đốc, Thới Bình, U Minh Hạ, Trèm Trẹm, Cạnh Đền. Bạc Liêu. Sóc Trăng. Chương Thiện. Rạch Giá với Tắc Cậu, Xẻo Rô, Miệt Thứ, U Minh Thượng, Rạch Sỏi. Ngồi trên chiếc xe đò chạy đường Long Xuyên- Châu Đốc, tôi miên man suy nghĩ. Một thằng bạn thân bảo tôi có tật hay suy nghĩ, vì thế mà tôi không thể thành một người lính tốt được. Tuy nhiên lằn ranh của cái tốt và cái xấu mơ hồ, lộn xộn và khó mà đoán định được. Tôi nào muốn trở thành một người lính tốt, một chiến sĩ xuất sắc. Tôi chỉ muốn làm tròn bổn phận của kẻ cầm súng bảo vệ cái gì mình tin tưởng hay nói theo cách mà người ta hay điểm tô cho đẹp là trả nợ núi sông. Xe qua Cái Dầu. Tôi biết còn cách tỉnh lỵ Châu Đốc không xa. Tự dưng tôi hồi hộp và điều đó khiến cho tôi buồn cười. Mấy năm quen nhau, tôi biết Huyền là cô gái dịu dàng và hiền thục. Cho dù bây giờ có thành cô giáo, nàng cũng vẫn là cô giáo-thi sĩ lãng mạn, đa sầu đa cảm và mơ mộng như lúc còn đi học. Nàng đâu có dữ dằn, hăm he tôi này nọ để làm tôi phải lo âu, hồi hộp khi diện kiến nàng. Trong nhiều thư gởi, nàng có nói dù yêu thương tôi tha thiết và mong ước được làm vợ nhưng nàng không muốn ” ép duyên ” mà để tôi hoàn toàn tự do quyết định muốn lấy ai cũng được. Dĩ nhiên nàng cũng nhắc khéo ” lấy em tốt hơn ” vì em yêu anh, hiểu anh, anh em mình tính tình và sở thích hợp với nhau hơn, anh viết văn em làm thơ… Nàng không nghĩ tới chuyện hai người được bạn bè thương mến gọi đùa là ” sĩ ? ” sống chung với nhau hoài đâm ra hết ” sĩ ” mà ” sỉ ” vả nhau nhiều hơn. Đối với tôi, yêu là một chuyện mà lập gia đình lại là chuyện khác. Yêu thương là hành động lãng mạn của tình cảm, trong khi lấy vợ là một hành động thực tế kể cả lấy người mà mình yêu thương. Tôi là lính, nguy hiểm có thể không nhiều như những người lính khác song không có nghĩa tôi không bị chết một cách bất ngờ. Đối với lính, trừ các ông ở Sài Gòn hay lính văn phòng không ít thì nhiều cũng sẽ phải đối diện với kẻ địch. Mà súng đạn thì vô tình lắm. Là cô giáo, Huyền nên lấy chồng cùng nghề có vẻ phù hợp hơn. Chỉ có điều không phù hợp là, nàng bảo không yêu ai ngoại trừ tôi. Đó là một trở ngại. Hiền hậu và nhu mì song Huyền cũng rất bướng, cứng đầu và cương quyết khi bảo vệ điều mà nàng tin tưởng.
Xe dừng tại bến xe. Không biết Thiều có mặt ở nhà chưa nên tôi tạt vào cái quán bên đường, nhìn xế về phía cổng trường Thủ Khoa Nghĩa để chờ tới lúc tan học. Không lâu lắm, bóng cô gái mà tôi phải vượt gần 200 cây số để gặp thấp thoáng trong đám học trò chỉ còn lác đác ở sân trường. Thủ Khoa Nghĩa là một ngôi trường đẹp trong số những ngôi trường của miền lục tỉnh như Thoại Ngọc Hầu Long Xuyên, Đoàn Thị Điểm Cần Thơ, Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho và Phan Thanh Giản Bến Tre. Nó có đẹp hơn những ngôi trường khác không thì tôi không biết, nhưng tôi thích nét ấm cúng, thơ mộng, yên ả và thanh tịnh của trường này. Không nhỏ quá mà cũng không lớn quá để cảm thấy chật chội hay lạc lõng. Trường Hồ Ngọc Cẩn của tôi ở Gia Định lớn hơn song cảnh trí lại không đẹp. Sau này vì đông học trò nên phải xây thêm lớp bằng cách lấn sân trường khiến cho sân chơi mất hết cây cối và chật hẹp. Vào trong đó rồi tôi có cảm tưởng như ở trong một cái hộp có nhiều ngăn.
Phải thành thật mà nói, nhìn thấy ánh thu ba long lanh nước mắt của Huyền khi gặp lại, tôi có thể làm bất cứ điều gì mà nàng yêu cầu ngay cả rời quân ngũ để về sống cạnh nàng. May là nàng không năn nỉ tôi chạy chọt để được đổi về Châu Đốc làm một anh lính văn phòng sáng đi chiều về đúng giờ giấc.
– Anh…
Huyền mừng vui tới độ nghẹn ngào chỉ kêu được một tiếng. Phần tôi cũng chỉ cười hỏi nhỏ.
– Huyền khỏe?
– Dạ cũng khoe khỏe…
Tôi bật cười vì cái giọng hờn mát và ngôn từ của Huyền. Nàng vẫn không thay đổi cung cách nói chuyện với tôi.
– Có nghĩa là không được khỏe hay chỉ khỏe khi thấy anh…?
– Cả hai… Anh về rồi chừng nào anh đi?
Tôi thở dài thầm lặng. Vừa mới thấy mặt nhau mà đã nghĩ tới chuyện lìa xa nhau rồi. Có lẽ cảm nhận được tiếng thở dài của tôi, Huyền lên tiếng bằng giọng nói cố làm ra bình thường song vì vậy mà lại trở nên không bình thường.
– Huyền chỉ hỏi vậy thôi… Anh muốn đi lúc nào cứ tự nhiên…
Tôi nheo mắt nhìn cô gái đang đứng trước mặt mình. Vài đứa học trò đi ngang cúi đầu chào Huyền rồi vừa đi vừa cười vừa rù rì. Chắc chúng nó ngạc nhiên khi thấy cô giáo đứng nói chuyện với một ông lính lạ mặt mà chúng nó đoán là bồ của cô giáo.
– Có nghĩa là Huyền không năn nỉ anh ở lại…
– Hông… hông năn nỉ mà cũng hông níu kéo…
Cười vì cái giọng dấm dẳn của nàng, tôi đùa.
– … Nhưng có đe dọa và trói buộc…
Huyền ngước nhìn tôi cười. Tôi nhận ra nụ cười thật tươi tắn mà ánh mắt nâu đen lại buồn bã và óng ánh như có chút nước mắt, biểu lộ chút gì mâu thuẫn và tương phản trong lòng nàng.
– Thiều có nhà chưa?
– Dạ có… Ảnh về từ hôm qua…
– Vậy thì mình đi về… Đi xe lôi hả em?
– Dạ…
Tôi ngoắc chiếc xe lôi đang đậu bên kia đường. Hai đứa leo lên. Thay vì ngồi cạnh, tôi lại ngồi đối diện cốt ý ngắm nghía cô giáo để xem có gì thay đổi. Biết tôi đang chiếu tướng nên Huyền có vẻ ngượng ngùng và bối rối.
– Có gì thay đổi đối với Huyền…
Huyền ngước lên với tia nhìn dò hỏi. Tôi cười tiếp.
– Về tình cảm…
Gió từ dòng sông Hậu kéo về bay bay những sợi tóc đen dài của Huyền. Tôi nghe mùi hương thoảng đưa mà tôi thường hay gọi đùa ” hương sông Hậu ” khi hôn lên tóc của nàng.
– Chẳng có gì thay đổi… chỉ có chờ… trông… ngóng… đợi… mong…
– Chờ ai vậy?
Tôi vừa cười vừa hỏi. Huyền háy tôi một cái thật dài.
– Em mà là con trai em đạp cho anh một đạp văng xuống đường liền…
Nói xong Huyền ngước nhìn tôi rồi bật cười hắc hắc. Tôi cũng cười.
– Con gái cũng đạp được mà…
– Em yếu đuối hổng nở đạp anh văng ra khỏi đời em…
– Chắc tại anh nặng tình với em nên em hổng nở đạp…
Cô giáo lườm tôi một cái và thân hình hơi ngã nghiêng vì chiếc xe quẹo vào con đường nhỏ dẫn về nhà.
– Anh mà nặng tình…? Tình của anh nhẹ hều… Anh là người tình tệ nhất thế gian này…
Ngừng lại giây lát Huyền thở dài nhè nhẹ nói tiếp. Giọng của nàng buồn như than thở.
– Nếu anh là người tình tệ nhất thế gian thì em là cô gái ngu nhất thế gian…
Thấy Huyền có vẻ buồn buồn, tôi bèn lảng sang chuyện khác.
– Thiều ra sao?
– Đen và ốm nhách… xí trai lắm… kể cả anh luôn…
Nói xong Huyền bật cười thánh thót. Tôi cũng cười thừa nhận điều đó. Lần gặp nhau này tôi nhận thấy Huyền ít lộ ra vẻ buồn bã hơn nhưng điều đó không có nghĩa nàng vui hơn. Dường như nàng đã già dặn, đã trưởng thành hơn trong suy tư nên từ đó biết cách giấu kín nỗi buồn của mình không để lộ ra ngoài cho người khác thấy được. Huyền là cô gái đa cảm, lãng mạn, mơ mộng, thích thi ca, sống thuần nội tâm, thiên về tình cảm hơn vật chất vì vậy khó mà hoà đồng với mọi người cùng lứa tuổi hay cùng nghề nghiệp. Lần đầu gặp nhau ở Sài Gòn, tôi với Huyền đã nói chuyện văn chương, thi ca rất nhiều. Tính lãng mạn và mê văn nghệ đã kéo hai đứa gần nhau và cuối cùng ràng buộc hai đứa lại với nhau.
– Anh vẫn còn viết?
Huyền hỏi.
– Chút chút…
Tôi trả lời hai tiếng rồi hỏi lại.
– Em vẫn làm thơ?
Huyền gật đầu. Nàng lây cách nói chuyện của tôi nên thỉnh thoảng bị ba má rầy là con nhỏ này dị hợm hỏi không trả lời mà chỉ gật đầu.
– Anh có đọc thơ em trên Tiểu Thuyết Tuần San…
Tôi ngừng lại giây lát như muốn người đối diện phải chú ý tới lời sắp nói của mình.
– Dường như có sự chuyển hướng trong thơ của em…
Trả lời câu hỏi của tôi bằng cái gật đầu nhìn nhận rồi lát sau Huyền mới thong thả nói tiếp.
– Em lớn rồi… Hết cái thời than mây khóc gió, khóc tình yêu của tuổi học trò rồi… Em muốn, bằng thi ca, tham dự vào cuộc chiến tranh này, đau cái đau của dân tộc, chia xẻ nhọc nhằn và gian khổ với những người bên cạnh mình, với những người lính như anh. Yêu anh và cám ơn sự hi sinh của anh không gì hơn là nhìn thẳng vào cuộc chiến bằng thái độ trung thực của một người đang sống trong chiến tranh. Em không dám nói em là trí thức, nhưng em cũng có chút hiểu biết để nhận thức anh chiến đấu cho ai và cho cái gì…
Tôi nhìn Huyền. Cô gái đang ngồi trước mặt tôi đã lớn với cái nhìn khác lạ và mới mẻ hơn. Xe dừng trước cửa nhà. Nghe tiếng hò lớn của ông anh ruột, Huyền cười đùa.
– Tối nay anh tha hồ ăn với nói… Em thấy anh ba mua bia đợi anh về…
Tôi xuống xe trước. Huyền đỏ mặt cười sung sướng khi thấy tôi làm cử chỉ khác thường là đưa tay ra cho nàng nắm lấy để rồi âu yếm dìu nàng xuống xe.
– Sao bữa nay anh nịnh em dữ vậy?
Trả tiền xe xong tôi thì thầm vào tai nàng.
– Sáng thứ hai anh mới đi… Anh dành cho em một ngày trọn… 24 giờ phép của anh…
Nét mặt của cô giáo rạng rỡ lên. Giọng nói âu yếm và trữ nặng tình của nàng rót vào tai tôi.
– Chủ nhật nghen… Em muốn anh làm mọi em nguyên ngày chủ nhật…
Tôi gật đầu. Cười hắc hắc Huyền ủn vào lưng đẩy tôi đi trước. Thiều bước ra với bộ quân phục rằn ri. Tôi với nó xiết tay nhau thật chặt. Không có lời chào, thăm hỏi gì hết. Nói cũng thừa thời nói làm chi cho mệt. Tôi chào ba má Huyền. Ông bà rất vui mừng vì sự có mặt của tôi trong nhà. Cả hai đã biết mối giao tình giữa tôi với Thiều và Huyền thành ra đối đãi với tôi như con cái. Bữa cơm chiều thật vui vẻ, ấm cúng và thân mật. Tối hôm đó, tôi với Thiều thức tới hơn 1 giờ sáng, uống bia ít mà đối thoại cũng không nhiều lắm. Dường như sự im lặng nói nhiều hơn hoặc giả hai đứa đồng cảm với nhau rồi thì cần gì ngôn từ nữa.
– Chuyện của mày với Huyền ra sao?
Thiều lên tiếng. Có lẽ đó là điều mà nó cần biết và cần nói với tôi nhất.
– Huyền nói với mày cái gì?
Thiều lắc đầu. Thấy nó có vẻ ngập ngừng như khó nói, tôi hỏi.
– Mày nghĩ tao nên lập gia đình với Huyền?
Thiều làm thinh. Thật lâu nó mới cựa mình, với tay đốt thuốc, hít hơi dài, hớp ngụm bia rồi cất giọng rời rạc, không thành câu và thiếu ý nghĩa song nếu gom góp lại tôi hiểu được.
– Mày lãng mạn… nó mơ mộng… mày đa tình… nó đa cảm… lấy nhau khổ nhiều hơn… thì thôi nên xa nhau… dứt khoát sớm càng tốt… càng lâu càng bi lụy nhiều hơn… Muốn nhớ nhau hoài, mày nên để cho tình đẹp cũng như đừng để cho người mà mình yêu thương vỡ mộng về mình. Tao nói như thế nhưng tùy tụi mày… Nếu mày muốn lột son phấn của tình yêu để thấy cái mặt thực thì cứ lấy nhau…
Tôi bật cười vì câu nói cuối của Thiều. Tôi hiểu nó cũng như tôi. Sống trong sự sợ hãi và lo âu là điều không ai muốn. Rất nhiều đêm, nằm trong hầm núp bóng tối vây quanh, lắng nghe tiếng depart của pháo, tôi hồi hộp tự hỏi trái đạn vô tình đó sẽ đi về đâu, rớt xuống nơi nào, có ngay chỗ mình nằm? Lương lính ba cọc ba đồng, chẳng đủ cho mình hút thuốc, ăn nhậu và xài vặt lấy gì nuôi vợ với ba con. Hằng ngày nhìn thấy cảnh mấy bà vợ lính ăn mặc luộm thuộm, sống trong những ngôi nhà tồi tàn, còn con lính thì gầy gò đói ăn đói uống, chẳng được học hành gì hết, tôi không muốn vợ con phải sống cảnh đời nheo nhóc và tăm tối. Điều đó làm cho tôi đắn đo khi có ý định lập gia đình với Huyền hay bất cứ cô gái nào khác…
Nước sông Hậu chảy miên man. Sóng vỗ bờ. Đêm chủ nhật thật yên tịnh. Công viên vắng lặng. Gió man mát thổi bay tà áo dài đen của Huyền. Bên cạnh nàng, tôi đứng im nhìn mặt sông thăm thẳm. Hai đứa chỉ còn có đêm nay thôi. Ngày mai tôi sẽ đi và không biết bao giờ trở lại. Hiểu điều đó nên Huyền cam chịu, không than van và hờn giận gì hết. Tôi đi làm tròn bổn phận của người lính để cho nàng được sống tự do, dù là tự do sống với nỗi buồn của nàng.
– Em thương anh…
Quen biết và vương vấn tình cảm từ hồi còn đi học, lần đầu tiên Huyền mới tỏ bằng lời. Nhìn vào ánh mắt long lanh buồn có những sợi lông mi dài cong cong, tôi mỉm cười.
– Anh biết… cũng như anh biết anh thương em… Nói ra thì có vẻ tiểu thuyết và cải lương nhưng đó chính là sự thực. Cũng tại anh thương em mà anh không muốn em trở thành vợ anh…
Huyền nhìn tôi dò hỏi. Tôi kể cho nàng nghe về cảnh đời tối tăm của người lính, về sự đợi chờ cái chết của tôi hằng đêm, về những suy tư vụn vặt của tôi khi nằm co ro trong căn hầm ẩm thấp nghĩ về những người thân yêu của mình.
– Anh không muốn em trở thành góa phụ cũng như những đứa con của anh lớn lên không có cha. Anh sợ… Em đã biết là anh sống xa cha của anh từ nhỏ…
Huyền nhẹ gật đầu như vẫn còn nhớ những gì tôi kể cho nàng nghe về chuyện gia đình của tôi. Im lìm nhìn xuống mặt nước sáng mờ mờ nhờ ánh đèn điện vàng của công viên, nàng chợt nắm lấy tay tôi rồi xiết chặt lại.
– Em sẽ chờ anh…
– Bao lâu?
– Bao lâu em cũng chờ…
– Em không sợ già…
Huyền lắc đầu rồi mới cười nói một câu.
– Em già mà tình em không già…
Nói xong nàng xoay người đi trước. Đứng nhìn theo tà áo dài đen bay trong gió tôi có cảm tưởng như là cái vẫy tay chào từ biệt. Sáng thứ hai, tôi rời Châu Đốc thật sớm. Thiều vẫn còn ngủ hay cố ý để em gái tiễn tôi ra bến xe. Gió ban mai từ sông Hậu thổi về bay bay tà áo dài màu đen của Huyền. Ngồi trong xe, nhìn nàng đứng im lặng, buồn bã và cô đơn, tôi biết còn lâu hoặc sẽ không bao giờ gặp lại nàng nữa. Dù xa cách và chia lìa, hình ảnh của nàng với tà áo dài màu đen đã theo tôi suốt cuộc đời.

chu sa lan
thanks 1 user thanked NNT for this useful post.
Ngọc Anh on 11/5/2018(UTC)
NNT  
#1069 Posted : Sunday, November 25, 2018 2:29:30 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,048
Man
Location: USA

Thanks: 2037 times
Was thanked: 4028 time(s) in 2079 post(s)


Một mặt trận hai kẻ thù
Giặc cộng bán nước, tàu phù xâm lăng.

TÔI CÒN NỢ ANH
Ngô Quốc Sĩ

Ân đền nợ trả là luật đời bất thành văn “ân oán giang hồ”. Nợ tình với em, nợ hiếu với cha mẹ, nợ trung với tổ quốc, nợ tang bồng với chí trai, và nợ nhân nghĩa với trần hoàn. Nợ phải trả, nhưng mấy ai được may mắn như Nguyễn Công Trứ “nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo!” Thường tình, người ta vẫn băn khoăn tự hỏi làm sao trả dứt được nợ nước, nợ người và nợ đời ? Bao trường hợp “nửa đường đứt gánh” rồi ôm hận xuống tuyền đài như chàng trai mũ đỏ tên Đương, như ngũ tướng Nam- Hưng-Hai-Phú- Vỹ..

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, bao chiến sĩ cộng hòa đã phải buông súng khi tinh thần chiến đấu còn ngút ngàn. Rồi từ đó, bao tinh hoa đã nhắm mắt trong tức tưởi, người bỏ xác trong ngục tù, người bỏ nuớc ra đi trong tủi hận hay ở lại sống dở chết dở! Hoàng Nhật Thơ qua bài thơ “Người Lính Việt Nam cộng Hòa..Tôi nợ anh” đã trải hết tâm tình biết ơn đối với các chiến sĩ đã xông pha lửa đạn, đã ra đi như “đại bàng gãy cánh” khi mộng lớn chưa thành. Tác giả đã vẽ lại cuộc chiến kéo dài 20 năm với bao tang tóc, đồng thời thể hiện niềm tâm cảm nặng nợ đối với những người đã nắm xuống cho quê hương dân tộc.

Vào thơ, tác giả đã ca tụng ý thức sứ mệnh của người trai Việt đã “xếp bút nghiên theo việc đao cung” đáp lại tiếng gọi sông núi. Giặc đến nhà đàn bà phải đánh, thì tuổi trẻ Việt Nam, rường cột của nước nhà đâu có quyền ngồi yên?

Anh lớn lên ... quê hương dày lửa khói,
Sách vở buồn ... chữ nghĩa dở dang rơi,
Mực chưa vơi ... gác bút ... bước vào đời,
Trường nghiêng nắng ... Ve ngân lời từ giã !

Thế là đời trai đã thay đổi. Chàng thư sinh nho nhã ngày nào, nay thành người lính mới nơi quân trường nắng cháy thịt da, lời sông núi ca vang thay cho sách vở, chữ nghĩa phấn trắng bảng đen:

Nắng quân trường ... tháng ngày dài huấn nhục,
Đêm di hành lạnh buốt dưới mưa rơi,
Da sạm đen ... màu nắng đổi cuộc đời,
Người lính mới ... ca vang lời sông núi.

Rời quân trường bước ra chiến trường, người chiến sĩ đã đối diện với bao thử thách, với gió sương và đạn thù hiểm nguy như chinh phu ngày nào “tên roi đầu ngựa giáo lan mặt thành”

Hai mươi năm ... Anh chưa tròn giấc ngủ,
Vì đạn thù vẫn cày nát quê hương,
Bước quân hành ... ngọn cỏ đọng giọt sương,
Anh dừng gót ... hậu phương ... hoàng hôn phủ.

Điều đáng nói là đối diện hiểm nguy, người chiến sĩ không hề nao núng. Anh đã ý thức được sứ mệnh người trai thời chiến, khi đất nước đang lâm nguy trước mộng xâm lăng của kẻ thù phương Bắc.

Ý thức rằng, Hà Nội đã nhẫn tâm chia đôi đất nước với Hiệp Định Geneve, chặt đứt thi thể mẹ Việt Nam, lại còn nuôi cuồng vọng xâm chiếm miền Nam, nên trai Việt phải lên đường:

Sông Bến Hải ... lửng lơ buồn im lắng,
Chảy ngăn đôi ... đau xót Mẹ Việt Nam,
Gót giày Saut in dấu nẻo quan san,
Ngăn cuồng vọng lan tràn từ phương Bắc.

Cuồng vọng xâm lăng của phương Bắc đã gieo bao tai họa cho Miền Nam, từ thôn quê đến thị thành, tiêu biểu như Huế và Quảng Trị trong Tết Mậu Thân:

Tết Mậu Thân ... giặc đốt phá điêu tàn,
Chiếc cầu gãy ... Anh bàng hoàng chua xót !..
Ôi Quảng Trị ... Cổ thành nghiêng đổ nát,
Máu của anh ... từng viên gạch đỏ loang

Rồi Charlie, Tống Lê Chân, nhất là An Lộc, bao xương máu đã rưới ướt đất mẹ. Điều đáng nói là nỗi đau chiến tranh không làm nhụt chí người lính cộng hòa, trái lại càng nung nấu lòng căm hờn và nuôi chí chiến đấu, hiên ngang thách đố với bạo quyền như cây thông sừng sững giữa đất trời bão tố:

An Lộc Địa ... chín mươi ngày rung chuyển,
Hằng trăm ngàn đạn pháo ... máu xương rơi,
Anh hiên ngang sừng sững với đất trời,
Anh vẫn sống với cuộc đời đáng sống !

Nhất là làm sao quên được những giây phút hào hùng, người chiến sĩ nghiêng cánh bay lượn, tưởng như Kinh Kha mang kiếm sang Tần, thực hiện sứ mệnh diệt trừ bạo tặc với búa liềm cờ đỏ:

Lững lờ mây ... xé trời nghiêng cánh sắt,
Anh tung hoành ngang dọc giữa không gian,
Giữ quê hương ... diệt lũ cộng bạo tàn,
Giáng những trận kinh hoàng trên đầu giặc.

Cuộc chiến kéo dài. Kiếp chinh nhân gian khổ. Nhưng người chiến sĩ không bao giờ than thở hay ngại ngần chùn bước, mà luôn vững tâm chiến đấu:

Máu tuôn rơi thịt nát không ngại ngần
tổ quốc chưa một lần buông súng..

Nhưng oái oăm thay! Súng không buông mà gãy! Chí trai treo đầu súng đã rơi rụng khi đạn đã lên nòng mà không được bắn. Nhục nhã thay! Lệnh đầu hàng đã giáng cả trời oan khiên xuống đầu dân Việt với gươm kề cổ, dây thòng lọng lủng lẳng trên đầu:

Tháng Tư Đen ... Ngày Ba Mươi ... gãy súng,
Giặc Hồ vào ... máu nhuộm đỏ quê hương,
Đôi dép râu mang chủ nghĩa bạo cường,
Gieo tang tóc ... xây thiên đường bằng máu !

Trong thiên đường máu, hạnh phúc vắng bóng và cuộc sống từng ngày tàn tạ. Đất mẹ thành đất chết. Dân Việt hấp hối, nghẹn ngào giã biệt quê hương:

Người Người còn sống giống như người đã chết,
Khác nhau chăng ... một xác chết biết đi,
Mất quê hương ... Anh còn lại những gì ...
Ngoài kỷ niệm khắc ghi vào quân sử !

Quê hương đã mất, nhưng máu các anh đã thấm ướt đất mẹ. Hữu danh hay vô danh, các anh đã đi vào lịch sử. Máu các anh là máu thánh, và phải được đền trả bằng máu thánh. Máu nở thành hoa như Nguyễn Chí Thiện đã mơ ước: “Máu ươm hoa hoa máu chan hòa, hoa sẽ nở muôn nhà muôn vạn đóa”. Đó là món nợ hoa máu, tác giả và dân Việt còn nợ các anh:

Tôi nợ Anh ... nhịp quân hành rộn rã,
Ánh đuốc thiêng ... khúc hát khải hoàn ca,
Tôi nợ Anh ... nợ nước với thù nhà,
Món nợ đó ... Tôi thề sẽ phải trả ...

Món nợ đó ... Tôi thề sẽ phải trả ...
Trả cho Anh và Tổ Quốc Việt Nam

Ước mong dân Việt nắm chặt tay Hoàng Nhật Thơ cùng trả hết món nợ núi sông...
Users browsing this topic
Guest
54 Pages«<525354
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.