Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

2 Pages12>
Options
View
Go to last post Go to first unread
UyenVy  
#1 Posted : Thursday, June 23, 2011 8:14:46 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA


Ngày xưa, vào đời nhà Trần, vua Trần Nhân Tông sau khi đã truyền ngôi cho con là Trần Anh Tông, lên tu ở núi Yên Tử, mến cảnh núi sông thường hay đi du ngoạn các nơi, vào đến đất Chiêm.
Trong khi ở Chiêm Thành, vua Chế Mân biết du khách khoác áo cà sa là Thượng Hoàng nước Việt, nên lấy tình bang giao mà tiếp đãi nồng hậu.
Không rõ Thượng Hoàng vân du có ý định mở mang bờ cõi cho đất nước về phía nam không, hay vì cảm tình đối với ông vua trẻ tuổi Chiêm Thành mà hứa gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân
Vua Chiêm cử sứ giả Chế Bố Đài cùng đoàn tùy tùng hơn trăm người mang vàng bạc, châu báu, trầm hương, quý vậy sang Đại Việt dâng lễ cầu hôn.
Triều thần nhà Trần không tán thành, chỉ có Văn Túc Đạo Tái chủ trương việc gả.
Vua Chế Mân tiến lễ luôn trong năm năm để xin làm rể nước Nam, rồi dân hai châu Ô, Ly (từ đèo Hải Vân Thừa Thiên đến phía bắc Quảng Trị ngày nay) làm sính lễ cưới côn chúa Huyền Trân về nước.
Huyền Trân làm hoàng hậu nước Chiêm Thành được một năm thì vua Chế Mân mất.
Thế tử Chiêm phái sứ giả sang Đại Việt dâng voi trắng và cáo về việc tang.
Theo tục lệ nước Chiêm, vua mất thì cung phi phải lên hỏa đàn để tuẫn táng.
Vua Trần Anh Tông hay tin vua Chiêm mất, sợ em gái là công chúa Huyền Trân bị hại, bèn sai võ tướng Trần Khắc Chung hướng dẫn phái đoàn sang Chiêm Thành nói thác là điếu tang, và dặn bày mưu kế để đưa công chúa về.
Trần Khắc Chung trước kia đã có tình ý với Huyền Trân, song rồi vì việc lớn, cả hai cùng dẹp bỏ tình riêng, ngày nay lại được vua giao phó nhiệm vụ đi cứu công chúa.
Sang đến nơi, Trần Khắc Chung nói với thế tử Chiêm Thành rằng: "Bản triều sở dĩ kết hiếu với Vương quốc vì vua trước là Hoàn Vương, người ở Tượng Lâm, thành Điển Xung, là đất Việt thường: hai bên cõi đất liền nhau thì nên yên phận, để cùng hưởng hạnh phúc thái bình cho nên gả công chúa cho Quốc vương.
Gả như thế vì thương dân, chứ không phải mượn danh má phấn để giữ trường thành đâu! Nay hai nước đã kết hiếu thì nên tập lấy phong tục tốt.
Quốc vương đây mất, nếu đem công chúa tuẫn táng thì việc tu trai không người chủ trương. Chi bằng theo lệ tục bản quốc, trước hãy ra bãi bể để chiêu hồn ở trên trời, đón linh hồn cùng về rồi mới hỏa đàn sau".
Lúc bấy giờ các cung nữ của Huyền Trân biết rằng công chúa sẽ bị hỏa táng, nhưng không biết làm thế nào, thấy sứ Trần Khắc Chung tới mới hát lên một câu ngụ ý cho sứ Nam biết mà lo liệu cứu côn chúa khỏi bị lên thang hỏa đàn:
Đàn kêu tích tịch tình tang,
Ai đem công chúa lên thang mà ngồi.

Người Chiêm Thành nghe theo lời giải bày của Trần Khắc Chung, để công chúa Huyền Trân xuống thuyền ra giữa bể làm lễ Chiêu Hồn cho Chế Mân.
Trần Khắc Chung đã bố trí sẵn sàng, cỡi một chiếc thuyền nhẹ chực sẵn trên bể, đợi thuyền chở công chúa ra xa, lập tức xông tới cướp công chúa qua thuyền mình, dong buồm ra khơi nhắm thẳng về phương bắc.

Huyền Trân công chúa gặp lại người tình cũ đến cứu mạng về, hoa xưa ong cũ ai ngờ còn có ngày tái ngộ, đôi trai tài gái sắc kéo dài cuộc tình duyên trên mặt biển, hơn một năm mới về đến kinh.
Về sau, các văn nhân thi sĩ cảm hứng về quãng đời lịch sử của công chúa Huyền Trân, đã mượn điệu hát, lời thơ mà làm nên nhiều bài còn truyền tụng đến ngày nay.
Như khúc "Nước non ngàn dặm" theo điệu Nam Bình, mà có kẻ cho rằng chính công chúa đã soạn ra trong lúc đi đường sang Chiêm quốc:

Nước non ngàn dặm ra đi...
Mối tình chi!
Mượn màu son phấn
Đền nợ Ô, Ly.
Xót thay vì,
Đương độ xuân thì.
Số lao đao hay là nợ duyên gì?
Má hồng da tuyết,
Cũng như liều hoa tàn trăng khuyết,
Vàng lộn theo chì.
Khúc ly ca, sao còn mường tượng nghe gì.
Thấy chim nhạn bay đi.
Tình lai láng,
Hướng dương hoa quì.
Dặn một lời Mân Quân:
Như chuyện mà như nguyện
Đặng vài phân,
Vì lợi cho dân,
Tình đem lại mà cân,
Đắng cay muôn phần.

Một nhà thơ khác vịnh Huyền Trân công chúa:

Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười.
Vốn đà không mất lại thêm lời.
Hai châu Ô, Lý vuông nghìn dặm,
Một gái Huyền Trân của mấy mươi?
Lòng đỏ khen ai lo việc nước,
Môi son phải giống mãi trên đời?
Châu đi rồi lại châu về đó,
Ngơ ngẩn trông nhau mấy đứa Hời!

Trong dân gian, người ta than tiếc cho công chúa Huyền Trân:
Tiếc thay cây quế giữa rừng,
Để cho thằng Mọi thằng Mường nó leo.
Tiếc thay hột gạo trắng ngần,
Đã vo nước đục lại vần lửa rơm

DÂN GIAN LÚC TRƯỚC CÒN KÌ THỊ NÀNG VÌ CHUYỆN NÀNG LẤY VUA NGOÀI 70 TUỔI CHO NÊN CÓ CÂU

TIẾC THƯƠNG CÂY QUẾ GIỮA RỪNG
ĐỂ CHO THẰNG MÁNG THẰNG MƯỜNG NÓ LEO

TIẾC THƯƠNG HẠT GẠO TRẮNG NGẦN
ĐÃ VO NƯỚC ĐỤT LẠI VẦN LỬA RƠM

theo líchuvietnam

Edited by user Tuesday, March 13, 2012 8:10:05 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
UyenVy  
#2 Posted : Thursday, June 23, 2011 8:19:03 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
CÔNG CHÚA NGỌC VẠN

Thời bấy giờ quân Xiêm thường hay xâm lấn Cao Miên nên vua Chey Chattha II xin cưới một người con gái của chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên) làm hoàng hậu để được chúa Nguyễn ủng hộ.

Bà hoàng hậu rất xinh đẹp và có nhiều đức tính tốt, được vua Cao Miên cưng quý vô cùng.
Bà đã góp nhiều ý kiến hữu ích vào công việc trị nước của vua Chey Chettha II.
Nhờ ảnh hưởng của hoàng hậu mà vua Cao Miên không phản đối khi bà xin cho nhiều người Việt Nam vào giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình Cao Miên cũng như cho nhiều người Việt Nam lập hãng xưởng và buôn bán gần kinh đô. Hồi đó chúa Nguyễn thường giúp quân Cao Miên chống lại những cuộc xâm lăng của quân Xiêm.
Năm 1623, chúa Nguyễn cử một sứ bộ, đem theo nhiều tặng phẩm, tới Oudong để tỏ tình thân hữu và bảo đảm sự ủng hộ của triều đình Huế.
Phái đoàn yêu cầu cho dân Việt Nam đến lập nghiệp và xin lập một đồn thuế.
Nhờ sự can thiệp của hoàng hậu Somadach, vua Chey Chettha II chấp thuận cho lập đồn thuế tại Prey Kôr để thu thuế những người Việt Nam buôn bán tại Cao Miên.

Chúa Nguyễn khuyến khích người Việt di cư đến để làm ăn. Vì vậy trong một thời gian ngắn người Việt đến định cư rất đông.
Từ năm 1628 (là năm vua Chey Chettha II mất) trở đi, người Việt Nam đến lập nghiệp ở các vùng Gia Định, Bà Rịa, Biên Hòa ngày càng thêm đông.
Người Miên vì không muốn sống chung với người khác văn hóa và mạnh hơn nên hễ người Việt đến sống gần họ thì họ dần kiếm cách lánh đi nơi khác.
Đã có nhiều tác giả đề cập đến hoàng hậu Somadach.
- G. Maspéro viết trong cuốn “L’ Empire Khmer”:
“Vị vua mới lên ngôi là Chey Thettha II cho xây một cung điện tại Oudong, ở đây ông làm lễ thành hôn với một công chúa con vua An Nam.
Bà này rất xinh đẹp, về sau có ảnh hưởng lớn đến vua. Nhờ bà mà một phái đoàn An Nam đã xin và được vua Chey Thettha II cho lập thương điếm ở miền nam Cao Miên, nơi này nay gọi là Sài Gòn.”

“Tháng 3 năm 1618, Prea Chey Chessda được phong vương với tước hiệu Somdach Prea Chey Chessda Thiréach Réaméa Thupphdey Barommonpit. Lúc đó vua An Nam gả một người con gái cho vua Cao Miên.
Công chúa rất đẹp, được nhà vua yêu mến và lập làm hoàng hậu tước hiệu Somdach Prea Preaccac Vodey Prea Voreac Khsattey”.
- Theo ông Henri Russier, tác giả cuốn “Histoire sommaire du Royaume de Cambodge”:
“Chúa Nguyễn lúc bấy giờ rất vui mừng thấy Cao Miên muốn giao hảo bèn gả công chúa cho vua Cao Miên.
Công chúa xinh đẹp và được vua Miên yêu quý vô cùng...

Năm 1623, sứ bộ Việt từ Huế đến Oudong yết kiến vua Cao Miên, dâng ngọc ngà châu báu, xin người Việt được khai khẩn và lập nghiệp tại miền Nam.
Hoàng hậu xin chồng chấp thuận và cua Chey Chetta đã đồng ý...”
- A. Dauphin Meunier viết trong cuốn “Le Cambodge”:

“Năm 1623, Chey Chettha, người đã cưới công chúa Việt Nam, được triều đình Huế giúp đỡ để chống lại quân Xiêm...
Một sứ bộ Việt Nam đã tới bảo đảm với Chey Chetta về sự ủng hộ của triều đình Huế.
Sứ bộ xin phép cho dân Việt Nam tới lập nghiệp Việt Nam tới lập nghiệp ở các tỉnh phía Đông Nam Vương Quốc.
Vua Cao Miên cho phép lập một phòng thu thuế tại Prey Kôr để tài trợ việc định cư”.

- Trong cuốn “Histoire des Pays de L’union Indochinoise” của ông Nguyễn Văn Quế có đoạn:
“Chey Chettha II dời đô từ Lovéa Em đếu Oudong năm 1620 và cưới công chúa Việt Nam được phong làm hoàng hậu và rất được yêu quý nhớ đức hạnh và vẻ đẹp mỹ miều.
Vì đã giúp đỡ cho vua Cao Miên chống lại những cuộc xâm lăng của Xiêm nên chúa Sãi mới xin vua Cao Miên cho phép những người Việt di cư vào Nam được khai khẩn đất đai, trồng trọt, buôn bán và trả thuế ở Sài Gòn, Biên Hòa và Bà Rịa.
Vua Cao Miên chấp thuận đề nghị của nhạc phụ”.

- Ông Phan Khoang, tác giả cuốn “Xứ Đàng Trong”, nơi phần “Chúa Nguyễn gây ảnh hưởng trên đất Chân Lạp” có viết:
- Ông Moura viết trong cuốn “Royaume du Cambodge”:
“Từ thế kỷ XVII đã có nhiều người Việt Nam đến hai xứ Đồng Nai và Mỗi Xuy của Chân Lạp tức Biên Hòa, Bà Rịa ngày nay, để vỡ đất làm ruộng.

Vua Chân Lạp Chey Chetta II muốn tìm một đối lực để chống lại lân bang Xiêm La nguy hiểm kia, đã xin cưới một công nữ con chúa Nguyễn làm hoàng hậu, trông mong sự ủng hộ của triều đình Thuận Hóa và chúa Hy Tông (chúa Sãi) có mưu đồ xa xôi, năm 1620, đã gả cho vua Chân Lạp một công nữ.
Cuộc hôn nhân này có ảnh hưởng lớn lao đến vận mạng Chân Lạp sau này.
Bà hoàng hậu đem nhiều người Việt đến, có người được giữ chức hệ trọng trong triều, bà lại lập một xưởng thợ và nhiều nhà buôn gần kinh đô”.

Đến năm 1623, một sứ bộ của chúa Nguyễn đến Oudong yêu cầu được lập cơ sở ở Prey Kôr tức Sài Gòn ngày nay và được ở đấy một sở thu thuế hàng hóa.
Vua Chey Chetta chấp thuận và triều đình Thuận Hóa khuyến khích người Việt di cư đến đấy làm ăn rồi lấy cớ để giúp chính quyền Miền gìn giữa trật tự, còn phải một tướng lãnh đến đóng ở Prey Kôr nữa.

Khi Chey Chatta mất, vùng đất từ Prey Kôr trở ra bắc đến biên giới Chiêm Thành tức là Sài Gòn, Bà Rịa, Biên Hòa ngày nay, đã có nhiều người Việt đến ở và khai thác đất đai”.
- Giáo sĩ người Ý tên Christopho Borri ở Qui Nhơn đã nhìn thấy viện binh từ đàng Trong đi Cao Miên, ghi lại trong cuốn hồi ký xuất bản năm 1631:
“Chúa Nguyễn luôn luyện tập binh sĩ và gởi quân đội giúp vua Cao Miên, tức chàng rể chồng của con chúa. Chúa viện trợ cho vua Cao Miên thuyền bè, binh lính để chống lại vua Xiêm”.

theo lichsuvietnam-NXB VH

Edited by user Thursday, March 1, 2012 5:09:28 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
UyenVy  
#3 Posted : Thursday, June 23, 2011 8:25:16 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
MỘT SỐ NGƯỜI XIÊM LA ĐÃ KHÔNG NHÌN NHẬN ĐÚNG ĐẮN SỰ THẬT LỊCH SỬ NÊN CỐ TÌNH BÔI NHỌ BÀ, SAU ĐÂY LÀ NHẬN ĐỊNH VÀ PHẢN BÁC

Khoảng năm 1977, khi còn ở trại tù Z30 C Hàm Tân, Thuận Hải, một hôm tôi tình cờ đọc được một mẩu giấy báo gói đồ thăm nuôi của một người bạn tù.
Mẩu giấy rách đầu rách đuôi, không nhận ra là báo gì, chỉ thấy một đoạn hình như là hồi ký của ông hoàng thân Kampuchea Norodom Sihanouk.

Đại lược, ông Sihanouk lên án gay gắt về âm mưu hành động cướp nước của một người đàn bà Việt Nam tên là Ngọc Vãn (không phải Ngọc Vạn như tôi chép trong tập sách này).
Theo ông Sihanouk, bà Ngọc Vãn đã nham hiểm dùng sắc đẹp của mình để khuynh loát người chồng bà là vị vua Chân Lạp (Kampuchea ngày nay)

Chey Chetta 2, buộc ông này phải đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác đối với các chúa Nguyễn.
Sau một thời gian làm hoàng hậu rồi làm thái hậu nước này (bà có hai người con lần lượt thay nhau làm vua Chân Lạp), bà đã giúp các chúa Nguyễn củng cố được gốc rễ cho di dân người Việt sống trên đất Thủy Chân Lạp.

Trong đoạn này Sihanouk cũng có một câu nhấn mạnh đại khái: "Đối với dân tộc Kampuchea ta thì Hồ Chí Minh hay Ngô Đình Diệm cũng chỉ là một.
Không có kẻ nào không muốn nuốt chửng đất nước Kampuchea. Nhưng còn may cho ta, hiện giờ hai kẻ thù đó đang xâu xé lẫn nhau, đây chính là cơ hội tốt nhất để dân tộc ta..."

Đọc xong đoạn văn tôi nhớ cái tên người đàn bà mà ông Sihanouk nói tới, tôi có gặp trong một vài tài liệu bên lề lịch sử Việt Nam, nhưng là Ngọc Vạn chứ không phải Ngọc Vãn. Nhưng đâu có quan trọng gì cái âm tên?

Quan trọng là ở chỗ người đàn bà này là ai mà lại bị Sihanouk kết án, nguyền rủa ghê gớm như thế? Vậy mà sao lịch sử Việt Nam lại nhắc đến bà một cách vắn vỏi, khô khan, chiếu lệ?
Sau khi ra tù, tôi cố tìm hiểu thêm vấn đề này và gặp được khá nhiều tài liệu lịch sử tuy có nói về Ngọc Vạn nhưng hầu hết cũng chỉ nói sơ lược...
Lược nhìn qua lịch sử dân tộc ta, ngay từ thuở lập quốc, đã ở sát cạnh một nước Trung Hoa rộng lớn lúc nào đầy tham vọng bành trướng.

Tổ tiên ta đã chịu bao nhiêu gian khổ, cay đắng mới giành lại và giữ vững được nền độc lập đối với họ. Điều hiển nhiên ta thấy từ xưa đến nay, Trung Hoa cứ mỗi thời mỗi lớn thêm nhờ sức đồng hóa mãnh liệt của Hán tộc.
Các nước nhỏ chung quanh Trung Hoa dần bị Hoa hóa đã đành, mà đến ngày nay, những nước lớn mạnh như Mông Cổ (Nội Mông), Tân Cương, Mãn Châu, Tây Tạng cũng đều lần lượt rơi vào tay Trung Hoa.

Trong khi đó, nước Việt ta khi xưa vốn chỉ bao gồm một khoảnh nhỏ từ miền Bắc vào tới Hà Tĩnh, hơn ba phần tư là núi đồi sỏi đá, chỉ có một số đồng bằng nhỏ hẹp mỗi ngày một già cỗi.
Vậy, cho dù dân ta có anh dũng kiên cường trong đấu tranh chống ngoại xâm, liệu có đủ sức chịu đựng nổi sự xâm lấn trường kỳ của người phương Bắc hay không?

Thấy nước ta quá nhỏ bé, Trung Hoa hiếp đáp đã đành, những nước láng giềng của ta thời đó như Nam Chiếu (Vân Nam), Chiêm Thành, Xiêm La, Bồn Man, Lão Qua (một phần của Lào) cũng tìm cách lấn ép nữa.

Nếu nước ta chỉ biết lo giữ mình không thôi, với hoàn cảnh tứ diện thọ địch như thế liệu còn tồn tại được bao lâu?
May thay, trời lại ban cho nước Nam lắm kẻ anh hùng, ngoài việc chống giặc giữ nước, hễ có cơ hội thuận tiện, tổ tiên ta liền phát huy sức mạnh của mình, Tây chinh, Nam tiến, và cũng có cả lúc dự định Bắc tiến nữa (thời Quang Trung Nguyễn Huệ), trước là diệt bớt mối họa quấy phá biên cương, sau là nới rộng lãnh thổ để giữ thế đứng.

Kể từ thời Lê Đại Hành, nước ta đã tiến đánh Chiêm Thành ổn định phía Nam trước khi dồn sức chống nhà Tống xâm lược. Đời Lý Thánh Tôn, ta lấy Quảng Bình và một phần Quảng Trị. Đời Trần Anh Tôn ta lấy tới Thừa Thiên. Đời Hồ Quí Ly ta chiếm Quảng Nam.
Đời Lê Thánh Tôn ta lại chiếm một phần lãnh thổ Bồn Man, Lão Qua ở phía Tây và nhiều phần đất của Chiêm Thành ở phía nam Quảng Nam.
Đến đời các chúa Nguyễn thì nước Việt ta nuốt hẳn nước Chiêm Thành.
Đó là cách duy nhất tổ tiên ta phải hành động để tăng trưởng sức mạnh của mình, để đấu tranh với các lân bang mà tồn tại.
Tuy rằng nhiều anh hùng có công mở mang bờ cõi đó được ghi vào sử sách để lưu truyền tiếng tốt cho ngàn sau, nhưng liệu các sử gia có tránh khỏi thiếu sót vì những lý do ngoài ý muốn không?
Trong thời kỳ gây dựng xứ Đàng Trong, các chúa Nguyễn đã từng mở rộng lãnh thổ nước ta về Nam, chiếm cả vùng Thủy Chân Lạp của Kampuchea.
Đó là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Đồng Nai, ta quen gọi gộp chung là đồng bằng Nam bộ, tức là vựa lúa to lớn nhất của Việt Nam bây giờ.
Chính đồng bằng Nam bộ này đã làm điều hòa, đã giảm thiểu tình trạng đói kém cho toàn nước ta trong những năm gặp thiên tai hạn hán.
Nếu không có đồng bằng Nam bộ, vào những năm mất mùa, không biết dân ta sẽ khốn đốn tới mức nào?
Chết chóc tới mức nào?
Nhờ ai mà ta có vựa lúa vĩ đại đó? Tất nhiên là công lao của các chúa Nguyễn.
Nhưng giả như cuộc Nam Tiến đó "thiếu" sự đóng góp công sức cả một đời mình của một người đàn bà, người đàn bà duy nhất đương thời có đủ khả năng làm tiên phong mở lối, cũng là người trong dòng họ Nguyễn, liệu các chúa Nguyễn có làm nên chuyện được không?

Tại sao các sử gia triều Nguyễn lại làm ngơ không nhắc đến, hoặc có nhắc đến thì cũng nhắc một cách chiếu lệ, hững hờ đối với người đàn bà đóng góp đầu công trong cuộc Nam Tiến vĩ đại này? Người đó là ai?
Chính là Công Nữ Ngọc Vạn!
Công nữ là từ để gọi con gái của một vị chúa, không nên lầm lẫn với công chúa là con gái của vua.
Sở dĩ sau này có người gọi công chúa Ngọc Vạn đó chỉ là cách gọi theo khi chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, thân phụ của vị công nữ này được nhà Nguyễn tôn phong là Hi Tôn Hiếu Văn hoàng đế.

Công nữ Ngọc Vạn được gả cho vua Chân Lạp là Chey Chetta 2 vào năm 1620 và được sắc phong hoàng hậu Chân Lạp. Khi vua Chey mất, hai người con của bà Chau Ponhea To rồi Chau Ponhea Nou lần lượt lên làm vua, Ngọc Vạn đương nhiên trở thành thái hậu nước Chân Lạp.
Qua quá trình 52 năm đóng vai quốc mẫu Chân Lạp đó, Ngọc Vạn đã làm được nhiều việc cho dân tộc Việt mà thiết tưởng không có ai khác của nước ta làm nổi:
Thứ nhất, xin với vua Chey cho người Việt di cư sang khai hoang sinh sống ở Mỗi Xuy (Bà Rịa) và Nông Nại (Đồng Nai) để rồi từ đó dân Việt tỏa rộng ra trên khắp miền Thủy Chân Lạp.

Thứ hai, xin phép cho di dân nước Việt được võ trang để tự vệ trên vùng đất Thủy Chân Lạp.
Thứ ba, xin phép vua Chey thành lập một sở thuế thương mại đầu tiên ở Prey Kor (Sài Gòn Chợ Lớn) làm đầu cầu chiến lược vững chắc cho chương trình di dân của người Việt vào đất Chân Lạp.
Sau khi hai người con bà đã chết, mặc dù những người khác trong hoàng tộc thay nhau lên làm vua, bà Ngọc Vạn vẫn tiếp tục giữ ngôi vị thái hậu.

Nhờ thế, mỗi khi có chuyện tranh chấp nội bộ trong chính quyền Chân Lạp, bà Ngọc Vạn vẫn "cố vấn" cho những người yếu thế chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn.
Dĩ nhiên là chúa Nguyễn lúc nào cũng sẵn sàng "chiếu cố giúp đỡ"...
Rồi người mang ơn thì phải trả ơn, người ra ơn thì cứ nhận sự đền đáp, đất đai vùng Thủy Chân Lạp cứ lần lượt về tay các chúa Nguyễn.
Làn sóng người Việt di dân ở trên đất Chân Lạp đã đâm rễ mọc chồi sẵn, sự đổi chủ đất đâu có khó khăn gì!
Theo nhiều ý kiến, sở dĩ các sử gia triều Nguyễn tránh nêu rõ những công trạng của Ngọc Vạn là vì theo ý các vua chúa nhà Nguyễn chủ trương "xấu che tốt khoe".
Nhà Nguyễn cho rằng việc dùng một người đàn bà tài sắc để khuynh loát người ta với mưu đồ chiếm đất là một việc làm không được chính đáng.

Bậc chính nhân quân tử không nể, không ưa những hành động như thế (?).
Thật ra tự cổ chí kim, từ đông sang tây, việc dùng đàn bà vào mưu đồ chính trị thời nào, nơi nào mà chẳng có, có gì là lạ đâu? Làm được các việc đó đều phải là những kẻ bản lãnh hơn người, chứ đâu phải ai cũng làm được?

Vì quá trọng quan niệm chính nhân quân tử mà bỏ qua công lao của một người, đặc biệt là một người đàn bà, qua một quá trình hơn năm mươi năm chịu đau khổ, chịu cô đơn, lao tâm khổ trí vì đại cuộc thì thật là không công bằng!
Cũng có người cho rằng các chúa Nguyễn trực tiếp tham dự vào công cuộc Nam Tiến này muốn ôm riêng cho mình những công lao quá hiển hách ấy(?)!

Nhưng nhà Nguyễn lờ đi thì có sử Kampuchea và nhiều nhà nghiên cứu về Đông Nam Á của Tây phương ghi chép việc này.
Ngọc Vạn đã có thời sống với chồng, đã có thời sống với con mà lúc nào bà cũng hành động trái nghịch và đơn độc. Sau đó bà lại tiếp tục làm thái hậu qua nhiều đời vua Chân Lạp khác chẳng có dính dáng tí máu huyết nào với bà trải một thời gian dài đằng đẵng.
Nhìn quá trình ấy, ta hãy tưởng tượng, trên đời còn có nỗi cô đơn nào to lớn bằng nỗi cô đơn của người đàn bà này? Công lao mở nước to lớn đến thế, chịu nỗi cô đơn to lớn đến thế, sao người ta lại làm ngơ coi bà như một người ngoại cuộc vô công?
Cảm xúc khi nghĩ đến nỗi đau lớn mà người đàn bà tài tình, quả cảm phi thường này chịu đựng, tôi cố gắng gom góp một số tài liệu viết nên thiên tiểu thuyết lịch sử Công Nữ Ngọc Vạn như thắp một nén hương để tưởng niệm công lao của bà dành cho dân tộc Việt Nam chúng ta
2002
Ngô Viết Trọng

Edited by user Friday, June 24, 2011 6:32:10 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
UyenVy  
#4 Posted : Friday, June 24, 2011 6:31:40 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
CÔNG CHÚA NGỌC HÂN

Ngọc Hân công chúa là con gái thứ 21 của vua Lê Hiển Tông (1740-1786).
Mẹ là bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền, người xã Phù Ninh, tổng Hà Dương, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh.
Vua Lê Chiêu Thống gọi công chúa Ngọc Hân là cô ruột. Công chúa thông minh từ bé, diện mạo thanh tú, xinh xắn. Bản tính thùy mị dịu dàng.

Được vua cha yêu quí đặt tên là Chúa Tiên và truyền cho nữ quan Lễ sư vào cung rèn cặp chữ nghĩa cho công chúa cùng dạy đủ môn: cầm, kỳ, thi, họa.
Chưa đầy 10 tuổi, công chúa đã thuộc làu kinh điển, thông thạo âm luật, giỏi thơ văn cả Hán lẫn Nôm, nhưng có sở trường về văn thơ Nôm.
Nữ sĩ công chúa thường cùng bà Lễ sư khi ngâm vịnh xướng họa, lúc đàn sáo véo von, hoặc thù tạc vui quân tướng sĩ.
Càng lớn, công chúa càng xinh đẹp nết na, duyên dáng đức hạnh, được tiếng thơm khắp hoàng cung; mọi người đều quí trọng.
Năm 1786 Bắc Bình vương Nguyễn Huệ đem quân tiến ra Bắc với danh nghĩa "Phù Lê diệt Trịnh", được vua Lê Hiển Tông phong tước "Phù chính dực Vũ uy Quốc Công" và gả công chúa Ngọc Hân mới 16 tuổi cho ông.

Sau hôn lễ con gái chẳng bao lâu, bỗng nhiên nhà vua bị bạo bệnh băng hà.
Đợi xong thất tuần vua cha, công chúa Ngọc Hân theo chồng về Phú Xuân, ở phủ Bắc Bình Vương.

Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu Quang Trung, phong Ngọc Hân là Bắc cung Hoàng hậu, còn gọi Hữu cung Hoàng hậu.
Lấy chồng được sáu năm, công chúa Ngọc Hân sinh hạ hai người con.
Năm 1792, vua Quang Trung đột ngột qua đời.
Sau tang lễ, bà đau buồn âm thầm đặt riêng một lễ ở Hữu cung, đọc bài Văn tế tự soạn để khóc chồng! Thật là một chuỗi lâm li bi thiết, ví như:

"… Một phút mây che vừng Thái Bạch,
Trong sáu cung thoắt đã nhạt hơi hương.
Tơ đứt tấc lòng ly biệt.
Châu sa giọt lệ cương thường…
Và:
"… Liều trâm thoa mong theo chốn chân dung, da tóc trăm thân nào có tiếc.
Ôm cưỡng bảo luống ngập ngừng di thể, sữa măng đôi chút lại thêm thương".

(Trích Văn tế)

Tiếp đó, bà còn sáng tác thêm "Ai tư vãn" bằng văn quốc âm, thể song thất lục bát, dài 164 câu.
Toàn bài tác giả đã vận dụng lời lẽ thật tha thiết mà rất chân thành, rất xúc động từ câu mở đầu:

"Gió hiu hắt, phòng tiêu lạnh lẽo
Trước thềm lan hoa héo ron ron!
Cầu Tiên khói tỏa đỉnh non
Xe rồng thăm thẳm, bóng loan rầu rầu
Thuyền lan chèo quế thuận đường vu qui
Trăm ngàn dặm quản chi non nước
Chữ nghi gia mừng được phải duyên
Sang yêu muôn đội ơn trên

Rỡ ràng vẻ thúy, nối chen tiếng cầm…
(Trích Ai tư vãn)

Khi lo lắng thuốc thang cho chồng (vua Quang Trung):

"Từ nắng hạ, mưa thu trái tiết
Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên
Xiết bao kinh sợ lo phiền
Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu
Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước
Phương pháp nào đổi được cùng chăng?
Thoắt lại mơ tưởng lúc chồng vẫn còn sống:
"… Mơ hồ bằng mộng, bàng hoàng như say
Khi trận gió, hoa bay thấp thoáng
Ngỡ hương trời bảng lảng còn đâu
Vội vàng sửa áo lên chầu
Thương ôi, quạnh quẽ trước lầu nhện giăng
(Trích Ai tư vãn)

Tác giả lại ngậm ngùi trách tạo hóa hẹp hòi… và tha thiết xin thay mạng:

"… Công dường ấy mà nhân dường ấy
Cõi thọ sao hẹp bấy Hóa công?
Rộng cho chuộc được tuổi rồng
Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi.
Rồi còn muốn liều thân:
"… Quyết liều mong ven chữ tòng
Trên rường nào ngại, giữa dòng nào e"
......................................

Nữ sĩ Hoàng hậu Ngọc Hân bị bệnh mất ở Phú Xuân năm Kỷ Tị (1799).

Bà mất sau vua Quang Trung 7 năm, được tôn Miếu hiệu là Như Ý Trang Thận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu.

Lúc đó triều đình cử danh sĩ Phan Huy Ích soạn 5 bài Văn tế bằng Quốc âm để tế Hoàng hậu Ngọc Hân. Đầu tiên là bài cho vua Cảnh Thịnh đứng tế, trong có đoạn:

"… Giọt ngân phái câu nên vẻ quí, duyên hảo cầu thêm giúp mối tu tề; Khúc thư châu thổi sánh tiếng hòa, khuôn nội tắc đã gây nền nhân nhượng".
"Hồ đỉnh ngậm ngùi cung nọ, những rắp chìm châu nát ngọc vốn từng nguyền; Cung khôn bận bịu gối nao, ép vì vun quén quế lan nên hãy gượng.
"Nẻo thuở doành Hoàng phô vẻ, trau vàng chuốt ngọc vẹn mười phân; Trải phen bến Vỵ đưa duyên, phím sắc xoang cầm vây một thể.
"Dầu gót ngọc vui miền Tịnh độ, nỡ nào quên hai chồi lan quế còn thơ. Dẫu xiêm nghe mến cảnh Thanh Đô, nỡ nào lãng một bóng tang du hầu xế…".
Còn lại 4 bài văn tế nữa, dành cho các vị:
- Mẹ Hoàng Hậu Ngọc Hân là Phù Ninh từ cung đứng tế.
- Các công chúa con gái vua Quang Trung đứng tế.
- Bà con quê ngoại ở Phù Ninh đứng tế.

Theo Quách Tấn, trong "Dụ am văn tập" của danh sĩ Phan Huy Ích còn chép đầy đủ bài Văn tế Vũ Hoàng Hậu cùng năm mất của bà là 1799.
Thế nhưng lại có một vài nhà viết sử, văn học sử đã nêu hai giả thuyết khác nhau không có cứ liệu chính xác:
- Nào là: "Ngọc Hân công chúa bị Gia Long bắt truyền nạp vào hậu cung! ... và bà có thêm 2 con với vua Gia Long…".

- Nào là khi thành Phú Xuân thất thủ, Hoàng hậu Ngọc Hân cùng 2 con cải trang dắt nhau chạy vào Quảng Nam ẩn náu; ngay sau đó cả 3 mẹ con bị bắt và bị triều nhà Nguyễn gia hình được tự chọn cái chết trong tam ban triều điển! ...".
Xin nói niên lịch bà Hoàng hậu Ngọc Hân mất là năm Kỷ Tỵ (1799).

Cách hai năm sau, Chúa Nguyễn Phúc Ánh mới lấy được thành Phú Xuân, đó là năm Tân Dậu (1801).
Nhà Nguyễn diệt nhà Tây Sơn năm Nhâm Tuất (1802).

Như vậy bà Ngọc Hân không hề lấy vua Gia Long bao giờ, vì bà đã mất trước khi nhà Nguyễn chiếm ngự Phú Xuân.
Phần văn chương trong Ai tư vãn của nữ sĩ Hoàng hậu Ngọc Hân, nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét: "… văn phong vừa điêu luyện vừa bình dị…".

Ta còn thấy rõ từng nét đau đáu tha thiết của một góa phụ trẻ trung vương giả.
Mặt khác còn nổi bật tình nhà, tình nước, sểnh đàn tan nghé! nỗi nước chông chênh!
Và điều rõ nét nhất ta thấy được ở tác giả Ai tư vãn: bà đã chịu ảnh hưởng rất nhiều của Chinh phụ ngâm.
Riêng bài Văn tế của nữ sĩ Hoàng hậu Ngọc Hân lại mang nặng tính chất bác học. Văn vẻ sắc bén vững vàng; chứng tỏ được tài Hán văn của bà.

theo Lịch sử VN -NXB Thuận hóa

Edited by user Thursday, March 1, 2012 5:09:52 PM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
UyenVy  
#5 Posted : Monday, June 27, 2011 8:50:46 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Lê Văn Duyệt - Vị quan thanh liêm, kiến trúc sư khai phá miền Nam

Dưới thời Gia Long- Minh Mệnh, Gia Định là cả một vùng rộng lớn . Năm 1832 sau khi Tả Quân Lê Văn Duyệt(LVD) từ trần, chế độ Tổng Trấn Gia Định mới bị bãi bỏ. Minh Mạng chia trấn này thành sáu tỉnh. (Tên gọi Nam kỳ lục tỉnh có từ lúc đó)

Lê Văn Duyệt sinh năm Giáp Thân (1764) tại Cù Lao Hổ, cạnh vàm Trà Lọt , nay thuộc làng Hòa Khánh, tỉnh Tiền Giang . Nội tổ là Lê Văn Hiếu từ Quảng Ngãi đi vào Nam sinh sống .
Sau khi ông Hiếu qua đời , cha ông là Lê Văn Toại và thân mẫu là Phúc Thị Hào…rời Trà Lọt đến ở tại vùng Rạch Gầm, thuộc làng Long Hưng tỉnh Tiền Giang ngày nay.

Ông sinh ra đã mang tật kín bẫm sinh (ái nam ái nữ) . Thuở nhỏ ít chịu học hành mà chỉ thích bắt chim, đánh cá, nhất là việc nuôi gà , đá gà và tụ tập các trẻ trong làng, chia phe tập trận đánh giặc .( Sau này , ông còn là người rất sành thú xem hát bội và thường tự tay cầm chầu).

Tương truyền ông khỏe mạnh, thông minh, giỏi võ thuật, tuy không học nhiều , nhưng biết nhiều tuồng tích Tàu .Vì thế , ông luôn ước ao trở thành hào kiệt như trong truyện xưa miêu tả ; mới 15 tuổi , LVD đã nói “sinh ở đời loạn, không dựng cờ …trống đại tướng, chép công danh vào sử sách không phải là trượng phu.”

Năm lên 17 tuổi , một cơ may đến với ông là , đêm hôm đó chúa Nguyễn bị quân Nguyễn Lữ (nhà Tây Sơn ) đuổi gấp. Nhờ mưa to gió lớn thuyền của Tây Sơn không đuổi kịp .

Nhưng khi đến Vàm Trà Lọt thì thuyền chở chúa bị sóng lớn làm cho suýt chìm. LVD xuất hiện đúng lúc , cứu Nguyễn Phúc Ánh (NPA) thoát nạn.

Biết là gặp dòng dõi chúa Nguyễn, cụ Lê Văn Toại hết sức cung kính, cho tất cả tạm trú ở đây, nhân đó ông được NPA tuyển dụng làm thái giám . Ít lâu sau LVD được phong làm Cai Cơ trông coi nội binh.

Từ năm 1789 ông bắt đầu đứng vào hàng tướng lãnh của chúa Nguyễn. Năm 1793 , LVD cùng với NPA đi đánh Qui Nhơn, lấy được phủ Diên Khánh và phủ Bình Khương. Tháng 1 năm 1801 ông cùng chúa và các tướng lãnh khác như Nguyễn Văn Trương, Tống PhướcLương, Võ Di Nguy đánh chiếm cửa biển Thị Nại (trận Thị Nại).

Quân Tây Sơn thua to . Tháng 4 NPA đem thủy quân ra Đà Nẵng . Đến tháng 5 vào cửa Tư Dung, Lê Văn Duyệt phá được quân Tây Sơn, bắt được phò mã Nguyễn Văn Trị và đô đốc Phan Văn Sách rồi vào cửa Eo. Vua Cảnh Thịnh mang quân ra giữ cửa Eo nhưng thua phải chạy ra Bắc. Ngày 3 tháng 5, NPA đem binh vào thành Phú Xuân.

Tháng 5 năm 1802 chúa Nguyễn lên ngôi , chọn đế hiệu : Gia Long .Vua phong ông là Khâm Sai Chưởng Tả Quân Dinh Bình Tây Tướng Quân, lệnh cùng với Lê Chất mang quân thâu phục Bắc Hà.

Chỉ trong vòng một thời gian ngắn thì xong việc . Nhiều công lao lớn nên LVD được liệt vào hàng Đệ Nhất Khai Quốc Công Thần, với đặc ân được vào chầu vua không phải lạy( nhập triều bất bái ) và được đặc quyền chém trước tâu sau ( tiền trảm hậu tấu ) nơi biên thùy , nên sau này ông không chịu lạy vua Minh Mạng và đã giết Huỳnh Công Lý, cha một quí phi của vua này , vì tội tham nhũng.

Và ,ông còn là người đã từng khuyên vua Gia Long chọn con của Đông Cung Cảnh để nối ngôi , thay vì hoàng tử Đảm (là vua MM sau này).
Tuy vậy , ông vẫn phò tá vua MM cho đến hết cuộc đời , mặc dù lòng không kính phục ông vua này.Ngược lại , MM cũng không ưa gì ông nhưng vẫn phải dùng đến
.Năm 1823 ông được MM ân thưởng ngọc đái với lời dụ: “Từ xưa hoàng tử, chư công chưa ai được ân tứ ngọc đái này , nay khanh đã nhiều công lao nên đặc biệt ân tứ vậy.”

Tả Quân làm Tổng Trấn thành Gia Định hai thời kỳ: từ 1813 đến 1816. Năm 1813 ông lãnh chức Tổng Trấn thành Gia Định, kiêm trông coi luôn cả Bình Thuận và Hà Tiên. Đến năm 1816 ông được chỉ triệu về kinh để bàn nghị về ngôi Thái Tử.
Lần thứ nhì từ năm 1820 cho đến khi mất. LVD làm tổng trấn ở Gia Định thành . Tả quân lúc bấy giờ rất uy quyền, lòng người ai cũng kính phục, gọi ông là "ông Lớn Thượng".
Đương thời các nước lân cận đều sợ oai phong của LVD , gọi ông là "Cọp Gấm Đồng Nai", một trong ngũ hổ tướng (bốn người còn lại là Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Huỳnh Đức và Trương Tấn Bửu).

Lê Văn Duyệt đã thành lập hai cơ quan từ thiện là "Anh hài" để rèn luyện võ nghệ cho trẻ thích việc kiếm cung và "Giáo dưỡng" để cho những trẻ khác và quả phụ học văn chương , nghề nghiệp.

Thành Phiên An (tức thành Gia Định) do ông cho xây đắp thêm, đến năm 1830 thì xong. Thành được xây bằng đá ong, thành cao , rộng nên khi Lê Văn Khôi, con nuôi của ông , khởi loạn chiếm thành, quân triều đình vây đánh 3 năm mới hạ được.
Tả quân lâm trọng bệnh và mất ngày 30 tháng 7 năm Mậu Thìn (nhằm ngày 15 tháng 8 năm 1832) hưởng thọ 69 tuổi. Miếu mộ của ông được xây cất tại Bình Hòa Xã (Gia Định), nơi người dân Đồng Nai kính cẩn gọi là “Lăng Ông” hay đền thờ Đức Thượng Công, còn các tộc người Hoa tôn xưng đền là “Phò Mã Da Da Miếu.”
UserPostedImage
UyenVy  
#6 Posted : Monday, June 27, 2011 8:54:23 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Tài đức của Tả Quân Lê Văn Duyệt :

Ông là một vị quan rất mực thanh liêm . Dù quyền hành lớn , ông không hề hiếp đáp kẻ dưới, hoặc tìm mọi cách để bỏ túi riêng . Nhiều lúc ông còn bỏ tiền riêng của mình để làm việc hữu ích chung.
Quân lính của ông rất có kỷ luật, không hề phá phách, cướp bóc …
Và khi được triều đình cử đi dẹp loạn ở nơi nào, ông cho điều tra kỹ để biết rõ nguyên nhân tại sao dân nỗi loạn.
Nếu biết chắc do đám quan lại sở tại tham nhũng, bức hiếp làm cho dân chúng quá khổ sở, thì ngài thẳng tay trừng trị bọn tham quan trước rồi mới kêu gọi những kẻ làm loạn trở về đầu thú .
Nhờ chính sách sáng suốt , khoan dung đó nên ông đã vỗ yên ở nhiều nơi nhanh , mà không tốn kém nhiều tiền bạc và nhân mạng.
Dẫn chứng như việc chiêu dụ Mọi Vách Đá vào những năm 1807 và 1808. Trong chiến dịch này ông đã cho xử trảm Chưởng Cơ Lê Quốc Huy, một tên đại tham nhũng. Năm 1819, ông được cử đi kinh lược hai trấn Thanh, Nghệ.
Ở đây ông cũng thẳng tay trừng trị nhiều quan lại tham ô .Đặc biệt là ông cho lập ra ba đội lính “Hồi Lương” (An Thuận, Thanh Thuận, và Bắc Thuận) gồm những thành phần nổi loạn chịu qui phục
Thêm nữa ,việc làm nổi tiếng nhất của ông là xử tử Huỳnh Công Lý, Phó Tổng Trấn Gia Định. Huỳnh Công Lý là cha của một bà thứ phi rất được vua Minh Mạng sủng ái.
Ỷ thế cha vợ vua, viên quan lớn này vơ vét tài sản của dân chúng, hà hiếp kẻ yếu, hối lộ trắng trợn.
Tiếng kêu ca thấu đến tai Lê Văn Duyệt , ông cho điều tra tận gốc ,có đủ bằng chứng ông dâng sớ lên triều đình hài rõ tội trạng của Huỳnh công Lý .
Ngại triều đình vị nể cha vợ của vua , không dám thẳng tay trừng trị .
Lê Văn Duyệt dùng quyền “tiền trảm hậu tấu” được Gia Long ban cho để ra lệnh xử trảm HCL , trước khi có lệnh giải tội phạm về kinh cho vua xét xử !
Ngoài đức thanh liêm , ông còn có cái dũng của bậc trượng phu , không e ngại hay sợ sệt khi thi hành công việc lợi dân lợi nước .
Trường hợp vừa kể là một thí dụ .Thêm chuyện khác : vua Minh Mạng , vì tư thù , vì sợ bị mất ngôi nên xử tội Tống Thị Quyên , vợ của Hoàng Tử Cảnh, một cách oan uổng .

Bấy giờ chỉ có một mình ông dám dâng sớ xin tha tội cho người này( nhưng ông vẫn phải theo lệnh vua dìm nước cho chết người góa phụ này, đây là một bi kịch chốn cung đình). Và Hai lần nhà vua cử người vào Nam giữ chức vụ quan trọng đều bị ông từ chối .

Vì Lê Văn Duyệt biết những người này chỉ là những kẻ tham lam , hại dân hại nước.
Một trong những người đó là Bạch Xuân Nguyên mà sau này sẽ là đầu mối của cuộc nổi loạn do Lê Văn Khôi , con nuôi ông , chủ xướng.
Nhà vua cũng thầm ghét vì Tả quân không cấm đạo quá gắt gao.Lê Văn Duyệt cho rằng việc cấm đạo, bắt bớ giết chốc các nhà truyền giáo và các giáo dân, bế môn tỏa cảng không cho người Tây phương vào giao dịch buôn bán, là một chính sách hết sức sai lầm.

Vậy cho nên , Minh Mạng không ưa những thài độ ương ngạnh đó nhưng vì uy thế , tài đức của ông lớn quá nên nhà vua chưa thể ra tay .
Sau khi ông mất , con nuôi ông là Lê Văn Khôi cùng thuộc hạ trung thành Lê văn Duyệt , giết chết Tổng đốc Nguyễn văn Quế & Bố chánh Bạch Xuân Nguyên , rồi dấy binh chiếm thành Phiên An (Gia Định ) , chống lại triều đình .
Quân nhà Nguyễn rất vất vả suốt 2 năm (1883-1834) mới dẹp được .
Minh Mạng vốn ghen ghét ông từ trước nên nhân cơ hội này ra lệnh triều thần hài tội (7 tội đáng trảm , 2 tội đáng giảo …) .
Và nhà vua ra lệnh san bằng phần mộ ,dựng lên đấy tấm bia ghi :”Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ (đây là nơi tên yêm hoạn LVD chịu phép nước ) . Mãi đến đời Tự Đức mớ phục hồi danh dự cho ông .

-Công lao của Tả Quân đối với dân Đồng Nai - Cửu Long

Công lao của Tả quân đối với người dân vùng Đồng Nai -Cửu Long thật vô cùng to tát. Đó là công khai hoang , lập ấp ; làm cho một vùng rừng rậm ,đầm lầy … trở nên trù phú với một nền an ninh vững chắc (bởi chiến lược bảo vệ và phòng thủ phía Nam và phía Tây rất hữu hiệu của ông ), làm cho dân Miền Nam ít nhiều cũng có được một xã hội khá yên ổn , ấm no … Phan Thanh Giản , cũng là một vị quan có tài đức thời bấy giờ , đã thốt lên lời khen ngợi :

“Gia Định này thật có phúc mới gặp được một Tổng Trấn như đại quan. Tôi ở Kinh Thành, ở Bắc Thành vào Gia Định thấy như đi qua một nước khác.
Ở dọc sông thì trên bến, dưới thuyền, ghe thuyền san sát, lúa gạo nghìn nghịt. Vải vóc, đồ thau, đồ đồng, đồ sứ, đồ gốm, thảo mộc quý, quế, trầm, hồi thật là không thiếu thứ gì. Trên đất liền, nhà cửa phố xá san sát, khang trang. Đường đi lại lát gạch, lát đá sạch sẽ mát mắt….
Cảnh dân theo đạo Thiên Chúa trốn chui, trốn nhủi như ở ngoài Bắc Thành, Kinh Thành, ngoài Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, vào đây không thấy.

Cha truyền giáo vẫn đi lại bình thường trên đường phố. Tôi thật mừng. Mình làm quan thấy dân vui là mình vui. Làm quan chỉ biết vui phần mình thật đáng trách.”
Năm 1822 một phái đoàn Anh do ông Crawfurd dẫn đầu có đến yết kiến Ngài Tổng Trấn.
Trong dịp này Crawfurd thú nhận:
“Đây là lần đầu tiên tôi tới Saigun (Sài Gòn) và Pingeh (Bến Nghé).
Và tôi bất ngờ thấy rằng nó không thua gì kinh đô nước Xiêm. Về nhiều mặt trông nó còn sầm uất hơn, không khí mát mẻ hơn, hàng hóa phong phú hơn, giá cả hợp lý hơn và an ninh ở đây rất tốt, hơn nhiều kinh thành mà chúng tôi đã đi qua.
Tôi có cảm giác như đây là một vương quốc lý tưởng.”
Sau đó ông còn ghi lại trong quyển nhật ký của ông về những sinh hoạt của thành phố Sài Gòn lúc đó và tiếng tăm của Ngài Tổng trấn như sau:
Thành phố Saigun không xa biển, có lẽ cách độ 50 dặm; thành phố Pingeh (Bến Nghé) gần đó cách thành phố Saigun độ 3 dặm.
Dinh Tổng trấn khá đồ sộ và uy nghiêm. Các thành trì nằm ở bờ sông An Thông hà. Nơi đây buôn bán sầm uất. Dân xiêu tán tới đây được Tổng trấn cho nhập hộ tịch, qua một hai đời đã trở thành người Gia Định. Đông nhất nơi đây là dân Trung Hoa.
Các dân tộc nơi đây được nhà nước bảo hộ và họ đều có nghĩa vụ như nhau. Tất cả đều được sống trong bầu không khí an lành.
Trộm cướp không có. Người ăn mày rất hiếm. Tổng trấn rất nhân từ, tha cả bọn giặc, bọn phỉ, bọn trộm cướp ăn năn. Nhưng ông lại rất tàn bạo với bọn cố tình không chịu quy phục triều đình.
Chưa ở đâu kỷ cương phép nước được tôn trọng như ở đây. Một vị quan nhỏ ra đường ghẹo gái cũng bị cách chức lưu đày. Một đứa con vô lễ chửi mẹ Tổng Trấn biết được cũng bị phạt rất nặng.

Ở đây chúng tôi mua được rất nhiều lúa gạo, ngà voi, sừng tê giác, các hàng tơ lụa, đũi thật đẹp. Từ các nơi, dân đi thuyền theo các kênh rạch lên bán cho chúng tôi. Nhìn dân chúng hân hoan vui vẻ, chúng tôi biết dân no đủ. Nhiều người rất kính trọng vị Tổng Trấn của họ.

Con người này ít học. Nhưng lạ lùng thay là có được cái nhìn cởi mở hơn nhiều những đại thần và cả nhà vua học rộng, làu kinh sử của Khổng giáo.
Ngài sống thanh liêm, muốn mở mang đất Gia Định này trù phú hơn mọi quốc gia khác ở trong vùng biển Đông.” …
Trích “Nhật Ký Hành Trình” của John White ,London 1824, tr.236 , nói về lần hội kiến với ông như sau :
Tổng đốc Sài gòn nghe lời người ta nói là một hoạn quan.Trông hình dáng của ông đã chứng minh khá rõ tiếng đồn này .
Ông ấy khoảng 50 tuổi , có cái nhìn thông minh .

Ông có vẻ hoạt động mạnh về thể chất & tinh thần . Gương mặt tròn , nhẳn , không râu .
Riêng giọng nói rất chát tai , giống tiếng đàn bà .Còn y phục của ông ta giản dị giống như y phục của người nghèo …

Ông là một người có số phận khá kỳ lạ .Bản thân vốn là một cậu bé ít học , ham chơi , lêu lổng ; nhờ cơ may, nhờ thời thế mà thi thố bản lĩnh .

Là một người bị hoạn bẩm sinh , nhưng không vì thế mà mặc cảm , ông chỉ biết cống hiến hết tài năng , hết sức mình nên nhanh chóng trở thành đại tướng , mang ấn công hầu , làm “vương” một cõi , vua quan đều phải nể trọng …
Cả khi ông mất rồi , mộ bị san phẳng (và chính ông cũng là đầu dây mối nhợ dẫn đến cuộc binh biến thành Phiên An do Lê văn Khôi chủ xướng khiến biết bao thây phơi , máu đổ )…

Ấy vậy mà , hình ảnh ông luôn là vị thần hoàng hiển linh trong lòng dân tộc Việt lẫn Hoa.Nếu như triều đình Nhà Nguyễn có cái nhìn cởi mở , chính sách cai trị khôn khéo trong cũng như ngoài … như ông ; thì có thể Việt Nam đã sớm trở thành một nước tiến bộ , giàu mạnh từ đầu thế kỷ thứ XX rồi

. Ngẫm lại , ông thật vô cùng xứng đáng làm tấm gương để mọi người soi rồi biết nói ít , làm nhiều ; không vì lợi ích riêng mà quên dân , quên nước …
Tên ông sau này đã được đặt cho một trong những con đường chính của đất Sàigòn và ngôi trường mang tên ông ở Gia định xưa -nay thuộc quận Bình thạnh

theo lichsuVn -nxb Văn học
UserPostedImage
tt  
#7 Posted : Saturday, July 2, 2011 11:18:23 AM(UTC)
tt

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 19,859

Thanks: 142 times
Was thanked: 196 time(s) in 154 post(s)
Bà Bùi Mộng Điệp, một trong những thứ phi của vị hoàng đế cuối cùng của Việt Nam, vua Bảo Đại, vừa mới qua đời hôm 26/6/2011 tại Paris, hưởng thọ 87 tuổi. Bà sẽ được an táng tại nghĩa trang Thiais (Paris, Pháp) ngày 1-7. Dự kiến ngày 1-7, tại chùa Trúc Lâm (Paris) cũng sẽ diễn ra lễ cầu siêu cho bà.
Bà thứ phi quê quán Bắc Ninh, Việt Nam. Tuy không có hôn thú nhưng bà là thứ phi từng được vua Bảo Đại rất sủng ái và có 3 người con với vị vua cuối cùng của Việt Nam. Đó là: Nguyễn Phúc Phương Thảo, sinh năm 1946, Nguyễn Phúc Bảo Hoàng, sinh năm 1954 và Nguyễn Phúc Bảo Sơn, sinh năm 1957.
Chính phi, bà Hoàng hậu Nam Phương có 5 người con với vua Bảo Đại. Bà mất năm 1963, cũng tại Pháp.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, bà Mộng Điệp gặp cựu hoàng Bảo Đại tại Hà Nội năm 1945, khi ông đang làm cố vấn cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lúc đó, bà Mộng Điệp mới 21 tuổi, còn ông vua vừa từ giã ngai vàng ở tuổi 32 và họ đã phải lòng nhau. Cựu hoàng Bảo Đại xem bà là thứ phi phương Bắc.
Bà Mộng Điệp sống ẩn mình trong một căn hộ ở quận 12, TP Paris. Cuối năm 1996, bà về thăm Huế và dự định sẽ tặng tất cả tài liệu liên quan đến nhà Nguyễn và cựu hoàng Bảo Đại mà bà đang giữ. Nhưng “do hoàn cảnh” nên tâm nguyện đó chưa thực hiện được.
Vua Bảo Đại là vị hoàng đế thứ 13 và cuối cùng của triều Nguyễn. Ông thoái vị vào chiều ngày 30/8/1945 - 3 ngày trước khi Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ở quảng trường Ba Đình - với câu nói nổi tiếng: “Ta thà làm dân của một nước độc lập còn hơn làm vua của một nước nô lệ”.
Nhiều thập kỉ sau câu nói nổi tiếng này, đất nước vẫn chưa có độc lập.
Vua Bảo Đại từ trần năm 1997 ở Paris. Người vợ cuối cùng của ông là bà Monique Marie Eugene Baudot.
Hiện có rất ít tư liệu lịch sử về triều Nguyễn được công bố. Chính sử do Đảng cộng sản viết về vương triều cuối cùng này được cho là “không đáng tin cậy”. Thứ phi Mộng Điệp là người nắm giữ nhiều tư liệu liên quan tới vương triều cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

© Đàn Chim Việt
thanks 1 user thanked tt for this useful post.
UyenVy on 7/4/2011(UTC)
UyenVy  
#8 Posted : Monday, July 4, 2011 4:46:25 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
UserPostedImage

Đạm Phương nữ sử (1881-1947) Nữ ký giả đầu tiên của Việt Nam

Nhắc đến Đạm Phương nữ sử, người ta thường biết đến bà với tư cách là nhà hoạt động xã hội xuất sắc, nhà nữ quyền tiêu biểu nhất đầu thế kỷ XX, là người khai ngành nghiên cứu tuồng cổ Việt Nam, là nhà văn nữ đầu tiên viết tiểu thuyết, nhà giáo dục học tân tiến của thời kỳ cận đại, là người có công khai ngành gia đình học, phụ nữ học và giáo dục mầm non Việt Nam...
Nhưng tiếp cận nghiên cứu hoàn cảnh lịch sử cụ thể thời bấy giờ, có thể khẳng định toàn bộ sự nghiệp hoạt động xã hội, văn chương, học thuật của Đạm Phương đều gắn liền với báo chí.
-Một trong những nhà báo nữ đầu tiên
Với tư cách là ký giả - nhà báo, hoạt động trên diễn đàn báo chí là công cụ xuyên suốt đấu tranh cho nữ quyền, là nơi để bà trải nghiệm những ý tưởng nhất quán của mình cũng như đúc rút thành hệ quan điểm để viết sách, truyện và các công trình khảo cứu của bà.
Sự nghiệp báo chí của Đạm Phương nữ sử khởi đầu vào tháng 4 năm 1918 khi bà tiếp kiến ông Phạm Quỳnh, chủ bút Nam Phong tạp chí đến thăm Huế.
Sau chuyến thăm này, ông Phạm Quỳnh có viết bài du kí Mười ngày ở Huế và nhắc đến cuộc tiếp xúc này. Từ đó, những bài thơ Nhớ bạn,
Nhớ cảnh núi được đăng trên Nam Phong tạp chí (số 10, tháng 4/1918) và đến tháng 7/1918 bài báo đầu tiên Tự thuật cảnh Hương Giang buổi chiều của bà đăng trên số 13, tháng 7/1918 của Nam Phong tạp chí, để rồi sau đó trở thành ký giả bán chuyên nghiệp.
Năm 1919, 1920, bà làm trợ bút cho nhật báo Trung Bắc tân văn (xuất bản năm 1915 tại Hà Nội). Bà giữ mục Lời đàn bà trên báo Thực nghiệp dân báo (xuất bản năm 1920).
Năm 1922, Hội Công thương đồng nghiệp Bắc Kỳ vận động thành lập Ích Hội thi xã làm cơ quan xuất bản của Hội.
Hữu Thanh là tạp chí của Hội, xuất bản từ năm 1921 tại Hà Nội, mỗi tháng 2 kỳ và bà làm biên tập viên và giữ mục Văn đàn bà.
Bà cũng cộng tác đắc lực với các tờ Tiếng dân (1927) của cụ Huỳnh Thúc Kháng, tờ Phụ nữ tân văn (1929), Phụ nữ thời đàm (1930) và đến năm 1930 sự nghiệp báo chí của bà khép lại.

Dù thời gian hoạt động báo chí của Đạm Phương nữ sử không nhiều, chỉ hơn một thập niên, trong điều kiện nền báo chí nước ta còn non trẻ cùng với sự hà khắc, áp đặt, khống chế của thực dân Pháp đối với báo quốc ngữ, song với gần 200 bài viết bằng chữ quốc ngữ trên các báo cùng thời với nội dung đề cập nhiều vấn đề thời sự trong bối cảnh đất nước trong giai đoạn chuyển mình, bị xâm lược và áp bức bởi bọn thực dân, đã cho thấy bà là một cây bút đầy bản lĩnh và tự tin, sung sức và có năng suất lao động báo chí rất cao, đáng để chúng ta hôm nay kính nể.

Cùng với Sương Nguyệt Ánh (làm chủ bút tờ Nữ giới chung từ đầu năm 1918), Đạm Phương là một trong những nữ nhà báo đầu tiên của báo chí Việt Nam hiện đại.
Tham luận tại hội thảo, TS Hoàng Diệu Minh cho rằng, “Bà Đạm Phương là nữ tác giả đầu tiên có số lượng tác phẩm lớn nhất gồm nhiều thể loại như thơ, truyện, tiểu thuyết, sách giáo dục, khảo cứu và có đến hơn 200 bài báo...
Nhìn lại con đường làm báo mà bà Đạm Phương đã kinh qua, chúng ta không thể không cảm phục trước cống hiến lớn lao của một nhà báo nữ trong hoàn cảnh gian khổ lúc bấy giờ”.
Dùng báo chí để đấu tranh cho nữ quyền
Bà Đạm Phương nữ sử cùng chồng là ông Nguyễn Khoa Tùng Đạm Phương nữ sử tên thật là Công nữ Đồng Canh. Bà sinh năm 1881 trong một gia đình hoàng tộc, cháu nội của vua Minh Mạng. Thời niên thiếu bà được dưỡng dục, học hành nghiêm túc cả Hán văn, Pháp văn, quốc ngữ và cầm kỳ, thi, họa..
. Năm 20 tuổi, bà được mời vào dạy cho các cung nữ trong cung đình nhà Nguyễn và được triều đình phong chức “nữ sử” nên bà thường ký tên là Đạm Phương nữ sử.
Nội dung trong những bài báo của bà Đạm Phương đề cập nhiều vấn đề thời sự xã hội trong bối cảnh đất nước bị xâm lược và áp bức bởi bọn thực dân. Song nổi bật và mang tính xuyên suốt nhất là vấn đề nữ quyền, bình đẳng giới.

Trên báo Tiếng dân ra ngày 29/1/1929, trong bài “Chị em ta đã biết ham mến thực nghiệm”, bà nhiệt liệt hoan nghênh sự kiện khai trương hiệu Vân Hòa bán bánh trái, đồ thuê, sách báo do bà Trần Thị Như Mân và một số chị em trong Nữ công học hội lập ra.
Bà viết “Ly' tưởng đã có, thì chỉ trong sự thực hành, mà thực hành rồi thì chỉ trong hiệu quả... sao cho nền nữ công thực nghiệp vững vàng cơ sở, ngõ hầu mở mang con đường sinh hoạt cho bọn gái ta có chỗ xuất đầu lộ diện với đời, mà mưu cầu hạnh phúc công cộng vậy”.

Không dừng lại ở lý thuyết, năm 1926, bà cho ra đời trường Nữ công học hội mà bà gọi là: “Cái đoàn thể Hội giới của bạn quần thoa, gây cho bạn quần thoa một cái tinh thần tự lập bằng các nghề nghiệp của mình trong cái phạm vi đạo đức tri thức Đông phương và Tây phương hòa hợp với nhau, sau hết là kết một sợi dây đoàn thể để bênh vực quyền lợi cho nhau”.
Và bà cũng mong muốn mỗi tỉnh sẽ có năm bảy trường công nghệ thuộc về đàn bà con gái học tập, thật đáng khâm phục, ở thời của mình, Đạm Phương đã làm được như vây”.
Phải khẳng định rằng, Đạm Phương nữ sử là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên thông thạo nhiều ngoại ngữ - là bậc nữ lưu tân tiến của thế kỷ 20 đã có nhiều đóng góp xuất sắc cho nền văn học, báo chí, nghệ thuật nước nhà.
Cuối cùng, xin mượn lời TS Hoàng Diệu Minh để thay cho lời kết “Đạm Phương nữ sử là một nhà báo nữ xuất sắc những ngày khởi đầu của báo chí Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Bà đã đặt nền móng cho chị em phụ nữ Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giải phóng và bình đẳng giới.
Xin kính cẩn tri ân và nghiêng mình trước tấm lòng của các bậc tiên liệt”.

theo Văn hoá ngày nay - Nam Úc châu
UserPostedImage
UyenVy  
#9 Posted : Monday, July 4, 2011 8:06:16 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Giai Thoại Kể Về Các Vị Hoàng Hậu Trong Lịch Sử Việt Nam

- Bên cạnh công việc quốc gia đại sự, chốn hậu cung của các vị vua Việt Nam cũng là cả một thế giới của những điều bí ẩn, lạ kỳ.
Người phụ nữ 3 lần từ chối làm vợ vua Lê Đại Hành

Với nhiều người, trở thành vợ vua là một may mắn tột đỉnh, thế nhưng có một người phụ nữ đã 3 lần từ chối vào cung làm vợ vua Lê Đại Hành, đó là bà Phạm Thị Hến, quê ở làng Tó (làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội ngày nay).
-Vua Lê Đại Hành gặp bà vào năm Tân Tị (981) trong lần cùng một cánh quân vận chuyển lương và vũ khí lên phía bắc để chống quân Tống xâm lược. Thấy bà nhanh nhẹn, thông minh, giỏi võ, lại tình nguyện tham gia đánh giặc nên vua giao đảm nhận việc trông coi, vận chuyển lương thực, khí giới cho quân đội.

Không lâu sau, quân Tống đại bại, bà Phạm Thị Hến xin về quê chịu tang cha, hết kỳ hạn 3 năm, Lê Đại Hành cho người rước bà nhập cung nhưng cả 3 lần, bà đều từ chối, cuối cùng vua phải đích thân về làng Tó và chấp thuận 3 điều kiện là: Làm lễ lớn tế cha bà 3 ngày trước khi đón dâu; lễ cưới phải tổ chức ngay tại làng Tó; địa vị của bà phải ngang hàng với 4 bà hoàng hậu của vua.
Cũng vì quá yêu người đẹp, mến tài lẫn sắc nên Lê Đại Hành chấp thuận cả 3 điều kiện. Bà Phạm Thị Hến được phong làm Phạm hoàng hậu, người dân thường gọi bà là bà Chúa Hến.
Thế nhưng, nhiều năm ở bên vua mà bà không sinh được mụn con nào, buồn tủi bà xin về quê sinh sống và mất tại đó khi mới 37 tuổi.
Nơi thờ bà ngày nay vẫn còn, đó là đình làng Hoa Xá. Điều thú vị là ngôi đình được dựng trên chính nền cũ ngôi nhà kết hoa (Hoa Xá), nơi diễn ra đêm tân hôn giữa vị hoàng đế anh hùng và cô thôn nữ làng Tó năm nào; tên làng cũng vì thế còn được gọi là làng Hoa Xá.

Trần Nhân Tông được vợ che chở trước hổ dữ
Hoàng hậu của vua Trần Nhân Tông tên húy là Trinh, con gái lớn của danh tướng Trần Hưng Đạo, khi chưa vào cung, bà có tước vị là Quyên Thanh công chúa. Sau khi trở thành vợ vua, bà được phong làm Bảo Thánh hoàng hậu. Tháng 3 năm Quý Tỵ (1293), con trai bà là Anh Tông lên ngôi đã tiến phong mẹ mình là Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng thái hậu.

Các sách như Đại Việt sử ký toàn thư còn cho biết có lần Trần Nhân Tông đã được bà che chở trước hổ dữ: “Thái hậu nhu mì đức tốt, thông minh sáng suốt, nhân hậu với kẻ dưới. Thượng hoàng thường làm chuồng hổ ở thềm Vọng Lâu rồi sai quân sĩ đánh nhau với hổ.
Có lần Thượng hoàng ngồi xem, thái hậu và phi tần đều theo hầu. Vì thềm lầu thấp, song chuồng và thềm cũng thấp, con hổ bỗng nhảy ra khỏi chuồng leo lên lầu, mọi người đều sợ chạy tan cả, duy chỉ còn có Thái hậu và bốn, năm người thị nữ vẫn ở đấy.
Thái hậu nghĩ bụng không khỏi bị hại, mới lấy chiếu che cho Thượng hoàng và cả mình. Con hổ lên lầu kêu gầm lên rồi vội vàng nhảy xuống, không vồ hại ai cả.
Lại một lần Thượng hoàng ngự điện Thiên An xem đấu voi ở Long Trì, con voi bỗng xông vào định lên trên điện, người hầu hai bên đều chạy tản chỉ còn mình Thái hậu vẫn ở đấy”.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nhà Hậu Lê bàn rằng: “Voi và hổ là bậc hung dữ, ai cũng phải sợ, thế mà lúc voi, hổ hung tợn làm ngang, Hoàng hậu vẫn thản nhiên không sợ. Hoàng hậu thực sự là một anh hùng trong đám nữ lưu vậy” (Đại Việt sử ký tiền biên).

Lê Thánh Tông lấy một cô gái gánh nước làm vợ

Vị Hoàng đế đa tài và cũng rất đa tình Lê Thánh Tông có rất nhiều giai thoại được truyền tụng trong dân gian, trong số đó có cả những chuyện thú vị giữa vua và các giai nhân. Không rõ có bao nhiêu điều trong đó là sự thật, bao nhiêu điều là do thêu dệt mà nên, nhưng theo danh sách những người vợ chính của vua Lê Thánh Tông mà cuốn Đại Việt thông sử ghi chép thì tất cả các bà đều là con gái các quan tướng trong triều, duy nhất có một người xuất thân bình dân và bà trở thành vợ vua cũng rất tình cờ.

Người vợ này của vua Lê Thánh Tông họ Nguyễn (không rõ tên), sách Đại Việt thông sử cho biết về duyên kỳ ngộ giữa hai người như sau: “Bà là người xã Hòa Thược, huyện Kim Trà. Khi vua Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành dừng lại ở xã này, thấy bà gánh nước qua, có nhan sắc, vua đem lòng yêu bèn cho vào cung, được nhà vua quý mến. Lần lần phong đến bậc phi, về sau sinh ra Triệu Vương”.

Theo chính sử thì năm Kỷ Sửu (1469), Lê Thánh Tông đích thân dẫn quân đi chinh phạt Chiêm Thành, như vậy người con gái huyện Kim Trà (nay là Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế) đã được vua lấy làm vợ trong thời gian này. Kết quả mối tình giữa hai người là một hoàng tử tên là Lê Thoan, được phong tước Triệu Vương, ông là con trai thứ 13 của Lê Thánh Tông.

Vợ Minh Mạng là con gái một danh tướng Tây Sơn

Sau khi nhà Nguyễn thành lập, các vụ trả thù những người có cảm tình với triều Tây Sơn diễn ra khốc liệt và kéo dài nhiều năm. Ấy vậy mà một danh tướng Tây Sơn lại trở thành bố vợ một vị vua nhà Nguyễn thì thật là lạ kỳ.
-
Vị vua đó là Minh Mạng, hoàng đế thứ 2 của triều Nguyễn và ông bố vợ của vua chính là tướng Ngô Văn Sở. Theo một số tư liệu thì Ngô Văn Sở bị giết năm Ất Mão (1795) trong cuộc tranh chấp nội bộ giữa các quan tướng Tây Sơn thời vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản)
. Nhưng có nguồn tư liệu cho hay thực ra Ngô Văn Sở không chết, ông thấy triều chính Tây Sơn ngả nghiêng nên bí mật bỏ trốn theo Nguyễn Ánh và mang một tên khác.
Khi vua Gia Long (Nguyễn Ánh) tiến hà nh hàng loạt vụ trả thù nhà Tây Sơn đã phát hiện ra Ngô Văn Sở chính là viên tướng nổi danh một thời của Tây Sơn. Sách Liệt truyện cho biết Gia Long không giết Ngô Văn Sở mà chỉ cách chức Quản đạo trấn Thanh Hoa của ông vì “Sở làm việc lâu ở đó lại giỏi nên được tha tội chết”.
Lý do nữa là Ngô Văn Sở lại là cha của bà Ngô Thị Chính, vợ hoàng tử Phúc Đảm (sau này lên ngôi lấy hiệu là Minh Mạng).
Trong số hàng trăm phi tần, vua Minh Mạng chỉ sủng ái bà Hiền phi Ngô Thị Chính và và Lệ tân Nguyễn Gia Thị. Bà Ngô Thị Chính đã sinh cho vua 5 hoàng tử và 4 công chúa.
Sự sủng ái của vua đối với bà còn thể hiện qua việc Minh Mạng phục chức cho nhạc phụ của mình là Ngô Văn Sở và phong cho em trai bà Hiền phi là Ngô Văn Thắng chức Cai đội.
Vua Đồng Khánh trừng phạt các bà vợ
-Giống như bao vị hoàng đế khác, trong nội cung của vua Đồng Khánh có rất nhiều cung tần, mỹ nữ. Tháng 8 năm Ất Dậu (1885) ngay sau khi lên ngôi, Đồng Khánh đã ban dụ phong tước cho những người vợ của mình theo các bậc khác nhau là phi, tần, tiệp dư, quý nhân, mỹ nhân, tài nhân… chia nhau phụ trách, cai quản công việc ở tam cung, lục viện và vua căn dặn rằng:
“Những người trên phải kính cẩn thực thi nội chức để việc trong nội cung được nghiêm chỉnh. Người xưa từng nói, phải tề gia rồi sau mới trị quốc, đó là điều trẫm vô cùng mong mỏi vậy”.
Thế nhưng chỉ hai năm sau, vào tháng 2 năm Đinh Hợi (1887) Đồng Khánh đã ban dụ nêu tội trạng và biện pháp trừng phạt đối với các bà vợ của mình.
Sách Đồng Khánh chính yếu cho biết vua bực tức nói rằng: “Đặt ra chức vị phi, tần để chia nhau cai quản lục viện và kính cẩn cần mẫn, tiết kiệm cái ăn cái mặc hàng ngày, ngoài việc đó ra không có gì khác gọi là báo đáp… Nào ngờ bọn sâu mọt đó cam tâm vứt bỏ ân huệ, mỗi ngày một thêm lười biếng,… Vì vậy không thể không nghiêm khắc, tùy theo hạnh kiểm của từng người mà phân biệt nghị xử cho nghiêm nội cung”.

Kết quả là vợ chính của vua là Hoàng quý phi do cai quản không tốt hậu cung nên bị nhắc nhở nghiêm khắc, Giai phi vì sớm biết hối lỗi nên được tha.
Còn lại các phi tần khác, người thì bị vua đánh giá có cử chỉ thô tục, người bị coi là ham chơi bời lêu lổng, người thì bị quy kết có tính tham lam, đố kị… nên đều bị giáng cấp. Trong bài dụ của mình vua còn răn rằng: “Nếu vẫn giữ thói ấy thì mệnh lệnh đã đưa ra pháp luật sẽ tuân theo mà thi hành, lúc ấy khó bảo toàn được vị thứ” (Đồng Khánh chính yếu).

trích trong vanhocsu vietnam
UserPostedImage
UyenVy  
#10 Posted : Wednesday, July 6, 2011 10:31:30 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Nguyễn Văn Trương, một trong Ngũ hổ tướng Gia Định.

Nguyễn Văn Trương (1740-1810) là võ tướng có tài thủy chiến, công thần thời sơ Nguyễn và là một trong Ngũ hổ tướng Gia Định.

Nguyễn Văn Trương người huyện Lễ Dương (nay là huyện Thăng Bình), tỉnh Quảng Nam.
Không rõ năm nào ông đã vào sống ở đất Gia Định, chỉ biết khoảng năm Bính Thân (1776), khi Nguyễn Lữ đem quân vào Nam, lấy được thành Sài Côn, đuổi chúa Nguyễn (Nguyễn Phúc Ánh) chạy đến Trấn Biên ([[Biên Hòa), thì Nguyễn Văn Trương xin theo phò tá Nguyễn Lữ, được cho giữ chức Chưởng cơ coi binh thuyền.
Năm Đinh Mùi (1787), được tin rằng Gia Định có thể lấy lại được, chúa Nguyễn bèn biên thư từ tạ vua Xiêm La, rồi nửa đêm đem gia quyến xuống thuyền về nước.
Lúc bấy giờ nhà Tây Sơn lại lục đục, bất hòa, nên Lê Văn Trương đem 300 quân, 15 chiến thuyền binh chạy vào Long Xuyên giúp chúa Nguyễn, được phong chức Chưởng cơ. Sau, nhờ lập thêm nhiều chiến công, được phong làm Khâm sai chưởng đạo tiền phong, Trung quân thủy dinh.

Năm Kỷ Dậu (1789), ông cùng Lê Văn Quân, Tôn Thất Hội, Võ Tánh hợp binh lại đánh ở Hổ Châu. Quân Tây Sơn do tướng Phạm Văn Tham cầm đầu không phá được vây, phải lui về Ba Thắc (Vĩnh Long). Phạm Văn Tham chờ hoài không thấy viện binh, liệu thế giữ không nổi, bèn đem binh ra hàng. Kể từ đó đất Gia Định thuộc hẳn về chúa Nguyễn.
Tháng ba năm Nhâm Tí (1792), nhân khi mùa gió Nam thổi mạnh, chúa Nguyễn sai Nguyễn Văn Trương cùng Tiền quân Nguyễn Văn Thành, Dayot và Vannier (tên Việt: Nguyễn Văn Chấn) đem chiến thuyền từ cửa Cần Giờ , ra đốt phá thủy trại của Tây Sơn ở cửa Thị Nại (Qui Nhơn), rồi quay về an toàn.

Tháng ba năm sau (Quí Sửu, 1793), chúa Nguyễn để con là Nguyễn Phúc Cảnh ở lại giữ đất Gia Định, sai Tôn Thất Hội cùng Nguyễn Huỳnh Đức và Nguyễn Văn Thành đem bộ binh đánh Phan Rí (nay thuộc Bình Thuận). Còn chúa Nguyễn cùng Nguyễn Văn Trương, Võ Tánh đem thủy quân đi đánh mặt bể.
Đến tháng 5 thì đoàn chiến thuyền của quân Nguyễn vào cửa bể Nha Trang, rồi đánh lên Diên Khánh, phủ Bình Khang, sau lại đánh lấy phủ Phú Yên.
Toàn thắng, Nguyễn Văn Trương cùng chúa Nguyễn cho thủy quân hội với bộ binh của tướng Tôn Thất Hội vào cửa thị Nại, tiến đánh thành Qui Nhơn.
Bấy giờ Nguyễn Huệ đã mất rồi, vua Cảnh Thịnh tức Nguyễn Quang Toản sai thái úy là Phạm Công Hưng, hộ giá là Nguyễn Văn Huấn, tư lệ là Lê Trung, đại tư mã là Ngô Văn Sở đem 17.000 bộ binh, 80 con voi đi đường bộ và sai đại thống lĩnh là Đặng Văn Chân đem hơn 30 chiến thuyền đi đường bể vào cứu Qui Nhơn.
Chúa Nguyễn thấy viện binh đã đến, liệu thế chống không nổi, rút về Diên Khánh...
Năm Tân Dậu (1801), ngày 15 tháng giêng, chúa Nguyễn sai Nguyễn Văn Trương, Tống Phước Lương đem quân tiền đạo tấn công vào đồn thủy của quân Tây Sơn, và sai Lê Văn Duyệt, Võ Di Nguy đem thủy quân vào đánh cửa Thị Nại.
Võ Di Nguy trúng đạn chết, còn Lê Văn Duyệt ra sức xung đột, đốt được cả tàu và thuyền của quân Tây sơn. Đây là trận thủy chiến dữ dội nhất, đáng được gọi là “võ công đệ nhất” trong thời trung hưng của [[nhà Nguyễn.
Đánh xong trận trên từ ngày 13 tháng 4 đến 12 tháng 5, Nguyễn Văn Trương tiến quân đến cửa Đại cổ lũy ở Quảng Ngãi, phá đoàn quân lương của Tây Sơn ở Trà Khúc.
Thừa thắng, Nguyễn Văn Trương cho quân tiến thẳng ra cửa Đại Ấp ở Quảng Nam, đánh phá lũy Bến Ván, đoạt được hai mươi bảy thớt voi chiến. Tiếp đó, tiến quân ra đánh chiếm cửa Đại Chiêm, giao chiến ở Hội An, Phú Triêm.
Đại đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Văn Xuân và thiếu úy Văn Tiến Thể phải thua chạy, quân Nguyễn đoạt được hơn hai mươi tám cổ súng...Nguyễn Văn Trương báo tin thắng lớn, chúa Nguyễn gửi thêm 1.000 binh sĩ, 30 chiến thuyền để tăng cường những vị trí vừa chiếm đóng.
Ngày 7 tháng 6 năm (1801). Nguyễn Văn Trương hợp binh với chúa Nguyễn tại cửa Hàn (Đà Nẵng). Ngày 9, khoảng 4 giờ quân Nguyễn cả lục quân và thủy quân tiến ra Phú Xuân (Huế).
Ngày 11, đoàn tàu chiến do Nguyễn Văn Trương chỉ huy đã vào đến cửa Sông Hương và đánh vào cửa hữu phía Tây kinh thành. Kể từ đó, nhiều trận kịch chiến đã nổ ra, máu lửa tràn lan...
Đến 8 giờ sáng mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu (15 tháng 6 năm 1801), thành Phú Xuân mất vào tay chúa Nguyễn.
Chúa Nguyễn liền cho Nguyễn Văn Trương và Lê Chất mang quân đuổi theo vua Cảnh Thịnh. Đuổi không kịp, Nguyễn Văn Trương được lệnh đem thủy binh ra chặn ở Linh Giang, để chặn quân Tây Sơn chạy ra Bắc.

Tháng giêng năm Nhâm Tuất (1802), vua Tây Sơn sai Nguyễn Quang Thùy tiến lên vây đánh lũy Trấn Ninh.
Thế trận chưa nghiêng ngả về bên nào thì có tin thủy quân của Tây Sơn đã bị Nguyễn Văn Trương phá tan ở cửa Nhật Lệ (Quảng Bình), khiến quan quân nhà Tây Sơn hốt hoảng, cầm cự được một lúc thì phải tháo chạy
Chúa Nguyễn để trung quân Nguyễn Văn Trương giữ Đồng Hới. Tháng 5 năm đó, sau khi chúa Nguyễn lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, liền ngự giá đi đánh Bắc Hà.
Nhà vua sai Nguyễn Văn Trương thống lĩnh thủy binh, Lê Văn Duyệt và Lê Chất thống lĩnh bộ binh, hai mặt thủy bộ cùng tiến. Kết cục, nhà Tây Sơn bị tiêu diệt.
Năm Ất Sửu (1805), vua Gia Long cử ông vào cai trị miền Nam với chức vụ Lưu trấn thành Gia Định, thay cho Nguyễn Văn Nhơn. Năm 1808, ông được triệu về kinh đảm nhận chức vụ khác.
Năm Canh Ngọ (1810) ông mất tại chức, thọ 70 tuổi, được truy tặng là Thái bảo, thờ ở miếu Trung hưng công thần.
Đời Minh Mạng, ông lại được truy phong là Đoan Hùng Quận công.
Con ông là Nguyễn Văn Vân, cũng là một viên tướng có tài, làm quan võ đến chức Tiền quân đô thống chế.

Bùi Thụy Đào Nguyên,
biên soạn.

Tài liệu tham khảo:
-Huỳnh Minh, ''Gia Định xưa'', Nxb VHTT, 2006, tr 124-125.
-Nguyễn Q. Thắng & Nguyễn Bá Thế, ''Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam'', Nxb KHXH, 1992, tr. 710.
-Trần Trọng Kim, ''Việt Nam sử lược quyển 2'', Trung tâm học liệu, Sài Gòn, 1971.
-Ngô Giáp Đậu, ''Hoàng Việt hưng long chí'', Nxb Văn học, 1993.
-Phạm Văn Sơn, ''Việt sử tân biên quyển 4'', Sài Gòn, 1961.
UserPostedImage
UyenVy  
#11 Posted : Wednesday, July 6, 2011 11:04:07 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Liệt nữ nước Việt: Nguyễn Thị Giang

I. Nguyễn Thị Giang (1906–1930), tức Cô Giang, là một nhà cách mạng người Việt chống thực dân Pháp và là hôn thê của Nguyễn Thái Học, Chủ tịch Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Việt Nam.
Cô Giang, sinh năm 1906 [1]tại thị xã Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang.
Bà là con của ông Nguyễn văn Cao (?- 1925) và bà Nguyễn Thị Lưu (?- 1936) và là em ruột Nguyễn Thị Bắc, tức Cô Bắc.
Bà là con thứ hai trong một gia đình gồm bảy người con cả trai và gái, vốn quê ở môt làng dệt thuộc tỉnh Hà Đông, vì thân phụ tham gia phong trào văn thân nên phải dời lên buôn bán tại số 2 phố Thọ Xương, thị xã Phủ Lạng Thương (nay là thị xã Bắc Giang, tỉnh Hà Bắc).
1. Gia nhập đội ngũ kháng Pháp:
Sau khi học xong lớp nhất, Cô Giang cùng chị là Cô Bắc được nhà yêu nước Nguyễn Khắc Nhu (tức Xứ Nhu) dìu dắt rồi kết nạp vào tổ chức Việt Nam Dân Quốc (2)
Ngày 25 tháng 12 năm 1927, nhóm trí thức trẻ trong Nam Đồng thư xã đứng ra thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng. Sau đó, đảng này sáp nhập với Việt Nam Dân Quốc vì họ có cùng mục tiêu là “đánh đuổi người Pháp ra khỏi nước Nam, giành nước Nam lại cho người Nam”.
Nhờ việc sáp nhập này, Chủ tịch Việt Nam Quốc Dân Đảng là Nguyễn Thái Học có dịp làm quen với Cô Giang. Hợp lòng nhau, vào một buổi chiều từ Phú Thọ về xuôi, hai người ghé vào Đền Hùng, sau khi hội đàm với các đồng chí của mình, cả hai vào đền thờ Tổ để cùng thề hẹn..
. Theo một Ủy viên trong Việt Nam Quốc Dân Đảng là nhà văn Nhượng Tống, thì trong buổi ấy,
Cô Giang đã cố xin Nguyễn Thái Học giao cho một khẩu súng lục, và hứa rằng “nếu Học chẳng may chết vì nước, thì Giang cũng xin lấy khí giới này mà chết theo chồng!” (3)
Đứng trong hàng ngũ Việt Nam Quốc Dân Đảng, Cô Giang được cử giữ chức Tổng thư ký của đảng.
Sau, cô cùng chị là Cô Bắc được cử phụ trách việc truyên truyền, làm binh vận và liên lạc giữa các cơ sở đảng ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Yên Bái...
Và bất cứ ở nơi đâu, hai chị em cô đều hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc.
Vào trung tuần tháng 5 năm 1929, Nguyễn Thái Học triệu tập đại hội đảng toàn quốc tại làng Đức Hiệp, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, quyết định chuẩn bị tổng khởi nghĩa.
Công việc chuẩn bị chưa hoàn tất, thì cuối năm 1929 tại Bắc Giang một cơ sở chế bom bị tai nạn phát nổ, và đầu năm 1930 người Pháp bắt giữ được nhiều đảng viên và khám phá được rất nhiều cơ sở chế tạo vũ khí.
Trước tình hình bất lợi, Nguyễn Thái Học cho triệu tập hội nghị khẩn cấp, quyết định tiến hành khởi nghĩa tại các nhiều nơi vào đêm mồng 10, rạng ngày 11 tháng 2 năm 1930.
Được phân công, chị em Cô Giang phụ trách chi bộ khu nữ vận chuyển vũ khí từ Phú Thọ lên Yên Bái bằng xe lửa. Họ giả làm người buôn bán gạo, cám, hoa quả... với những gồng gánh cồng kềnh nhưng phía dưới là mã tấu, lựu đạn và súng ống...
2. Khởi nghĩa thất bại:
Cuộc khởi nghĩa đã nổ ra nhiều nơi (khi ấy Cô Giang được phân công chỉ huy mặt trận tỉnh Bắc Ninh), nhưng nhanh chóng bị thất bại. Bởi Thống sứ Robin đã cho lính đi trấn áp quyết liệt, sai cả máy bay trút bom dữ dội xuống làng Cổ Am (Hải Phòng) và nhiều làng mạc khác.
Lãnh tụ Nguyễn Thái Học cùng nhiều đồng chí nồng cốt (trong số đó có cả Cô Bắc) đều bị đối phương bắt được. Nghe tin vị hôn phu của mình bị bắt (ngày 20 tháng 2 năm 1930, Nguyễn Thái Học bị bắt tại ấp Cổ Vịt [Chí Linh, Hải Dương]). Cô Giang đã nghĩ đến kế hoạch táo bạo là tấn công nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội) để giải thoát cho Nguyễn Thái Học và các đồng chí khác.

Kế hoạch chưa kịp thực hiện, thì ngày 16 tháng 6 năm 1930, Cô Giang nghe tin nhà cầm quyền Pháp đã đưa Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí từ Hà Nội lên Yên Bái, để xử chém vào ngày hôm sau (17 tháng 6).

Tức thì, Cô Giang cải trang, giáu khẩu súng lục trong người rồi đi tàu hỏa lên đó. Xem xử xong, cô lặng lẽ trở về phòng trọ viết hai bức thư tuyệt mệnh trên trang giấy khổ nhỏ, bằng bút chì xanh. Lá thư thứ nhất cô gửi cho cha mẹ anh Nguyễn Thái Học, còn lá thứ hai cô gửi cho người chồng nơi chín suối. Viết xong thư, Cô Giang ra chợ mua mấy vuông vải trắng, thắt ngang đầu để tang chồng, rồi đáp tàu hỏa về Vĩnh Yên, quê Nguyễn Thái Học, ngay buổi chiều tối hôm đó.

3. Tự sát
Tờ mờ sáng ngày 18 tháng 6 năm 1930, cô về làng Thổ Tang, tổng Lương Điền, phủ Vĩnh Tường (nay thuộc Vĩnh Phúc) để lạy tạ cha mẹ chồng (ông Nguyễn văn Hách và bà Nguyễn Thị Quỳnh), tháo chiếc đồng hồ có khắc chữ "G" tặng cho Nguyễn Văn Lâm, em trai Nguyễn Thái Học và từ giã mọi người.
Trên đường đi cô ghé quán trà bên gốc cây đề, thuộc Xóm Mới, xã Đông Vệ giáp quốc lộ số 2, cách làng Thổ Tang ước chừng một cây số. Sau khi uống bát nước trà xanh, từ biệt bà chủ quán, cô đến đứng dưới gốc cây đề, mắt nhìn về hướng làng Thổ Tang và tự kết liễu đời mình bằng khẩu súng lục mà Nguyễn Thái Học tặng cô ở đền vua Hùng ngày nào.
Hôm ấy là ngày 18 tháng 6 năm 1930, nhằm ngày 22 tháng 5 năm Canh Ngọ. Nghe tin Cô Giang tự sát, quân Pháp lập tức có mặt để nhận dạng.
Biết đúng là cô, họ liền ra lệnh chôn, rồi đặt điếm canh để không ai được đến thắp hương. Tuy nhiên, theo Lê Minh Quốc, thì “trên mồ của người nữ cách mạng này bao giờ cũng có những bông hoa đỏ thắm”.[4]
II. Hai bức thư của Cô Giang trước khi tuẫn tiết:
Bức Thứ Nhất:
Ngày 17 tháng 6 năm 1930
Thưa Thầy, Mẹ,
Con chết là vì hoàn cảnh bó buộc con; không báo được thù nhà, rửa được nhục cho nước! Sau khi đã đem tấm lòng trinh bạch dâng cho chồng con ở Đền Hùng.
Giờ con tìm về chỗ quê cha, đất tổ, mượn phát súng này mà kết liễu đời con!
Đứa con dâu bất hiếu kính lạy.
Bức Thứ Hai:
Anh đã là người yêu nước! Không làm tròn được nghĩa vụ cứu quốc, Anh giữ lấy tấm linh hồn cao cả để về chiêu binh, rèn lính ở dưới suối vàng! Phải chịu đựng nhục nhã mới có ngày mong được vẻ vang! Các bạn đồng chí phải sống lại sau Anh, để đánh đổ cường quyền, mà cứu lấy đồng bào đau khổ!
Thân không giúp ích cho đời!
Thù không trả được cho người tình chung!
Dẫu rằng đương độ trẻ trung,
Quyết vì dân chúng thề lòng hy sinh.
Con đường tiến bộ mông mênh,
Éo le hoàn cảnh buộc mình biết sao!
Bây giờ hết kiếp thơ đào,
Gian nan bỏ mặc đồng bào từ đây!
Dẫu rằng chút phận thơ ngây,
Sổ đồng chí đã có ngày ghi tên;
Chết đi dạ những buồn phiền,
Nhưng mà hoàn cảnh truân chuyên buộc mình!
Đảng kỳ phất phới trên thành,
Tủi thân không được chết vinh dưới cờ.
Cực lòng nhỡ bước sa cơ,
Chết sầu chết thảm có thừa sót xa!
Thế ru! Đời thế ru mà?
Đời mà ai biết? Người mà ai hay?
III. Thơ ca viết về Cô Giang:
Khi nghe tin Cô Giang tuẫn tiết nhà cách mạng Phan Bội Châu cảm khái làm bài văn tế Nguyễn Thái Học và Cô Giang:

Than rằng:

Sóng nhân đạo ở hai mươi thế kỷ, bạn má hồng toan cướp gái làm trai
– Gương nữ hùng trên một góc trời Nam, bọn da trắng phải ghê giòng giống Việt.
Trên quốc sử mực chàm giấy phấn, ong cả đoàn nhan nhản bầy nô,
– Dưới Long Thành máu thắm cỏ xanh, gái đến thế rành rành chữ liệt.
Trăng thu mờ mịt, trông những buồn tênh! Người ngọc xa vời, nghĩ càng đau tuyệt.
Nhớ nữ liệt sĩ xưa:
Đất nhả tinh hoa – trời treo băng tuyết.
Vóc quần thoa nhưng chí khí tu mi – Thân khuê các mà can trường khí tiết.
Thuở bé nhờ ơn gia giáo, Hán học vừa thông
– Tuổi xanh vào chốn học trường, Pháp văn cũng biết

Tang hải gặp khi xoay cuộc, ngó giang sơn luống những lòng đau – Trần ai tức lôí không người, thâý nô lệ giương đôi tròng ngút.
Xem sách Pháp từng đem óc nghĩ: Dan Đà, La Lan thuở nọ, chị em mình đã dễ ai hơn,
– Giở sử nhà bỗng vỗ tay reo: Bà Trưng, Cô Triệu sau này, non nước ấy có đâu hồn chết.
UserPostedImage
UyenVy  
#12 Posted : Wednesday, July 6, 2011 11:10:33 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Triều cách mạng đang dâng sùng sục, cát Vệ Tinh ngậm đầy trước miệng, mong thấy bể vùi,
– Vai quốc dân nặng gánh trìu trìu, đá Oa Hùng dắp sẵn trong tay, nỡ xem trời khuyết.
Tức tội cường quyền – Thi gan sấm sét.
Khi nhập đảng tuổi vừa mười tám, cơ nữ binh đăng đội tiền phong;
– Lúc tuyên truyền sách động ba quân, lưỡi biện sĩ trổ tài du thuyết.
Thổi gió phun mây từng mấy trận, nào Lâm Thao, nào Yên Bái, nữ tham mưu đưa đẩy đội hùng binh;
– Vaò sinh ra tử biết bao phen, kia thành huyện, kìa đồn binh, cờ nương tử xông pha hùm rắn rết.
Nguyễn Thái Học trổ tài kiện tướng, nhờ có cô mà lông cánh thêm dài
– Phạm thị Hào nổi tiếng trung trinh, em có chị mà xứng danh nữ kiệt.

Khốn nỗi thay!
Vận nước còn truân – Tai trời chửa hết!
Trắc trở buồm xuôi gió ngược, tài anh thư gặp bước gian truân.
– Ngại ngùng nước biếc non xanh, tay chức nữ uổng công thêu dệt.
Nhưng hãy còn:
Thiết thạch tâm can, – Châu toàn bách chiết.
Thời như thế, việc đành phải thế, đoạn đầu đài mừng được thấy anh lên.
– Sống là còn thác vẫn là còn, súng kề cổ không nhường cho giặc giết.
Tiếng súng lúc vang lên một phát, núi đổ sông nhào!
– Hồn anh thư hẹn phút trùng lai, thần gào quỷ thét
Ôi thương ôi!
Khóc nữa mà chi! – Nói không kể xiết!
Một nén hương lòng, – Mấy lời thống thiết!
Bạn nữ lưu ai nối gót theo chân?
– Nghĩa đoàn thể, xin từ đây cố kết!
Hỡi ơi! thương thay!

Sau đây là hai bài thơ không đề:

Sống nhục sao bằng sự thác vinh?
Nước non cho vẹn chữ chung tình
Lưỡi dao xử tử chàng không ngại
Tiếng súng quyên sinh thiếp cũng dành.
Một tấm can tràng trời đất thảm
Ngàn thu tiết tháo quỷ thần kinh
Cuộc đời xá kể chi thành bại
Trai đã trung thì gái hẳn trinh!

(Vô danh)

Tình chồng, nợ đảng, gánh giang san!
Thác xuống tuyền đài hận chửa tan.
Xương trắng nêu cao gương hiếu nghĩa,
Máu hồng in thắm chữ trung can.
Ngàn năm tồ quốc ơn ghi mãi,
Một thác tình chung nghĩa trả toàn
Thành bại mặc ai người nghị luận,
Muôn ngàn năm để tiếng Cô Giang.

(Vô danh)

Trong dân gian cũng đã xuất hiện nhiều bài vè ca ngợi Cô Giang, trích một bài:

Cô Giang cũng bậc anh hùng,
Dốc tâm thề Đảng một lòng trung trinh.
Cùng ai thề chữ tử sinh,
Chưa chăn gối cũng ra tình sắt son.
Chung tay việc Đảng lo tròn,
Tài chính cổ động lại còn giao thông.
Thất cơ sự đến khi cùng,
Tím gan yên Bái, đau lòng Lâm Thao.
Thế gian mặc chuyện ra vào,
Lòng trinh xin nguyện trời cao soi cùng.
Chồng theo nước, thiếp theo chồng,
Tuồng chi dơ dáng số cùng hôi tanh.
Khen chê phó mặc sử xanh,
Treo gương đất nghĩa trời kinh đời đời...

Bùi Thụy Đào Nguyên

Chú thích:

1.Ghi theo Khổng Đức Thiêm, bài viết đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 2 năm 1995 của Hội khoa học lịch sử Việt Nam.
Có nguồn cho biết Cô Giang sinh năm 1909.
Nhưng theo Lê Minh Quốc, thì tài liệu của nhà nghiên cứu Khổng Đức Thiêm là rất đáng tin cậy.
2.Theo sự gợi ý của nhà cách mạng Phan Bội Châu, năm 1926, Nguyễn Khắc Nhu thành lập hội Quốc Dân Dục Tài, hoạt động như kiểu Đông Kinh Nghĩa Thục để đào tạo nhân tài ra cứu nước.
Sau, ông Nhu cho đổi tên là Việt Nam Dân Quốc.
Lúc này, ngoài việc đào tạo, hội còn mở xưởng làm lựu đạn, rèn vũ khí để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa bằng vũ trang (Lược theo Lê Minh Quốc, tr. 190)
.3.Nhà văn Nhượng Tống cũng cho biết:
Anh Học lúc còn trẻ, mẹ cha đã cưới một người vợ tên là Nguyễn Thị Cửu cho anh.
Năm 1927, khi sắp lập Đảng, anh có nói với tôi (Nhượng Tống) là đã ly hôn với vợ.
Bấy giờ nhiều người như thế lắm: anh Nho, anh Chính, đều từ hôn hay cho vợ về cả.
Các anh không muốn đem cuộc đời sóng gió của mình mà làm phiền lụy đến một người đàn bà.
Ấy vậy mà có một ngày Anh tuyên bố với các bạn là Anh xin phép để được kết hôn cùng cô Giang! Điều này cho biết hai người rất yêu thương nhau.
4.Theo Lê Minh Quốc, tr. 195.
Nguồn tham khảo:
-Nguyễn Q. Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nxb KHXH, 1992.
-Lê Minh Quốc, Các vị nữ danh nhân Việt Nam. Nxb Trẻ, 2009.
-Cô Giang: nữ danh nhân đất Việt
•Nguyễn Thái Học (1902-1930). Sách do Nhượng Tống soạn,
UserPostedImage
UyenVy  
#13 Posted : Thursday, December 15, 2011 11:49:10 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
UserPostedImage
Hình nầy được chụp tại Paris năm 1863 nhân dịp ông cầm đầu sứ bộ sang Pháp
để xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ.

Chân Dung Cụ Phan Thanh Giản


Việc chuộc ba tỉnh không thành, Phan Thanh Giản bị cách lưu làm Tổng đốc Vĩnh Long, nhưng rồi lại được cử làm Chánh sứ (Phó sứ là Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Dần) sang nước Pháp để điều đình một lần nữa về việc chuộc lại ba tỉnh miền Đông (1863), nhưng cũng không đạt được kết quả.
Năm 1865 ông được phục chức Hiệp biện đại học sĩ, Hộ bộ thượng thư, sung Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) và được tha tội cách lưu.
Ngày 20 tháng 6 năm 1867, Pháp đánh chiếm Vĩnh Long (vốn đã được trao trả triều đình Huế ngày 25 tháng 5 năm 1863), yêu cầu ông gửi mật thư cho thủ thành An Giang và Hà Tiên buông súng đầu hàng.
Trước sức mạnh áp đảo của Pháp về mặt quân sự, biết thế không thể giữ nổi, nên để tránh đổ máu vô ích, Phan Thanh Giản đã quyết định trao thành, không kháng cự, với yêu cầu người Pháp phải bảo đảm an toàn cho dân chúng.
Thế là chỉ trong 5 ngày (20-24 tháng 6 năm 1867), Pháp chiếm gọn ba tỉnh miền Tây không tốn một viên đạn.
Sau khi thành mất ông tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4 tháng 8 năm 1867, hưởng thọ 72 tuổi.
Đền thờ Phan Thanh Giản hiện ở ấp Thạnh Nghĩa, xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, Bến Tre.
Và từ rất lâu, nhân dân ở vùng núi Ba Thê, thuộc huyện Thoại Sơntỉnh An Giangvẫn coi ông là một vị thần Thành Hoàng.
Ngoài ra ông còn được thờ tại Văn Thánh Miếu Vĩnh Long
UserPostedImage

Hình Cụ Phan Thanh Giản trong đền thờ.
Quỳnh-Mai đã chụp vào năm 2006 có Thầy Cô Phó Bá Long đi thăm viềng và đốt nhang
cho Cụ.

Quỳnh Mai
UserPostedImage
UyenVy  
#14 Posted : Thursday, December 15, 2011 11:57:28 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Nguyễn Trường Tộ Là Người Công Giáo Yêu Nước

Đã có nhiều bài nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ (1830 -1871) và khẳng định ông là người có tư duy vượt thời đại, một người Công giáo yêu nước. Điều này không còn tranh cãi nữa vì có những điều ông viết cách đây 150 năm rồi mà vẫn nóng bỏng tính thời sự như chống tham nhũng, buôn lậu, mở cửa đầu tư với nước ngoài, về việc cải cách giáo dục…Ông canh cánh bên lòng suy tư làm sao cho nước thịnh đủ sức đánh đuổi thực dân Pháp trong khi triều đình có chính sách hà khắc với đạo Công giáo mà ông lại là tín hữu.
Trong bài viết này, nhân ngày m?t thứ 140 của ông, chúng tôi muốn đề cập đến một khía cạnh khác: ông là một triết gia lớn ở Việt Nam thế kỷ XIX .
Nguyễn Trường Tộ thông minh, học giỏi nhưng ông không theo đuổi nghiệp quan trường. Cũng có thể, ông biết rõ dù có học giỏi cũng không được dự thi vì ông là người Công giáo. Bởi theo chỉ dụ của vua lúc bấy giờ, dân theo đạo không được phép đi thi.
Cũng có thể ông bị ảnh hưởng tư tưởng coi thường công danh của các thày dạy như Tú Giai, Cống Hữu nên đã đoạn tuyệt được với những “ cạm bẫy “ của người đời như chính ông viết trong “ Bài trần tình” rằng: “Từ bé tôi đã thận trọng trong việc giao du, thích yên tĩnh đối với tất cả những sự cầu danh, lấn lướt, giành công tham lợi, tôi đều coi như mây bay nước chảy.
Vả lại, tôi không ham thích kinh doanh, không thích chuyện vợ con, đoạn tuyệt với hai cạm bẫy tài sắc” (1).Ông là người Công giáo đạo hạnh. Đang dạy học, trò theo rất đông nhưng khi cha xứ yêu cầu ông sang dạy tiếng Việt cho Giám mục Ngô Gia Hậu ( Gauthier), ông xếp lớp đi ngay, không hề tính toán thiệt hơn. Vì ai cũng biết, đi làm việc nhà chung xưa nay nào có công xá gì.
Được giáo xứ cho ăn là tốt rồi. Triều đình cấm đạo gắt gao, ông không sợ liên luỵ mà táo bạo gửi điều trần cho vua can gián. Lời lẽ thật mềm dẻo nhưng sắc sảo khôn ngoan: “Xét ra đạo Công giáo vào nước ta từ thời Lê…lúc bấy giờ giáo dân và những người trong ba đạo ( Phật , Lão, Khổng), tuy tín ngưỡng khác nhau nhưng vẫn ân ái tiếp đón nhau, năng lui tới với nhau không có gì hiềm nghi, đều là con dân của nươc nhà mà thôi. Từ khi ban hành lệnh nghiêm cấm thì mới sinh ra ghen ghét kỳ thị nhau, do ghen ghét mới sinh ra tội lệ. Từ đấy giáo dân bị phiền nhiễu đến nỗi phải lưu ly thất sở mà mắc vào hình phạt.
Nước vốn trong, có quấy lên mới bị đục, nếu ngừng thì chốc lát sẽ trở lại trong” (2).
Theo chúng tôi, Nguyễn Trường Tộ là người đầu tiên đưa ra khái niệm “ đồng hành” trong bài “ Bàn về tự do tôn giáo” viết ngày 29-3-1863. ở đây, ông cũng đưa ra những quan niệm đúng đắn mà đến hôm nay các nhà làm luật liên quan đến tôn giáo cũng vẫn phải tuân theo như những nguyên tắc để vừa đảm bảo được tự do tín ngưỡng tôn giáo vừa chống được sự lợi dụng tôn giáo làm những điều sai trái. Ông viết : “Giáo dân cũng do tạo vật sinh dưỡng và đạo giáo cũng do tạo vật bảo dưỡng huống chi giáo dân cũng là một thành phần của nhân dân trong nước. Trong số đó, nếu có kẻ bội nghịch chẳng qua chỉ là một phần nghìn, phần trăm mà thôi… Bất kỳ trong đạo giáo nào, hễ ai phản nghịch loạn thường đều là người đắc tội trong tôn giáo, cứ áp dụng hình phạt không tha để cho tôn giáo được trong sạch. Còn ai yên phận tuân theo pháp luật thì để cho họ tự nhiên, có gì hại đâu? Đồng hành mà không nghịch nhau là được” (3). Ông luôn có ý thức về bổn phận công dân rất cao. Nhiều lúc, vấn đề quốc gia, dân tộc được ông đặt lên trên cả các lợi ích tôn giáo thông thường.
Chẳng hạn, có những việc, ông đề nghị đừng cho các Giám mục, linh mục biết, hoặc tranh thủ cả Vatican để tạo lợi thế cho nước ta. Cũng chính ông đưa ra một ý tưởng hoàn toàn mới mẻ là giáo hội Việt Nam phải giao cho người Việt Nam cai quản.
Điều này, mãi đến những năm sau cách mạng tháng 8-1945 mới được nhắc lại và đến năm 1960 mới thành hiện thực khi Đức Gioan XXIII ra sắc chỉ thiết lập hàng giáo phẩm nước ta. Ông viết: “Năm trước, tôi đã bẩm miệng với quan Thượng thư Bộ binh và Bộ Hộ, muốn nhân lúc đi Tây mà xin với Giáo hoàng, rút giáo sĩ Pháp về và chỉ giao cho giáo sĩ nước ta trông nom hoàn toàn việc đạo giáo.
Tôi nói như thế, không phải là phản đạo mà chính là để bảo vệ đạo” (4).
Đọc 58 Di thảo của ông, chúng ta phải thật sự kinh ngạc vì sự am hiểu sâu sắc rất nhiều lĩnh vực từ khoa học tự nhiên đến công nghệ máy móc, từ khoa học xã hội đến quốc phòng, ngoại giao. Ông xứng đáng được coi là người sáng lập hay người phác thảo những ý tưởng khai sinh ra rất nhiều ngành khoa học ở nước ta như nông nghiệp, thiên văn- địa lý, luật học, ngoại giao, thương mại, giáo dục…
Ví dụ nghành nông nghiệp mà ông gọi là ngành nông chính, sau khi đã xác định tầm quan trọng của nông nghiệp với kinh tế xã hội, ông đưa ra một loạt kiến nghị như xuất bản một bộ sách “Nông chính toàn thư” ghi chép tất cả những kinh nghiệm hay trong dân gian cũng như ở các nước về trồng cấy, chăn nuôi, chế tạo công cụ. Rồi đào tạo quan lại chuyên trách về nông nghiệp đi khắp nước khảo cứu toàn bộ đất đai để xem đất nào trồng cây gì, nuôi vật gì thì thích hợp, nơi nào cần khai hoang, nơi nào cần tưới, tiêu .
Ông đề nghị thành lập Bộ canh nông chăm lo phát triển nông nghiệp, cử người đi học ở nước ngoài, tính lại thuế ruộng cho phù hợp với đất và đặc biệt phải dạy cho dân biết trồng cấy, chăn nuôi không để phó mặc cho tự nhiên như bấy giờ. Rồi ông đề nghị phải lo trồng rừng để chống lũ lụt và phải giao đất cho dân trồng cấy, chăm sóc để chỗ nào cũng có chủ, không để cảnh tự do chặt phá bừa bãi. Những điều này chúng ta cũng mới tiến hành gần đây và vẫn đang tiếp tục phải hoàn thiện.
Là người theo Nho học nhưng ông lại rất muốn học những cái hay, cái tiến bộ của xứ người đưa về áp dụng trong nước chứ không bảo thủ. Ông đề nghị dùng cách học gắn với thực tế, dùng phương pháp đánh giặc bằng cả quân sự, chính trị, ngoại giao, dùng kế hoà hoãn để nuôi lực lượng, liên minh với Anh, ý để đánh Pháp, mở cửa mời nước ngoài vào làm ăn khai thác và dùng cả mật kế nội gián để đánh Pháp từ trong vùng Pháp chiếm đóng do chính ông vạch kế hoạch và thực hiện.
Có một thời gian khi theo Giám mục Hậu vào Sài Gòn từ năm 1859 đến năm 1862, vì có mong muốn được ra nước ngoài học hỏi nhưng bị kẹt lại, ông nhận làm phiên dịch cho Pháp nhưng ông luôn tận dụng mọi thời cơ để theo dõi tình hình địch, làm sai lạc các tài liệu có liên quan đến nghĩa quân hoặc chỉnh lại lời văn trong các văn thư của triều đình nhằm giữ được thể diện quốc gia…
Một số người cho rằng ông theo Tây làm ông rất đau khổ, mặc dù chính ông đã từ chối nhận chức Bộ Hộ của Pháp để trở về chấp nhận cảnh nghèo khó. Cho đến tận cuối đời, dù bao kiến nghị bị xếp xó nhưng khi bị bệnh nặng, ông vẫn còn gửi nhiều bản điều trần nữa vẫn với hy vọng nó giúp ích cho nước nhà. Điều đó chứng tỏ lòng yêu nước trong ông nồng thắm đến mức nào!
Nguyễn Trường Tộ không chỉ là người Công giáo yêu nước, ông còn là một triết gia lớn của Việt Nam thế kỷ XIX.
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, thật ít người thể hiện tư tưởng triết học rõ ràng như ông. Không ít người ca ngợi K.Mark là nhà triết học vĩ đại của chủ nghĩa Mac xít. Nguyễn Trường Tộ có thể coi là người sinh cùng thời với K.Mark (1818), và F.Engel (1820).
Không rõ ông có được tiếp xúc với các tác phẩm của Mark, Engel không, nhưng đọc Di thảo của ông, chúng ta bắt gặp rất nhiều luận điểm triết học tương đồng. Ông viết : “Bởi vì có đủ cơm ăn, áo mặc rồi mới nói đến chuyện vinh hay nhục mà muôn việc ở đời cơ bản là sự nuôi sống.
Nếu không đủ nuôi sống, bản thân còn không bảo tồn được nói gì đến chuyện khác ngoài bản thân…Nếu bị cái nghèo đói thúc bách thì lo kiếm sống cũng không xong còn đâu mà bàn lễ nghĩa”(5). Đây chính là quan niệm duy vật lịch sử mà Mark đã chỉ ra.
F.Engel viết: “Mark là người đầu tiên đã phát hiện ra quy luật phát triển của lịch sử loài người, nghĩa là tìm ra cái sự thật giản đơn, trước hết con người cần phải ăn uống, mặc trước khi có thể lo đến chuyện làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo” (6).
Như vậy, nếu Nguyễn Trường Tộ không đọc Mark mà ông có được luận điểm như trên thì ông thật sự là một triết gia duy vật lớn. Chính ông cũng phát hiện ra yêu cầu khách quan của sự sinh tồn trong xã hội. Ông viết: “Tôi thiết nghĩ, trong ngũ phúc, phú đứng đầu, triệu dân trước tiên lo ăn. Sách Luận ngữ nói, làm giàu có rồi mới giáo dục. Mọi việc trên đời hễ việc gì có công dụng lớn thì rất khó làm. Công việc của con người không gì lớn hơn là làm ra của cải để nuôi sống” (7).
UserPostedImage
UyenVy  
#15 Posted : Thursday, December 15, 2011 12:01:03 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Ông nhận ra thế giới vô cùng phong phú, đa dạng: “Trời đất sinh ra muôn vật không chỉ sinh một khuôn mẫu nào, không thiếu một bên nào, một chức phận nào hay một sinh vật nào mà sinh ra vô số hình thù khác nhau, xu hướng khác nhau để thu phục thống trị chúng, do đó mới thấy được cái phong phú, vĩ đại tinh xảo, kỳ diệu của trời đất” (8). Rõ ràng, thế giới quan của ông là thế giới quan tôn giáo vì ông là người Công giáo mộ đạo nhưng khi nhìn nhận xã hội, xem xét một vấn đề cụ thể, ông lại có cái nhìn biện chứng duy vật.
Ông khẳng định, không có sự vật tồn tại một mình, cô lập, chỉ có các sự vật tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật khác. Trong bài “ Tế cấp bát điều”, ông viết: “Mọi vật sinh ra trên đời, vật gì cũng có phần thụ hưởng và phần cống hiến của nó.
Chưa từng có một vật nào tồn tại một mình không có quan hệ dính dáng vào đâu cả” (9).
Xem ra đức tin của ông không cản trở việc ông tiếp thu các tri thức khoa học cũng như những năm tháng theo Nho học không gò bó được tư duy của ông phải khuôn mẫu theo quan điểm Khổng- Mạnh.
Lúc đó, giáo hội không đồng tình với thuyết nhật tâm của Copecnic nhưng ông lại say sưa chứng minh cho nó là đúng đắn bằng những lập luận rất hùng hồn trong “Bài tựa sách Đàm thiên luận” và đưa ra nhận định rất táo bạo và có vẻ ngược đời với trình độ dân trí ở ta lúc bấy giờ khi cho rằng : “ânh sáng cũng là vật chất trong vũ trụ”(10).
Nguyễn Trường Tộ tiếp thu tư tưởng triết học biện chứng của Lão Tử để vận dụng vào xem xét các hiện tượng xã hội. Ông viết : “Hơn nữa, việc đời thường thường chưa có việc gì hoàn toàn có lợi mà không có hại, chỉ do con người biết tuỳ cơ ứng biến mà thôi. Trí lực không bao giờ cùng, trong lợi có hại” (11).
Lão Tử nói rằng, trong vạn vật, không vật nào không cõng âm và bồng dương, nhân chỗ xung nhau mà hoà với nhau (chương 42, Hà thiên, Đạo đức kinh).
Thế nhưng trong khi Lão Tử chủ trương “vô vi” thì Nguyễn Trường Tộ lại cho rằng “ trên thế gian lẽ nào có chuyện không làm mà tự trên trời rơi xuống cho đâu?” (12).
Ông còn đi xa hơn khi khẳng định thế giới này là có thật chứ không phải tưởng tượng và khả năng nhận thức của con người (cụ thể ở đây là các nhà khoa học) là vô tận. Ông viết:
“Phàm nhà khoa học thì bụng phải bao hết những việc xưa nay, mắt trông khắp trời đất, tinh thần chu du tận cõi xa xăm, tâm hồn thấu đến chỗ u huyền.
Như vậy mới sáng suốt mà tâm đắc được những gì người xưa không thể nói hết, mắt trông thấy hiện tượng mà tâm trí bao trùm sự hiểu biết ngoài hiện tượng đó. Bởi vì trời tuy cao, đất tuy xa nhưng đều có sự thực chứ không chìm vào hư vô…Tuy nói sự thực nhưng nó cao dày, thâm thuý vô cùng, thấy như gần nhưng thực là xa, thấy như nhỏ mà thực là lớn, thấy như tĩnh mà thực sự là động, thấy như nghịch mà thực sự là thuận, thấy như không có nguyên tắc mà thực sự là có nguyên tắc, thấy như trừu tượng mà thực sự là cụ thể” (13).
Nói như ngôn ngữ triết học ngày nay thì Nguyễn Trường Tộ đã nhận ra sự thống nhất của các mặt đối lập, ông có tư duy biện chứng.
Mặc dù không đưa ra khái niệm lượng- chất, nhưng ông đã thấy những mặt đối lập tồn tại trong nhau, cùng nhau và có thể biến đổi cho nhau nữa nếu vượt quá “độ”. Trong bản “ Thảo gửi Tây soái”, ông đã phân tích lợi hại khi Pháp chiếm Nam Kỳ: “Cái thay vì để nuôi người giờ trở thành cái làm hại người. Cho dẫu có quyết định đánh lấy người ta cho được thì cũng chỉ tạm thời mà thôi và cái được cũng bù vào cái mất. Người bị hại nhưng ta đâu chỉ có lợi mà không hại?
Cuối cùng cái gì quá cực độ của nó cũng sẽ phản ngược trở lại” (14).
Nguyễn Trường Tộ dùng tư duy logic để xem xét , phân tích các mối quan hệ của những sự vật, hiện tượng phức tạp trong xã hội để tìm ra cái cơ sở hưng thịnh của quốc gia đó là của cải. Dĩ nhiên không chỉ có của cải vật chất vì theo ông “hiền tài là sinh lực của quốc gia, sinh lực con người ta mà mạnh thì gân cốt trong người đều mạnh”. Còn cơ sở để thúc đẩy con người hành động lại là “tài lợi”. Đây là quan niệm duy vật. Ông cũng cho rằng, mặc dù các hiện tượng xã hội muôn hình muôn vẻ nhưng chúng cũng hoạt động tuân theo những quy luật nhất định mà ông gọi là “lý”. Ví dụ quy luật gia tăng dân số tự nhiên, ông viết: “Phàm con người sinh ra nhiều ít, nên, hư đều theo một trật tự do tạo vật xếp đặt, chủ trì.
Xem trong một nhà. một làng thấy có đầy vơi, hư , thực không bằng nhau. Nhưng tính chung trong toàn tỉnh hay cả nước thì cứ thấy có một thế kỷ, số người lại tăng gấp đôi. Đó là lý nhất định” (15).
Về thuật cai trị, ông chủ trương phải dùng luật pháp “quan dùng luật để trị, dân theo luật mà giữ gìn”. Tuy nhiên, ông cũng không hoàn toàn theo phái Pháp gia thiên về luật để trị nước nhưng cũng không dựa hẳn vào “đức trị “ như Nho gia chủ trương mà dung hoà mềm dẻo hơn :
“Phàm dùng lý chỉ dùng trong việc xử đoán hình phạt mà khi nào không dùng tình được mới dùng đến lý. Lý là mệnh lệnh gắt gao. Tình là cái đôn hậu hoà dịu…Người trị nước quý hồ chỗ thấu suốt tình dân, có tình mới có dân” (16).
Dĩ nhiên, quan điểm của ông cũng có chỗ sai lầm, cực đoan khi ông nhận xét về các chủng tộc người trên trái đất. Ông cho rằng có giống “có phúc” và có giống “vô phúc”.
Giống có phúc như các nước phương Tây và nước ta thì mỗi ngày một thịnh, còn “giống vô phúc như một số dân da đen ở phương Nam, dân Thổ nhĩ kỳ, dân Mã Lai, Cao Miên, Chiêm Thành… thì ngày một điêu tàn nay đã dừng lại không phát triển nữa” (17). Đây là luận điểm duy tâm, cực đoan mà về sau chủ nghĩa phát xít hay chủ nghĩa Apacthai đã khai thác và gây ra thảm hoạ cho nhân loại. Thật ra, những dân tộc thiểu số không phát triển được, đi tới chỗ tiêu vong có một nguyên nhân là do chính sách kỳ thị chủng tộc chứ không phải họ là giống vô phúc.
Về vai trò của vua quan , ông cũng đề cao quá mức thành duy tâm khi nhận định rằng: “Người xưa có nói, dân là gốc của nước.
Nói như vậy cũng chưa đúng. Tôi cho rằng vua quan là gốc của nước. Vì không có vua quan thì chẳng bao lâu dân sẽ loạn, tranh giành nhau làm trưởng, giành giật lẫn nhau, tàn sát lẫn nhau, oán thù lẫn nhau. Cho nên nước có vua bạo ngược vẫn hơn không có vua” (18). Chỗ này Nguyễn Trường Tộ đã nhầm lẫn, chính chức năng cai trị xã hội của vua quan cũng do nhân dân giao phó cho họ.
Từ lập luận trên, ông cũng phản đối sự thay đổi trật tự xã hội hiện hành mà muốn duy trì lâu dài ngôi vua, “ một họ cầm quyền, đời đời truyền nối”. Rõ ràng, lòng trung quân của ông đã đưa ông đến những kết luận đi ngược với sự phát triển của xã hội.
Chắc sẽ có ý kiến cho rằng, Nguyễn Trường Tộ là tín hữu Công giáo, làm sao có thể có tư tưởng triết học biện chứng được? Rằng những trích dẫn trên đây chỉ là những lời nói, suy nghĩ không hệ thống, không thể chứng minh cho tư tưởng triết học của ông… Xin thưa, chẳng lẽ cứ là tín đồ các tôn giáo thì không thể trở thành triết gia duy vật hay sao? Lịch sử triết học và khoa học đã có biết bao tín đồ tôn giáo vẫn là những nhà triết học duy vật và khoa học nổi tiếng . G.W Leibnit (1646-1716) là một ví dụ. Ông là người Công giáo mộ đạo nhưng vẫn là nhà toán học, vật lý học và triết học lớn ở Đức và cả thế giới nữa .
Thế giới quan tôn giáo của ông chỉ chi phối khi ông bàn về Thượng đế mà thôi. Còn xét tư tưởng của một người, chúng ta chỉ có thể xét qua lời nói, tác phẩm của họ. Người ta vẫn nhắc và còn dẫn ra nhiều lần nữa để minh chứng cho quan điểm biện chứng của triết gia trường phái triết học Milê là Hêraclit (544- 483 tr.CN) qua một câu nói: “ Anh không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông vì nước chảy trên mình anh luôn luôn là nước mới”.
Bệnh tật đã làm cho con người tài ba này yểu mệnh. Nguyễn Trường Tộ mất ngày 22-11-1871, thọ 41 tuổi. Đây là mất mát lớn với gia đình ông.
Còn sự nhu nhược, hèn kém của triều đình nhà Nguyễn lúc đó đã bỏ qua các bản kiến nghị đầy nhiệt huyết của ông không chỉ là nỗi bất hạnh với ông mà còn là thiệt thòi với cả toàn thể dân tộc. Những công trình kiến trúc do ông thiết kế, thi công có thể sẽ mai một theo năm tháng nhưng tấm lòng kính Chúa, yêu nước của ông thì còn lại mãi với non sông như câu đối trên mộ của ông ở làng Bùi Chu: “Kính Chúa, yêu người hằng tạc dạ. Trung quân, ái quốc vốn ghi lòng”.

Chú thích:
1- Trương Bá Cần: Nguyễn Trường Tộ , con người và di thảo, Nxb T.p HCM 1988, tr.120. Các trích dẫn sau đều dẫn theo sách này.
2- tr.116,
3- tr.118,
4- tr.325,
5 –tr.191,
6- Mác-Angghen, tuyển tập, tập 2, ST. 1971, tr.198.
7- tr.394,
8- tr.324,
9- tr.243,
10- tr. 419,
11- tr.411- 412...

TS Phạm Huy Thông
UserPostedImage
UyenVy  
#16 Posted : Friday, December 16, 2011 9:43:44 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Nguyễn Thị Giang (1906–1930)Anh Thư Nước Việt

Nguyễn Thị Giang (1906–1930), tức Cô Giang, là một nhà cách mạng người Việt chống thực dân Pháp và là hôn thê của Nguyễn Thái Học, Chủ tịch Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Việt Nam.
Cô Giang, sinh năm 1906 [1]tại thị xã Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang.
Bà là con của ông Nguyễn văn Cao (?- 1925) và bà Nguyễn Thị Lưu (?- 1936) và là em ruột Nguyễn Thị Bắc, tức Cô Bắc.
Bà là con thứ hai trong một gia đình gồm bảy người con cả trai và gái, vốn quê ở môt làng dệt thuộc tỉnh Hà Đông, vì thân phụ tham gia phong trào văn thân nên phải dời lên buôn bán tại số 2 phố Thọ Xương, thị xã Phủ Lạng Thương (nay là thị xã Bắc Giang, tỉnh Hà Bắc).
1. Gia nhập đội ngũ kháng Pháp:
-Sau khi học xong lớp nhất, Cô Giang cùng chị là Cô Bắc được nhà yêu nước Nguyễn Khắc Nhu (tức Xứ Nhu) dìu dắt rồi kết nạp vào tổ chức Việt Nam Dân Quốc (2)
Ngày 25 tháng 12 năm 1927, nhóm trí thức trẻ trong Nam Đồng thư xã đứng ra thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Sau đó, đảng này sáp nhập với Việt Nam Dân Quốc vì họ có cùng mục tiêu là “đánh đuổi người Pháp ra khỏi nước Nam, giành nước Nam lại cho người Nam”.
Nhờ việc sáp nhập này, Chủ tịch Việt Nam Quốc Dân Đảng là Nguyễn Thái Học có dịp làm quen với Cô Giang.
Hợp lòng nhau, vào một buổi chiều từ Phú Thọ về xuôi, hai người ghé vào Đền Hùng, sau khi hội đàm với các đồng chí của mình, cả hai vào đền thờ Tổ để cùng thề hẹn..
. Theo một Ủy viên trong Việt Nam Quốc Dân Đảng là nhà văn Nhượng Tống, thì trong buổi ấy,
Cô Giang đã cố xin Nguyễn Thái Học giao cho một khẩu súng lục, và hứa rằng “nếu Học chẳng may chết vì nước, thì Giang cũng xin lấy khí giới này mà chết theo chồng!” (3)
Đứng trong hàng ngũ Việt Nam Quốc Dân Đảng, Cô Giang được cử giữ chức Tổng thư ký của đảng.
Sau, cô cùng chị là Cô Bắc được cử phụ trách việc truyên truyền, làm binh vận và liên lạc giữa các cơ sở đảng ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Yên Bái...
Và bất cứ ở nơi đâu, hai chị em cô đều hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc.
Vào trung tuần tháng 5 năm 1929, Nguyễn Thái Học triệu tập đại hội đảng toàn quốc tại làng Đức Hiệp, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, quyết định chuẩn bị tổng khởi nghĩa.
Công việc chuẩn bị chưa hoàn tất, thì cuối năm 1929 tại Bắc Giang một cơ sở chế bom bị tai nạn phát nổ, và đầu năm 1930 người Pháp bắt giữ được nhiều đảng viên và khám phá được rất nhiều cơ sở chế tạo vũ khí.
Trước tình hình bất lợi, Nguyễn Thái Học cho triệu tập hội nghị khẩn cấp, quyết định tiến hành khởi nghĩa tại các nhiều nơi vào đêm mồng 10, rạng ngày 11 tháng 2 năm 1930.
Được phân công, chị em Cô Giang phụ trách chi bộ khu nữ vận chuyển vũ khí từ Phú Thọ lên Yên Bái bằng xe lửa. Họ giả làm người buôn bán gạo, cám, hoa quả... với những gồng gánh cồng kềnh nhưng phía dưới là mã tấu, lựu đạn và súng ống...
2. Khởi nghĩa thất bại:
Cuộc khởi nghĩa đã nổ ra nhiều nơi (khi ấy Cô Giang được phân công chỉ huy mặt trận tỉnh Bắc Ninh), nhưng nhanh chóng bị thất bại. Bởi Thống sứ Robin đã cho lính đi trấn áp quyết liệt, sai cả máy bay trút bom dữ dội xuống làng Cổ Am (Hải Phòng) và nhiều làng mạc khác.
Lãnh tụ Nguyễn Thái Học cùng nhiều đồng chí nồng cốt (trong số đó có cả Cô Bắc) đều bị đối phương bắt được. Nghe tin vị hôn phu của mình bị bắt (ngày 20 tháng 2 năm 1930, Nguyễn Thái Học bị bắt tại ấp Cổ Vịt [Chí Linh, Hải Dương]).
Cô Giang đã nghĩ đến kế hoạch táo bạo là tấn công nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội) để giải thoát cho Nguyễn Thái Học và các đồng chí khác.
Kế hoạch chưa kịp thực hiện, thì ngày 16 tháng 6 năm 1930, Cô Giang nghe tin nhà cầm quyền Pháp đã đưa Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí từ Hà Nội lên Yên Bái, để xử chém vào ngày hôm sau (17 tháng 6).
Tức thì, Cô Giang cải trang, giáu khẩu súng lục trong người rồi đi tàu hỏa lên đó.
Xem xử xong, cô lặng lẽ trở về phòng trọ viết hai bức thư tuyệt mệnh trên trang giấy khổ nhỏ, bằng bút chì xanh.
Lá thư thứ nhất cô gửi cho cha mẹ anh Nguyễn Thái Học, còn lá thứ hai cô gửi cho người chồng nơi chín suối.
Viết xong thư, Cô Giang ra chợ mua mấy vuông vải trắng, thắt ngang đầu để tang chồng, rồi đáp tàu hỏa về Vĩnh Yên, quê Nguyễn Thái Học, ngay buổi chiều tối hôm đó.
3. Tự sát
Tờ mờ sáng ngày 18 tháng 6 năm 1930, cô về làng Thổ Tang, tổng Lương Điền, phủ Vĩnh Tường (nay thuộc Vĩnh Phúc) để lạy tạ cha mẹ chồng (ông Nguyễn văn Hách và bà Nguyễn Thị Quỳnh), tháo chiếc đồng hồ có khắc chữ "G" tặng cho Nguyễn Văn Lâm, em trai Nguyễn Thái Học và từ giã mọi người.
Trên đường đi cô ghé quán trà bên gốc cây đề, thuộc Xóm Mới, xã Đông Vệ giáp quốc lộ số 2, cách làng Thổ Tang ước chừng một cây số
. Sau khi uống bát nước trà xanh, từ biệt bà chủ quán, cô đến đứng dưới gốc cây đề, mắt nhìn về hướng làng Thổ Tang và tự kết liễu đời mình bằng khẩu súng lục mà Nguyễn Thái Học tặng cô ở đền vua Hùng ngày nào.
Hôm ấy là ngày 18 tháng 6 năm 1930, nhằm ngày 22 tháng 5 năm Canh Ngọ.
Nghe tin Cô Giang tự sát, quân Pháp lập tức có mặt để nhận dạng.
Biết đúng là cô, họ liền ra lệnh chôn, rồi đặt điếm canh để không ai được đến thắp hương.
Tuy nhiên, theo Lê Minh Quốc, thì “trên mồ của người nữ cách mạng này bao giờ cũng có những bông hoa đỏ thắm”
II. Hai bức thư của Cô Giang trước khi tuẫn tiết:
Bức Thứ Nhất:
Ngày 17 tháng 6 năm 1930
Thưa Thầy, Mẹ,
Con chết là vì hoàn cảnh bó buộc con; không báo được thù nhà, rửa được nhục cho nước! Sau khi đã đem tấm lòng trinh bạch dâng cho chồng con ở Đền Hùng.
Giờ con tìm về chỗ quê cha, đất tổ, mượn phát súng này mà kết liễu đời con!
Đứa con dâu bất hiếu kính lạy.
Bức Thứ Hai:
Anh đã là người yêu nước! Không làm tròn được nghĩa vụ cứu quốc, Anh giữ lấy tấm linh hồn cao cả để về chiêu binh, rèn lính ở dưới suối vàng! Phải chịu đựng nhục nhã mới có ngày mong được vẻ vang!
Các bạn đồng chí phải sống lại sau Anh, để đánh đổ cường quyền, mà cứu lấy đồng bào đau khổ!
Thân không giúp ích cho đời!
Thù không trả được cho người tình chung!
Dẫu rằng đương độ trẻ trung,
Quyết vì dân chúng thề lòng hy sinh.
Con đường tiến bộ mông mênh,
Éo le hoàn cảnh buộc mình biết sao!
Bây giờ hết kiếp thơ đào,
Gian nan bỏ mặc đồng bào từ đây!
Dẫu rằng chút phận thơ ngây,
Sổ đồng chí đã có ngày ghi tên;
Chết đi dạ những buồn phiền,
Nhưng mà hoàn cảnh truân chuyên buộc mình!

Đảng kỳ phất phới trên thành,
Tủi thân không được chết vinh dưới cờ.
Cực lòng nhỡ bước sa cơ,
Chết sầu chết thảm có thừa sót xa!
Thế ru! Đời thế ru mà?
Đời mà ai biết? Người mà ai hay?
Thơ ca viết về Cô Giang:
Khi nghe tin Cô Giang tuẫn tiết nhà cách mạng Phan Bội Châu cảm khái làm bài văn tế Nguyễn Thái Học và Cô Giang:

Than rằng:

Sóng nhân đạo ở hai mươi thế kỷ, bạn má hồng toan cướp gái làm trai
– Gương nữ hùng trên một góc trời Nam, bọn da trắng phải ghê giòng giống Việt.
Trên quốc sử mực chàm giấy phấn, ong cả đoàn nhan nhản bầy nô,
– Dưới Long Thành máu thắm cỏ xanh, gái đến thế rành rành chữ liệt.
Trăng thu mờ mịt, trông những buồn tênh! Người ngọc xa vời, nghĩ càng đau tuyệt.
Nhớ nữ liệt sĩ xưa:
Đất nhả tinh hoa – trời treo băng tuyết.
Vóc quần thoa nhưng chí khí tu mi – Thân khuê các mà can trường khí tiết.
Thuở bé nhờ ơn gia giáo, Hán học vừa thông
– Tuổi xanh vào chốn học trường, Pháp văn cũng biết
Tang hải gặp khi xoay cuộc, ngó giang sơn luống những lòng đau
– Trần ai tức lôí không người, thâý nô lệ giương đôi tròng ngút.
Xem sách Pháp từng đem óc nghĩ: Dan Đà, La Lan thuở nọ, chị em mình đã dễ ai hơn,
– Giở sử nhà bỗng vỗ tay reo: Bà Trưng, Cô Triệu sau này, non nước ấy có đâu hồn chết.
Triều cách mạng đang dâng sùng sục, cát Vệ Tinh ngậm đầy trước miệng, mong thấy bể vùi,
– Vai quốc dân nặng gánh trìu trìu, đá Oa Hùng dắp sẵn trong tay, nỡ xem trời khuyết.
Tức tội cường quyền – Thi gan sấm sét.
Khi nhập đảng tuổi vừa mười tám, cơ nữ binh đăng đội tiền phong;
– Lúc tuyên truyền sách động ba quân, lưỡi biện sĩ trổ tài du thuyết.
Thổi gió phun mây từng mấy trận, nào Lâm Thao, nào Yên Bái, nữ tham mưu đưa đẩy đội hùng binh;
– Vaò sinh ra tử biết bao phen, kia thành huyện, kìa đồn binh, cờ nương tử xông pha hùm rắn rết.
Nguyễn Thái Học trổ tài kiện tướng, nhờ có cô mà lông cánh thêm dài
– Phạm thị Hào nổi tiếng trung trinh, em có chị mà xứng danh nữ kiệt.
Khốn nỗi thay!
Vận nước còn truân
– Tai trời chửa hết!
Trắc trở buồm xuôi gió ngược, tài anh thư gặp bước gian truân.
– Ngại ngùng nước biếc non xanh, tay chức nữ uổng công thêu dệt.
Nhưng hãy còn:
Thiết thạch tâm can, – Châu toàn bách chiết.
Thời như thế, việc đành phải thế, đoạn đầu đài mừng được thấy anh lên.
– Sống là còn thác vẫn là còn, súng kề cổ không nhường cho giặc giết.
Tiếng súng lúc vang lên một phát, núi đổ sông nhào!
– Hồn anh thư hẹn phút trùng lai, thần gào quỷ thét
Ôi thương ôi!
Khóc nữa mà chi!
– Nói không kể xiết!
Một nén hương lòng, – Mấy lời thống thiết!
Bạn nữ lưu ai nối gót theo chân?
– Nghĩa đoàn thể, xin từ đây cố kết!
Hỡi ơi! thương thay!
Sau đây là hai bài thơ không đề:
Sống nhục sao bằng sự thác vinh?
Nước non cho vẹn chữ chung tình
Lưỡi dao xử tử chàng không ngại
Tiếng súng quyên sinh thiếp cũng dành.
Một tấm can tràng trời đất thảm
Ngàn thu tiết tháo quỷ thần kinh
Cuộc đời xá kể chi thành bại
Trai đã trung thì gái hẳn trinh!

(Vô danh)

Tình chồng, nợ đảng, gánh giang san!
Thác xuống tuyền đài hận chửa tan.
Xương trắng nêu cao gương hiếu nghĩa,
Máu hồng in thắm chữ trung can.
Ngàn năm tồ quốc ơn ghi mãi,
Một thác tình chung nghĩa trả toàn
Thành bại mặc ai người nghị luận,
Muôn ngàn năm để tiếng Cô Giang.

(Vô danh)

Chú thích:
1.Ghi theo Khổng Đức Thiêm, bài viết đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 2 năm 1995 của Hội khoa học lịch sử Việt Nam.
Có nguồn cho biết Cô Giang sinh năm 1909.
Nhưng theo Lê Minh Quốc, thì tài liệu của nhà nghiên cứu Khổng Đức Thiêm là rất đáng tin cậy.
2.Theo sự gợi ý của nhà cách mạng Phan Bội Châu, năm 1926, Nguyễn Khắc Nhu thành lập hội Quốc Dân Dục Tài, hoạt động như kiểu Đông Kinh Nghĩa Thục để đào tạo nhân tài ra cứu nước.
Sau, ông Nhu cho đổi tên là Việt Nam Dân Quốc.
Lúc này, ngoài việc đào tạo, hội còn mở xưởng làm lựu đạn, rèn vũ khí để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa bằng vũ trang (Lược theo Lê Minh Quốc, tr. 190)
.3.Nhà văn Nhượng Tống cũng cho biết:
Anh Học lúc còn trẻ, mẹ cha đã cưới một người vợ tên là Nguyễn Thị Cửu cho anh.
Năm 1927, khi sắp lập Đảng, anh có nói với tôi (Nhượng Tống) là đã ly hôn với vợ.
Bấy giờ nhiều người như thế lắm: anh Nho, anh Chính, đều từ hôn hay cho vợ về cả.
Các anh không muốn đem cuộc đời sóng gió của mình mà làm phiền lụy đến một người đàn bà.
Ấy vậy mà có một ngày Anh tuyên bố với các bạn là Anh xin phép để được kết hôn cùng cô Giang! Điều này cho biết hai người rất yêu thương nhau.
4.Theo Lê Minh Quốc, tr. 195.
Nguồn tham khảo:
-Nguyễn Q. Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nxb KHXH, 1992.
-Lê Minh Quốc, Các vị nữ danh nhân Việt Nam. Nxb Trẻ, 2009.
-Cô Giang: nữ danh nhân đất Việt
•Nguyễn Thái Học (1902-1930). Sách do Nhượng Tống soạn,
UserPostedImage
UyenVy  
#17 Posted : Tuesday, December 27, 2011 5:16:08 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Hải Thượng Lãn Ông -Lê Hữu Trác

Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn ông(*).
Sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tý (11-12-1720) tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương. Nay là xã Hoàng Hữu Nam huyện Yên Mỹ, tỉnh Hải Dương.
Tuy nhiên, ông sống nhiều (từ năm 26 tuổi đến lúc mất) ở quê mẹ xứ Bầu Thượng, xã Tĩnh Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn và cũng qua đời ở đây vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) thọ 71 tuổi. Mộ ông nay còn nằm ở Khe nước cạn chân núi Minh Từ thuộc huyện Hương Sơn (cách phố Châu huyện lỵ Hương Sơn 4 cây số).
Hải Thượng Lãn ông: Hải Thượng là hai chữ đầu của tỉnh Hải Dương và phủ Thượng Hồng quê cha và cũng là xã Bầu Thượng quê mẹ. Lãn ông nghĩa là "ông lười", ngụ ý lười biếng với danh lợi.
Lê Hữu Trác là con thứ bảy của Lê Hữu Mưu và bà Bùi Thị Thưởng.
Dòng họ của ông có truyền thống khoa bảng; ông nội, bác, chú (Lê Hữu Kiều), anh và em họ đều đỗ tiến sĩ và làm quan to. Cha Lê Hữu Trác đỗ đệ tam giáp tiến sĩ làm Thị lang Bộ Công triều Lê Dụ Tông, gia phong chức ngự sử, tước bá, khi mất được truy tặng Thượng thư.
Năm Kỷ Mùi (1739) Lê Hữu Trác 20 tuổi thì cha qua đời, ông rời kinh thành về nhà, vừa trông nom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, thi vào tam trường, sau đó không thi nữa.
Năm 1739 cũng là năm mở ra quy mô lớn của phong trào nông dân nổi dậy chống phong kiến, chỉ một năm sau (1740) nghĩa quân của Hoàng Công Chất đánh sát huyện ông. Chàng thư sinh trẻ tuổi Lê Hữu Trác đang mê mải đèn sách phải lánh đi nơi khác đọc sách.
Có người thấy thế đã bảo ông "Binh lửa khắp nơi, con trai thời loạn há chịu già đời ở trong phòng sách mãi sao?" và khuyên ông nên theo nghề võ.
Từ đó ông vừa dùi mài kinh sử vừa nghiên cứu binh thư. Sau nhờ ẩn sĩ họ Vũ ở Đặng Xá dạy vũ thuật âm dương (phép bói toán độn số), ông "nghiên cứu trong vài năm cũng biết được đại khái, mới đeo gươm tòng quân để thí nghiệm sức học của mình" (Tựa "Tâm lĩnh
Chiến tranh phong kiến đã gây đau thương chết chóc cho biết bao nhiêu gia đình làng xóm, nó không đem lại gì cho nhân dân, cho đất nước; đã làm cho Lê Hữu Trác chán nản muốn ra khỏi quân đội, nên ông đã nhiều lần từ chối sự đề bạt của tướng nhà Trịnh.
Ông nhận ra theo Lê hay Trịnh cũng là chí theo đuổi chiến tranh "cốt nhục tương tàn"; cái chí mạnh "xung Ngưu Đẩu" của ông cũng hóa "ngông cuồng" mà thôi. (Đọc bài thơ trong lời tựa bộ "Tâm lĩnh"). Cho nên năm 1746 khi người anh ở Hương Sơn mất, ông liền viện cớ về nuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh, để xin ra khỏi quân đội, thực sự "bẻ tên cởi giáp" theo đuổi chí hướng mới.
Lê Hữu Trác bị bệnh từ lúc ở trong quân đội, giải ngũ về phải gánh vác công việc vất vả "trăm việc đổ dồn vào mình, sức ngày một yếu"
(Lời tựa "Tâm lĩnh"), lại sớm khuya đèn sách không chịu nghỉ ngơi, sau mắc cảm nặng, chạy chữa tới hai năm mà không khỏi.
Sau nhờ lương y Trần Độc, người Nghệ An là bậc lão nho, học rộng biết nhiều nhưng thi không đỗ, trở về học thuốc, nhiệt tình chữa khỏi.
Trong hơn một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông đọc sách thuốc "Phùng thị cẩm nang" hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc.
Ông Trần Độc thấy lạ, muốn đem hết cái hiểu thấu về y học truyền cho ông. Vốn là người thông minh học rộng, ông mau chóng hiểu sâu y lý, tìm thấy sự say mê ở sách y học, nhận ra nghề y không chỉ lợi ích cho mình mà có thể giúp người đời, nên ông quyết chí học thuốc.
Ở Hương Sơn, ông làm nhà cạnh rừng đặt tên hiệu Lãn Ông (ông lười) ý nói lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi, của quyền thế, tự do nghiên cứu y học, thực hiện chí hướng mà mình yêu thích gắn bó.
Giữa cảnh thiên nhiên tĩnh mịch của núi rừng Hương Sơn, sớm khuya mê mải đọc các sách thuốc: Y học nhập môn, Cảnh nhạc toàn thư, Nam dược thần hiệu (của Tuệ Tĩnh), Bảo sinh diệu toản yếu... thật là:
Sá chi vinh nhục việc đời,
Đem thân đạo nghĩa vào nơi lâm tuyền.
(Bất can vinh nhục sự
Bảo đao nhập cùng lâm.
An bần - Y lý thâu nhàn)

Hải Thượng Lãn ông muốn tìm thầy, tìm bạn để học thêm nhưng nơi núi rừng hẻo lánh "trên không có thầy giỏi để học, dưới không có bạn hiền giúp, chỉ một mình nói với mình, tự hỏi tự đáp mò mẫm tưởng tượng đủ thứ" (Lời tựa "Tâm lĩnh") để tìm ra chân lý.
Sau ông nhờ một ông lang ở làng bên đi lại thân mật, giúp ông giải đáp những mắc mớ, vài ba năm sau ông đã chữa được một số bệnh thông thường trong gia đình và làng xóm.
Mùa thu năm Bính Tý (1754) Lê Hữu Trác ra kinh đô mong tìm thầy để học thêm vì ông thấy y lý mênh mông nhưng không gặp được thầy giỏi, ông đành bỏ tiền mua một số phương thuốc gia truyền, trở về Hương Sơn "từ khước sự giao du, đóng cửa để đọc sách" (Tựa "Tâm lĩnh"), vừa học tập và chữa bệnh. Mười năm sau tiếng tăm của ông đã nổi ở vùng Hoan Châu (Nghệ An).
Sau mấy chục năm tận tụy với nghề nghiệp, Hải Thượng Lãn Ông đã nghiên cứu rất sâu lý luận Trung y qua các sách kinh điển: Nội kinh, Nam kinh, Thương hàn, Kim quỹ; tìm hiểu nền y học cổ truyền của dân tộc; kết hợp với thực tế chữa bệnh phong phú của mình, ông hệ thống hóa tinh hoa của lý luận Đông y cùng với những sáng tạo đặc biệt qua việc áp dụng lý luận cổ điển vào điều kiện Việt Nam, đúc kết nền y học cổ truyền của dân tộc.
Sau hơn chục năm viết nên bộ "Lãn Ông tâm lĩnh" gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y đức - Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng. Phần quan trọng nữa của bộ sách phản ảnh sự nghiệp văn học và tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông.
Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43 (1782) Lãn Ông nhận được lệnh chúa triệu về kinh.
Lúc này ông đã 62 tuổi, sức cũng yếu lại là người chăm lo chữa bệnh cho trăm họ, nhất là ông đã quyết chí xa lánh công danh, theo đuổi nghiệp y đã mấy chục năm nên ông nhận chiếu chỉ của chúa Trịnh với tâm trạng vừa lo lắng, vừa chán nản; mãi sau nghĩ đến bộ "Tâm lĩnh" chưa in được, mà ông "không dám truyền thụ riêng ai, chỉ muốn đem ra công bố cho mọi người cùng biết, nhưng việc thì nặng sức lại mỏng, khó mà làm được"
(Thượng kinh ký sự), nên ông hy vọng lần đi ra kinh đô có thể thực hiện việc in bộ sách, phần "con cái trong nhà cũng hết sức van nài", ông tạm làm vui từ giã gia đình, học trò rời Hương Sơn lên đường.
Ra kinh vào phủ chúa xem mạch và kê đơn cho thế tử Trịnh Cán, ông được Trịnh Sâm khen "hiểu sâu y lý" ban thưởng cho ông 20 xuất lính hầu, và bổng lộc ngang với chức quan kiểm soát bộ Hộ để giữ ông lại.
Nhưng Lãn Ông thấy nếu nhận thưởng chịu ơn thì khó lòng rời kinh đô trở lại Hương Sơn được, nên ông giả ốm không vào chầu, sau lại viện cớ tuổi già mắt hoa, tai điếc thường ốm yếu để được trọ ở ngoài.
Bọn ngự y ghen tỵ với Lãn Ông không chịu chữa theo đơn của ông, nên thế tử không khỏi, ông biết thế nhưng không hề thắc mắc với bọn thầy thuốc thiếu lương tâm này, mặt nữa ông không thật nhiệt tình chữa, kết quả để sớm thoát khỏi vòng cương tỏa của quyền thần, danh lợi.
Thời gian ở kinh đô, Lãn Ông muốn về thăm cố hương Hải Dương của mình, nhưng mãi đến tháng 9 năm 1782, sau chúa Trịnh mới cho phép ông về. Sau hơn 20 năm xa cách, được trở về mảnh đất "chôn nhau cắt rốn".
Đang sống giữa quê hương, ông lại có lệnh triệu về kinh vì Trịnh Sâm ốm nặng. Nhận được lệnh triệu, ông đành phải rời quê hương.
Về kinh ông chữa cho Trịnh Sâm khỏi và cũng miễn cưỡng chữa tiếp cho Trịnh Cán. Trịnh Sâm lại trọng thưởng cho ông. Ông bắt buộc phải nhận nhưng bụng nghĩ: "Mình tuy không phải đã bỏ quên việc ẩn cư, nhưng nay hãy tạm nhận phần thưởng rồi sau vứt đi cũng được"
(Thượng kinh ký sự).
Trịnh Sâm chết vì bệnh lâu ngày sức yếu, Trịnh Cán lên thay, nhưng Trịnh Cán cũng ốm dai dẳng nên "khí lực khô kiệt", khó lòng khỏe được, lại nóng lòng trở về Hương Sơn, Lãn ông đang tìm kế thoái lui, thì may có người tiến cử một lương y mới, ông liền lấy cớ người nhà ốm nặng rời kinh.
Hải Thượng Lãn ông trở về Hương Sơn bằng đường thủy, nhưng sợ triều đình bắt trở lại ông phao tin đi đường bộ. Thoát khỏi kinh đô ông sung sướng như "chim sổ lồng, cá thoát lưới", lòng chỉ muốn "bay nhanh" về quê nhà:
Lên đường từ giã long lâu
Gươm đàn nửa gánh ra ngay đô thành,
Ngựa quen đường cũ về nhanh,
Quay thuyền khó lúc lênh đênh giữa dòng.
Mây qua đường để bớt nồng
Núi non mở mặt như lòng vì ai
Xanh xanh một dải non đoài
Giống non ta cũ chỉ vài hòn thôi.

(Thượng kinh ký sự).
Ngày 2 tháng 11 (năm 1782) Lãn ông về đến Hương Sơn.

Gần một năm sống giữa kinh đô phong kiến biết bao công danh phú quý lôi kéo, nhưng ông "thung dung" ra đi, lại "ngất ngưởng" trở về, lòng trong không hề đục, chí lớn không hề sờn.
Năm 1783 ông viết xong tập "Thượng kinh ký sự" ghi lại tỉ mỉ chuyến đi kinh, tập ký ấy là một tác phẩm văn học vô cùng quý giá.
Mặc dầu tuổi già, công việc lại nhiều: chữa bệnh, dạy học, nhưng ông vẫn tiếp tục chỉnh lý, bổ sung, viết thêm (tập Vân Khi Bí Ðiển, năm 1786) để hoàn chỉnh bộ "Tâm lĩnh".
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác không chỉ là danh y có cống hiến to lớn cho nền y học dân tộc, ông còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của thời đại.

theo lichsu vanhoaVN

Edited by user Saturday, January 7, 2012 9:50:26 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
UyenVy  
#18 Posted : Saturday, January 7, 2012 9:49:22 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
UserPostedImage

Những Phát Ngôn Đầy Khí Phách Của Vua Hàm Nghi

"Nếu ông công nhận tôi là một vị Hoàng đế trưởng thành, tôi không cần Hội đồng nhiếp chính.
Tôi sẽ điều hành công việc đất nước ngang hàng với các nước khác, như nước Pháp".
Đó là tuyên bố của Vua Duy Tân khi Viên toàn quyền Đông Dương yêu cầu nhà vua xem lại hành động của mình và nhiều hay ít phải tỏ ra ăn năn hối hận về việc bí mật xuống chiếu kêu gọi chống thực dân Pháp.
Hoàng thái tử Vĩnh San là con thứ tám của Vua Thành Thái, lên ngôi năm 7 tuổi, lấy niên hiệu Duy Tân - có ý nghĩa là "Bạn của sự đổi mới", cùng hy vọng người Pháp có thể gây ảnh hưởng để nhà vua có thái độ thân thiện hơn với chế độ bảo hộ của họ.
Thế nhưng, càng trưởng thành, Duy Tân càng bức xúc trước những hành vi ngang ngược của người Pháp.
Khi họ đào bới khắp nơi để tìm vàng, vua phản đối quyết liệt những hành động thô bạo đó và ra lệnh đóng cửa cung không tiếp ai. Toà Khâm sứ Pháp làm áp lực với nhà vua thì Duy Tân đe đọa sẽ tuyệt giao với các nhà đương cục ở Huế lúc bấy giờ.
Thậm chí, trước đó, có giai thoại rằng, mùa hè năm nào vua Duy Tân cũng ra nghỉ mát ở cửa Tùng, một cửa biển đẹp, yên tĩnh, có bãi tắm bằng phẳng, cát trắng và mịn.
Một hôm, nhà vua từ bãi tắm lên, hai tay còn dính cát, một thị vệ liền bưng lại một thau nước ngọt mời vua rửa tay, vua vừa rửa vừa hỏi: "Tay bẩn lấy nước mà rửa, nước bẩn lấy chi mà rửa?".
Thị vệ lúng túng không trả lời được. Nhà vua bèn đặt lại câu hỏi: "Nước bẩn thì làm thế nào cho sạch?".
Thị vệ vẫn không trả lời được.
Vua Duy Tân bèn nói: "Nước bẩn thì phải tìm cách trừ khử những chất ngoại lai lẫn vào trong đó, có hiểu không?".
Tuy nhiên, theo nhiều tài liệu khác, thì nhà vua trả lời cho người thị vệ hiểu: "Nước bẩn thì lấy máu mà rửa!".
Ở đây cho thấy, dù là câu trả lời nào thì vua Duy Tân đều tỏ rõ ý chí chống xăm lăng.
Sách Kể chuyện các vua Nguyễn viết: Khi bị giam ở Mang Cá, dù rất muốn duy trì thú vui đọc sách, tập thể dục, đánh đàn và nghe hòa nhạc... như thời trong cung,
Vua Duy Tân vẫn quyết không hạ mình, đòi Pháp một sự chiếu cố nào...
Đến ngày nhà vua sắp bị dẫn lên tàu để vào Nam, bắt đầu cuộc hành trình đi đày, một viên đại diện của Khâm sứ đến thăm và hỏi: "Nhà vua có một quỹ tiền riêng lưu trữ tại kho nội vụ.
Ngài có cần lấy một ít để đi đường không?".
Vua Duy Tân đáp: "Tiền đó để cấp cho ông vua cai trị nước Nam, chứ không phải là của tôi - một người tù.
Hơn nữa, chính phủ bảo hộ không chu cấp nổi cho một người tù hay sao, mà còn phải lấy tiền mang theo.
Tôi không cần có tiền riêng".
Viên đại diện toà Khâm sứ thấy vua thèm đọc sách, bèn hỏi: "Ngài có một tủ sách quý giá đến mấy ngàn cuốn bằng Pháp văn.
Ngài có muốn lấy một bộ nào đem theo đọc cho khuây khỏa không?".
Vua Duy Tân gật đầu nhận ngay và dặn thêm:
"Sách tôi rất thích. Nhờ ông lấy giúp bộ Histoires de la Révolution Française
(Lịch sử cách mạng Pháp) của Michelet, nhưng phải lấy cho trọn bộ.
Vị đại diện toà Khâm sứ nghe thế sợ quá, không dám về báo cáo lại với phía Pháp.
Theo sử sách, ngày 6/5/1916, vua Duy Tân bị thực dân Pháp bắt tại một ngôi chùa cạnh núi Ngũ Phong, đem về giam ở đồn Mang Cá, rồi đày ra đảo Rêuyniông (châu Phi).
Khi nhận được tin nước nhà đã giành độc lập, cựu hoàng có ý định hồi hương, nhưng lại gặp nạn trong một vụ tai nạn máy bay ở xứ Banghi thuộc châu Phi ngày 26/12/1945.
Đến ngày 2/4/1987, hài cốt của cựu hoàng Duy Tân mới được đưa từ đảo Reunion về Việt Nam, rồi đưa về Huế cải táng bên cạnh vua cha Thành Thái.

Vĩnh Khang

Vĩnh Khang
UserPostedImage
UyenVy  
#19 Posted : Saturday, January 7, 2012 9:55:25 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
UserPostedImage

Giai Thoại Về Sứ Thần Giang Văn Minh

Giang Văn Minh (1582-1639) tự Quốc Hoa, hiệu Văn Chung, là quan nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam.
Ông người làng Mông Phụ (tên nôm là Kẻ Mía), thuộc xã Đường Lâm, tổng Cam Giá, huyện Phúc Lộc, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây).
Ông được mệnh danh là vị sứ thần “Bất nhục quân mệnh” (Không để nhục mệnh vua) vì đã đối đáp thẳng thắn trước triều đình Trung Quốc và bị vua Minh Tự Tông hành hình vào năm 1639, thọ 58 tuổi.
Ông từng đỗ đầu kỳ thi Hội, rồi thi Đình lại đỗ Đình nguyên Thám hoa khoa Mậu Thìn, năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) đời Lê Thần Tông.
Khoa thi này không có ai đỗ Trạng nguyên hay Bảng nhãn, vì vậy ông là người đỗ cao nhất trong cả khoa thi.
Sau khi đỗ đạt, ông lần lượt được bổ nhiệm vào các chức vụ như Binh khoa đô cấp sự trung (1630), Thái bộc tự khanh (1631).
Vào năm Dương Hòa năm thứ 3 (1637), ông và Thiêm đô ngự sử Nguyễn Duy Hiểu được vua cử làm chánh sứ cùng với 4 phó sứ là: Nguyễn Quang Minh, Trần Nghi, Nguyễn Bình và Thân Khuê dẫn đầu hai đoàn sứ bộ sang cầu phong và tuế cống nhà Minh.
Lúc này, mặc dù nhà Mạc đã bỏ chạy ra Cao Bằng, nhưng nhà Minh vẫn áp dụng chính sách ngoại giao hai mặt (với cả nhà Lê và nhà Mạc) với mục đích để cuộc chiến tranh Lê-Mạc kéo dài. Đoàn sứ bộ của Giang Văn Minh sau khi đến Yên Kinh (nay là Bắc Kinh), đã bị cản trở, phải nằm chờ ở dịch xá gần 1 năm trời.
Đến khi triều kiến, Minh Tư Tông (Chu Do Kiểm, tức vua Sùng Trinh) lấy lý do
“Vì lệ cũ không có những quy định cụ thể cho việc sắc phong, do đó trong khi còn chờ tra cứu chỉ ban sắc thư để tưởng lệ” để ngăn trở việc công nhận sự chính thống của nhà Lê và bãi bỏ công nhận ngoại giao với nhà Mạc.
Đồng thời, Chu Do Kiểm còn ngạo mạn ra cho sứ bộ một vế đối như sau:
“Đồng trụ chí kim đài dĩ lục”"
Nghĩa là:
Cột đồng đến nay rêu đã xanh
Câu này có hàm ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt"
(Cột đồng gãy thì Giao Chỉ - tức Đại Việt - bị diệt vong).

Trước sự ngạo mạn đó, Giang Văn Minh đã hiên ngang đối lại bằng câu:
"Đằng Giang tự cổ huyết do hồng"
Nghĩa là:
Sông Đằng từ xưa máu còn đỏ
Vế đối này vừa chỉnh, vừa có ý nhắc lại việc người Việt đã ba lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng.
Vào thời bấy giờ, câu đối này được xem là cái tát thẳng vào mặt vua Minh trước đông đảo văn võ bá quan của Thiên triều và sứ bộ các nước.
Chuyện kể chi tiết như sau :
Vua nhà Minh hôm ấy rất bất bình. Vào ngày khánh thọ nhà vua, các sứ giả các nước đến cống lễ thiên triều, đều mũ áo chỉnh tề, đem phẩm vật đến mừng đúng theo phép tắc.
Chỉ mỗi sứ thần Việt Nam là không thấy đâu cả.
Vua nổi giận, cho thị vệ đến nơi công quán, đòi sứ giả đến hỏi nguyên do.
Bọn lính đến nơi thấy sứ thần Việt Nam đang nằm trên giường, ôm mặt khóc nức nở.
Đem lệnh tuyên triệu ra bắt buộc, ông mới gắng gượng thất thểu đi theo chúng và triều kiến nhà vua.
Trả lời câu hỏi và cũng là lời trách cứ vì tội vô lễ, sứ thần Đại Việt quỳ xuống tâu trình:
- Chúng tôi tự biết việc dự lễ khánh thọ là hệ trọng, vắng mặt thật là điều trọng tội, kính xin thánh hoàng lượng thứ cho. Nguyên do chỉ vì hôm nay lại đúng vào ngày giỗ tổ của thần. Thần được nhận trọng trách đi sứ xa quê hương lâu ngày, gia đình ở quê thì neo đơn, đến ngày giỗ tổ mà không thắp được cây hương tưởng niệm thì thấy xót xa trong dạ.
Vì vậy mà không thể nào tham dự được cuộc vui.
Nói xong, ông lại khóc ầm lên.
Vua Minh bỗng bật cười:
- Tưởng làm sao chứ như thế thì việc gì phải khóc. Cũng đáng khen cho nhà ngươi biết giữ hiếu kính với tổ tiên.
Nhưng nếu là giỗ cha, giỗ mẹ thì còn có thể được, chứ ông tổ xa xôi như vậy thì có gì đáng phải băn khoăn cho lắm.
Người khuất, chuyện xa đã đến mấy đời, thì cũng có thể “miễn nghị”.
Vị sứ giả Việt Nam lau nước mắt, ngẩng đầu lên, giọng trầm và kiên quyết:
- Muôn tâu, lời dạy của thánh hoàng thật là quý báu.
Chính thần cũng đã nghĩ như vậy, mà vẫn không an tâm, vì thần vẫn thấy trong đời, lắm chuyện xa xôi mà không được “miễn nghị”.
Chẳng hạn như việc thiên triều bắt nước Nam của thần phải cống nạp người vàng để trả nợ Liễu Thăng chết cách đây hàng mấy trăm năm.
Mãi đến bây giờ cũng chưa miễn nghị. Nay được lời thánh hoàng ban dạy, thần cũng xin gác lại ngày giỗ tổ để cùng vui với buổi khánh tiết này.
Cúi xin thánh hoàng từ đây “miễn nghị” cho cái nợ Liễu Thăng, cho tình giao hảo hai nước khỏi bị những chuyện xa xôi kia làm bận bịu...
Vua Minh ngớ người ra! Lý lẽ của sứ thần thật mềm mỏng, ôn hòa mà chặt chẽ, kín không khe hở. Vua đành gật đầu, cho bãi bỏ lệ cống người vàng.
Tuy vậy, phải đến triều nhà Thanh, vua Quang Trung mới bắt chúng chấm dứt vĩnh viễn cái lệ này.
Câu chuyện vẫn còn tiếp tục.
Những ngày ở lại kinh đô nhà Minh, Giang Văn Minh vẫn cứ tỏ thái độ cứng cỏi, đôi lúc cũng ngông cuồng.
Có lần sau những ngày mưa gió ẩm ướt, trời nắng to, thiên hạ ai cũng đi dạo chơi, ngắm cảnh, sưởi ấm, riêng ông lại nằm nhà, ra sân, phanh bụng để... phơi nắng!
Bọn quan chức Tàu hỏi tại sao, thì ông nói:
- Lâu nay học hành, sách vở thiên hạ có bao nhiêu, đều thu cả vào trong bụng này.
Bên nước Nam, thời tiết hanh khô, chứ bên Trung Quốc thì ẩm ướt quá. Hôm nay được trời nắng to phải phơi bụng ra cho chữ trong ấy khỏi mốc!
Câu trả lời nghịch ngợm, hóm hỉnh thôi. Nhưng bọn quan lại hiểu ra là ông có ý khinh bỉ, ngạo đời.
Cái nước An Nam nhỏ bé thế mà có người lại dám ngông nghênh xấc xược!
Chúng tâu lại với vua Minh, nhà vua cũng tự ái, cứ muốn nhắc lại cho sứ giả biết rằng xưa kia nước Nam đã có thời gian nội thuộc thiên triều lâu dài.
Bởi vậy nhân một dịp thử tài ứng đối, nhà vua đã ra cho Giang Văn Minh một vế đối như sau:

Cột đồng nay rêu đã bám xanh! (Đồng trụ chí kim đài dĩ lục)
Ý muốn nhắc chuyện Mã Viện chôn cột đồng để khoe khoang chiến công xâm lược.
Cột đồng còn đó thì chiến công thiên triều còn lưu lại bây giờ.
Giang Văn Minh thấy họ chỉ thích thú với tội ác mà quên đi bao nhiêu nhục nhã từ xưa, nên cứng cỏi đáp lại:
Sông Đằng từ lâu máu vẫn đỏ!
(Đằng giang tự cổ huyết do hồng!
Máu vẫn đỏ là vì máu loang ra từ những trận Ngô Quyền diệt Hoằng Thao, Lê Hoàn diệt Hầu Nhân Bảo, Trần Hưng Đạo diệt Thoát Hoan.
Bị chạm nọc vì Giang Văn Minh ngang nhiên nhắc lại những trận thua đau của họ,
Vua Minh nổi cáu, bất chấp luật lệ bang giao, vua Minh đã trả thù bằng cách trám đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ bụng xem “bọn sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”.
Sự việc này xảy ra vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). Minh Tư Tông còn cho ướp xác ông bằng bột thủy ngân và cho sứ bộ ta đem thi hài ông về nước.
Khi thi hài của ông về đến Kinh thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng bái kiến linh cữu ông và truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công, ban tặng câu “Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng”
(tức là Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ).
Một câu đối truy điệu Thám hoa Giang Văn Minh có viết:

Thục bất hữu sinh, sinh như công dã, kỳ sinh như vinh.
Thục bất hữu tử, tử như công giả, kỳ tử do sinh.
Tức là:

Ai cũng sống, sống như ông, thật đáng sống
Ai cũng chết, chết như ông, chết như sống.

Sau khi thi hài được đưa về nước, Giang Văn Minh được chôn cất tại Đồng Dưa, thuộc xứ Gò Đông, thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm.
Trên cánh đồng này có một quán (hiện có dạng ngôi nhà) nhỏ là nơi linh cữu ông đã được quàn và gọi là quán Giang

Nguyễn Duy Cách theo lichsuVN
UserPostedImage
UyenVy  
#20 Posted : Thursday, February 2, 2012 11:24:25 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Chuyện Nàng Công Chúa triều Nguyễn Yêu Đơn phương một nhà sư


Chuyện nàng công chúa triều Nguyễn là Hoàng nữ đệ tam công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh yêu đơn phương một vị nhà sư - thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt - sau được phong là Quốc sư - đã để lại nhiều huyền tích khiến người đời vừa xúc động cảm thương nàng công chúa, vừa bội phục một vị chân tu đắc đạo.
Đi tìm sự thật về chuyện tình hoàng gia ngang trái
Ngày nay, dấu tích của mối tình có một không hai trong cung đình này vẫn còn lại dấu ấn là di tích chùa Đại Giác, nó còn gắn với câu chuyện tình đơn phương của nàng Công chúa nhà Nguyễn mà dân trong vùng ai cũng được nghe kể, thậm chí là truyền tụng với nhiều tình tiết bí ẩn huyền hoặc.
"Thiên đường tình yêu" của nàng công chúa nhà Nguyễn ngày ngóng đêm mong ấy chính là chùa Đại Giác, còn gọi là Đại Giác cổ tự, chùa Phật lớn hay chùa Tượng, xưa kia thuộc thôn Bình Hoành xã Hiệp Hòa, tổng Trấn Biên, nay là ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Theo sách Thiền sư Việt Nam ghi chép rằng, Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt, hiệu Liên Hoa là nhà sư đầu tiên ở miền Nam được phong Quốc sư vào những năm cuối đời vì trốn tránh mối tình nhiệt huyết của nàng công chúa đã sống ở ngôi chùa này
Theo tài liệu còn lưu tại Giáo hội Phật giáo TP. Biên Hòa thì vào giữa thế kỷ 17 có ba nhà sư thuộc phái Lâm Tế tông, từ Đàng Trong đến Đồng Nai hoằng hóa đạo Phật.
Nhà sư Thành Nhạc cùng một số phật tử đến vùng đất ven sông Đồng Nai (nay là xã Bửu Hòa, TP. Biên Hòa) dựng lên chùa Long Thiền (1664); nhà sư Thành Trí theo đoàn di dân làm nghề khai thác đá lên vùng núi Bửu Long cùng người Hoa ở đây dựng lên Chùa Bửu Phong (1679).
Còn nhà sư Thành Đẳng, cùng một số người chèo ghe, thuyền đến Cù lao Phố (nay là xã Hiệp Hòa, TP. Biên Hòa) khẩn hoang và dựng lên chùa Đại Giác (1665).
Buổi đầu, chùa có kích thước nhỏ hẹp, được tạo dựng bằng cột gỗ, vách ván, và lợp ngói âm dương. Thời Thiền sư Tổ ấn - Mật Hoằng trụ trì, Nguyễn Thị Ngọc Anh, công chúa thứ ba của chúa Nguyễn Phúc Ánh đã đến trú tại chùa và từ đây như một mối tình với người đàn ông khoắc áo cà sa.
Còn theo Tạp chí Bulleetin des Amis Vieux Hue năm 1915 chép như sau: Công chúa Ngọc Anh, chị vua (Minh Mạng) còn trẻ và tiết liệt. Khi Tây Sơn khởi nghĩa đã đến tu ở chùa Đại Giác, giữ cuộc sống cô độc, trầm tư mặc tưởng và tu hành hết sức sùng mộ. Nhớ ơn ngôi chùa đã che chở nàng công chúa trong thời loạn lạc, đến năm Gia Long (Nguyễn Phúc Ánh) nguyên niên (1802) lên ngôi, nhà vua sai quan trấn Trấn Biên cho binh thợ đến xây cất, đem tượng binh đến chở đất và dặm nền chùa (nên sau này người dân còn gọi là chùa Tượng).
Ngoài ra, nhà vua còn dâng cúng một pho tượng Phật A-di-đà bằng gỗ mít cao 2,25m (nên có tên là chùa Phật Lớn. Hiện tượng vẫn còn được thờ tại chùa), ban y bát và sắc phong cho Thượng tọa Phật ý-Linh Nhạc làm Hòa thượng. Mãi đến tháng 10 năm Minh Mạng nguyên niên (1820), nhà vua lại cho tu sửa chùa. Vào thời gian gia cố lại ngôi cho có nhiều ân đứng với triều Nguyễn ấy thì công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh (khi ấy đã trở lại Huế), cũng gửi vào cúng một bức hoành phi lớn khắc ba chữ "Đại Giác Tự" thiếp vàng, bên mặt có khắc:
"Tiền Triều Hoàng nữ đệ tam công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh", hiện vẫn còn treo ở phía trước chánh điện.
Lúc đó, Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt thuộc phái thiền Lâm Tế, đời thứ 35 đang tu đạo tại chùa, vốn tư chất thông minh và phẩm hạnh nghiêm mật nên được vua xuống sắc, triệu ra kinh đô Huế để giữ chức Tăng cang chùa Thiên Mụ (1813-1823) và được cử làm pháp sư giảng thuyết Phật pháp trong nội cung của vua Gia Long. Vốn Thiền sư là người tuấn tú, đức độ, oai nghiêm đĩnh đạc, thông minh, có tài hùng biện và thuyết giảng Phật pháp rất hay nên được đông đảo phật tử mến mộ.
Thiền sư có rất nhiều đệ tử trong hoàng cung.
Trong số đệ tử này có một vị Hoàng cô Nguyễn Thị Ngọc Anh, đó là Thái trưởng công chúa Long Thành, chị ruột chúa Nguyễn Phúc Ánh, cô ruột của vua Minh Mạng. Hoàng cô cũng quy y và thọ Bồ Tát giới, pháp danh Tế Minh, tự Thiên Nhựt. Trong những ngày theo học đạo, Hoàng Cô đã thầm yêu nhà sư. Do cảm mến và quá hâm mộ tài năng cũng như đức độ của Thiền sư nên Hoàng Cô đã có ý định và tìm mọi cách ràng buộc duyên trần cùng với người con của Phật.
Bi kịch tình yêu nơi cửa thiền
Nhưng bi kịch là chuyện yêu đương giữa Hoàng cô và vị Quốc sư này đương nhiên là không thể, nên Thiền sư đã chọn phương pháp "tránh duyên" bằng cách xin về trụ trì chùa Từ Ân ở Gia Định.
Năm 1821, Hoà thượng Phật Ý-Linh Nhạc viên tịch, mượn cớ này, thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt trở về chùa Từ Ân (Gia Định) chịu tang sư phụ rồi ở lại luôn. Những tưởng tránh được nghiệp duyên, nào ngờ ở hoàng cung, Hoàng Cô bỗng thấy thiếu vắng, nhung nhớ Thiền sư khôn nguôi. Thế rồi bà tìm cớ xin phép vua vào Gia Định, gọi là để cúng dường chùa Từ Ân, nhưng thật ra là để gặp Thiền sư cho thỏa lòng nhung nhớ.
Tháng mười, năm Quý Mùi (1823), Thiền sư đang uống trà đàm đạo ở chùa Sắc Tứ Từ Ân, bỗng có tin báo Hoàng Cô vâng lệnh vua đến cúng dường chùa. Nhận được tin, Thiền sư lo âu trong dạ, không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Thế rồi Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt quyết định lánh mặt nên đã lên chùa Đại giác ở Cù lao Phố, tỉnh Biên Hòa để nhập thất hai năm. Hoàng Cô ở chùa Từ Ân, không thấy Thiền sư đến tiếp kiến, hỏi tăng chúng thì mọi người đều nói là không biết thiền sư Liên Hoa ở đâu.
Không gặp được "người yêu", tâm bịnh thêm nặng nên sức khỏe Hoàng Cô ngày một sa sút trầm trọng. Sợ nguy hại cho bổn tự nên cuối cùng mọi người đành tiết lộ sự thật. Được tin này, Hoàng Cô thông báo với quan trấn Gia Định là mình lên chùa Đại Giác để cúng dường. Quan Tổng trấn cử phái đoàn hộ tống Hoàng Cô lên chùa Đại Giác.
Sau khi đến chùa dâng lễ cúng dường và nhờ đưa đến tịnh thất của thiền sư Liên Hoa.
Hoàng cô với tâm thành kính đảnh lễ trước tịnh thất và xin gặp mặt Thiền sư lần cuối trước khi hồi kinh.
Thiền sư không trả lời. Hoàng cô suy nghĩ kế khác, bèn quỳ trước cửa thất thưa rằng: "Nếu Hoà thượng không tiện ra tiếp, xin Hoà thuợng cho con nhìn thấy bàn tay của Hòa thuợng, đệ tử cũng hân hoan mà ra về".
Im lặng vài phút, Thiền sư đưa bàn tay ra cửa nhỏ nơi đưa thức ăn vào thất, Hoàng cô vội ôm bàn tay hôn một cách trìu mến, rồi sụp lạy xuống và khóc sướt mướt..
Tưởng rằng khi ôm hôn được bàn tay của Thiền sư thì mọi chuyện sẽ lắng xuống. Nhưng không ngờ, ngay đêm hôm ấy, vào khoảng canh ba, trong khi mọi người đang yên giấc, bỗng thấy tịnh thất của Thiền sư phát hỏa, mọi người chạy ra dập lửa thì tịnh thất đã cháy rụi.
Nhục thân của thiền sư cũng cũng cháy đen. Mọi người đang bàn tán, xôn xao, có người phát hiện bài kệ của thiền sư viết bằng mực đen trên vách chánh điện:

"THIỆT đức rèn kinh vẹn kiếp trần
THIỆT đức rèn kinh vẹn kiếp trần
THÀNH không vẩn đục vẫn trong ngần
LIỄU tri mộng huyễn chơn như huyễn
ĐẠT đạo mình vui đạo mấy lần".

Thiền sư Liên Hoa biết cuộc đời này là mộng huyễn ảo ảnh nên đã dùng ngọn lửa để thức tỉnh và giáo hóa Hoàng Cô.
Nhưng có lẽ do duyên nghiệp nhiều đời nhiều kiếp, nên ngọn lửa ấy đã không đạt được kết quả như mong muốn. Sau khi làm lễ cúng thất tuần Hòa thượng Liên Hoa xong, Hoàng Cô rất buồn bã và cho biết rằng bà sẽ ở lại chùa Đại giác cho đến ngày khai mộ mới hồi kinh.
Nhưng ngay ngày hôm sau, Hoàng Cô uống độc dược quyên sinh tại hậu liêu chùa Đại giác nhằm ngày mồng 2 tháng 11 năm Quý Mùi (1823). Hoàng cô công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh chết theo Thiền sư để lại sự cảm động cho triều đình và nhân dân khắp vùng. Từ đó, ngôi chùa trở nên nổi tiếng và được các đời vua nhà Nguyễn chăm sóc đặc biệt.

theogiaithoailichsuVN
UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest
2 Pages12>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.