Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

51 Pages«<2627282930>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#541 Posted : Tuesday, January 15, 2019 12:16:53 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 14,876

Thanks: 6763 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage


UserPostedImage

Edited by user Tuesday, January 15, 2019 12:38:21 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
hongvulannhi on 1/17/2019(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#542 Posted : Tuesday, January 15, 2019 2:43:57 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 14,876

Thanks: 6763 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)

FB - Mai Vang

BÀI VIẾT RẤT HAY, RẤT NÊN ĐỌC?
Người có một chút tự trọng về tinh thần đất nước của người VN phải đọc bài viết này để hiểu về tinh thần Quốc Gia Dân Tộc sắp bị mai một? Bài hơi dài, tác giả viết đã gần một thế kỷ rồi! Phạm Quỳnh những người trẻ tuổi chắc không biết ông này đâu và đã bị cộng sản giết chết?


UserPostedImage

Bàn về Quốc học
(bài báo của Phạm Quỳnh năm 1931)




“Cái học của Đông phương vẫn có cái bổn chất phong phú, cái tinh thần thâm trầm thật, nhưng chính là thiếu mất cái quan niệm về khách quan, không quen biết sự đích xác là gì. Nay há lại không thể đem cái hình thức của khoa học Tây phương mà ứng dụng về nội dung của học thuật Đông phương được dư? (Lời của một nhà phê bình Pháp)”

Nước Nam ta có một nền quốc học chân chính không?

Câu hỏi đó gần đây đã làm đầu đề cho một cuộc tranh luận rất thú vị. Ông Lê Dư trong báo Đông tây ở Hà Nội thì quyết rằng có, ông Phan Khôi trong báo Phụ nữ ở Sài Gòn thì quyết rằng không.

Quốc học không phải là một vật có thể giấu diếm đi được, hay là cần phải tìm tòi mới ra. Nếu quả có thật thì nó sờ sờ rõ rệt ra đó, ai còn chối được, mà phải đến người nọ nói có, người kia nói không! Sở dĩ phải khởi ra câu hỏi đó, đủ biết rằng nếu nước ta đã từng có một nền quốc học, thì cái quốc học ấy cũng là nhỏ nhen eo hẹp, không có gì đủ đem khoe với thiên hạ.

Nay chứng xét lịch sử, thấy quả như vậy. Nước Nam ta mấy mươi thế kỷ theo học nước Tàu, chỉ mới là một người học trò khá, chưa hề thấy dám thoát cửa thầy mà lập nên môn hộ riêng. Không những thế, lại cũng thường không lọt được ra ngoài vòng “giáo khoa” mà bước lên tới cõi “học thuật” nữa. Như vậy thì làm sao cho có quốc học được?

Anh hùng ta có, liệt nữ ta có, danh sĩ cao tăng ta cũng có; nhưng trong cõi học nước ta, cổ kim chưa có người nào có tài sáng khởi, phát minh ra những tư tưởng mới, thiết lập ra những học thuyết mới, đủ có cái vẻ độc lập một “nhà” đối với các “nhà” khác, như bách gia chư tử bên Tàu ngày xưa. Hay thảng hoặc cũng có mà mai một đi mất, sử sách không truyền chăng? Nhưng phàm đã gọi là một cái học phái thì phải có cảm hóa người ta sâu xa, phải có ảnh hưởng trong xã hội, phải gây ra một cái phong trào tư tưởng, không thể tịch mịch ngay đi mà không còn tăm hơi gì nữa. Cho nên dầu nay kê cứu trong các sách cổ, tìm kiếm ra được năm ba cái ý kiến lạ hay cái tư tưởng kỳ của một vài bậc tiền bối lỗi lạc, như vậy cũng chưa đủ chứng rằng nước ta có quốc học đặc biệt với cái học cố hữu của bên Tàu truyền sang.

Ngay cái học mượn của người đó, ta học cũng chửa đến nơi. Nhà nho ta, ngoài mấy bộ kinh truyện là sách giáo khoa của phái Khổng Mạnh, mấy ai đã từng thiệp liệp đến bách gia chư tử. Ai đã từng nghiên cứu đến học thuyết họ Mặc họ Dương, đến Lão, Trang, đến Phật học? Ngay trong Nho giáo, cũng chỉ biết đến Tống nho là cùng, còn Minh nho thì mang nhiên không hiểu chi hết. Như Vương Dương Minh phản đối cái Nho học hẹp hòi của các thầy nhà Tống mà phát minh ra một cái thuyết mới có ý vị thâm trầm hơn, ở nước ta hầu như không ai biết đến. Ở Nhựt Bổn thì phái Vương học lại thạnh hành lắm, không những có ảnh hưởng trong học giới, mà lại tiêm nhiễm cả phong tục, có người cho là cái võ sĩ đạo của nước ấy chính sở đắc ở Vương học nhiều. Nhựt Bổn cũng là học trò của Tàu, cũng mô phỏng văn hóa của Tàu trong mấy mươi đời, nhưng họ biết lựa lọc kén chọn, họ không có phóng chép một cách nô lệ như mình. Cho nên tuy về đường tư tưởng học thuật họ vẫn chịu ảnh hưởng của Tàu nhiều, nhưng họ cũng có một nền quốc học của họ, dầu không được rực rỡ cho lắm, mà vẫn có đặc sắc khác người.

Đến như ta thì khác hẳn. Ta học của Tàu mà chỉ học thuần về một phương diện cử nghiệp, là cái học rất thô thiển, không có giá trị gì về nghĩa lý tinh thần cả. Mài miệt về một đường đó trong mấy mươi đời, thành ra cái óc đê liệt đi mà không sản xuất ra được tư tưởng gì mới lạ nữa.

Dầu thế nào mặc lòng, người phụng sự cái chủ nghĩa quốc gia, đoái nhìn lại cõi học của nước nhà, thấy vắng vẻ tịch mịch, không khỏi rầu lòng mà lấy làm than tiếc. Gặp những lúc trong lòng bối rối, trong trí băn khoăn, mở đống sách cũ của tiền nhân để lại, muốn tìm kiếm lấy một vài cái tư tưởng hoặc cái học thuyết gì thiết tha thâm trầm đủ đem ra đối phó với đời, thì chỉ thấy các cụ ngâm hoa vịnh nguyệt, lập lại mấy câu sáo cũ của người Tàu, ôn lại những bài học cũ từ xưa đến giờ, không khám phá được điều gì mới lạ về võ trụ nhân sanh cả, thật lấy làm thất vọng vô cùng.

Nói thế không phải là bội bạc với tiền nhân, nhưng sự thật thế nào ta phải công nhận như thế. Ta vẫn có nước, nước ta vẫn có tiếng là ham học, nhưng cả nước ví như một cái trường học lớn, cả năm thầy trò chỉ cùng nhau ôn lại mấy quyển giáo khoa cũ, hết năm ấy đến năm khác, già đời vẫn không khỏi cái tư cách làm học trò! ấy cái tình trạng sự học ở nước ta từ xưa đến nay và hiện ngay bây giờ cũng vẫn thế. Vì ta đừng tưởng rằng cái tâm lý học trò đó, ngày nay học ta đã gột rửa được sạch đi đâu. Xưa kia học sách Tàu thì làm học trò Tàu, ngày nay học sách Tây cũng chỉ làm học trò Tây mà thôi. Duy có khác là cái nghiệp làm học trò Tàu thì đã kinh quá mấy mươi đời, mà cái kết quả “tiêu cực” của nó đã rành rành ra đó; còn cái nghiệp làm học trò Tây thì mới trên dưới năm sáu mươi năm mà thôi, còn có thể mong rằng sau nầy có lẽ thành được cái kết quả “tích cực” chăng. Song cứ xem gương như bây giờ, thì cũng không lấy gì làm vui lòng cho lắm: xét những tay xuất sắc trong làng Tây học, phần nhiều cũng còn chưa thoát được cái tâm lý học trò đó; bọn đàn anh khi xưa thì dặm lại mấy câu sáo cũ của Tàu, bọn đàn em bây giờ cũng lại dặm lại mấy câu sáo mới của Tây đó mà thôi, chưa mấy ai là rõ rệt có cái tư cách, – đừng nói đến tư cách nữa, hẳn có cái hy vọng mà thôi, – muốn độc lập trong cõi học vấn tư tưởng cả.

Như vậy thì ra giống ta chung kiếp chỉ làm nô lệ về đường tinh thần hay sao? Hay là tại thần trí của ta nó bạc nhược quá, không đủ cho ta có cái óc tự lập? Hay là bởi những duyên cớ gì khác nữa?

Cái đó cần phải xét cho tường.

Từ xưa đến nay, nước ta quả không có quốc học thật. – Bởi tại làm sao?

Từ nay về sau, ta có thể gây được một nền quốc học không? – Phải làm thế nào?

Tuy nói quốc học ai cũng hiểu rồi, song cũng nên định nghĩa qua cho khỏi lầm. Quốc học là gồm những phong trào về tư tưởng học thuật trong một nước, có đặc sắc khác với nước khác, và có kết tinh thành ra những sự nghiệp trước tác, lưu truyền trong nước ấy và ảnh hưởng đến các học giả trong nước ấy.

Cứ nghĩa tuyệt đối thì không nước nào hẳn có quốc học đặc biệt, nghĩa là tự mình gây dựng ra, không phải nhờ mượn của người, trừ ra mấy nước tổ văn minh trong thế giới như Tàu, ấn Độ, Ai Cập, Hy Lạp không kể.

Nhưng cứ nghĩa tương đối thì mỗi dân tộc hấp thụ được cái văn minh học thuật của ngoài, tất có biến hóa theo tinh thần riêng của mình, mà thành hẳn của riêng mình. Bởi thế nên nước Pháp, nước Anh, nước Đức, v.v…, tuy về đời trước thời nguồn gốc vẫn là do ở Hy Lạp, La Mã mà ra, mà về sau thời thường chịu ảnh hưởng lẫn của nhau nhiều, nhưng nước nào cũng có cái văn minh học thuật riêng của nước ấy, không giống với các nước kia; học thuật riêng đó, tức là quốc học của mỗi nước. Như nước Nhựt ở á Đông ta cũng vậy, thật là “con tinh thần” (fils spirituel) của nước Tàu, đồng văn đồng hóa với Tàu, nhưng vẫn có một cái lối học riêng của họ, tuy cũng xuất ở Tàu mà ra, mà có cái đặc sắc khác với Tàu, có thể gọi là quốc học của Nhựt Bổn được.

Đến như ta thì mượn cái học của người mà không hóa được theo tinh thần của mình, không gây được thành một nền quốc học cho mình, là bởi cớ sao vậy?

Nói rằng vì giống mình kém hèn hẳn, thì có lẽ phụ cái óc thông minh của các cụ đời trước, và cũng không đúng với sự thật chăng. Nhưng nói rằng vì tình thế khiến nên mà sau tạo thành một cái tâm lý riêng không lợi cho sự học vấn tư tưởng tự do, thì có lẽ đúng hơn.

Tình thế ấy thuộc về địa lý, thuộc về lịch sử, lại cũng thuộc về chánh trị nữa.

Thuộc về địa lý là nước ta tiếp cận ngay với nước Tàu, đối với Tàu, dầu sau khi ta độc lập rồi, vẫn coi như một nước phụ dung, một nước phiên thuộc. Ta chỉ là một bộ phận trong cái thế giới Chi-na mà thôi. Thông tục thường có câu: Nước Tàu như cái áo, nước ta như cái giải. Thật thế: nước ta – nhứt là xứ Bắc kỳ là nơi phát tích của nước ta, – chẳng qua là một tỉnh Quảng Đông lạc về phía nam mà thôi, người dân vốn cũng là một giống trong các giống Bách Việt như người Quảng Đông, nhờ đất liền nên sự giao thông lại càng thân mật lắm. Người Tàu tiện đường tràn sang nước ta, hoặc bằng cách chiến tranh, hoặc bằng cách hòa bình, cứ luôn luôn, hết đời ấy sang đời khác, không hồi nào là không. Cho nên nước ta, dầu có biệt lập thành nước, nhưng về đường địa lý vẫn là tùy thuộc nước Tàu. Khác với Nhựt Bổn, là một đảo quốc cách biển, người Tàu không trực tiếp sang được, nên không bị xâm lấn bao giờ. Có giữ được độc lập về thổ võ, mới giữ được độc lập về tinh thần.

Thuộc về lịch sử thì sự quan hệ của ta với Tàu lại mật thiết hơn nữa. Giống Giao Chỉ ta, từ khi mới thành bộ lạc đã bị người Tàu thống trị rồi. Trong mười thế kỷ, ta sống ở trong vòng khuôn nước Tàu, không khác gì như một bộ phận của Tàu vậy. Đến khi lập thành nước, từ thế kỷ thứ 10, thì cái dấu vết của người Tàu đã hình như in sâu vào trong trí não ta rồi. Tự bấy giờ tiếng gọi là một nước, được độc lập về đường chánh trị, nhưng nào đã hoàn toàn độc lập đâu, chỉ những lo lắng, những khó nhọc, những chật vật đối với cái nước láng giềng mạnh kia nó chỉ lăm le định tràn sang mà chiếm lấy mình, mà thật nó cũng đã tran sang đến mấy mươi lần, lần nào mình cũng cực khổ, dùng hết nỗ lực mới đuổi nó đi được. Thành ra cả cuộc lịch sử của nước Nam ta là một cuộc chiến đấu vô hồi vô hạn đối với người Tàu, hoặc bằng võ lực, hoặc bằng ngoại giao, hằng ngày chỉ nơm nớp sợ lại bị nội thuộc lần nữa. Cái công của các tiên dân ta chống giữ cho non sông đất nước nhà, can đảm vô cùng, kiên nhẫn vô cùng, thật là đáng cảm phục. Nhưng cả tinh lực trong nước đều chuyên chủ về một việc cạnh tranh để sanh tồn đó, cạnh tranh với một kẻ cường lân hằng ngày nó đàn áp, để cố sanh tồn cho ra vẻ một nước độc lập, thì còn có thời giờ đâu, còn có dư sức đâu mà nghĩ đến việc khác nữa. Cái quan niệm quốc gia bị nguy hiểm luôn nên thường lo sợ luôn, chiếm mất cả tâm tư trí lự, không còn để thừa chỗ cho những quan niệm khác về văn hóa, về mỹ thuật gì nữa. Nói riêng về học thuật thì đã sẵn cái học của Tàu đó, tiêm nhiễm vào sâu từ thuở mới thành dân thành nước, không thể tưởng tượng rằng ngoài sách vở của thánh hiền còn có nghĩa lý gì khác nữa; sau đời Lý đời Trần là hồi Phật học còn thạnh hành, rồi chỉ độc tôn có một phái Nho học cho là đạo chính truyền, ngoại giả không dám có tư tưởng gì khác, sợ bị mang tiếng là “dị đoan”. Cái lệ “con chiên” theo đạo nước người thường hay “ngoan đạo” hơn là chính người nước phát hành ra cái đạo ấy. Thường nghiệm người Nam mình theo đạo Gia-tô lại mộ đạo hơn người Tây nhiều. Xưa kia theo đạo Nho có lẽ cũng sùng đạo hơn người Tàu vậy. Vả lại học thuật mà đã dính có tính cách tôn giáo thì không thể sao tấn tới được nữa. Không những ở nước ta, ở ngay nước Tàu cũng vậy: từ khi cái học của Khổng Mạnh, trước bị Hán nho, rồi sau đến Tống nho, lập thành đạo có tín điều, có giáo lý, có lễ nghi hình thức phân minh, thời không phải là học thuật nữa, mà nghiễm nhiên thành tôn giáo rồi. Người theo đạo đâu có dám nghị luận về lẽ đạo nữa. Nếu còn dám dị nghị điều gì, hay là ăn ở khác với lẽ đạo, thì là có tội với danh giáo, ắt phải trục xuất ra ngoài giáo hội rồi!

Thuộc về chánh trị thì cái tình thế cũng khốn nạn như vậy. Nho học lợi cho cái chánh thể quân chủ chuyên chế, nên các đế vương nước ta lại càng tôn sùng lắm. Đời Lý đời Trần, cái phong trào Phật học còn thạnh, nên nhân tài trong nước, thường thường vẫn có người xuất ở trong hàng tăng lữ. Tự cuối Trần đầu Lê trở về sau, thì bao nhiêu nhân tài là đúc theo cái khuôn khoa cử của Nho giáo cả. Cái chế độ khoa cử thật là một cái quà rất hại mà nước Tàu đã tặng cho ta. ở ngay bên Tàu nó đã hại mà sang đến ta cái độc của nó lại gấp mấy lần nữa. Bao nhiêu kẻ anh tuấn trong nước đều phải đúc vào cái khuôn ấy cả, nếu không thì không thể ra thi thố gì với đời được nữa. Nhưng đã đúc vào cái khuôn ấy rồi thì thần trí eo hẹp lại sao mà còn có tư tưởng, có học vấn tự do được nữa. Người Nhựt Bổn họ hơn mình chính là vì họ không mắc phải cái vạ khoa cử như mình. Họ bắt chước cái gì của Tàu thì bắt chước, chớ đến cái lối khoa cử thì họ không chơi. Đời Đứ Xuyên (Tokugawa) cũng đã có một hồi thi hành cái chế độ hãm hại nhân tài, nô lệ thần trí đó, nhưng mà sĩ phu trong nước họ không chịu, nên cũng không thể bền được. ở nước ta thì đến năm sáu trăm năm sanh trưởng trong cái chế độ ấy, trách nào cái khí tinh anh trong nước chẳng đến tiêu mòn đi hết cả. ở Văn Miếu Hà Nội còn mấy dãy bia kỷ niệm các cụ đỗ tiến sĩ về đời Hậu Lê; trong đó chắc có nhiều bậc nhân tài lỗi lạc, nhưng vì mài miệt về đường khoa cử, nên đều mai một mất cả, tên còn rành rạnh trên bia đá đó, mà có sự nghiệp về đường học vấn tư tưởng được những ai?

Nói tóm lại thời địa lý, lịch sử, chánh trị đều như hiệp sức nhau lại mà gây cho nước ta một cái tình thế rất bất lợi cho sự học vấn tư tưởng. Bao nhiêu những người khá trong nước đều bị cái tình thế ấy nó áp bách trong mấy mươi đời, nên lần lần tập thành một cái tâm lý riêng, là cái tâm lý ỷ lại vào người, chớ không dám tự lập một mình; trong việc học vấn thì cái tâm lý ấy tức như trên kia gọi là cái tâm lý làm học trò suốt đời vậy.

Nước ta ở ngay cạnh nách nước Tàu, từ hồi ấu trĩ cho đến lúc trưởng thành đều núp bóng nước Tàu mà sanh trưởng cả, khác nào như một cái cây nhỏ mọc bên cây lớn, bị nó “cớm” không thể nào nẩy nở ra được.

Nhưng trước kia mọc dưới bóng cây “đa” phương Đông, đã bị “cớm” mà không lên cao được, chỉ sợ nay mọc dưới bóng cây “sên” phương Tây, cũng lại bị “cớm” mà cằn cọc hẳn lại, thì thôi, còn mong mỏi gì nữa!

Song nay ta đã tỉnh ngộ rồi, thì ta nên kíp tìm phương bổ cứu.

Mới đây tôi có viết một bài luận bằng Pháp văn đăng trong báo Tây nói về sự đồng hóa (Bài ấy nguyên văn chữ Pháp có lục đăng vào phần Phụ trương kỳ Nam phong trước). Tôi nói rằng đồng hóa có nhiều cách: có cách đồng hóa đến không còn cốt cách tinh thần gì của mình nữa, mà biến hẳn theo người; có cách đồng hóa lấy những cái hay của người mà vẫn giữ được cốt cách tinh thần của mình, lại bồi bổ vào cho mạnh mẽ thêm lên. Cách đồng hóa trên là cách ta đồng hóa với Tàu ngày xưa đó, kết quả đến ngày nay anh em ta phải than rằng nước ta không có quốc học. Gương trước còn đó, ta phải soi đấy mà liệu đường đi sau nầy. Nếu ngày nay ta lại đồng hóa theo Tây như ngày xưa đồng hóa theo Tàu, thì giả sử có thành công nữa cũng phải đến mấy mươi đời, mà rốt cuộc lại cũng chỉ thành một bản phóng mờ của nước Pháp, chớ chẳng có tinh thần cốt cách gì cả. Rồi hai trăm, ba trăm năm về sau nầy, lại có ông Phan Khôi nào hậu sanh đó, trông thấy cõi học nước nhà vẫn vắng vẻ tịch mịch, không khỏi thở dài mà than rằng: “Quái! nước ta học Tây đến ba bốn trăm năm mà vẫn chưa có một nền quốc học riêng!” – Bấy giờ không phải là trong nước không có lắm tay làm thơ làm văn Tây giỏi chẳng kém gì người Tây, tức như các cụ ta ngày xưa cũng lắm tay làm thơ làm văn Tàu, chẳng kèm gì người Tàu; nhưng cũng chỉ đến thế thôi, chớ ngay trong làng thơ văn xưa kia chưa cụ nào được bằng Lý Đỗ Tô Hàn, thì sau nầy có lẽ cũng không ai bằng Victor Hugo hay Anatole France được, vì cái nghiệp học mượn viết nhờ có đời kiếp nào cho bằng hẳn người ta; thơ văn còn thế, đến học vấn tư tưởng tất lại còn kém hơn nữa.

Vậy thời ngày nay nếu ta phải đồng hóa theo Tây, – mà cái đó là tất nhiên, vì lẽ chánh trị, lẽ kinh tế, lẽ văn hóa bắt buộc ta càng ngày càng phải giao tiếp với người Tây, – ta nên đồng hóa một cách có ý thức, có nghĩa lý, nên kén chọn lấy những cái hay của người ta mà bắt chước, nên xét xem mình thiếu những gì mà học tập lấy của người ta để bồi bổ cho mình.

Nói riêng về đường học thuật, – mà học thuật là chủ não của văn minh, – thì học thuật của Đông phương ít tấn tới, học thuật của Tây phương mau phát đạt, là vì người Tây họ có cái quan niệm về khoa học, mà người Đông phương mình thì không có vậy.

Khoa học đây là nghĩa rộng, không phải là nói về cái khoa chuyên môn, như lý học, hóa học, thiên văn học, địa lý học đâu. Khoa học đây là nói về cái phương pháp, cái tinh thần của sự học do người Thái Tây khởi xướng ra. Khoa học là lối học phân ra khoa loại, đặt thành phương pháp, để cầu lấy kết quả đích xác, tìm lấy chân lý sự vật. Khoa học là phép học chỉ châu tuần trong cõi thực tế, không mơ tưởng những sự huyền vi. Khoa học là sự học lấy lý luận làm tiên phong, lấy thật nghiệm làm hậu kính, lấy sự thiệt hiển nhiên làm căn cứ, lấy lẽ phải tất nhiên làm mục đích.

Lối học như vậy thì Đông phương ta thật không có. Đông phương chỉ có đạo học, chớ không có khoa học. Đạo học với khoa học khác nhau thế nào, Lương Khải Siêu trong bài tựa bản tiết yếu sách Minh nho Học án có phân biệt như sau nầy, tưởng cũng xác đáng lắm: “Đạo học với khoa học, phải nên phân biệt cho rất rõ. Đạo học là cái học thụ dụng, tự mình tìm lấy được, chớ không phải đợi ở ngoài, cổ kim đông tây cũng chỉ có một, chớ không có hai. Khoa học là cái học ứng dụng, nhờ cách biện luận tích lũy mà thành ra, tùy cái trình độ văn minh trong xã hội mà tiến hóa. Cho nên khoa học chuộng mới, đạo học thời những lời nói cũ tự trăm ngàn năm về trước, kẻ hiền triết đời nay vị tất đã nói được hay hơn; khoa học chuộng rộng, đạo học thời một lời nói một nửa câu, có thể đem ra mà thụ dụng suốt cả đời không hết. Lão tử nói rằng: Vi học nhật ích, vi đạo nhật tổn 爲學日益, 爲道日損(làm việc học thì ngày càng nhiều lên, làm việc đạo thì ngày càng ít đi). Học ấy là nói khoa học, mà đạo ấy là nói đạo học vậy”.

Lương Khải Siêu nói mấy câu đó, kể cũng là khám phá lắm vậy. Đông phương với Tây phương khác nhau chính là ở cái quan niệm về sự học đó.

Cái học của Đông phương là đạo học, là cái học “thụ dụng” nghĩa là dùng cho mình, là cái học “nhật tổn” nghĩa là càng nhập diệu bao nhiêu thì những cái chi tiết bề ngoài nó càng bớt đi bấy nhiêu, mà chỉ còn lại cái tôn chỉ thâm trầm cao thượng, là cái tôn chỉ học làm nhà đạo đức, làm ông thánh hiền ở đời. Đã là “thụ dụng” thì là thuộc về phương diện chủ quan, người nào tâm đắc là người ấy được, không cần mà cũng không thể đem tuyên truyền ban bố ra cho thiên hạ được. Đã là “nhật tổn” thì học càng thâm, càng quy nạp lại mấy điều cốt yếu, tự mình giác ngộ là đủ, không cần phải suy diễn ra cho nó rờm rà bề bộn làm gì.

Nay ta làm án cổ nhân mà buộc cho cái tội không gây nổi một nền quốc học cho nước nhà, ta cũng phải nghĩ lại mà lượng xét cái quan niệm về sự học của các cụ là thuộc về đạo học như vừa giải nghĩa đó. Các cụ đã có cái quan niệm như vậy thì học là chủ để thụ dụng, cốt là trau dồi cái nhân cách mình thế nào cho có thể hi thánh hi hiền được, chớ không phải cốt lập ra học thuyết để truyền cho đời vậy. Các cụ dạy học trò cũng là đem cái tâm thuật mà truyền cho học trò, khiến cho người nào có tư cách thì tự mình tâm đắc lấy, mà lại đem thụ dụng cho mình. Vậy muốn phán đoán về các cụ cho công bằng thì phải xét các cụ về cái chỗ thụ dụng đó, nghĩa là xét các cụ làm người thế nào, ra đời thế nào, xử trí những lúc lâm nguy thế nào, chớ không phải xét cái lý thuyết của các cụ hay hay dở, có hay không vậy. Nếu xét ở cách học để làm người của các cụ, thì ta thật đáng thờ các cụ làm ông cha, chớ không phải vì các cụ mà xấu hổ vậy.

Song đạo học là cái học để làm thánh hiền, ở vào đời nay, có đâu được bằng cái học cho được giàu mạnh. Khoa học tức là cái học cho được giàu mạnh đó. Lấy về công dụng mà xét thì khoa học đích hẳn là thích hợp với đời nầy hơn là đạo học. Các nước Thái Tây được phú cường như bây giờ là nhờ ở khoa học. Ta muốn sanh tồn được ở đời nầy, ta cũng phải cần có khoa học.

Nhưng đó là đứng về phương diện duy lợi mà nói. Bàn về học thuật, không nên thiên về sự lợi ích, chỉ nên nói về nghĩa lý mà thôi.

Nói về nghĩa lý thời khoa học cũng có lắm cái hay lắm. Những cái hay đó, người Âu Tây cũng không phải là một sớm một mai mà tìm ngay được. Hy Lạp La Mã đời xưa cũng chưa biết khoa học là cái gì. Cái học cổ của họ cũng chỉ là đạo học mà thôi, mà trong khoảng đời Trung cổ thời cũng là phiền toái lôi thôi lắm; lại thêm quyền áp chế của Giáo hội Gia-tô nữa, có lẽ còn tệ hại độc ác hơn là cái quyền chuyên chế của Nho giáo ở Đông phương ta. Nhưng từ thế kỷ thứ 16, ở Âu châu họ có một cuộc cách mạng về tinh thần, đề xướng lên cái quyền tự do phê phán, đem cả các học thuyết cổ sát hạch lại, rồi lần lần mới nẩy ra cái quan niệm về khoa học đời nay.

Như vậy thì cái quan niệm về khoa học của Thái Tây mới mầm mống ra tự thế kỷ thứ 16 mà thôi, mà cũng còn hun đúc mãi đến thế kỷ thứ 19 mới thật là xuất hiện ra một cách rực rỡ. Từ đấy thời mỗi ngày một phát đạt, thiên biến vạn hóa, đổi mới cả mặt địa cầu, có trong khoảng một thế kỷ mà làm cho thế giới tiến hóa mau bằng mấy ngàn năm về trước.

Nay chúng ta tiếp xúc cái văn minh của Thái Tây, mới biết đến cái giá trị cùng cái sức mạnh của khoa học, thì ngoảnh lại xét mình, thấy cái óc mình dường hãy còn như cái óc của người Tây về trước thế kỷ thứ 16 vậy. Vậy nếu ta có muốn tiến hóa cho bằng người, thì ta cũng phải làm một cuộc cách mạng về tinh thần, như người Âu Tây về thế kỷ thứ 16, cách mạng một cách hòa bình mà thôi, vì đường lối người ta đã đi qua, mình cứ việc theo, không phải khó nhọc gì.

Mục đích của sự cách mạng đó, không phải là phá cái đạo học cố hữu của mình đi đâu, nhưng cốt là gây lấy cái quan niệm khoa học mà bổ thêm vào. Hai đàng tuy khác nhau, nhưng không tất nhiên là phản trái nhau. Cái học thụ dụng với các học ứng dụng có thể kiêm cả cũng được. Dạy cái học thụ dụng là thuộc về cá nhân, thuộc về chủ quan, là phần riêng của mỗi người, không cần và cũng không thể truyền dạy được; cái học ứng dụng là thuộc về phổ thông, thuộc về khách quan, là của chung của xã hội, có thể dùng làm cái lợi khí để trao đổi tri thức, để xúc tiến tư tưởng, để bồi đắp lấy một cái nền quốc học cho sau nầy được.

Vậy thời việc cần cấp bây giờ là phải đem cái quan niệm về khoa học của Âu Tây ra mà phân tích cho tinh tường. Khi đã dò được đến nơi, tìm được manh mối rồi, thì phải tập dùng cái phương pháp của khoa học mà nghiên cứu những nghĩa lý cổ của Đông phương mình. Vì cái khoa học sẵn có của Thái Tây, thì đã biên chép cả trong sách Tây rồi, ta cứ việc theo đấy mà học, không cần phải bàn làm chi. Nhưng cái học đó là cái học “vô ngã”, thuộc về cái kho tri thức chung của cả loài người, dẫu có học được hết đi nữa, cũng vẫn không bao giờ thành quốc học riêng của mình được. Muốn cho gây được thành một cái quốc học riêng của mình, thì phải dùng phương pháp phê bình khảo cứu của khoa học mà phân tích những học thuyết cùng nghĩa lý cũ của á Đông ta, rồi đem ra nghiền ngẫm, suy nghĩ, đối chiếu với những điều chân lý cùng những sự phát minh của khoa học Thái Tây. Kết quả của sự phân tích cùng tổng hợp đó, tức là tài liệu để gây ra quốc học sau nầy vậy.

Việc gây dựng ra quốc học, không phải là việc một vài người, cũng không phải là việc một đời người mà làm xong được. Nhưng nếu các học giả trong nước đều có cái chí về việc đó, thì trước hết có thể gây ra được một cái “học phong” để làm hoàn cảnh cho quốc học sau này có chỗ mà sanh nở ra được.

Chí đó chính là cái chí muốn tự lập về đường tinh thần. Muốn tự lập thì không thể làm mất cái cốt cách tinh thần của mình đi mà đồng hóa theo người cả được. Phải mượn phương pháp của người để tự bồi bổ cho mình.

Trên đầu bài nầy có tiêu đề một câu của nhà phê bình nước Pháp bàn về cách Đông phương và Tây phương có thể bổ trợ lẫn cho nhau thế nào. ý tác giả là Tây phương ngày nay đã đem khoa học đến cực điểm, nên quay về mà hỏi cái bài đạo học của Đông phương; còn như Đông phương thì bấy lâu triền miên trong cõi đạo học mơ màng, ngưng trệ lại mà không tiến hóa được nữa, thì nên mượn phương pháp của khoa học Tây phương để mà chấn chỉnh lấy cái cổ học của mình cho có vẻ hoạt bát hơn. Nhà phê bình tóm tắt cái ý kiến ấy bằng một câu rằng: “Đem hình thức của khoa học Tây phương mà ứng dụng về nội dung của học thuật Đông phương” (Appliquer la forme de la science occidentale au contenu de la connaissance orientale).

Nay cũng xin lấy câu ấy để kết luận bài này.

Nguồn: Phạm Quỳnh – Nam Phong Tạp chí số 63 (06/1931)
Nghiệp đoàn sinh viên

em-vi 19
Lượm lặt trên Fây!


posted FB by MV - 15/1/2019

Edited by user Tuesday, January 15, 2019 1:06:55 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
hongvulannhi on 1/17/2019(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#543 Posted : Tuesday, January 15, 2019 12:57:24 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 14,876

Thanks: 6763 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)

Pháp tôn vinh Leonardo da Vinci nhân 500 năm ngày giỗ

UserPostedImage
Ảnh chụp bản chương trình kỷ niệm Viva Leonardo da Vinci
Tuấn Thảo / RFI

Tuấn Thảo - RFI - ngày 15-01-2019
Năm 2019 đánh dấu 500 năm ngày Leonardo da Vinci qua đời. Sinh trưởng tại vùng Toscane của Ý, ông từ trần vào năm 1519 tại Amboise. Do vậy, năm nay vùng sông Loire nói riêng và nước Pháp nói chung đều long trọng tổ chức chương trình kỷ niệm thiên tài người Ý, tên tuổi của ông gắn liền với thời Phục Hưng.

Năm 1519 không những là năm Leonardo da Vinci (tiếng Pháp là Léonard de Vinci) qua đời, đó còn là thời điểm khởi công xây dựng lâu đài Chambord theo chỉ dụ của nhà vua François đệ nhất. Trong cùng một năm, Catherine de Médicis thuộc dòng dõi ‘‘Công tước truyền đời’’ đã sinh ra tại thành phố Florence (Firenze). Catherine de Medicis (1519-1589) sau đó trở thành hoàng hậu Pháp khi thành hôn với vua Henri đệ nhị (1533-1559).

Tất cả những nhân vật nổi tiếng này đều đã đóng một vai trò quan trọng trong việc đem phong trào nghệ thuật Phục Hưng từ nước Ý du nhập vào Pháp. Phong trào Phục Hưng đặc biệt phát triển tại vùng sông Loire của Pháp. "Chiêu hiền đãi sĩ", nhiều đời vua Pháp đã tuyển mộ rất nhiều nghệ sĩ và nhân tài, các nhà trí thức hay kiến trúc sư để phát huy luồng tư tưởng tiên phong cũng như cả một nghệ thuật sống tại vùng sông Loire. 500 năm ngày giỗ của Leonardo da Vinci cũng có nghĩa là thời Phục Hưng khởi đầu cách đây 5 thế kỷ.

UserPostedImage
Bức tượng Leonardo da Vinci trước nhà hát Tosca de Milano
Tuấn Thảo / RFI

Ngoài Chambord, nhiều lâu đài khác cũng tham gia vào chương trình này. Trong đó, nổi tiếng nhất là các lâu đài Azay le Rideau, Valençay, Blois, Chenonceau và dĩ nhiên là lâu đài Clos Lucé, nguyên là nơi sinh sống và làm việc cuối cùng của nhà bác học Leonardo da Vinci. Do ông là cánh chim đầu đàn và hơn ai hết ông là gương mặt tiêu biểu nhất, nếu không nói là hiện thân của phong trào Phục Hưng của Ý. Qua hàng chục sinh hoạt lớn nhỏ khác nhau bắt đầu từ mùa xuân năm 2019, vùng sông Loire tìm cách tái tạo thời kỳ thịnh vượng này về mặt nghệ thuật và văn hóa thông qua một chương trình sự kiện phong phú, đa dạng.

Tâm điểm mùa lễ hội nằm tại lâu đài Clos Lucé, tư gia cuối cùng của thiên tài người Ý. Một cuộc triển lãm lớn diễn ra từ tháng 6 đến tháng 9/2019, khai thác mối tương quan giữa Leonardo da Vinci với vua François đệ nhất, dẫn tới việc thực hiện bức kiệt tác ‘‘Bữa ăn tối cuối cùng’’ (L'Ultima Cena) của Đức Chúa Giê Su với các môn đồ (1495-1498). Bức họa này nằm trên tường tu viện Santa Maria thành phố Milano, không thể nào di chuyển được. Để thay thế, một tấm thảm dệt theo bức bích họa được thực hiện tại Vatican sẽ được trưng bày tại lâu đài Clos Lucé.

Cách đó không xa, lâu đài Amboise tổ chức triển lãm theo chuyên đề ‘‘1519, ngày giỗ của Leonardo da Vinci’’ xoay quanh bức tranh sơn dầu và bộ sưu tập tranh khắc ‘‘Cái chết của Leonardo da Vinci’’ của danh họa François Guillaume Ménageot (1744-1816), cho thấy tài năng của thiên tài người Ý tiếp tục gợi hứng cho nhiều nghệ sĩ đời sau. Một cách tương tự, Viện bảo tàng Sologne và Quỹ Fondaton du Doute tại Blois tổ chức chương trình sinh hoạt theo chủ đề "Nguồn cảm hứng của Leonardo da Vinci" tồn tại cho đến tận bây giờ.

Riêng lâu đài Chambord sẽ tổ chức cùng lúc hai sự kiện do ngày giỗ của Leonardo da Vinci cũng đánh dấu ngày khởi công xây dựng Château de Chambord. Cuộc triển lãm ‘‘Chambord 1519-2019’’ là giao điểm giữa quá khứ và tương lai, từ tháng 5 đến tháng 10/2019, dựa vào bề dày lịch sử của lâu đài, ban tổ chức đã mời nhiều kiến trúc sư quốc tế thử đưa ra một tầm nhìn xa, dùng máy vi tính và công nghệ cao cấp để thực hiện một sơ đồ hiện đại ba chiều của lâu đài Chambord trong tương lai. Còn chương trình lễ hội chính thức kỷ niệm 500 năm lâu đài Chambord sẽ diễn ra từ ngày 28/06 đến ngày 13/07/2019.

Hoàng hậu Catherine de Médicis cũng là một nhân vật lịch sử quan trọng đối với thời Phục Hưng, đặc biệt thông qua cuộc triển lãm "Các bức thảm của Hoàng hậu" tại lâu đài Chaumont sur Loire, từ tháng 9 đến tháng 12/2019. Song song với cuộc triển lãm này, còn có chương trình liên hoan "Nghệ thuật Sống thời Phục hưng" tại lâu đài Châteaudun, giới thiệu trang phục cũng như nghệ thuật ẩm thực có từ thế kỷ XVI. Tương truyền rằng bánh hạnh nhân macaron chính là do Catherine de Médicis đem từ nước Ý vào Pháp những năm 1533-1534 khi bà thành hôn với Henri đệ nhị và sau đó trở thành hoàng hậu nhiếp chính của nước Pháp.

Từ tháng 5 cho tới tháng 10/2019, lâu đài Villandry tổ chức chương trình ‘‘Đêm muôn ánh lửa’’, khi toàn bộ lâu đài chỉ được thắp sáng bằng nến, chứ không hề dùng đèn điện. Còn Azay-le-Rideau thử dùng công nghệ tối tân, đèn laser để thắp sáng lâu đài qua một chương trình biểu diễn kết hợp âm thanh và ánh sáng. Lâu đài Valençay tổ chức cùng lúc nhiều sự kiện trong đó có liên hoan Talleyrand và lễ hội âm nhạc xung quanh các nhạc khí thịnh hành vào thời Phục hưng.

Đó là những sự kiện quan trọng nhất, bên cạnh đó còn có nhiều thành phố khác như Orléans, Bourges, Blois, Amboise, Chambord hay là Tours đều có tổ chức chương trình chiếu ánh sáng theo chủ đề Phục Hưng lên các lâu đài và nhà thờ nổi tiếng nhất của các thành phố. Chương trình vinh danh Leonardo da Vinci kết thúc vào cuối năm 2019 với đỉnh điểm là các sinh hoạt văn hóa có tầm cỡ hàng đầu như triển lãm tại Trường Mỹ thuật Paris, đối chiếu tài năng hội họa của Leonardo da Vinci thông qua các bức phác họa với các tác phẩm của nhiều thế hệ nghệ sĩ như Raphael, Benozzo Gozzoli hay là Filippino Lippi. Viện bảo tàng của Công tước Henri d’Orléans tại Chantilly tổ chức triển lãm xung quanh bức tranh ‘‘Joconde khỏa thân’’ theo trường phái của thiên tài người Ý.

Cuối cùng, từ 24/10/2019 cho tới cuối tháng Hai năm 2020, Viện bảo tàng Louvre dàn dựng cuộc triển lãm cực kỳ hoành tráng về Leonardo da Vinci. Cho tới nay, Louvre luôn trưng bày nhiều bức kiệt tác của thời Phục Hưng, trong đó có La Joconde của ông. Lần này, ngoài bộ sưu tập của Louvre, còn có thêm các tác phẩm đến từ Pinacoteca de Breira thành phố Milano (Portrait de Musicien), Viện bảo tàng thành phố Parma (La Scapigliata), Viện bảo tàng Mỹ thuật Venise (L’Homme de Vitruve), Viện bảo tàng Vatican (Saint-Jérôme) cũng như Viện Bảo tàng Florence (L’Annonciation & L’Adoration des Mages).

Sở dĩ Louvre là viện bảo tàng cuối cùng tôn vinh Leonardo da Vinci do đã từng có tranh luận giữa Pháp và Ý liên quan tới việc cho mượn các tác phẩm nổi tiếng của Ý. Ban điều hành Viện bảo tàng Louvre giữ lễ bằng cách chờ cho tới khi nào triển lãm tại các bảo tàng Ý kết thúc thì lúc ấy Louvre mới tổ chức chương trình kỷ niệm, đúng theo phương châm : tiên chủ hậu khách.

thanks 1 user thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
hongvulannhi on 1/17/2019(UTC)
hongvulannhi  
#544 Posted : Tuesday, January 15, 2019 8:38:00 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,150

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5285 time(s) in 3541 post(s)

Số tiền cắc thu được tại đài phun nước Fontana di Trevi
vẫn được trao cho Caritas Roma


1/16/2019 9:03:40 AM

Số tiền cắc thu được do du khách ném xuống đài phun nước nổi tiếng Fontana di Trevi ở Roma vẫn tiếp tục được trao cho tổ chức bác ái Caritas của giáo phận Roma để giúp người nghèo.

UserPostedImage

Hôm 14.01, bà thị trưởng Roma Virginia Raggi đã tuyên bố như trên với báo Quan sát viên Roma sau khi có những tranh luận xảy ra trong vài tuần qua, nói rằng số tiền thu được này sẽ không được trao cho Caritas Roma nữa, nhưng được dùng cho những dự án bảo trì của hội đồng thành phố. Bà thị trưởng Roma khẳng định: “Cá nhân tôi đảm bảo rằng chính quyền sẽ không tước đi đóng góp của mình. Về vấn đề các đồng tiền cắc, tôi xác định là số tiền này tiếp tục được dùng cho việc bác ái. Không có ai dự định lấy chúng đi.”

15% ngân sách cho việc bác ái của Caritas Roma

Từ năm 2001, tổ chức bác ái Caritas của giáo phận Roma bắt đầu được nhận số tiền cắc du khách ném xuống đài phun nước Fontana di Trevi. Số tiền cắc các du khách ném xuống đài phun nước mỗi năm thu được khoảng 1,5 triệu euro, tương đương với khoảng 1,7 triệu đô la, bằng 15% số tiền dành cho việc bác ái của tổ chức Caritas. Số tiền chủ yếu được dùng để xây nhà cho người vô gia cư, tài trợ các nhà bếp nấu súp cho người nghèo và các dịch vụ giáo xứ giúp cho các gia đình khó khăn.

Tiền thu được từ các đài phun nước đều dành cho việc bác ái

Theo báo Telegraph, hồi tháng 12 năm ngoái (2018), Hội đồng thành phố Roma đã thông qua một đề nghị là dùng số tiền cắc thu được ở đài phun nước Fontana di Trevi “cho việc bảo trì các di tích văn hóa và các dự án an sinh xã hội” bắt đầu từ 01.04 năm nay. Nhưng theo bà Raggi, mục đích của dự án hôm tháng 12 là để biết chính xác số tiền thu được từ đài phun nước này. Thêm vào đó, bà thông báo rằng số tiền cắc thu được từ các đài phun nước khác trong thành phố, khoảng 120 ngàn euro, cũng sẽ được dành cho việc bác ái.

Fontana di Trevi là một đài phun nước nổi tiếng ở trung tâm Roma và mỗi năm có hàng triệu du khách đến thăm. Theo lưu truyền, nếu du khách đứng quay lưng lại và dùng tay phải ném qua vai trái một đồng tiền cắc xuống đài phun nước này thì họ sẽ trở lại Roma. (Oss. Rom. 14.01.2019)

Hồng Thủy
(VaticanNews 15.01.2019)

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 1/16/2019(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#545 Posted : Wednesday, January 16, 2019 12:07:27 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 14,876

Thanks: 6763 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage


UserPostedImage
thanks 1 user thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
hongvulannhi on 1/17/2019(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#546 Posted : Wednesday, January 16, 2019 3:59:20 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 14,876

Thanks: 6763 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage


TẠI SAO PHỤ NỮ HAY KHÓC?

Một cậu bé hỏi mẹ: “Tại sao
mẹ khóc?”. “Bởi vì mẹ là một
người phụ nữ.” – Người mẹ trả lời.

“Con không hiểu” - cậu bé nói.
Mẹ cậu bé chỉ ôm cậu vào lòng
và nói: “Và con sẽ không bao giờ hiểu.”

Sau đó cậu bé lại hỏi cha : “Tại
sao mẹ lại khóc mà không có lý do?”

“Tất cả phụ nữ đều khóc mà
không có lý do” – Cha cậu chỉ
có thể trả lời bấy nhiêu.

Cậu bé lớn lên và trở thành
một người đàn ông , nhưng
vẫn thắc mắc tại sao phụ nữ khóc.

Cuối cùng cậu gọi Chúa . Khi
Chúa nhấc điện thoại, cậu hỏi:

“Chúa ơi, tại sao phụ nữ lại
khóc dễ dàng như vậy?”

Chúa nói: “Khi ta tạo ra phụ
nữ, cô ấy phải rất đặc biệt.
Ta đã làm cho đôi vai của cô
đủ mạnh mẽ để gánh vác trọng lượng của cả thế giới,
nhưng vẫn đủ dịu dàng để mang lại sựan ủi .

Ta cho cô một sức mạnh nội
tâm để có thể chịu đựng khi
sinh con và khi phải nghe
những lời bác bỏ, từ chối nhiều
lần đến từ con cái.

Ta cho cô một sự cứng rắn để
cô tiếp tục trong khi những
người khác đều bỏ cuộc, và
chăm sóc gia đình của mình
vượt qua bệnh tật và mệt mỏi
mà không một lời phàn nàn.

Ta cho cô tình cảm để yêu
thương con cái trong bất kỳ và
tất cả các trường hợp, ngay cả
khi con của cô đã làm cô tổn
thương nặng nề.

Ta cho cô sức mạnh để đưa
chồng mình vượt qua lỗi lầm.
Ta cũng nặn ra cô ấy từ xương
sườn của chồng cô để cô bảo
vệ trái tim của anh.

Ta cho cô trí tuệ để biết rằng
một người chồng tốt không
bao giờ làm tổn thương vợ
mình, nhưng đôi khi ta muốn
kiểm tra sức mạnh và sự quyết tâm ở lại bên chồng của cô.
Và cuối cùng, ta đã cho cô một giọt nước mắt để rơi .
Đây là độc quyền mà cô có thể sử dụng bất cứ khi nào cần thiết.”

“Con đã thấy rồi đó con trai,” – Chúa phán –
“Vẻ đẹp của một người phụ nữ không nằm ở
những bộ quần áo cô mặc, số
tiền mà cô mang, hay cách cô
ấy chải mái tóc của mình.

Vẻ đẹp của một người phụ nữ
phải được nhìn thấy trong mắt
cô ấy, bởi vì đó là cánh cửa
dẫn đến trái tim nơi tình yêu
trú ngụ.”

(St)



(posted FB - H.O - 16/1/2019)

hongvulannhi  
#547 Posted : Wednesday, January 16, 2019 11:46:45 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,150

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5285 time(s) in 3541 post(s)
UserPostedImage

VẪN THƠ LỤC BÁT THẢ TRÔI

Em về thắp lửa đêm đông
Tay xin hơ lại tim hồng tình yêu .
Lan Phi Vo
***
Em nhìn theo cánh chim bay
Về đâu một bóng, chân mây cuối trời
Thắp lên ngàn ánh sao rơi
Lửa tình nung nấu lòng người phương xa
Đêm buồn lắng đọng mưa sa
Đông tàn, buốt giá, canh đà sang canh.

Tay ôm dáng liễu phong trần
Xin cho nỗi khát khao gần cơn mơ
Hơ tình nóng bỏng hẹn hò
Lại bên nhau nhé, hồn ngơ ngẩn hồn
Tim rung nhịp phách tang bồng
Hồng lên môi má, đắm nồng cơn mê
Tình trăm năm, một lời thề
Yêu say sưa mộng, yêu phê phủ đời.

HONG VU LAN NHI
1/16/2019

* Tranh son dầu Nguyen Son

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 1/17/2019(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#548 Posted : Thursday, January 17, 2019 1:23:35 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 14,876

Thanks: 6763 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage
thanks 1 user thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
hongvulannhi on 1/17/2019(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#549 Posted : Thursday, January 17, 2019 2:27:07 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 14,876

Thanks: 6763 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
Thùy Dương - RFI - Thứ Sáu, ngày 03 tháng 2 năm 2017

Dưới bóng những cây cầu cổ kính, lộng lẫy của Paris

UserPostedImage
Cầu Pont Neuf - Paris.LOIC VENANCE / AFP

Sông Seine đoạn chảy qua Paris và ngoại ô có tới 37 cây cầu bắc qua. Nhưng nổi tiếng nhất có lẽ là Pont Neuf - cây cầu lâu đời nhất Paris và Alexandre Đệ Tam - cây cầu lộng lẫy nhất Paris.

Pont Neuf - cầu lâu đời nhất của Paris

Pont Neuf có nghĩa là Cầu Mới. Đây là cây cầu lâu đời nhất trong số những cây cầu hiện đại bắc qua sông Seine, đoạn chảy qua Paris. Sở dĩ cầu có tên gọi là Cầu Mới vì đây là cây cầu bằng đá đầu tiên của Paris. Trước kia, các cây cầu ở Paris đều bằng gỗ.

Pont Neuf nằm ở vị trí trung tâm Paris, được xây dựng từ năm 1578 đến năm 1607, trong thời gian trị vì của vua Henri Đệ Tam và Henri Đệ Tứ. Phải mất gần 30 năm cây cầu mới được hoàn thành vì các khó khăn tài chính, Chiến Tranh Tôn Giáo (1588-1598) và các xung đột chính trị.

Anh Louis Antoine, hướng dẫn viên du lịch và là đồng sáng lập Hiệp Hội « Một người bạn ở Paris » giới thiệu : « Viên đá đầu tiên được đặt vào một ngày mưa to, và vị vua đặt viên đá đó cũng chứa chan nước mắt khóc thương vì hai cận thần được ông sủng ái đã qua đời một tháng trước đó. Vì thế, người dân Paris đã mệnh danh Pont Neuf là « cây cầu nước mắt » (…) Ngay khi mới được khai trương, cây cầu đã đón nhận thành công lớn vì đây là cây cầu có tầm nhìn rất rộng ra sông Seine. Những cây cầu xây trước Pont Neuf đều có các ngôi nhà được xây dọc theo hai bên thành cầu. Vì thế, khi đi trên cầu, người dân Paris không thể ngắm nhìn sông Seine. »

Như vậy, Pont Neuf cũng là cây cầu đầu tiên không có nhà cửa bao quanh lòng cầu, chỉ có một trạm bơm được xây trên một hệ thống cọc để bơm nước từ sông Seine tới Louvre (khi đó là cung điện) và vườn Tuilerie. Trạm bơm có tên gọi Samaritaine, đây là trạm bơm nước đầu tiên của Paris. Đến năm 1813, khi Paris có hệ thống dẫn nước mới thì trạm bơm Samaritaine mới bị dỡ bỏ.

Pont Neuf cũng là cây cầu đầu tiên của Paris có vỉa hè. Và trong vòng 200 năm sau khi Pont Neuf được khánh thành, đây vẫn là cây cầu có vỉa hè duy nhất ở Paris. Người ta phỏng đoán phần vỉa hè của Pont Neuf theo dự tính ban đầu có lẽ là dành để xây dựng các ngôi nhà như những cây cầu trước đó.

Nhờ không có các ngôi nhà chắn tầm nhìn mà khi đi trên cầu, mọi người có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn dòng sông Seine trải dài và các công trình nổi tiếng của Kinh Đô Ánh Sáng nằm dọc hai bên bờ sông.

Dài hơn 230m, đây là cây cầu đầu tiên bắc qua cả hai nhánh của sông Seine, nối liền quận 6 ở tả ngạn và quận 1 ở hữu ngạn sông Seine, bắc qua cả mũi đất phía Tây của đảo Île de la Cité, nơi có quảng trường Dauphine. Pont Neuf rộng 20,5m, gồm 11,5m lòng cầu và hai bên vỉa hè, mỗi bên rộng 4,5m.

Pont Neuf có 12 nhịp cầu uốn hình vòng cung. Phần cầu bắc qua nhánh lớn của sông Seine nối sang quận 1 gồm 7 nhịp. Còn phần nối sang quận 6 gồm 5 nhịp. Tại mỗi trụ cầu có một "ban công" hình bán nguyệt nhô ra phía ngoài sông Seine. Mạn ngoài của cầu được trang trí bằng 381 bức điêu khắc gương mặt của các vị thần trong các truyền thuyết cổ đại, chẳng hạn như thần dê, thần rừng. Mỗi bức tượng lột tả một cảm xúc khác nhau, nhiều bức tượng khắc họa vẻ nhăn nhó, trông khá kỳ dị. Đại văn hào Victor Hugo xưa kia đã gọi những bức tượng đó là « những cơn ác mộng hóa đá ».

Trong một thời gian rất dài, cây cầu đã trở thành một trung tâm náo nhiệt và sầm uất về thương mại của thành phố. Trong bài thơ có tiêu đề « Thành phố Paris », được sáng tác vào năm 1660, thi sĩ Berthod đã miêu tả Pont Neuf là nơi bán hàng quen thuộc của những người bán thuốc bôi, thuốc mỡ, sách truyện, quần áo cũ, là nơi hành nghề của những người nhổ răng dạo, … Vào năm 1619, chính trên cầu Pont Neuf, quầy bán sách cũ đầu tiên của Paris đã xuất hiện.

Vào cuối giai đoạn trị vì của vua Henri Đệ Tam, các nhà buôn và thợ thủ công đã dựng các quầy hàng bằng gỗ tại các ban công bán nguyệt để buôn bán. Năm 1775, các quầy hàng bằng gỗ này bị dỡ bỏ và thay vào đó là các quầy hàng xây bằng đá, do kiến trúc sư danh tiếng Soufflot thiết kế. Kiến trúc sư Soufflot cũng chính là người đã thiết kế Điện Panthéon - Đền thờ các vĩ nhân của Pháp. Đến năm 1854 thì các quầy hàng bằng đá cũng bị dỡ bỏ, việc buôn bán và làm nghề thủ công trên vỉa hè của cầu chấm dứt. Vỉa hè cầu Pont Neuf trở thành nơi dạo bộ lý tưởng cho người dân.

Trong tác phẩm mang tựa « Bức họa Paris » năm 1781, tác giả Louis-Sébastien Mercier đã viết : « Pont Neuf trong thành phố giống như trái tim trong cơ thể con người, trung tâm của mọi sự chuyển động và tuần hoàn, người dân và khách nước ngoài đổ tới cầu nhiều tới mức chỉ cần đi dạo trên cầu mỗi ngày 1 tiếng là có thể gặp được người mà ta muốn gặp ».

Trải qua hơn bốn thế kỷ, với biết bao đổi thay của lịch sử, cây cầu vẫn còn đó và đã trở thành cảm hứng sáng tạo và đi vào tác phẩm hội họa của một số họa sĩ nổi tiếng như Pierre-Auguste Renoir hay Camille Pissarro. Họa sĩ Renoir vẽ bức tranh « Pont Neuf » vào năm 1872. Bức tranh sơn dầu này hiện nằm tại Bảo Tàng Nghệ Thuật Quốc Gia ở Washington, Mỹ. Còn bức tranh « Pont Neuf » của họa sĩ Pissarro vẽ năm 1901 được trưng bày tại bảo tàng Nghệ Thuật Philadelphia, Mỹ. Cây cầu cũng là bối cảnh chính của bộ phim « Les Amants du pont Neuf » (Những tình nhân của cây cầu Pont Neuf), sản xuất năm 1991.

Cũng trong năm 1991, cùng với quần thể dọc bờ sông Seine, Pont Neuf đã được công nhận là Di Sản Thế Giới của UNESCO.

Alexandre Đệ Tam - cầu lộng lẫy nhất Paris

Nếu Pont Neuf nổi tiếng là cây cầu lâu đời nhất Paris thì cầu Alexandre Đệ Tam lại nổi tiếng là cây cầu đẹp nhất, lộng lẫy nhất, hoành tráng nhất « Kinh Đô Ánh Sáng ».

Cầu Alexandre Đệ Tam nằm ở một khu vực quan trọng, tập trung nhiều công trình lịch sử có giá trị của của thành phố Paris. Cầu nằm trên trục thẳng nối từ Điện Invalides bên tả ngạn sông Seine (quận 7) tới đại lộ Wilson Churchill bên hữu ngạn (quận 8) với hai công trình Grand Palais và Petit Palais nằm hai bên. Gần đó là tháp Eiffel, đại lộ Champs Elysée, Phủ Tổng Thống (Điện Elysée), quảng trường Concorde, Tòa nhà Quốc Hội (Palais Bourbon)…

Cầu Alexandre Đệ Tam là biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước Nga và Pháp. Sa hoàng Nga Alexandre Đệ Tam và tổng thống Pháp Sadi Carnot đã cho xây dựng cây cầu nhân dịp Triển Lãm Hoàn Cầu được tổ chức ở Paris vào năm 1900. Sa hoàng Nicolai Đệ Nhị - con trai của sa hoàng Alexandre Đệ Tam đã đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng cầu vào năm 1896 và vào ngày 14/04/1900, cũng chính Nikolai Đệ Nhị, cùng với tổng thống Pháp Emile Loubet, đã khánh thành cây cầu. Đây cũng là ngày tổng thống Emile Loubet khai mạc Triển Lãm Hoàn Cầu tại Grand Palais.

UserPostedImage
Cầu Alexandre Đệ Tam - Paris.
@wikipedia/philippe alès

Năm 1975, cầu Alexandre Đệ Tam được công nhận là công trình lịch sử của Pháp. Năm 1991, cũng như Pont Neuf, cùng với các công trình hai bên bờ sông Seine, cầu Alexandre Đệ Tam được UNESCO công nhận là Di Sản Thế Giới.

Nét đẹp của cầu Alexandre Đệ Tam nằm ở sự giao hòa giữa kỹ thuật xây dựng hiện đại và phong cách nghệ thuật mới. Nhà báo Patrick de Carolis và nhà sử học Louis Laforge, trong cuốn sách « Paris - dọc theo sông Seine », đã trích dẫn các quy định mời thầu, cho biết là các kiến trúc sư phải đảm bảo là « cây cầu sẽ không làm ảnh hưởng đến những cảnh đẹp mắt và sống động trên sông Seine, nhìn từ phía quảng trường Concorde thì những cảnh đó là độc nhất vô nhị : các cây cầu nối tiếp nhau với tầu thuyền tấp nập trên sông », cây cầu không được quá cao, che lấp các cảnh quan nổi tiếng xung quanh, nhưng cũng không được quá thấp làm ảnh hưởng tới tàu thuyền đi lại trên sông, và đặc biệt cây cầu phải hài hòa với hai công trình nằm ngay gần đó cùng được xây dựng để phục vụ Triển Lãm Hoàn Cầu là Grand Palais và Petit Palais.

Cầu Alexandre Đệ Tam chỉ có một nhịp dài 107 m, với ba điểm nối và không có cột chống trung gian nào. Cầu rộng 40m. Toàn bộ khung cầu được đúc sẵn bằng thép từ nhà máy Le Creusot rồi được vận chuyển đến lắp ghép tại chỗ bằng đinh ốc. Đây là một trong những công trình đầu tiên trên thế giới được xây dựng theo công nghệ này. Loại thép dùng để xây cầu cũng là loại thép đặc biệt, chỉ được dùng cho các mục đích quân sự ở Pháp vào thời đó. Vì thế, phải có giấy phép đặc biệt mới được sử dụng loại thép này để xây dựng cây cầu. Để chống lại sức đẩy của nước, phần móng cầu sát bờ sông được gia cố bằng các khối bê tông khổng lồ, có thể nói là chưa từng có vào thời kỳ đó.

Việc trang trí cây cầu được giao cho các nhà điêu khắc nổi tiếng thời đó như Dalou, Garder, Gauquié, … Với các tác phẩm điêu khắc lộng lẫy, cầu Alexandre Đệ Tam được coi như một viện bảo tàng.

Hai bên thành cầu được trang trí bằng 32 cột đèn bằng đồng với các tượng thiên thần nhỏ có cánh. Ở mỗi đầu cầu, có hai cột lớn bằng đá cao 17m. Phía dưới mỗi cột được trang trí bằng một bức tượng đá tượng trưng cho nước Pháp dưới thời trị vì của vua Charlemagne, thời Phục Hưng, thời trị vì của vua Louis XIV và thời hiện đại. Còn trên đỉnh mỗi cột đặt một bức tượng đồng mạ vàng hình nữ thần và ngựa có cánh, tượng trưng cho nghệ thuật, nông nghiệp, trận chiến đấu và chiến tranh. Ở chính giữa, hai bên mạn ngoài cầu được trang trí bằng bức tượng các nữ thần sông Neva với các loại vũ khí của Nga và các nữ thần sông Seine với các loại vũ khí của Pháp. Ngoài ra, hai bên thành cầu còn có các bức tượng các em nhỏ dắt sư tử, các vị thần sông với cá hoặc ốc.

Từ tháng 04 - 11/1900, trong thời gian diễn ra Triển Lãm Hoàn Cầu, đã có 50 triệu du khách đến chiêm ngưỡng cây cầu.

Cây cầu lộng lẫy và nổi tiếng bậc nhất Paris đã đi vào nhiều tác phẩm điện ảnh, chẳng hạn như bộ phim « Midnight in Paris » (Paris lúc nửa đêm) của đạo diễn gạo cội Woody Alen. Danh ca Adèle của nước Anh, người đã thắng 6 hạng mục quan trọng tại giải Grammy năm 2012 cũng đã chọn cây cầu Alexandre Đệ Tam để quay clip « Someone like you ».


thanks 1 user thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
hongvulannhi on 1/17/2019(UTC)
hongvulannhi  
#550 Posted : Thursday, January 17, 2019 3:15:37 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,150

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5285 time(s) in 3541 post(s)


Lời khen chê


Có một chú tiểu rất thông minh đến gặp một vị Lạt Ma và nói rằng:

- “Trời ơi Ngài nổi tiếng lắm, đi đâu con cũng nghe danh ngài”.

Được khen, vị Lạt Ma liền hướng vô bên trong và kêu:

- “Này thị giả, hãy mang kẹo ra cho chú tiểu”.

Chú tiểu nói tiếp:

- “Ngài làm như vậy, sao mà giống như Phật dạy quá!” .

Vị Lạt Ma lại gọi:

- “Thị giả, mang thức ăn ngon ra cho chú tiểu”.

Chú tiểu khôn ngoan đó lại nói tiếp:

“Chính Ngài là Đức Phật tại thế”.

Vị Lạt Ma lại gọi vào trong:

- “Hãy mang thêm 3 đồng tiền vàng cho chú

Chú tiểu nghĩ rằng như vậy là đủ rồi, và đứng chờ nhận quà.
Chờ mãi mà không thấy ai ra, chú hỏi vị Lạt Ma sao thị giả của Ngài chưa đem kẹo, thức ăn và vàng ra. Vị Lạt Ma nói:

- “Tại sao ta phải cho con kẹo, thức ăn, vàng thật chớ?
Con chỉ cho ta những lời nói trống rỗng. Ta cũng cho lại con những lời nói trống rỗng”.

Lời bình:

- Nếu có ai khen lập tức quý vị cảm thấy vui sướng. Quý vị hay thường bị gạt gẫm bởi những lời nói vô nghĩa. Những lời nói đó đôi khi lừa gạt quý vị.

- Khi tôi sắp rời thành phố này, có một Phật tử đã làm thơ tặng tôi. Trong bài thơ đó cô ta nói:
+ “Nụ cười của Ngài làm tan hết phiền não của con.”

Tôi thấy thật buồn cười cho chính bản thân. Chính tôi tu hành mười mấy năm mà chưa tan hết phiền não của mình, thì làm sao nụ cười của tôi có thể làm tan đi phiền não của người khác?

Cho nên người tu khi được người khen cũng không lấy đó làm vui, và khi bị người chê cũng không lấy đó làm buồn.

Thích Tâm Đạo dịch
(Trích Báo Văn Hóa Phật Giáo)

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#551 Posted : Thursday, January 17, 2019 3:46:14 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 14,876

Thanks: 6763 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage

UserPostedImage



Hoàng Thy Mai Thảo  
#552 Posted : Friday, January 18, 2019 12:04:44 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 14,876

Thanks: 6763 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage

UserPostedImage

Hoàng Thy Mai Thảo  
#553 Posted : Friday, January 18, 2019 7:02:14 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 14,876

Thanks: 6763 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)

thơ Xuân Quỳnh

UserPostedImage

Bàn tay em

Gia tài em chỉ có bàn tay
Em trao tặng cho anh từ ngày ấy
Những năm tháng cùng nhau em chỉ thấy
Quá khứ dài là mái tóc em đen
Vui, buồn trong tiếng nói, nụ cười em
Qua gương mặt anh hiểu điều lo lắng
Qua ánh mắt anh hiểu điều mong ngóng
Anh nghĩ gì khi nhìn xuống bàn tay ?

Bàn tay em ngón chẳng thon dài
Vết chai cũ, đường gân xanh vất vả
Em đánh chắt chơi chuyền thuở nhỏ
Hái rau rền rau rệu nấu canh
Tập vá may, tết tóc một mình
Rồi úp mặt lên bàn tay khóc mẹ.

Đường tít tắp không gian như bể
Anh chờ em cho em vịn bàn tay
Trong tay anh, tay của em đây
Biết lặng lẽ vun trồng gìn giữ
Trời mưa lạnh tay em khép cửa
Em phơi mền vá áo cho anh
Tay cắm hoa, tay để treo tranh
Tay thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc
Năm tháng qua đi mái đầu cực nhọc.
Tay em dừng trên vầng trán lo âu.

Em nhẹ nhàng xoa dịu nỗi đau
Và góp nhặt niềm vui từ mọi ngả
Khi anh vắng bàn tay anh biết nhớ
Lấy thời gian đan thành áo mong chờ
Lấy thời gian em viết những dòng thơ
Để thấy được chúng mình không chắc trở...

Bàn tay em, gia tài bé nhỏ
Em trao anh cùng với cuộc đời .

Xuân Quỳnh


Hoàng Thy Mai Thảo  
#554 Posted : Saturday, January 19, 2019 12:58:03 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 14,876

Thanks: 6763 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage

Hoàng Thy Mai Thảo  
#555 Posted : Saturday, January 19, 2019 5:15:53 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 14,876

Thanks: 6763 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)


Thơ tình cuối mùa thu

Cuối trời mây trắng bay
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng
Mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Mùa thu và hoa cúc
Chỉ còn anh và em

Chỉ còn anh và em
Là của mùa thu cũ
Chợt làn gió heo may
Thổi về xao động cả:
Lối đi quen bỗng lạ
Cỏ lật theo chiều mây
Đêm về sương ướt má

Hơi lạnh qua bàn tay
Tình ta như hàng cây
Đã bao mùa gió bão
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ.

Thời gian như là gió
Mùa đi cùng tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi
Chỉ còn anh và em

Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại...
- Kìa bao người yêu mới
Đi qua cùng heo may.

Xuân Quỳnh

Edited by user Saturday, January 19, 2019 5:16:39 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Thy Mai Thảo  
#556 Posted : Sunday, January 20, 2019 12:02:17 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 14,876

Thanks: 6763 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#557 Posted : Sunday, January 20, 2019 10:56:23 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 14,876

Thanks: 6763 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)

Tuấn Thảo - RFI - Thứ Bảy, ngày 19 tháng 1 năm 2019

Maurane, hành trình cuối cùng với Jacques Brel

UserPostedImage
Tuyêrn tập Brel được phát hành 5 tháng sau ngày Maurane qua đời
© RFI/Edmond Sadaka

Trong số các dự án tưởng niệm thần tượng Jacques Brel nhân 40 năm ngày giỗ của nam danh ca quá cố, có đĩa nhạc của ca sĩ Maurane được nhiều khách hâm mộ chờ đợi hơn cả. Cả hai nghệ sĩ đều là người Bỉ, lập nghiệp tại Pháp. Và giờ đây, cả hai đều không còn trên cõi đời này.

Maurane đã đột ngột qua đời vì lên cơn đau tim vào đầu tháng 5 năm 2018, mà khi nghe lại giọng hát của cô, giới hâm mộ lại càng ngẩn ngơ thương tiếc. Được phát hành vào trung tuần tháng 10/2018, tập nhạc này được cho ra mắt 5 tháng sau ngày Maurane từ trần. Theo lời cô con gái của nữ ca sĩ (Lou Villafranca 25 tuổi), dự án ghi âm ban đầu bao gồm 14 ca khúc, nhưng sau khi nghe đi nghe lại nhiều lần, gia đình cô đã quyết định loại bỏ hai ca khúc dí dỏm vui nhộn, cho rằng những ca khúc ấy không còn thích hợp với một dự án ghi âm mà cả tác giả lẫn người diễn đạt đều đã không còn trên cõi đời này. Cùng với nhóm nhạc sĩ chuyên đi biểu diễn với Maurane, cô con gái đã hoàn tất phần hậu kỳ cho album, đồng thời cô đã vẽ hình bìa cho đĩa hát.

Lúc còn sống, Maurane đã ráo riết chuẩn bị đĩa nhạc tưởng niệm bậc thầy Jacques Brel kể từ mùa xuân năm 2018. Dự án này từng được nữ danh ca người Bỉ ấp ủ trong vòng 15 năm trời, mỗi lần cô lên sân khấu, dòng nhạc của Brel vẫn thường được đưa vào trong danh sách các ca khúc biểu diễn. Sau nhiều năm đi hát, trước sự khuyến khích của gia đình cũng như sự thúc giục của giới đồng nghiệp, Maurane nghĩ rằng đã đến lúc cô nên ghi âm những ca khúc đã đồng hành với mình trong suốt cuộc đời ca hát.

Xuất thân từ một gia đình nghệ sĩ, bố là một nhà soạn nhạc (kiêm giám đốc nhạc viện thành phố Verviers), mẹ là giáo sư dương cầm, Maurane từ nhỏ đã thấm nhuần dòng máu nghệ thuật của song thân. Chính với dòng nhạc Jacques Brel mà Maurane đã chọn khởi nghiệp sân khấu. Năm 19 tuổi, Maurane đã diễn một trong những vai chính của vở nhạc kịch ‘‘Jacques Brel en Mille temps’’ của tác giả Albert-André Lheureux.

Thời còn trẻ, Maurane chủ yếu hát những ca khúc trào phúng của Brel về gia đình, xã hội nhiều hơn là tình cảm lứa đôi, do theo cô, dòng nhạc tình của Brel đòi hỏi nơi người diễn đạt rất nhiều kinh nghiệm từng trải. Mãi tới năm 1996, tức là hai năm sau khi Maurane đoạt giải thưởng Victoires de la Musique dành cho tài năng xuất sắc nhất khối Pháp ngữ, Maurane mới ghi âm nhạc phẩm ‘‘Quand on n’a que l’amour’’ (Khi ta chỉ có tình yêu) hát cùng với Céline Dion nhân đợt biểu diễn gây quỹ giúp đỡ Các quán ăn tình thương Les Restos du Cœur, với lối diễn đạt dày dặn chín muồi.

Brel và Maurane là hai tâm hồn nghệ thuật khác nhau. Brel có lối biểu hiện cực kỳ sinh động, diễn đạt qua từng ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ, bài hát không chỉ có hồn nhờ cách hát, mà còn thêm chiều sâu nhờ ngôn ngữ của toàn cơ thể, có lẽ vì thế là Brel dù chỉ đứng một mình trên sân khấu, nhưng ông vẫn có thể hớp hồn toàn bộ khán giả trong thính phòng.

Khác với bậc đàn anh, Maurane có phong cách kín đáo trầm lắng, có lẽ cũng vì thế mà cô chọn hát những ca khúc dễ gợi lên khung cảnh trầm tư mặc tưởng, nhờ vào lối hoà âm phối khí rất mộc, đôi khi chỉ cần đệm duy nhất bằng tiếng đàn piano, mà giọng ca của Maurane vẫn làm dấy lên được những trận cuồng phong trong tâm hồn, cảnh đắm thuyền lúc hoàng hôn.

Cho dù một số bài hát trên album tưởng niệm Brel chẳng hạn như bài ‘‘Rosa’’ hay là ‘‘Vesoul’’ đã mất đi phần nào tính phổ quát do hình ảnh địa danh, cung cách con người hay nếp sống xã hội đã quá nhiều thay đổi, nhưng khi nói về tình cảm, thì hiếm có tác giả nào trong làng nhạc Pháp diễn đạt sự đỗ vỡ hay bằng tác giả Jacques Brel. Mỗi nghệ sĩ một vế, mỗi người một con đường nhưng cả hai bên (Brel và Maurane) đều muốn đến cùng một bến, họ tìm cách diễn đạt một cách trọn vẹn nhất cái tình cảm mất mát thiệt thòi, trầm luân kiếp người. Với tâm trạng của người vừa lỡ chuyến, tác giả khóc cho những gì mình đang đánh mất, dù có biết nhưng vẫn không cứu vãn được gì …….

Bên cạnh những tình khúc để đời như "Ne me quitte pas" (Đừng lìa xa anh), "La chanson des Vieux Amants" (Bài hát của đôi tình nhân già), hay là "La Quête" (Hạnh phúc đi tìm), Maurane chủ yếu chọn những bản nhạc ít quen thuộc hơn với công chúng (không có các bài hát như Amsterdam, Bruxelles hay là Le Plat Pays) nhưng vẫn cho thấy cái tài nghệ sáng tác của Brel trong cách sắp chữ đặt lời, chẳng hạn như trong bài "Je ne sais pas" (Ta không biết), về mặt cấu trúc và ý tứ, bản nhạc này đã gợi hứng rất nhiều cho tác giả Jean Jacques Goldman sáng tác sau đó bản nhạc cùng tên cho Céline Dion.

Nhạc phẩm "Je ne sais pas" được xây dựng trên một ý tưởng chủ đạo : trên đời này điều gì ta cũng biết, nhưng một cuộc sống không còn hay không có (tình yêu của) người, thì ta không hề biết. Bài hát được viết như một niệm khúc cuối do nhân vật trong bài hát tiên đoán cái chết của chính mình, ý tưởng của bản requiem gói trọn trong những lời trăn trối. Có lẽ ngay cả Maurane cũng không ngờ rằng chuyến song hành với Brel lại là cuộc hành trình cuối đời về tới bên kia thế giới. Bản nhạc này có câu :

Không biết vì sao sương mù

Quanh tim bọc khăn che phủ

Thoi thóp hồn chuông nhà thờ

Cầu mong tình đừng tắt thở

Hoàng Thy Mai Thảo  
#558 Posted : Monday, January 21, 2019 12:15:28 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 14,876

Thanks: 6763 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage

Mến gửi tới các bạn lời chào Mimosa
cho một ngày mới với nhiều tin yêu và hy vọng !!


UserPostedImage
Hoa Hồng cho tất cả & tất cả

cà phê cho những ai thích nếm vị đắng cuộc đời, nhưng là hương thơm cuộc sống !?


Edited by user Monday, January 21, 2019 12:16:30 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Thy Mai Thảo  
#559 Posted : Monday, January 21, 2019 7:54:19 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 14,876

Thanks: 6763 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)

RFI - Trọng Nghĩa - 19/1 2019

Nghệ thuật đàm phán trong mọi lãnh vực

Khi tất cả các đồng nghiệp chú ý đến những chủ đề nghiêm trọng, tuần báo Le Point lại có vẻ như chú ý một đề tài rất nhẹ nhàng. « Nghệ thuật thương thuyết » là tựa lớn trang bìa của tạp chí Pháp kèm theo ghi chú hóm hỉnh bên dưới : « Với người chủ của mình, với người hôn phối, với con cái, trong kinh doanh, trong chính trị (có hoặc không có những người Áo Vàng) ».

Đối với Le Point, cái dở của người Pháp chính là không thấy rõ được khía cạnh tích cực của việc đàm phán thương thuyết, đặc biệt trong cuộc sống hàng ngày, trong gia đình hay ngoài xã hội.

Theo giáo sư khoa học chính trị Aurélien Colson tại trường Essec, phụ trách Viện Nghiên Cứu và Giảng Dạy về Đàm Phán, người Pháp thường đồng hóa sự thỏa hiệp, kết quả tự nhiên của một cuộc đàm phán, với một hành vi nhượng bộ hay lùi bước. Tuy nhiên, ở những nước Châu Âu khác, ở Đức hay ở các nước Bắc Âu, đàm phán trái lại là một hoạt động cao cả gắn liền với lợi ích chung, góp phần nâng cao giá trị của những người tham gia.

Đối với Le Point, đàm phán có thể là thuốc giải độc cho bạo lực, cho phép giải quyết trong danh dự những xung đột vốn có trong bất kỳ xã hội loài người nào, từ những trắc trở trong cuộc sống hàng ngày, đến các xích mích ngoại giao giữa các quốc gia.

Theo tuần báo Pháp, bất kể mục tiêu hơn thua, bối cảnh, số lượng các bên tham gia, nghệ thuật đàm phán tốt đều tuân theo một số nguyên tắc được áp dụng trong mọi lĩnh vực. Lionel Bellenger, cựu giáo sư triết học, hiện giảng dạy môn đàm phán tại trường cao đẳng thương mại HEC xác định : « Đàm phán có vị trí trung tâm trong mọi quan hệ xã hội và đòi hỏi một số đức tính bất di bắt dịch nơi người tham gia, cho dù đó là đàm phán ngoại giao, đàm phán thương mại hay chỉ đơn thuần là việc tìm kiếm một thỏa hiệp trong hôn nhân ».

Đức tính đầu tiên là biết lắng nghe, vì giải pháp cho vấn đề hầu như lúc nào cũng nằm trong những gì mà đối phương nói.

Đức tính thứ hai là tôn trọng đối phương. Tốt hơn hết là không nên tận dụng quá mức lợi thế mà mình đã giành được, bởi vì nếu đè bẹp đối thủ, ta có nguy cơ phải trả giá về sau về hành vi sỉ nhục đó.

Đức tính thiết yếu cuối cùng theo Lionel Bellenger là tính chất thực tế, biết thích nghi : « Đàm phán không phải là để chứng tỏ rằng mình đúng, mà là để có được sự đồng ý của đối phương. Đây là hai điều rất khác nhau ».



Hoàng Thy Mai Thảo  
#560 Posted : Monday, January 21, 2019 11:32:45 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 14,876

Thanks: 6763 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)

FB - Hồng Nhung
20 tháng 1 lúc 07:27
UserPostedImage

CHÚ XE ÔM



Chú xe ôm dừng xe trước cổng cho cô sinh viên xuống. Bất ngờ cô đưa chú gói quà và nói:
- Chú về nhà rồi mở ra xem nhé.
Bắt đầu ngày mai cháu không đi học nữa, hôm nay cháu đã tốt nghiệp rồi. Cám ơn chú nhiều.
Chú xe ôm về nhà, cất xe, vào phòng mở gói quà ra, ngoài bộ quần áo còn có cả số tiền rất lớn, và một bức thư như sau:
''Thưa thầy, em là Tuyết Lan học toán với thầy năm lớp sáu ở trường Nguyễn Trãi. Lên lớp chín thì em nghe tin thầy bị giảm biên chế, đồng thời thầy cũng bị đau dây thanh quản nên khó nói. Từ đó thầy đi lái xe ôm kiếm sống, lúc nào cũng đeo khẩu trang kín mít để đừng có học trò nào nhận ra. Nhưng em đã nhận ra thầy khi thầy ngồi đón khách ở ngã tư Bình Hưng. Từ đó, em không tự đạp xe đi học nữa mà đặt mối thầy chở em đi học suốt hết lớp chín, hết phổ thông, và lên đại học.
Sáng nào đi học em cũng lấy theo 3 phần ăn, một cho em đến lớp ngồi ăn, hai biếu thầy một phần, và ba là biếu bà bán vé số nghèo ở góc đường Nguyễn Du. Ngày nào em cũng mua cho bà mấy tờ vé số, rất mong trúng số, nhưng chẳng hy vọng lắm.
Bố mẹ em hay thắc mắc về hành vi của em, nhưng vì cưng em nên bố mẹ cũng chìu ý em.
Em phát hiện thầy rất yêu nghề dạy học. Dù không đến lớp nữa, nhưng thầy đã lập một trang web dạy kèm cho tất cả ai bị yếu toán.
Thầy đã dạy dỗ tận tình, giúp nhiều bạn lấy lại căn bản toán bị mất, để các bạn có nền tảng học tiếp. Thầy cứ tập trung hướng dẫn biết bao học sinh trung học cơ sở trở nên vững về toán.
Thì ra ban ngày thầy chạy xe ôm, ban đêm thầy lên internet để dạy học miễn phí. Em nhận ra thầy vì cái cách nói quen thuộc của thầy vào cuối các buổi học là “các em gắng học để sau này phụng sự cho đời”.
Bây giờ lên mạng thầy vẫn nói câu đó. Trong cuộc đời thực, thầy là chú xe ôm đen đúa vất vả, nhưng trên mạng thầy vẫn còn uy phong của một thầy giáo tận tụy hiền lành.
Hình như trời không phụ lòng người, thầy không biết là em mua mãi rồi cũng trúng số độc đắc, lúc đó em đang học năm thứ ba. Em lĩnh tiền rồi đưa hết vào gửi tiết kiệm ở ngân hàng. Em kiên nhẫn chờ đến hôm nay.
Hôm nay em đã tốt nghiệp nên sẽ không còn đi xe ôm nữa mà sẽ tự lái xe máy đi làm. Em kính biếu thầy một phần số tiền trúng số độc đắc của em như chút lòng tri ân của người học trò ngày xưa, mà sự thành công của em hôm nay đã có không ít ơn thầy trong đó.''
“Nhất tự vi sư – Bán tự vi sư”
Mai này dù có đi xa, không còn hằng ngày ngồi trên xe của thầy nhưng em vẫn luôn nhớ về “chú xe ôm” thân thể gầy gò có trái tim tình người quý báu, và dưới mái tóc đã bạc ấy là một tâm hồn cao cả.../.



Bài copy trên mạng có sửa chữa vài chỗ cho hợp với thể loại văn tự sự
(Hình chỉ có tính minh họa cho đỡ trôi bài)


Users browsing this topic
Guest (2)
51 Pages«<2627282930>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.