Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

2 Pages<12
Options
View
Go to last post Go to first unread
lly (Lynn Ly)  
#21 Posted : Saturday, October 31, 2015 9:29:03 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
LƯỢC SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA TỪ THÀNH ĐẠO ĐẾN NHẬP NIẾT BÀN

Trích Lục: PHẬT HỌC PHỔ THÔNG
Biên Soạn : Cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa

(Cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa là Thầy Tổ, là vị Tổ Sư đã thiết lập ra
12 Nấc Thang PHẬT HỌC PHỔ THÔNG cho Phật Giáo VN)


Chúng sanh từ lâu đời lâu kiếp quen sống trong bóng tối của si mê, ngày nay chắc không khỏi choá mắt, hoảng sợ khi tiếp xúc với ánh sáng bừng chói của trí tuệ. Nhưng Ngài xét biết rằng mặc dù sống trong tăm tối, nhưng mỗi chúng sanh đều có mầm Phật Tánh, như hoa sen, mặc dù sống trong bùn tanh hôi, nhưng vẫn tỏa nhụy vàng thơm ngát.

A – MỞ ÐỀ:

Trong bài trước chúng ta đã thấy Ðức Phật Thích Ca vì một đại nguyện lớn lao, vì một lòng từ bi vô bờ bến mà xuất gia tìm Ðạo. Ðại nguyện và lòng từ bi lớn lao ấy là: ”Cầu thành Phật quả để trên đền đáp bốn ơn sâu, dưới cứu vớt ba đường khổ”.
Lynn Ly chú thích

"Bốn ơn sâu" là :
  • Ơn Cha Mẹ
  • Ơn Sư Trưởng / Ơn Thầy / Ơn người giáo dục đà truyền dạy kiến thức, kinh nghiệm sống
  • Ơn đất nước , nơi chốn mà mình đã sanh ra và lớn lên
  • Ơn Chúng Sanh .

"Ba đường khổ" là :
  • Địa Ngục
  • Ngã quỷ
  • Súc sanh


Cho nên sau khi giác ngộ, Ngài không vội nhập Niết bàn, mà nghĩ ngay đến sứ mạng của Ngài là: Thay thế chư phật đời trước, tiếp tục "chuyển mê khai ngộ" cho tất cả mọi người.

Sứ mạng ấy Ngài biết trước không phải dễ dàng, vì cái Ðạo của Ngài thì cao thâm huyền diệu, mà chúng sanh căn cơ lại không đều, và từ muôn kiếp đã lặn hụp trong si mê lầm lạc, khó có thể nhận hiểu được ngay ý nghĩa cao thâm của Giáo lý Ngài. Chúng sanh từ lâu đời lâu kiếp quen sống trong bóng tối của si mê, ngày nay chắc không khỏi choá mắt, hoảng sợ khi tiếp xúc với ánh sáng bừng chói của trí tuệ. Nhưng Ngài xét biết rằng mặc dù sống trong tăm tối, nhưng mỗi chúng sanh đều có mầm Phật Tánh, như hoa sen, mặc dù sống trong bùn tanh hôi, nhưng vẫn tỏa nhụy vàng thơm ngát. Ngài cương-quyết thực-hiện sứ mạng của mình.

B – CHÁNH ÐỀ

I – SỰ HÓA ÐỘ RỘNG LỚN VÀ CÙNG KHẮP CỦA ÐỨC PHẬT

Sứ mạng hóa độ của Ðức Phật, như chúng ta đã biết, thật nặng nề và khó khăn. Nhưng nhờ trí tuệ sáng suốt, lòng từ bi rộng sâu, nhờ tinh thần bình đẳng triệt để và nhờ ý chí dũng mãnh không thối chuyển, mà Ðức Phật đã hoàn thành sứ mạng của mình một cách viên mãn. Trong khi hóa độ, Ngài đã dựa theo ba nguyên tắc sau đây:

1. HÓA ĐỘ THEO THỨ LỚP CĂN CƠ.

Khi bắt đầu đi truyền Ðạo, ý nghĩ trước tiên của Ngài là đến vườn Lộc Uyển tìm mấy người bạn đồng tu với Ngài trước kia để thuyết pháp. Mấy người bạn ấy là các ông: Kiều Trần Như, Bạc Đề (Bhaddiya), Thập Lực Ca Diếp (Dasabala-Kasyapa), Ma Nam Câu lợi (Mahanama) và Át Bệ (Assaji). Bài thuyết pháp đầu tiên ấy là TỨ-DIỆU-ĐẾ. Năm vị nầy đều được khai ngộ, và trở thành 5 đệ tử đầu tiên của Phật. Kế đó Phật thuyết luôn ba tháng cho 55 người Bà-la-môn, mà người đứng đầu là ông Da-Xá, 55 người nầy đều xin qui y theo Phật, và hợp với 5 người trong nhóm ông Kiều Trần Như thành 60 đệ tử, 60 đệ tử này sau khi giữ đúng giới luật, được Phật thọ-ký cho đi truyền Ðạo khắp nơi.

Ðức Phật rời Vườn Lộc-Uyển đi về phía Nam đến xứ Ưu Lầu Tần Loa và hàng phục một vị tổ sư rất có uy tín của Ðạo Thờ Lửa là ông Ma-ha Ca-Diếp và hai người em của Ông. Ông Ca-Diếp mang tất cả đồ đệ của mình là 1,250 vị, xin qui-y theo Phật.

Nhớ lại lời hẹn xưa với vua Tần-Bà-Xa-La, Ngài đến xứ Ma Kiệt Đà vào thành Vương Xá để độ cho vua. Vua Tần Bà Xa La gặp lại Ngài, vui mừng khôn xiết, truyền xây cất tịnh xá Trúc Lâm, để thỉnh Phật và chư Tăng ở lại thuyết Pháp độ sanh.

Trong lúc Phật ở tịnh xá Trúc Lâm, thì vua Tịnh-Phạn nghe tin Ngài đã thành Phật, truyền sứ-giả đi thỉnh Ngài về thành Ca Tỳ La Vệ. Nhưng 9 lần 9 sứ giả đi đều biệt tăm, không trở lại. Thì ra những người này khi đến Trúc Lâm tịnh xá nghe Phật thuyết pháp, đã say mê quên sứ mạng của mình và xin thọ giới xuất gia. Lần thứ 10, Tịnh Phạn-Vương sai một cận thần thân tín là Ưu-Ðà-Di, mới thỉnh được Phật về. Trên đường từ thành Vương Xá trở về Ca Tỳ La Vệ, Ðức Phật đã thuyết pháp độ cho không biết bao nhiêu người. Về thành Ca Tỳ La Vệ, Ngài ở lại 7 ngày. Mặc dù chỉ trong thời gian ngắn ngủi ấy, Ðức Phật đã cảm hóa tất cả dòng họ Thích và tất cả những người trong dòng họ này đều xin qui y và một số lớn xin xuất gia theo Phật, như các ông: Nan-Ðà, A-Nan-Ðà, A-Nậu-Lâu-Ðà, La-Hầu-La ...

Sau khi trở về thăm gia đình và quê hương, Ðức Phật cùng các đệ tử lại tiếp tục đi truyền Ðạo. Ngài đi đến thành Xá-Vệ là kinh đô nước Kiều Tát La, thuộc quyền thống trị của vua Ba-Tư-Nặc. Ở thành này có một vị đại thần tên là Tu-Ðạt-Ða, giàu lòng bố thí cho những kẻ bần cùng côi cút, nên được gọi danh hiệu là Trưởng Giả Cấp Cô Độc. Ông rất ngưỡng mộ Ðức Phật nên đã trút hết tất cả tiền của vàng bạc trong kho ra mua khu vườn rộng lớn của Thái tử Kỳ Ðà để làm tịnh xá cho Phật và đệ tử của Ngài ở, thuyết pháp độ sanh.

Ðược ít lâu nghe tin vua Tịnh-Phạn đau nặng, sắp băng hà, Ðức Phật vội trở về thăm cha lần cuối cùng. Thấy phụ thân buồn rầu trên giường bịnh Phật thuyết về “LẼ VÔ-THƯỜNG, KHỔ, KHÔNG, VÔ NGÔ cho vua nghe. Nghe xong ,vua liền dứt phiền não, gương mặt vui tươi, cất tiếng niệm Phật, rồi băng hà một cách êm ái.

Sau khi Tịnh-Phạn-Vương mất, bà mệ nuôi của Phật là Ma Ha Ba Xà Ba Ðề và bà Da Du Ðà La cùng nhiều người bên nữ giới họ Thích xin được phép xuất gia. Từ đó trong Ðạo Phật lần đầu tiên có hàng Tỳ Kheo Ni.

Ðức Phật cùng các đệ tử lại tiếp tục đi truyền Ðạo, đi đến đâu Ngài cũng được sùng mộ, tin theo và nhiều người noi theo gương của ông Cấp Cô Ðộc thiết lập Tịnh Xá, xây cất giảng đường để Ngài thuyết pháp độ sanh.

Như thế chúng ta thấy Ðức Phật đã tuần tự hóa độ và kết nạp đệ tử, từ những hạn người đủ căn trí dễ hiểu thấu giáo lý của Ngài rồi mới rộng ra những người khác; Lập Tỳ Kheo trước rồi Tỳ Kheo Ni sau.

2- HÓA ĐỘ TÙY PHƯƠNG TIỆN.

Trong suốt thời gian đi thuyết pháp độ sanh, lắm khi Ðức Phật cũng gặp nhiều cảnh gay go trái ngược do lòng đố kị của ngoại đạo, tà giáo, hay lòng ganh ghét của nội thân quyến thuộc gây ra. Nhưng lúc nào Ngài cũng tuỳ phương tiện để cảm hóa họ, và đưa họ về đường ngay lẽ phải. Chẳng hạn, khi thì Ngài bị cô gái con ngoại đạo độn bụng giả có chửa dến giữa Ðạo tràng để vu oan cho Ngài; khi thì Ngài bị anh chàng Vô Não đuổi theo quyết giết Ngài để lấy ngón tay góp thêm cho đủ số một ngàn ngón mà nó đã giết người để lấy, vì theo thuyết tà đạo, nó tin rằng có làm được như thế mới chứng quả; khi thì Phật bị Ðề Bà Ðạt Ða, người em họ hung ác, âm mưu hãm hại Phật bằng cách thả voi say cho chạy đến chà đạp Phật, hay lăn đá to từ trên núi xuống đè Phật.

Nhưng tất cả những âm mưu ấy đều vô hiệu quả, vì oai đức uy danh và trí huệ của Phật bao bọc Phật, không một hành động xấu xa nào có thể thắng Phật được. Ngài có đủ phương tiện khôn ngoan khéo léo, xoay chiều đổi hướng dễ dàng, hoán cải được tất cả nghịch cảnh trở thành thuận lợi. Và cuối cùng kẻ khinh ghét Ngài trở lại kính mến Ngài; người chống ngài trở lại phục Ngài; kẻ ngoại đạo trở thành phật tử. Bằng chứng là: Ðế Bà Ðạt Ða cũng được Phật thọ ký; anh chàng Vô Não cũng được qui y; bầy voi say cũng được sám hối; Vua A Xà Thế cũng hối cải và quay về đường ngay.

Nói tóm lại, Ðức Phật có đủ muôn ngàn phương tiện thích ứng với mọi người, mọi vật, mọi hoàn cảnh để hóa độ tất cả những ai mà Ngài gặp trên đường truyền Ðạo của Ngài. Không phải chỉ ở ngoài đời, mà trong Giáo hội của Ngài, Ngài cũng tuỳ theo căn cơ, tâm lý của mỗi đệ tử mà áp dụng phương pháp thích hợp. Chẳng hạn như đối với ông Nan Ðà, mặc dù thân đã xuất gia, mà tâm vẫn muốn ngao du, luyến ái bạn bè, Ngài dùng thần thông để đưa ông lên cõi trời xem những cảnh sống tốt đẹp, vui thú khác thường, rồi đưa ông xuống địa ngục mục kích những hình phạt đau đớn, rùng rợn hãi hùng để ông so sánh hai cảnh đời trái ngưọc nhau mà tự chọn lấy một đường.

Còn đối với ông A-Nan, người học rộng nghe nhiều, nhưng vì nghiệp duyên còn nặng, nên mắc nạn “Ma Ðăng Già”, thì Phật lại đem giáo lý thâm sâu là Kinh Lăng-Nghiêm ra giảng dạy để cho ông A-Nan thấy rõ được cái quí giá của chân tâm mà lo tu luyện, chứ không giong ruổi theo giả cảnh nữa.

Xem như thế thì Ðức Phật đã dùng phương tiện để tùy duyên hóa độ, như ông lương y giỏi tùy bịnh cho thuốc, chứ không nhất thiết phải theo một đường lối cố định nào cả. Ðối với kẻ thân, người thù, đối với kẻ thông minh hay người ngu độn, đối với kẻ giàu, người nghèo, Ngài đều có đủ pháp môn cho họ khai ngộ và quy y theo Ngài.

3 – HÓA ĐỘ THEO TINH THẦN BÌNH ĐẲNG.

Tinh thần triệt để bình đẳng là một điểm son quí giá nhật trong giáo lý của Ðức Phật, cũng như trong tâm hồn Ngài. Ngay từ khi còn ấu thơ, tinh thần ấy đã được bộc lộ trong những cử chỉ cứu giúp những kẻ bần cùng, những con vật lâm nạn, như chúng ta đã thấy trong bài trước.

Khi thành Ðạo, tinh thần bình đẳng ấy lại bộc lộ rõ ràng hơn nữa. Ngài đã có những câu nói bất hủ, khiến cho ngày nay, người ta vẫn đem ra làm khuôn vàng thưóc ngọc, như khi Ngài xin nước của một người thuộc giai cấp hạ tiện nhất Ấn-độ, người nầy sợ làm lây ô-uế cho Ngài, thì Ngài phán bảo: ”Không có giai cấp trong giọt máu cùng đỏ, trong nước mắt cùng mặn. Mỗi người sanh ra đều có Phật Tánh và có thể thành Phật”.

Trong Giáo hội của Ngài, Ngài nhận cả những người thuộc giai cấp hạ tiện. Như ông Ưu Ba Ly, một đệ tử của Ngài có tiếng tăm về giới luật, lại là một người thuộc giới hạ tiện Chiên Đà La, làm nghề gánh phân. Sự thâu nhập ấy đã làm cho các vị vua chúa bất mãn. Chính vua Ba Tư Nặc đã bạch Phật: ” Ðấng Chí Tôn thâu nhận kẻ hèn hạ vào hàng Tăng Ðồ như vậy, không ngại rằng đá sỏi lẫn lộn với châu ngọc, làm mất giá trị của chúng Tăng sao?” Phật dạy rằng: “Người hèn hạ mà biết phát tâm Bồ Ðề, xuất gia tu hành, chứng được quả Thánh, thì quí báu vô cùng, chẳng khác gì hoa sen mọc ở bùn lầy nhơ bẩn mà vẫn tinh khiết thơm tho”. “Một người sanh ra không phải liền thành Bà La Môn (giai cấp trên hết) hay Chiên Ðà La (giai cấp thấp nhất) mà chính vì sở hành của người ấy, tạo thành Chiên Ðà La hay Bà La Môn”.

Ngài xâu giùm kim cho người mù, hoan hỷ nhận hòn đất sét mà đứa bbé đã nắn để dâng Ngài, thọ lãnh bữa cơm cuối cùng do người thợ đốt than nghèo nàn dâng cúng. Chính vì sự hóa độ bình đẳng như thế, mà kinh Ðại Niết-Bàn đã tán thán (ca tụng):

-”Ðức Như Lai không chỉ thuyết pháp cho hạng người quyền quí như vua Bạc Ðề Ca, mà cũng thuyết pháp cho hạng người bẫn cùng như ông Ưu Ba Ly; không riêng thọ lãnh sự cúng dường của những người giàu có như ông Tu Ðạt Ða, mà cũng thọ lãnh sự cúng dường của các hạng nghèo khổ như ông Thuần Ðà; không riêng cho phép xuất gia các hạn không có tánh tham như Ngài Ca Diếp, mà cũng cho phép xuất gia những người có nhiều tánh tham như ông Nan Ðà; không những thuyết pháp cho hạng người an tịnh không dự việc đời, mà cũng thuyết pháp cho vua Tần Bà Sa La trong lúc đang bận rộn việc nước; không những thuyết pháp cho hạng thanh niên trẻ tuổi, mà cũng thuyết pháp cho ông già 80 tuổi; không những thuyết pháp cho bà hoàng hậu Mạt Lĩ, mà cũng thuyết pháp cho dâm nữ Liên Hoa”.

II- NĂM THỜI KỲ NÓI KINH

Tóm lại, trong một đời của Ðức Phật, tùy theo trình độ của mọi người mà thuyết pháp giáo hóa, mãi đến khi Ngài nhập diệt, cộng là 49 năm. Những Kinh Pháp của Ngài nói ra, về sau các đệ tử kết tập chia ra làm năm thời:

1.THỜI THỨ NHẤT NÓI KINH HOA-NGHIÊM

Khi Phật mới thành Ðạo, ở tại cội Bồ Ðề, nói KINH HOA NGHIÊM 21 ngày. Vạch rõ chân tánh, chỉ bày chỗ cao sâu mầu nhiệm của Ðạo Phật, chủ dích có hai điều:

a) Dẫn dắt các bậc Bồ Tát lên địa vị Ðẳng giác và Diệu giác.
b) Nêu bày giáo pháp rốt ráo của Như Lai, chỉ có Phật với Phật mới hiểu rõ mà thôi; Ngoài ra Hàng Nhị Thừa ngồi nghe như đui, như điếc, huống chi ngoại đạo, tà giáo làm sao hiểu nổi! Ðức Phật trình bày giáo pháp siêu việt tuyệt vời ấy, là muốn cho đại chúng phải tu theo Ðại thừa Phật giáo mới được hoàn toàn rốt ráo.

2.THỜI THỨ HAI PHẬT NÓI KINH A-HÀM

Biết rằng: “Muốn đi xa phải do nơi gần, muốn lên cao phải từ nơi thấp”, Ðức Thích Ca y theo chư Phật mà nói pháp Tam thừa. Vì vậy thời thứ hai, Ngài nói KINH A HÀM trọn 12 năm, dùng thí dụ thực tế, chỉ rõ chân lý cho Hàng Tiểu Thừa dễ nhận, mà lo bề tự tu và tự độ.

3.THỜI THỨ BA PHẬT NÓI KINH PHƯƠNG ÐẲNG.

Ðạo Phật chẳng những dạy pháp "giác ngộ phần mình" (Tự Giác) mà Ngài còn chỉ bày phương pháp "giác tha" nữa, tức là khuyến khích từ cái giác ngộ tiêu cực nhỏ hẹp của Tiểu thứa (A La Hán), để tiến lên cái giác ngộ tích cực bao la của Ðại thừa Phật Giáo. Ấy là thời nói KINH PHƯƠNG ÐẲNG trọn 8 năm, dẫn dắc Tiểu thừa qua Ðại thừa.

4.THỜI THỨ TƯ PHẬT NÓI KINH BÁT NHÃ.

Ðến khi Ðức Phật xem căn cơ của chúng sanh có thể tiến lên một từng cao nữa là hấp thụ được hoàn toàn Giáo Pháp Ðại Thừa, nên Ngài chỉ bày Ðạo lý chân không của Vũ trụ, thuyết minh cái thật tướng, vô tướng của các pháp. Ấy là thời kỳ nói KINH BÁT NHÃ trọn 22 năm.

5.THỜI THỨ NĂM PHẬT NÓI KINH PHÁP HOA VÀ NIẾT BÀN.

Sự hóa độ một đời của Ðức Phật gần viên mãn, thêm thấy căn cơ của chúng sanh đã thuần thục, có thể gánh vác Ðại thừa Chánh Pháp của Như Lai, nên Ngài bèn nói rõ bản hoài của Ngài thị hiện ra đời là vì một nguyên nhân lớn: “Khai Thị chúng sanh Ngộ, Nhập, Tri, Kiến, Phật”. Ngài phú chúc, thọ ký cho các hàng đệ tử, tương lai sẽ thành Phật. Ấy là thời nói KINH PHÁP HOA và KINH NIẾT BÀN trọn 8 năm. Ðến đây nhiệm vụ thuyết pháp độ sanh của đời Ngài đã viên mãn.

Tóm lại 5 thời thuyết pháp Cổ nhơn có làm bài kệ như sau:

HOA NGHIÊM tối sơ tam thất nhựt
A-HÀM thập nhị, PHƯƠNG ÐẲNG bát
Nhị thập nhị niên BÁT NHÃ đàm
PHÁP HOA, NIẾT BÀN cộng bát niên.

DỊCH NGHĨA
Trước nói HOA NGHIÊM hăm mốt (21) ngày
A-HÀM mười hai, PHƯƠNG ÐẲNG tám
Hai mươi hai (22) năm nói BÁT NHÃ
PHÁP HOA, NIẾT BÀN cộng tám năm.


III- SỰ HÓA ÐỘ VIÊN MÃN

Từ khi thành Ðạo dưới gốc cây Bờ Ðề cho đến ngày nhập diệt, trải qua một thời gian 49 năm, Ðức Phật đã đi khắp xứ Ấn Độ rộng lớn bao la, hết nước này đến nước khác. Hễ chỗ nào có chân Ngài dẫm đến là Ánh Ðạo Vàng bừng tỏa huy hoàng.

Mỗi ngày Ngài theo một thời dụng biểu, một chương trình nhất định, không bao giờ xao lãng, giải đãi, từ khi trẻ cho đến già, từ mùa mưa cho đến mùa nắng. Mỗi ngày khi trời chưa sáng, Ngài đã lìa khỏi giường đi tắm rửa, thay đổi y phục rồi vào phòng quán cơ cho đến lúc mặt trời xuất hiện. Sau đó Ngài thuyết pháp cho chúng Tăng đến lúc trưa mới nghỉ để thụ trai. Buổi chiều, Ngài thuyết pháp cho Tín đồ các vùng lân cận đến nghe; rồi lại giảng giải những nghi vấn của các Tăng về những vấn đề mà Ngài đã thuyết pháp buổi sáng.

Mỗi năm, Ngài đi chu du để thuyết pháp độ sanh trong 9 tháng nắng ráo; còn 3 tháng về mùa hạ có mưa lớn (theo thời tiết Ấn độ), thì Ngài lại ở luôn trong Tịnh xá để An Cư Kiết Hạ.

Ròng rã trong 49 năm như thế, hạt giống Từ Bi được Ngài tinh tấn gieo rắc khắp các xứ ở Ấn Độ. Từ Bắc chí Nam, từ Ðông sang Tây, từ rừng rú đến đồng bằng, không nơi nào là Ngài không đặt chân đến, hay truyền đệ tử đến thay Ngài để hóa độ chúng sanh. Và ở đâu Ngài và các đệ tử cũng được, nhân dân, từ vua đến dân, từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, từ phái nam đến phái nữ, đổ xô ra đón tiếp Ngài, vui thú đươc tắm gội trong ánh nắng trí huệ và nước Từ bi do Ngài tưới xuống. Ở đâu có Anh Ðạo Vàng đến, thì Tà Giáo và Ngoại Giáo lui xa dần, tan biến như những làn mây, như những bóng tối, tan biến trước ánh bình minh đang lên. Giọng thuyết pháp của Ngài có oai lực như tiếng sư tử rống, làm cho cầm thú phải khiếp phục, như tiếng Hải Triều lên, lấn ác tất cả bao nhiêu tiếng tỉ tê của côn trùng, chim chóc.

Ðạo Bồ Ðề từ đây đã ăn sâu gốc rễ trên bán đảo Ấn Độ bao la, và trở thành tôn giáo chính của các nước lớn, nhỏ thời bấy giờ tại Ấn Độ. Ðức Phật sau khi đã "tự giác", đã "giác tha" và đến đây giác hạnh của Ngài đã viên mãn.

IV- TRƯỚC KHI NHẬP NIẾT BÀN

1 – PHẬT BÁO TIN SẮP LÌA ĐỜI.

Khi giác hạnh đã viên mãn thì Phật đã 80 tuổi. Ðến đây, sắc thân tứ đại của Ngài cũng theo luật vô thường mà biến đổi, yếu già. Năm ấy Ngài vào hạ ở rừng Sa La trong xứ Câu Ly, cách thành Ba La Nại chừng 120 dặm. Một hôm Ngài gọi ông A Nan, người đệ tử luôn luôn ở bên cạnh Ngài đến và phán bảo:

-”A Nan! Ðạo ta nay đã viên mãn. Như lời nguyện xưa, nay ta đã có đủ bốn hạng đệ tử: Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di. Nhiều đệ tử có thể thay ta chuyển xe pháp, và Ðạo ta cũng đã truyền bá khắp nơi. Bây giờ ta có thể rời các ngươi mà ra đi. Thân hình ta, theo luật vô thường, bây giờ như một cổ xe đã mòn rã. Ta đã mượn nó để chở pháp, nay xe đã vừa mòn mà pháp cũng đã lan khắp nơi, vậy ta còn mến tiếc làm gì cái thân tiều tụy này nữa? A-Nan! Trong ba tháng nữa ta sẽ nhập Niết bàn”.

Tin Ðức Phật sắp vào Niết bàn, lan ra như một tiếng sét. Các đệ tử của Ngài đi truyền giáo ở các nơi xa, lục tục trở về để cùng đấng Giác Ngộ chia ly lần cuối.

Trong thời gian ba tháng cuối cùng của Ngài, Ðức Phật vẫn không nghỉ ngơi, mà vẫn tiếp tục đi truyền Ðạo. Một hôm Ngài đi thuyết pháp ngang qua một khu rừng, gặp một người làm nghề đốt than, ông Thuần Ðà, thỉnh Ngài về nhà để thọ trai. Ngài im lặng nhận lời cùng các đệ tử theo ông về. Ðến nhà ông Thuần Ðà dọn ra cúng dường Ngài một bát cháo nấm Chiên đàn, thường gọi là nấm heo rừng, vì giống nấm này rất được giống heo rừng ưa thích.

Thụ trai xong, Phật cùng các đệ tử từ giã ông Thuần Ðà ra đi. Ðược một quãng đường, Ngái giao bình bát cho ông A Nan và truyền treo võng lên, trong rừng cây Ta-la (Tàu dịch là cây Song Thọ, cây có hai nhánh lớn chia ra như hai cái nạn), để Ngài nằm nghỉ. Ngài nằm xuống võng đầu trở về hướng Bắc, mình nghiêng về phiá tay phải, mặt xây về hướng mặt trời lặn, hai chân tréo vào nhau.

Nghe tin Ngài sắp nhập Niết bàn, dân chúng quanh vùng đến kính viếng rất đông, trong số ấy có một ông già ngoài 80 tuổi, tên Tu Bạc Ðà La đến xin xuất gia thọ giới Sa Di với Ngài, Ngài hoan hỷ nhận lời. Ðó là người đệ tử cuối cùng trong đời Ngài.

2- PHẬT NÓI KINH DI GIÁO VÀ NHỮNG LỜI PHÚ CHÚC

Lúc bấy giờ các đệ tử của Ngài đều có mặt đông đủ, chỉ trừ ông Ca-Diếp vì đi thuyết pháp xa, chưa về kịp. Ngài hội tất cả đệ tử và tín đồ đến quanh Ngài và dặn dò một lần cuối. Ngài phú chúc như sau:

a) Y,bát của Ngài sẽ truyền cho ông Ma-Ha Ca-Diếp.
b) Các đệ tử phải lấy "GIỚI LUẬT làm Thầy".
c) Ở đầu các Kinh phải nên nêu 4 chữ: “Như thị ngã văn”.
d) Xá lợi của Ngài sẽ chia làm ba phần:

- Một phần cho Thiên cung,
- Một phần cho Long cung,
- Một phần chia cho 8 vị Quốc vương ở Ấn Ðộ

Sau đây là lời vàng ngọc mà Ngài đã để lại trong giờ phút cuối cùng.

- “Này! Các người phải tự mình thắp đuốc lên mà đi! Các người hãy lấy Pháp của ta làm đuốc! Hãy theo Pháp của ta mà tự giải thoát! Ðừng tìm sự giải thoát ở một kẻ nào khác, đừng tìm sự giải thoát ở một nơi nào khác, ngoài các người!”.

- “Này! Các người đừng vì dục vọng mà quên lời ta dặn. Mọi vật ở đời không có gì quí giá. Chỉ có chân lý cuả Ðạo ta là bất di, bất dịch. Hãy tinh tiến lên để giải thoát, hỡi các người rất thân yêu của ta!”.


Sau khi đã dặn dò cặn kẽ xong, Ngài nhập định rồi vào Niết bàn. Lúc bấy giờ nhằm ngày rằm tháng hai Âm Lịch (theo giáo sử Trung hoa).

Rừng cây Ta-la tuôn hoa xuống phủ lên thân Ngài, trời đất u ám, cây cỏ héo úa, chim chóc im bặt tiếng hót. Vạn vật như chìm lặng trong giây phút nặng nề của sự chia ly.

Các đệ tử tẩn liệm xác Ngài vao trong kim quan và 7 ngày sau, đưa kim quan Ngài vào thành Câu Thi để tại chùa Thiện Quang và làm Lễ Trà Tỳ (lễ hỏa thiêu).

Tám vị Quốc vương lớn ở Ấn Độ kéo binh hùng tương dũng đến toan tranh dành Xá Lợi. Nhưng ông Hương-Tích y theo di chúc của Phật, đứng ra điều đình, và nhờ thế việc phân chia Xá Lợi đều được ổn thỏa.

C – KẾT LUẬN

Ðức Phật đã nhập Niết Bàn, nhưng gương sáng của đời Ngài vẫn còn chiếu sáng rực rỡ trước mắt chúng ta. Suốt một đời, trong 80 năm trời, không một lúc nào Ngài xao lãng mục đích tối thượng là hóa độ chúng sanh đang trầm luân trong bbể khổ. Khi còn tại gia, Ngài là người ở trong một địa vị có diễm phúc nhất, cao nhất của người đời.

Thế mà Ngài vẫn không màng tưởng đến; khi vào trong Ðạo, Ngài là người ở trong địa vị cao chót vót của Ðạo, thế mà Ngài vẫn không chịu ở yên trong địa vị ấy, lại vất vả rong dủi trên mọi nẻo đường bụi bặm, gai góc để đưa chúng sanh lên con đường hạnh phúc an vui và giải thoát hoàn toàn. Lòng thương của Ðức Phật thật vô biên.

1- NGƯỜI ĐỜI NÊN NOI GƯƠNG SÁNG CỦA PHẬT.

Sự hy sinh cao cả, lòng từ bi rộng lớn, trí tuệ sáng suốt, ý chí dũng mãnh của Ngài không những là bao nhiêu gương sáng cho riêng hàng Phật Tử, mà còn cho tất cả mọi người. Nếu chúng ta quang niệm Ngài là một vĩ nhân của nhân loại từ xưa đến nay. Nếu chúng ta quan niệm Ngài là một bậc siêu nhân, thì đó là một bậc siêu nhân cao hơn những bậc siêu nhân khác. Nếu ta quan niệm đời Ngài là một sự thị hiện của Phật, thì đó là sự thị hiện đẹp đẽ nhất và đầy đủ ý nghĩa hơn hết trong các sự thị hiện. Cho nên không những đối với Tín đồ Phật giáo, mà đối với toàn thể nhân loại, Ðức Phật đáng được tôn sùng và chiêm ngưỡng.

2- TÍN ĐỒ, PHẬT TỬ NÊN GHI NHỚ NHỮNG LỜI DI CHÚC CỦA PHẬT

- Chúng ta , những Phật tử, ai cũng biết đời Ðức Phật là đẹp đẽ, cao cả; bài học của đời Ngài là quí báu, sâu xa. Nhưng nếu chúng ta không cố gắng học tập, thì bài học dù hay ho quí báu bao nhiêu cũng vô ích. Ðức Phật trước khi nhập diệt, đã dặn chúng ta một câu cuối cùng:

- “Mọi vật ở đời không có gì quí giá. Thân thể rồi sẽ tan rã. Chỉ có Ðạo ta là quí báu. Chỉ có chân lý của Ðạo ta là bất di bất dịch. HÃY TINH TẤN LÊN ÐỂ GIẢI THOÁT!”


Vậy thì diều kiện trọng yếu nhất để giải thóat là sự tinh tấn. Chúng ta đừng bao giờ quên điều kiện ấy trong khi tu hành.

HT.Thiện Hoa


Xem Thêm:

Edited by user Sunday, November 1, 2015 12:57:11 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#22 Posted : Sunday, March 20, 2016 3:04:11 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
"Bát Nhã" tạm dịch là "Trí Tuệ" ... Tóm gọn Giáo Lý chỉ bày tất cả các Pháp Môn của Đạo Phật chỉ tóm gọn trong 3 hoc "Giới - Định - Tuệ (Huệ)" ... Bát Nhã Tâm Kinh là chỉ bày giải thích về "Trí Tuệ" mà người Giác Ngộ có được !!!

Hôm nay Lynn nghiệm ra được cách trình bày và chú thích tóm tắt nho nhỏ lời rút tỉa từ các bài Khai Thị của các Tổ Sư đã chứng đắc . Cách layout này giúp bản thân Lynn khi trì tụng "Bát Nhã Tâm Kinh", dễ dàng liên hệ đến các Pháp Môn, các từ ngữ căn bản mà Bổn Sư Thích Ca đã chỉ dạy trong suốt 49 năm, đặc biệt là 22 năm chuyên giảng Bát Nhã ("Nhị thập nhị niên Bát Nhã Đàm") mà các đại đệ tử của Bổn sư kết tập lại thành bộ "Đại Bát Nhã" gồm 600 quyển sách, cuối cùng thì tổng kết lại thành Kinh Kim Cang gồm 5000 chữ , và sau đó thì Bồ Tát Quán Thế Âm tóm gọn lại thành Bát Nhà Tâm Kinh chỉ còn 250 chữ truyền lại cho ngài Xá Lợi Phất - 1 trong 10 đại đệ tử của Bổn Sư Thích Ca

"Bát Nhà Tâm Kinh" quá tóm gọn và cô đọng nên Lynn đã vừa nghiệm ra được 1 cách trình bày kèm theo chú thích nho nhỏ để tự bản thân mình dễ nhớ và thông hiểu rõ ràng hơn ... và hôm nay thì đem ra chia sẻ cùng các bạn đồng đạo gần xa ...

Toàn bộ bài "Bát Nhã Tâm Kinh" mà Hám Sơn Đại Sư (người để lại nhục thân bất hoại cạnh Lục Tổ ở Chùa Nam Hoa) chỉ dạy ... thì quan trọng chỉ có 1 chữ "QUÁN" , rộng thêm là cụm từ " QUÁN TỰ TẠI " !!! Lynn kết hợp thêm lời giảng của các Tổ Sư khác để nói rộng ra nữa là câu mà Lynn hight light ...

Hám Sơn Đại Sư thuyết : "Quán Tự Tại" = xoay lại xem xét bản tâm mình = "tự tâm" quán sát ==> thấy được "Tự Tánh" ==> kiến tánh thành Phật là ở chỗ này !!!

"Y Pháp Phụng Hành, Y Giáo Phụng Hành" . Nguyện cầu tất cả các anh chị em Đồng Đạo , nhất thời đồng chứng đắc Chánh Đảnh Chánh Giác .

Nam Mô Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật





MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH


Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị Sắc, Sắc tức thị không, không tức thị Sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức diệc phục như thị. (ngũ uẩn là ảo /huyển)

Xá-Lợi-Tử!
  • Thị chư Pháp (pháp môn/phương tiện) không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.

  • Thị cố “không trung”
    • Sắc, vô Thọ, Tưởng, Hành, Thức (không có ngũ uẩn);
    • Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý (không có lục căn, lục thức) ;
    • Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp (không có lục trần);
    • Nhãn-Giới, nãi chí Ý-Thức- Giới ; (không có lục thức giới );
    • Vô-Minh, diệc Vô-Minh tận, (Không Có Vô Minh; nên không cần phải diệt tận nó );
    • nãi chí Lão-Tử, diệc Lão-Tử tận; (không có già chết; nên không cần diệt tận nó );
    • Khổ, Tập, Diệt, Đạo (Không Có Tứ Diệu Đế , Tứ Khổ Đế);
    • Trí , diệc Đắc . Dĩ Sở Đắc Cố, (Không Có Trí (tuệ), (Chứng) Đắc, cùng như “Sở Đắc );

Bồ-Đề-Tát-Đỏa y Bát nhã Ba-la-mật-đa cố , Tâm vô Quái Ngại; vô Quái Ngại Cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-Bàn.

Tam Thế Chư Phật
(Phật Quá Khứ- Phật Hiện Tiền – Phật Vị Lai) y Bát nhã Ba-la-mật-đa cố , đắc A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề. Cố tri Bát Nhã Ba La Mật Đa, Thị đại thần chú, Thị đại minh chú, Thị vô thượng chú, Thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa Chú. Tức thuyết chú viết: “Yết đế, yết đế, Ba la yết đế. Ba la tăng yết đế Bồ đề tát bà ha”(3 lần)



Lynn Ly layout và chú thích (14-03-2016)

Xem Thêm:


Edited by user Sunday, March 20, 2016 5:26:11 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#23 Posted : Friday, March 25, 2016 4:35:37 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, lạy Phật Tổ soi đường dẫn lối ... cho con nói lời nào thì đúng ý Phật, diễn giải không sai lời Kinh !!!

Các bậc Thánh Tăng , các Tổ Sư lưu truyền cụm từ 7 chữ và 8 chữ dùng để tóm gọn "điểm chính yếu" của 2 bộ Kinh Đại Thừa mà hằng hà sa số Chư Phật "dị khẩu đồng âm" thuyết giảng như sau :

Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA tóm gọn là: KHAI, THỊ, NGỘ, NHẬP TRI KIẾN PHẬT
Kinh THỦ LĂNG NGHIÊM tóm gọn là: KHAI, THỊ, NGỘ, NHẬP THƯỜNG TRỤ CHÂN TÂM

==> Cho nên có các Tô Sư cũng lưu lại bài kệ :
Tâm tức Phật, Phật tức Tâm
==> ( Tâm mê là chúng sanh, tâm giác ngộ là Phật )
Ngoài Tâm không Phật, ngoài Phật không Tâm
==> (Tâm trung hữu Phật = Phật tại Tâm ; Ngoài Tâm không có Phật, Ngoài Phật không Tâm;
Tất cả các hình tượng Phật / hình ảnh Phật đặt để chưng bầy mà nhìn thấy bên ngoài Tâm đều không có Tâm trong đó
)
Kẻ mê dong ruổi ngoại Tâm cầu
==> (Dùng Tâm tìm Tâm thì tựa như việc dùng con Mắt trên mặt mình để cố tìm nhìn thấy con mắt nào đó ở ngoài mặt mình vậy ...
Đây là việc làm của kẻ "mê muội")
Nhứt niệm giác ngộ về đến Phật
==> (Phật là "Chánh Giác", khi toàn tâm không có gì khác ngoài "Chánh Giác" thì ngay lúc đó đã "giác ngộ" = ngay lúc đó là Phật)
Dễ như rửa chân bước lên thuyền.
==> ("Thanh Tịnh" Tâm (thanh tịnh Thân-Khẩu-Ý) được ví von giống như 1 việc đơn giản là rửa chân sạch trước khi bước lên "thuyền Bát Nhã "
Ý nói là đùng Trí Tuệ ("Bát Nhã") như chiếc thuyền vượt sông mê để đi đến bến bờ "Giác Ngộ")


Các Thánh tăng , chư vị Tổ Sư đều "ĐỐN NGỘ, TIỆM TU"; Cụm từ "ĐỐN NGỘ, TIỆM TƯ" ý nói là "Nhất thời giác ngộ, trường kỳ huân tu" = cho dù đã "giác ngộ" , đạt được chánh đảnh chánh giác rồi nhưng vẫn phải trường kỳ tu rèn gìn giữ trạng thái "an trụ tâm trong chánh giác" để làm gương cho người đời noi theo . Các bậc Thánh Tăng, Tổ Sư luôn thị hiện "TRANG NGHIÊM-THANH TỊNH-CHÁNH GIÁC" , dùng HÌNH TƯỚNG do TÂM sanh của các Ngài để thuyết pháp và làm khuôn mẫu cho chúng sanh , người người noi theo tu tập .

Đêm qua ... lại được cơ duyên ... nghe thấy được câu thuyết giảng sau đây trong Kinh Bi Hoa thì nghiệm ra được làm sao "Bất Thoái Chuyển" niềm tin , gìn giữ "Tín Tâm kiên định" về 1 pháp môn tu ; Không loay hoay xoay vòng ... hôm tu theo pháp môn này, mai tu theo pháp môn khác ...

1) Phải hiểu sâu ý nghĩa của tất cả các PHÁP (Pháp môn = phương tiện = phương pháp) ĐỀU LÀ KHÔNG VÀ HOÀN TOÀN KHÔNG CÓ TƯỚNG NHẤT ĐỊNH, như vậy khi nghe hay thấy các Pháp (Phương Tiện) khác biệt nhưng không có khởi tâm phân biệt, như vậy mới không phát khởi nghi ngờ, phát khởi sự so sánh giữa các Pháp Môn Tu, không còn thối chuyển trên đường tu tập.

2) Phải biết rõ ràng là ... Bất kỳ Pháp Môn tu tập nào, việc đầu tiên vẫn là là phải "Thanh Tịnh THÂN-KHẨU-Ý" , phải khéo "điều phục TÂM" (Thân-Khẩu-Ý) dứt sạch được LẬU HOẶC, không còn sinh khởi các phiền não, mọi việc đều được tự tại, tâm được tự tại, trí huệ được phát sinh. Vậy thực hiện thế nào ??? Làm xong mọi việc cần làm, buông bỏ được gánh nặng, tự thân đã được sự lợi ích, dứt hết mọi chấp hữu, đạt trí huệ chân chánh thì tâm được tự tại.


Giờ chia sẻ cùng những ai có duyên hoặc không duyên ... Nguyện ai thấy nghe đều gieo xuống hạt giống Bồ Đề trong Tâm Thức !!! Nam Mô Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật ....

Lynn Ly (25-03-2016)




Xem Thêm:


Edited by user Friday, March 25, 2016 4:57:27 AM(UTC)  | Reason: Chỉnh sửa layout .

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#24 Posted : Thursday, March 8, 2018 4:30:13 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
KINH VÔ LƯỢNG THỌ : Bổn Sư Thích Ca chỉ bày có 2 phương pháp để giải trừ tội báo và cứu độ những chúng sanh đã từng gây trọng tội, PHƯƠNG PHÁP GIẢI TRỪ TỘI BÁO được tóm tắt trong 2 chữ "TÀM" và "QUÝ" và được giải thích như sau:

* "TÀM" là bản thân không làm ác; "QUÝ" là không dạy người làm ác;
* "TÀM" là sự hổ thẹn đến từ nội tâm; "QUÝ" là sự phát lộ bộc bạch ra ngoài cho người khác biết rồi thì quyết tâm tu sửa;
* "TÀM" là cảm giác có lỗi với người; "QUÝ" là cảm giác có tội lỗi với lương tâm ;

NGƯỜI CÓ TRÍ TUỆ có 2 hạng người :

* Một là hạng người không tạo tội nghiệp ;
* Hai là hạng người tuy tạo tội nghiệp nhưng biết sám hối

("SÁM" là hổ thẹn tội ác đã làm trong quá khứ, "HỐi" là quyết không tái phạm những viêc xấu đã làm và không làm những việc xấu ác nào khác)

NGƯỜI NGU cũng có 2 hạng người:

* Một là người chuyên tạo tội nghiệp
* Hai là người tạo tội và luôn cố gắng che đậy tội nghiệp




Kiến thức là từ học tập mà có,
Năng lực từ tôi luyện mà thành,
Phẩm hạnh, nhân phẩm là từ tu dưỡng mà xuất sanh.

Mưa lớn không gột rửa được rễ sâu trong lòng đất;
Đạo pháp rộng lớn cũng chỉ độ được người hữu duyên.



Xem Thêm:

Edited by user Thursday, March 8, 2018 4:31:06 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



Users browsing this topic
Guest (2)
2 Pages<12
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.