Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

2 Pages12>
Options
View
Go to last post Go to first unread
lly (Lynn Ly)  
#1 Posted : Friday, January 3, 2014 6:39:11 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)

UserPostedImage


QUY Y TAM BẢO

Giải thích: Quy Y Tam Bảo
  • Trở về nương tựa 3 ngôi báu PHẬT-PHÁP-TĂNG .
  • Nương tựa PHẬT-PHÁP-TĂNG bên ngoài đê/ được trợ duyên giúp chúng ta phát khởi GIÁC-CHÁNH-TỊNH của tự tâm mình

1) Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng .

Giải thích: Tự Quy Y Phật là:
  • Tự tâm trở về nương tựa PHẬT, đấng Giác Ngộ.
  • Tự tâm quay về bản tánh "Giác Ngộ", dứt trừ tà mê .

    Xin thệ nguyện theo đường lối cao cả và phát tâm tối thượng thừa (quyết lòng chứng đắc quả vị Phật)


2) Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như hải .

Giải thích: Tự Quy Y Pháp là:
  • Tự tâm trở về nương tựa Chánh Pháp.
  • Tự tâm quay về bản tánh chân CHÁNH, theo Chánh Phép Tắc, Chánh Lễ Nghi.

    Xin thệ nguyện hiểu thấu chân lý xuyên suốt Cổ Kim; và có trí tuệ rộng sâu như biển cả .


3) Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, tất cả không ngại.

Giải thích: Tự Quy Y Tăng là:
  • Tự tâm trở về nương tựa Tăng, người Thanh Tịnh không có nhiễm ô.
  • Tự tâm quay về bản tánh THANH TỊNH.

    Xin thệ nguyện hướng dẫn người người đi theo con đường Phật đã đi và hoàn toàn không bị chướng ngại gì .


Thệ Nguyện:
"Quy Y Phật, không quy y Thiên, Thần, Quỷ, (Súc) Vật"
"Quy Y Pháp, không quy Y ngoại đạo, tà giáo"
"Quy Y Tăng, Không quy Y bạn dữ, ác đảng"



Sau khi Quy Y Tam Bảo rồi, người Phật tử tại gia phải sống đúng theo quy luật mà đức Phật đã chế ra, để tiến bước trên đường Đạo. Quy luật ấy là Ngũ Giới. Người theo đạo Nho, đạo Khổng không thể theo Tam Cương mà bỏ Ngũ Thường, thì người đạo Phật cũng không thể chỉ thọ Tam Quy mà không trì Ngũ Giới

Các Tổ Sư nói : Thọ Giới ==> Trì Giới ==> Đắc Giới

"Thọ Giới" thì phải "Trì Giới" ... "Trì Giới" là tối thiểu đọc tụng Giới Luật 2 lần mỗi 1 tháng để nhắc nhở mình ghi nhớ Giới Luật mình đã Thọ nhận, và phải cố gắng gìn giữ Giới Luật ... "Trì Giới" nghiêm cẩn, không phá Giới Luật ("Phạm Giới") thì mới "Đắc Giới" ... như vậy mới có được "Đạo Hạnh", phẩm chất của người tu hành .



UserPostedImage


NGŨ GIỚI (5 GIỚI CẤM)

1) 1) Không SÁT sanh, hại mạng để làm người NHÂN từ .
2) Không THAM lam, trộm cắp để làm người biết đạo NGHĨA.
3) Không tà DÂM, tà hạnh để làm người biết LỄ nghi.
4) Không GIAN dối, lọc lừa để làm người được TÍN nhiệm.
5) Không SI mê (nghiện hút, uống rượu ...) để làm người có TRÍ tuệ .




Xem Thêm:

Edited by user Saturday, June 11, 2016 10:48:16 AM(UTC)  | Reason: Copy chữ từ trong hình ra post theo yêu cầu của 1 số người ghé xem

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#2 Posted : Friday, January 3, 2014 7:41:20 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)

UserPostedImage





GIÁO LÝ ĐẠO PHẬT: "Bát Chánh Đạo"
(1 con Đường hợp bởi 8 yếu chỉ Chánh Trực ...)



Đạo Phật (con đường mà Đức Phật chỉ ra) là "Trung Đạo" . "Trung Đạo" là đường lối Đức Bổn Sư hướng dẫn chúng sinh phải gìn giữ mình ở mức "trung dung" ... Trung dung là phải tránh xa, không để bị vướng mắc vào hai thái độ sống cực đoan (thí dụ giữa "đau khổ" và "khoái lạc") trong cuộc sống !!!

Đường lối cụ thể mà Đức Bổn Sư hướng dẫn Phật Tử ... mà Ngài đã vạch ra là Bát Chánh Đạo .Bát Chánh Đạo mô tả 1 đường đi, 1 hướng đi phải hội đủ 8 yếu chỉ quan trọng . Bát Chánh Đạo nêu ra 8 yếu chỉ mà các Phật Tử cần phải ghi nhớ và ngày ngày thực hiện để diệt trừ vô minh, mê muội ... để Phật Tử nhanh chóng thức tỉnh (giác ngộ) và hiển bày Phật Tánh tự có trong bổn tánh (bản tánh) của từng cá thể .

Vậy, Bát Chánh Đạo mô tả 1 đường, 1 hướng đi chánh trực , thẳng tiến phải hội đủ 8 yếu tố quan trọng gì ???
  • Chánh nghiệp (nghiệp = hành vi, hành động )
  • Chánh ngữ (ngữ = ngôn từ, lời nói)
  • Chánh mạng (mệnh = mạng = lối sống)
  • Chánh tinh tấn (tin tấn = sự nỗ lực, siêng năng, cần mẫn , liên tục không gián đoạn)
  • Chánh định(định = quyết định, định ra , phân biệt ra )
  • Chánh kiến (kiến = hiểu biết, nhìn thấy , cảm thấy , nhận thấy)
  • Chánh tư duy (tư duy = suy nghĩ)
  • Chánh niệm (niệm = suy niệm, quan niệm, ý thức, nhận thức ; khả năng ý thức được những gì đang diễn tiến, đang xảy ra ... ý thức "hư thực, thực hư, không hư , không thực" )

Trước khi đức Bổn Sư Thích Ca nhập diệt , Ngài căn dặn là "Dùng Giới luật để làm thầy" (Kinh Niết Bàn có ghi !!!) Vậy "Giới" là điều kiện kiên quyết người Phật Tử phải biết và ngày ngày thực hiện để rèn luyện Thân-Khẩu-Ý mình !!! Có gìn giữ và tu rèn theo "Giới (luật)" mà Đức Phật đã đề ra, thì con người mới có nhân cách tốt đẹp !!! Ngày ngày chân thành thực hiện và tu rèn ... thì ở trong bất kỳ hoàn cảnh tình huống nào vẫn không thối chuyển , không phá giới, thì là "Định" lực gia tăng ... Khi có Định lực kiên cố thì Trí Tuệ (Huệ) sẽ phát sinh. Lúc đó người Phật Tử có khả năng nhìn + hiểu + biết xuyên thấu mọi hiện tượng , mọi hình trạng ... để thấy là tất cả chỉ qui về 1 sự thật bất biến (Chân Lý) !!! Cho nên 84000 pháp môn tu của Đức Bổn Sư đề ra có thể tạm tóm gọn lại thành 3 chữ "Giới-Định-Huệ".

Vậy 8 yếu chỉ trong Bát Chánh Đạo tạm mô tả "Giới-Định-Huệ" ra sao ?

Giới: Giới luật mà Phật tử cần tuân thủ để có
  • Chánh nghiệp (nghiệp = hành vi, hành động )
  • Chánh ngữ (ngữ = ngôn từ, lời nói)
  • Chánh mạng (mệnh = mạng = lối sống)

Định: Định lực mà người Phật Tử cần phải phát huy khi
  • Chánh tinh tấn (tin tấn = sự nỗ lực, siêng năng, cần mẫn , liên tục không gián đoạn)
  • Chánh định,(định = quyết định, định ra , phân biệt ra )

Huệ: Trí Tuệ mà người Phật Tử có
  • Chánh kiến (kiến = hiểu biết, nhìn thấy , cảm thấy , nhận thấy)
  • Chánh tư duy (tư duy = suy nghĩ)
  • Chánh niệm (niệm = suy niệm, quan niệm, ý thức, nhận thức ; khả năng ý thức được những gì đang diễn tiến, đang xảy ra ... ý thức "hư thực, thực hư, không hư , không thực" )

Thực sự thì 8 yếu chỉ này không theo thứ tự nào cả, mà luôn nên hiện hợp cùng 1 lúc !!!

Giờ đây Lynn cũng chỉ là nhắc lại lời dạy (đã theo Kinh Sách ghi chép) của các bậc Tôn Trưởng, các bậc thầy của Lynn mà thôi !!! Mong tất cả hoan hỷ đón nhận !!! Chúc tất cả "Thân không tật bệnh, tâm không phiền não ... Ngày ngày an vui" !!!

Lynn Ly (19/06/2013)




Edited by user Tuesday, April 8, 2014 5:11:59 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#3 Posted : Friday, January 3, 2014 9:24:42 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)


UserPostedImage



THẬP THIỆN là gọi tắt của THẬP THIỆN NHIỆP


"Nghiệp" là hành vi; "Thập Thiện Nghiệp" là mười hành vi lành.

Về THÂN có ba:
  • Không sát sanh,
  • Không trộm cắp,
  • Không dâm dục.

Về KHẨU (NGỮ) có bốn:
  • Không nói dối (không vọng ngữ): Không được nói lời dối trá, đảo lộn có không, xấu tốt , thật giả, đúng sai , phải quấy, điên đảo thị phi . Xa lìa tánh "nói vọng ngữ" tức là "nói chân thật ngữ" .
  • Không nói hai lưỡi ( Không lưỡng thiệt ): không được nói lời chia rẽ phản gián, đến người này nói xấu người kia, đến người kia nói xấu người này, xui dục bà con bất hòa, thân tình thù oán. Xa lìa tánh "nói lời hai lưỡi" tức là tu rèn "nói lời hòa hiệp".
  • Không nói ác khẩu : Không được nói lời thô ác, mắng chửi , nguyền rủa v.v...do chửi mắng mà đi đến đánh đập giết hại; nhỏ từ cá nhân, rộng đến gia đình xã hội, cho đến quốc tế chiến tranh. Xa lìa tánh "ác khẩu" là "nói lời nhu hòa"
  • Không nói thêu dệt (Không ỷ ngữ) : Không được nói lời vô nghĩa lý, không đúng lẽ phải, không đúng tình lý . Không chao chuốt ngôn từ để làm cho người nghe thấy êm tai để khuyến dụ người nghe , rồi khiến cho người nghe không còn giữ được tâm trí sáng suốt, mất hẳn nhân tánh , mất luân thường đạo lý . Không được cố tình dẫn dắt người ta hiểu sai nghĩ lầm để rồi hành động tội lỗi và bị đọa lạc . Xa lìa "ỷ ngữ" tức là "nói lời đúng nghĩa lý , đúng sự thực" .

Về Ý có ba:
  • Không tham lam
  • Không sân hận
  • Không ngu si tà kiến.

PHÁP SƯ THÁI SƯ khi thuyết giảng kinh "THẬP THIỆN NGHIỆP ĐẠO" cũng có nói: " Sự thảm khốc tương tàn tương sát của nhân loại, chính là do kết quả của hành vi MƯỜI NGHIỆP ÁC. Giả sử tất cả đều làm theo MƯỜI NGHIỆP THIỆN thì thế giới an lạc sẽ hiển hiện ngay. Từ cá nhân cho đến đoàn thể, xã hội, rộng là thế giới, tạo thành một bể khổ mông mênh, chẳng biết đâu là bờ bến đó đều là kết quả của sự không tu thập thiện! Trên hoàn cầu, đại phàm có chút tư tưởng, từ các nhà tôn giáo cho đến các nhà học vấn, ai cũng nuôi hy vọng tạo thành một thế giới an vui tương thân tương ái; nếu thực hành theo MƯỜI THIỆN NGHIỆP thì những lý tưởng thiên đường cho đến cực lạc đều phát hiện rất dễ dàng vậy"

Tư tưởng của Đức Phật truyền dạy thì tất cả đều do Tâm tạo . Trong Kinh Hoa Nghiệm có ghi chép lời Đức Phật là "Tâm như họa sĩ khéo vẽ thế giới muôn màu. Cảnh Ngũ ấm thế gian, không Pháp nào không tạo" . Cho nên mọi tốt xấu, phải trái, thiện hay ác đều do tâm tạo !!! Cái gốc để tu chỉnh 1 xã hội, 1 quốc gia là tu chỉnh sửa đổi tâm tánh con người, người dân !!!

Đạo Phật là đạo thực hành ... người theo Đạo Phật thì phải chân thật thực hành đường lối Đức Phật đề ra để tu tâm sửa tánh, bỏ xấu ác và hành thiện để trở thành người sống có Đạo Đức ... và cần phải hiểu rõ ràng, tin sâu lý NHÂN QUẢ BÁO ỨNG để biết là phúc họa đều tự do mình tạo ra ... Một khi đến thời khắc đầy đủ cơ duyên thì quả chín mùi, rồi thì tự mình phải lãnh chịu hậu quả tốt xấu ... không sai chạy đi đâu cả !!!



Xem Thêm:

Edited by user Tuesday, April 8, 2014 5:24:49 AM(UTC)  | Reason: chỉnh sửa mục lục

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#4 Posted : Sunday, January 5, 2014 7:04:19 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)

Cội Nguồn Truyền Thừa
THIỀN


UserPostedImage


UserPostedImage




Xem Thêm:

Edited by user Sunday, January 5, 2014 7:46:34 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#5 Posted : Tuesday, January 7, 2014 11:18:54 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)


Tứ Vô Lượng Tâm (Từ - Bi - Hỉ - Xả)
TÂM XẢ


UserPostedImage




Xem Thêm:




"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#6 Posted : Friday, January 10, 2014 8:13:25 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
UserPostedImage




Xem Thêm:

Edited by user Friday, January 10, 2014 8:14:35 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#7 Posted : Friday, January 10, 2014 4:58:31 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
UserPostedImage




Xem Thêm:

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#8 Posted : Saturday, January 11, 2014 8:49:00 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)

Thuyết "VÔ THƯỜNG" và Thuyết "CHÂN THƯỜNG BẤT BIẾN"


VÔ THƯỜNG nghĩa là "không" thường, không mãi mãi ở yên trong một trạng thái nhất định; luôn luôn thay hình đổi dạng; đi từ trạng thái hình thành đến biến đổi rồi tan rã...

VÔ THƯỜNG là danh từ gọi tắt những giai đoạn thay đổi của muôn loài vạn vật là: THÀNH, TRỤ, HOẠI, KHÔNG (hay SANH, TRỤ, DỊ, DIỆT). Thí dụ như một làn sóng, khi mới nhô lên gọi là THÀNH (hay SANH),khi nhô lên cao nhất thì gọi là TRỤ; khi hạ dần xuống thì gọi là HOẠI (hay DỊ), khi tan rã thì gọi là KHÔNG (hay DIỆT). Tất cả sự vật trong vũ trụ, từ nhỏ như hạt cát, đến lớn như trăng sao, đều phải tuân theo bốn giai đoạn ấy cả .

Đức Phật diễn thuyết lý "VÔ THƯỜNG" là chỉ rõ ra cảnh thế gian là không thực, để đưa ra phương pháp bài trừ những mê lầm, ngăn chặn người chạy theo, tham đắm vật dục; Từ Thuyết Lý "VÔ THƯỜNG", đức Phật diễn thuyết lý "CHÂN THƯỜNG BẤT BIẾN", đó là "Chân Như Bổn Tánh" (TỰ TÁNH) của chúng sanh.



UserPostedImage

UserPostedImage



Xem Thêm:

Edited by user Saturday, January 11, 2014 12:53:53 PM(UTC)  | Reason: Chỉnh sửa mầu sắc và ghi chữ ra post theo yêu cầu vài anh chị ghé xem

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#9 Posted : Thursday, February 27, 2014 1:27:17 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
SÁM HỐI


Theo kinh sách thì SÁM HỐI được giải thích là : SÁM là "Sám kỳ tiền thiên", HỐI là "Hối kỳ hậu quả" . SÁM là "ăn năn" những điều ác (tội lỗi) đã tạo ra, nguyện xin chừa bỏ và không tái phạm . HỐI là "hối cải" (tu sửa lại) như là những điều ác (tội lỗi) chưa tạo ra, nguyện không bao giờ làm, và luôn làm việc thiện đem lợi ích cho muôn loài vạn vật khắp mọi nơi (chúng sanh).

Nói về phương pháp SÁM HỐI thì tạm phân ra 2 phương pháp, đó là SỰ SÁMLÝ SÁM.
  • SỰ SÁM tức là thiết lập Ðàn Tràng, trang nghiêm Phật tượng, cúng dường hương hoa, ân cần đảnh lễ (lễ lạy) sau mỗi lần xưng danh hiệu 1 vị Phật / vị Bồ Tát, thành khẩn tỏ bầy tội lỗi, phát tâm ăn năn hối cải, nguyện cầu xin chư Phật cùng chư đại Bồ tát chứng minh và gia hộ (hỗ trợ) cho hành giả (người thực hiện) vượt được mọi chướng ngại để giải trừ được oan khiên, nghiệp báo, quả báo do tội lỗi đã tạo ra; và phát nguyện là không tạo tác bất kỳ nhân duyên ác hại gì nữa !

  • LÝ SÁM là Sám Hối Tự Tâm . Pháp LÝ SÁM được mô tả theo lời kệ sau đây:
    Tội thành do Tâm tạo.
    Tội diệt phải do Tâm sám;
    Tâm không thì Tội cũng không,
    Tội diệt thì Tâm cũng diệt.
    Tội không, Tâm diệt thì không còn gì nữa mà sám hối.
    Như vậy mới là "Chân Thật Sám Hối".


    (Ý nói : "Trị bệnh thì phải trị tận gốc (trị tại nơi căn nguyên phát sinh bệnh). Có bệnh thì trị bệnh, khi không bệnh hoặc khi hết bệnh rồi thì không cần phải chữa trị gì nữa")


    LÝ SÁM, phương pháp "ăn năn, hối cải" ngay tự trong tâm mình. Để thực hiện "LÝ SÁM" thì hành giả cần đoạn trừ tội lỗi bằng cách "cắt đứt" mối tương quan giữa "NHÂN-DUYÊN" và "QUẢ BÁO" , đoạn dứt luôn việc tạo tác NHÂN-DUYÊN. Sư tương quan này tạm phân ra 2 trường hợp và cách giải quyết như sau :

    • Nếu lỡ gieo hạt giống (NHÂN) gì rồi, thì phải cương quyết đoạn trừ mọi điều kiện, mọi cơ hội (DUYÊN); không cho hạt giống có thể phát triển để không thể kết thành QUẢ được. Tóm tắt là cho dù có NHÂN , mà không CÓ DUYÊN , thì chắc chắn là không có QUẢ, vì vậy các Thầy Tổ thường nói : "Tội do NHÂN-DUYÊN mà thành, thì tội cũng do NHÂN- DUYÊN mà diệt. NHÂN-DUYÊN là những điều kiện tạo nên tội" , rồi thì các Thầy Tổ cũng luôn khuyên "Xả bỏ muôn duyên" là dạy phương cách giải trừ , đoạt dứt nghiệp báo, tội lỗi ở trường hợp này !!!

    • Nếu chưa từng gieo hạt giống (Nhân) gì, thì không cần lo đoạn trừ ngăn chận cơ Duyên gì nữa. Trường hợp này được các Thầy Tổ mô tả ở lời dạy tiếp theo là : "Tội vốn không thật có . Vì không thật có, nên chúng ta có thể chuyển tội thành phước, chuyển khổ thành vui, chuyển mê thành ngộ."

Kết hợp giữa "SỰ SÁM" và "LÝ SÁM" là sau khi đảnh lễ 1 danh hiệu Phật / Bồ Tát, thì người tu hành không dừng lại ở nơi mong cầu sự gia hộ của chư Phật và Bồ Tát, mà còn phải chân thành suy xét tâm mình . Trong khi suy xét tâm mình thì nên buông xả mọi ý tưởng phát sinh và diễn biến trong tâm (buông xả mọi vọng tưởng, ngay cả ý tưởng thiện cũng như ác đều phải buông xả ). Nếu làm được vậy, thì mọi vọng tưởng đều tự nhiên ngừng; Tức thời , ngay liền lúc đó , ở trạng thái "thanh tịnh" tột cùng đó, quán tưởng được LÝ VÔ SANH , sẽ vượt qua được hiện trạng "VÔ THƯỜNG" để tỏ rõ được "CHÂN THƯỜNG BẤT BIẾN" - bất sanh bất diệt của TỰ TÁNH!!!

Pháp SÁM HỐI là 1 phương pháp đoạn trừ mọi chướng ngại, nghiệp báo, cừu oán , oán khiên ..v...v... nên đoạn dứt được sự "Luân Hồi Quả Báo" ... Pháp SÁM HỐI trợ duyên cho người tu hành nhanh chóng đạt quả vị Phật (Chánh Giác , Giác Ngộ). Pháp SÁM HỐI là công phu không thể thiếu trong từng ngày của người hành trì tu tập Phật Pháp. Pháp SÁM HỐI cũng là 1 pháp môn "Quán Tự tại" để "Kiến Tánh thành Phật". Pháp SÁM HỐI cũng là pháp "Tự Độ và Độ Tha" vì khi vị hành giả thực hành SÁM HỐI cũng là thực hiện lời dạy "Phước Huệ song tu" ("Xuất thế gian nhưng không rời thế gian giác!")


Lynn Ly (27/02/2014)


Xem Thêm:

Edited by user Friday, February 28, 2014 4:18:52 AM(UTC)  | Reason: Chỉnh sửa layout, lỗi chính tả

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#10 Posted : Tuesday, May 20, 2014 9:57:33 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì
Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát



Hôm nay , Lynn thu gom và ghi tóm lược lời giảng dạy của các bậc Tổ Sư về ý nghĩ các cụm từ có con số 6 (Lục) trong Kinh Điển Phật Giáo. Nếu có sơ xuất gì trong tóm lược , xin các anh chị em Phật Tử gần xa chỉ dẫn thêm ...

LỤC CĂN

LỤC CĂN chính là 6 giác quan của con người để nhận biết sự vật. LỤC CĂN gồm có:
  1. Nhãn (mắt)
  2. Nhĩ (tai)
  3. Tỹ (mũi)
  4. Thiệt (lưỡi)
  5. Thân (thân thể , da thịt)
  6. Ý (tư tưởng).

LỤC TRẦN:

Trần là bụi, chỉ cõi trần. LỤC TRẦN là sáu cảnh nơi cõi trần diễn ra và tác động vào LỤC CĂN (6 giác quan), làm cho LỤC CĂN sanh ra LỤC THỨC ( 6 kiểu nhận thức). LỤC TRẦN GỒM:
  1. Sắc: hình tướng, sắc tướng, cảnh vật, màu sắc
  2. Thanh / Thinh: âm thanh .
  3. Hương: mùi hương : mùi thơm, hôi thúi v..v...
  4. Vị: vị đắng, cay, chua, ngọt v..v...
  5. Xúc: cảm giác nóng lạnh
  6. Pháp: tư tưởng mưu tính thực hiện cho thỏa ý

LỤC THỨC

LỤC THỨC chính là 6 phương cách hiểu biết (6 kiểu nhận thức) của con người. LỤC THỨC có được là do từ LỤC CĂN (6 giác quan). LỤC THỨC gồm có:
  1. Nhãn Thức: cái biết của mắt do nhìn thấy sắc tướng / hình tướng.
  2. Nhĩ Thức: cái biết của tai do sự nghe thấy âm thanh.
  3. Tỹ Thức: cái biết của mũi do sự ngữi mùi hương
  4. Thiệt Thức: cái biết của lưỡi do sự nếm vị .
  5. Thân Thức: cái biết của da thịt do đụng chạm thân thể da thịt.
  6. Ý Thức: cái biết của tư tưởng do trí não.

LỤC DỤC:

LỤC DỤC chính là 6 điều ham muốn. LỤC TRẦN khêu gợi, tác động lên LỤC CĂN; LỤC CĂN sanh ra LỤC THỨC; LỤC THỨC sanh ra LỤC DỤC. LỤC DỤC gồm:
  1. Sắc Dục: ham muốn nhìn thấy sắc đẹp.
  2. Thinh Dục: ham muốn nghe âm thanh êm tai.
  3. Hương Dục: ham muốn ngữi mùi thơm dễ chịu.
  4. Vị Dục: ham muốn món ăn ngon miệng.
  5. Xúc Dục: ham muốn xác thân sung sướng.
  6. Pháp Dục: ham muốn ý nghĩ, suy tính được thỏa mãn.

LỤC TẶC:

LỤC TẶC chính là 6 tên giặc cướp Tinh-khí-thần của con người do phát sinh từ LỤC DỤC. LỤC TẶC chủ yếu phát sinh từ vọng niệm , tà tâm . LỤC TẶC hoán chuyển con người từ lương thiện sang tàn bạo, độc ác ... phá hủy bản thể chân như thật tánh tốt đẹp của con người...
  1. Tham (Tham Lam)
  2. Sân (Sân hận, oán thù)
  3. Si (ngu si, u mê)
  4. Ngã Mạn (Tự cao, tự đại, tự tôn)
  5. Tà Kiến (ganh tị, đố kỵ, ghen ghét, gian giảo bất chánh )
  6. Ái Dục (bất tịnh , không thanh tịnh, không trong sạch )

LỤC THÔNG:

LỤC THÔNG chính là 6 thứ thần thông do tu rèn thực hành Phật Giáo
  1. Thiên Nhãn Thông : mắt nhìn xa thấy rộng, không bị gì che chắn.
  2. Thiên Nhĩ Thông : tai nghe hiểu mọi thứ âm thanh của muôn loài vạn vật.
  3. Tha Tâm Thông : cảm nhận được rõ ràng tâm ý, suy nghĩ của muôn loài vạn vật khi giao tiếp.
  4. Túc Mạng Thông : thấu rõ vận mạng số mạng, lý do tại sao được vậy hay bị vậy là do thọ nhận quả báo Thiện /Ác gì ,
  5. Thần Túc Thông : một loại thần thông mà có thể nhìn thấy được quá khứ của mình và quá khứ người khác ở trăm ngàn kiếp trước và có thể phỏng đóan kiếp sau.
  6. Lậu Tận Thông : sự thông hiểu tột cùng mọi thứ nên phá được được "ngã chấp" để chứng được Niết-bàn

LỤC ĐỘ BA LA MẬT:

LỤC ĐỘ BA LA MẬT là 6 phương cách người Phật Tử phải thực hiện khi tu rèn đạo hạnh
  1. Bố Thí tức là cho để trừ lòng tham.
  2. Trì Giới tức là giữ giới luật của Đức Phật để diệt trừ ô nhiễm.
  3. Nhẫn Nhục tức là nhường nhịn để trừ sân hận, thù oán.
  4. Tinh Tấn tức là chuyên cần chăm chỉ để trừ lười biếng.
  5. Thiền Định tức là chuyên chú để trừ loạn tâm.
  6. Trí Tuệ tức là sáng suốt để trừ si mê.

Tu hạnh BỐ THÍ, TRÌ GIỚI và NHẪN NHỤC là Tu Phúc (tạo phúc) cũng là tạo được sự oai nghi, trang nhiêm và thanh tịnh ; và tiếp theo là phải TINH TẤN, THIỀN ĐỊNHTRÍ TUỆ là Tu Huệ . Các Thầy Tổ ( Tổ Sư ) thường khuyên các phật tử, tăng, ni cần nên "Phúc - Huệ" song tu !!!


Tóm lại, con người ai ai cũng có LỤC CĂN (6 giác quan);
  • LỤC TRẦN (6 loại cảnh trần) tác động lên LỤC CĂN (6 giác quan) sinh ra LỤC THỨC (6 kiểu nhận thức).
  • LỤC THỨC phát sinh rồi thì cũng bị LỤC TRẦN (6 loại cảnh trần) cám dỗ nên sanh ra LỤC DỤC (6 điều ham muốn).
  • LỤC DỤC (6 điều ham muốn) phát khởi và gia tăng thì thành LỤC TẶC (6 tên giặc cướp Tinh-khí-thần của con người, phá hủy bản thể chân như thật tánh tốt đẹp của con người) .

Người tu rèn thực hành theo giáo lý Đức Phật, thực hành LỤC ĐỘ BA LA MẬT ; Một khi "y pháp phụng hành" LỤC ĐỘ BA LA MẬT thì sẽ thanh tịnh được Thân-Khẩu-Ý, diệt trừ được mọi vọng niệm, tà kiến , gìn giữ Chánh Giác thì tự nhiên sẽ có thần thông. Tùy vào mức độ đạo hạnh cao thâm do tu rèn mà người thực hành Giáo Lý Đạo Phật có từ 1 - 6 Thần Thông ( LỤC THÔNG ) !!! Thần Thông tự nhiên phát sinh khi người tu tập có được đạo hạnh đức độ cao thâm, đạt được sự chân thật Thanh tịnh, Trang nghiêm và Chánh Giác, chứ không phải cầu xin mà có được !!!



Lynn Ly (20-05-2014)





Xem Thêm:

Edited by user Wednesday, May 21, 2014 4:50:34 AM(UTC)  | Reason: Bổ xung giải thích về Lục Độ Ba La Mật, chỉnh sửa layout

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#11 Posted : Wednesday, May 21, 2014 5:34:05 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)

KINH KIM CANG, Tôn Giả Tu Bồ Đề hỏi Phật: "Làm thế nào hàng phục vọng tâm? Làm thế nào an trụ chân tâm?".

Phật dạy: "Đừng khởi vọng tâm trụ chấp một nơi nào! (Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm)" Bởi vì : "Quá khứ Tâm bất khả đắc, hiện tại Tâm bất khả đắc, vị lai Tâm bất khả đắc" (Tâm quá khứ tìm không được, Tâm hiện tại tìm không được, Tâm vị lai tìm không được)

Phật từng có thuyết kệ "AN TRÚ" rằng:
“Quá khứ không truy tầm,
Tương lai không ước vọng,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Xứng gọi nhứt dạ hiền,
Bậc an tịnh, trầm mặc.”


Trong Đạo Phật thường có cụm từ "An Nhiên Tự Tại", Lynn xin tóm lược ý nghĩa như sau
  • An nhiên = an ổn thản nhiên, bình thản ; Đây là thái độ biểu hiện của sự thông hiểu và đoán trước ra được diễn tiến cùng kết quả trong không gian rõ ràng như đó là 1 sự thể hiển nhiên luôn là vậy là vậy !!!
  • Tự Tại = tự biết, tự ý thức rõ ràng về từng khoảng khắc về thời gian ... khoảng khắc đi qua thành quá khứ, đang ngay trong hiện tại, và chuyển tiếp tới vị lai / tương lai ... để rồi "TỰ AN TRỤ" mà không bị bất cứ "biến chuyển" gì gì trong không gian lôi kéo theo từng khoảng khắc thời gian .

Lynn Ly (21-05-2014)


Xem Thêm:

Edited by user Sunday, October 26, 2014 11:57:07 AM(UTC)  | Reason: Chỉnh layout

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#12 Posted : Sunday, October 26, 2014 11:55:53 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
Con người không vì nơi sinh ra mà cao quý,
Con người không vì nơi sinh ra mà thấp hèn.
Con người vì hành vi mà cao quý,
Con người vì hành vi mà thấp hèn.
(Kinh Pháp Cú)



Xem Thêm:

Edited by user Sunday, October 26, 2014 11:56:37 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#13 Posted : Tuesday, December 16, 2014 5:20:22 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
Đoạn Khai Thị ngắn gọn sau đây là lời của Tổ Bồ Đề Đạt Ma giải thích "Thiền Định", "Thiền Quán", "Thiền Tọa", "Thiền Pháp" và chỉ dẫn thứ tự nhập môn tu thiền học đạo ("7 Quán Môn Thiền")


BỒ ĐỀ ĐẠT MA THIỀN SƯ QUÁN MÔN
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Đắc Pháp


HỎI: Thế nào gọi là THIỀN ĐỊNH?
ĐÁP: Thiền là loạn tâm chẳng khởi. Không động không niệm là Thiền định. Thẳng tâm dừng niệm, không sanh không diệt, không qua không lại, an nhiên bất động gọi là Thiền định.

HỎI: Thế nào gọi là THIỀN QUÁN?
ĐÁP: Tâm thần lóng lặng gọi là Thiền. soi lý rõ ràng gọi là quán. Thiền và quán tự đạt không có lầm lộn gọi là Thiền quán. Tâm thần lóng lặng chẳn sanh chẳng diệt, chẳng qua chẳng lại trạm nhiên bất động gọi là Thiền.

HỎI: Thế nào gọi là THIỀN ĐỊNH?
ĐÁP: THiền Định là tiếng Phạn. Ở đây (Trung Quốc) gọi là rừng tịch tụ công đức. Chư Phật trong tam giới đều nói THIỀN TOẠ. Nên gọi là rừng tích tụ công đức.

HỎI: Thế nào là THIỀN PHÁP?
ĐÁP: THIỀN PHÁP thông thường có thứ lớp. Người sơ học, trước sau thứ lớp có bảy loại quán môn:
  • Một là Trụ Tâm Môn;
  • Hai là Không Tâm Môn;
  • Ba là Vô Tướng Môn;
  • Bốn là Tâm Giải Thoát Môn;
  • Năm là Thiền Định Môn;
  • Sáu là Chơn Diệu Môn;
  • Bảy là Trí Huệ Môn.

1) Trụ Tâm Môn: Nghĩa là khi tâm tán động phan duyên chẳng dừng, chuyên nhiếp niệm dừng lại, không cho vọng động. Đấy gọi là Môn Trụ Tâm.

2) Không Tâm Môn: Nghĩa là khán tâm, chuyên đoái đến giác tâm không tịch. Không qua lại cũng không chỗ trụ. Không có chỗ cho tâm bám. Nên gọi là Môn Không Tâm.

3) Vô Tướng Môn: Nghĩa là tâm lắng lặng không có tướng mạo chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng. Chẳng phải dài ngắn lớn nhỏ. Chẳng phải vuông tròn. Mà trạm nhiên chẳng động. Nên gọi Môn Vô Tướng.

4) Tâm Giải Thoát Môn: Biết tâm không bị cột trói (hệ phược) tất cả phiền não không đến trên tâm. Nên gọi là Môn Tâm Giải Thoát.

5) Thiền Định Môn: Là tiếng Phạn, đời Đường dịch là Tịnh lự. Giác tâm lặng lẽ. Đi đứng ngồi nằm đều lặng lẽ không có tán động. Nên gọi Tịch Tĩnh.

6) Chơn Như Môn: Nghĩa là giác tâm, vô tâm v.v. đồng như hư không, biến khắp pháp giới, bình đẳng không hai, kôhng biến, không đổi. Nên gọi Môn Chơn Như.

7) Trí Huệ Môn: Biết rõ tất cả danh gọi là trí. Khế đại được nguồn không gọi là huệ. Nên gọi mô trí huệ. Cũng gọi là Đạo cứu cánh. Cũng gọi là Môn Thiền Quán Đại Thừa Vô Tướng.

Đấy là bảy loại Quán Môn của người Tu Thiền Học Đạo.


Xem Thêm:

Edited by user Tuesday, December 16, 2014 5:26:27 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#14 Posted : Wednesday, December 17, 2014 1:12:07 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)


Gởi các anh chị em Phật Tử , các bạn Đồng Đạo gần xa ... Lời "khai thị" (giảng dạy) ngắn gọn của Tổ Đạt Ma về “NIỆM PHẬT” , “TỤNG NIỆM”, và "NIẾT BÀN" .

Đây là đoạn Tổ Đạt Ma thuyết PHÁP cho vua Lương Võ Đế, nhưng vua Lương Võ Đế không có chánh niệm mà toàn là tà niệm (hành sự gì cũng đều tư lòng tham lam và mưu cầu lợi ích ...v..v...) nên không tiếp nhận lời khai thị của Tổ !!!



THIẾU THẤT LỤC MÔN TẬP của Tổ Sư BỒ ĐỀ ĐẠT MA
Phẩm ĐẠI CHÁNH TẠNG, tập 48


Hỏi: “Kinh nói, nếu người nào chí tâm niệm Phật thì ắt sẽ được vãng sanh Tây phương Tịnh độ. Nếu vậy, chỉ cần một pháp môn này cũng đủ để thành Phật, đâu cần phải quán tâm để tìm cầu giải thoát”. Tức là chỉ cần tu niệm Phật được rồi, đâu cần ngồi quán tâm như pháp môn tu Thiền.

Tổ Bồ Đề Đạt Ma giải quyết nghi vấn này như sau:

(Tổ khai thị về “Niệm Phật”)

NIỆM PHẬT là pháp môn tu CHÁNH NIỆM. Liễu nghĩa (ý nghĩa tường tận) là CHÁNH. Không liễu nghĩa là TÀ. CHÁNH NIỆM thì chắc chắn được vãng sanh. Còn TÀ NIỆM thì làm sao mà đến được cõi Phật?

PHẬT nghĩa là GIÁC, tức là kiểm soát được thân tâm, không tạo tác các điều ác. NIỆM là nhớ. Nhớ cái gì? Nhớ hành trì GIỚI luật, không phóng dật, luôn tinh tấn. Đó là ý nghĩa của hai chữ NIỆM PHẬT. Cho nên, phải biết rằng niệm là “niệm ở nơi tâm”, không phải niệm nơi miệng. Cũng giống như nhờ nơm mà bắt được cá, được cá thì bỏ nơm. Nhờ lời mà hiểu ý, được ý thì quên lời.

Đã xưng danh “niệm Phật” thì phải biết “phương pháp niệm Phật”. Nếu tâm không thật, không tha thiết, miệng chỉ niệm suông, trong tâm tam độc không trừ, nhân ngã đầy lòng, đem cái tâm đầy vô minh tìm cầu Phật ở bên ngoài, thì chỉ uổng công mà thôi.

(Tổ khai thị về “Tụng Niệm”)

Hai chữ “TỤNG NIỆM” cũng có đạo lý nhiệm mầu lắm. “Miệng đọc” gọi là TỤNG, “trong tâm nhớ nghĩ” gọi là NIỆM.

Cho nên, NIỆM là phát xuất từ nơi TÂM. Đó gọi là cánh cửa đi tới sự giác ngộ viên mãn. TỤNG từ nơi miệng là tướng của âm thanh. Chấp ngoài cầu lý, rốt cuộc đều là hư vọng. Vì vậy, trong quá khứ chư Thánh Hiền tu tập PHÁP MÔN NIỆM PHẬT đều chẳng phải niệm suông bên ngoài miệng mà là niệm ở trong tâm.

(Tổ khai thị về “Niết Bàn”)

TÂM là nguồn gốc của tất cả các điều thiện, tâm là chủ nhân của vạn đức.

NIẾT BÀN thường lạc sanh ra từ chơn tâm, mà tam giới luân hồi cũng từ tâm mà khởi. Tâm là cánh cửa của thế giới, là bến bờ giải thoát. Đã biết cửa ngõ há nghĩ khó vào, rành bến bãi sao lo chẳng đến?”

Quote:
Lynn Ly chú thích:

​ Trong các lời kinh hay các bài thuyết của Đức Bổn Sư Thích Ca , chư vị Bồ Tát hay các vị Tổ Sư nói "Tam Giới" hay "Tam Độc" là nói :

  • TAM GIỚI:
    • 3 thế giới do nghiệp ác mà bị đọa vào là Địa Ngục - Ngã Quỷ - Súc Sanh - Đây còn gọi là "3 Đường Ác" (đường đến của những kẻ ác)
    • 3 thế giới do nghiệp thiện mà được đến là Thần A Tu La - Nhân (người) - Thiên​ (Trời, Thượng Đế, Thần Tiên ...) - Đây còn gọi là "3 Đường Thiện" (đường đến của những người hành thiện, tu phúc )

    Dù ở Tam Giới nào thì cũng còn bị "Luân Hồi" do "Nhân Duyên-Quả Báo" bởi "nghiệp lực Thiện hay Ác" lôi kéo

  • TAM ĐỘC : THAM (Tham Lam) - SÂN (Sân hận, thù oán ...) - SI (Si mê, ngu si, mê muội ...)



Xem Thêm:

Edited by user Wednesday, December 17, 2014 1:44:29 PM(UTC)  | Reason: Chỉnh layout

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#15 Posted : Saturday, January 17, 2015 12:01:59 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
XEM KINH VỚI LÒNG THÀNH
Hòa Thượng Tuyên Hóa chỉ dạy


Kẻ hậu học khi xem kinh, nên có tâm thái như sau: ba nghiệp THÂN, KHẨU, Ý phải được thanh tịnh. Ba nghiệp trên được lắng trong thì phước huệ tròn đầy.

1. Nên thẳng mình ngồi ngay như ngồi trước đức Phật. Đó là THÂN NGHIỆP được thanh tịnh.
2. Miệng không nói lời sai trái, không cười đùa. Đó là KHẨU NGHIỆP được thanh tịnh.
3. Ý không tán loạn, dứt sạch tâm phan duyên. Đó là thanh tịnh Ý NGHIỆP.

Khi TÂM (Thân-Khẩu-Ý) AN TỊNH thì ngoại cảnh lắng trong, đó là khế ngộ nguồn tâm, diệu nhập PHÁP LÝ. Khi nước lắng trong thì vẻ sáng của ngọc tự chiếu soi, mây tan trăng tự hiển bày, đại nguyện thành tựu cũng như nhập vào biển diệu nghĩa. Thấu đạt ý kinh cũng chính là đến được đỉnh núi cao trí tuệ. Nếu hành giả muốn dễ thành tựu, phải gieo trồng Đại nguyện. Khi TÂM, PHÁP đều quên, thì mình cùng pháp giới chúng sinh đều chung lợi lạc. Có được như thế mới mong báo đáp ân sâu của Chư Phật.

Quote:
Chú Thích:

Trong bài giảng trên Hòa Thượng Tuyên Hóa có nói cụm từ "TÂM PHAN DUYÊN" .

TÂM PHAN DUYÊN mà rất thường nghe trong các bài giảng của các Tổ hay trong Kinh sách là ý nói TÂM phát sanh "vọng niệm" (ý nghĩ, suy tưởng, tưởng tượng, thèm muốn, mong cầu lung tung v..v... ). Tâm bị chi phối và phát khởi bởi 6 cảnh trần (Lục Trần) thông qua 6 giác quan (Lục Căn) được xếp loại theo 6 kiểu nhận thức từ giác quan (Lục Thức)

Lúc trước Lynn có ghi chép lời giải thích tóm tắt mấy cụm từ có con số 6 trong Kinh điển và sự tương quan như sau: LỤC CĂN (6 giác quan) giao tiếp và bị tác động của LỤC TRẦN (6 sáu cảnh nơi cõi trần) nên ra LỤC THỨC ( 6 kiểu nhận thức); Lục Thức phát sinh LỤC DỤC (6 ham muốn); Lục Dục mà gia tăng không có kiềm chế thì thành LỤC TẶC (6 tên cướp , cướp mất TINH-KHÍ-THẦN của người , khiến người bị sa đọa) . Còn người tu hành do thanh tịnh được Thân-Khẩu-ý và đạt quả vị Phật thì có LỤC THÔNG. Một trong pháp môn tu tập là LỤC ĐỘ BA LA MẬT( 6 phương cách tu rèn để có Chánh Giác / Giác Ngộ)




Xem Thêm:



Edited by user Sunday, January 18, 2015 6:48:03 AM(UTC)  | Reason: Chỉnh sửa layout

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#16 Posted : Friday, August 28, 2015 2:35:44 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
CƯ SĨ KHÔNG ĐƯỢC MẶC ĐỒ CỦA NGƯỜI TU
Hòa Thượng THÍCH THIỆN TÁNH Thuyết Giảng


Thời gian qua, có rất nhiều cá nhân xuất hiện trước công chúng, trong các cuộc thi hát với hình ảnh của một người xuất gia… hay ngay như các cư sĩ tại gia, những người không phải là đệ tử nhà Phật cũng cạo đầu, mặc áo tràng nâu… khiến cộng đồng xã hội nhầm tưởng đây là người đang sống trong chốn thiền môn.

Trao đổi về vấn đề này với Hòa thượng Thích Thiện Tánh, Trưởng ban Kiểm soát T.Ư Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN), Phó Trưởng ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN Tp.HCM, khẳng định người cư sĩ không nên mặc áo người xuất gia.

Quote:
"Nhà chùa có giới cấm và quy định cụ thể, không phải muốn làm gì thì làm", Hòa thượng Thích Thiện Tánh chia sẻ


Thưa hòa thượng, Giáo hội hiện nay có quy định gì về việc ăn mặc đối với người xuất gia?

Trong nội quy Ban Tăng sự trung ương của Giáo hội trong điều 48,49 chương X, vấn đề sắc phục tăng ni đã có quy định thống nhất sắc phục Tăng, Ni Phật giáo Bắc tông Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong cả nước gồm 3 hình thức:
  • Lễ Phục,
  • Giáo Phục,
  • Thường Phục.

Trong đó LỄ PHỤC là sắc phục của Tăng, Ni khi dự các buổi lễ của Đạo Phật. GIÁO PHỤC là sắc phục của Tăng, Ni không dùng trong các buổi lễ của Đạo Phật. THƯỜNG PHỤC là lối ăn mặc gọn gàng, giản dị, tuy không theo hình thức GIÁO PHỤC, nhưng vẫn giữ được sắc thái cá biệt của người xuất gia và đặc thù của Phật giáo Việt Nam (không đồng hóa cách ăn mặc thông thường của xã hội).

Về LỄ PHỤC:

Tăng, Ni từ hàng Giáo phẩm (PV – những vị có chức danh) đến thành phần Đại chúng (PV – các vị tăng ni trẻ nói chung) hình thức LỄ PHỤC gồm có:
  • Tỳ Kheo (PV – Tăng (nam)) mặc hậu màu vàng tay rộng (không quá 80 phân), Y màu vàng.
  • Tỳ Kheo Ni(PV – Ni (nữ)) mặc hậu lam tay rộng (không quá 80 phân), Y màu vàng.
  • Sa di (PV- Tăng) mặc hậu màu lam tay rộng (không quá 30 phân), MẠN Y màu vàng.
  • Sa di Ni, Thức xoa ma na (PV – Ni): Áo tràng màu lam rộng tay (không quá 30 phân), MẠN Y màu vàng.
  • Thành phần Tịnh nhơn (PV-người mới vào tu cả nam và nữ chưa thọ giới) hình thức LỄ PHỤC chỉ dùng áo tràng màu lam hoặc màu nâu tay hẹp.

Về GIÁO PHỤC:

Tăng, Ni hàng "Giáo Phẩm", GIÁO PHỤC gồm có:
  • Tăng mặc áo tràng màu nâu, hoặc màu vàng sậm, tay rộng không quá 30 phân.
  • Ni mặc áo tràng màu lam, tay rộng không quá 30 phân.

Tăng, Ni thuộc thành phần "Đại Chúng", GIÁO PHỤC gồm có:
  • Tỳ Kheo mặc áo tràng màu nâu tay rộng không quá 30 phân.
  • Tỳ Kheo Ni mặc áo tràng màu lam, tay rộng không quá 30 phân.
  • Sa di mặc áo nhựt bình màu nâu, tay rộng không quá 20 phân.
  • Sa di Ni, Thức xoa ma na Ni mặc áo nhựt bình màu lam, tay rộng không quá 20 phân. Ni giới có chít khăn theo màu áo.

Về THƯỜNG PHỤC:
  • Tăng, Ni thuộc thành phần Đại Chúng có thể ăn mặc theo hình thức thường phục khi làm lao động tại hiện trường.
  • Thành phần Tịnh Nhân chỉ được ăn mặc theo hình thức thường phục. Hình thức thường phục theo kiểu áo vạc hò: Màu sắc tùy nghi.

Hình thức THƯỜNG PHỤC được áp dụng chung cho Tăng, Ni các Hệ phái, nhưng tránh tình trạng xen lẫn giữa các Hệ phái với nhau. Các kiểu LỄ PHỤC, GIÁO PHỤC trên chỉ dành cho Tăng Ni Bắc Tông, riêng Nam Tông và Khất sĩ có cách ăn mặc theo lối nhà sư không phải như trên. Sa Di của Khất sĩ vẫn được mặc y áo màu vàng, nhưng y thượng chỉ có hai miếng vải lớn ghép lại.

Vậy người Phật tử tại gia có được mặc đồ của người xuất gia không bạch Hòa thượng?

Hiện nay chưa có quy định cụ thể về sắc phục dành cho Phật tử tại gia đang tu học theo Phật giáo. Chỉ thực hiện ăn mặc theo nguyên tắc từ xưa đến nay. Theo đó ÁO LỄ dành cho Phật tử tại gia mặc là áo tràng lam, còn THƯỜNG PHỤC thì bồ đồ áo nâu hay lam ngắn. Riêng Phật tử tại gia của hệ phái Khất Sĩ thì ÁO LỄ là áo giới trắng.

Vì đây là quy định truyền thống lâu nay nên người cư sĩ không nên mặc đồ của tu sĩ xuất gia. Nếu làm vậy dễ khiến người không biết đạo hay cộng đồng xã hội lầm tưởng thì sẽ có nhiều điều không tốt.

Hộ Pháp
Theo Gia đình Việt Nam



Xem Thêm:

Edited by user Friday, August 28, 2015 10:20:15 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#17 Posted : Saturday, August 29, 2015 8:18:24 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
"TỨ Y" = Quy Tắc Nương Theo Gì Khi Học Và Hành Đạo Phật


1) Y "PHÁP", BẤT Y "NHÂN"

Theo / nương tựa vào "Giáo Pháp" , không theo / không lệ thuộc "người dạy Giáo Pháp". Như vậy người học Đạo mới không bị lôi kéo mê hoặc bởi "những kẻ núp bóng Chánh Pháp để truyền bá Tà Pháp" .

2) Y "NGHĨA", BẤT Y "NGỮ"

Theo "ý nghĩa" , đừng theo "từ ngữ" (con chữ). Người học Đạo khi nghe, khi đọc gì cũng phải nên "được ý quên lời , chớ nên chấp lời nghịch ý".

3) Y "TRÍ", BẤT Y "THỨC"

Theo "trí tuệ" phát sinh từ sự thanh tịnh sáng suốt, không theo "hiểu biết luận giải" kiểu thường tình thế tục.

4) Y "LIỄU NGHĨA KINH", BẤT Y "BẤT LIỄU NGHĨA KINH"

Theo ý nghĩa trọn vẹn tường tận ghi trong Kinh , không theo ý nghĩa mà chưa tường tận được ý trong kinh.





Xem Thêm:

Edited by user Friday, October 23, 2015 7:02:09 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#18 Posted : Friday, October 2, 2015 3:02:50 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
Tụng Kinh là nghe Phật thuyết Pháp ... nếu tâm thành khẩn, thiết tha thì như được nhập hòa vào Pháp Hội lúc Phật còn hiện tiền tại thế, được làm bạn hữu với Chư Vị Bồ Tát , các Hiền Thánh Tăng (các đệ tử tôn quý của Đức Phật) và chư vị Thiên Thần - Hộ Pháp ... vì tất cả các vị này đều hội tụ về Pháp Hội để nghe Phật thuyết Pháp.

Ngày ngày tụng Kinh là ngày ngày nghe Phật thuyết pháp, ngày ngày cố gắng ghi nhớ lời Phật dạy, ngày ngày được làm bạn với các vị Bồ Tát , chư vị Thánh cùng Hộ Pháp Chư Thiên ... và ngày ngày nhắc nhở mình thực hành lời Phật dạy .

Trong từng khóa tụng thì luôn có phần "Nghi thức" phải thực hiện "trước khi khai Kinh" và "sau khi hoàn tất Kinh" ( Kinh là lời Phật thuyết giảng) " . Trong phần "Nghi thức trì tụng Kinh" luôn có các bài "Kệ" (Kệ là câu tóm tắt cả 1 bộ kinh, những câu phát nguyện, câu hồi hướng công đức), luôn có những câu Niệm Danh Hiệu Phật và Bồ Tát , và các bài Chân Ngôn / Thần Chú (Mật Ngôn của Phật và Bồ Tát) . Phần nghi thức này rất quan trọng ... vì có tác dụng thỉnh mời Tam Thế (Quá Khứ, Hiện Tại, Tương Lai) Chư Phật, Bồ Tát, Hiền Thánh Tăng và Hộ Pháp - Chư Thiên ở khắp mọi phương hội tụ về hỗ trợ người trì tụng Kinh ... hỗ trợ người tu hành mau chóng đạt "Chánh Quả" ...

Dưới đây là bài giảng nói lý do tại sao người xuất gia cũng như cư sĩ TỤNG KINH, TRÌ CHÚ và NIỆM PHẬT.

Nam Mô Thập Phương Chư Phật , Bồ Tát , Tôn Pháp , chư Hiền Thánh Tăng

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật . Lạy Phật Tổ soi đường dẫn lối ...




TỤNG KINH, TRÌ CHÚ, NIỆM PHẬT
(Bài giảng từ trang web "Tâm Linh Việt" )


A. MỞ ĐỀ

Trong bài học tuần trước “THỜ PHẬT, LẠY PHẬT, CÚNG PHẬT”, những phần tu tập về LÝ như Bốn Phương Pháp Hành Lễ:
  • Phát Trí Thanh Tịnh Lễ;
  • Biến Nhập Pháp Giới Lễ;
  • Chánh Quán Tu Hành Lễ;
  • Thật Tướng Bình Đẳng Lễ

Ngũ Phần Hương:
  • Giới Hương,
  • Định Hương,
  • Huệ Hương,
  • Giải Thoát Hương và
  • Giải Thoát Tri Kiến Hương


là những Phương Pháp Tu Hành rất khó, đòi hỏi Phật tử phải hạ thủ công phu. Bất cứ việc gì cũng vậy, phải từ dễ đến khó. Do đó, nếu chúng ta không biết cách thực hành những việc như TỤNG KINH, TRÌ CHÚ, NIỆM PHẬT thời khó thực hành những pháp môn kể trên.

Hơn thế nữa, việc TỤNG KINH, TRÌ CHÚ và NIỆM PHẬT có những diệu dụng rất cần thiết mà chỉ có người nào thực hành mới cảm nhận được. Cụ thể nhất là khi chúng ta TỤNG KINH, TRÌ CHÚ hay NIỆM pHẬT chắc chắn tâm của chúng ta yên tịnh hơn không TỤNG KINH, TRÌ CHÚ hay NIỆM PHẬT; Dĩ nhiên TÂM THAM, SÂN, SI cũng ít sanh khởi hơn. Ngoài ra còn có những linh nghiệm như Chư Thiên, Hộ Pháp thường giúp đỡ mà chúng ta khó có thể suy nghĩ hay luận bàn.

B. CHÁNH ĐỀ

I. ĐỊNH NGHĨA

1. TỤNG KINH:

TỤNG KINH là đọc tụng thành tiếng và có âm điệu, hoặc đọc thầm những lời Phật dạy trong kinh điển một cách thành kính, phù hợp với căn cơ của chúng sinh.

2. TRÌ CHÚ:

TRÌ tức nhiếp niệm tại một chỗ; CHÚ tức là những lời mật hạnh mà chỉ có chư Phật mới có thể hiểu được. Các bài cHÚ có oai thần và công đức không thể nghĩ bàn, có khả năng dứt trừ nghiệp chướng và làm tăng trưởng trí tuệ cho những ai hành trì, vì thế gọi là TRÌ CHÚ.

3. NIỆM PHẬT:

NIỆM là nhớ nghĩ. NIỆM PHẬT là nhớ danh hiệu Phật, nhớ nghĩ đến Phật, hình dung những phẩm hạnh cao quý của đức Phật . Trước là gạn lọc tâm cấu bẩn, bất tịnh của mình và làm cho nó ngày càng thanh tịnh; sau luôn luôn cố gắng huân chủng tu tập tâm tánh theo Phật, mỗi tâm niệm và mỗi hành động đều nhớ nghĩ tới GIÁO PHÁP và CÔNG HẠNH của Phật.

II. Lý do phải TỤNG KINH, TRÌ CHÚ và NIỆM PHẬT

Đã là Phật tử ắt phải tin ĐẠO LÝ NHÂN QUẢ, vì tin ĐẠO LÝ NHÂN QUẢ là một trong những thiện tâm dẫn chúng sanh hướng tới CHÁNH KIẾN. Nếu NHÂN QUẢ là một quy luật tất yếu thì chúng ta nhận thấy rằng: “Đã gây NHÂN thì phải thọ QUẢ”, hay nói cách khác: nếu tạo NHÂN lành ắt sẽ hưởng QUẢ lành, nếu tạo NHÂN ác thì phải chịu QUẢ ác. Do vậy, TỤNG KINH, TRÌ CHÚ, NIỆM PHẬT khiến cho con người dẹp bỏ TÂM THAM, SÂN, SI để làm các việc tốt thì nhất định sẽ có kết quả tốt trong tương lai.

1. Lý do phải TỤNG KINH

Chúng ta sống trong cõi dục nên luôn luôn bị dục vọng như tham, sân, si... Chi phối là m cho tâm chúng ta không lúc nào được yên tịnh. May thay đức Phật vì muốn giúp chúng ta thoát khỏi cảnh đó nên mới mở bày phương tiện truyền dạy những lời và ng ngọc ngỏ hầu giúp chúng ta thoát khỏi những màn vô minh đen tối ấy. Nhưng những lời kinh cao quý ấy khó nhớ, khó thuộc, chúng ta phải thường xuyên đọc tụng để có thể nhớ và thực hành theo. Đó là lý do chúng ta phải TỤNG KINH.

2. Vì sao phải TRÌ CHÚ?

Chú có công năng phi thường, nếu người thành tâm thọ trì thì có hiệu lực không thể nghĩ bàn. Ví như các câu thần chú "Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Đà-Là -Ni" hay "Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú" đều có công năng bạt trừ tất cả các tội lỗi, nghiệp chướng, hoạn nạn... Và gặp được những điều lành... Thần Chú Lăng-Nghiêm thì phá trừ ma chướng và nghiệp báo nặng...; Chú Chuẩn-Đề thì trừ tà diệt quỷ; chú "Thất Phật Diệt Tội" có thể tiêu trừ tội chướng nhiều kiếp quá khứ... Vì những công năng ấy của thần chú nên ta phải thọ trì.

3. Vì sao phải NIỆM PHẬT?

NIỆM PHẬT là phương pháp làm cho tâm chúng ta càng ngày càng trở nên "nhất tâm bất loạn" và cũng có công năng phá trừ các tạp niệm điên đảo khởi ra nơi tâm của chúng ta. NIỆM PHẬT sẽ giúp chúng ta luôn luôn tỉnh táo, không nghĩ đến các việc ác, xấu xa và có phước đức lớn. NIỆM PHẬT tức là nhớ Phật và niệm danh hiệu Ngài. Nghĩ đến Ngài tức là nghĩ đến những gì thuần lương nhất, thánh thiện nhất, sáng suốt nhất, vì thế mà nghiệp chướng phiền não không thể não hại, quấy phá chúng ta được. Nếu không NIỆM PHẬT thì tâm của chúng ta rất khó thanh tịnh trong những nghiệp được tạo tác từ thân, miệng, ý nên mãi khổ đau trong đời sống. Vì vậy chúng ta phải luôn luôn NIỆM PHẬT.

III. TỤNG KINH gì, TRÌ CHÚ gì và NIỆM DANH HIỆU PHẬT nào?

1. Các Kinh Thường Tụng:

Bất luận bộ kinh nào trong đạo Phật đều tụng được cả và bất cứ kinh nào, nếu chúng ta thành tâm trì tụng thì cũng sẽ có phước đức lớn cả. Tuy nhiên, chúng ta nên tụng những kinh nào phù hợp với căn cơ và sở nguyện của chúng ta.

Ở Việt Nam, các Phật tử thường tụng những bộ kinh như: Kinh A-Di-Đà, Kinh Phổ Môn, Hồng Danh Bửu Sám, Kinh Dược Sư, Kinh Địa Tạng, Kinh Kim Cang - Bát-Nhã, Kinh Pháp Hoa, Kinh Lăng-Nghiêm...

Nếu cầu siêu thì tụng Kinh A-di-đà, Địa tạng, Vu-lan...

Nếu cầu an thì tụng Kinh Dược Sư, Kinh Phổ Môn...

Cầu tiêu trừ tai ách, nghiệp chướng thì tụng Kinh Lăng-Nghiêm, Kinh Kim Cang..

Nếu Sám Hối thì lạy Hồng Danh Chư Phật...

Vẫn biết sự chọn lựa như thế là tốt, song chúng ta nên hiểu giáo lý Phật giáo có sự nhất quán về mặt ý nghĩa. Nếu có một người nào đó chuyên tâm trì niệm bất cứ kinh gì thì cũng đều có lợi ích như nhau.

2. Các Chú Thường Tụng:

Hàng xuất gia thì thường tụng các chú như: Chú Lăng-Nghiêm, Thập Chú, Chú Đại Bi... Hàng tại gia vì khó học thuộc Chú Lăng-Nghiêm nên thường chỉ trì tụng Thập Chú, Đại Bi Chú là đủ. Nếu có ai đó trong hàng tại gia mà học thuộc Chú Lăng-Nghiêm và trì tụng thì rất tốt.

3. Các danh hiệu thường niệm:

Công đức NIỆM PHẬT vô lượng vô biên, nếu niệm bất cứ danh hiệu đức Phật nào công đức cũng như nhau cả. Tuy nhiên, tuỳ theo hoàn cảnh mà ta chọn một hay nhiều danh hiệu Phật nào đó để niệm. Đức Phật Thích-Ca-Mâu-Ni là vị giáo chủ cõi Ta-Bà này nên ta thường xuyên niệm danh hiệu Ngài. Ngoài ra, khi cầu siêu, chúng ta nên niệm danh hiệu Đức Phật A-Di-Đà, Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí, Bồ Tát Địa Tạng...; và khi cầu an thì niệm danh hiệu đức Phật Dược Sư, Bồ-Tát Quán Thế Âm... là một cư sĩ Phật tử, chúng ta nên niệm Tam Thế Phật, tức là nên niệm Phật Thích-Ca-Mâu-Ni, Phật A-Di-Đà và Phật Di-Lặc.

IV. Phương pháp áp dụng

TỤNG KINH, TRÌ CHÚ và NIỆM PHẬT là một pháp môn tu tập rất phổ biến và cũng rất thông dụng, vì lẽ pháp môn này vừa dễ tu mà cũng khó nghĩ bàn. Đây chính là pháp môn dung thông cả SỰ lẫn LÝ nên chúng ta cần phải chú ý:

  • SỰ: Đứng về mặt sự, khi ta TỤNG KINH, TRÌ CHÚ và NIỆM PHẬT thì phải chuẩn bị những việc cần thiết như:
    • Thiết lễ bàn thờ Phật phải thật sạch sẽ trang nghiêm.

    • Kinh điển phải để trên bàn hoặc trên kệ đã dành riêng; nghĩa là không được để bất cứ vật gì khác lên trên đó.
      Chọn những giờ nhất định hoặc có thể không nhất định để TỤNG KINH, TRÌ CHÚ và NIỆM PHẬT hằng ngày.

    • Thân phải luôn luôn sạch sẽ và Tâm thường thanh tịnh, không để nhiễm ô do Tham, Sân, Si gây ra.

  • LÝ: Đứng về mặt LÝ, khi ta TỤNG KINH, TRÌ CHÚ hoặc NIỆM PHẬT là bất cứ khi nào và bất cứ ở đâu chúng ta cũng có thể TỤNG KINH, TRÌ CHÚ hay NIỆM PHẬT được. Chúng ta cũng không nên cố chấp vàO hình tướng TỤNG KINH nhiều ít mà sinh tâm kiêu mạn. Nghĩa là khi TỤNG KINH, TRÌ CHÚ hay NIỆM PHẬT, chúng ta cần phải tập trung tâm ý vào mỗi lời kinh, mỗi tiếng NIỆM PHẬT thật hết sức rõ ràng, không cho tâm ý tán loạn. Duyên vào TỤNG KINH, TRÌ CHÚ và NIỆM PHẬT để tu tập định tâm cho đến khi nào đạt được nhất tâm bất loạn thì mới có kết quả và lợi ích.


Ngoài ra, ba pháp môn TỤNG KINH, TRÌ CHÚ hoặc NIỆM PHẬT được diệu dụng phương tiện lập ra 5 phương pháp tu tập để có thể áp dụng đúng theo từng căn cơ, trình độ của mỗi người:

  • Đọc Tụng: [/color] Người thực hành phải gạn lọc thân tâm đối trước bàn thờ Phật lớn tiếng TỤNG KINH có chuông mõ.

  • Mật niệm: niệm thầm, nhỏ tiếng vừa đủ nghe; phương pháp nầy thích hợp cho những ai có thì giờ niệm vào lúc trước khi đi ngủ và sau khi thức dậy.

  • Khẩu niệm: Khi gặp sự cố không may xảy ra, chúng ta thường to tiếng niệm danh hiệu Phật hoặc Bồ-tát với tâm khẩn cầu, chí thiết nguyện cầu. TRÌ CHÚ cũng vậy.

  • Quán niệm: Định tâm thành ý quán niệm hình tượng đức Phật hoặc Bồ-tát cho đến khi nào mình được nhất tâm bất loạn.

  • Chuyên niệm: Ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, lúc nào mình cũng một lòng chuyên tâm trì niệm danh hiệu Phật không gián đoạn.

Tóm lại, cả hai phương diện SỰ và LÝ của việc TỤNG KINH, TRÌ CHÚ hoặc NIỆM PHẬT với 5 phương pháp ở trên là luôn luôn cần thiết, không nên nghiên về sự màbỏ lý, cũng không nên nghiên về lý bỏ sự; nghĩa là sự và lý phải dung thông lẫn nhau thì sự tu tập mới có kết quả được. Nếu không như vậy thì không những việc TỤNG KINH, TRÌ CHÚ và NIỆM PHẬT không có lợi ích gì màcòn tạo thêm những điều tội lỗi.

V. Lợi ích

1. Lợi ích của sự TỤNG KINH:

Kinh điển chính là chánh pháp ghi chép lại những lời Phật dạy, trì tụng hằng ngày sẽ giúp cho chúng ta thực hành đúng theo lời Phật đã dạy, chắc chắn sẽ lợi ích. Nếu chúng ta hành trì đúng phương pháp, hướng tâm chơn chánh thì không những có lợi ích cho riêng cá nhân mà còn có lợi ích cho gia đình và những người xung quanh nữa. Vì chú tâm vào kinh điển nên chúng ta không còn cảm giác lo sợ, Sáu Căn (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý) được thanh tịnh; Thân-Miệng được thu nhiếp mà tránh được những hành nghiệp ác... Lời kinh khi được tụng thành tiếng thì nó có công năng làm cho người nghe cảm thấy an tịnh, và cũng nhờ vậy mà trong gia đình trở nên yên ổn, hoà thuận, những người xung quanh cũng được ảnh hưởng đức tính tốt, xóm giềng cũng được phước báo yên vui. Như vậy, TỤNG KINH không chỉ mang lại lợi ích cho chính mình mà còn cho gia đình, cho thôn xóm mà còn lợi ích chung cho toàn xã hội... Do đó, là một Phật tử chơn chánh, chúng ta phải luôn trì TỤNG KINH điển của Phật.

2. Lợi ích của sự TRÌ CHÚ:

Các mật chú tuy không thể giải nghĩa được nhưng người chí tâm thọ trì thì công hiệu khó có thể nghĩ bàn. Một câu thần chú có thể thâu tóm hết nội dung một bộ kinh cho nên có hiệu lực rất phi thường. Thuở đức Phật còn tại thế, ngài A Nan nhờ thần Chú Lăng-Nghiêm mà thoát khỏi nạn Ma-Đăng-Già. Có những câu thần chú làm cho tiêu trừ những nghiệp chướng nhiều đời kiếp quá khứ mà công năng Sám Hối của ta không thể tiêu trừ đươc. Có TRÌ CHÚ chúng ta sẽ tự tin hơn khi nghiệp báo xảy ra trong đời sống hiện tại này. Ngoài ra, sự TRÌ CHÚ còn có thể ngăn trừ tà nghiệp, chướng nạn để giúp đỡ, hộ TRÌ CHÚng ta tu niệm.

3. Lợi ích của sự NIỆM PHẬT:

Công đức NIỆM PHẬT rất lớn. Một câu niệm "Nam-Mô Bổn Sư Thích-Ca-Mâu-Ni Phật", có thể thâu nhiếp hết Ba Tạng Kinh Điển. Đức Phật Thích-Ca-Mâu-Ni có dạy: "Về lâu sau này khi Như Lai diệt độ, trong kỳ kiếp hoại của thời kỳ mạt pháp, các kinh điển sẽ bị biến mất, chỉ còn một câu niệm 'Nam Mô A-Di-Đà Phật' mà có đủ năng lực đưa chúng sanh về cõi Cực lạc". Tổ Huệ Viễn 13 năm NIỆM PHẬT được Đức Phật A-Di-Đà xoa đảnh ba lần. Ngoài ra, một người thường NIỆM PHẬT, chắc chắn họ nghĩ nhớ đến Phật, dĩ nhiên họ sẽ không tạo tội ác, đó là một vài lợi ích thiết thực trong đời hiện tại, và sau khi chết họ được sanh về cảnh giới của đức Phật A-di-đà an vui theo hạnh Phật. Cho nên chúng ta có thể khẳng định: Công đức NIỆM PHẬT là làm cho tiêu nghiệp quá khứ, không tạo nhân xấu và quả báo ác nghiệp trong đời sống hiện tại, an lạc, không còn khổ đau trong tương lai.

C. KẾT LUẬN

TỤNG KINH, TRÌ CHÚ và NIỆM PHẬT là ba pháp môn tu dung hợp cả SỰ và LÝ. Dù Phật tử tại gia hay xuất gia đều không thể tách rời những phương pháp tu tập này. Tuỳ theo công hạnh tu tập mà mỗi Phật tử sẽ nhận lãnh kết quả không giống nhau. Tuy nhiên chỉ cần hành trì chuyên chú một trong ba phương pháp ấy thời có thể giải thoát khổ đau ngay trong hiện tại. Phương pháp NIỆM PHẬT là phương pháp phổ biến và phù hợp với mọi lứa tuổi. Các Phật tử khi TỤNG KINH, TRÌ CHÚ hay NIỆM PHẬT cần phải dứt bỏ mọi ý tưởng bất chánh, chí tâm hành trì thì mới có lợi ích và khi làm bất kỳ việc gì đều phải nghĩ đến Phật để tránh mọi ý nghĩ xấu ác có thể khởi lên trong tâm chúng ta...

Tóm lại, chúng ta cần phải lưu ý khi TỤNG KINH, TRÌ CHÚ hay NIỆM PHẬT để cho tâm được an tịnh (nhất tâm bất loạn), điều kiện cần thiết là làm thế nào để cho 3 nghiệp THÂN, MIỆNG, Ý được trong sạch, không cấu nhiễm. Muốn được kết quả này, chúng ta nên hiểu rằng: TỤNG KINH, TRÌ CHÚ và NIỆM PHẬT sẽ giúp cho 3 nghiệp được thanh tịnh; và 3 nghiệp thanh tịnh sẽ giúp cho việc TỤNG KINH, TRÌ CHÚ và NIỆM PHẬT có kết quả tốt. Cả hai việc này tác động hỗ tương với nhau như hơi thở và nhịp đập của trái tim giúp một cơ thể tồn tại. Đây là điều mà một Phật tử trước khi phát nguyện TỤNG KINH, TRÌ CHÚ và NIỆM PHẬT, cần phải chú ý.


Xem Thêm:

Edited by user Saturday, October 3, 2015 1:17:29 PM(UTC)  | Reason: Chỉnh sửa layout

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#19 Posted : Friday, October 23, 2015 7:07:04 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
LÀM SAO PHÂN BIỆT "KINH LIỄU NGHĨA” VÀ "KINH BẤT LIỄU NGHĨA”?


Khi còn tại thế và trước khi nhập Niết Bàn, Đức Bổn Sư Thích Ca luôn căn dặn các Đệ Tử phải tuân thủ và gìn giữ Giới Luật, luôn phải lấy ‘Giới Luật làm Thầy’, làm phương tiện chỉ lối đưa đường đi đến Giác Ngộ đạt quả vị Phật ; và Ngài cũng chỉ dạy các đệ tử “4 quy tắc phải nương theo hay dựa vào đâu khi học và hành đạo” (“Tứ Y”) .

Nói về quy tắc thứ 4 mà Đức Bổn Sư răn dạy là: “Y LIỄU NGHĨA KINH, BẤT Y BẤT LIỄU NGHĨA KINH” ( Học và Hành đạo phải Nương theo ý nghĩa trọn vẹn tường tận ghi trong Kinh , không theo ý nghĩa mà chưa tường tận được ý trong kinh.)

Vậy thì có những chi tiết căn bản gì giúp chúng ta, những người “sơ cơ tu học” (người mới bắt đầu tu học) có thể phân biệt được thế nào là "Kinh Liễu Nghĩa” và "Kinh Bất Liễu Nghĩa”?

Theo chỉ dạy của các Tổ Sư, các Thánh Tăng thì mỗi một tạng kinh / bộ kinh cần phải đầy đủ sáu phần thành tựu:
  1. Chúng thành tựu
  2. Xứ thành tựu
  3. Thời thành tựu
  4. Văn thành tựu,
  5. Tín thành tựu,
  6. Chủ thành tựu

Bởi vì phải có đầy đủ 6 loại thành tựu này thì Đức Bổn Sư Thích Ca mới khai dàn thuyết giảng chánh pháp, tạo thành "pháp hội", rồi thì các đệ tử Phật mới “kết tập ghi chép” lại thành Tạng Kinh / Bộ Kinh. Do đó, phần khởi đầu của mỗi một Tạng Kinh / Bộ Kinh luôn luôn mô tả rõ ràng là Kinh được hình thành do có đủ 6 thành tựu này .

Một “Phát Hội” hình thành thì phải có:

  1. Tăng ni đồ chúng hội tụ, "Đồ chúng Câu hội" ("Chúng thành tụ");
  2. Khu vực , điạ danh, nơi chốn, hoàn cảnh phải có cảnh trí không tạp ô mà phải thanh tao trang nhã phù hợp cho đồ chúng tụ hội , thí dụ trong kinh khởi đầu hay nói "Tại núi Bảo Lâm; Tại Linh Son+ ...v...v... Đức Phật tuyên pháp" ("Xứ thành tựu" );
  3. Cơ hội, thời khắc, giờ giấc phải phù hợp thích đáng , bình hoà giữa Thiên-Địa-Nhân , thí dụ sách kinh ghi "Lúc đó, Sau khi ... " ("Thời thành tựu") ;
  4. Đồ chúng thắc mắc, đặt câu hỏi và xin giải đáp, "Xin nghe yếu lý về Phật pháp", thì là "Văn thành tựu"
  5. Đồ chúng cung thỉnh , bày tỏ thành ý cung kính lắng nghe , "Ðồng thời làm lễ" thì là "Tín Thành tựu" .
  6. Và điểm chính yếu thì vị trí "Chủ" phải là đấng giác ngộ như Phật, hay Cao Tăng, Đại Sư, thực hành việc thuyết giảng (Pháp Sư) ; thí dụ kinh sách ghi "Đức Phật tuyên pháp" thì là "Chủ thành tựu".

Cao Tăng là người phải có đạo hạnh thực thụ, có hành vi cùng hình tướng trang nghiệm đoan chính , mỗi câu nói ra thật đơn giản ngắn gọn, nhưng luôn diễn tả được sự "thâm ngộ", hiểu rõ ràng tường tận kinh nghĩa và giới luật . Người như thế mới đảm đương đuợc vị trí "chủ" trong pháp hội để được xem là "Chủ thành tựu".

Cao Tăng khác với Danh Tăng . Cao tăng là người đã có chứng ngộ chân thật, còn Danh Tăng đôi chi chỉ là 1 vị tăng bắt chước phong thái Cao Tăng rồi tạo lập được danh tiếng , khiến nhiều người ái mộ, cho nên "Danh Tăng" chưa hẳn là thực sự đã chứng ngộ như 1 vị Cao Tăng (Đại Sư)!!!

Cũng chính vì không muốn đời sau, các Phật Tử bị dẫn dụ bởi “Danh Tăng” hay “Tà Sư” nên Đức Bổn Sư cũng đã răn dạy "Y PHÁP, BẤT Y NHÂN" ( Theo / nương tựa vào "Giáo Pháp" , không theo / không lệ thuộc "người dạy Giáo Pháp". Như vậy người học Đạo mới không bị lôi kéo mê hoặc bởi "những kẻ núp bóng Chánh Pháp để truyền bá Tà Pháp" .)

Quote:
Ghi Chú :

"TỨ Y" = 4 Quy Tắc Nương Theo Gì Khi Học Và Hành Đạo Phật


1) Y "PHÁP", BẤT Y "NHÂN": Theo / nương tựa vào "Giáo Pháp" , không theo / không lệ thuộc "người dạy Giáo Pháp". Như vậy người học Đạo mới không bị lôi kéo mê hoặc bởi "những kẻ núp bóng Chánh Pháp để truyền bá Tà Pháp" .

2) Y "NGHĨA", BẤT Y "NGỮ": Theo "ý nghĩa" , đừng theo "từ ngữ" (con chữ). Người học Đạo khi nghe, khi đọc gì cũng phải nên "được ý quên lời , chớ nên chấp lời nghịch ý".

3) Y "TRÍ", BẤT Y "THỨC": Theo "trí tuệ" phát sinh từ sự thanh tịnh sáng suốt, không theo "hiểu biết luận giải" kiểu thường tình thế tục.

4) Y "LIỄU NGHĨA KINH", BẤT Y "BẤT LIỄU NGHĨA KINH": Theo ý nghĩa trọn vẹn tường tận ghi trong Kinh , không theo ý nghĩa mà chưa tường tận được ý trong kinh.




Lynn Ly (23/10/2015)



Xem Thêm:

Edited by user Friday, October 23, 2015 7:17:49 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#20 Posted : Sunday, October 25, 2015 5:52:49 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
GởI các anh chị em đồng đạo, Phật Tử gần xa xem bài giảng Cố HT Thích Thánh Nghiêm . Ngài khẳng định "Những điều kiêng kỵ" mà dân gian truyền tụng khi "Thờ Phật tại Nhà" là không đúng theo tư tưởng "Phật Giáo", mà đó là những điều kiêng kỵ thuộc về "Đạo Giáo" (thờ thần thánh, thờ tiên thánh, hay thờ quỷ thần) !!! Tuy nhiên, ngài cũng khuyên là các Phật Tử phải có thái độ "tôn trọng" quy củ và cung cách tính ngưỡng của các Giáo Phái khác, các Tôn Giáo khác, không nên có thái độ "Bất Kính" gây nên xung đột giữa các Tôn Giáo !!!




"THỜ PHẬT TẠI NHÀ" CẦN PHẢI BIẾT "NHỮNG ĐIỀU KIÊNG KỊ"
KHÔNG PHẢI LÀ TÍN NGƯỠNG PHẬT GIÁO CHÂN CHÍNH

Cồ Hòa thượng Thích Thánh Nghiêm


Tục lệ tín ngưỡng của dân gian thường có rất nhiều điều kiêng kị, nhưng đó không phải là tín ngưỡng Phật giáo chân chính mà chỉ là những điều kiêng kị bị ngộ nhận là của Phật giáo.

Ví dụ như những cây hương thừa trong bát hương nếu hàng ngày không thu gọn thì trở nên dơ bẩn và dễ gây cháy rất nguy hiểm. Cho nên các bát hương đặt trước các tượng Phật trong chùa, hàng ngày vào lúc sáng sớm đều cần phải thu gọn, giữ cho bát hương luôn luôn sạch sẽ như mới thắp hương lần đầu.

Các nữ tín đồ thờ Phật tại nhà đến kỳ kinh nguyệt thì không dám tới chùa lễ Phật, thậm chí không dám đến trước bàn thờ Phật để thắp hương tụng kinh, tọa thiền, niệm Phật.

Kỳ thực đó là điều kiêng kị của hàng quỷ thần cấp thấp. Vì quỷ thần sợ máu bẩn nên hễ thấy máu bẩn thì dễ nổi giận. Quỷ thần nghiện ăn máu, thấy máu là dấy lòng tham, nhưng máu kinh nguyệt không phải là máu tươi nên quỷ thần có phản ứng như bị người ta đùa bỡn làm nhục. Do vậy, phụ nữ khi hành kinh vào các đền, miếu, điện thờ quỷ thần thì có thể bị hậu quả không tốt.

Còn như các Sa-di ni, Tỳ kheo ni, cùng các Ưu bà di (nữ cư sỹ) ở gần đều sinh hoạt tại chùa, cùng các phụ nữ tu hành hàng ngày làm bạn với kinh sách, tượng Phật và các pháp vật khác của nhà chùa, từ xưa đến nay chưa từng thấy ai bị tai họa bởi vấn đề xung khắc do kinh nguyệt gây ra cả.

Những người thờ Phật tại gia khi lập bàn thờ Phật trước hết phải nhờ người làm lễ khai quang các tượng Phật, Bồ Tát, lại phải chọn ngày tốt, hướng tốt.

Đó cũng là do tín ngưỡng dân gian hoặc phong tục dân gian. Theo quan điểm “nhập gia tùy tục” mà nói thì tục lệ đó cũng không có gì sai trái lắm. Làm lễ khai quang là để tỏ ý thận trọng, chọn ngày chọn hướng là để tỏ ý cầu mong tốt lành.

Nhưng theo quan điểm Phật giáo thì chư Phật, Bồ Tát có ở khắp mọi nơi, không một chỗ nào không ứng hiện. Tất cả mọi hướng đều có chư Phật, Tam bảo, Long thiên hộ pháp. Như vậy, đương nhiên là không hề có những vấn đề do tín ngưỡng dân gian tưởng tượng ra. Chỉ cần chọn một chỗ nào mình cho là tôn quí nhất, rồi với tình cảm thành kính nhất và chọn một thời điểm thích đáng nhất để đặt tượng thờ Phật là được.

Có người cho rằng có những bài chú, bài kinh nào đó thì người tu tại gia không được niệm, hoặc có những bài chú, bài kinh nào thì không được niệm vào một giờ nào đó.

Kỳ thực, với tấm lòng cung kính, tất cả mọi bài kinh, chú đều có thể tụng niệm ở bất cứ nơi nào thanh tịnh. Tốt nhất là trước khi tụng niệm nên rửa tay, súc miệng rồi đứng trước bàn thờ thắp hương lễ Phật mà tụng niệm nhưng không nên nói người tu tại gia không được tụng kinh nào đó hoặc không được niệm chú nào đó, trừ những pháp môn quy định đặc biệt của Mật Tông thì không kể.

Trong một nhà cũng có thể có người tin Phật, có người tin Thần, phải chăng có thể thờ chung cả Thần và cả Phật trong cùng một bàn thờ ? Điều đó nên coi là không có vấn đề gì ?

Nên thờ Phật ở chính giữa, cúng Bồ Tát ở hai bên, cúng các Thần ngoài cùng, coi là kẻ bảo vệ bên ngoài cho Tam bảo, cũng nên để cho các Thần gần gũi với Tam bảo để tu học Phật pháp, giúp các thần có được nhân duyên với đạo Phật.

Nếu đạt được sự thỏa thuận của cả nhà, sau khi đã đổi ý mà tin theo Phật thì sẽ làm lễ cúng Thần, khấn cáo với Thần rồi đem tượng (và đồ thờ) Thần cất đi, để tránh cúng thờ ngẫu tượng quá nhiều sinh ra tạp loạn.

Có nhiều người không hiểu đối với tro hương cùng các kinh sách, tượng và các pháp vật bị hư hỏng thì sẽ xử lý như thế nào? Thậm chí có người mang đến giao cho nhà chùa.

Kỳ thực thì chỉ cần chọn chỗ đất trống và đồ đựng sạch sẽ, bỏ các thứ đó vào rồi châm lửa đốt đi, đốt xong đào lỗ chôn xuống đất là được. Những thứ làm bằng kim loại không đốt được thì tìm chỗ cất kín, một thời gian sau sẽ xử lý thải bỏ như đối với đồ đạc cũ kỷ rách nát khác.

Các vật cúng bày trên bàn thờ Phật như hoa, quả, nước trà v.v… thuộc các loại phẩm vật tiêu hao thì phải thay đổi hằng ngày. Những thứ gì còn có thể dùng được, ăn được thì nên đem dùng vào việc khác hoặc đem cho người nhà ăn dùng, không nên vứt đi. Những thứ bị ôi thiu, hư nát thì phải đổ bỏ đi như đổ rác.

Còn như phẩm vật bày cúng nên bày cúng đơn chiếc hay bày một đôi thì không có hạn chế gì cả. Xét về mỹ quan đối xứng mà nói thì nên dùng một cặp đôi. Nhưng nếu vì tiền nong vật phẩm có hạn, hoặc do vị trí chỗ bày biện không tiện, chỉ bày cúng đơn chiếc thì cũng không có gì là không được. Còn về đồ cúng là những món gì, về nguyên tắc là tùy theo chỗ tiền nong chi tiêu mà mình có thể lo liệu được, không bày biện rườm rà mà cũng không cần phải phô trương.

Thời gian tu hành tại nhà thích hợp nhất là vào lúc sáng sớm và buổi tối, lúc đó nhờ thân tâm thanh tịnh, thoải mái. Như vậy mới có thể chuyên chú, thành tâm mà tu tập.

Nếu vì tính chất công việc làm ăn thì đương nhiên có thể chọn những thời gian khác nhau.

Tốt nhất là không lập bàn thờ trong phòng ngủ, không nên ngồi tọa thiền, lễ Phật, tụng kinh ở trên giường. Nhưng nếu nhà ở chỉ có một phòng thì tốt nhất là lúc bình thường lấy vải khăn che phủ tượng Phật. Khi nào lễ Phật thì xếp dọn giường chiếu chỉnh tề, sạch sẽ rồi mới mở khăn tượng Phật ra. Nếu giường làm lễ cúng được, coi đó cũng là một nơi để tu hành.

Nói tóm lại, lấy cái tâm thanh tịnh, cung kính để biểu thị mức độ trang trọng, nghiêm túc làm nguyên tắc.

Sau khi đã quy y Tam Bảo thì không được quy y một tôn giáo nào khác, không được thờ phụng một đền miếu, đạo tràng nào của tín ngưỡng dân gian. Tuy vậy vẫn phải giữ thái độ tôn kính đối với các tín ngưỡng đó.
Khi đi vào các nhà thờ, đền miếu, đền thần phải cúi người chắp tay chào hỏi. Không được coi việc thờ phụng đó là đối tượng tín ngưỡng của mình, mà coi đó là cử chỉ để giữ quan hệ hữu nghị.

Trước khi chưa có nhận thức xác thực đối với Phật pháp thì không được đọc sách báo ngoại đạo, nếu không sẽ dẫn đến sự chỉ dẫn sai lầm về phương hướng.

Hòa thượng Thích Thánh Nghiêm


Xem Thêm:

Edited by user Sunday, October 25, 2015 6:22:29 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



Users browsing this topic
Guest
2 Pages12>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.