Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

2 Pages12>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1 Posted : Sunday, May 29, 2011 5:32:03 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
nhân dịp 50 năm ngày thành lập OCDE năm 2011, xin post lại 1 bài cũ (năm 2010) về những nghiên cứu của OCDE



Các quốc gia đang phát triển có thể vượt các nước giàu trong 20 năm tới



UserPostedImage
OCDE


Mai Vân - rfi

Ngày 16/06/2010, Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế (OCDE/OECD) đã công bố một bản báo cáo về triển vọng kinh tế thế giới mang tựa đề ‘’Viễn ảnh Phát triển Toàn cầu : sự chuyển dịch của nền thịnh vượng’’. Theo ghi nhận của OCDE, thế giới đang chứng kiến một sự thay đổi lớn trong trật tự kinh tế toàn cầu, với phần đóng góp ngày càng lớn của các nước đang phát triển, mà các nhà kinh tế xem là đầu tàu hiện đang kéo kinh tế thế giới đi lên.

Theo dự báo của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế FMI, đưa ra vào tháng 4/2010, tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2010, sẽ đạt tỷ lệ bình quân 4,2%. Tính riêng từng khu vực, thì tại vùng Châu Âu sử dụng đồng euro, tăng trưởng chỉ là 1%. Hoa Kỳ khá hơn một chút với 3,1%. Trong lúc đó thì Châu Á đạt 8,7%, với đầu tàu là Trung Quốc, có tỷ lệ 10%. Ấn Độ không kém với 8,8%. Brazil, một quốc gia đang vươn lên khác cũng đạt 5,5%. Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, tăng trưởng tại các nước đang vươn lên này sẽ là động cơ, giúp các quốc gia giàu có vực dây nền kinh tế của mình.

Quả là có một sự đổi vai. nhưng tổ chức OCDE, tỏ ra rất lạc quan về triển vọng sắp tới của các quốc gia đang phát triển và đang vươn lên, thường được gọi chung là ‘’phương Nam’’. Khối nước này không chỉ bắt kịp các quốc gia đã phát triển, mà vào năm 2030, tức là trong 20 năm tới đây, còn sẽ vượt qua các nước phương Bắc, và chiếm một tỷ trọng đến gần 60% sản lượng toàn cầu, trong lúc mà toàn bộ số hơn 30 quốc gia thành viên giàu có của tổ chức OCDE, vào thời điểm đó chỉ còn chiếm được hơn 40%.

Tỷ lệ kể trên đã đảo ngược hoàn toàn so với cách đây 10 năm, khi các quốc gia giàu có còn chiếm 60%, tổng sản lượng toàn cầu. Đà suy giảm của khối nước phương Bắc tuy nhiên đã khởi sự, và đến năm 2010, tỷ trọng các quốc gia công nghiệp phát triển đã tuột xuống còn 51%. Trong trật tự thế giới mới do OCDE phác họa, trao đổi giữa các quốc gia phương Nam với nhau sẽ gia tăng, và trở thành một trong những động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu trong thập niên tới đây.

Về mức sống người dân, theo bản báo cáo, hiện nay một số quốc gia đang phát triển cũng đã bắt kịp mức sống các quốc gia giàu. Tuy nhiên OCDE cũng gợi lên một số điểm đen trong viễn ảnh lạc quan của mình : đó là sự chênh lệch phát triển giữa các quốc gia phương Nam với nhau và nhất là khoảng cách giàu nghèo càng lúc càng sâu thêm trong từng nước. Trong tình hình đó, OCDE khuyến cáo các nước phương Nam là nên nhanh chóng thực hiện các chính sách xã hội để giảm bớt các khó khăn nẩy sinh.

Vấn đề đặt ra là viễn ảnh mà tổ chức OCDE phác họa có thật sự sẽ hoàn toàn tốt đẹp như thế hay không. Trả lời phỏng vấn RFI sau đây, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghiã tại California, tỏ ra thận trọng, và nêu một số yếu tố mà các quốc gia Phương Nam còn thiếu và có thể ngăn cản bước tiến của các nước này, trong đó có cả những vấn đề phi kinh tế như trí tuệ và dân chủ.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại California

22/06/2010 by Mai Vân



RFI : Tổ chức Hợp tác và Phát triển OCDE đã công bố phúc trình về "Viễn ảnh Phát triển Toàn cầu" với nội dung tập trung vào những thay đổi lớn về sự giàu có trên thXế giới trong vòng hai chục năm tới. Thưa anh, xưa nay, người ta nói đến một ranh giới Nam-Bắc của phát triển, theo đó, các nước ở Bắc bán cầu đã công nghiệp hoá trước tiên, và trở thành giàu có nhất so sánh với các nước ở Nam bán cầu. Bây giờ, theo dự báo của OCDE thì người ta đang thấy ra một trật tự mới của kinh tế thế giới, với các nước miền Nam sẽ đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn. Cụ thể thì nay đang ở trong tình trạng ngang ngửa, chứ 20 năm tới sẽ vượt qua các nước công nghiệp hoá ở miền Bắc và sẽ giao dịch mua bán với nhau nhiều hơn nên sẽ làm chủ một lượng tài sản lớn hơn của địa cầu. và nhất là thị trường tiêu thụ to lớn của họ có khả năng đảy lượng giao dịch với các nước phát triển mạnh hơn và giúp các nước này ra khỏi khủng hoảng kinh tế. Anh nghĩ sao về những kết luận trên ?

Nguyễn Xuân Nghĩa : Người ta căn cứ trên những thành quả kinh tế trong 20 năm vừa qua, tức là từ đầu thập niên 90 cho đến cuối năm 2008, để đưa ra một cái dự phóng cho tương lai.
Căn cứ trên kết quả trong 20 năm qua thì ta thấy rằng các nước gọi là đang phát triển có tốc độ phát triển cao hơn, có sản lượng công nghiệp cao hơn, và họ buôn bán giao dịch với nhau nhiều hơn. Thành ra mức sống của dân cư tại những nơi đó cũng cải thiện, cụ thể là có cỡ chừng 500 triệu người thuộc loại bần cùng, tức là bình quân lợi tức chỉ có 1 đô la một ngày chẳng hạn, thì đã ra khỏi cái sự nghèo khổ đó.

Đa số thành phần đó nằm ở Trung Quốc. Và vì lợi tức gia tăng ở các nước đó mà người ta tin rằng và người ta cũng mong rằng là khả năng tiêu thụ cao hơn của các nước đang phát triển, có thể giúp cho các nước giàu có đang bị đình trệ kinh tế sẽ có một thị trường xuất cảng nhiều hơn. Và như vậy, vì thị trường tiêu thụ nội điạ của các nước đang phát triển có thể còn gia tăng theo mức lợi tức dân cư của họ mà họ nghĩ rằng có thể thế giới đang có một sự xoay chuyển lớn.

Trước đây, các nước công nghiệp thường nhập cảng nhiều, tiết kiệm ít và đà tăng trưởng thấp, và trong khi đó thì các nước nghèo, họ cố ra công xuất cảng nhiều, và có tốc độ tăng trưởng cao hơn. Bây giờ thì nó có thể sẽ đưa đến một tình trạng gọi là tái quân bình lại luồng giao dịch giữa các nước với nhau và các nước nghèo có thể sẽ mua hàng của các nước giàu nhiều hơn và nhờ đó mà có thể kéo các nước Âu Mỹ, kể cả Nhật Bản, ra khỏi tình trạng đình trệ vừa rồi.

Tôi nghĩ đấy là một cái mặt gọi là tích cực mà bản thân tôi cho là quá lạc quan của những cái nhận định đó.

RFI: Tại sao anh lại cho là nhận định đó quá lạc quan ?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi sẽ làm thính giả giật mình, thậm chí khó chịu, nếu nói rằng chúng ta đang chứng kiến một hài kịch có nhiều cảnh nhiều màn của kinh tế thế giới.

- Thứ nhất, Tổ chức Hợp tác và Phát triển OCDE chủ yếu chỉ là một trung tâm nghiên cứu, được hình thành từ sau Thế chiến II bởi các nước kỹ nghệ hoá thuộc Bắc bán cầu, đa số tại Âu châu. Trong số 34 hội viên hiện hành có hơn hai tá là các nước Âu châu và trong các nước Âu châu ấy, chừng mươi quốc gia đang gặp nhiều vấn đề kinh tế, thậm chí bị nguy cơ khủng hoảng. Tôi không tin là OCDE đã tiên báo được mức độ trầm trọng của vụ khủng hoảng ở ngay tại sân nhà là Âu châu nếu ta đọc lại báo cáo của tổ chức này về nạn tổng suy trầm vừa qua.

- Cũng vì vậy, và đây là yếu tố thứ hai, họ dễ chột dạ về sự suy sụp của mình và dự báo chu kỳ thịnh vượng của các nước mới phát triển, trong đó có các nước tôi xin gọi là "tân hưng", tức là mới nổi, và các nước vừa chập chững bước vào giai đoạn phát triển. Hiện tượng này cũng giống như sự lạc quan của các định chế quốc tế khi nói về phép lạ kinh tế Đông Á ngay trước khi Đông Á bị khủng hoảng thời 1997-1998. Họ nhìn vào kính chiếu hậu, là dựa vào những dữ kiện kinh tế của quá khứ, như tốc độ tăng trưởng hoặc lượng hàng giao dịch của ngoại thương, để từ đó vạch ra đường tuyến cho tương lai trước mắt. Rồi kết luận rằng thế giới đang bước qua một trật tự mới với sức nặng của các nước đang phát triển.

- Thực tế thì các nước đi sau đều học được kinh nghiệm của các nước đi trước cho nên có thể đốt giai đoạn và khi bắt đầu bước vào chu kỳ phát triển thì đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn. Sau đó, thì họ cũng lại chậm nhịp phát triển khi bước vào giai đoạn trưởng thành như các nước kia. Tuy nhiên, khác với các nước kỹ nghệ hoá đã trước tiên dân chủ hóa và có ý thức xã hội cao độ, các nước đi sau lại không được như vậy! May là phúc trình của OCDE có cảnh báo điều ấy khi nhấ mạnh tới sự bất công tiềm ẩn trong đà tăng trưởng....

RFI: Đúng là anh hay có thói quen xối nước lạnh! Báo cáo của tổ chức OCDE có nói đến thành tích xoá đói giảm nghèo trong các nước đang phát triển và còn nêu ra một con số thực tế là các quốc gia này đang nắm giữ một lượng dự trữ ngoai tệ lớn hơn các nước gọi là giàu có. Trong khi ấy, ta thấy là các nước giàu có này giờ đây đang mắc nợ, từ Nhật Bản, Hoa Kỳ về tới nhiều nước Âu Châu. Anh không cho rằng đó là thành tích đáng kể và tiềm lực đáng tin sao ?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Báo cáo của OCDE tập trung vào thời khoảng hai chục năm qua, từ 1990 là khi Chiến tranh lạnh kết thúc đến 2008 là khi thế giới bị trận tổng suy trầm toàn cầu. Từ đó, họ vạch đường tuyến tương tự cho tương lai hai chục năm tới và vẽ ra triển vọng màu hồng cho các nước đang phát triển. Tôi thiển nghĩ là sự thật lại không lạc quan như vậy vì nhiều lý do.

- Thứ nhất, chính là nguyên lý kinh tế tự do và chính trị dân chủ của các xứ kỹ nghệ hoá, chủ yếu là Âu-Mỹ, đã lấy trớn phát triển cho các nước nghèo trong 60 năm vừa qua. Nhờ vậy mà dân số các nước nghèo đã tăng mạnh và tương đối có kiến năng cao hơn thế hệ trước. Trong khi ấy, các nước công nghiệp hoá - ngoại lệ là Hoa Kỳ nhờ chính sách di dân - lại thấy dân số co cụm dần, bị lão hoá, và ảnh hưởng tới năng suất. Nhờ đầu tư nhiều hơn và có dân số đông hơn - khoảng một tỷ rưỡi người đi vào thị trường lao động - các nước nghèo có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao trong mấy chục năm liền. Nhưng khi họ bớt nghèo đi thì đà gia tăng dân số ấy cũng sẽ giảm, là chuyện ta bắt đầu thấy tại Trung Quốc. Và đà tăng trưởng cũng vậy.

- Thứ hai, nói về tài sản hay cụ thể là dự trữ ngoại tệ, ta không quên loại tài sản vô hình mà lại là then chốt cho phát triển và năng suất. Là kiến năng, kiến thức và khả năng. Các xứ tân hưng hay đang phát triển có thể nắm giữ một khối dự trữ ngoại tệ trị giá hơn 4.000 tỷ Mỹ kim hay ngoại tệ mạnh khác của các nước giàu. Nhưng họ làm chủ bao nhiêu bằng sáng chế trên thế giới? So với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức hay thậm chí Nam Hàn, thì dự trữ về trí tuệ của các nước này không đáng kể. Nếu không đầu tư vào giáo dục và đào tạo để nâng cấp về trình độ sản xuất thì các nước này chỉ sao chép sáng kiến của Bắc bán cầu và bán hàng cho nhau với giá trị gia tăng thật ra cũng không cao. Thế giới bị mê hoặc bởi các doanh nghiệp Ấn Độ hay Trung Quốc đã đầu tư vào thị trường Âu-Mỹ, nào mua hãng xe hơi xứ này, mua công ty điện toán xứ kia, nhưng nếu tương lai các nước tân hưng này quả là sáng láng như vậy vì sao họ không đầu tư vào khu vực nội địa lạc hậu của họ để nâng mức sống và phẩm chất của đời sống cho cả tỷ dân của họ?

- Thứ ba và đây là yếu tố bi quan nhất, đó là những dị biệt quá lớn về lợi tức, nhận thức và quyền lợi của các nước tân hưng hay đang phát triển với nhau. Ngược với suy luận lạc quan của nhiều người, tôi trộm nghĩ rằng các nước càng buôn bán giao dịch với nhau thì tranh chấp về quyền lợi càng dễ xảy ra. Đó là kinh nghiệm của Âu châu vào đầu thế kỷ trước. Cũng do kinh nghiệm đắt đỏ ấy mà Âu châu trở thành dân chủ và hiếu hoà hơn ngay trong trường cạnh tranh kinh tế. Các nước đang phát triển chưa tiến tới giai đoạn ấy và mâu thuẫn của họ với nhau vẫn có thể xảy ra và càng dễ xảy ra trong lãnh vực kinh tế vì những chuyển dịch của sự giàu có. Bất ổn đó có thể làm gãy đường tuyến lạc quan của tổ chức OCDE! Xin nhắc lại là sau Thế chiến thứ nhất, năm 1920, không ai ở Âu châu có thể tin là Âu châu sẽ lại gặp đại chiến trong vòng 20 năm tới...

RFI: Câu hỏi cuối thưa anh: trong viễn ảnh mà anh thấy là không tất nhiên tốt đẹp như vậy, một xứ đang phát triển như Việt Nam cần tự chuẩn bị những gì để tránh khỏi kịch bản bi quan mà anh vừa nêu ra?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Một mỉa mai lớn mà vô cùng ý nghĩa là cùng lúc cơ quan OCDE đưa ra viễn ảnh màu hồng cho các nước đang phát triển thì Việt Nam lại chụp bức màn đen lên kiến thức quốc gia khi Hà Nội tăng cường kiểm soát mạng lưới điện toán. Mối lo của họ là tự do thông tin và dân chủ chính trị, trong khi chính hai yếu tố ấy mới bảo đảm hy vọng phát triển bền vững và ổn định trong lâu dài. Nếu chỉ nhìn vào con số tăng trưởng biểu kiến của mươi năm qua mà cho rằng cứ 10 năm thì lợi tức đồng niên của người dân lại tăng gấp đôi, người ta chưa thực sự làm chủ được tương lai. Và khi hữu sự thì chẳng nên đổ vạ cho một trung tâm nghiên cứu!

Edited by user Thursday, October 20, 2011 10:00:01 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 2 users thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
yến oanh on 2/4/2012(UTC), NNT on 9/16/2012(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#2 Posted : Thursday, June 16, 2011 2:42:33 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
RFI - THỨ NĂM 16 THÁNG SÁU 2011

Vi tín dụng và hiệu quả xóa đói giảm nghèo ?



UserPostedImage
Giải Nobel hòa bình Muhammad Yunus, cựu Tổng giám đốc Ngân hàng dành cho người nghèo Grameen Bank
REUTERS

Thanh Hà
Vào lúc tại Pháp số người bị mất việc không ngừng gia tăng do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thì các hoạt động kinh tế được cấp vốn dưới hình thức vi tín dụng đã tạo ra 48.000 chỗ làm riêng trong năm 2008. Sau gần 40 năm thực hiện tại Ấn Độ và Bangladesh, qua kinh nghiệm của nhiều nước nghèo từ Perou đến Pakistan, Việt Nam, vi tín dụng phải chăng là một phép màu kinh tế hay là con dao hai lưỡi ?

Pháp vừa đã tổ chức « Tuần lễ vi tín dụng » lần thứ bảy đánh dấu hơn 20 năm, hoạt động tài chính này góp phần đẩy lui nạn nghèo khó một trong số 8 quốc gia công nghiệp phát triển hàng đầu của thế giới. Vào lúc tại Pháp số người bị mất việc không ngừng gia tăng do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thì các hoạt động kinh tế được cấp vốn dưới hình thức này đã tạo ra 48.000 chỗ làm riêng trong năm 2008.

Năm 1989 Hiệp hội Adie đấu tranh vì quyền tham gia vào các hoạt động kinh tế đã cấp những khoản vi tín dụng đầu tiên cho một số tư nhân muốn làm ăn buôn bán, nhưng không vay được vốn của ngân hàng. Từ đó đến nay tổ chức này đã cấp vốn cho 97.000 dự án, và chỉ riêng năm ngoái đã có hơn 12.000 hồ sơ được giải quyết. Theo chủ tịch hiệp hội Adie, trên tổng số 622.000 doanh nghiệp được chào đời trong năm 2010 tại Pháp thì đã có đến 145.000 cơ sở được thành lập nhờ vốn vi tín dụng và có đến 1/4 trong số này bắt tay vào công việc với chưa đầy 2.000 euro tiền vốn lúc ban đầu.

Sau hơn 20 năm thực hiện tại Pháp, gần 40 năm tại Ấn Độ và Bangladesh, qua kinh nghiệm của nhiều nước nghèo -từ Perou đến Pakistan- và ngay cả tại Việt Nam, câu hỏi đặt ra là vi tín dụng phải chăng là một phép màu kinh tế hay là con dao hai lưỡi ? RFI đặt câu hỏi này với bà Mai Ninh, đại diện tại Việt Nam của hội Việt Nam Tương trợ và Đoàn kết hội AVNES, trụ sở tại Pháp. Một trong những hoạt động của hội là nhằm cấp vi tín dụng cho các hộ gia đình nghèo tại Đồng Tháp và Bến Tre.

Yunus, cha đẻ của vi tín dụng

Vạn sự khởi đầu cách nay gần 40 năm khi giáo sư kinh tế người Bangladesh Mohammed Yunus với tư cách cá nhân đã cho 42 phụ nữ tại một ngôi làng rất nghèo vay 27 đô la để tự lực cánh sinh. Tại một quốc gia vừa giành được độc lập và lại phải trực diện với nạn đói thì 27 đô la ngày ấy đã nuôi sống cả một ngôi làng do những người đàn bà này đã được cấp vốn để kinh doanh.

Mô hình vi tín dụng ra đời từ đó và đã trở nên phổ biến hơn khi giáo sư Yunus sáng lập ra ngân hàng Grameen Bank vào năm 1976. Hiện tại có đến hơn 150 triệu người sử dụng hình thức tài chính này trên toàn thế giới, kể cả ở những quốc gia phát triển nhất như Hoa Kỳ hay tại Pháp.

Như tên gọi của nó, vi tín dụng là những khoản tiền thường ít ỏi mà một cơ quan tài chính hay một hiệp hội tư nhân cấp cho một hộ gia đình có thu nhập thấp để họ kinh doanh, sản xuất. Thời gian vay mượn thường rất ngắn chứ không kéo dài 5, 7 năm như các khoản tín dụng do các ngân hàng cung cấp. Một khác biệt quan trọng khác là các tổ chức cho vay thường không đòi hỏi quá nhiều bảo đảm tài chính của các thân chủ mà tuyệt đại đa số này là những con nợ đã bị các ngân hàng « chê ».

Tại Ấn Độ nơi mà có từ 47 đến 52 % các hộ gia đình nghèo ở thành phố đều là các « doanh nhân » mô hình vi tín dụng của nhà kinh tế học Bangladesh đã thành công vượt bực và nhất là đã góp phần đẩy lui nạn nghèo khó tại nước đông dân thứ nhì trên thế giới.

Hiện nay, có tới 80 triệu dân Ấn Độ tham gia mô hình vi tín dụng, với tổng dư nợ lên đến 6,7 tỷ đô la. Vấn đề đặt ra là tỷ lệ các con nợ mất khả năng thanh toán ngày càng gia tăng khiến một mặt mô hình vi tín dụng tại Ấn Độ bị đe dọa sụp đổ, mặt khác thì các hộ gia đình không còn khả năng thanh toán ngày càng bị đẩy vào đường cùng, nợ lại sinh thêm nợ và số người tự vẫn để thoát khỏi cảnh bị siết nợ.

Con dao hai lưỡi ?

Tại sao hoạt động tài chính mang đậm nét xã hội này lại bị đe dọa ? Câu trả lời có thể được tìm thấy qua những yếu tố như sau :

- Mô hình đã được nhà kinh tế học và giải thưởng Nobel, Mohammed Yunus khởi xướng nhằm giúp đỡ một cá nhân đem khoản tiền dù là ít ỏi vay mượn được đi kinh doanh, có nghĩa là dùng đồng tiền đó để sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi …. Và từng bước thoát khỏi cảnh phải ngửa tay xin tiền của các nhà từ thiện. Trong trường hợp con nợ lại dùng đồng tiền vay mượn được để mua sắm những vật dụng cần thiết nhất (quần áo, lương thực …) hay để trang trải nợ nần đáo hạn … thì coi như khoản tín dụng vay được không sinh lời và rất chóng, người ta lâm vào cảnh nợ nần chồng chất.

- Bên cạnh đó thì với thời gian, nhiều tổ chức tài chính cũng đã lợi dụng nhu cầu cấp bách của những người nghèo –và đa số ít học – để làm nhanh chóng làm giàu. Chẳng lãi suất cho vay thường cao hơn so với thị trường (như trong trường hợp của nhiều tổ chức tài chính Ấn Độ chẳng hạn) , một số các tổ hợp tài chính vi tín dụng còn có những chiến dịch quảng cáo tinh vi để chiêu dụ các con nợ mà không trình bày cặn kẽ những rủi ro mà họ sẽ vấp phải.

- Đó là chưa kể một số các doanh nghiệp tài chính chuyên cho người nghèo vay mượn còn dùng đồng tiền này để đầu tư vào thị trường chứng khoán ...

AVNES tại Việt Nam

Riêng đối với Việt Nam, hội Việt Nam Tương trợ và Đoàn kết AVNES - trụ sở tại Pháp hiện đã và đang có nhiều chương trình cấp vi tín dụng giúp đỡ dân cư tại Đồng Tháp và Bến Tre thoát khỏi cảnh nghèo khó. Những người vay vi tín dụng chủ yếu để mở mang các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi.

Bà Mai Ninh, đại diện của hội tại Việt Nam cho biết một cách cụ thể về những điều kiện ưu đãi dành cho những hộ gia đình nghèo và cận nghèo ở khu vực này để giúp họ có phương tiện làm ăn, về những khó khăn mà họ gặp phải cũng như theo bà thì cho vay không thôi chưa đủ : để các khoản vi tín dụng có hiệu quả hơn, các tổ chức cho vay hay các hội đoàn từ thiện còn cần phải làm công việc hướng dẫn cho các thân chủ để hoạt động của họ có hiệu quả hơn.

Mai Ninh-đại diện hội AVNES

16/06/2011
thanks 1 user thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
yến oanh on 2/4/2012(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#3 Posted : Thursday, October 20, 2011 9:56:47 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
VOA - Thứ Tư, 19 tháng 10 2011

Suy thoái kinh tế toàn cầu: 1 thế hệ công nhân trẻ mang chấn thương tâm lý

Tổ chức Lao động Quốc tế ILO cho hay cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã gây ra một thế hệ mà tổ chức gọi là "những người trẻ bị vết thương tâm lý." Tổ chức nói là sự bất mãn khi khó tìm được một việc làm tử tế là một yếu tố đưa đến những phong trào phản kháng đang diễn ra khắp thế giới.
Joe De Capua | Washington

UserPostedImage
Hình: Reuters
Giới trẻ thường là những người đầu tiên bị thải việc khi kinh tế đi xuống và là những người cuối cùng kiếm ra việc làm khi kinh tế bắt đầu hồi phục

Kinh tế gia làm việc cho Tổ chức Lao động Quốc tế Steve Kapsos nói thế hệ công nhân trẻ mang vết sẹo tâm lý ngày càng đông. Ông nói: "Nếu quí vị nhìn vào con số người trẻ thất nghiệp trên toàn cầu sẽ thấy nó tăng lên rất cao vì hệ quả của cuộc khủng hoảng kinh tế khắp thế giới. Chúng tôi ước tính có thêm chừng 4,6 triệu người trẻ thất nghiệp hiện nay so với năm 2007."

Ông nói thế hệ này còn phải đối phó với những khó khăn ngắn hạn cũng như dài hạn: "Những người trẻ đi tìm việc làm phải xếp hàng dài chờ đợi lâu hơn xưa nhiều, trước khi có cơ hội kiếm được một việc làm đầu tiên. Đồng lương mà họ kiếm được thấp hơn so với trước đây. Và điều này thực sự đã đặt bước đầu của họ ở mức thấp hơn hiểu theo nghĩa công ăn việc làm và sự nghiệp của họ."

Không phải tất cả những người trẻ thất nghiệp hoặc không có việc làm toàn thời gian đều giống nhau. Theo kinh tế gia Kapsos, có khác biệt giữa những người trẻ ở các quốc gia đã phát triển và đang phát triển. Ông nói: "Tại những nền kinh tế đã phát triển, điều thử thách là phải tạo thêm công ăn việc làm, hạ tỉ lệ thất nghiệp xuống. Tại những nước đang phát triển, điều thực sự là chất lượng của việc làm, đồng lương của công việc. Ở những nước đó, chúng ta thấy một số lớn người trẻ sống dưới mức nghèo khó."

Tại khu vực dưới sa mạc Sahara ở Phi châu, các điều kiện kinh tế khác với nhiều khu vực đang phát triển khác, vì kinh tế nơi đây lại khấm khá hơn đôi chút trong thời kỳ suy thoái toàn cầu. Ông giải thích: "Nếu quí vị nhìn vào mức thất nghiệp tại khu vực dưới sa mạc Sahara ở Phi châu, con số ước tính của chúng tôi cho thấy có rất ít thay đổi trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Thất nghiệp thực sự không phải là một vấn đề ở đây. Vấn đề là công việc trả đồng lương quá thấp. Chúng tôi ước tính trong những quốc gia mà chúng tôi nắm được các dữ liệu, chừng 1/4 giới trẻ ở khắp thế giới tại những quốc gia đang phát triển thuộc vào giới công nhân nghèo. Họ có việc làm đấy, nhưng họ sống dưới mức nghèo khó 1 đô la 25 cents một ngày. Con số này còn cao hơn thế nhiều ở những quốc gia Phi châu dưới sa mạc Sahara."

Đồng thời những quốc gia dưới sa mạc Sahara có tỉ lệ tăng trưởng nhanh trong những năm gần đây hơn là nhiều khu vực khác. Chuyên gia Kapsos giải thích trong lúc dữ kiện này tạo cho giới công nhân trẻ tuổi một hy vọng nào đó, những nước này vẫn có những vấn đề khó khăn tiềm ẩn: "Nếu như quí vị nhìn vào nguồn gốc của sự tăng trưởng, phần lớn là dựa trên các thương phẩm. Hầu hết là từ ngành khai thác mỏ, cần đến rất nhiều vốn đầu tư. Chúng không cần đến nhiều lao động. Vì thế thực sự có khó khăn hiểu theo nghĩa tạo công ăn việc làm trong khu vực chính thức, trả đồng lương tử tế để có thể giúp đưa người dân ra khỏi tình trạng nghèo khó. "

Kinh tế gia thuộc Tổ chức Lao động Quốc tế cho biết một lý do quan trọng gây ra mức thất nghiệp cao trong giới trẻ trên thế giới là kỹ năng không phù hợp với công việc cần thuê mướn công nhân.

Chuyên gia Kapsos cho hay giáo dục đào tạo là một giải pháp và đã có cải tiến trong lãnh vực giáo dục. Nhưng ông nói vẫn thường có những cách biệt rất lớn trong trình độ giáo dục và kỹ năng giữa nam và nữ giới tại các quốc gia đang phát triển.

Khi cuộc suy thoái toàn cầu cuối cùng kết thúc, tình hình sẽ có tốt đẹp hơn cho giới trẻ hay không? Ông Kapsos cho rằng không phải ngay tức thời, vì thị trường nhân dụng thường đi chậm hơn là sự hồi phục kinh tế nói chung.

Ông nói: "Khi chúng ta nói đến giới trẻ, thì họ còn trong tình huống tệ hơn là giới người trưởng thành trong vấn đề thị trường nhân dụng hồi phục chậm chạp. Họ thường là những người đầu tiên bị thải việc khi kinh tế đi xuống và là những người cuối cùng kiếm ra việc làm khi kinh tế bắt đầu hồi phục."

Những chi tiết do Tổ chức Lao động Quốc tế thu thập được công bố trong bản phúc trình mới có tên: Global Employment Trends for Youth: 2011 Update.
thanks 1 user thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
yến oanh on 2/4/2012(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#4 Posted : Tuesday, December 27, 2011 2:02:17 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
VOA - Thứ Hai, 26 tháng 12 2011

Giá lương thực lên cao, cách mạng và tương lai

Giá lương thực đã hạ so với mức kỷ lục vào tháng hai. Nhưng giá cả vẫn còn cao so với một năm trước đây.
Jerilyn Watson/Steve Baragona


UserPostedImage
Hình: AFP
Giá lương thực đã hạ so với mức kỷ lục vào tháng hai, nhưng vẫn còn cao so với một năm trước đây

Trong năm diễn ra các cuộc biểu tình Mùa Xuân Ả Rập, giá lương thực leo thang càng làm cho sự phẫn nộ đối với áp bức, tham nhũng và nạn nghèo đói bùng phát mạnh hơn.

Nhiều chuyên gia cho rằng tình trạng chính trị dầu sôi lửa bỏng lan rộng khắp Bắc Phi và Trung đông bắt đầu từ các ruộng lúa mì ở Nga năm ngoái.

Sự kết hợp giữa nhiệt độ nóng bức, hạn hán và cháy rừng suốt mùa hè năm 2010 hủy hoại 1/3 mùa thu hoạch lúa mì của Nga. Giá lương thực thế giới leo thang sau khi Nga đình chỉ xuất khẩu lúa mì.

Chuyên gia Shenggen Fan là giám đốc viện Nghiên Cứu Chính Sách Lương Thực Quốc Tế tại Washington. Ông liên kết giá lương thực lên cao với các cuộc nổi dậy tại Ai Cập và các quốc gia Ả Rập khác.

Ông nói: ”Chắc chắn nó là một trong những yếu tố đã thực sự phát động Mùa Xuân Ả Rập.”

Lần cuối giá lương thực leo thang là năm 2008; vào lúc đó Ai Cập là một trong những quốc gia nơi mà các vụ bạo loạn và biểu tình vì lương thực diễn ra.

Ông Ghiyath Nakshbendi là một giáo sư tại phân khoa Doanh nghiệp Quốc tế của Đại học American University tại Washington. Ông đồng ý là giá lương thực là một phần nguyên nhân của các cuộc cách mạng Ả Rập. Ông nói:

”Cuối cùng, lý do thiết yếu dẫn đến cuộc cách mạng Mùa Xuân Ả Rập căn bản là kinh tế. Và nhiên hậu, khi một công dân không đủ tiền mua lương thực và nuôi sống gia đình, chắc chắn chuyện này sẽ gây bất mãn với chế độ.”

Giáo sư Nakshbendi nói một biến cố như khí hậu biến đổi có thể ảnh hưởng đến việc sản xuất lương thực ở nhiều quốc gia. Nhưng trong một nền kinh tế toàn cầu ràng buộc chặt chẽ với nhau, dù biến cố chỉ xảy ra ở một quốc gia, cả thế giới có thể bị ảnh hưởng. Ông giải thích:

“Chuyện gì đó xảy ra cho Thái Lan có thể ảnh hưởng đến việc xuất cảng gạo đến những nước khác.”

Kinh tế gia thuộc đại học Cornell Chris Barrett cho hay một khó khăn khác là những thành tựu trong việc sản xuất nông nghiệp đã chậm lại. Ông nói:

”Điều chúng ta thấy hiện giờ là có rất ít đầu tư vào lãnh vực nghiên cứu nông nghiệp trong 20 năm qua.”

Chuyên gia Shenggen Fan cho biết giá lương thực cao trở lại trong năm 2011 đã dạy cho chúng ta những bài học quan trọng. Ông cho là nếu không gia tăng đầu tư vào sản xuất lương thực thế giới sẽ tiếp tục phải chịu giá lương thực cao. Ông nói:

”Lương thực sẽ tăng giá thường xuyên hơn, và điều thứ nhì, rõ ràng là giá lương thực vẫn ở mức rất cao.”

Ông cho biết lượng lương thực tiếp tế cho thị trường không tăng đủ mạnh để thỏa mãn nhu cầu của 7 tỉ người. Theo dự kiến, thế giới sẽ có thêm 2 tỉ miệng ăn nữa vào giữa thế kỷ này. Và rồi dân chúng ở những nền kinh tế đang lên như Trung Quốc lại ăn nhiều thịt hơn, và như vậy lại đòi hỏi đến nhiều thức ăn gia súc hơn. Nhưng trong năm 2011, lần đầu tiên, Hoa Kỳ sử dụng bắp (ngô) để sản xuất nhiên liệu sinh học nhiều hơn là để nuôi gia súc.

Tin mừng ở đây là khi giá nông phẩm tăng, nông gia luôn cảm thấy được khích lệ để trồng tỉa, sản xuất nhiều hơn. Mức thu hoạch kỷ lục trong năm 2011 đang giúp hạ giảm giá lượng thực ở nhiều nơi trên thế giới, nhưng không phải tất cả.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#5 Posted : Saturday, December 31, 2011 8:57:30 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
UserPostedImage


Tương lai đồng euro vẫn là câu hỏi của năm 2012


Thụy My - RFI - Thứ bảy 31 Tháng Mười Hai 2011
Đa số nhật báo Pháp trong ngày cuối năm dương lịch đều tổng kết lại thời sự năm cũ, và nhìn về tương lai sắp tới. Đồng euro vẫn là đề tài được nhiều tờ báo quan tâm nhất.

Nhật báo cánh tả Libération chạy tựa: « Mười năm nhìn lại, đồng euro đáng giá những gì ? ». Được lưu hành kể từ ngày 01/01/2002, đồng tiền chung châu Âu nay đang phải giơ đầu chịu báng trước cuộc khủng hoảng tài chính, khi khu vực đồng euro đang gặp sóng gió. Tờ báo phỏng vấn những người đã từng tham gia các cuộc thương thảo để khai sinh ra đồng euro.

Le Monde nhận định: « Mười năm sau khi được khai sinh, đồng euro đang cố sống sót ». Đồng tiền chung của châu Âu nay bị xem như đồng nghĩa với nạn vật giá gia tăng. Cuộc khủng hoảng nợ đã thúc đẩy các nước khu vực đồng euro phải xây dựng một chính phủ kinh tế, trong lúc đồng euro đang ở mức thấp nhất, và tăng trưởng thì ì ạch.

Trên lãnh vực chính trị, nhật báo cánh hữu Le Figaro chú ý đến « Lời chúc năm mới của Tổng thống Sarkozy : Hành động đầu tiên trong năm 2012 ». Tờ báo nhận xét, bài nói chuyện tối nay sẽ là khởi điểm cho một loại dài tiếp theo, trước khi diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống. Ông Sarkozy chỉ còn có 113 ngày, để tìm cách thuyết phục người dân Pháp trong khi tình hình nước Pháp đang u ám với nạn thất nghiệp gia tăng, và có nguy cơ bị mất chỉ số tín nhiệm AAA quý giá.

Riêng nhật báo công giáo La Croix quay về với sự bình an trong tâm hồn, với tựa đề : « Im lặng ở ngưỡng cửa năm 2012 ». Sau những sự kiện thời sự sôi động của năm 2011, tờ báo dành 8 trang cho một chút tĩnh lặng nội tâm. Từ bài viết về bộ phim câm « Người nghệ sĩ » gây tiếng vang rất lớn trong năm qua, đến phóng sự về các tu viện, nơi đón những người khách tìm đến không chỉ để ngoạn cảnh mà còn để tĩnh tâm. Những bài khác viết về những người tập Thái Cực Quyền trên bãi biển, hoặc chơi môn chèo thuyền kayak, để có được những phút giây thư thái. Và trong các đô thị ồn ào ngày nay, muốn có sự yên tĩnh thì phải trả giá. Các thiết bị gia đình ít gây tiếng ồn thì đắt hơn, nhà cửa ở những khu vực yên tĩnh cũng đắt, và như thế, im lặng quả là vàng.
Đa số nhật báo Pháp trong ngày cuối năm dương lịch đều tổng kết lại thời sự năm cũ, và nhìn về tương lai sắp tới. Đồng euro vẫn là đề tài được nhiều tờ báo quan tâm nhất.

Nhật báo cánh tả Libération chạy tựa: « Mười năm nhìn lại, đồng euro đáng giá những gì ? ». Được lưu hành kể từ ngày 01/01/2002, đồng tiền chung châu Âu nay đang phải giơ đầu chịu báng trước cuộc khủng hoảng tài chính, khi khu vực đồng euro đang gặp sóng gió. Tờ báo phỏng vấn những người đã từng tham gia các cuộc thương thảo để khai sinh ra đồng euro.

Le Monde nhận định: « Mười năm sau khi được khai sinh, đồng euro đang cố sống sót ». Đồng tiền chung của châu Âu nay bị xem như đồng nghĩa với nạn vật giá gia tăng. Cuộc khủng hoảng nợ đã thúc đẩy các nước khu vực đồng euro phải xây dựng một chính phủ kinh tế, trong lúc đồng euro đang ở mức thấp nhất, và tăng trưởng thì ì ạch.

Trên lãnh vực chính trị, nhật báo cánh hữu Le Figaro chú ý đến « Lời chúc năm mới của Tổng thống Sarkozy : Hành động đầu tiên trong năm 2012 ». Tờ báo nhận xét, bài nói chuyện tối nay sẽ là khởi điểm cho một loại dài tiếp theo, trước khi diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống. Ông Sarkozy chỉ còn có 113 ngày, để tìm cách thuyết phục người dân Pháp trong khi tình hình nước Pháp đang u ám với nạn thất nghiệp gia tăng, và có nguy cơ bị mất chỉ số tín nhiệm AAA quý giá.

Riêng nhật báo công giáo La Croix quay về với sự bình an trong tâm hồn, với tựa đề : « Im lặng ở ngưỡng cửa năm 2012 ». Sau những sự kiện thời sự sôi động của năm 2011, tờ báo dành 8 trang cho một chút tĩnh lặng nội tâm. Từ bài viết về bộ phim câm « Người nghệ sĩ » gây tiếng vang rất lớn trong năm qua, đến phóng sự về các tu viện, nơi đón những người khách tìm đến không chỉ để ngoạn cảnh mà còn để tĩnh tâm. Những bài khác viết về những người tập Thái Cực Quyền trên bãi biển, hoặc chơi môn chèo thuyền kayak, để có được những phút giây thư thái. Và trong các đô thị ồn ào ngày nay, muốn có sự yên tĩnh thì phải trả giá. Các thiết bị gia đình ít gây tiếng ồn thì đắt hơn, nhà cửa ở những khu vực yên tĩnh cũng đắt, và như thế, im lặng quả là vàng.

Edited by user Saturday, December 31, 2011 9:04:36 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Thy Mai Thảo  
#6 Posted : Sunday, January 1, 2012 5:45:33 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
VOA - Thứ Bảy, 31 tháng 12 2011

Lãnh đạo châu Âu đưa ra thông điệp năm mới không mấy vui

UserPostedImage
Hình: REUTERS
Các nhà lãnh đạo của châu Âu lần lượt đưa ra các viễn ảnh không mấy sáng sủa nhân dịp đầu năm.

Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy cảnh báo tương lai đất nước vẫn còn chênh vênh. Ông thừa nhận nhiều người dân đón năm mới bằng sự lo âu cho tương lai của con cái, và vượt thoát cuộc khủng hoảng hiện nay vẫn là một thách thức cho khắp châu Âu.

Thủ tướng Đức Angela Merkel nói sự kiện quan trọng của châu Âu năm qua là khủng hoảng tài chính, nhưng bà nhắc nhở nhân dân rằng hòa bình tại châu Âu là một món quà lịch sử, và có thể học được nhiều bài học từ các lỗi lầm đã qua.

Thủ tướng Hy Lạp Lucas Papademos cũng lưu ý năm tới sẽ có khó khăn và kêu gọi nhân dân chấp nhận chính sách thắt lưng buộc bụng.

Thủ đô Athens của Hy Lạp đã cắt giảm nhiều chi tiêu cho các lễ hội đầu năm, dành tiền để giúp những người có nhu cầu.

Tổng thống Nga Dmitry Medvedev tương đối lạc quan trong bài nói chuyện trên đài truyền hình đầu năm. Ông nói năm 2011 “không dễ chịu” nhưng đã chấm dứt tốt cho nước Nga, nhờ nỗ lực của toàn dân.

Đức Giáo Hoàng Bênêđictô đánh dấu ngày cuối năm bằng lời cầu nguyện cảm tạ Thiên Chúa. Ngài nói nhân loại đón năm mới trong lo âu nhưng cũng có hy vọng vào một tương lai khá hơn.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#7 Posted : Sunday, January 1, 2012 6:36:26 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
RFI - Chủ nhật 01 Tháng Giêng 2012

Euro tròn 10 tuổi trong bối cảnh châu Âu khủng hoảng

UserPostedImage
Sự tồn tại của đồng euro bị đe dọa (Ảnh ghép minh họa)

Đức Tâm
Vào ngày này cách nay đúng 10 năm, đồng euro xuất hiện trong túi tiền của người dân trong hơn một chục nước châu Âu, thay thế cho đồng tiền quốc gia. 10 năm sau, khu vực đồng euro đang trải qua một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất trong lịch sử đồng tiền chung duy nhất này.


Thậm chí, sự tồn tại của euro còn bị đe dọa dưới sức ép của thị trường tài chính và các công ty thẩm định tài chính quốc gia.

Được sử dụng trên thị trường tài chính từ năm 1999, kể từ ngày 01/01/2002, đồng euro dưới dạng tiền giấy và tiền xu đã được lưu hành ở 12 quốc gia trong khu vực đồng tiền chung thời đó.

Khu vực đồng euro hiện nay có 17 thành viên với 332 triệu người tiêu dùng. Nhưng năm nay, 2012, châu Âu kỷ niệm đồng tiền chung duy nhất 10 tuổi trong bầu không khí ảm đạm, với tâm trạng cay đắng và lo lắng: Từ năm 2010, cuộc khủng hoảng nợ công đã làm gia tăng nguy cơ tan vỡ khu vực đồng euro do sự tấn công của thị trường tài chính quốc tế.

Cho đến 2008, euro vẫn được coi là một thành công mỹ mãn của châu Âu. Ông Philippe Crevel, thuộc Trung tâm Nghiên cứu và Thông tin về tiết kiệm và hưu bổng, một tổ chức tư vấn của Pháp, cho rằng giờ đây, người ta đã quên tất cả những ích lợi mà đồng tiền chung duy nhất này mang lại, nhất là trong lĩnh vực du lịch, trao đổi thương mại. Theo chuyên gia này, “với cuộc khủng hoảng, người ta chỉ nhớ đến những khía cạnh tiêu cực, nhưng cho đến 2008, đồng euro đã trải qua những năm tháng tốt đẹp”.

Quả thực là sự xuất hiện của euro đã tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong giao dịch thương mại và tài chính, giảm đáng kể các chi phí chuyển đổi tiền tệ. Còn người tiêu dùng thì có được sự ổn định về giá cả, cho dù về mặt tâm lý, không ít người vẫn có cảm giác là đồng tiền chung châu Âu đã góp phần làm chi phí sinh hoạt thêm đắt đỏ.

Cần phải nhắc lại rằng trong nhiều năm trời, các kinh tế gia đều hoan nghênh châu Âu duy trì được lãi suất thấp, nhờ có euro và lòng tin đối với nền kinh tế Đức, đầu tàu của Liên Hiệp Châu Âu và cũng là nước biết khai thác tốt nhất ích lợi của đồng tiền chung.

Tuy nhiên, cũng chính lợi thế này lại khuyến khích nhiều Nhà nước và người dân trong khu vực đồng euro đi vay, chi tiêu vượt quá khả năng của mình và gây ra cuộc khủng hoảng hiện nay ở châu Âu.

Từ 2009, các công ty thẩm định tài chính quốc tế đã lưu ý về tình hình nợ công tại châu Âu, nhưng các lời nhắc nhở này đã bị bỏ ngoài tai. Đến năm đến 2010, những dấu hiệu báo động đầu tiên xuất hiện. Sau Hy Lạp, đến lượt Aixlen và Bồ Đào Nha buộc phải cầu cứu sự giúp đỡ của quốc tế để thanh toán các khoản nợ đáo hạn. Sang đến năm 2011, khủng hoảng nợ công lây lan ra toàn khối euro: Tình hình trở nên nghiêm trọng tại Ý và Tây Ban Nha, trong khi đó, Pháp bị đe dọa mất điểm tín nhiệm AAA. Châu Âu tổ chức hàng loạt Hội nghị Thượng đỉnh để đối phó với khủng hoảng, các kế hoạch thắt lưng buộc bụng liên tiếp được đưa ra, “bão tài chính” thổi bay lãnh đạo chính phủ nhiều nước, như George Panpandréou ở Hy Lạp, Silvio Berlunisco tại Ý, Brian Cowen ở Aixlen, José Luis Zapatero tại Tây Ban Nha, José Socrates ở Bồ Đào Nha.

Thị trường tài chính quốc tế và công luận thiếu tin tưởng vào euro. Tại Pháp cũng như ở nhiều quốc gia châu Âu, sự ủng hộ đối với đồng tiền duy nhất bị tụt giảm. Theo một cuộc thăm dò dư luận do viện Ipsos thực hiện vào tháng 11 năm 2011, thì có tới 45% dân Pháp cho rằng euro gây bất lợi cho việc đối phó với khủng hoảng.

Chưa bao giờ số phận đồng euro lại mong manh như hiện nay. Đề cập đến nguy cơ tan vỡ khu vực đồng tiền chung không còn là điều cầm kỵ trong các cuộc thảo luận. Ông Sylvain Broyer, kinh tế gia ở Ngân hàng Natixis đề cập đến hai kịch bản có thể xẩy ra: Hoặc khu vực euro tan rã và các nước châu Âu quay lại dùng đồng tiền quốc gia, hoặc sẽ hình thành hai nhóm nước trong khối này. Cả hai trường hợp đều gây ra thảm họa cho châu Âu : Suy thoái kinh tế, lãi suất tăng cao, khu vực ngân hàng bị khủng hoảng nặng nề.

Để cứu nguy đồng euro, các lãnh đạo châu Âu đã đạt được đồng thuận là phải tăng cường kỷ luật ngân sách, nhằm trấn an thị trường và các công ty thẩm định tài chính. Tại Hội nghị Thượng đỉnh ngày 09/12/2011 ở Bruxelles, các lãnh đạo của 26 thành viên Liên Hiệp Châu Âu – ngoại trừ Anh Quốc không tham gia – đã đồng ý cần phải xem xét và sửa đổi Hiệp định châu Âu, nhưng công việc này chỉ bắt đầu vào tháng Ba năm nay, 2012. Trong những tháng tới, nhiều nước trong khu vực đồng euro sẽ phải huy động tài chính ồ ạt trên thị trường để thanh toán các khoản nợ. Các Nhà nước, doanh nghiệp và ngân hàng sẽ vay được bao nhiêu và ở mức lãi suất nào ? Đây là một trắc nghiệm đầy rủi ro đối với chính đồng euro.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#8 Posted : Tuesday, January 3, 2012 9:15:06 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
RFI - THỨ BA 03 THÁNG GIÊNG 2012

Lạm phát không phải lỗi của đồng euro

UserPostedImage
Đồng euro trong gọng kềm.
REUTERS/Yiorgos Karahalis/Files

Thanh Hà
Cách nay 10 năm đồng euro được coi là lá chắn chống lạm phát, là một loại « vũ khí » để làm đối trọng với đồng đô la Mỹ đang thống trị toàn thế giới ; là chiếc đũa thần đem lại thịnh vượng kinh tế, đem lại tăng trưởng và việc làm.

10 năm sau, các thành viên khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu lần lượt mất điểm tín nhiệm 3 chữ A hoa và đang lún sâu vào một cuộc khủng hoảng nợ công. Ngay cả Pháp và Đức, hai đầu tàu kinh tế của khối euro cũng bị đe dọa. Trong mắt nhiều người Pháp euro bị coi là nguyên nhân dẫn tới lạm phát, thu hẹp sức mua của các hộ gia đình.

Ngày 01/01/2002 người Pháp đã hào hứng đón nhận một đơn vị tiền tệ mới. Trong đêm giao thừa đã có biết bao nhiêu người chịu khó xếp hàng trước máy rút tiền tự động với hy vọng được may mắn rút được những tờ giấy bạc mới toanh.

Hình ảnh tư liệu của trung tâm INA cách nay 10 năm ghi lại cảm nhận của một số bạn trẻ hào hứng khi cầm được tờ giấy bạc euro trong tay.

Vật giá leo thang

10 năm sau đồng tiền chung châu Âu kỷ niệm sinh nhật thứ 10 trong bầu không khí ảm đạm hơn nhiều. Một phần ba dân Pháp lo ngại đồng euro sẽ không còn tồn tại trong 10 năm tới. Tạp chí hướng dẫn người tiêu dùng Que Choisir, trong số đầu tiên năm 2012 nêu ra một vài con số đáng lo ngại : giá một ổ bánh mì trong 10 năm qua nhảy vọt từ 4,39 đồng franc, tương đương với 67 xu euro lên thành 85 xu euro, tăng 27 % ; giá một tách cà phê trong một thập niên tăng 45 %. Đáng báo động hơn nữa là trong 10 năm qua, giá một ký táo 65 %, hay giá thịt gà hiện tại đắt gấp rưỡi so với 10 năm về trước.

Đấy là những thực tế không thể chối cãi. Trong thời buổi khó khăn, khủng hoảng đã kéo dài từ mùa thu 2008, thất nghiệp không ngừng gia tăng, các bà nội trợ cảm thấy đời sống thêm chật vật kể từ khi đồng euro ra đời.

Nếu chỉ nhìn vào giá ghi trên các tấm biển ngoài chợ thì tại Pháp giá lương thực, thực phẩm đã tăng 30 % trong 10 năm qua. Thêm một dấu hiệu khác : cách nay 10 năm một người hành khất trên các toa tàu métro Paris thường xin một hay hai franc, giờ đây họ xin từ 1 đến 2 euro để sống qua ngày.

Euro mang tiếng oan

Nhưng quy tất cả trách nhiệm cho đồng euro thì thực là oan cho đồng tiền chung châu Âu. Kinh tế gia Philippe Moati, giám đốc cơ quan nghiên cứu vật giá CREDOC tại Pháp, nêu lên những nguyên nhân khiến người tiêu dùng đổ lỗi cho đồng euro như sau : thứ nhất, trong thập niên qua, giá nguyên và nhiên liệu đã tăng nhiều chủ yếu do nhu cầu tiên thụ ngày càng lớn của các nước đang trỗi dậy mà đứng đầu là Trung Quốc, Ấn Độ hay Brazil. Do vậy đổ lỗi cho đồng euro là một điều vô lý.

Bên cạnh đó nếu chúng ta nhìn vào sức mua thực thụ của người dân Pháp thì thống kê cho thấy là chỉ số giá cả thực sự trong 10 năm qua chỉ tăng 1,6 %. Cùng lúc, mãi lực của các hộ gia đình Pháp đã tăng 2 % trong giai đoạn 2001-2011. Nói cách khác, các hộ gia đình Pháp không nghèo đi vì đồng euro.

Một yếu tố thứ ba có thể bênh vực cho đồng euro là nếu chúng ta nhìn vào thời gian làm việc cần thiết để có thể mua được cùng một món hàng, thì xin nêu ra vài thí dụ : để mua được một ổ bánh mì, cho dù là giá một ổ bánh đã tăng 27 % trong một thập niên, nhưng, với mức lương tối thiểu, giờ đây một người lao động ở Pháp có thể làm việc ít hơn 20 giây so với 10 năm về trước. Ngược lại để có được cùng một con gà như trước khi dùng đồng euro, thì ta phải làm việc nhiều hơn.

Còn đối với các mặt hàng công nghiệp, vẫn theo nghiên cứu của tạp chí Que Choisir, nhờ có hàng nhập từ Trung Quốc và nhất là các làn sóng di dời cơ sở sản xuất mà người tiêu dùng ở Pháp có thể sắm tivi xe hơi, tủ lạnh với giá rẻ hơn.

Theo các chuyên gia, tại Pháp trong 10 năm qua, trung bình lạm phát hàng năm tăng 2 % thay vì ở mức gần 10 % trong thập niên 1980-1990.

Euro vẫn bị nhiều nghi kỵ

Hiện tại 322 triệu dân trên 17 quốc gia sử dụng chung một đồng tiền. Theo thẩm định của ngân hàng trung ương châu Âu, tính đến giữa năm ngoái, 870 tỷ euro lưu hành ; 27 % dự trữ ngoại tệ của thế giới được tính bằng đồng tiền chung châu Âu.

Trong 10 năm qua, đồng euro đã trở thành đơn vị tiền tệ thực thụ trong túi tiền của hàng trăm triệu con người, nhưng vẫn chưa thực sự thu hút cảm tình của người dân : Theo kết quả một cuộc thăm dò dự luận được công bố vào đầu tháng 12/2011, tại Pháp 36 % người được hỏi bày tỏ nguyện vọng được sử dụng lại đồng franc và 45 % cho rằng euro là một « trở lực ».

Ở bên kia bờ sông Rhin, tỷ lệ người thờ ơ với đồng tiền chung châu Âu còn cao hơn : 70 % người được tham khảo ý kiến muốn quay lại với đồng mark. Đáng lo ngại hơn nữa là đã có khá nhiều doanh nghiệp (trong số đó có hãng giày Addidas) cũng như ngân hàng đã tính tới một kế hoạch B, trong trường hợp khối euro tan rã.

10 năm là thời gian quá ngắn để đồng euro thực sự chinh phục được mọi nhà cho dù đơn vị tiền tệ này đã được « quảng cáo » rất kỹ trước khi thực sự đi vào hoạt động bên cạnh những đơn vị tiền tệ quốc tế khác như đồng đô la Mỹ hay yen Nhật Bản.

Trước hết đồng euro đã tạo tư thế vững vàng cho ngành xuất khẩu của châu Âu. Theo viện nghiên cứu CEPII của Pháp, đồng tiền chung châu Âu giúp trao đổi mậu dịch giữa 17 nước thành viên khối euro tăng 6 % trong 10 năm qua, đối với Pháp đây là một tiến bộ đáng kể vì gần phân nửa kim ngạch xuất khẩu của Pháp là để bán ra cho các các nước trong khối euro.Tuy nhiên đối với phần còn lại của thế giới, thị phần của Pháp bị thu hẹp lại do giá đồng euro cao so với đô la và Pháp mất khả năng cạnh tranh đối với các mặt hàng trung cấp.

Giảm chi phí hối đoái và ngân hàng nhờ đồng euro

Một ưu thế thứ nhì là với một đồng tiền chung, 322 triệu người sử dụng đồng euro không lo đơn vị tiền tệ của họ bị phá giá. Nhờ thế mà các khoản tiết kiệm không tan dần như tuyết dưới ánh nắng mặt trời.

Cũng chính vì không bị phá giá, mà thoạt đầu là 12 nước rồi đến 17 nước thành viên khối euro đã không lao vào các cuộc chiến tương tàn trên mặt trận thương mại : không một thành viên nào có thể điều chỉnh tỷ giá đồng tiền nhằm kích thích xuất khẩu. Vì khi một quốc gia thao túng đồng tiền, thì lập tức các nước khác cũng sẽ lại phá giá đơn vị tiền tệ … và cuộc chiến thương mại leo thang.

Một lợi thế thứ ba mà đồng euro trong 10 năm qua đã đem lại cho người tiêu dùng, cho các nhà đầu tư tư nhân, cho các doanh nghiệp và kể cả các nhà nước đó là tất cả đã tiết kiệm được các khoản chi phí ngân hàng khi giao dịch bằng một đồng tiền duy nhất. Nhờ thế mà lãi suất tín dụng đã được giảm bớt so với thời gian trước khi đồng euro được lưu hành. Tuy nhiên mặt trái của chiếc mề đay là do tình trạng « tiền rẻ » mọi thành phần như đã được khuyến khích tiêu xài quá trớn. Với hậu quả là nợ nần chồng chất và các dự án đầu tư quá tài đã dẫn tới hiện tượng như là vỡ bong bóng địa ốc tại Ai Len hay Tây Ban Nha.

Chính thức lưu hành trên các sàn chứng khoán từ năm 1999, đồng euro chỉ thực sự được sử dụng tại 12 nước thành viên khối euro vào ngày 01/01/2002 để thay thế đồng franc của Pháp, đồng Deutsch mark của Đức hay đồng Lire của Ý. Khi đó, chính giới cũng như các chuyên gia đồng thanh xung tụng những lợi ích của việc sử dụng một đồng tiền chung : như là ổn định về giá cả đối với người tiêu dùng, an toàn đối với các doanh nghiệp, đối với thị trường tài chính và nhất là đồng euro sẽ là « dấu ấn », một niềm tự hào của cả một khu vực châu Âu. Những hứa hẹn với một đồng tiền mới đã tan biến.

Khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Hy Lạp vào năm 2010 và ‘đám cháy’ đã lan rộng sang một số quốc gia khác trong suốt năm 2011 đã khiến khiến những nghi kỵ đối với một đồng tiền còn quá mới lạ như euro lại dấy lên. Trong một thập niên qua, chưa bao giờ dư luận tại các nước bao quanh khu vực Địa Trung Hải lại tỏ ra hoài nghi đối với đồng euro như hiện nay.

Rạn nứt giữa các thành viên

Khủng hoảng euro làm dấy lên nghi kỵ giữa các thành viên khối euro : Đức chỉ trích Hy Lạp và Ý lỏng lẻo trong chính sách chi tiêu, dẫn đến cảnh nợ nần chồng chất và nhất là ỷ lại vào các nền kinh tế vững mạnh hơn trong khối vì cả Athens lẫn Roma cùng ý thức được rằng họ không thể bị bỏ rơi.

Ngược lại, nhìn từ Hy Lạp hay Bồ Đào Nha và kể cả từ Pháp, thì chính quyền Berlin của thủ tướng Merkel quá « ích kỷ » : Đức luôn coi trọng mục tiêu kềm hãm lạm phát là ưu tiên hàng đầu và từ đó áp đặt chính sách tiền tệ, mô hình tài chính của chính mình với các thành viên khác bất luận đó là những nền kinh tế yếu kém hơn, và không có khả năng cạnh tranh cao như nước Đức. Trong khi ngành sản xuất và xuất khẩu của Đức đã hưởng lợi nhiều kể từ khi khu vực đồng euro ra đời .

Là một quốc gia xuất khẩu, nước Đức trong thập niên qua đã hưởng lợi nhờ đồng euro : thủ tướng Merkel nhìn nhận là không chỉ các hãng lớn mà ngay cả các doanh nghiệp cỡ vừa và nhỏ cũng đã có nhiều thuận lợi trong những năm qua nhờ vào một đồng tiền ổn định. Đặc biệt là khi các doanh nghiệp không phải đau đầu vì tỷ giá hối đoái.

Một công trình nghiên cứu của ngân hàng Đức Metzler cho thấy nhờ sử dụng một đơn vị tiền tệ chung, ngành công nghiệp xe hơi của Đức trong thập niên qua đã tiết kiệm được từ 300 đến 500 triệu euro. Theo thẩm định của cơ quan tư vấn McKinsay trong 10 năm qua, 2/3 tăng trưởng của Đức có được là nhờ đồng euro. Cứ trên 100 euro hàng của Đức xuất khẩu, thì 40 euro là để bán cho các nước trong khối euro và 20 đồng xuất ra 10 nước còn lại của Liên Hiệp Châu Âu.

Riêng các nước vùng Địa Trung Hải thường phải đối mặt với lạm phát, nhờ có đồng euro và chính sách tiền tệ của BCE , những nước như Ý, hay Hy Lạp đi vay với lãi suất thấp và do đó đã dư giả để nhập hàng của Đức.

Nhưng ngay cả đối với Đức, euro không phải là chiếc đũa thần : bản thân nước Đức đã có nhiều bước cải tổ sâu rộng để duy trì khả năng cạnh tranh cao. Chính phủ của thủ tướng Schroider ngay từ năm 2003 đã kiên quyết cải tổ luật lao động, kéo dài thời gian làm việc của giới làm công ăn lương.

Nhưng có lẽ cốt lõi của vấn đề không xuất phát từ một đơn vị tiền tệ mà khủng hảng hiện nay là hậu quả của những tính toán sai lầm từ đầu : ngay từ đầu thập niên 90, khi hệ thống tiền tệ chung châu Âu còn phôi thai, các nhà lãnh đạo châu Âu khi đó đã lầm tưởng rằng các nước sử dụng đồng euro không cần phải phối hợp chính sách kinh tế, không cần phải đặt ra vấn đề đồng nhất các khoản ngân sách chi tiêu công cộng.

Để đến khi khủng hoảng tài chính Hy Lạp lan tới tận nước Ý- nền kinh tế có trọng lượng lớn thứ ba của khu vực euro- thì chính giới mới hốt hoảng tìm ngõ thoát hiểm.

TỪ KHÓA : CHÂU ÂU - TÀI CHÍNH - TẠP CHÍ - TIỀN TỆ
Hoàng Thy Mai Thảo  
#9 Posted : Tuesday, January 10, 2012 2:15:45 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
RFI - THỨ BA 10 THÁNG GIÊNG 2012

2012, kinh tế châu Á ảm đạm

UserPostedImage
Viễn ảnh kinh tế châu Á trong năm 2012 không mấy sáng sủa hơn so với năm trước.
Reuters

Nguyễn Xuân Nghĩa / Thanh Hà
Khó khăn kinh tế toàn cầu đe dọa đến các nước châu Á. Kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại, xuất khẩu của nhiều nước Á châu giảm sút vì khủng hoảng châu Âu và khó khăn kinh tế Mỹ. Đó là những thách thức chờ đợi kinh tế Châu Á trong năm 2012.

Trong thông báo đề ngày 02/01/2012 cơ quan thẩm định tài chính Mỹ, Moody’s không mấy lạc quan về viễn ảnh tăng trưởng của châu Á. Trung Quốc, Ấn Độ hay Indonesia vốn được coi là những nền kinh tế năng động nhất sẽ không phải là những ngoại lệ : tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc dự trù chỉ còn 8 %. Một số nhà phân tích còn đi xa hơn khi cho rằng « giai đoạn tăng trưởng thần kỳ của Trung Quốc đã thuộc về quá khứ »

Ông khổng lồ kinh tế thứ ba của châu Á là Ấn Độ, theo nhận xét của Moody’s cũng đang bước vào một vùng « gió xoáy ». Riêng Nhật Bản, sau một năm điêu đứng vì thảm họa sóng thần và tai nạn hạt nhân Fukushima, trong năm 2012 thực sự bắt tay vào công trình tái thiết cho nên tổng sản phẩm nội địa của Nhật dự trù tăng 2,1 %.

Trước Mood’y, một cơ quan thẩm định tài chính uy tín khác là Standard & Poor's cũng đã nêu lên quan điểm tương tự trong báo cáo mang tên Asia Pacific Markets Outlook 2011 : « Tỷ lệ tăng trưởng tại khu vực châu Á Thái Bình Dương trong năm 2012 sẽ chậm lại do xuất khẩu đi xuống, do bất ổn trên các thị trường tài chính và do đe dọa suy thoái tại châu Âu và Hoa Kỳ » Standard & Poor's đặc biệt quan ngại đối với các nước lấy xuất khẩu làm chủ đạo như Indonesia, Malaysia, Thái Lan Philippines và Việt Nam. Tuy nhiên báo cáo của Standard & Poor's tin tưởng vào đầu tư và tiêu thụ nội địa của Philippines cũng như Malaysia phần nào giúp hai quốc gia Đông Nam Á này chống cự với đà suy thoái chung của toàn cỗ xe kinh tế thế giới.

Tuy nhiên toàn cảnh kinh tế châu Á không đến nỗi quá đen tối nhờ lạm phát được khắc phục tại các nước Indonesia, Malaysia và kể cả Philippines. Lạm phát tại Philippines ở vào khoảng từ 4,2 đến 4,7 % trong năm. Thấp hơn so với khoảng 5,2 % tại Indonesia và thấp hơn hẳn so với chỉ giá tiêu thụ dao động từ 9,9 đến 10,4 % của Việt Nam. Riêng Malaysia và Thái Lan thành công trong việc duy trì chỉ giá tiêu thụ ở mức trên dưới 3 %.

Liên quan đến chỉ số nợ nước ngoài, Standard & Poor's đánh giá tích cực 16 trên 22 quốc gia châu Á Thái Bình Dương. Riêng Việt Nam và Nhật Bản thì bị điểm xấu.

Nhìn từ Hoa Kỳ, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa cũng cho rằng các nước châu Á đang bước vào một năm mới với nhiều lo âu. Châu lục này từng đem lại nhiều hy vọng kể từ khi kinh tế Mỹ và châu Âu bị đình trệ từ sau khủng hoảng tài chính 2008, còn Nhật Bản thì lúng túng với hậu quả thiên tai tsunami tháng 3/2011. Theo ông Nguyễn Xuân Nghĩa, giờ đây Châu Á đang chuẩn bị đối phó với nhiều bất trắc :

Nguyễn Xuân Nghĩa : Nhìn từ năm qua thì Châu Á chưa thể tách rời khỏi khối công nghiệp hóa là ba đầu máy Âu-Mỹ-Nhật và tôi e rằng trong năm 2012, các nước châu Á đều phải hạ thấp kỳ vọng và tự chuẩn bị cho một đà tăng trưởng còn chậm hơn. Từ mùa thu 2011 rủi ro ấy đã thể hiện ngày càng rõ ràng hơn. Ở đây, ta nói về Á châu ngoài Nhật và có cả Trung Quốc lẫn Ấn Độ cùng các nước tân hưng Đông Bắc Á và các nước đang phát triển tại Đông Nam Á.

Trước hết, các nền kinh tế Á châu đều thấy chung một hiện tượng nội tại của họ. Đó là số cầu của thị trường nội địa không tăng mà còn giảm từ giữa năm ngoái trở đi nên không tạo ra lực đẩy khả dĩ bù đắp cho sự suy sụp của các thị trường công nghiệp hóa. Ngoại lệ là kinh tế Indonesia nhưng dù sao vẫn chưa đáng kể. Mà chiều hướng suy giảm đó còn tiếp tục trong quý bốn và có thể kéo dài qua năm nay.

Thứ hai, song song với sự giảm sút của thị trường nội địa, sức bật cố hữu của Á châu là xuất khẩu cũng đình trệ từ đầu quý hai và còn sa sút dần trong những tháng cuối năm. Nều nhìn vào một chỉ số tiên báo về sinh hoạt sản xuất trong những tháng tới là đơn đặt hàng chế biến, mà cả Anh và Pháp ngữ đều gọi là Purchasing Managers Index hay PMI, thì cả nhóm Đông Á đều thiếu khởi sắc, kể cả Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore hay Hồng Kông.

RFI : Trong lúc tình hình tại châu Âu và Hoa Kỳ vẫn còn đen tối

Nguyễn Xuân Nghĩa : Chẳng những không sáng sủa mà còn có phần đen tối hơn cái năm 2011 u ám vừa kết thúc. Năm nay, các nước Á châu sẽ thấy là quả đất hình tròn và các quốc gia đều liên lập với nhau về kinh tế chứ châu Á chưa thể tìm ra một định mệnh kinh tế riêng.

Trước hết, tình hình Nhật chưa khả quan. Kinh tế Âu châu thì may lắm sẽ suy trầm, gọi là récession, mà có khi còn bị nặng hơn nữa, đó là nạn suy thoái, tức là dépression. Kinh tế Hoa Kỳ thì chưa thể hồi phục mà còn có thể bị rơi vào suy trầm nữa nếu Âu châu bị suy thoái. Tôi xin lỗi cứ phải phân biệt hai trạng thái, đó là suy trầm, nghĩa là chìm xuống, là còn nhẹ hơn suy thoái là khi kinh tế không tiến dù có chậm hơn mà còn lùi. Nếu lùi hơn nữa thì gặp khủng hoảng, là cấp nguy ngập thứ ba!

Một cách vắn tắt cho dễ nhớ thì nhiều trung tâm nghiên cứu trên thế giới, kể cả Quỹ Tiền tệ Quốc tế vào tuần qua, đã dự báo là đà tăng trưởng của kinh tế toàn cầu trong năm tới có thể chỉ là bình quân 3,5%. Nếu sụt đến 2,5% thì chúng ta lại có hiện tượng gọi là "suy trầm toàn cầu", theo định nghĩa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Trong tốc độ trung bình đó, Á châu có thể hy vọng duy trì được một đà tăng trưởng từ 6,5 đến 6,9% là nhiều. Nói ra thì có vẻ cao nhưng vẫn thua tiềm năng bình thường của châu Á, mà nếu không khéo thì có thể sụt tới mức thấp hơn năm 2009 là chỉ có chưa đầy 6%

RFI : Người ta giải thích thế nào về hiệu ứng bất lợi xuất phát từ kinh tế Âu Châu và Hoa Kỳ?

Nguyễn Xuân Nghĩa : Giữa năm ngoái, khối kinh tế Âu Mỹ đã từ hoàn cảnh đình đọng, yết ớt và bấp bênh trôi vào trạng thái bất trắc là đánh sụt niềm tin của thị trường về khả năng quản lý và ứng phó với khủng hoảng ở cả hai bờ Đại Tây Dương. Hậu quả là năm nay, khối kinh tế gọi là tiên tiến này phải cùng lúc đánh vật với những đòi hỏi mâu thuẫn. Tại Âu Châu, đó là nguy cơ vỡ nợ vì gánh công trái của nhiều nước, là yêu cầu trả nợ gây ách tắc tín dụng cho các ngân hàng, là sự mong manh của đồng Euro và khả năng dàn xếp rất khó của lãnh đạo chính trị. Tại Hoa Kỳ thì đó là cuộc tranh luận còn kéo dài giữa việc tiết giảm bội chi ngân sách hay tăng chi để kích thích kinh tế, và tăng thuế hay giảm thuế để kích cầu. Mà năm nay nước Mỹ lại có tranh cử lớn!

Trong bối cảnh quốc tế đó, các nền kinh tế Á Châu nào mà quá lệ thuộc vào thị trường bên ngoài đều điêu đứng. Đó là hoàn cảnh của Nam Hàn, Hong Kong, Đài Loan, Singapore, Thái Lan và cả Việt Nam. Các nền kinh tế của Ấn Độ, Indonesia hay Trung Quốc có thể ít bị hiệu ứng quốc tế hơn. Nhưng riêng Trung Quốc thì lại có mầm khủng hoảng nội tại của họ vì động loạn xã hội và khó duy trì được mức tăng trưởng cao hơn cái ngưỡng sinh tử là 8%. Mà y như Hoa Kỳ, năm nay Trung Quốc cũng chuẩn bị thay đổi lãnh đạo vào cuối năm nên cũng có gặp ách tắc và bị tê liệt về chính sách ứng phó.

RFI : Như anh vừa trình bày thì biến cố kinh tế nơi này có thể ảnh hưởng đến nơi khác. Nhưng anh có thể nào trình bày cho rõ hơn là chịu ảnh hưởng qua những ngả nào ?

Nguyễn Xuân Nghĩa : Ta nên nghĩ đến hai cơ phận chuyển lực như hai sợi dây "courroie". Thứ nhất là ngoại thương hay mậu dịch khi hai khối kinh tế mua bán với nhau. Thứ hai là mối quan hệ tài chính qua trao đổi tư bản.

Về ngoại thương thì việc cả Hoa Kỳ và Âu Châu, nhất là Âu Châu, sẽ phải giảm chi, gia tăng tiết kiệm và tiêu thụ ít hơn tất nhiên sẽ đánh sụt mức nhập khẩu, tức là số xuất khẩu của Á Châu. Khi số bán hàng giảm, các nước sẽ sản xuất ít hơn và trước hết ít mua hàng của một xứ Á Châu khác đem về chế biến rồi bán qua các thị trường Âu Mỹ. Một thí dụ mà doanh nghiệp Việt Nam và Trung Quốc hiểu ngay là khi Việt Nam bán ít giày dép và hàng may mặc cho Liên hiệp Âu châu hay Hoa Kỳ thì Việt Nam cũng ít mua nguyên vật liệu của Trung Quốc về ráp chế lại.

Về sợi dây chuyển lực trong lĩnh vực tài chính thì khi các ngân hàng Âu Châu phải tích cực trả nợ, việc tài trợ giao dịch ngoại thương tại Á châu cũng thành tốn kém hơn, lý do là Á châu cần tín dụng loại ngắn hạn cho nghiệp vụ xuất nhập khẩu. Thứ nữa, các ngân hàng đều cần huy động ký thác và nhu cầu ấy tất nhiên đẩy lãi suất huy động lên cao hơn và thực tế thì sẽ nâng phân lời tín dụng, và hiện tượng ấy có thể kéo dài nhiều năm....

Cho nên, may lắm thì Á châu hy vọng ra khỏi khó khăn vào năm 2013, nhưng vẫn chỉ là hy vọng thôi vì từ nay đến đó, ngoài thiên tai người ta còn sợ nhân hoạ, là sai lầm của con người về chính sách! Trong khi ấy, ta cũng không nên quên là nhiều nước Á châu đang bị hậu quả từ những sai lầm về chính sách trong các năm trước. Trường hợp Việt Nam là một điển hình !

Về trường hợp của Trung Quốc thì lo ngại chính mà các chuyên gia nêu lên là điều gì sẽ xảy tới với các nước châu Á nếu như cỗ máy kinh tế đồ sộ của ông khổng lồ châu Á này không được hạ cánh nhẹ nhàng ? Tức là Bắc Kinh không duy trì được tỷ lệ tăng trưởng trên dưới 8 % như mong đợi mà GDP của nền kinh tế thứ nhì trên thế giới đó chỉ tăng 5 % trong năm. Giả thuyết này đã được công ty phân tích về tài chinh IHS Global Insight đề cập tới.

Cuối cùng là núi nợ của các chính quyền địa phương Trung Quốc : theo các thống kê chính thức của Trung Quốc tính đến cuối 2010, tổng nợ công của các thành phố, tỉnh thành lên tới gần 11 000 tỷ nhân dân tệ, (1.300 tỷ euro) tương đương với 27 % tổng sản phẩm nội địa Trung Quốc.

Nhưng theo thẩm định của Moody’s thì trên thực tế núi nợ đó là trên dưới 15 000 tỷ nhân dân tệ và có từ 8 đến 10 % khoản tiền đó coi như là nợ khó đòi. Qua đó đe dọa trực tiếp đến hệ thống ngân hàng Trung Quốc.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#10 Posted : Thursday, January 12, 2012 1:24:54 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
VOA - Thứ Năm, 12 tháng 1 2012

OECD: Hầu hết các nền kinh tế thế giới ngày càng tăng trưởng chậm

UserPostedImage

Một phúc trình mới cho biết hầu hết các nền kinh tế chính trên thế giới tăng trưởng ngày càng chậm, nhưng các nền kinh tế Hoa Kỳ, Nhật Bản và Nga có dấu hiệu cải thiện.

Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển OECD có trụ sở tại Paris hôm thứ Năm nói những chỉ dấu kinh tế hàng đầu đối với Trung Quốc cho thấy nền kinh tế lớn thứ hai thế giới giảm sút trong tháng qua và cho thấy có sự trì trệ.

OECD cũng ghi nhận được sự giảm sút tại Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản và Nam Triều Tiên.

Tổ chức gồm 34 quốc gia thành viên này nhận thấy sự giảm sút tài sản kinh tế tại khối 17 quốc gia châu Âu sử dụng đồng euro, kể cả Đức, nền kinh tế mạnh nhất châu Aâu.

Cách nước Châu Âu đã phải chật vật đối phó với cuộc khủng hoảng nợ công kéo dài hai năm.

Tuy nhiên OECD nói kinh tế Hoa Kỳ, Nhật Bản và Nga có những dấu hiệu mạnh mẽ cho thấy có sự thay đổi tích cực về đà tiến.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#11 Posted : Saturday, February 4, 2012 3:41:49 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
RFI - Thứ bảy 04 Tháng Hai 2012

Kinh tế Mỹ hồi phục nhanh hơn châu Âu

UserPostedImage
Một công nhân tại nhà máy Wigwam, bang Wisconsin (Reuters)

Thanh Phương
Trong khi phần lớn các nước châu Âu đang gặp suy thoái, thì kinh tế Mỹ lại đang có dấu hiệu hồi phục nhanh chóng, thể hiện qua việc thị trường lao động Hoa Kỳ đã khởi sắc trở lại. Trong thời gian khủng hoảng, các công ty Mỹ để dành nhiều vốn hơn là châu Âu. Cho nên, khi kinh tế bắt đầu khởi sắc trở lại, họ có ngay nguồn vốn để đầu tư và tuyển thêm nhân công.
Theo số liệu do Bộ Lao động Mỹ công bố hôm qua, trái với những dự báo của các nhà phân tích, tỷ lệ thất nghiệp ở Hoa Kỳ trong tháng 01/2012 giảm xuống mức thấp nhất từ 3 năm qua, tức là 8,3%, trong khi ở khu vực đồng euro thì ngược lại, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên mức cao nhất kể từ khi đồng tiền duy nhất ra đời, tức là 10,4%. Nói chung, khoảng cách giữa tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ và ở khu vực euro ngày càng tăng.

Như vậy là Hoa Kỳ có vẻ như không còn lo lắng về những tác động của khủng hoảng nợ công châu Âu lên nền kinh tế của nước này. Tỷ lệ thất nghiệp sụt giảm cũng cho thấy là thị trường lao động của Mỹ vẫn không mất đi khả năng phản ứng tốt. Trong vòng 5 tháng, 1,9 triệu việc làm đã được tạo ra tại Hoa Kỳ, đưa thị trường lao động của nước này trở lại gần bằng với mức của cuối năm 2008.

Theo giải thích của các nhà kinh tế, lý do rất đơn giản : ở Hoa Kỳ, khi cần gia tăng hoạt động, chủ công ty có thể mạnh dạn mướn thêm nhân công, bởi vì họ biết rằng, nếu chẳng may hoạt động của công ty không tốt như dự trù, họ có thể sa thải một cách dễ dàng. Trong khi ở các nước châu Âu như Pháp, Ý, Tây Ban Nha hay Hy Lạp thì không có sự linh động như vậy, sa thải nhân công sẽ rất tốn kém cho chủ công ty.

Ngoài tính chất linh động của thị trường, giới chủ công ty của Mỹ cảm thấy là kinh tế nước này đang trên đà hồi phục, nên tất cả đều có những kế hoạch đầu tư và tuyển mộ nhân công trong 12 tháng tới, ngay cả trong những lĩnh vực mà cho tới nay vẫn cắt giảm nhân công hoặc không mướn thêm người, chẳng hạn như ngành phân phối, xây dựng và một số ngành công nghiệp bị tác động bởi khủng hoảng.

Bên cạnh đó, có một yếu tố khác, đó là trong thời gian khủng hoảng, các công ty Mỹ để sang một bên nhiều vốn hơn là các công ty châu Âu. Cho nên, khi kinh tế bắt đầu khởi sắc trở lại, họ có ngay nguồn vốn để đầu tư và tuyển thêm nhân công. Trong khi đó, các công ty châu Âu phụ thuộc vào nguồn tài chính từ các ngân hàng, mà các ngân hàng thì lại đang khốn đốn vì khủng hoảng nợ công.

Theo các nhà kinh tế, bị khủng hoảng tài chính, rồi lại bị khủng hoảng nợ công, châu Âu gặp nhiều khó khăn hơn là Hoa Kỳ, cho nên khu vực này phải mât nhiều thời gian hơn để hồi phục. Nói chung, trong những thập niên qua, các chu kỳ tăng trưởng kinh tế thế giới đều bắt đầu từ Hoa Kỳ và không có gì đáng ngạc nhiên khi nước Mỹ tạo cảm tưởng thoát khỏi suy thoái nhanh hơn.

Tuy nhiên, sự hồi phục nhanh chóng của kinh tế Mỹ cũng sẽ có tác động tích cực lên châu Âu. Theo một nghiên cứu của hai nhà kinh tế thuộc Quỹ Tiền tệ Quốc tế, được công bố tháng 9 vừa qua, nếu tổng sản phẩm nội địa GDP của Mỹ tăng thêm 0,8% trong hai năm, thì GDP của khu vực đồng euro cũng sẽ tăng theo 0,6%.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#12 Posted : Thursday, February 16, 2012 7:21:40 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
VOA - Thứ Tư, 15 tháng 2 2012

Australia phải đối diện với một năm kinh tế khó khăn

Nền kinh tế dựa vào tài nguyên thiên nhiên của Australia sẽ phải đối diện với một năm khó khăn. Mặc dầu ngành khai thác hầm mỏ tiếp tục tăng trưởng, các ngành khác – nhất là sản xuất, du lịch, và tài chánh - đang cho công nhân nghỉ việc thêm. Mặc dầu Australia đã tìm cách tránh được tình trạng tệ hại nhất của cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu, chính phủ cảnh cáo rằng năm 2012 chắc sẽ là một năm khó khăn đặc biệt về công ăn việc làm.
Phil Mercer | Sydney


UserPostedImage
Hình: iStockphoto

Nền kinh tế Australia từng là sự thèm muốn của các nước phát triển, nhưng nền kinh tế này đã xuất hiện một vài rạn nứt. Đồng đô la mạnh của Australia là nguyên nhân làm mất đi hằng trăm công ăn việc làm tại công ty Toyota ở Melbourne hồi tháng trước, biểu hiện tình trạng mong manh trong lãnh vực sản xuất.

Một công nhân của hãng Toyota nói rằng đây là một tin gây chấn động cho tất cả mọi người. Đối với việc nuôi sống gia đình thì 350 người mất việc không phải là chuyện nhỏ.

Chính phủ Australia tin tưởng là kinh tế sẽ tăng trưởng với tỷ lệ vững chắc trong năm nay, mặc dầu Bộ trưởng Bộ Chế Xuất, Kim Carr, thừa nhận rằng sẽ có một số khó khăn trên đường tăng trưởng:

“Đồng đô la Úc cao đã gây tổn hại lớn cho những sản phẩm của Úc trên thị trường quốc tế vì giá hàng hóa của Úc sẽ cao. Kết quả là mức cầu về sản phẩm của Úc sẽ sụt giảm.”

Australia đã tránh được tình trạng tệ hại nhất của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu nhờ ngành hầm mỏ phát triển mạnh do việc bán quặng sắt cho Trung Quốc. Tuy nhiên có những lo ngại rằng bất cứ sụt giảm nào về mức cầu của Trung Quốc cũng sẽ gây ra khó khăn cho Úc.

Nhà phân tích Satyajit Das nói rằng, về cơ bản, Australia sẽ thấy cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu mà họ nghĩ là tránh được sẽ đến với nước họ. Australia gặp khó khăn trong lãnh vực bán hàng nếu kinh tế Trung Quốc chậm lại.

Ông Das tin là đồng đô la Úc tăng giá gần gấp đôi so với đô la Mỹ trong thập niên vừa qua, là nguyên nhân gây ra tình trạng bất trắc trong nền kinh tế:

“Rõ ràng là trị giá đồng đô la Úc cao gây rất nhiều khó khăn cho ngành chế xuất, du lịch, giáo dục, và giờ đây ta thấy những dấu hiệu nhu cầu lao động cũng sút giảm, đặc biệt là là lao động trí óc truyền thống, chằng hạn như dịch vụ tài chính.”

Tỷ lệ thất nghiệp tại Australia chỉ ở mức trên 5 phần trăm. Tỷ lệ đó e rằng sẽ tăng trong năm nay. Khu vực không thuộc hầm mỏ chắc sẽ bị thiệt hại nhất. Trong tuần này, 1.000 nhân viên ngân hàng được thông báo phải nghỉ việc.

Ông Fariborz Moshirian, giáo sư môn tài chánh tại Trường Đại Học New South Wales, tin rằng Australia không nên quá lệ thuộc vào việc xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc:

“Rõ ràng là nếu tại Trung Quốc có suy thoái lớn trong hoạt động kinh tế, thì Australia sẽ cảm thấy rất gay go vì không có ngành chế xuất mạnh hay khu vực ngân hàng để đền bù những mất mát trong thâu nhập liên quan tới sự phát triển ngành hầm mỏ. Với lý do đó, kinh tế Australia đòi hỏi tái cấu trúc trên quy mô lớn bởi vì lâu nay Úc vẫn được hưởng lợi nhờ phát triển hầm mỏ. Phải làm thế nào để cho ngành chế xuất, ngành dịch vụ tài chánh, và ngành du lịch trở thành hữu hiệu hơn, có tính cạnh tranh hơn và nền kinh tế Úc cũng trở thành quân bình hơn, thay vì chỉ dựa vào một khu vực cụ thể chỉ có giá trị trung hạn.”

Nhưng người đứng đầu Hội Đồng Khoáng Sản New South Wales, ông Stephen Galilee, tin là khu vực tài nguyên thiên nhiên sẽ tiếp tục chống đỡ nền kinh tế Úc trong nhiều năm sắp tới:

“Người ta đã từng dự báo giai đoạn phát triển nhờ tài nguyên thiên nhiên sẽ chấm dứt từ nhiều năm qua và sự chấm dứt này chưa thấy trước mắt. Ảnh hưởng của tình trạng bất trắc trên toàn cầu có thể làm chậm lại tỷ lệ tăng trưởng của giai đoạn nở rộ đó. Nhưng chúng tôi tin tưởng rằng mức cầu tài nguyên khoáng sản của Australia sẽ tiếp tục gia tăng trong những thập niên trước mắt.”

Tuy nhiên, các nhà khai thác hầm mỏ Australia lo ngại một sắc thuế về khí thải carbon sẽ gây tai hại cho tính cạnh tranh của sản phẩm Úc trên thị trường quốc tế và ảnh hưởng tới công ăn việc làm. Sắc thuế này sẽ buộc nhiều xí nghiệp gây ô nhiễm nặng phải trả cho mỗi tấn carbon dioxide thải ra và thuế này sẽ được áp dụng vào tháng Bảy.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#13 Posted : Thursday, February 23, 2012 2:20:40 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
VOA - Thứ Năm, 23 tháng 2 2012

Khó khăn của Hy Lạp đè nặng lên kinh tế châu Âu


Những lo sợ về cuộc khủng hoảng nợ lan rộng dường như đang tác hại cho nền kinh tế các nước châu Âu.

Tại Bruxelles, Ủy Ban châu Âu đã đảo ngược tiên đoán về tăng trưởng kinh tế đưa ra trước đây, và hôm thứ Năm tiên liệu rằng năm 2012 sẽ là một năm suy thoái nhẹ, ít nhất là trong khu vực đồng euro gồm 17 nước.

Ủy Ban tiên đoán nền kinh tế sẽ co cụm 0,3% tương phản hẳn với ước tính trước đây cho rằng kinh tế khu vực đồng euro sẽ tăng 0,5% trong năm nay.

Suy thoái kinh tế tại Ý và Tây Ban Nha là nguyên nhân chính khiến cho nền kinh tế chung của khối euro co cụm. Nhưng Hy Lạp là nơi mà những khó khăn của biện pháp thắt lưng buộc bụng được cảm nhận rõ nhất.

Tại Hy Lạp, trọng tâm của mọi sự chú ý, lại một ngày nữa xảy ra biểu tình phản đối. Lần này là các nhân viên y tế lãng công.

Dù cố gắng lèo lái con thuyền quốc gia như thế nào chăng nữa, chính phủ chẳng đưa ra được mấy biện pháp làm dịu nỗi bất mãn của dân chúng.

Bộ trưởng Tài chính Hy Lạp nói: ” Vấn nạn ở đây là: hoặc hy sinh để còn nhìn thấy triển vọng, hay hủy diệt tất cả để không còn một triển vọng nào nữa. Hoặc là chọn giảm chi thật nhiều, điều này đang gây quá nhiều khó khăn và đè nặng lên tâm trí chúng ta, hay là chọn tình trạng quốc gia không có tiền để trả lương và hưu bổng? Cắt giảm phúc lợi hay để mất tất cả phúc lợi? Mức thất nghiệp cao hay đi đến tình trạng cả nước thất nghiệp?“

Nhưng bây giờ lại còn thêm mối lo nữa: tình trạng suy thoái kinh tế.

Ủy viên Kinh tế châu Âu Olli Rehn lên tiếng: ”So với tiên đoán đưa ra tháng 11 năm ngoái, thì triển vọng kinh tế u ám hơn và những nguy cơ đối với sự tăng trưởng kinh tế vẫn hiện hữu.”

Ủy viên Kinh tế và Tiền Tệ của Liên Hiệp châu Âu Olli Rehn nói ngừơi ta dự kiến là vụ suy thoái sẽ ở mức độ nhẹ, và đang có những dấu hiệu là khu vực đồng euro đang ổn định, nhưng vẫn còn những trở ngại lớn cần phải vượt qua. Ông nói:

“Chúng ta cần phải nhận ra rằng đây là một vụ khủng hoảng lòng tin và để lấy lại niềm tin chúng ta cần phải giải quyết nợ quốc gia và đồng thời thu nhỏ lại những nguy cơ của khu vực ngân hàng.”

Ủy viên Rehn nói rằng châu Âu có thể thoát ra khỏi cuộc suy thoái khá sớm nếu như các nhà hoạch định chính sách đưa ra hành động cuơng quyết, như tìm ra những phương cách giảm chi trong lúc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Đồng thời ủy viên Rehn và các giới chức khác đang thúc đẩy thành lập quĩ cứu nguy lớn hơn, điều mà nước Đức đã phản đối.

Thế nhưng nhiều người Hy Lạp và những người dân khác ở châu Âu vẫn lo ngay ngáy không biết họ sẽ có tiếp tục nhận được tấm chi phiếu trả lương hay không.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#14 Posted : Friday, March 23, 2012 7:00:00 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)


UserPostedImage
Biểu tượng đồng euro bên ngoài trụ sở Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), Franckfurt, 5/11/2011.
Reuters


VOA - Thứ Năm, 22 tháng 3 2012

Hoạt động doanh nghiệp khu vực đồng Euro suy giảm


Các dữ kiện công bố hôm thứ Năm cho thấy hoạt động doanh nghiệp giảm sút trong tháng 3 tại 17 quốc gia sử dụng đồng Euro. Các chuyên gia cho rằng điều này có thể mang ý nghĩa là châu Âu đang tiến tới suy thoái.

Công ty cung ứng dịch vụ doanh nghiệp Markit Economics cho biết các chỉ số kinh tế của họ cho thấy hoạt động doanh nghiệp co cụm trong tháng 2 và kém hơn chút đỉnh trong tháng này.

Kinh tế thuộc khu vực đồng Euro đã co cụm 0,3% trong 3 tháng sau cùng của năm 2011 và các phân tích gia nói kinh tế của khu vực này vẫn còn tiếp tục suy thoái.

Ông Chris Williamson, kinh tế gia trưởng của Markit, nói sự suy trầm “vào lúc này vẫn còn rất nhẹ.”

Các chính phủ châu Âu đã vất vả tìm cách thúc đẩy nền kinh tế của châu lục đi lên, thậm chí ngay giữa lúc họ phải cắt bớt chi tiêu, tăng thuế, và chấp thuận hàng tỉ đôla trong các khoản cho vay khẩn cấp cho các nước bị khủng hoảng nợ nần là Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha.

Các biện pháp thắt lưng buộc bụng đã đẩy mức thất nghiệp trong khu vực đồng euro lên tới gần 11%, là mức cao nhất kể từ khi đồng euro được đưa vào sử dụng cách đây 13 năm.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#15 Posted : Tuesday, April 10, 2012 11:30:08 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
RFI - THỨ BA 10 THÁNG TƯ 2012

Thất nghiệp, mối đau đầu của khu vực đồng euro

UserPostedImage
Biểu đồ tỷ lệ thất nghiệp ở các quốc gia châu Âu
RFI/Anthony Terrade

Thanh Hà
Chưa xóa bỏ được mối đe dọa khủng hoảng nợ công, khối euro lại phải đương đầu với một thách thức mới : Giải quyết việc làm cho hơn 17 triệu người đang thất nghiệp. Các nước xung quanh Địa Trung Hải đang đứng trước một bài toán nan giải : Cắt giảm chi tiêu để giải quyết nợ công, trong lúc có từ 15 đến 25 % dân số trong tuổi lao động thất nghiệp.
Cơ quan thống kê châu Âu Eurostat ngày 02/04/2012 công bố số liệu về thất nghiệp tại khu vực đồng euro. Tỷ lệ người không có việc làm trong tháng 2/2012 tăng cao kỷ lục : Tại 17 nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu 10,8 % dân số trong tuổi lao động không có việc làm. Đây là mức cao nhất kể từ khi đồng euro được thành lập vào năm 1997. Trong 10 tháng liên tiếp, thị trường lao động châu Âu bị xấu đi.

Đáng quan ngại hơn nữa là số người bị gạt ra ngoài thị trường lao động ở châu Âu còn tiếp tục tăng thêm từ nay tới cuối năm. Chuyên gia tài chính thuộc ngân hàng JP Morgan tại Luân Đôn cho rằng đến cuối năm 2012, tỷ lệ thất nghiệp sẽ lên tới 11 % vì nhiều lý do : Khu vực Nhà nước hoặc không thay thế những người đến tuổi về hưu, hoặc sa thải nhân viên, như là trường hợp của Hy Lạp. Lý do thứ nhì là thu nhập của các hộ gia đình giảm sút, tác động đến sức mua của tư nhân. Yếu tố thứ ba đáng quan ngại liên quan đến tiềm năng tăng trưởng kinh tế của các nước trong khối euro.

Giới phân tích cho rằng, nạn thất nghiệp gia tăng chung trên toàn bộ 17 nước thành viên khu vực đồng euro là bằng chứng cho thấy, các biện pháp khắc khổ với hy vọng giảm bớt nợ công và bội chi ngân sách không phải là liều thuốc thích hợp cho khu vực này vào thời điểm hiện nay : Sức tiêu thụ của tư nhân đi xuống, khủng hoảng niềm tin của các nhà đầu tư đẩy các hoạt động của khu vực sản xuất càng xuống thấp trong năm qua.

Khối euro với hai vận tốc

Một điểm đáng chú ý khác mà thống kê mới nhất của Eurosat cho thấy, đó là sự khác biệt về tỷ lệ thất nghiệp giữa 17 nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu ngày càng lớn : tại Áo hay Hà Lan, tỷ lệ này chỉ là 4,2 và 4,9 %. Đức về hạng ba, với một tỷ lệ được coi là « ổn định » ở mức 5,7 %.

Tệ hơn là Ý và Pháp, theo thứ tự là 9,3% và 10 % dân số trong tuổi lao động không có việc làm. Tại một quốc gia đang lâm vào khủng hoảng như Ai Len, thì tỷ lệ đó là 14,7 %, rất gần với các nước chung quanh Địa Trung Hải, như là trường hợp của Bồ Đào Nha (15 %) Hy Lạp (21 %). Hiện tại, Tây Ban Nha là nước đang đội bảng với 23,6 % dân số thất nghiệp và hơn một nửa thanh niên trong độ tuổi từ 16 đến 25 bị gạt ra ngoài thị trường lao động.

Theo quan điểm của giáo sư kinh tế Jacques Sapir, giám đốc trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội - EHESS - Paris, thất nghiệp đang trở thành một vấn đề cấp bách không kém gì khi so sánh với khủng hoảng nợ công của khối euro :

« Chúng ta biết rõ thảm cảnh của Tây Ban Nha và Hy Lạp, nơi mà tỷ lệ thất nghiệp tăng cao hơn 20 %. Ai Len và Bồ Đào Nha đang phải đối phó với số người trong tuổi lao động không có việc là khoảng 15 %. Đó là những tín hiệu hết sức đáng quan ngại. Nghiêm trọng hơn nữa, trước mắt, không có dấu hiệu nào cho phép chúng ta nghĩ rằng, khu vực đồng tiền chung châu Âu hy vọng đảo ngược được tình thế. Có nghĩa là các quốc gia này không mấy hy vọng giải quyết được thất nghiệp trong nay mai. Ngược lại, tại một số quốc gia ở miền bắc Địa Trung Hải, như ở Đức, Bỉ, Luxembourg hay Áo, tỷ lệ thất nghiệp tương đối thấp, khoảng trên dưới 5 %.

Theo tôi, vấn đề thất nghiệp là một trong hai mối đe dọa lớn nhất đối với khu vực đồng Euro. Đây là một mối đe dọa nghiêm trọng không kém so với nguy cơ khủng hoảng nợ công. Tôi cũng xin lưu ý là từ hai năm nay, chúng ta nhận thấy một sự phân hóa rõ rệt giữa các nước ở phía bắc và phía nam Địa Trung Hải. Đó là một sự khác biệt quá lớn cả về phương diện tài chính, kinh tế và xã hội qua tình trạng việc làm. Tôi cho rằng, trong giả thuyết khu vực đồng euro đã giải quyết xong vấn đề khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Hy Lạp, thì thách thức tới đây của toàn khối là phải giải quyết những khó khăn về kinh tế và xã hội ở các nước xung quanh Địa Trung Hải. Đây sẽ là một trong những điều kiện để khu vực euro được tồn tại ».

Trên tổng số 17 triệu 130 ngàn người thất nghiệp của toàn khối euro, trong đó có 4 triệu 750 ngàn là người Tây Ban Nha. Trong tám tháng liên tiếp, số người không có việc làm tại quốc gia này liên tục tăng. Chính phủ của thủ tướng Mariano Rajoy, từ tháng 2/2012, đã bắt đầu cải tổ luật lao động để khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng nhân công. Giới công đoàn và người lao động đồng loạt tố cáo là các biện pháp cải tổ đó càng gây khó khăn cho giới làm công ăn lương.

Trong khi đó, bản thân chính quyền vừa thông báo hàng loạt các biện pháp thắt lưng buộc bụng, cho phép Tây Ban Nha tiết kiệm thêm 27 tỷ euro trong tài khóa 2012. Madrid hy vọng giảm bội chi ngân sách đang từ 8,5 % GDP năm ngoái, xuống còn 5,3 % trong năm nay. Ngoài ra, chính phủ Tây Ban Nha dự trù tăng trưởng kinh tế của nước này trong năm nay sẽ ở số âm và trước mắt, nhiều nhà quan sát lo ngại là từ nay đến cuối 2012, Tây Ban Nha sẽ phải ngửa tay xin trợ giúp của cộng đồng quốc tế.

Pháp : Thêm 1 triệu người thất nghiệp trong 5 năm

Riêng trường hợp của nước Pháp, vào thời điểm tranh cử tổng thống, vấn đề việc làm trở thành đề tài được cả 10 ứng cử viên tổng thống cùng đem ra mổ sẻ. Trả lời trên đài RFI, chuyên gia kinh tế thuộc Cơ quan Quan sát về Tình hình Kinh tế Pháp, OFCE, ông Eric Heyer, giải thích vì sao Pháp phải đương đầu với một tỷ lệ thất nghiệp 10 % :

« Có hai lý do giải thích vì sao Pháp không giải quyết được vấn đề thất nghiệp : Một là kinh tế của Pháp không tăng trưởng đủ mạnh để tạo thêm công việc làm và hai là số người mới tham gia thị trường lao động tăng nhanh hơn so với số người đến tuổi về hưu.

Khi mà tình hình kinh tế khó khăn thì khu vực sản xuất và cả dịch vụ, cùng sa thải nhân công. Trong khi đó, lực lượng lao động ngày càng tăng do có cả một thế hệ trẻ vừa gia nhập thị trường lai động. Số thanh niên gia nhập thị trường lao động cao hơn so với số người đến tuổi về hưu. Bài toán do đó trở nên khá đơn giản. Theo tôi, tỷ lệ thất nghiệp ở Pháp sẽ vượt ngưỡng tâm lý là 10 %. Câu hỏi còn lại là khi nào chúng ta sẽ vượt qua ngưỡng tâm lý đó ? Tỷ lệ thất nghiệp lên tới 10 % vào giữa hay cuối năm nay ? Điều đó còn tùy thuộc vào chính sách của Nhà nước, đặc biệt là vào các khoản trợ cấp thất nghiệp, vào các biện pháp để giúp cho doanh nghiệp tuyển dụng nhân viên ».

Thực tế cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp ở Pháp vừa đạt ngưỡng 10 % trong tháng 2/2012. Mọi người còn nhớ là vào năm 2007, khi ra tranh cử, ứng cử viên của đảng UMP là ông Nicolas Sarkozy đã cam kết trong nhiệm kỳ 5 năm, ông sẽ làm tất cả để giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống còn 5 %. Tại Pháp, trong tháng 2/2012, có tất cả gần 2,9 triệu người không có việc làm. Để so sánh, số này tăng thêm 1 triệu so với cách nay 5 năm.

Đành rằng khi lên cầm quyền vào tháng 5/2008, ông Nicolas Sarkozy không ngờ là chỉ vài tháng sau đó, ông phải đương đầu với cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ, nghiêm trọng nhất trong lịch sử kinh tế thế giới kể từ sau Thế chiến thứ Hai.

Vào lúc vấn đề thất nghiếp là quan tâm hàng đầu của cử tri thì ứng cử viên Sarkozy luôn rao giảng là nước Pháp trong nhiệm kỳ 5 năm đầu của ông « tốt đẹp » hơn so với các nước láng giềng trong khối euro. Tiếc là thống kê của Eurostat về tình trạng lao động lại không củng cố luận điểm này. Về phần mình, ứng cử viên của đảng Xã Hội, người đang dẫn đầu trong các cuộc thăm dò dư luận về ý định bỏ phiếu, ông François Hollande, thì đưa ra hàng loạt các biện pháp để hỗ trợ các doanh nghiệp và khuyến khích tuyển dụng nhân công, đặc biệt là trong lĩnh vực Nhà nước. Nhưng câu hỏi đặt ra là liệu ông Hollande có tìm được nguồn tài trợ để thực hiện những lời hứa đó hay không ?

Viễn cảnh kinh tế đen tối

Lo ngại của khối euro là các đầu máy tăng trưởng từ sản xuất đến xuất khẩu đều đang bị chựng lại. Cùng lúc Eurostat công bố thống kê về thất nghiệp tại khu vực đồng euro, cơ quan này cũng đưa ra một báo cáo không mấy khả quan về viễn cảnh tăng trưởng của toàn khối : Đe dọa suy thoái của nhóm eurozone càng rõ nét trong tháng 3/2012 và hai đầu tàu kinh tế là Đức và Pháp cũng tỏ dấu hiệu bị chựng lại.

Cụ thể là tại Đức, chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng 3/2012 giảm 1,8 điểm so với tháng 2/2012. Đây là hậu quả do xuất khẩu của Đức sang thị trường Trung Quốc và sang các đối tác thuộc khu vực đồng euro bị chậm lại. Còn viện nghiên cứu IMK của Đức nhận định, đó là hậu quả trực tiếp của các biện pháp cắt giảm chi tiêu mà Bruxelles và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đã áp đặt đối với nhiều nước trong khu vực đồng euro.

Nhìn tới trường hợp của Pháp, tình hình không khả quan hơn. Riêng đối với các nước đang lâm nạn ở vùng Địa Trung Hải, từ Hy Lạp đến Ý hay Tây Ban Nha, chỉ số sản xuất công nghiệp cũng đã đi xuống.

Theo báo cáo vừa được công bố ngày 29/03/2012 do ba viện nghiên cứu châu Âu IMK của Đức, OFCE của Pháp và WIFO của Áo, khủng hoảng tài chính trong khu vực đồng euro và các biện pháp khắc khổ là nguyên nhân đẩy toàn khối vào suy thoái kinh tế và thất nghiệp tăng cao.

Theo đó, nhìn chung, GDP tại 17 nước sử dụng đồng euro giảm 0,8 % trong năm 2012 và tiếp tục giảm thêm 0,5 % vào năm tới. Đức và Pháp không phải là những ngoại lệ.

Thu nhập bình quân đầu người cũng giảm so với 2011. Nhìn sang bên kia bờ Đại Tây Dương, tỷ lệ tăng trưởng của Hoa Kỳ năm nay sẽ là 2,3 %. Theo nhận định của OFCE, tâm bão đã chuyển từ Mỹ sang châu Âu, đặc biệt là khu vực đồng euro.

Vào lúc khủng hoảng nợ công dấy lên tại Hy Lạp hay Ai Len, Bruxelles đã quá tin tưởng vào các biện pháp khắc khổ, coi đó là chiếc đũa thần có thể giải quyết tất cả. Ngân hàng Trung ương châu Âu, chịu nhiều ảnh hưởng của Đức, đã quên mất rằng có một ngân sách chi thu cân bằng để tránh bị chủ nợ đòi tiền là một điều quan trọng, nhưng đối với một quốc gia, điều quan trọng không kém là phải chú trọng tới tiềm năng tăng trưởng. OFCE đơn cử trường hợp của Hy Lạp : Athens đang nợ nần chồng chất và bị đe dọa mất khả năng thanh toán. Chính đe dọa tiềm tàng này khiến chủ nợ chỉ đồng ý cho Hy Lạp vay với lãi suất cao - cao hơn khi họ cho Đức hay Pháp vay. Đồng thời, để nhận được hai gói hỗ trợ tài chính 110 và 130 tỷ euro từ Bruxelles và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, các chính phủ Hy Lạp đã phải cam kết thắt lưng buộc bụng để giảm bớt nợ công.

Trong tình trạng các hoạt động kinh tế đi xuống, cộng thêm với các biện pháp khắc khổ, trong hai năm qua, Hy Lạp không ngừng lún sâu thêm vào khủng hoảng. IMK công nhận là Hy Lạp cần quản lý tài chính chặt chẽ hơn, nhưng áp dụng chính sách khắc khổ một cách toàn diện đối với tất cả các thành viên trong khối euro là một sai lầm và hậu quả là liều thuốc đó đã « bóp chết sự phục hồi kinh tế của châu Âu chỉ mới vừa manh nha ».
Hoàng Thy Mai Thảo  
#16 Posted : Tuesday, April 17, 2012 12:02:39 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
RFI - Thứ ba 17 Tháng Tư 2012

Nhật Bản góp 60 tỉ đô la giúp châu Âu giải quyết nợ công

UserPostedImage
Bộ trưởng tài chính Nhật Bản Jun Azumi. Ảnh chụp ngày 25/02/2012
REUTERS/Bernardo Montoya

Thụy My
Bộ trưởng Tài chính Nhật hôm nay 17/04/2012 cho biết, Nhật Bản sẽ đóng góp thêm 60 tỉ đô la cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), để giúp định chế này đối phó với cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu. Tổng giám đốc IMF đã lên tiếng hoan nghênh và khuyến khích các quốc gia thành viên khác noi gương Nhật Bản.
Quyết định này nhằm đáp lại lời kêu gọi của Tổng giám đốc IMF Christine Lagarde vào tháng Giêng, về việc bổ sung nguồn tài chính để có thể tăng thêm quỹ cho vay dự phòng, hiện ở mức 500 tỉ đô la ; góp phần đấu tranh chống lại cuộc khủng hoảng nợ châu Âu và các hậu quả của khủng hoảng trên thế giới.

Lời hứa của Nhật Bản sẽ được chính thức đưa ra nhân hội nghị các Bộ trưởng Tài chính và Ngân hàng Trung ương các nước G20 tại Washington ngày 20/4 tới, và tại hội nghị toàn thể bán niên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế được tổ chức sau đó. Trước đây vào năm 2009, ngay trong thời điểm khủng hoảng tài chính thế giới, Nhật Bản cũng là nước đầu tiên đã đóng góp thêm 100 tỉ đô la cho định chế tài chính quốc tế này.

Bà Christine Lagarde đã lập tức hoan nghênh « vai trò động lực của Nhật Bản». Tổng giám đốc IMF kêu gọi « các quốc gia thành viên theo gương Nhật», quốc gia không thuộc châu Âu đầu tiên cho biết sẽ đóng góp. Cho đến nay, chỉ có các nước khu vực đồng euro hứa sẽ bổ sung 150 tỉ euro, tương đương 198 tỉ đô la. Còn Hoa Kỳ, cổ đông lớn nhất của IMF đã báo trước là sẽ không đóng góp thêm một đồng nào.

Từ Tokyo, thông tín viên RFI Frédéric Charles phân tích :

« Hãy còn trong thời kỳ phục hồi sức lực sau thảm họa động đất và sóng thần ngày 11/03/2011, Nhật Bản muốn châu Âu tránh khỏi hành động tự sát về kinh tế - theo như kinh tế gia Mỹ Paul Krugman - khi bắt các nước đang bị nợ nần nhiều nhất phải chịu đựng chính sách thắt lưng buộc bụng khắc nghiệt.

Tây Ban Nha hiện đang trong thời kỳ khủng hoảng đen tối giống như Hoa Kỳ vào thập niên 30 trước đây. Theo kinh nghiệm, người Nhật biết là chính sách khắc khổ chỉ làm trầm trọng thêm tình trạng của các nước châu Âu đang mắc nợ nhiều nhất. Tokyo lo ngại điều này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của châu Âu.

Tổng giám đốc IMF Christine Lagarde đã hoan nghênh sự hỗ trợ vững chắc của Nhật Bản cho chủ nghĩa đa phương. Nhật sẽ thảo luận với Trung Quốc, nước có dự trữ ngoại hối thuộc loại cao nhất thế giới, ngõ hầu Bắc Kinh sẽ theo chân. Nhật Bản vừa là nước công nghiệp hóa nợ nần nhiều nhất thế giới, vừa lại có lượng tiền tiết kiệm rất lớn.

Các lợi ích của Nhật Bản nói riêng và của châu Á nói chung tại châu Âu rất đáng kể, và Nhật Bản nay đã chứng tỏ tình liên đới với Cựu lục địa ».
Hoàng Thy Mai Thảo  
#17 Posted : Tuesday, May 15, 2012 10:22:10 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
RFI - Thứ hai 14 Tháng Năm 2012

Châu Âu lại đau đầu về Hy Lạp và Tây Ban Nha


Đức Tâm

Sau một thời gian lắng dịu ngắn ngủi, các thành viên vùng đồng tiền chung châu Âu họp lại vào chiều tối ngày 14/05/2012 ở Bruxelles trong bầu không khí căng thẳng : Bế tắc chính trị tại Hy Lạp gây lo ngại là nước này phải rút khỏi khu vực đồng euro, còn Tây Ban Nha đang gặp rất nhiều khó khăn để thuyết phục các nước khác và thị trường tài chính quốc tế rằng Madrid sẽ thực hiện được các cam kết về ngân sách.

Từ sau cuộc bầu cử Quốc hội ngày 06/05/2012 đến nay, các chính đảng Hy Lạp chưa đạt được đồng thuận liên minh với nhau để lập chính phủ và có nguy cơ là Athènes không thể thực hiện được kế hoạch thắt lưng buộc bụng.

Do vậy, trong cuộc họp ngày hôm nay, các bộ trưởng Tài chính khu vực đồng euro đưa ra một thông điệp rõ ràng, nhắc nhở Hy Lạp là nước này sẽ không nhận được một xu nào nếu không thực hiện các cải cách mà các chủ nợ là Liên Hiệp Châu Âu và Quỹ Tiền tệ Quốc tế - IMF - đã đòi hỏi.

Trước đó, vào ngày 09/05/2012, khu vực đồng euro cho biết sẽ không tháo khoán toàn bộ những khoản tiền như đã hứa cho Hy Lạp bởi vì nước này vẫn còn khả năng chi trả cho đến tháng Sáu.

Ngày 11/05/2012, đến lượt chủ tịch Ủy ban châu Âu, José Manuel Barroso không ngần ngại nêu ra khả năng Hy Lạp phải ra khỏi khu vực đồng euro. Ông nói : «Nếu các thỏa thuận không được tôn trọng, điều này có nghĩa là các điều kiện không được hội đủ để tiếp tục làm việc với một quốc gia không thực hiện các cam kết ». Thông điệp này cũng đã được nhiều quan chức châu Âu, đặc biệt là Đức, nhắc lại.

Một nhà ngoại giao châu Âu nhấn mạnh : Nhiều thông điệp nghiêm khắc đã được gửi tới Hy Lạp và hy vọng là giới chính trị gia Hy Lạp hiểu được điều này.

Mối lo lắng hiện nay của Châu Âu là nếu Hy Lạp không thành lập được chính phủ trước ngày 17/05/2012, ngày nhóm họp phiên đầu tiên của tân Quốc hội, thì nước này sẽ phải tổ chức lại cuộc bầu cử lập pháp vào tháng Sáu. Các chính đảng chống chính sách khắc khổ có thể giành được đa số và nếu như vậy, Hy Lạp sẽ không còn ở trong khu vực đồng euro nữa.

Một chủ đề khác cũng đang làm châu Âu đau đầu : Đó là tình hình Tây Ban Nha

Mặc dù liên tiếp đưa ra những lời trấn an, nhưng dường như Madrid khó có thể thực hiện được cam kết giảm thâm thủng ngân sách xuống còn 3% vào năm tới.

Trong dự báo kinh tế được công bố ngày 11/05, Ủy ban châu Âu cho rằng thâm hụt ngân sách của Tây Ban Nha trong năm 2013 sẽ là 6,3%. Theo nhận định của giới ngoại giao châu Âu, thì vấn đề là cần phải biết bằng cách nào và khi nào thì châu Âu sẽ phải đối mặt với hồ sơ Tây Ban Nha. Trong cuộc họp hôm nay, khu vực đồng euro tránh đề cập sâu đến những khó khăn của Madrid vì không muốn đưa ra những tín hiệu xấu cho thị trường.

Khu vực đồng euro sẽ chờ đợi các khuyến cáo của Liên Hiệp Châu Âu liên quan đến các chính sách và các cải tổ cơ cấu mà mỗi thành viên dự tính thực hiện. Các báo cáo này sẽ được công bố vào ngày 30/05/2012.

Trong cuộc họp ở Bruxelles chiều nay, để làm yên lòng các đối tác, bộ trưởng Tài chính Tây Ban Nha Luis de Guindos trình bầy những nét chính trong kế hoạch cải tổ mà Madrid sẽ thực hiện. Đồng thời, ông cũng giải thích vì sao Nhà nước Tây Ban phải quốc hữu hóa một phần Bankia, ngân hàng lớn nhất nước này, đang phải đối mặt với nhiều rủi ro nghiêm trọng từ lĩnh vực bất động sản.

Trong cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay, châu Âu rất lo sợ « hiệu ứng Domino » : Việc Hy Lạp từ bỏ đồng euro sẽ kéo theo một số nước ra khỏi khu vực đồng tiền chung, qua đó, đe dọa sự tồn tại của chính Liên Hiệp Châu Âu.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#18 Posted : Thursday, May 17, 2012 11:10:07 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
VOA - Thứ Năm, 17 tháng 5 2012

Ảnh hưởng sẽ ra sao nếu Hy Lạp rời khối euro


UserPostedImage
Hình: REUTERS
Nếu rời khối euro, Hy Lạp sẽ trở lại sử dụng đồng drachma trước đây, và các nhà phân tích nói đơn vị tiền tệ này sẽ bị giảm giá đáng kể so với đồng euro, làm cho hàng hóa nhập khẩu đắt đỏ hơn

Kinh tế Hy Lạp chỉ chiếm khoảng 2% của toàn thể nền kinh tế 17 quốc gia sử dụng đồng euro nhưng nếu Athens ra khỏi khu vực đồng euro, hậu quả có thể cảm nhận được trên toàn thế giới.

Chưa có quốc gia nào ra khỏi khu vực đồng euro trong 13 năm hiện hữu, nhưng các nhà lãnh đạo châu Âu và các nhà phân tách tài chánh hiện nay công khai đồn đoán là Hy Lạp có thể là quốc gia đầu tiên làm việc này.

Sau một cuộc bầu cử với kết quả manh mún đầu tháng này, các đảng phái chính trị Hy Lạp không thể thành lập được một chính phủ liên hiệp, khiến đưa đến một cuộc bầu cử Quốc hội mới vào giữa tháng Sáu.

Tuy nhiên vấn đề mấu chốt trong tình trạng chính trị sa lầy này — liệu Hy Lạp có tuân thủ những cam kết của một kế hoạch chi tiêu tiết kiệm mạnh để đổi lấy hàng tỉ đô la tiền cứu nguy mới của quốc tế hay không — đã mở ngỏ cho khả năng là Athens có thể không thi hành được những nghĩa vụ tài chánh to lớn của nước này.

Với lo ngại này, công ty Fitch xếp hạng mức độ khả tín về tài chính hôm thứ Năm lại một lần nữa hạ thấp mức khả tín của Hy Lạp.

Nếu Hy Lạp ra khỏi khu vực đồng euro hay bị loại trừ khỏi khối này — sự mất mát về tài chánh của các chính phủ châu Âu và các ngân hàng cho Hy Lạp vay nợ có thể gây choáng váng — gần 1.300 tỉ đô la, theo sự phỏng đoán của các chuyên gia ngân hàng quốc tế.

Những nhà phân tích khác nói việc Hy Lạp không trả được nợ cũng có thể tàn phá viễn ảnh kinh tế của những chính phủ mắc nợ lớn hơn nhiều tại Ý và Tây Ban Nha cũng như dẫn đến rối loạn trên thị trường tài chánh thế giới.

Các chuyên gia phân tách này nói tai họa có thể ngang hàng với ảnh hưởng của sự sụp đổ vào năm 2008 của đế chế đầu tư Lehman Brothers ở New York dẫn đến tình trạng suy thoái nghiêm trọng của kinh tế toàn cầu.

Người đứng đầu Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế Christine Lagarde, trong tuần này từ chối đưa ra nhận định về chuyện gì gây tai hoạ nhiều hơn — việc Hy Lạp ra khỏi khu vực đồng euro hay là hàng tỉ đô la đã chi tiêu để vực dậy nền tài chánh của chính phủ đầy nợ này.

Tuy nhiên bà nói tại cuộc phỏng vấn của một đài truyền hình Hà Lan là việc Hy Lạp rút ra khỏi khu vực đồng euro chắc chắn sẽ gây thiệt hại rất nhiều.

Bà Lagarde phản ánh cảm nghĩ của nhiều nhà lãnh đạo châu Âu, nói rằng giải pháp tốt nhất là Hy Lạp tuân thủ các thỏa thuận về kế hoạch tiết kiệm cắt giảm chi tiêu và trả nợ trong những năm tới.

Tuy nhiên dân chúng Hy Lạp đã rộng rãi lên tiếng bày tỏ bất bình mạnh mẽ về những biện pháp tiết kiệm kêu gọi cắt bỏ hàng ngàn việc làm trong chính phủ, giảm bớt hưu bổng và giảm bớt chi tiêu cho những chương trình xã hội. Những cuộc biểu tình trên đường phố - đôi khi bạo động — đã thường xuyên xảy ra.

Các nhà lãnh đạo Hy Lạp nói những người có tài khoản trong ngân hàng đã rút hàng trăm triệu euro từ các ngân hàng Hy Lạp và gởi tiền ra nước ngoài.

Các cuộc thăm dò chính trị tại Hy Lạp cho thấy lãnh tụ Syriza, ông Alexis Tsipras được sự ủng hộ ngày càng tăng. Ông Tsipras kêu gọi bác bỏ những điều kiện của việc cứu nguy. Ông nói đảng ông sẽ không nhượng bộ những đòi hỏi từ bất cứ nơi nào của châu Âu để ủng hộ những biện pháp thắt lưng buộc bụng cắt giảm mạnh.

Nếu Hy Lạp rời khu vực đồng euro thì Hy Lạp sẽ chấp nhận trở lại đồng drachma cũ. Tuy nhiên các nhà phân tích nói đơn vị tiền tệ này sẽ bị giảm giá đáng kể so với đồng euro, làm cho hàng hóa nhập khẩu vào nước này đắt đỏ hơn trong khi những chuyến nghỉ hè của người nước ngoài đến Hy Lạp rẻ hơn nhiều.

Tuy nhiên có lẽ mối lo âu lớn nhất của Hy Lạp là nếu không trả nợ, giới cho vay bên ngoài sẽ không cho Hy Lạp vay tiền thêm nữa, hay ít nhất sẽ áp đặt lãi suất thật cao đối với những khoản vay mới. Hy Lạp lúc đó sẽ bị cô lập hơn vào lúc quốc gia này nỗ lực lấy lại thế đứng trong cộng đồng thế giới.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#19 Posted : Tuesday, May 22, 2012 2:23:57 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
RFI - THỨ BA 22 THÁNG NĂM 2012

Ngành ngân hàng Hy Lạp trong tâm bão của khủng hoảng

UserPostedImage
2012. Trụ sở Ngân hàng Trung ương Hy Lạp tại Athens. Ảnh chụp ngày 16/05/2012.
A foreign beggar walks outside the building of the Central Bank

Thanh Hà
Hình ảnh những dòng người rồng rắn xếp hàng trước cửa các chi nhánh của ngân hàng Northern Rock bên Anh đợi đến lượt rút tiền khỏi nhà băng vào tháng 9/2007 còn ám ảnh dư luận châu Âu. Lo ngại kịch bản tương tự xảy đến với Hy Lạp đã dấy lên gần đây sau khi các đảng phái chính trị thất bại trong việc thành lập chính phủ liên minh sau bầu cử Quốc hội ngày 06/05/2012.

Theo lời Tổng thống Hy Lạp nội trong ngày 14/05/2012 tư nhân và doanh nghiệp đã rút ra 800 triệu euro khỏi các quỹ ủy thác ngân hàng. Tính từ sau cuộc bầu cử ngày 6/5 đã có từ 1 tỉ đến 1 tỉ rưỡi euro trên tổng số 170 tỉ được ký gửi vào ngân hàng Hy Lạp được rút ra.

Thống đốc Ngân hàng Trung ương Hy Lạp cho rằng hiện tượng nói trên có thể giải thích được sau khi Athens liên tục thông qua 3 kế hoạch khắc khổ vào tháng 5/2010 rồi tháng 11/2011 và trong hai tháng đầu năm 2012. Theo thống kê của Ngân hàng Trung ương Hy Lạp mỗi tháng, ngành ngân hàng bị thất thoát tới 5 tỉ euro và đương nhiên kết quả bầu cử ngày 6/5 lại càng khiến dư luận nao núng.

Người dân Hy Lạp rút tiền khỏi nhà băng vì nhiều lý do : thu nhập sụt giảm vì bị giảm trợ cấp xã hội và thất nghiệp các hộ gia đình phải lấy tiền tiết kiệm ra để sống. Nhưng theo các nhà phân tích thành phần này chỉ chiếm số ít. Nguyên nhân chính khiến các khoản ủy thác ngân hàng giảm đi từ 25 đến 30 % trong những tháng gần đây do tư nhân và các doanh nghiệp ngày càng mất tin tưởng vào hệ thống ngân hàng quốc gia cũng như họ đang chuẩn bị đối phó với trong trường hợp Hy Lạp từ bỏ đồng tiền chung châu Âu để quay lại với đồng drachme.

Vậy thì tiền rút ra khỏi hệ thống ngân hàng Hy Lạp được chuyển về đâu ? Một phần lớn được dùng để đầu tư vào địa ốc. Đành rằng tình trạng hiện nay không mấy sáng sủa nhưng trong mắt người dân Hy Lạp, những ai có điều kiện thì nhà đất vẫn được coi là những giá trị bảo đảm.

Một số khác chuyển tiền để mua vàng hoặc giữ tiền trong nhà. Riêng các cơ sở làm ăn, thì đã chuyển tiền ra ngoại quốc đề phòng rủi ro Hy Lạp bị loại khỏi vùng euro. Áp lực trên Athens càng lớn sau khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ngày 17/5 thông báo tạm gián đoạn mọi liên lạc với chính quyền Hy Lạp cho đến ngày 17/6 tức là cho đến cuộc bầu cử lần tới. Tuy nhiên, tất chỉ có 30 % khoản tiền được rút ra khỏi các ngân hàng Hy Lạp được đem ra đầu tư ở nước ngoài.

Lo ngại chính không phải do các ngân hàng Hy Lạp bị suy yếu, bị thiếu vốn hoạt động hay do không có đủ vốn dự trữ. Hiện tượng mất lòng tin nơi các ngân hàng bắt nguồn từ các cuộc khủng hoảng liên tiếp cũng như từ việc cơ quan thẩm định tài chính Fitch hôm 18/5 hạ điểm của 5 ngân hàng Hy Lạp từ điểm B xuống còn 3 chữ C. Theo đánh giá của Fitch nếu như không được các Ngân hàng Trung ương Hy lạp và Ngân hàng Trung ương Châu Âu « vào nước biển » thì 5 cơ sở nói trên có nguy cơ bị phá sản.

Câu hỏi đang được các nhà đầu tư nêu lên, là liệu Ngân hàng Trung ương châu Âu BCE có còn tiếp tục hỗ trợ cho các ngân hàng Hy Lạp nữa hay không sau ngày bầu cử 17/6 sắp tới. Biết rằng đảng Syriza cánh tả vốn chống đối đường lối khắc khổ mà Bruxelles đang áp đặt đối với Athens trong cuộc tuyển cử đầu tháng đã về nhì. Hơn thế nữa các cuộc thăm dò dư luận cho thấy Syriza có triển vọng về đầu trong cuộc bầu cử vào giữa tháng 6 tới đây. Điều đó có nghĩa là có nhiều khả năng chính phủ sắp tới của Hy Lạp sẽ không tiếp tục đi theo con đường đã được Châu Âu và IMF vạch sẵn.

Theo quan điểm của cơ quan thẩm định tài chính Fitch, viễn cảnh Hy Lạp bước ra khỏi khu vực đồng euro lại càng thêm rõ nét. Fitch báo trước hàng loạt hàng các doanh nghiệp tư nhân sẽ phá sản, Hy Lạp sẽ mất khả năng thanh toán nợ vay bằng đồng euro. Chính vì thế cựu Thủ tướng Bỉ Guy Verhofstadt và cũng là nghị viên châu Âu hy vọng kịch bản này không xảy ra :

« Tôi hy vọng Hy Lạp tiếp tục ở lại trong khối euro vì 2 lý do. Thứ nhất là đối với bản thân nước này : Hy Lạp không thể đơn phương giải quyết khủng hoảng kinh tế một khi bước ra khỏi khu vực đồng euro. Tình hình có nguy cơ còn xấu đi hơn, nghĩa là Hy Lạp sẽ đi từ suy thoái kinh tế đến khủng hoảng nghiêm trọng hơn nữa. Riêng Liên hiệp Châu Âu, và khối sử dụng đồng tiền chung châu Âu, thì cả hai cùng chưa sẵn sàng để trông thấy một nước thành viên bị loại khỏi khối này. Đe dọa lớn nhất là sự ra đi của Hy Lạp sẽ kéo theo các mắt xích yếu kém khác của khu vực như là Bồ Đào Nha hay Ailen và kế tiếp nữa là Tây Ban Nha và Ý. Điều đó có nghĩa là trong hai năm qua, kể từ khi khủng hoảng bùng lên châu Âu chưa hoàn tất việc xây dựng một bức tường chắn hỏa hoạn lây lan, để tránh cho các nước khác trong khu vực đồng euro lâm vào khủng hoảng ».

Khả năng Hy Lạp rời khỏi khu vực đồng euro

Khả năng Hy Lạp rời khỏi khu vực đồng euro không còn là điều cấm kỵ. Cuối tuần trước Ủy viên châu Âu đặc trách hồ sơ thương mại Karel de Gucht đã lỡ lời cho rằng, cả Ngân hàng Trung ương Châu Âu lẫn Ủy ban châu Âu đều đang nghiên cứu giải pháp này. BCE và Bruxelles liền sau đó đã bác bỏ tin trên. Nhưng dường như một số các tổ chức đang chuẩn bị để đối phó với kịch bản Hy Lạp ra khỏi khối euro. Một hãng chuyên in tiền đang sửa soạn để có thể ấn hành đồng drachme, đơn vị tiền tệ của Hy Lạp trong một thời gian rất ngắn.

Vấn đề đặt ra là liệu đây có phải là giải pháp giúp quốc gia này thoát khỏi khủng hoảng và xóa được khoảng nợ công tương đương với gần 150 % GDP hay không ?

Trả lời câu hỏi chia tay với khối euro sẽ có lợi hay không cho Hy Lạp, giáo sư kinh tế Daniel Cohen cho rằng trong ngắn hạn, câu trả lời sẽ là không. Trước hết một khi từ bỏ đồng euro để quay trở lại với đồng drachme, đơn vị tiền tệ quốc gia Hy Lạp sẽ bị mất giá 50 %. Điều đó có nghĩa là hàng nhập khẩu vào Hy Lạp sẽ trở thành một thứ xa xỉ phẩm. Lạm phát qua đó gia tăng. Ngành ngân hàng lâm vào cảnh lao đao trong một thời gian đầu.

Nhưng theo giáo sư Cohen, sau giai đoạn hỗn loạn ban đầu, sản xuất và xuất khẩu của Hy Lạp sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn. Tuy nhiên kịch bản này chỉ có thể xảy tới với điều kiện là chính quyền Athens thực sự có những biện pháp để vực dậy tăng trưởng để thu hút đầu tư cho giai đoạn ít nhất là từ 5 đến 10 năm sắp tới. Nhìn từ góc độ đó, sự ra đi của Hy Lạp sẽ là một « tai họa » đối với khối euro. Một quốc gia có trọng lượng chỉ bằng 2 % GDP của toàn khối, nhưng Hy Lạp sẽ làm lung lay toàn khối bởi vì sau Hy Lạp, một số các thành viên đang gặp khó khăn khác cũng sẽ ra đi.

Pháp nạn nhân đầu tiên trong trường hợp Hy Lạp rút lui khỏi vùng euro

Riêng đối với nước Pháp, một trong những đối tác chính của Hy Lạp sẽ bị thiệt hại nhiều nhất. Vào tháng 12/2011, tổng nợ công của Hy Lạp lên tới 368 tỉ euro tương đương với 160 % tổng sản phẩm nội địa nước này. Trong bốn tháng qua, Athens đã trả được bớt nợ, kéo tổng số nợ nói trên xuống còn 280 tỉ euro vào tháng 3/2012.

Châu Âu là chủ nợ lớn nhất của Hy Lạp do đang nắm giữ tới 291 trên tổng số 368 tỉ nợ của chính quyền Athens. Người dân châu Âu nắm giữ nợ của Hy Lạp qua ba ngả đó là tín dụng song phương giữa cấp nhà nước, qua trung gian Ngân hàng châu Âu BCE và qua Quỹ bình ổn tài chính FESF.

Nước Pháp hiện bị coi là một trong số những đối tác dấn thân nhiều nhất vào Hy Lạp vì thế cho nên, trong trường hợp Athens từ bỏ đồng euro, thì Pháp sẽ trở thành nạn nhân hàng đầu : thiệt hại của toàn nước Pháp đối với Hy Lạp sẽ lên tới khoảng 100 tỉ euro.

Thứ nhất Pháp đang kiểm soát đến 65 tỉ euro (23 %) nợ công của Hy Lạp. Thêm vào đó các ngân hàng Pháp còn nắm đến 38 tỉ tín dụng đã cấp cho các doanh nghiệp Hy Lạp. Thứ nhì là trong lĩnh vực xuât khẩu, Pháp là nhà cung cấp đứng hàng thứ 6 cho quốc gia vùng Địa Trung Hải này, đứng sau Đức, Nga, Ý, Trung Quốc và Hà Lan. Hy Lạp trong tư thế nhập siêu so với Pháp.

Điều đáng chú ý thứ ba là về phương diện đầu tư, theo thống kê được Ngân hàng Trung ương Hy Lạp cung cấp, đầu tư trực tiếp của Pháp vào Hy Lạp lên tới 2,8 tỉ euro, tương đương gần 3 % tổng số vốn đầu tư vào nước này. Như vậy Pháp là quốc gia đầu tư lớn hàng thứ tư đối với Hy Lạp. Chỉ riêng trong năm 2010 đã có tới 150 doanh nghiệp Pháp dấn thân vào thị trường Hy Lạp, hiện diện trong nhiều lĩnh vực kinh tế từ ngành phân phối đến dược phẩm, từ du lịch đến năng lượng, từ công nghiệp hàng không đến ngành sản xuất xe hơi.

Nhìn đến ngành ngân hàng, theo thẩm định của ông Eric Dor, giám đốc điều hành môn quản trị kinh doanh tại đại học Lille, miền bắc nước Pháp : qua trung gian của Ngân hàng Trung ương nước này, Ngân hàng Trung ương Pháp đã cho các ngân hàng Hy Lạp vay 16 tỉ euro. Bên cạnh đó trong kế hoạch xóa 50 % nợ công của Hy Lạp đang do các ngân hàng tư nhân quốc tế kiểm soát, các cơ quan tài chính của Pháp đã bị thiệt hại thêm 1,8 tỉ euro. Nhìn chung các ngân hàng Pháp đã cấp tới gần 40 tỉ euro tín dụng cho các tư nhân ở Hy Lạp. Nếu như Athens ra khỏi eurozone, và sử dụng đồng drachme, đơn vị tiền tệ của Hy Lạp lại mất giá thêm 50 % nữa thì coi như ngành tài chính của Pháp mất đi thêm một nửa khoản tiền 40 tỉ nói trên. Chỉ riêng ngân hàng Crédit Agricole sẽ bị mất hơn 2,5 tỉ euro.

Nói cách khác yếu kém tài chính và kinh tế của Hy Lạp sẽ gây vạ lây cho ngành ngân hàng Pháp. Ngoài những thiệt hại trực tiếp giới tài chính Pháp còn phải chịu tác động gián tiếp khi các cơ quan thẩm định cho rằng phần vốn lõi của các ngân hàng Pháp bị giảm đi, nhà nước Pháp phải chia sẻ một phần gánh nặng của Hy Lạp. Bản thân nước Pháp sẽ phải đi vay tín dụng của quốc tế với lãi suất cao hơn, nợ công của Pháp sẽ lại tăng lên và bản thân nước Pháp sẽ rơi vào các vòng luẩn quẩn. Hậu quả sau cùng là những cơ quan thẩm định về mức độ rủi ro như Standard & Poor's hay Fitch chỉ chờ có thế để hạ điểm tín nhiệm của Paris.

Thiệt hại đối với nước Đức của Thủ tướng Merkel cũng sẽ lớn không kém khi biết rằng Đức là đối tác thương mại và đầu tư hàng đầu của Hy Lạp.

Trước mắt cả châu Âu lẫn Hy Lạp cùng chưa biết là để rút khỏi khu vực đồng euro, thì Athens và Bruxelles sẽ phải làm những gì một cách cụ thể và về phương diện pháp lý, Bruxelles chưa biết trong trường hợp cần thiết, một thành viên có thể rút lui khỏi eurozone bằng cách nào.

Một mối băn khoăn khác cũng đang bắt đầu dấy lên đó là điều gì sẽ xảy tới nếu như Hy Lạp mất khả năng thanh toán nhưng vẫn trụ lại trong khối euro ? Nếu như Athens từ chối tiếp tục áp dụng các biện pháp thắt lưng buộc bụng mà cộng đồng quốc tế đã áp đặt, thì Hy Lạp bị khu vực đồng euro, Ngân hàng Trung ương Châu Âu và Quỹ Tiền tệ Quốc tế cắt viện trợ tài chính. Hy Lạp khi đó lập tức lâm vào cảnh vỡ nợ nhưng điều đó không bắt buộc quốc gia này phải rời khỏi khối euro. Đây là kịch bản mà châu Âu đang lo ngại hơn cả.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#20 Posted : Wednesday, May 30, 2012 4:12:57 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,302

Thanks: 5706 times
Was thanked: 2482 time(s) in 1735 post(s)
RFI - THỨ BA 29 THÁNG NĂM 2012

Công trái châu Âu là chìa khóa đem lại tăng trưởng cho khối euro ?

UserPostedImage
Thủ tướng Hy Lạp Panagiotis Pilrammenos (trái) và Tổng thống Pháp François Hollande (phải) gặp gỡ bên lề hội nghị thượng đỉnh châu Âu tại Bruxelles ngày 23/05/2012.
REUTERS/Michel Euler/Pool

Thanh Hà
Tại cuộc họp không chính thức giữa các nguyên thủ quốc gia và thủ tướng chính phủ châu Âu vào tuần trước tổ chức tại Bruxelles, mọi chí ý đã tập trung vào tân tổng thống Pháp. François Hollande đến Bruxelles với đề nghị đưa vấn đề công trái châu Âu eurobond vào các cuộc thảo luận để tạo ra tăng trưởng cho khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu. Eurobond là gì ? Đâu là hiệu quả để đem lại tăng trưởng cho khu vực đồng euro và đâu là những giới hạn của sáng kiến do tân tổng thống Pháp đề xướng ?

Thống kê mới nhất của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OCDE dự báo tăng trưởng kinh tế trong khu vực đồng euro cho năm 2012 sẽ là trừ 0,1 %. Các công trình nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới hay Quỹ Tiền tệ Quốc tế cũng không lạc quan hơn. Để so sánh thì tổng sản phẩm nội địa của Hoa Kỳ tăng 2,4 %.

Tiêu điều nhất là tình cảnh của Hy Lạp(– 5,3 %),, Bồ Đào Nha (– 3,2 %), Ý(– 1,7 %) và Tây Ban Nha (– 1,6 %). Chỉ số tiêu thụ tại các nước này cũng tuột dốc không phanh : – 6,6 % trong trường hợp của Hy Lạp, và -2,9 % tại Tây Ban Nha. Chỉ số đầu tư cũng bị thu hẹp ( – 13,4 % tại Hy Lạp).Đầu tàu kinh tế của eurozone là Đức cũng chỉ kỳ vọng vào thành tích là 1,2 % trong năm nay và tỷ lệ tăng trưởng đó cao hơn gấp đôi so với Pháp.

Các chuyên gia cho rằng sự co cụm của kinh tế châu Âu nói trên là hậu quả trực tiếp do các biện pháp khắc khổ liên tục nối đuôi nhau ra đời và được áp dụng trên toàn khối. Chính vì thế mục tiêu tạo ra tăng trưởng do tân tổng thống François Hollande đề xướng ngày càng được các đối tác châu Âu hưởng ứng. Theo quan điểm của giáo sư kinh tế giảng dậy tại trường Khoa học Chính trị Sciences Po Paris, Eli Cohen, coi tăng trưởng kinh tế là ưu tiên hàng đầu không chỉ là những lời tuyên bố chung chung để chiêu dụ cử tri. Đằng sau hai chữ « tăng trưởng » còn có một thực tế. Trả lời trên đài truyền hình France 5 trong khuôn khổ chương trình C’est dans l’Air, đó là việc tạo nên của cải để bảo đảm đời sống cho người dân. Giáo sư Cohen trở lại với định nghĩa thế nào là tăng trưởng kinh tế :

« Năm nay, tỷ lệ tăng trưởng trong khu vực đồng euro là ở số âm. Đây là điều hết sức đáng lo ngại. Cụ thể là dân số trong khu vực tăng lên, nhu cầu kinh tế của năm nay lớn hơn so với năm ngoái, nhưng khối euro lại làm ra ít của cải hơn để đáp ứng nhu cầu đó. Hậu quả là đời sống của người dân đi xuống. Đó là hiện tượng kinh tế suy thoái.

Vậy thì phải làm thế nào để đem lại tăng trưởng ? Bởi vì có tăng trưởng kinh tế, khối euro mới có thể bảo đảm được việc làm và một mức lương nhất định cho người dân. Thêm vào đó một nền kinh tế có làm ra của cải thì mới có thể tính tới chuyện trả bớt nợ đã vay. Có như thế chúng ta mới có thể nói tới chuyện giảm tỷ lệ nợ so với tổng sản phẩm nội địa.

Nếu mục tiêu của các chính sách kinh tế vĩ mô là giảm bội chi ngân sách, giảm bớt nợ để từ đó tái tạo niềm tin với thị trường, với các nhà đầu tư, đề rồi giới tư bản đầu tư vào một nền kinh tế, và qua đó đem lại một làn gió mới cho kinh tế, đem lại tăng trưởng, thì chúng ta biết rằng mô hình đó không thể xảy tới ».

Tại sao mục tiêu giảm nợ công và bội chi ngân sách không đem lại mục tiêu mong muốn như là những gì đang xảy tới với Hy Lạp hay Bồ Đào Nha ? Giáo sự Eli Cohen phân tích thêm :

« Nếu nhìn vào tăng trưởng của Pháp trong hai quý gần đây nhất, chúng ta có tất cả bốn động cơ tăng trưởng. Đó là xuất khẩu, tiêu thụ nội địa, đầu tư và chi tiêu công cộng.

Nhìn vào động cơ thứ nhất : Cán cân thương mại phải thặng dư thì một nền kinh tế mới có thể trông cậy vào đó như một đòn bẩy để tạo ra tăng trưởng và việc làm cho người dân. Chúng ta biết rằng cán cân thương mại của Pháp thường xuyên bị thâm hụt. Tức là đầu máy này không đem lại tăng trưởng cho kinh tế Pháp và đó là điều đã liên tục kéo dài trong tám năm qua.

Động lực tăng trưởng quan trọng thứ nhì là mức tiêu thụ nội địa. Thống kê gần đây cho thấy mức tiêu thụ của tư nhân đang bị chựng lại. Yếu tố thứ ba tạo ra tăng trưởng, là đầu tư. Năm ngoái, chỉ số này tương đối vững chủ yếu là nhờ đầu tư vào hệ thống giao thông. Nhưng bước sang năm nay, nhịp độ đầu tư giảm hẳn. Vậy chỉ còn có một động cơ tạo ra tăng trưởng cuối cùng là các khoản chi tiêu và đầu tư công cộng. Nếu như mục tiêu duy nhất của chính sách kinh tế là giảm bớt nợ công điều đó có nghĩa là nước Pháp lần lượt khóa tất cả các động cơ đem lại tăng trưởng. Hậu quả là tình hình càng tiếp tục đi xuống và mục tiêu vực dậy kinh tế càng khó khăn hơn. "Tăng trưởng" đơn giản là việc sử dụng một cách có hiệu quả các phương tiện sản xuất có trong tay (như lao động, vốn và những tiến bộ kỹ thuật) để tạo ra của cải, nuôi sống người dân ».

Đương nhiên là phải thanh toán nợ vì không ai có thể đi vay mãi mà không trả nợ. Theo quan điểm của chuyên gia tài chính Marc Fiorentino các biện pháp thúc đẩy kinh tế bằng chi tiêu công cộng chưa bao giờ đem lại hiệu quả :

« Cú sốc đối với dư luận Đức là châu Âu như thể đang chờ một phép lạ. Một số nước vẫn muốn tiếp tục đi vay để tài trợ các chương trình kích thích kinh tế. Trong lúc nợ của châu Âu đã lên tới mức báo động và các kế hoạch kích cầu bằng chi tiêu công cộng không bao giờ có hiệu quả, kể cả khi được áp dụng tại Hoa Kỳ. Không thể nói là nước Pháp đang áp dụng chính sách thắt lưng buộc bụng. Đó là điều khó hiểu đối với dư luận Đức, bởi vì bản thân nước Đức đã phải cắt giảm chi tiêu, tiết kiệm trong 15 năm để có được những thành quả kinh tế như ngày nay. Các nước đang gặp khó khăn trong khối euro đã tiêu xài quá trớn để lâm vào khủng hoảng như hiện tại. Giờ đây, những nước này muốn tiếp tục đi vay để tạo ra tăng trưởng. Nhưng do họ không còn có đủ uy tín nên, yêu cầu Đức đứng ra bảo đảm để có thể được vay với lãi suất thấp. Nhìn dưới góc độ đó đương nhiên, người Berlin không thể chấp nhận luận điểm được Paris đưa ra ».

Eurobond là gì ?

Về mặt nguyên tắc thì đó là một loại công trái do một cơ quan tài chính của châu Âu phát hành và quản lý.

Công cụ tài chính này dựa trên sự « san sẻ về mức độ rủi ro » giữa các thành viên để bảo vệ lẫn nhau khi cần huy động vốn, tránh cho một nước thành viên khối euro trở thành mục tiêu tấn công của các nhà đầu cơ khi cần vay tín dụng và qua đó làm suy yếu toàn khối. Với eurobond 17 nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu sẽ có thể vay tín dụng với một lãi suất duy nhất. Sáng kiến phát hành công trái ở cấp châu Âu do tân tổng thống Pháp đề xuất đang ngày càng thu hút chú ý và được hưởng ứng từ phía các đối tác châu Âu, đặc biệt là từ phía các nước đang gặp khó khăn như Ý hay Hy Lạp. Gần đây hơn, từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế đến Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế cũng đã nghiêng về giải pháp này, coi đó là phương tiện hiệu quả để vực dậy kinh tế châu Âu. Riêng Đức và một vài nước như Phần Lan thì vẫn chống đối vì lo ngại những thành viên kém kỷ luật về phương diện tài chính sẽ còn tiếp tục tự do tiêu xài. Thủ tướng Merkel không muốn khối euro phát hành eurobond, vì Berlin lo ngại với lãi suất chung cho toàn khối, một số quốc gia lại càng dễ đi vay để tiêu xài vô tội vạ.

Trả lời đài truyền hình France 5, Christian Chevagneux tổng biên tập hai tạp chí kinh tế Alternatives Economiques và l’Economie Politique giải thích cặn kẽ hơn về nguyên tắc vận hành của công trái do châu Âu phát hành :

« Hiện nay để tài trợ thâm hụt ngân sách nhà nước, mỗi quốc gia phải đi vay với một lãi suất nhất định. Pháp, Đức, Ý hay Hy Lạp thì đều phải đi vay, nhưng mỗi quốc gia được vay với lãi suất khác nhau. Công trái châu Âu – eurobond sẽ do châu Âu phát hành. Đó sẽ là một cơ quan của châu Âu trực thuộc Ngân hàng Trung ương châu Âu. Và cơ quan đó phải đứng ra để thu thập thông tin về nhu cầu tín dụng của các thành viên trong khối euro. Từ đó, cơ quan này sẽ phát hành công trái tương đương với nhu cầu của toàn thể các nước trong khu vực. Như vậy, công trái được phát hành với một lãi suất duy nhất. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào ấn định được lãi suất chung đó.

Hiện tại Đức đi vay với lãi suất từ 1,5 đến 2 %. Nước Pháp phải đi vay với lãi suất từ 2,5 đến 3 % trong lúc Tây Ban Nha phải đi vay với lãi suất là 6 %. Với công trái châu Âu eurobond Đức có nhiều khả năng phải trả tiền lãi cao hơn trong lúc Tây Ban Nha thì được hưởng lợi nhờ được cấp tín dụng với lãi suất thấp hơn so với hiện tại. Chính để tránh xảy ra trường hợp này mà cơ quan chuyên quản lý và phát hành công trái của châu Âu sẽ hoạt động gần giống như một hãng bảo hiểm. Cơ quan quản lý và phát hành công trái châu Âu có thể quy định lãi suất chung của eurobond là 3 % chẳng hạn, để huy động vốn. Rồi cho Đức vay lại với lãi suất là 1,5 % và Tây Ban Nha là 4 hay 5 % . Nghĩa các nước thành viên có mức độ rủi ro thấp – như là trường hợp của Đức - thì được vay với lãi suất thấp. Ngược lại các thành viên không quản lý tốt về phương diện tài chính thì sẽ phải trả lãi suất cao hơn. Cụ thể là Tây Ban Nha nhờ cơ eurobond sẽ chỉ phải đi vay với lãi suất từ 4 đến 5 % thay vì 6 % hay hơn thế nữa ».

Nói cách khác, nhờ vào công trái của châu Âu mà một nước thành viên yếu kém như Hy Lạp hay Tây Ban Nha, Ý không trở thành mục tiêu tấn công của các nhà đầu tư. Lãi suất công trái của châu Âu đương nhiên phải được ấn định căn cứ từ một số các điều khoản và chỉ số kinh tế như tăng trưởng, tỷ lệ nợ công so với GDP, tiềm năng cạnh tranh hay tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước so với tổng sản phẩm nội địa … Đó là những chỉ số và những điều khoản đã được quy định trong Hiệp ước châu Âu. Đương nhiên một khi khối euro phát hành và quản lý công trái eurobond thì các nước thành viên không còn hoàn toàn làm chủ chính sách về thuế khóa và chi tiêu của mình. Những nước tiêu xài quá độ đương nhiên sẽ bị kỷ luật. Ngoài ra, để được sử dụng eurobond thì một thành viên trong khối euro cũng phải giải trình với toàn khối về các khoản chi tiêu của mình và đó phải là các khoản chi tiêu với viễn cảnh tạo ra tăng trưởng.

Nước Đức của thủ tướng Angela Merkel không hoàn toàn thuyết phục vì luận điểm này vì như vừa nói Berlin không muốn phải đi vay lãi suất cao hơn so với hiện tại, vì Berlin không muốn phải chia sẻ gánh nặng của những nước như Hy Lạp hay Bồ Đào Nha, Ailen … Đồng thời người Đức phân biệt sự tăng trưởng thực sự với sự tăng trưởng kinh tế giả tạo.

Trong mắt người Đức, dùng đồng tiền của nhà nước để tạo ra tăng trưởng là một sự tiếp sức giả tạo trái ngược hẳn với mô hình mà nước Đức đã đi theo : tăng trưởng thực sự có được là nhờ nước Đức đã đánh cuộc vào tiềm năng cạnh tranh của nền công nghiệp, để từ đó chinh phục thị trường quốc tế, duy trì vị thế « vô địch » về thương mại của mình. Khác với Pháp, hay Hoa Kỳ Đức luôn trong tình thế « xuất siêu ». Để có được những thành quả như này hôm nay, nước Đức đã từ cuối những năm 1990 đã liên tục « hy sinh » để có được một guồng máy sản xuất hiệu quả. Cụ thể là người Đức chấp nhận ghìm mức lương, để kích thích đầu tư và nâng cao năng suất. Bản thân nước Đức đã liên tục tiết kiệm các khoản chi tiêu để trả bớt nợ công –hậu quả từ ngày thống nhất đất nước – để tái tạo lòng tin đối với các nhà đầu tư. Chính vì thế mà ngày nay, bất chấp khủng hoảng 2008-2009, bất chấp khủng hoảng của khối euro, Berlin vẫn có một guồng máy sản xuất lành mạnh, một cán cân thương mại thặng dư, tỷ lệ thất nghiệp thấp vào bậc nhất châu Âu và một tỷ lệ tăng trưởng khiến các đối tác trong khu vực đồng euro ganh tỵ.

Tất cả các yếu tố trên giải thích vì sao người Đức không muốn một mô hình tăng trưởng mà Pháp và nhiều nước trong khối euro đang hướng tới.

Câu hỏi đặt ra là liệu trong số 17 thành viên khu vực đồng euro, có bao nhiêu quốc gia có thể noi theo gương nước Đức ? Mạng lưới công nghiệp của Hy Lạp vô cùng yếu kém và Hy Lạp chỉ có thể trông cậy vào một vài lĩnh vực kinh tế « mũi nhọn » như là du lịch, ngành đóng tàu hay dịch vụ giao thông hàng hải. Đối với Tây Ban Nha thì các hoạt động kinh tế tập trung vào lĩnh vực địa ốc.

Có lẽ đây là lý do vì sao ngày càng có nhiều tiếng nói trong số các nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu hưởng ứng đề nghị của tân tổng thống Pháp, François Hollande. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OCDE gần đây đã chính thức ủng hộ sáng kiến phát hành công trái phiếu ở cấp châu Âu. Một điều chắc chắn đó là danh từ « eurobond » không còn là điều cấm kỵ tại các cuộc họp của Châu Âu nhưng đồng thời để đưa sáng kiến ấy vào thực hiện không phải là việc dễ làm và tổng thống Pháp François Hollande sẽ phải san bằng những bất đồng với lãnh đạo Đức là thủ tướng Merkel để những tờ eurobond đầu tiên được phát hành.

Về mặt pháp lý việc phát hành và quản lý công trái của châu Âu cũng sẽ không đơn giản và cũng chưa chắc là công cụ tài chính này sẽ được tất cả các nước thành viên eurozone dễ dàng đón nhận. Bởi để nhận được sự yểm trợ ở cấp châu Âu, các nước thành viên sẽ mất đi sự độc lập vì chính sách thuế khóa và sẽ phải giải trình với cơ quan chức năng về các khoản chi tiêu !
Users browsing this topic
Guest
2 Pages12>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.