Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

26 Pages«<23242526>
Options
View
Go to last post Go to first unread
DongA  
#481 Posted : Thursday, July 17, 2014 5:02:09 PM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Giáo sư dạy về sự độc ác và Kitô giáo

Ghi chú của người dịch:
Có nhiều phiên bản về cuộc đối thoại này, tuy nhiên đây là một phiên bản khá chi tiết từ: htxp://www.godandscience.org/apologetics/professor.html
ĐôngA xin tạm dịch như sau:


“Để tôi giải thích vấn đề khoa học đối với Chúa Giêsu Kitô”. Vị giáo sư (GS) vô thần dạy triết học ngưng lại và sau đó yêu cầu một trong những sinh viên mới của mình (SV1) đứng lên và ông hỏi:

GS: “Bạn là một Kitô hữu, phải không ?”

SV1: “Thưa ngài, vâng”.

GS: “Vì thế, bạn tin vào Thiên Chúa?”

SV1: “Chắc chắn rồi”.

GS: “Thiên Chúa có tốt không?”

SV1: “Chắc chắn rồi! Thiên Chúa thì tốt lành”.

GS: “Có phải Thiên Chúa toàn năng? Thiên Chúa có thể làm bất cứ điều gì?”

SV1: “Đúng”.

GS: “Bạn tốt hay xấu?”

SV1: “Kinh Thánh nói tôi xấu xa”.

Vị giáo sư mỉm cười tỏ vẻ hiểu biết.

GS: “À há! KINH THÁNH!” Ông ta đắn đo một chút rồi nói tiếp:

GS: “Đây là một điều dành cho bạn. Hãy nói rằng có một người bệnh ở đây và bạn có thể chữa anh ta. Bạn có thể làm điều đó. Vậy bạn có giúp đỡ họ không? Bạn có cố gắng không?”

SV1: “Vâng thưa ngài, tôi sẽ”.

GS: “Vì vậy, bạn là người tốt ...!”

SV1: “Tôi sẽ nói rằng không”.

GS: “Tại sao bạn lại nói thế? Bạn sẽ giúp cho người bệnh và người bị thương tật nếu bạn có thể ... trong thực tế hầu hết chúng ta sẽ làm nếu chúng ta có thể .... còn Thiên Chúa thì không”.

[Không có câu trả lời]

GS: “Thiên Chúa không làm điều này, đúng không? Anh trai tôi là một Kitô hữu, ông ấy bị chết vì ung thư mặc dù ông đã cầu nguyện với Chúa Giêsu để chữa lành cho ông. Làm thế nào mà Chúa Giêsu tốt cho được? Hừm? Bạn có thể trả lời được điều này không?”

[Không có câu trả lời]

Ông già có vẻ thông cảm:

GS: “Không, bạn không có thể trả lời, phải không?” Ông nhấp một ngụm nước từ một ly trên bàn của mình để cho các sinh viên thời gian tạm nghỉ. “Trong triết học, bạn phải cùng đi dễ dàng với những điều mới lạ. Hãy bắt đầu một lần nữa, anh bạn trẻ, đó có phải là Thiên Chúa thì tốt lành?”

SV1: “Dạ ... Vâng”.

GS: “Sa-tan tốt lành?”

SV1: “Không”

GS: “Satan đến từ đâu?”

Anh sinh viên ngập ngừng: “Từ ... Thiên Chúa ..”.

GS: “Đúng vậy, Thiên Chúa tạo nên Sa-tan, đúng không?”

Ông già vuốt mái tóc thưa thớt của mình và quay sang đám sinh viên rồi nhếch mép cười.

GS: “Anh chị em, tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ có rất nhiều điều vui trong lớp học kỳ này” Ông trở lại vấn đề về Kitô giáo. “Nói cho tôi biết, các bạn, có điều ác trong thế giới này không?”

SV1: “Vâng, thưa ngài có”.

GS: “Sự ác ở khắp mọi nơi, phải không? Có phải Thiên Chúa đã tạo nên tất cả mọi thứ ?”

SV1: “Đúng”

GS: “Ai tạo ra điều ác?”

[Không có câu trả lời]

GS: “Có bệnh tật trong thế giới này không? Rồi sự vô đạo đức, sự thù ghét, sự xấu xí, tất cả những điều khủng khiếp, chúng có tồn tại trong thế giới này không?”

Các học sinh vặn vẹo đôi chân của mình rồi trả lời: “Có”.

GS: “Ai tạo ra chúng?”

[Không có câu trả lời]

Vị giáo sư đột nhiên lớn tiếng với đám sinh viên của mình:

GS: “Ai là kẻ đã tạo ra chúng? Làm ơn nói cho tôi biết”. Để kết thúc giống như cái vào tát khuôn mặt của anh sinh viên theo Ki Tô giáo. Bằng một giọng nói nhỏ, vị giáo sư hỏi, “Thiên Chúa tạo ra mọi điều ác, đúng không chú em?”

[Không có câu trả lời]

Các sinh viên cố gắng giữ im lặng, với ánh mắt đăm đăm và chịu thua. Đột nhiên, vị giảng viên đi nhanh lên trước lớp như một con báo già. Cả lớp học như bị mê hoặc. Ông tiếp tục:

GS: “Hãy nói cho tôi, làm thế nào mà Thiên Chúa này tốt nếu đã tạo ra mọi điều ác trong suốt tất cả các thời kỳ?” Vị giáo sư dùng tay vòng quanh để bao gồm sự gian ác của thế giới: “Tất cả những hận thù, tàn bạo, mọi nỗi đau, mọi sự tra tấn, tất cả cái chết, sự xấu xa và tất cả sự đau khổ được tạo ra bởi Thiên Chúa tốt lành này ở mọi nơi trên thế giới, phải không, chàng trai?”

[Không có câu trả lời]

GS: “Anh không nhìn thấy nó ở khắp nơi à? Đúng không?” Vị giáo sư nghiêng vào mặt của anh sinh viên một lần nữa và thì thầm: “Đức Chúa Trời có tốt không?”

[Không có câu trả lời]

GS: “Anh có tin vào Chúa Giêsu Kitô không, chú bé?”

Tiếng nói của anh sinh viên như phản bội lại ông khi nói: “Vâng, thưa giáo sư, tôi tin”.

Ông già lắc đầu buồn bã:

“Khoa học nói rằng bạn có năm giác quan mà bạn sử dụng để xác định và quan sát thế giới chung quanh bạn, bạn đã bao giờ nhìn thấy Chúa Giêsu?”

SV1: “Không, thưa giáo sư, tôi chưa bao giờ nhìn thấy Ngài”.

GS: “Rồi, cho tôi biết nếu bạn đã từng nghe Chúa Giêsu của bạn nói?”

SV1: “Không, thưa ngài, tôi không nghe Giêsu nói”.

GS: “Bạn đã bao giờ cảm thấy Chúa Giê-su của bạn, nếm thử Chúa Giêsu hoặc ngửi Chúa Giêsu của bạn ... trong thực tế, bạn có bất kỳ nhận thức nào qua giác quan về Thiên Chúa của bạn?”

[Không có câu trả lời]

GS: “ Xin vui lòng trả lời cho tôi”.

SV1: “Không, thưa ngài, tôi sợ là tôi không có (câu trả lời)”.

GS: “Anh SỢ ... bạn có sợ không?”
SV1: “Không, thưa ngài”.
GS: “Thế bạn vẫn tin vào Thiên Chúa à?”
SV1: “... Đúng ..”.
GS: “Điều đó cần có ĐỨC TIN!” Vị giáo sư mỉm cười và nhấn mạnh một cách thận trọng: “Theo các quy tắc của thực nghiệm, kiểm chứng, nghi thức có thể chứng minh, khoa học cho biết Thiên Chúa của bạn không hiện hữu. Này chú bé, Thiên Chúa của bạn ở đâu bây giờ?”

[Anh sinh viên không trả lời]

GS: “Xin vui lòng ngồi xuống đi".

Kitô hữu đầu tiên ngồi xuống ... anh ta đã bị đánh bại.

Một Kitô hữu khác giơ tay lên:

SV2: “Giáo sư, tôi có thể giải quyết điều này cho lớp học?”

Vị giáo sư quay lại và mỉm cười. “À, một Kitô hữu trong đội tiên phong! Hãy đến, đến đây, người bạn trẻ. Nói chuyện về một số trí tuệ thích hợp để thu thập”.

Chàng Kitô hữu nhìn quanh lớp. “Thưa giáo sư, ngài đang nói một điều thú vị. Bây giờ tôi có một câu hỏi cho ngài là có sức nóng không?”

Vị giáo sư trả lời: “Đúng có sức nóng”

SV2: “Có sức lạnh không?”

GS: “Đúng, chú bé à, cũng có sức lạnh”

SV2: “Không, thưa ngài, không có sức lạnh”.

Nụ cười của vị giáo sư đóng băng. Phòng học đột nhiên trở nên rất yên tĩnh. Kitô hữu thứ hai tiếp tục.

SV2: “Ngài có thể có rất nhiều sức nóng, sức nóng nhiều hơn nữa, siêu nhiệt, mega-nhiệt, sức nóng màu trắng, một ít sức nóng hoặc không có sức nóng, nhưng chúng ta không có bất cứ điều gì được gọi là “lạnh” cả. Chúng ta có thể đạt tới 273 độ dưới số không, ở đây không có sức nóng, sau đó chúng ta không thể tiến tới thêm nữa. Không có sức lạnh, nếu không chúng ta sẽ có thể tới độ lạnh hơn -273 ° C. Thưa với giáo sư, ngài thấy đấy, lạnh chỉ là một chữ mà chúng ta sử dụng để mô tả sự thiếu vắng sức nóng. Chúng ta không thể đo được sức lạnh. Đun nóng, chúng ta có thể đo lường trong đơn vị nhiệt năng vì sức nóng là năng lượng, sức lạnh không phải là sự đối nghịch với sức nóng, thưa ngài, nó chỉ là sự thiếu vắng sức nóng".

Cả lớp im lặng, một cái kim đã rơi xuống nơi nào đó trong lớp học.

SV2: “Thưa giáo sư, có sự tối không?”

GS: “Đó là một câu hỏi ngớ ngẩn, chú bé, đêm là gì nếu nó không phải là sự tối? Bạn đang nhận được ở ...?”

SV2: “Vì vậy, ngài nói rằng có sự tối?”

GS: “Đúng...”.

SV2: “Thưa giáo sư, ngài lại sai một lần nữa rồi. Sự tối không phải là một cái gì đó, nó chỉ là sự thiếu vắng của một cái gì đó. Ngài có thể có ánh sáng yếu, ánh sáng bình thường, ánh sáng mạnh, ánh sáng nhấp nháy ... nhưng nếu ngài không có ánh sáng liên tục, ngài sẽ không có gì và đó gọi là sự tối, phải không? Đó là chỉ ý nghĩa mà chúng ta sử dụng để định nghĩa cho một chữ. Trong thực tế, đó không phải là sự tối. Nếu đó là sự tối, thì ngài sẽ có thể làm cho bóng tối sẫm màu hơn và xin ngài cho tôi một cái lọ của sự tối. Thưa giáo sư, ngài có thể .. . đưa cho tôi một lọ sự tối với sự tối hơn nữa không?"

Mặc dù vị giáo sư mỉm cười với anh sinh viên trẻ trân táo trước mặt, nhưng ông cho điều này sẽ ám chỉ đây sẽ là một khóa học tốt. “Anh bạn trẻ, làm ơn cho chúng tôi biết quan điểm của bạn là gì”

SV2: “Thưa giáo sư vâng. Quan điểm của tôi là tiền đề triết học của sai lầm ngay từ đầu và như vậy kết luận của ngài phải là sự lầm lỗi ...”.

Vị giáo sư phát cáu “Sai lầm ...? Bạn dám nói thế ...!”

SV2: “Thưa ngài, tôi có thể giải thích những gì tôi muốn nói không?”

Cả lớp học lắng nghe.

GS: “Giải thích ... ừ, giải thích đi ..”. Giáo sư đã có một cố gắng đáng khâm phục để lấy lại sự bình tĩnh, đột nhiên ông trở nên hòa nhã. Ông vẫy tay để cả lớp im lặng cho anh sinh viên này nói tiếp.

Người Kitô hữu giải thích tiếp: “Ngài đang đưa ra tiền đề có tính chất đôi (duality - nhị nguyên). Đó là thí dụ có sự sống và rồi có sự chết; một Thiên Chúa tốt lành và một Thiên Chúa xấu xa, Ngài đang có khái niệm về Thiên Chúa như là một cái gì đó hữu hạn, một cái gì đó mà chúng ta có thể đo được, khoa học thậm chí không thể giải thích được một ý nghĩ. Khoa học sử dụng điện và từ tính.. nhưng chưa bao giờ nhìn thấy, để hiểu rõ về điều này còn ít hơn nữa. Xem sự chết như trái ngược với sự sống, quên rằng thực tế cái chết không hề hiện hữu là một điểm quan trọng. Cái chết không phải là đối nghịch của sự sống, chỉ đơn thuần là sự thiếu vắng sự sống”. Người thanh niên nắm một tờ báo lấy từ bàn làm việc của một người hàng xóm đã đọc. “Thưa giáo sư, đây là một trong những tờ báo lá cải ghê tởm nhất mà đất nước này có. Có điều vô đạo đức như thế này không?”

GS: “Tất nhiên có, bây giờ nhìn ..”.

SV2: “Thưa giáo sư ngài lại sai một lần nữa, ngài thấy đấy, vô đạo đức chỉ là sự thiếu vắng đạo đức. Có sự bất công không? Bất công là sự thiếu vắng công lý. Có sự ác không?” Người Kitô hữu dừng lại một chút và nói tiếp. “Không phải là sự thiếu vắng cái tốt sao?”

Vị giáo sư tím mặt, ông tức giận đến độ không nói nên lời.

Người Kitô hữu nói tiếp: “Thưa giáo sư, tất cả chúng ta đồng ý có cái ác trên thế giới, rồi nếu Thiên Chúa hiện hữu, công việc của Ngài phải được hoàn thành thông qua tác dụng của cái ác1. Công việc nào mà Thiên Chúa hoàn thành? Kinh Thánh cho chúng ta biết điều này là ý chí tự do của chúng ta để xem mỗi người chúng ta sẽ lựa chọn điều tốt lành hơn là lựa chọn điều ác độc2”.


1- Romans 9:17; Exodus 9:16
2- Psalm 34:14, Ecclesiastes 12:14, Amos 5:14, Romans 12:9, Peter 3:11, John 1:11


Vị giáo sư tự kiềm chế: “Là một nhà triết học có tính cách khoa học, tôi không coi vấn đề này có bất cứ điều gì để làm với bất kỳ sự lựa chọn nào, là một người hiện thực, tôi hoàn toàn không nhận ra các khái niệm về Thiên Chúa, hay bất kỳ yếu tố thần học nào khác, như là một phần của phương trình (equation) trên thế giới, bởi vì Thiên Chúa không thể quan sát được”.

Người Kitô hữu trả lời: “Tôi có thể nghĩ rằng sự thiếu vắng về luật đạo đức của Thiên Chúa trên thế giới này có lẽ là một trong những hiện tượng quan sát được hầu hết đi, các tờ báo được hàng tỷ đô la cho tường thuật mỗi tuần! Thưa giáo sư, ngài nói cho tôi biết đi là ngài đã dạy cho sinh viên của ngài là chúng ta đã tiến hóa thành người từ một con khỉ?"

GS: “Anh bạn trẻ này! Đúng đấy, nếu anh đang đề cập đến quá trình tiến hóa tự nhiên, lẽ tất nhiên là tôi làm”.

SV2: “Ngài đã bao giờ quan sát được quá trình tiến hóa với đôi mắt của chính mình không, thưa ngài?”

Vị giáo sư nghiến răng, im lặng nhìn anh sinh viên của mình với ánh mắt lạnh lùng.

SV2: “Thưa giáo sư, không có ai đã từng quan sát thấy quá trình tiến hóa đang xảy ra và thậm chí là không thể chứng minh rằng quá trình này là một nỗ lực đang tiếp diễn, ngài không dạy ý kiến của ngài, thưa ngài có đúng không? Bây giờ ngài không phải là một nhà khoa học, nhưng một người giảng đạo?”

Vị giáo sư rít lên: “Tôi sẽ bỏ qua cử chỉ bất nhã của anh trong ánh sáng thảo luận về triết học của chúng ta. Bây giờ, anh bạn đã xong chưa?”.

SV2: “Vì vậy ngài không chấp nhận luật đạo đức của Thiên Chúa để làm những gì là sự công bằng?”

GS: “Tôi tin những gì - đó là khoa học!”

SV2: “À! KHOA HỌC!” anh sinh viên cười lớn và nói tiếp: “Thưa ngài, ngài nêu đúng khoa học là nghiên cứu về các hiện tượng quan sát được. Khoa học cũng là một tiền đề sai lầm ..”.

Vị giáo sư ấp úng: “KHOA HỌC là sai lầm ..?”.

Tiếng ồn ào trong lớp nổi lên. Người Kitô hữu vẫn đứng cho đến khi ồn ào đã giảm và nói: “Để tiếp tục về việc ngài đã làm trước đó với một sinh viên khác, tôi có thể cung cấp cho ngài một thí dụ về những gì tôi muốn nói không?”

Vị giáo sư giữ im lặng một cách khôn ngoan.

Người Kitô hữu nhìn quanh phòng rồi nói: “Có ai trong lớp ai đã từng nhìn thấy tâm trí của vị giáo sư này”? Lớp học như vỡ ra trong tiếng cười. Người Kitô hữu chỉ về hướng ông già đã bị bẻ gẫy về lập luận: “Có ai ở đây ai đã từng nghe tâm trí của giáo sư ... cảm thấy tâm trí của giáo sư, chạm vào hoặc ngửi thấy tâm trí của giáo sư? Dường như không có ai đã làm được như vậy”.

Người Kitô hữu lắc đầu lộ vẻ buồn bã rồi nói tiếp: “Có vẻ như không ai ở đây đã có bất kỳ nhận thức nào theo giác quan về tâm trí của giáo sư. Vâng, theo các quy tắc của kinh nghiệm, ổn định, nghi thức có thể chứng minh, khoa học, tôi tuyên bố rằng giáo sư không có tâm trí”.

Cả lớp ở trong tình trạng hỗn loạn.

Người Kitô hữu ngồi xuống.


Nếu bạn không nắmn rõ được ý chính, thì đây là một tóm tắt ngắn gọn: Lập luận của người “không tin” là kể từ khi Thiên Chúa tạo ra tất cả mọi thứ, Ngài phải chịu trách nhiệm cho việc tạo ra điều ác. Tuy nhiên, “ác” là một chữ mà chúng ta sử dụng để mô tả những điều nào đó xảy ra với chúng ta (hầu hết trong số đó được gây ra bởi những người khác). Trong thực tế, điều ác không phải là một điều thực sự được tạo ra và do đó nó không thuộc lĩnh vực được tạo ra bởi Thiên Chúa. Vì vậy, luận cứ căn bản đưa ra là điều sai lầm. Như đã nêu trên trang web này, điều ác được cho phép bởi Thiên Chúa để tự do có thể lựa chọn giữa tốt (Thiên Chúa) hay xấu (không có Thiên Chúa). Nếu không có cái ác, không có thể lựa chọn giữa thiện và ác, và vũ trụ sẽ không có mục đích cuối cùng.
--------------------------------


Ghi chú của người dịch: Dù khá chi tiết, nhưng phiên bản này đã không nêu ra sự thương yêu giữa người với người, giữa người với thiên nhiên. Vì thiếu yêu thương sẽ đưa đến tàn ác, ích kỷ, tham lam, độc đoán, chiến tranh, tàn phá và hủy hoại môi trường v.v... v.v...
CNH  
#482 Posted : Thursday, October 30, 2014 8:29:00 AM(UTC)
CNH

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 12/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: none

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Tình cờ đọc được bài viết quá hay và chí lý của tác giả Trường Sơn trên web page bacaytruc.com, nên tôi mạn phép đăng lại ở đây để xin ý kiến của các bậc thức giả đồng thời chia sẻ với các anh em đồng đạo hoặc khác đạo.

Cần phải cách ly Cựu Ước ra khỏi Kitô Giáo


Kinh Thánh của Thiên Chúa Giáo cần được phân biệt rõ ràng để tôn vinh và sử dụng, hoặc chỉ để tham khảo rút kinh nghiệm về sự khôn ngoan và những sai lầm của người xưa hầu tránh làm việc dữ, tai hại. Phân biệt chúng để biết lời nào là "Lời Chúa" và lời nào là lời của người phàm tục để loại trừ cái xấu ra khỏi giáo huấn và duy trì những lời chân lý để hành đạo.

Ai cũng thấy rằng Bộ Kinh Cựu Ước chứa đựng những giáo huấn hung bạo do những ông tiên tri thời xa xưa tự cho mình là kẻ đã nghe được lời dạy của Thiên Chúa rồi truyền lại cho dân chúng.

Nhưng tiên tri (prophet) là những ai mà chúng ta cần phải tin tưởng và tôn trọng đến thế ?
Theo định nghĩa thì tiên tri là "a dreamer of dreams" (sách Đệ Nhị Luật 13:1, 13:3) tức "một kẻ nằm mộng", và ngay cả ông tiên tri "thứ thiệt" là Samuel cũng định nghĩa tiên tri là "he who is now called a prophet was formerly called a seer" (1Sam 9:9) tức "kẻ mà nay chúng ta gọi là tiên tri thì lúc xưa được gọi là kẻ mơ thấy".

Trong sách Cựu Ước ghi lại lời của rất nhiều tiên tri, mà tệ nhất là ông tiên tri Ezekiel chuyên nói những điều tai họa và dữ tợn rồi gán cho Thiên Chúa. Người ta thường gọi ông này là "the calamity howler" tức "kẻ tru tréo báo tai họa".

Theo như lời Kinh Sách ghi lại thì những tên tiên tri nào mạo danh Thiên Chúa để nói bậy thì phải bị ném đá cho chết (Đệ Nhị Luật 18:20). Vậy tiên tri là thứ có thể giêt đi vì nói bậy thì tại sao lại cho rằng những lời họ nói là của Thiên Chúa ??

Phải chăng vì quá sợ quyền lực của cái đám lãnh đạo tôn giáo thời xưa mà không một ai dám phản kháng để gạt bỏ những lời xàm bậy của các tiên tri ? Cũng tương tự, chẳng có tín đồ Hồi giáo nào dám phản kháng lại lời dạy của tiên tri Mohammed chỉ vì họ sợ các lãnh tụ tôn giáo chém bay đầu của họ. Đó là một truyền thống của sự sợ hãi mà các giáo hội Thiên Chúa giáo vẫn còn bị ám ảnh cho nên vẫn phải ôm cứng bộ sách Cựu Ước đầy hung bạo và phản nhân loại xem như là Kinh Thánh!

Khẳng định bộ sách này chỉ là một bộ sử của dân Do Thái và Do Thái Giáo mà thôi. Nếu quả thật nó là một bộ sách đầy quyền uy và chân lý thì tại sao Đức Jesus phải mất cả cuộc sống của mình để lập ra một đạo mới cho nhân loại đi theo với những giáo huấn mới mẻ đầy lòng thương và trắc ẩn đã được ghi lại trong Bộ Kinh Thánh Tân Ước ?

Ấy vậy mà các hội thánh Thiên Chúa giáo, chỉ vì theo truyền thống cổ xưa, vẫn tuyên xưng và sử dụng những kinh sách Cựu Ước dữ tợn và hung bạo của các tiên tri xa xưa đó, họ đã viết ra chúng cách đây trên 3 ngàn năm khiến cho mọi chân lý đều bị xáo trộn và tạo hỗn loạn trong xã hội an bình của thế giới văn minh.

Việc Đức Giáo Hoàng John Paul 2 đã công khai tuyên xưng 7 núi tội lỗi của giáo hội Công Giáo vào tháng Ba năm 2000 tuy đã phơi bày một lòng sám hối, nhưng vẫn chưa cho thấy là hội thánh sẽ không tiếp tục sai lầm và phạm tôi như trước.

Vì sao ? Là vì họ theo nguyên tắc "tông truyền" vẫn duy trì nguyên nhân của sự ác, đó là bộ kinh Cựu Ước mà trong đó vẫn còn sờ sờ những lệnh giết người hung bạo do đấng mà họ vẫn còn gọi là Thiên Chúa Giavê và vẫn còn đồng hóa vị này với Đấng Thiên Chúa Cha nhân từ của Đức Jesus để thờ lạy và vâng phục một cách không phân biệt. Họ không muốn tách rời sách Cựu Ước này ra khỏi Tân Ước như đấng lập đạo Jesus đã truyền dạy.

UserPostedImage

Đáng ra nếu Hội Thánh Công Giáo giữ đúng giáo lý của Đức Jesus thì đã không thể nào phạm tội giết người kinh khủng như trong quá khứ, bởi vì họ sở hữu và đọc được hằng ngày những giáo huấn hòa bình của đấng lập Đạo Jesus, Ngài đã dạy phải thương yêu người như chính mình vậy và phải yêu thương luôn cả kẻ thù của mình nữa. Vậy vì cớ gì mà Hội Thánh Công Giáo lại phạm tội giết người ??

Xin xác định một cách rõ ràng rằng, sở dỉ họ phạm tội giết người là vì ông Giáo Hoàng của họ đã dám mạo nhận mình là "Vị Đại Diện cho đấng Thiên Chúa Jehovah hung bạo", là đấng xưa kia đã ra lệnh cho dân Do Thái diệt chủng mọi dân tộc nào phản kháng họ mà chẳng cần phải tỏ lòng thương xót (Ezekiel 9:5).

Khi Giáo hội Kitô Giáo mới hình thành vào những thế kỷ đầu của Công nguyên thì vị Giáo Hoàng chỉ tuyên xưng mình là vị đại diện cho Đức Jesus mà thôi, tức là đại diện cho đấng hiền hòa buộc họ phải yêu thương đồng loại. Nhưng về sau, vì bị quỷ Satan thúc giục phải bành trướng thế lực trần gian của họ, họ đã biến tôn giáo của Đức Jesus thành "đạo của Giáo Hoàng La Mã" đầy lươn lẹo, muốn dùng quyền lực của gươm giáo để ép buộc người khác phải cải đạo theo đạo của họ.

Nhưng làm sao một giáo hội tự cho là "yêu thương đồng loại" lại được phép giết người ? Ấy là vì họ đã âm mưu chèn vào giáo điều một tín điều mới do quỷ Satan xúi dục, tên quỷ này đã bày kế cho họ rằng, muốn vô hiệu hóa giáo huấn yêu người của Đức Jesus thì phải dùng quyền lực cao hơn Ngài, tức phải dùng quyền lực của Đức Chúa Cha để đè bẹp quyền lực của vị Chúa Con quá hiền lành này.

Vì nghe lời xúi giục hợp với bản chất cuồng bạo của mình, Giáo Hoàng La Mã đã tuyên xưng tín điều : "Giáo Hoàng là đấng thay mặt cho Thiên Chúa Jehovah". Bởi lẽ Đức Jehovah, theo Kinh Cựu Ước là đấng đã ban cho loài người sự sống cho nên Ngài có quyền cắt đứt sự sống đó, có nghĩa là Ngài có toàn quyền giết người, vì thế ai đại diện cho Ngài cũng có được quyền sinh sát trong tay mà không mang tội với Đức Jesus vì Jesus đã trở thành thứ yếu nằm dưới quyền của Jehovah.

Thế là tai kiếp đã xảy đến với nhân loại bởi nạn bắt đạo, buộc người khác đạo hay đồng đạo khác phái phải cải đạo nếu không thì hành hạ họ cho đến chết hoặc mang ra thiêu sống.
Đó là hậu quả ghê tởm và tai hại của việc bám vào Cựu Ước và bắt chước những sai lầm trong đó để thi hành lệnh tàn sát lẫn nhau của thần Jehovah.

Đứng trước những lỗi lầm của mình trong quá khứ như thế, nhưng Giáo Hội Thiên Chúa Giáo hiện nay xem ra chưa thức tỉnh, vẫn ngoan cố không nghe lời răn bảo của đấng lập đạo Jesus để tách rời Cựu Ước ra khỏi Tân Ước mà vẫn ngoan cố ôm khư khư cái bộ sách lịch sử đầy oan nghiệt này.
Ngày nào mà các hội thánh Thiên Chúa Giáo còn ôm giữ bộ Sách Cựu Ước và vẫn xem nó như "Lời Chúa" thì ngày đó họ vẫn không rửa sạch được cái tội giết người của mình và tội phản nghịch với Đức Jesus.

Sở dĩ Thiên Chúa Giáo vẫn kính sợ Kinh sách Cựu Ước và không dám gạt nó qua một bên, ngược lại còn cúi đầu tuyên xưng đó là “Lời Chúa” là vì họ hoặc đã mê muội không hiểu, hoặc đã cố tình bất tuân lời răn dạy của Chúa Giêsu vì Ngài đã dạy rõ ràng rằng:

- Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết. (Gioan 1:18)

- Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha. (Gioan 6:46)

- Các ông đã không bao giờ nghe tiếng Người, cũng chẳng bao giờ thấy tôn nhan Người (Gioan 5:37)

Dựa theo 3 đoạn kinh Thánh Tân Ước nêu trên chúng ta biết rằng chẳng có con người nào, hoặc tiên tri nào nghe hoặc nhìn thấy được Thiên Chúa cả, ngoại trừ Đức Jesus. Vậy cái đấng Jehovah mà các tiên tri trong Cựu Ước đã nghe, nhìn và thậm chí ngồi ăn chung với Ngài là ai vậy ? Phải chăng đó là Thiên Chúa ? Khẳng định là không phải, mà ngài chỉ là một Vị Thiên Sứ của Thiên Chúa vô hình mà thôi. Chính sách Cựu Ước đã xác nhận đấng Jehovah là vị mà ông Môisen và 70 trưởng lão đã nhìn thấy và được phép ngồi ăn dưới chân Ngài trong câu kinh điển sau đây :


“Ông Mô-sê đi lên cùng với ông A-ha-ron, Na-đáp, A-vi-hu và bảy mươi người trong hàng kỳ mục Ít-ra-en. Họ nhìn thấy Thiên Chúa của Ít-ra-en; dưới chân Người như có nền lát bằng lam ngọc, trong vắt như chính bầu trời. Người không ra tay hại những bậc vị vọng của Ít-ra-en; họ được chiêm ngưỡng Thiên Chúa, và sau đó họ ăn uống". (Xuất Hành 24:9-11).

Vậy Đấng Jehovah không phải là Đấng Thiên Chúa Cha vô hình mà Đức Jesus đã dạy cho chúng ta biết, do đó tất cả những lời ghi chép trong Sách Cựu Ước và cho đó là “lời của Thiên Chúa” là hoàn toàn sai, mà đó chỉ là lời của vị thần Jehovah có hình thể và tiếng nói mà loài người được nhìn thấy và nghe được.

Đã biết sai mà không chịu sửa thì đó là ngoan cố và lạc đạo. Hãy can đảm sửa sai
đi chứ!

Trường Sơn

Edited by user Friday, October 31, 2014 9:28:36 AM(UTC)  | Reason: Not specified

CNH  
#483 Posted : Tuesday, April 14, 2015 6:07:25 AM(UTC)
CNH

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 12/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: none

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Phải làm gì để có hoà bình ?

Hòa bình thế giới là điều mà thiết tưởng ai cũng mong mỏi, ước mơ; nhưng hầu như mọi cố gắng xưa nay đều thất bại. Sự bất hòa, chiến tranh vẫn còn đó. Nhân loại đã văn minh, trí tuệ loài người đã cao; nhưng chưa khôn ngoan đủ để kiến tạo được nền hòa bình. Thay vì dùng trí tuệ cao đó để tìm kiếm hòa bình, người ta lại dùng vào việc phục vụ chiến tranh bằng vũ khí tối tân, bằng mưu mô xảo quyệt để lừa phỉnh nhau. Mưu mô xảo quyệt càng cao, vũ khí càng tối tân... thì họa diệt vong càng lớn; họa tận thế càng đến gần; do con người quá văn minh? mỉa mai thay!

Tại sao ta không thử tìm 1 giải pháp, 1 kế hoạch... để tránh nạn diệt vong, nạn tận thế do nhân tai gây ra?

Các triết thuyết, các tôn giáo, các nền văn hóa, phong tục, tập quán... xưa nay đã tạo ra cục diện thế giới như hiện thời: 1 thế giới vẫn còn bất an, chiến tranh... Điều đó chứng tỏ rằng các triết thuyết, các tôn giáo, các nền văn hoá... xưa nay vẫn còn nhiều khuyết điểm.

Cố gắng để nêu lên các khuyết điểm, không phải là việc làm vô ích; trái lại rất đáng khuyến khích. Nếu cứ nghĩ rằng việc làm nầy quá trịch thượng, quá hỗn láo... thì không bao giờ giải quyết được nạn bất hòa, xung đột. Không phải tự do tôn giáo luôn là tốt; trái lại rất nguy hiểm; nếu là tôn giáo mê tín, cực đoan; như chủ trương “thánh chiến” (Jihah) của Hồi giáo chẳng hạn. Có nhiệt tâm mà vô ý thức, trở thành đại họa.

Tuy là khả năng hạn hẹp; nhưng tôi cố gắng tìm xem do đâu mà nhân loại không thể thực hiện hòa bình cho thế giới; thiết tưởng hòa bình thế giới (HBTG) là điều quí nhất mà nhân loại cần có. Cái gì càng quí, thì càng khó đạt được. Cái khó ở đây là do lòng người chứ không phải do bất khả thi. Phải hiểu rõ cái nguyên nhân trước đã; rồi mới thực thi được. Lòng người như thế nào mà là mối trở ngại chính cho việc thực thi hòa bình? Đó là thói chiều theo thị hiếu, cảm tính và a dua thay vì dùng lí trí.

Chúng ta đã có bí quyết, có chìa khóa, có mã số (combination) để mở cửa cho nền HBTG mà đức Jesus đã trao cho nhân loại hơn 2 ngàn năm trước; nhưng xem ra bí quyết đó khó thực hiện quá cho loài người vốn tính kiêu ngạo và thiển cận. Cái bí quyết, cái chìa khóa, cái mã số đó là thực hiện bác ái, công bình, chân thật (lương thiện), khiêm hạ, nhịn nhục, bao dung, hiền hòa. Bí quyết nầy cần phải vận dụng đến nghị lực, can đảm, quyết tâm và ý chí mạnh mẽ mới có thể thực hiện được. Có lẽ đó mới là cách “vác Thánh giá mình” để theo Chúa; không thể cứ “gian ác” thỏa thích, rồi nài xin “Chúa thương xót” là được Chúa thích quá, rồi thưởng làm “thánh”.

Có lẽ nhiều người vẫn biết thế, nhưng ngại đụng chạm, vì đây là vấn đề nhạy cảm; nên ít ai muốn nêu ra. Tôi quan niệm rằng phê bình để xây dựng thì phải dấn thân; vì nó mang lại phúc lợi chung. Tâm tình chân thật để cải thiện xã hội thì lúc nào cũng cần thiết; nên tôi chấp nhận bị đả kích.

Đức Jesus chẳng những chỉ giảng dạy, mà chính Ngài còn nêu gương trong suốt cuộc đời mình: sinh hạ nơi chuồng bò; sống cuộc đời thợ thuyền lam lũ; chết như 1 tử tội đại hình...
Thế rồi những kẻ kế tục Ngài đã thực hiện những gì? Họ truyền “chức thánh” cho nhau. Họ đặt ra nào là các tín điều, các phép bí tích. Họ tự cho mình thuộc vào “Hàng tư tế vương giả”. Họ có quyền buộc tội, tha tội thiên hạ. Thiên Chúa phải vâng lời họ (ns. ĐMHCG số 276 trang 4)... Tội tổ tông là gì? Phải chăng là tội kiêu ngạo của thủy tổ loài người (Adam, Eva muốn bằng Thiên Chúa). Họ đặt ra “bí tích Thánh tẩy” để rửa “tội” trẻ sơ sinh và những người gia nhập đạo. Trong khi chính họ còn muốn hơn Thiên Chúa nữa. Họ dùng “chức Thánh” và các phép “bí tích” do họ đặt ra để Thiên Chúa phải vâng lời họ. Chúa chỉ được “chúc lành”; còn họ có quyền “ban phép lành”. Họ dạy tín đồ gọi Chúa là “cha” và gọi hàng giáo phẩm là “cha, đức ông, đức cha, đức thánh cha”. Như vậy là không kiêu ngạo? Là khỏi “tội tổ tông”? Nhận phép Thánh tẩy để được như thế đó sao? Để được kiêu ngạo nặng hơn tổ tông?

Xin độc giả cho tôi được dài dòng để mổ xẻ cái ung nhọt kiêu ngạo (quỉ) trong mỗi chúng ta; thì mới mong chữa lành mọi thứ bệnh: nhân đọc bài “Tại sao không gọi tôi là “cha””của LM Trần Thế Tuyên, ở Canada; có đoạn viết về vụ 1 ông thiếu tá quận trưởng bị mất chức chỉ vì đã gọi 1 Giám Mục là “ông đạo”; đã giúp tôi liên tưởng đến chuyện 1 ông “cha” tát tai 1 trung tá của QLVNCH và quyển “Bên giòng lịch sử” của LM Cao Văn Luận đã tường thuật về chuyện GM Ngô Đình Thục muốn lễ ngân khánh của ông phải được tổ chức như là quốc lễ... Mấy câu chuyện trên đã cho thấy đó chính là nguyên nhân cho sự kì thị tôn giáo ở VN trong thời chiến. Rồi bàn thờ xuống đường; đưa đến cái chết của 3 anh em họ Ngô; rồi cái gọi là “hội đồng nhân dân cứu quốc” được thành lập để trả thù người Công giáo với cuộc thảm sát ở Thanh Bồ-Đức Lợi, ở Huế kì tết Mậu Thân và sau cùng là cả nước VN bị cộng sản Việt -Tàu giày xéo mãi đến nay. Nếu là “đạo nào cũng tốt” thì tại sao kết cục thê thảm như vậy? Đạo hình thức thật là đáng tởm lợm.

Có lẽ vì muốn “mở rộng nước Chúa” bằng cách kêu gọi nhiều “thợ gặt” (LM) để “loan báo tin mừng”; nhưng do bản chất phàm tục còn quá nặng, Giáo hội đã áp dụng tâm lí bằng cách dùng mồi phú quí, bả vinh hoa để dụ và khiến cho lối hành đạo của họ không thoát tục được; vô tình, đã dẫn họ theo hướng ngược lại đường lối căn bản của Jesus; nên kết quả không như mong muốn; mới ra hiện tình thế giới như đang thấy.

Đức GH Francis đã nhìn ra vấn đề, nên mùa Giáng Sinh năm 2014, Ngài đã vạch ra 15 thói hư đốn của hàng giáo phẩm. E rằng như thế vẫn chưa đủ. Dẫu rằng vẫn có những Mục Tử khả kính, thật tâm, quyết hi sinh dâng trọn đời mình để phục vụ tha nhân cách chính xác theo chủ trương của Đức Jesus; nhưng đó chỉ là thiểu số; chẳng hạn như cố LM Trương Bửu Diệp, bác sĩ LM Nguyễn Viết Chung (vốn không phải là người Công giáo) và các thần tượng của ông là Giám Mục Jean Cassaigne, LM Lichten Berger...(Theo: “Nguyễn Viết Chung và tiếng gọi của chân thiện mỹ”, của tác giả Trần Duy Nhiên).

Chỉ cần 1 kiến thức thông thường và 1 ít kinh nghiệm, xin độc giả thử lướt 1 cái nhìn tổng quát lên toàn cầu, để thấy vùng nào có đời sống tốt, xấu ra sao; chúng ta sẽ tìm ra các ưu và khuyết điểm của các triết thuyết, tôn giáo, phong tục, tập quán... nào đã ảnh hưởng lên nền văn hóa của xứ đó. Câu “Đạo nào cũng tốt” chỉ là 1 lối nói ba phải. Đúng hơn là đạo nào cũng có khuyết điểm:

1- Các tôn giáo hữu thần được phân ra độc thần và đa thần. Đàng nào cũng có nhiều phần mê tín. Mê tín ở đây được hiểu là tin những điều không thể chứng minh hoặc kiểm chứng được. Những chuyện thần thoại, những truyền thuyết thường được truyền lại từ thời tiền sử, khi kiến thức loài người còn thô sơ. Thế mà các đạo lại cứ cố giữ và coi “tông truyền” như là khuôn vàng thước ngọc; thậm chí Thánh Kinh còn được coi là quyền uy tối thượng, không thể sửa 1 dấu chấm, dấu phẩy... E rằng đó là 1 lỗi lầm trầm trọng.

Lí do là kiến thức của loài người ngày nay dồi dào hơn xưa bội phần; lẽ nào người trưởng thành lại phải vâng phục kẻ thô thiển? Chính những kẻ thô thiển đó đã viết nên Thánh kinh Cựu Ước. Do đó mà nhiều xã hội nay vẫn còn xấu. Bất cứ 1 cơ cấu nào cũng cần được cải thiện, mới được hoàn chỉnh. Nếu không chịu cải thiện, thì dù cho cầu nguyện mãi bằng kinh kệ cũng không bao giờ có kết quả. Ơn Trên không thể chấp nhận sự sai quấy rồi ban hòa bình miễn phí chỉ bằng “lời” cầu. Lối sống đúng mới là cách cầu nguyện có hiệu quả chắc chắn nhất.

Điều tệ hại kế tiếp là hầu như các đạo độc thần ưa phàm tục hóa, nhân cách hóa Thượng Đế. Cứ quan sát lối hành đạo của các tôn giáo sẽ thấy họ tưởng rằng: Thượng Đế cũng thích nhận lễ vật, thích được ca tụng, tôn vinh, ưa được nịnh hót, thích xét xử, thưởng, phạt... giống y như loại (dấu nặng) người chỉ biết chiều theo cảm tính, thị hiếu và chẳng chịu dùng lí trí. Căn cứ theo lối tin tưởng đó, có người đã dựa theo Cựu Ước để mỉa mai rằng: Từ thuở ban đầu, loài người tạo ra Thiên Chúa giống hình ảnh con người.

Tệ hại hơn nữa là người ta còn thần thánh hóa loài người, như đã được nêu rõ trên đây. Trong khi anh chị em đạo vô thần thì đưa loài người, là loài thụ tạo lên bàn thờ để cầu xin, khấn vái, tụng niệm; thay vì tin tưởng, phó thác, cậy trông vào Nguồn Tạo Hóa (NTH), Nguồn đã cho chính mạng sống của chúng ta. Các đạo là như thế đó sao?

Thử hỏi, ích lợi gì khi các vị kế tục Jesus, được gọi là “lãnh đạo tinh thần” (LĐTT), thay vì thực thi và giúp tín đồ thực thi những đức hạnh mà Đức Jesus đã thể hiện và giảng dạy; họ lại chế biến thành nhiều tín điều, nhiều phép bí tích... để rồi dùng chiêu bài “mầu nhiệm, mặc khải...” và nhiều công thức, nghi lễ... để hành đạo với mục đích phục vụ quyền lợi cho giới mình(???) để ngày nay ra kết quả tồi tệ nơi những xã hội có đa số tín đồ đó (Mễ, Phi, Ý, Các nước Nam Mĩ...); rồi kêu gọi, hô hào cầu nguyện và quyên góp để làm việc từ thiện, 1 loại “muối bỏ biển”. Thấy kết quả không tốt; thì phải sửa đổi chứ. Các tôn giáo độc thần thường không chịu nêu rõ được giá trị tinh thần quí hóa, cần thiết như thế nào. Họ chỉ muốn chiêu dụ tín đồ bằng thị hiếu, bằng cảm tính... dựa theo tâm lí thiển cận chung. Họ dùng “thiên đàng” làm mồi dụ, “hỏa ngục” để hù dọa... rốt cuộc, họ cũng trở lại quan niệm trân quí sự sang trọng thế gian bằng cách phàm tục hóa cõi trên, nhân cách hóa Thượng Đế.

Không thể tưởng tượng được tại sao cả 1 giáo hội đồ sộ mà không ai thấy sự tai hại trong cách giảng đạo theo lối dựa dẫm quá đáng vào Ơn Trên. Thay vì giúp tín đồ cố gắng tập luyện những đức hạnh căn bản mà Jesus đã đề ra; họ lại đi phổ biến, đi cấy vào tín đồ của mình cái não trạng dựa dẫm vào Ơn Trên. Cách đó tác hại cho xã hội vô cùng mà không ai nhìn ra, vì chỉ biết cúi đầu tuân phục. Một ví dụ đơn giản sau đây để giúp quí độc giả dễ thấy: Một Giáo hội đang cổ vũ 1 phong trào mới, được gọi là “Lòng Chúa thương xót”, do bà “thánh” Faustina khởi xướng và cho là Chúa “mạc khải” rằng: “...Thậm chí Ta cũng không thể trừng phạt những tội nhân gian ác nhất, nếu kẻ đó kêu cầu đến lòng trắc ẩn của Ta” (câu (?) 1146 trong tài liệu của bà “thánh” Faustina; được ns. ĐMHCG đăng trong số 296 trang 3). Rao giảng “tin mừng” kiểu nầy chỉ gây tai họa, nhiễu nhương, loạn lạc... cho xã hội; bằng chứng cụ thể là bọn buôn lậu ma túy, gian ác khét tiếng, đã in hình Chúa, Mẹ... lên báng súng bằng vàng (Theo lời giảng của LM DCCT Nguyễn Tất Hải).

Chúng coi đó là bùa hộ mạng, vì chúng được dạy rằng: hễ nịnh Chúa thì được Chúa thích vô cùng, đến độ “... Ta không thể trừng phạt những tội nhân gian ác nhất...”. Có lẽ đức Jesus đã phải bị đổ mồ hôi máu trong đêm cầu nguyện, trước ngày chịu nạn; vì biết trước rằng chúng sẽ lạm dụng danh Ngài để gắn những ý tưởng quái đản đại loại như thế vào miệng Ngài, để xúi nhau làm bậy. Có nhiệt tâm mà vô ý thức, trở thành đại họa.

2- Thuyết duy vật vô thần đã được cộng sản áp dụng hơn nửa thế kỉ đã bị phá sản. Kết quả là: hầu như ai cũng muốn tị nạn cộng sản. Cũng vậy, các nước bị ảnh hưởng bởi tôn giáo vô thần như Việt, Tàu, Miên, Lào, Thái, Miến, Tích Lan... đều không khá; dân quèn cứ muốn đi tha phương cầu thực. Phải chăng vì kẻ mạnh dùng bạo lực để chỉ lo tìm phúc lợi vật chất tạm bợ nơi trần thế. Họ vô ý thức về sự hiện hữu của Thượng Đế và cõi vĩnh hằng; cho nên họ chỉ chú tâm vào cuộc sống tạm bợ, 1 giai đoạn thử thách ở đời nầy; nguyên nhân căn bản của sự ác là ở đó.

3- Thuyết nhân quả vừa giúp ích, vừa tác hại, tùy theo quan niệm; được phân tích như sau:
a- Giúp ích: VN thường có câu: “ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ”, hoặc “làm phước để đức lại cho con cháu”. Điều nầy thường xảy ra; hoặc là tạo điều kiện để được phúc lợi về sau; nhưng không nhất thiết tuyệt đối ảnh hưởng. Dầu sao, quan niệm nầy cũng giúp người ta sống lương thiện, vị tha... nhờ đó, xã hội được tốt lành; nhưng phần tác hại sau đây có mòi trầm trọng hơn:

b- Tác hại: phải chăng thuyết “nhân quả” cho rằng cái “nhân” ở kiếp trước sẽ tạo nên cái “quả” ở kiếp sau; thuyết nầy đi kèm với thuyết “luân hồi”; nên mới tin có kiếp trước, kiếp sau. Cả 2 đều không thể chứng minh được; cũng không giải thích được những trường hợp “trọc phú” (giàu sang nhờ của phi nghĩa). Cũng từ quan niệm đó dẫn đến ý tưởng về sự vay trả giữa các kiếp. Ý tưởng nầy tạo nên tính ích kỉ, khép kín... bởi vì nếu tin như thế thì không ai muốn giúp ai, vì kẻ muốn giúp ngại rằng: nó tưởng kiếp trước mình nợ nó; trong khi kẻ được giúp lại nghĩ rằng: kiếp trước nó nợ mình; để rồi trở thành kẻ vô ơn. Cho nên các xã hội đó không khá. Ngoài ra cả 2 quan niệm trên đây đều loanh quanh luẩn quẩn ở thế tục nầy mà thôi. Nơi trần thế không hề có công bằng, mà thiết tưởng đa số đều mong ước sự công bằng. Ở những xã hội vô thần, bọn gian ác thường thắng thế như Việt, Tàu, Miên, Lào cộng... . Bởi đó NTH toàn năng mới dùng cõi vĩnh hằng để áp dụng sự công bằng.

Nếu thuyết nhân quả được đặt niềm tin vào cõi vĩnh hằng, thì có giá trị tuyệt đối: cái nhân ở cõi đời tạm nầy, sẽ tạo nên cái quả vĩnh viễn ở cõi vĩnh hằng. Có lẽ niềm tin nầy đáp ứng nguyện vọng chính đáng nhất của những kẻ thiện tâm. Người Công giáo cũng tin rằng Thiên Chúa là Đấng chí công. Đã biết thế thì đừng tự mâu thuẩn bằng cách dựa dẫm quá đáng vào “lời” cầu nguyện, kinh kệ, lễ tục, công thức...; mà chỉ cần cầu nguyện bằng nếp sống đức hạnh. Phần mình phải cố gắng thể hiện đúng để hợp với Ơn Trên thì mọi việc sẽ tốt đẹp. “Tận nhân lực mới tri Thiên mệnh”, “Đức năng thắng số”... là vậy. Không thể nào: cứ gian ác tối đa, rồi kêu cầu “Lòng Chúa thương xót”, là được Chúa thưởng. Thay vì cầu xin, nài nĩ Ơn Trên; ta chỉ cần dẹp bỏ tính gian ác để sống lương thiện; thử hỏi cách nào tốt hơn cho xã hội lành mạnh?

4- Thuyết “diệt dục”, để tránh khổ: không thể áp dụng được; bởi vì “dục” nghĩa là muốn. Ý muốn là 1 trong các yếu tố căn bản của phần tinh thần. Ý muốn chẳng những cần thiết để duy trì sự sống; mà còn giúp cho nhân loại thăng hoa cuộc sống. Vì nếu không thực thi ý muốn thì không thể sống được; như đói, khát, mệt mỏi... thì muốn ăn, uống, ngủ nghỉ... là những điều căn bản để duy trì sự sống. Không ai có thể sống mà không ăn uống, ngủ nghỉ được. Đã có người cố nhịn ăn, uống, ngủ nghỉ, để hổ trợ cho thuyết “diệt dục”; nhưng họ đều thất bại. Có nhiệt tâm mà vô ý thức, trở thành đại họa.

Đến cuối đời, khi đã có nhiều kinh nghiệm, thấy lí thuyết mình không thích hợp, Đức Phật đã can đảm thốt ra rằng: “Coi như Ta chưa nói gì cả”. Thiện tâm của Ngài rất là trong sáng, thẳng thắn. Ngài không hề bảo thủ, không hề ngụy biện.

Theo tin tức thì: đức hạnh dân Nhật được nổi tiếng tốt khắp thế giới. Nếu tôn giáo nào không tạo cho xã hội mình được an bình, thịnh vượng; thì tại sao không thay lề lối hành đạo xưa nay bằng cách học theo lối giáo dục giới trẻ của người Nhật. Giáo dục giới trẻ là đào tạo não trạng. Não trạng nhân loại cần phải được đào tạo đúng cách; cách đó là chiếc “chìa khóa cho xã hội lí tưởng, như đã được đề cập trước đây; thì thế giới mới được hòa bình.

Vì nhân loại chưa chịu tận dụng cái “chìa khóa” qua cách đối thần và đối nhân, đã được Đức Jesus trao ban, nên chúng ta chưa có hòa bình.
A- Đối thần: Thần là gì mà chúng ta phải đối? Xin thưa ngay: Thần là NTH. Chính Nguồn nầy đã tạo nên mọi loài mọi vật trong vũ trụ, kể cả sự sống. Chính sự sống là vật chứng cho biết NTH phải là siêu phàm lắm mới tạo được sự sống. Dùng phép so sánh thì thấy ngay rằng: mọi dụng cụ mà loài người chế tạo được là nhờ loài người có phần tinh thần cao cấp, hơn các loài sinh vật khác. Chính phần tinh thần cao cấp đó đã giúp loài người (lúc đang sống), biết thiết kế, phát minh, sáng tác...Thế nhưng loài người vẫn chưa chế tạo được sinh vật, ngay cả 1 hạt giống đơn giản; vậy mà:

Thiên nhiên đã tạo được sự sống trên Địa cầu; ắt Thiên Nhiên phải là toàn tri và toàn năng; có nghĩa là Thiên Nhiên phải có siêu tinh thần, siêu khoa học và hằng sống. Như thế, NTH cao cả bội phần hơn “Đức Chúa” (personel God) theo quan niệm của tín đồ Thiên Chúa giáo; bởi vì NTH là chủ của vũ trụ, mà vũ trụ thì lớn vô biên; và theo tài liệu của các khoa học gia thì loài người chỉ biết chưa được 4% về vũ trụ. Trong khi “Đức Chúa” của người Thiên Chúa giáo chỉ là 1 ông thần, có phép mầu; ngự trong 1 ngai tòa, ở đâu đó trong 1 “nước Trời”, có “đạo binh Thiên quốc”, chuyên xét xử rồi thưởng phạt loài người, 1 giống sinh vật trên địa cầu; mà Điạ cầu chỉ là vật tí tẹo trong vũ trụ.

Nếu biết NTH toàn tri và toàn năng; thì suy ra luật công bằng của NTH phải là tuyệt đối. Người VN đã mường tượng như thế, nên mới có câu “lưới Trời lồng lộng”; cho nên loài người liệu đó mà sống sao cho hợp ý Trời. (đã có bài “quan sát Thiên Nhiên để thấy ý Trời”). Khi biết được mọi người đều từ cùng một Nguồn đó mà có, thì họ sẽ nhận biết “tứ hải giai huynh đệ”, là bà con nhau cả; không ai coi ai là kẻ thù; mà chỉ là kẻ chưa được giáo dục đúng cách; và khi biết mình được phát sinh từ một Nguồn Sáng của tình yêu, của sự công minh, thì mình sẽ tự nhủ để sống theo lối đúng đắn nhất; cách nôm na mà người Việt thường nói là: “Ông Trời có mắt”.

Vật sống là bằng chứng cho biết có Thượng Đế; cũng giống như radio, TV, cell phone... là vật chứng cho biết có những làn sóng điện quanh ta; mà có ai cảm thấy gì đâu?

Thử đặt mình là 1 kẻ vô ơn, suốt đời luôn cố ý từ chối sự hằng hữu của NTH; là Nguồn đã tạo ra mình; đến khi hồn lìa khỏi xác, mới “ngộ” ra sự thật. Thử hỏi ở cõi vĩnh hằng, những linh hồn đó có thể nào hết ân hận về việc từ chối Nguồn gốc của mình không?

B- Đối nhân: Chúng ta sống trong đoàn thể, thì phải biết cách đối xử với nhau sao cho xã hội được tốt đẹp. Cách đó là giáo dục nhau để trau giồi các đức hạnh theo bí quyết mà Đức Jesus đã dạy. Phải suy nghiệm để ý thức rõ và tâm đắc với bí quyết đó trước đã, rồi mới có quyết tâm để thực thi. Những điều đó tuy là dễ, vì ai cũng làm được; nhưng rất khó, vì bị cản trở bởi tính kiêu ngạo và ích kỉ vốn có sẵn trong mỗi chúng ta. Phải quyết tâm mới đè nén để lướt thắng được những tật xấu đó. Đó là điều thường được gọi là “ma quỉ cám dỗ”, hoặc là tính “yếu đuối của xác thịt”. Nếu loài người chịu sống theo các bí quyết của Đức Jesus; thì thử hỏi xã hội còn nhiễu nhương, nhân loại còn đau khổ vì chiến tranh được nữa không? (tìm kiếm phúc lợi cho tinh thần cũng là 1 loại ích kỉ, nhưng là thứ ích kỉ cao quí. Đã có bài “ích kỉ chưa hẳn là xấu”).

Nếu đã tin vào thuyết nhân quả, thì khi thấy xã hội nào tốt xấu ra sao, xứ nào mà người dân hèn mọn sống không nổi, cứ muốn tìm tới xứ nào; từ đó nghiệm ra nguyên nhân. Đó là cách lướt 1 cái nhìn tổng quát lên toàn cầu. Nếu ai không tìm được nguyên nhân khi đã thấy hậu quả; mà cứ tự cho là “trí tuệ, trí thức, đuốc tuệ, đại trí”, thì quả là bị mặc cảm nặng.

Ở cõi vĩnh hằng mà cứ phải luyến tiếc những sự giàu sang, danh vọng, quyền bính... suốt 1 đời dày công gầy dựng; hoặc ân hận vì suốt đời cố ý chối bỏ Nguồn gốc của mình; hoặc phải nhục nhã vì cứ gian ác lừa phỉnh để bị người đời căm hờn nguyền rũa...thử hỏi những linh hồn đó có thể nào vui thỏa được không?

May là bí quyết của Đức Jesus đã được áp dụng phần nào, nên 1 số tổ chức tốt đã được thành lập, như là: các viện mồ côi, trại phong cùi, hội Hồng Thập Tự, các tổ chức bác ái..., mà cục diện thế giới được cải thiện, tuy vẫn chưa được toàn mĩ. Xem ra: văn hóa của người Anh (dĩ nhiên được ảnh hưởng bởi Anh giáo), là tương đối tốt nhất. Bằng chứng là: nước Mĩ đã được ảnh hưởng văn hóa của người Anh nhiều nhất. Người Mĩ nói tiếng Anh và dùng hệ thống đo lường của Anh. Người Nhật đã thua trận Mĩ; nhưng Nhật hoàng Mutsuhito rất thức thời và can đảm; đã mang cách trị quốc của người Mĩ về áp dụng cho xứ ông. Tướng Mĩ Mac Arthur đã giúp người Nhật cách trị quốc; và ông được dân Nhật chọn là 1 đại ân nhân của nước họ. Người Nam Hàn đã dùng chương trình giáo dục của Nhật để dịch ra và dạy học sinh Nam Hàn. Các nước liên hệ với Anh như Canada, Úc, Tân Tây Lan, Tô Cách Lan (Scotland)... đều tốt cả. Thậm chí dân Scotland còn bầu chọn để được ở lại trong liên hiệp Anh; chứ không muốn được độc lập; như kết quả cuộc đầu phiếu năm 2014 đã cho thấy. Các thuộc địa cũ của Anh như Singapore, Hồng Kông... đều được tự do, phú cường; từ đó suy ra: chưa chắc ông Gandhi đã có công với dân Ấn. Tuy là Ấn Độ đã giành được độc lập, nhưng đến nay đa số dân Ấn vẫn còn nghèo đói, xã hội vẫn nhiễu nhương và có quá nhiều giai cấp. Về mặt mê tín thì có lẽ dân Ấn dẫn đầu.

Vài gợi ý sau đây có thể giúp ta thực hành các đức hạnh không khó khăn lắm:
a- Khiêm hạ: Con người là loài thọ tạo. Không ai tự sắm cho mình những tài năng Thiên phú. Nếu mình có được tài nào thì chỉ nên thầm cảm tạ NTH, đã ưu đãi mình; đây mới là cầu nguyện, là cách tiếp cận với NTH; nhờ đó ta nhận được ân sủng dồi dào từ Nguồn; thay vì kiêu căng vênh váo; ta chia xẻ những gì mình có cho người lân cận; để đổi lấy tình nghĩa, là thứ hạnh phúc viên mãn vĩnh viễn. Sự trao đổi như thế sẽ giúp nhau cùng tiến, sẽ tạo nên xã hội an lành thịnh vượng trong tình thương.

b- Nhịn nhục: là cố kềm hãm sự nóng giận bất chợt và nghĩ cách giải thích sự việc cách thành thật và hợp lí để tránh sự hiểu lầm. Nếu xét thấy mình có lỗi thì phải xin lỗi; đây là cách hòa giải hữu hiệu nhất, cũng là cách cảm hóa những kẻ dữ.

c- Bác ái: Nếu tin rằng NTH cũng là Nguồn Sáng, vừa là Nguồn Tinh Yêu. Mọi người đều từ cùng Nguồn đó mà ra; là bà con nhau; nên thương yêu nhau là tốt nhất; vì tình thương cho ta hạnh phúc viên mãn.

d- Công bình: luật công bình của NTH thì tuyệt đối. Đừng ai muốn hà hiếp, đàn áp ai trong giai đoạn thử thách ở cõi đời tạm nầy. Sự công bình giúp xã hội được trật tự, an lành.

e- Lương thiện: là trung thực, chân thật. Tính nầy nằm trong luật công bằng. Kẻ bất lương, gian ác luôn đáng khinh tởm; nói dối là hèn hạ, lời nói dối thì vô giá trị; kẻ dối trá bị xa lánh.

f- Bao dung: là rộng lượng, là tha thứ... để thực hành đức bao dung; thiết tưởng không gì hay hơn là cố thử đặt mình là đối phương; ở trong hoàn cảnh, trong môi trường, trong trình độ kiến thức... của đối phương xem mình có lẽ cũng hành động, nói năng như đối phương không? Cần phải khách quan để được sáng suốt. Khi hiểu rõ bối cảnh của đối phương; việc tha thứ trở nên dễ dàng và giúp nhau hòa giải, tâm hồn ta được nhẹ hẳn lại và được thảnh thơi, sảng khoái.

g- Hiền lành: ai chế ngự được tính nóng nảy thì tâm hồn lúc nào cũng được bình thản, thoải mái, tốt cho sức khỏe...Chịu chấp nhận thiệt thòi, thua lỗ... là lập công đức để được hạnh phúc viên mãn ở cõi vĩnh hằng.

Kinh nghiệm cho thấy nếu thực hiện được những đức hạnh trên đây, ta sẽ gặt hái được những ân huệ lớn lao thật bất ngờ. Đây mới chính là “vật liệu” cần thiết để xây nền hòa bình thế giới. (Hình ảnh của xã hội khi thế giới được hòa bình đã được mô phỏng trong bài “Xã hội khải hoàn”.)

Sau đây là 1 kế hoạch khả thi cho nền hòa bình thế giới:

Nay đã đến lúc hòa bình thế giới (HBTG) có thể thực thi được rồi; lí do là kiến thức của nhân loại đã đạt đến cao điểm; phương tiện truyền thông đã trở nên quá dễ dàng. Việc toàn cầu hóa đang tiến hành... Thị trường chung Âu Châu là 1 mô hình khởi đầu. Kế hoạch cho nền HBTG được thể hiện bằng 2 bước: thực thi và giáo dục:

1- Thực thi: Liên Hiệp Quốc (UN) sẽ đứng ra tổ chức trưng cầu dân ý (TCDY) ở mỗi nước nào muốn gia nhập nước thế giới (NTG). Nếu kết quả TCDY đa số là phiếu thuận (vote yes-Y) ; thì nước đó được gia nhập NTG. Các nước khác sẽ không được gia nhập NTG cho đến khi nào họ đổi ý và tổ chức TCDY.

NTG sẽ được cai trị trong tự do, dân chủ, nhân quyền, bình đẳng và công lí như nước Mĩ và các nước tự do, tiên tiến khác. Người dân trong NTG được chọn ở bất cứ nơi nào trong NTG.

Nếu kết quả không được tất cả các nước gia nhập, thì chắc rằng vẫn có đa số nước vào. NTG sẽ là nước lớn, mạnh và thịnh vượng nhất.

Việc thành lập NTG sẽ rất dễ thành công; bởi vì hầu như ai cũng ao ước muốn sống trong xã hội lí tưởng như thế.

Các nước nào chưa gia nhập NTG được, vì bị cai trị bởi những kẻ độc tài, gian ác; nếu người dân mong được gia nhập NTG, họ phải đạp đổ chế độ độc tài và tổ chức TCDY để được vào NTG. Cứ thế, các nước còn lại sẽ bắt chước nhau ngày càng nhiều và sẽ nở rộ thành 1 phong trào. Thầm nghĩ rằng giai đoạn nầy sẽ không dài quá vài thập kỉ.

2- Giáo dục: Bước kế tiếp là giáo dục. Tuy là bước thứ 2, nhưng quan trọng hơn. Việc giáo dục rất cần thiết cho cách sống trong đoàn thể xã hội. Mọi người cần phải được thuần hóa. Họ phải học để biết rằng các nết xấu là tội lỗi, là việc làm bất cứ điều gì có hại cho phúc lợi chung, cho bất cứ ai, ngay cả cho chính bản thân đương sự. Mọi người cần phải học để biết rằng:

- Tinh thần quan trọng hơn thể xác.
- Tinh thần vẫn còn mãi sau khi xác đã chết, và phần tinh thần khi đó được gọi là linh hồn.
- Tình thương tạo nên hạnh phúc viên mãn cho tinh thần.
- Hạnh phúc chỉ được nhận biết sau khi đã trải qua đau khổ; vậy ai càng chịu nhiều đau khổ, sẽ càng thấy hạnh phúc hơn sau khi đã hết khổ.
- Mọi sinh vật đều phải chết.
- Thời gian cho 1 đời người có giới hạn.
- Chấp nhận khó khăn, đau khổ; chịu thiệt thòi... là lập công đức cho hạnh phúc viên mãn ở cõi vĩnh hằng.
- Mọi người đều từ cùng 1 NTH mà có; cho nên mọi người đều là con cái của cùng 1 Nguồn gốc, là bà con nhau cả; không ai là kẻ thù; mà là kẻ chưa được giáo dục đúng cách.
- Việc thâu tóm của cải, quyền lực... không bao giờ được thỏa mãn.
- Sự phú quí, sang trọng, danh, lợi, quyền lực.... đều vô giá trị ở cõi vĩnh hằng.
- Đời sống trên trần thế chỉ là tạm bợ, là giai đoạn thử thách.
- Luật công bằng của NTH thì tuyệt đối.
- Việc thiện hoặc ác ở đời tạm nầy là nguyên nhân cho hậu quả ở cõi vĩnh hằng.
- Cầu nguyện bằng việc thiện thì có hiệu quả hơn là chỉ xin Ơn Trên bằng lời nói, bằng công thức, thủ tục, nghi lễ...

Nếu ai cũng biết và thực thi được những nguyên tắc căn bản trên đây thì xã hội tự khắc được trật tự, an lành, thịnh vượng... cách chung là xã hội lí tưởng.

Việc cai trị NTG sẽ được dễ dàng nếu người dân được giáo dục đúng cách.
Sau đây là vài bằng chứng hiển nhiên:

1- Các nước Anh, Nhật, Singapore... đã thành công trong việc giáo dục dân họ. Thế thì xin đừng tưởng rằng việc giáo dục người dân không thể được.

2- Mặc dầu dân Bắc và Nam Hàn từ cùng 1 gốc trong 1 nước; nhưng nền văn hóa bác ái, vị tha của dân Nam Hàn đã giúp xã hội họ tốt vượt xa xã hội duy vật vô thần của Bắc Hàn.

3- Nước Mĩ đã cho thấy việc cai trị 1 hợp chủng quốc đã thành công tốt đẹp; thế thì xin đừng tưởng rằng không thể cai trị nhiều sắc dân khác nhau trong NTG.

Đó là những chứng cớ hiển nhiên đã cho thấy rõ ràng là việc thành lập NTG rất là khả thi.

Tuy vậy, những kẻ nghi ngờ vẫn thắc mắc rằng: làm sao mà 1 chương trình phức tạp và lớn lao như vậy có thể tóm tắt trong 1 bài ngắn gọn như vầy được? Xin thưa: điều nầy cũng giống như 1 ổ khóa số; nếu bạn không biết được mã số, thì bạn không có thể mở nó được; tuy nhiên, nếu bạn biết được mật mã, ổ khóa sẽ được bạn mở dễ dàng. Cũng vậy, khi 1 cơ phận nhỏ trong 1 bộ máy phức tạp bị hư, sẽ khiến cho toàn bộ máy không thể hoạt động được; cho đến khi nào cơ phận hư được thay thế; bộ máy trở lại hoạt động trơn tru. Cho nên 1 kế hoạch đúng là chìa khóa của mọi vấn đề khó nhăn nhất; chẳng hạn như là việc thực hiện 1 thế giới hòa bình thịnh vượng.

Khi ước mơ này được thành tựu, thì việc tranh giành lãnh thổ, lãnh hải..., sẽ không cần thiết nữa; không ai phải lo lắng hoặc bực bội như vấn đề biển Đông hiện nay. Mọi người sẽ được hân hoan vui hưởng thái bình, thịnh vượng với tình thương nhau trong xã hội khải hoàn trên toàn thế giới./.

CNH
4-2015

Edited by user Tuesday, May 5, 2015 6:34:39 AM(UTC)  | Reason: change some words

Độc Giả  
#484 Posted : Wednesday, April 22, 2015 6:48:39 PM(UTC)
Độc Giả

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 4/21/2015(UTC)
Posts: 3
Location: usa

Was thanked: 3 time(s) in 3 post(s)
Bài viết của bạn CNH nói chung là có thiện tâm muốn đóng góp một giải pháp cho hòa bình thế giới bằng các giá trị đạo đức như bác ái, công bình, chân thật, khiêm hạ, nhẫn nhục, bao dung, và hiền hòa. Tôi không nghiên cứu nhiều về Thánh kinh Tân Ước và Cựu Ước nên không dám lạm bàn. Tuy nhiên tôi xin góp chút ý kiến về các thuyết luân hồi và diệt dục mà bạn CNH có bàn tới.
Về thuyết luân hồi, có quan niệm không bàn về luân hồi từ kiếp nầy sang kiếp khác mà cho rằng luân hồi sinh tử là một tiến trình của tâm hồn con người trong từng giây phút. Từ sáng tới chiều tâm ta đã luân tới hồi lui, sanh ra rồi mất đi không biết bao lần. Từ suy nghĩ thiện lành tới toan tính gian ác. Tư tưởng tốt xấu xảy ra trong tâm không ngừng nghĩ. Lúc sáng người thấy khỏe khoắn, sảng khoái như đang ở thiên đàng, vậy mà trưa nghe một cú điện thoại phiền phức bỗng đỏ mặt tía tai, bầm gan tím ruột như rơi tõm vào địa ngục. Chỉ một thoáng thôi mà tiến trình tâm đã luân đi từ trạng thái nầy rồi hồi qua trạng thái khác. Vậy làm sao giải thoát khỏi luân hồi sinh tử nầy? Cái gì làm ta xoay tới xoay lui, trồi lên ngụp xuống trong cõi luân hồi sinh tử nầy vậy? Chính là cái “ta” đó. Cho nên chỉ có hiểu rõ cái “ta” thì mới cứu được “ta” thôi. Cho nên phải quay lại với mỉnh, phải soi xét nội tâm mình, tìm ra của báu trong tâm hồn mình thôi. Khi tâm hồn mình trong sáng, không tham lam, sân hận, và si mê thì có lẽ ta mới có được nụ cười thanh thản, bình an, và tự tại.
Nói về thuyết diệt dục trong phật giáo, diệt dục không có nghĩa là diệt hết tất cả ham muốn, mà chỉ diệt cái đắm say quá mức về tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, và ngủ nghỉ mà thôi. Đừng để những ham muốn đó như cứu cánh của kiếp sống, trở thành mù quáng và nô lệ nó mà mất đi sự sáng suốt và tự do. Còn những cái ham muốn làm điều thiện, ham muốn thực hiện những ước mơ hợp khả năng và hoàn cảnh, hay ăn uống lành mạnh, ngủ nghỉ điều hòa là những điều tiến bộ.
Bạn CNH viết: Đến cuối đời, khi đã có nhiều kinh nghiệm, thấy lý thuyết mình không thích hợp, Đức Phật đã can đảm thốt ra rằng: “Coi như Ta chưa nói gì cả”. Câu nầy không đúng. Xin viết lại cho rõ là trong kinh Văn Thù Phật có dạy: “Ta trú ở thế gian để dạy chúng sanh 49 năm, chưa đặt ra một câu bằng văn tự để nói với ai bao giờ! Vì theo chánh đạo, nếu ta lấy văn tự để làm bằng chứng để cầu đạo, ấy là câu nệ; lấy sự khổ hạnh để cầu Phật, ấy là mê mờ; lìa tâm ra mà cầu Phật, ấy là ngoại đạo; mà cố chấp cái tâm ấy là Phật, cũng là ma vậy”.
Chân lý nằm ngoài ngôn ngữ và văn tự nên không thể thuyết giảng được. Có thể lấy ví dụ là “ngón tay chỉ mặt trăng”. Mặt trăng ý chỉ là chân lý; ngón tay ý chỉ là kinh điển. Chúng ta nương kinh điển để thấy chân lý cũng như nương ngón tay để thấy mặt trăng. Kinh điển không phải là chân lý; kinh điển chỉ miêu tả về chân lý. Khi đạt được chân lý thì không cần tới kinh điển, cũng như khi thấy được mặt trăng thì không cần có ngón tay chỉ dẫn nữa.
Chì có vài ý kiến nhỏ xin góp ý. Cảm ơn.

Edited by user Thursday, April 23, 2015 7:12:30 PM(UTC)  | Reason: bigger font

thanks 1 user thanked Độc Giả for this useful post.
lly (Lynn Ly) on 4/28/2015(UTC)
lly (Lynn Ly)  
#485 Posted : Tuesday, April 28, 2015 6:20:57 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
Originally Posted by: Độc Giả Go to Quoted Post
Bài viết của bạn CNH nói chung là có thiện tâm muốn đóng góp một giải pháp cho hòa bình thế giới bằng các giá trị đạo đức như bác ái, công bình, chân thật, khiêm hạ, nhẫn nhục, bao dung, và hiền hòa. Tôi không nghiên cứu nhiều về Thánh kinh Tân Ước và Cựu Ước nên không dám lạm bàn. Tuy nhiên tôi xin góp chút ý kiến về các thuyết luân hồi và diệt dục mà bạn CNH có bàn tới.
Về thuyết luân hồi, có quan niệm không bàn về luân hồi từ kiếp nầy sang kiếp khác mà cho rằng luân hồi sinh tử là một tiến trình của tâm hồn con người trong từng giây phút. Từ sáng tới chiều tâm ta đã luân tới hồi lui, sanh ra rồi mất đi không biết bao lần. Từ suy nghĩ thiện lành tới toan tính gian ác. Tư tưởng tốt xấu xảy ra trong tâm không ngừng nghĩ. Lúc sáng người thấy khỏe khoắn, sảng khoái như đang ở thiên đàng, vậy mà trưa nghe một cú điện thoại phiền phức bỗng đỏ mặt tía tai, bầm gan tím ruột như rơi tõm vào địa ngục. Chỉ một thoáng thôi mà tiến trình tâm đã luân đi từ trạng thái nầy rồi hồi qua trạng thái khác. Vậy làm sao giải thoát khỏi luân hồi sinh tử nầy? Cái gì làm ta xoay tới xoay lui, trồi lên ngụp xuống trong cõi luân hồi sinh tử nầy vậy? Chính là cái “ta” đó. Cho nên chỉ có hiểu rõ cái “ta” thì mới cứu được “ta” thôi. Cho nên phải quay lại với mỉnh, phải soi xét nội tâm mình, tìm ra của báu trong tâm hồn mình thôi. Khi tâm hồn mình trong sáng, không tham lam, sân hận, và si mê thì có lẽ ta mới có được nụ cười thanh thản, bình an, và tự tại.
Nói về thuyết diệt dục trong phật giáo, diệt dục không có nghĩa là diệt hết tất cả ham muốn, mà chỉ diệt cái đắm say quá mức về tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, và ngủ nghỉ mà thôi. Đừng để những ham muốn đó như cứu cánh của kiếp sống, trở thành mù quáng và nô lệ nó mà mất đi sự sáng suốt và tự do. Còn những cái ham muốn làm điều thiện, ham muốn thực hiện những ước mơ hợp khả năng và hoàn cảnh, hay ăn uống lành mạnh, ngủ nghỉ điều hòa là những điều tiến bộ.
Bạn CNH viết: Đến cuối đời, khi đã có nhiều kinh nghiệm, thấy lý thuyết mình không thích hợp, Đức Phật đã can đảm thốt ra rằng: “Coi như Ta chưa nói gì cả”. Câu nầy không đúng. Xin viết lại cho rõ là trong kinh Văn Thù Phật có dạy: “Ta trú ở thế gian để dạy chúng sanh 49 năm, chưa đặt ra một câu bằng văn tự để nói với ai bao giờ! Vì theo chánh đạo, nếu ta lấy văn tự để làm bằng chứng để cầu đạo, ấy là câu nệ; lấy sự khổ hạnh để cầu Phật, ấy là mê mờ; lìa tâm ra mà cầu Phật, ấy là ngoại đạo; mà cố chấp cái tâm ấy là Phật, cũng là ma vậy”.
Chân lý nằm ngoài ngôn ngữ và văn tự nên không thể thuyết giảng được. Có thể lấy ví dụ là “ngón tay chỉ mặt trăng”. Mặt trăng ý chỉ là chân lý; ngón tay ý chỉ là kinh điển. Chúng ta nương kinh điển để thấy chân lý cũng như nương ngón tay để thấy mặt trăng. Kinh điển không phải là chân lý; kinh điển chỉ miêu tả về chân lý. Khi đạt được chân lý thì không cần tới kinh điển, cũng như khi thấy được mặt trăng thì không cần có ngón tay chỉ dẫn nữa.
Chì có vài ý kiến nhỏ xin góp ý. Cảm ơn.


Hôm nay ghé forum ... Thấy nickname Độc Giả nổi lên đã khiến Lynn động tâm, nổi lòng tò mò nên ghé vào xem ...

Đọc câu trả lời ngắn gọn rõ ràng và biểu lộ tính cách "nhu hòa" khi giải bày tư tưởng Phật Giáo trong tư cách người Phật Tử của Độc Giả ... Lynn liền chấp tay vái chào và nói "Như Thị !!! Như Thị !!! Đúng thật như vậy!!! Đúng thật như vậy!!!"

Độc Giả đã khiến bài kệ "khai kinh" bật lên trong đầu Lynn
[
"Thăm thẳm cao siêu Pháp nhiệm màu,
Trăm ngàn muôn kiếp khó tầm cầu
Con nay nghe được xin trì niệm
Nguyện rõ Như Lai nghĩa nhiệm mầu

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật"


Đạo Phật là đạo thực hành, không phải để nói suông, không biểu diễn tu đạo" . Người chân thật học đạo, thì mới hiểu đạo và có thể nói đúng ý chư Phật như Độc Giả vậy !!! Vì tính chất "thực hành" của đạo Phật ... nên người tu trong đạo Phật không chỉ dùng lời nói giải bày ... mà thường minh chứng qua biểu hiện ... Bởi vì, trong từng cử chỉ, từng lời nói, từng biểu hiện thật bình thường trong ứng xử đối đãi với người người hàng ngày ... người Phật Tử đã "thuyết Pháp", thuyết giảng giáo lý đạo Phật !!!

Giờ Lynn xin nhắn gởi các anh chị ngoại đạo 1 câu kệ được lưu truyền trong Phật Giáo là

"Chánh Nhân thuyết Tà Pháp , Tà Pháp qui Chánh Pháp
Tà Nhân thuyết Chánh Pháp, Chánh Pháp biến thành Tà" !!!


Căn bản giáo lý của Đạo Phật là quy hướng về rèn luyện TÂM mình, là thanh lọc THÂN-KHẨU-Ý nghĩa là thanh lọc TÂM.... là phải gìn giữ "Chánh Tâm" trong mọi lúc mọi tình huống ... Khi có "Chánh tâm" (không 1 chút tà niệm) thì thuyết giảng gì, phê bình gì thì cũng đều quy hướng về phép tắc đường lối đứng đắn, chánh đáng ... và đều nói lên được sự thật /chân lý bất di bất dịch!!!

Chúc tất cả an vui , luôn tin tấn tu rèn đạo đức nhân phẩm của chính mình theo con đường, đạo giáo mà chính mình đã lựa chọn !!!

Trân Trọng !!!


"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



CNH  
#486 Posted : Wednesday, April 29, 2015 6:09:49 AM(UTC)
CNH

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 12/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: none

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Kính cám ơn Bạn Độc Giả, đã góp ý:

a- 1 quan niệm về thuyết luân hồi, được giải thích, thì CNH tôi mới biết đó là thuyết luân hồi được giải nghĩa theo lối “cao siêu”, mà tôi chưa bao giờ được biết. Tôi thì ít học và lười đọc, nên hiểu “luân hồi” theo cách thông thường, nghe được nơi dân gian ở đời thường.

b- Về quan niệm diệt dục để tránh khổ, tôi cũng đã hiểu ngôn từ “dục” theo nghĩa tổng quát, chứ chưa được nghe “diệt dục XẤU để tránh khổ”. Rất xin lỗi về cách hiểu theo nghĩa tống quát của tôi.

c- Về câu mà Đức Phật đã nói, tôi chỉ “viết” đại ý thôi; chính xác hơn là: “49 năm Ta không có thuyết một lời”. Quí độc giả có thể tìm câu nầy trên “net” để tự hiểu lấy, nếu không hiểu mà cứ hỏi, thì chỉ được trả lời rằng: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”.

Nhưng tôi tâm đắc về sự kiện “nhân-quả” mà nhà Phật thường đề cập. Hễ thấy tình trạng tốt hay xấu của 1 xã hội, thì biết xã hội đó được ảnh hưởng bởi nền giáo dục nào; từ đó suy ra nguyên NHÂN nào đã tạo ra xã hội đó. Tương tự như thế, để xét về lí thuyết cộng sản duy vật vô thần, cũng như tư cách của Hồ Chí Minh...; nhiều người phải tham khảo tài liệu, sách vở; có kẻ binh, người chống. Riêng tôi, chỉ cần biết đại đa số người dân cứ muốn ti nạn cộng sản, thì biết lí thuyết duy vât vô thần, cũng như tư cách của Hồ Chí Minh... không đáng được duy trì hoặc ca ngợi. Muốn tiến hóa thì cái gì không đem lại kết quả tốt, cần phải bị đào thải. Nếu cứ bảo vệ cái gì thuộc về TA, mà bất kể hậu QUẢ; để cùng nhau ngụp lặn mãi trong bể khổ. Trách ai?

Dầu sao tôi cũng rất trân trọng bất cứ sự góp ý nào. Xin cám ơn Bạn Độc Giả 1 lần nữa.

Kính chào Bạn.

CNH

Edited by user Wednesday, April 29, 2015 6:10:41 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Độc Giả  
#487 Posted : Wednesday, April 29, 2015 8:47:22 PM(UTC)
Độc Giả

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 4/21/2015(UTC)
Posts: 3
Location: usa

Was thanked: 3 time(s) in 3 post(s)
Cảm ơn bạn lly và CNH đã phản hồi ý kiến cho góp ý của tôi.

Bạn CNH phản hồi về quan niệm luân hồi và diệt dục qua góp ý của tôi rất rõ ràng.

Theo lời bạn:
Quote:
“chính xác hơn là: ‘49 năm Ta không có thuyết một lời’. Quí độc giả có thể tìm câu nầy trên ‘net’ để tự hiểu lấy"
tôi google tìm thử thì có lời giải thích theo ý:

"Chân lý nằm ngoài ngôn ngữ và văn tự nên không thể thuyết giảng được. Có thể lấy ví dụ là 'ngón tay chỉ mặt trăng'. Mặt trăng ý chỉ là chân lý; ngón tay ý chỉ là kinh điển. Chúng ta nương kinh điển để thấy chân lý cũng như nương ngón tay để thấy mặt trăng. Kinh điển không phải là chân lý; kinh điển chỉ miêu tả về chân lý. Khi đạt được chân lý thì không cần tới kinh điển, cũng như khi thấy được mặt trăng thì không cần có ngón tay chỉ dẫn nữa."

là một trong những câu trả lời.

Nếu bạn CNH vẫn chưa thỏa mãn với câu giải thích trên thì có thể giải thích theo cách khác. Trong 49 năm hành đạo Đức Phật đã không nói thẳng ra những thấy biết mà Ngài đã thực chứng vì biết trình độ và tâm tánh của con người sẽ không hiểu hoặc không đón nhận ngay được những thấy biết đó. Ví dụ như một bịnh nhân được bác sĩ nhãn khoa giải phẫu mắt để chữa bịnh mù và băng bó lại. Khi vừa lành thì bác sĩ sẽ mở băng từ từ, từng lớp một chứ không thể mở ào ra một lần thì mắt không thể thích nghi với ánh sáng chói chan ngay được. Cũng như vậy, thật ra trong 49 năm hành đạo Đức Phật đã nói, giảng bằng nhiều bài pháp phương tiện để từ từ dẫn dắt người cầu đạo thấy được tâm tánh, nội tâm mà giác ngộ, tỉnh thức, và an lạc.

Bạn CNH viết tiếp:
Quote:
“Nếu không hiểu mà cứ hỏi, thì chỉ được trả lời rằng: ‘Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi’”
Tôi nghĩ câu nầy không được rõ ràng lắm. Người đọc có cảm giác là người tìm hiểu Phật pháp không được chỉ dẫn gì, rất bơ vơ phải “tự mình thắp đuốc lên mà đi”.

Để rõ thêm, chúng ta hãy xét xem hoàn cảnh nào mà có câu nói “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” và câu nói đầy đủ liên hệ đến câu nói đó là gì.

Theo như kinh điển, khi Phật Thích Ca bị bệnh ở Beluva (Ấn Độ), trước sự lo âu buồn khổ của đệ tử A Nan, Ðức Phật đã nói lời dạy dưới đây, vừa là lời chỉ dạy tóm thâu mọi phương pháp tu hành của ngài được cô đọng lại, và cũng là một lời trăn trối của một bậc Ðạo sư biết mình sắp lâm chung. Đây là những lời nhắn nhủ và khích lệ đệ tử của mình những gì các đệ tử cần phải tu tập, sau khi bậc Ðạo sư viên tịch:

"Này A Nan, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình (atta-dipà viharatha), hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một cái gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác ...”.

Ở đây vì chữ 'dipà' vừa có nghĩa là ngọn đèn, vừa có nghĩa là hòn đảo nên có người dịch: Tự mình thắp đuốc lên mà đi, hay Tự mình xây dựng hòn đảo cho chính mình.

Chính lời chỉ dạy này có thể được xem là phản ảnh trung thực đời sống tìm đạo, hành đạo, và chứng đạo của Phật Thích Ca dựa trên kinh nghiệm bản thân của Ngài và cũng gói ghém trọn vẹn tất cả giáo pháp Ngài dạy trong suốt 49 năm thuyết pháp giúp đời của Ngài để truyền lại cho hàng đệ tử.

Chỉ vài lời góp ý cho rõ thêm. Cảm ơn bạn đã bỏ thì giờ để đọc những lời góp ý này.

Edited by user Monday, May 4, 2015 7:50:30 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked Độc Giả for this useful post.
lly (Lynn Ly) on 5/4/2015(UTC)
DongA  
#488 Posted : Friday, August 21, 2015 7:35:57 PM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Bài viết đáng suy nghĩ, trích từ “Diễn Đàn Giáo Dân” tháng 8, 2015:

Chúa chọn hay tôi chọn? Đặt lại vấn đề về một quan niệm.

Câu Chuyện Từ Nước Đức

Phạm Hồng Lam

Chủ: - Bác gần các ngài (giám mục), đôi khi cũng nên nhắc nhở các ngài về những điều không hay.

Khách: - Chẳng cần. Chúa đã chọn các ngài, thì Chúa cũng đã sẵn có chương trình cho các ngài!

Những khẳng định như thế, tôi đã nghe rất nhiều lần. Có thể nói, đó là tâm lí của hầu hết người công giáo Việt nam. Họ tin rằng, những chức vụ nhà tu, từ nam nữ tu sĩ tới linh mục, giám mục, giáo tông đều là những thứ do "Chúa chọn".

Xưa nay tôi vẫn tin đây là một quan niệm sai, một xác tín thuần tuý tình cảm đạo đức, chứ chẳng có nền tảng thần học nào cả. Nhưng cứ nghĩ mình không biết nhiều về thần học thì chẳng nên đụng vào.

Nhưng nay có hai động cơ gần khiến tôi mạnh dạn nêu vấn đề.

Thứ nhất là vì một tư tưởng của mẹ Tê-rê-xa ở Calcutta. Mẹ khẳng định: Chẳng phải là í Chúa muốn tôi làm nông dân, cu li, kĩ sư, nhà giáo, bác sĩ, người ở, tổng thống … (hay bất cứ nghề nghiệp nào). Đó là í của tôi, tôi muốn, chứ không phải Chúa muốn. Chúa chỉ muốn một điều duy nhất nơi tôi, là hãy sống cho nên thánh, nghĩa là hãy hoàn thành thật tốt đẽp vai trò và nghề nghiệp của mình. Chấm hết.

Í Chúa đơn giản và cụ thể như thế, chứ không phải như câu cửa miệng của con nhà đạo mình: "Í Chúa thật khôn lường"! "Chẳng ai biết trước được thánh í Chúa"!

Thứ hai là khi đang nghĩ về đề tài này thì đúng dịp kỉ niệm 600 năm ngày mất của linh mục Jan Hus (1370-1415) người Tiệp. Ông bị toà án giáo hội lên án rối đạo và giao cho thế quyền thiêu sống ngày 06.07.1415 trước cửa thành phố Kostanz, Đức, nơi từ 1414 đang diễn ra công đồng của Giáo Hội (do hoàng đế Đức triệu tập), để giải quyết chuyện ba giáo tông lúc đó đang một lúc giành nhau ngai toà. Truyện Jan Hus cũng là một trong muôn vàn câu truyện đáng tiếc dọc dài trong lịch sử của Giáo Hội. Jan Hus là giáo sư và viện trưởng đại học Praha; ông chịu ảnh hưởng tư tưởng cải cách của nhà thần học John Wiclif ở Anh. Cũng như các đồng nghiệp đương thời, ông đau khổ vì tình trạng phân rẽ giáo tông và đổ vỡ giáo hội hoàn vũ, trong lúc giáo phẩm khắp nơi thì xa hoa, sa đoạ. Đối với ông, chỉ còn cách cứu vãn duy nhất là đề xướng một giáo lí mới, theo đó, Giáo Hội thật là giáo hội vô hình, trong đó chỉ cần tin vào đức Ki-tô là đủ, chẳng cần giáo tông, giám mục hay linh mục gì cả. Những tư tưởng của ông sau này được Luther, Calvin và Zwingli tiếp tục khai triển. Hoàng đế Đức mời và bảo đảm an ninh bản thân cho ông tới dự, để biện hộ trước Công Đồng. Các nghị phụ yêu cầu ông rút lại những luận đề bị họ coi là rối, nhưng ông không chịu. Vì thế, CĐ kết án ông rối đạo (thời đó có nghĩa là tử hình) và trao cho toà án thế quyền thiêu sống. Sử cho hay, trước khi bị thiêu, bảy giám mục giật chén thánh của ông, lột xé áo chùng linh mục của ông, cắt tóc ông thành một hình thánh giá, rồi chụp lên đầu ông một mũ giấy giám mục rối màu trắng có vẽ hình hai con quỷ, cùng nhau nguyền rủa và giải giao linh hồn ông cho quỷ Satan.

Ở đây, ta không bàn chuyện học thuyết của ông ra sao và vụ án có sai quấy hay không. Chỉ biết 83 năm sau, dàn hoả lại bừng cháy ở Í với thân xác Savorarola, một linh mục dòng Đa-minh. Ông này quyết liệt chống lại một giáo triều lúc đó đang lặn ngụp trong sa đoạ của lối sống phục hưng. Dòng Đa-minh giờ đây vận động phong thánh cho ông, nhưng Roma ở vào thế kẹt. Phong thánh ư, thế thì Giáo Hội thời đó sai? Dân Tiệp không cần vận động phong thánh cho Jan Hus, nhưng tôn ông lên thành vị anh hùng quốc gia, lấy ngày ông chết làm ngày lễ nghỉ toàn quốc (sự việc khiến Vatican cắt đứt liên lạc ngoại giao 3 năm).

Năm 1989 Giáo Tông Gio-an Phao-lô II bày tỏ "nỗi buồn sâu xa" trước cái chết man rợ của Jan Hus và ngài gọi vị này là nhà cải cách của Giáo Hội. Giáo Tông Phan-sinh thì lại coi biến cố kỉ niệm hôm nay là "một cơ hội đối thoại" trên bước đường tìm về hoà giải quốc gia và giáo hội.
Ghi lại chút lịch sử để hiểu thêm bối cảnh, chứ chẳng phải là để chúng ta phân định đúng sai, vì mỗi chuyện cũng cần phải suy xét theo thời điểm của nó. Và giờ đây, để lòng thật bình thản, ta thử trả lời xem:

Chúa đã chọn bảy vị nguyền rủa và giao linh hồn Hus cho Satan kia vào hàng giám mục của Người?

Chúa đã chọn Jan Hus làm linh mục, giáo sư thần học và việc ông chống lại giáo triều là do thánh í Chúa muốn?

Giáo Tông A-lê-xăng-đrô, người bị Savonarola gay gắt chỉ trích, và Savonarola là những người được Chúa chọn vào hàng tư tế?
Vân vân và vân vân.

Với tôi, chẳng có việc "Chúa chọn" hay "do thánh í Chúa" gì ráo ở những trường hợp trên đây cả. Và cả ở mọi trường hợp hiện nay. Giáo Tông A-lê-xăng-đrô được chọn vào ngai là do các hồng i bất xứng thời đó bầu. Jan Hus, Savonarola đi tu và làm linh mục trước hết là do í muốn của cá nhân họ. Jan Hus làm giáo sư, viện trưởng là do khả năng và í chí của ông trước tiên. Jan Hus và Savonarola có tài hùng biện giảng đạo là do thiên bẩm, tập luyện cũng như lòng đạo đức của họ.

Cũng thế, Giáo Tông Phan-sinh được bầu là do sự thuận lòng và kì vọng của đa số hồng i mật nghị. Tổng giám mục Montini được bầu thành Giáo Tông Phao-lô VI là nhờ phe chống đối bị vỡ. Chúa không chọn Nguyễn Văn Thuận làm linh mục, nhưng trước hết chính cậu Thuận đã ước ao muốn hiến mình vào con đường linh mục để phục vụ Chúa và tha nhân cách trọn vẹn hơn. Và Chúa cũng đã không chọn ngài vào hàng hồng i, mà do chính thánh Giáo Tông Gio-an Phao-lô chọn ngài.
Nói như thế, không có nghĩa là chúng ta phủ nhận ƠN CHÚA. Ơn Chúa lại là một chuyện khác, nó khác với Í CHÚA hay CHÚA CHỌN. Là người có lòng tin, chúng ta tin rằng, Thiên Chúa có đồng hành với cậu Thuận và có thể đã soi sáng cho cậu trong việc quyết định làm linh mục; và sau này, có thể Người cũng đã đồng hành và nâng đỡ ủi an Giám Mục Thuận trên bước đường tù ngục và hoạt động. Có thể Chúa cũng đã soi sáng cho các nghị phụ trong quá trình bầu chọn giáo tông. Và trong nhiều trường hợp – chứ không phải tất cả - có thể có sự soi sáng của Chúa trong việc đề nghị ứng viên và chọn các giám mục. Đó là chưa nói tới những trường hợp éo le trong các nước cộng sản, trong đó nhiều khi Thiên Chúa chỉ là người hợp thức hoá những nhân sự do chính quyền cộng sản chọn.
Ơn Chúa nhưng không. Ơn đó đổ xuống trên tất cả mọi người. Ai sẵn sàng đón nhận, ơn ích càng thêm tràn đầy. Ai không muốn nhận, ơn vẫn có đó, nhưng ít tác dụng.

Chúng ta cần minh bạch và thẳng thắn trong chuyện này. Minh bạch và thẳng thắn không có nghĩa là cố tình tục hoá hay ngầm phá vỡ tính chất linh thiêng của các chức thánh. Nhưng là để chúng ta có được chính danh, có được thoải mái trong cuộc sống, cả phía giáo sĩ lẫn giáo dân.
Khi nhận thức rằng, chức tư tế trước hết là do chính tôi chọn trước mặt Chúa và con người, chứ không do Chúa chọn hay bắt tôi nhận, thì người giáo sĩ sẽ không dám liều lĩnh phán: Điều tôi nói là Chúa nói. Họ sẽ bớt kẻ cả. Bớt xa cách giáo dân. Bớt sống giả, vì không cảm thấy bị trói trong "định mệnh". Vã nỗ lực bám vào Chúa và cậy trông Chúa nơi họ sẽ không ngơi nghỉ, vì họ biết, đây là một quyết định thuộc trách nhiệm của tôi và tôi phải cần ơn Chúa để sống trọn quyết định đó. Câu "Linh mục là đức Ki-tô khác" muốn nói lên vai trò quan trọng và cao trọng của chức tư tế, chứ không nói tới gốc xuất phát của chức này. Và như thế, khi biết mình không thể nào tiếp tục sống được sự chọn lựa của mình nữa, họ sẽ có thể rút lui trong chân thành và thanh thản, mà không rơi vào mặc cảm phản bội hay đào ngũ.

Phía giáo dân, nếu hiểu được như thế, sẽ thông cảm nhiều hơn cho những lỗi lầm và thiếu sót của giáo sĩ. Họ sẽ thẳng thắn nhắc nhở những sai trái (cố í hoặc vô tình) của giáo sĩ. Họ sẽ không ngã lòng thất vọng trước những trường hợp hồi tục hoặc bớt nguyền rủa những người này: "ăn hết cơm gạo nhà đức Chúa Trời mà vong ân bội nghĩa"! Họ sẽ dễ trưởng thành hơn, vì không bị lưới "Chúa chọn" bịt miệng.

Nói tắt lại, có nhận thức được như thế, cả hai sẽ sống "người" hơn.

Hẳn không ít người hoảng hốt hoặc khó chịu khi đọc những điều chói tai gai mắt trên đây. Họ sợ như vậy là tôi muốn đánh mất sự cao cả và tính linh thiêng của chức tư tế, nhất là trong thời buổi khủng hoảng đức tin nặng nề hiện nay. Quý vị cứ tự do suy diễn và nên viết ra để phản biện lại tôi. Tôi vui mừng, nếu được đọc những quan điểm trái ngược với mình. Nhưng nghĩ như vậy là không đúng. Nay là lúc cần sự lương thiện. Đừng hễ cái gì cũng đổ cho Chúa, để trốn tránh trách nhiệm của mình hoặc lấp liếm những thiếu sót của mình. Khi tạo dựng ra ta, Thiên Chúa đồng thời trao cho ta tự do, vì thế quyết định là ở nơi ta. Theo vế "Chúa chọn" là ta đi vào cửa tiền định, một cửa mà trước đây Jan Hus và Martin Luther đã triệt để đi theo với tuyên ngôn: chỉ Tin là đủ". Hay nói như vị khách đầu bài: "Chúa đã chọn các ngài thì Chúa cũng đã sắp sẵn chương trình cho các ngài"! Chức vụ "Chúa chọn" sẽ biến các ngài tự khôn ngoan, đạo đức, mà chẳng cần gì ai nhắc nhở, chỉ dẫn nữa! Giáo Hội đã bác bỏ tuyên ngôn đó, vì rằng, nếu như thế, thì con người chỉ là những cái máy. Thiên Chúa cần loài người tự do chứ không cần máy. Theo vế "Tôi chọn" trong sự Soi Sáng và Ơn Phù Trợ của Chúa là chúng ta bước vào đúng cửa của Tạo Dựng.
Hay nói như mẹ Tê-rê-xa – nhắc lại -: Chẳng phải là í Chúa muốn hay Chúa chọn tôi làm ông này bà nọ, làm nghề này chức nọ. Đó là do tôi muốn, chứ không phải Chúa muốn. Chúa chỉ muốn một điều duy nhất nơi tôi, là hãy sống cho nên thánh, nghĩa là hãy hoàn thành thật trọn vẹn vai trò của mình.

Augsburg, 14.07.2015.
DongA  
#489 Posted : Monday, November 16, 2015 10:49:17 AM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Ned Dougherty với “kinh nghiệm cận tử” và viễn kiến về tương lai

Kevin Williams

Người dịch Đông A:

Nhân thấy có biến cố xảy ra tại Paris ngày 13, thứ Sáu, tháng 11, cùng những biến cố khác đã xảy ra, đã được nêu lên bởi ông Dougherty. Vì thế người dịch xin mạn phép đăng bài tạm dịch từ bài viết “Ned Dougherty's Near-Death Experience and Visions of the Future” của Kevin Williams. Đương nhiên là có thể có những thiếu sót khi phiên dịch, xin thứ lỗi và chỉnh lại nếu không hợp.

Bản tiếng Anh trong trang Web: htxp://wxw.near-death.com/dougherty.html
(Xin thay thế chữ htxp://wxw bằng http://www)


Ned Dougherty (tên Ái Nhĩ Lan, phát âm là "Dock-erty"), vào độ giữa tuổi ba mươi, ông có tất cả mọi thứ: tiền bạc, phụ nữ, tài sản, uy tín và quyền lực. Ông là một nhà môi giới bất động sản trong hai mươi sáu năm, sở hữu câu lạc bộ đêm nổi tiếng ở Palm Beach, Florida, và Hampton, sân chơi độc quyền của Long Island cho những người giàu có và nổi tiếng. Ông sống vội vã, dùng tất cả các giờ trong ngày để theo đuổi những niềm vui có thể mua bằng tiền. Mặc dù được giáo dục như là một người Công giáo, nhưng ông không quan tâm đến đời sống tinh thần, vì không tin vào đời sau. Ông quá bận rộn để vui chơi và không muốn bị làm phiền với những điều như vậy.

Tất cả những điều này đã thay đổi vào ngày 02 tháng bảy 1984, khi ông có một kinh nghiệm cận tử (NDE) do một cơn đau tim, sau một vụ đánh nhau - gần như giết người - với một đối tác kinh doanh. NDE của Dougherty đã khiến ông trải qua một sự biến đổi về cuộc sống cố hữu của mình, từ đó ông đã bỏ kinh doanh câu lạc bộ đêm của mình với lối sống phóng đãng và chấp nhận Công Giáo mà ông đã từng bỏ quên. Kinh nghiệm cận tử đã cho ông một ý thức về sứ mệnh của mình trong cuộc sống là để bắt tay vào công việc từ thiện và truyền giáo. Trong kinh nghiệm cận tử của ông, một “Đức Nữ Ánh Sáng” ("Lady of Light") tuyệt vời (đấng mà ông xác định là Đức Trinh Nữ Maria) cho ông biết về thảm họa toàn cầu trong tương lai, nhiều điều trong những số đó đã xảy ra, mà bạn sẽ đọc được trong bài viết này.

Ngày nay, Dougherty là một diễn giả, một cựu giám đốc và phát ngôn viên về truyền thông của Hiệp hội quốc tế Nghiên cứu cận tử (www.iands.org). Ông cũng thành lập một trung tâm tinh thần như tiết lộ trong kinh nghiệm cận tử của mình, được gọi là “Tổ chức sứ mệnh các thiên thần” (the Mission of Angels Foundation) (www.fastlanetoheaven.com), mà qua đó ông nói về các vấn đề thuộc đời sau, kinh nghiệm cận tử, sự hiện ra của Đức Trinh Nữ Maria cùng các vấn đề tâm linh khác. Ông cũng tổ chức một trang web tin tức Công giáo là “End Times” (www.endtimesdaily.com) - chú trọng đến thần học về sự chết. Nơi ông xuất bản những bài viết hàng tháng về sự biểu hiện nội tại từ năm 2005. Sau đây là một đoạn trích từ cuốn sách của ông, “Đường nhanh chóng tới Thiên Đàng: Sự gặp gỡ ở Thượng giới làm thay đổi cuộc sống của tôi” (Fast Lan to Heaven: Celestial Encounters that Changed My Life), được xuất bản vào tháng Ba năm 2001, một tài liệu về kinh nghiệm cận tử tuyệt vời của ông với viễn kiến về tương lai của Trái đất.


1- Kinh nghiệm cận tử của Ned Dougherty và Hí trường thiên đàng

Sau cơn đau tim của mình, Dougherty đã có “kinh nghiệm ngoài cơ thể” (OBE- out-of-body experience), trong khi xe cứu thương gấp rút đưa ông ta đến bệnh viện.]

Như một vùng năng lượng khổng lồ bắt đầu hình thành trên bầu trời trực tiếp trước mặt tôi, tôi nghe thấy một âm thanh lớn như tiếng ồn của máy xay, do một khối năng lượng tự tạo thành hình dạng giống cái phễu. Dường như bóng tối của bầu trời biến thành chất lỏng như khối năng lượng cuộn tròn giống một làn sóng biển và hình thành một đường hầm hoàn hảo trải dài lên trời.

Tôi nhìn như chằm chặp vào cái đường hầm lớn của năng lượng và nó bó buộc (tôi phải vào), đó là một vùng lung linh, phát ra ánh sáng màu xanh, đường hầm bắt đầu trôi xuống về phía tôi. Nó đến gần một cách nhanh chóng, tôi thấy vùng phát ánh sáng màu xanh này trở thành hiện thực, hình ảnh của một con người. Như hình ảnh bắt đầu trở thành sự thực, tôi thấy mình đối mặt với một người bạn cũ. Tên của ông là Dan McCampbell, nhưng tôi chẳng bao giờ mong để gặp anh ta một lần nữa, ông đã bị giết chết tại Việt Nam.

“Khi Dan và tôi truyền đạt, tôi nhận ra rằng chúng tôi đã không nói chuyện với nhau như trong cuộc sống trần thế. Ngay sau khi tôi nghĩ, "Dan, tôi nhận ra bạn", nó đã được thông báo tới anh ấy. Chúng tôi đã giao tiếp bằng thần giao cách cảm, điều này bao hàm thông tin từ giữa những tâm trí bằng các phương tiện khác hơn là giọng nói, được một mô tả ngắn gọn là sự trải qua thông tin về tinh thần. Chúng tôi không chỉ giao tiếp bằng lời nói; mà đã liên lạc với nhau từ những cảm xúc tới xúc cảm. Như khi nghĩ, chúng tôi cũng biểu hiện cảm xúc về suy nghĩ. Những suy nghĩ và cảm xúc đã được truyền đạt thần giao cách cảm với tính cách tâm linh, vượt xa giao tiếp của người bình thường. Dan thông báo cho tôi:

"Bạn đang trên ngưỡng cửa của một cuộc hành trình quan trọng. Mỗi địa điểm và các sự kiện này, bạn nên hấp thụ nhiều như bạn có thể. Điều quan trọng là bạn phải nhớ tất cả mọi thứ mà bạn nhìn thấy trước mắt. Bạn sẽ được trở lại (đời sống), với những gì bạn trải nghiệm. Bạn có một nhiệm vụ phía trước trong cuộc sống của bạn và kinh nghiệm này sẽ hướng dẫn bạn về sứ mệnh đó."

Đột nhiên, tôi được bao bọc trong ánh sáng vàng rực rỡ. Ánh sáng rực rỡ hơn so với ánh sáng phát ra từ mặt trời, nhiều lần mạnh hơn và rạng rỡ hơn chính mặt trời. Tuy nhiên, tôi đã không bị mù, cũng không phải là tôi bị đốt cháy bởi ánh sánh này. Thay vào đó, ánh sáng là một nguồn năng lượng bao phủ bản thể tôi.

Tôi một mình ở trong ánh sáng rực rỡ này và lơ lửng trước một sự hiện diện tuyệt vời. Ngay lập tức tôi tin rằng tôi đang ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa của tôi. Tôi cảm thấy rằng Thiên Chúa đã ôm lấy tôi, và Ngài đã có sự thương yêu đối với tôi, một thương yêu lớn hơn bất cứ sự yêu thương mà tôi đã từng được biết đến trên trái đất. Tôi nhận ra rằng Thiên Chúa ban ánh sáng thương yêu trên tôi, như ánh sáng của Ngài chuyển hóa từ ánh sáng vàng rực rỡ thành ánh sáng trắng tinh khiết. Như tôi đã chấp nhận hơn nữa về sự thương yêu của Thiên Chúa, ánh sáng của Ngài trở nên sáng hơn, có độ trắng tinh khiết không thể tả. Khi cảm thấy rằng bản thể thiêng liêng của tôi đã nhận được tình yêu Thiên Chúa đến mức ngập tràn, tôi đã nhận thức được rằng Thiên Chúa đã làm ổn định và tiếp thêm sinh lực cho bản thể tôi để chuẩn bị cho sứ mệnh của mình. Nhận ra rằng tôi sẽ phải trở về cuộc sống trần gian và Thiên Chúa đã chuẩn bị và định hướng cho tôi trở lại đó.

Thiên Chúa đã bắt đầu làm thấm nhuần tôi với kiến thức phổ quát (universal knowledge). Tôi nhận ra rằng tôi đã luôn luôn khát khao kiến thức này và tôi muốn hấp thụ nhiều như tôi có thể. Như tôi vẫn lơ lửng trong ánh sáng của Thiên Chúa, tôi cảm thấy kiến thức này thấm nhập và hấp thụ bởi bản thể tinh thần của mình. Kiến thức này đã được chảy qua tôi theo cách tương tự, như sự yêu thương của Thiên Chúa, dao động thông qua bản thể tôi. Dan đã trở lại ở bên cạnh tôi lần nữa. Chúng tôi cùng đi xuống với nhau từ ánh sáng của Thiên Chúa vào một vũ trụ của những ngôi sao sáng. Chúng tôi một lần nữa ở trong khoảng trống sâu nhất của không gian, nhưng bây giờ tôi cảm thấy thoải mái trong môi trường này cũng như trong cơ thể tinh thần của mình, và tôi cảm thấy như ở nhà trong vị trí thiên thể này. Khi Dan và tôi tiếp tục đi xuống, tôi giật mình bởi cấu trúc thanh tao tuyệt vời ngay bên dưới chúng tôi. Cấu trúc trên trời này giống như một hí trường, tương tự như được thấy trong các nền văn minh cổ đại. Hí trường này được làm bằng một chất tinh thể rực rỡ, tỏa ra sóng năng lượng nhiều màu trong toàn hình thể của nó. Hí trường lơ lửng trong khoảng không gian trông giống một trạm không gian trong không gian. Hí trường có kích thước tương đương với một sân vận động thể thao và toát ra một vẻ uy nghi tuyệt vời.

Khi Dan và tôi xuống gần hơn với hí trường và nhận ra rằng nơi đây đã có hàng ngàn bản thể anh linh. Chúng tôi liệng trực tiếp bên trên cấu trúc, và cảm thấy một năng lượng sống động bao bọc tôi. Năng lượng dường như đến từ các cấu trúc tinh thể của hí trường. Chúng tôi xuống thấp hơn, tôi càng bị năng lượng này thu hút.

Tôi cảm nhận rằng hàng ngàn anh linh cũng được hấp thụ năng lượng này. Họ đã gửi đi những sóng năng lượng này với nhau cũng như với Dan và tôi. Bây giờ chúng tôi đã xuống dần vào vùng thượng giới này, nơi được bao quanh bởi vòng cung lớn của hí trường. Dù đây lần đầu tiên tôi cảm thấy điều này giống như năng lượng, tự nhận ra rằng năng lượng phát ra từ cấu trúc tinh thể cũng là một âm thanh giao hưởng (symphonic sound).
an và tôi đã lơ lửng ở trung tâm của lĩnh vực thượng giới này ngay sau đó, có nghĩa rằng chúng tôi là trọng tâm của sự chú ý cho hàng ngàn bản thể anh linh ở trên khắp hí trường. Trên, dưới, và phía sau chúng tôi là khoảng trống sâu của không gian. Trước mặt chúng tôi, hàng ngàn anh linh được giao tiếp, bởi những âm thanh của nhạc, cảm xúc thân thiện với tôi. Âm thanh chào hỏi của họ là sự hài hòa với những âm thanh giao hưởng của năng lượng phát ra từ hí trường. Khi tôi yên vị trên nơi thượng giới này, tôi có thể nhìn trực tiếp vào bề mặt tinh thể của hí trường và thấy như đây là lăng kính nhiều màu của ánh sáng lung linh qua cấu trúc.

Tôi đã thấy tràn ngập bởi cảnh tượng tuyệt vời phía trước, nhưng cảm xúc của tình yêu đã được truyền đạt cho tôi những bản thể tinh thần này thật sự còn tràn đầy hơn nữa. Các anh linh đã cổ vũ tôi, truyền đạt khuyến khích yêu thương và ủng hộ:

"Bạn đang làm điều tuyệt diệu. Chúng tôi đang ở đây để hỗ trợ bạn. Tiếp tục làm tốt công việc, và chúng tôi sẽ giúp bạn. Bạn là một phần của chúng tôi, và chúng tôi là một phần của bạn. Chúng tôi sẵn sàng đến để giúp đỡ bạn khi bạn cần chúng tôi và bạn sẽ làm. Gọi cho chúng tôi. Ra hiệu cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ họp với bạn khi thời gian đến! "

Thành thật mà nói, tôi đã nhầm lẫn bởi tất cả với sự chú ý này. Không có bất cứ điều gì tuyệt vời về cách tôi đã cư xử trong cuộc sống của mình. Có lẽ các bản thể nói về những gì chưa đến. Họ chắc chắn không thể nói về những sự kiện trong cuộc sống của tôi trước đó. Tôi nghĩ, "Làm thế nào tôi có thể tuyệt vời. Tôi hầu như đã giết một người nào đó tối nay. Làm sao tôi có thể biện minh được những gì tôi đã cố gắng làm?" Dan đã cản:

"Bạn đã được cứu sống theo cách tâm linh từ một sự kiện tiêu cực đã diễn ra trong cuộc sống của bạn. Bạn cố gắng để truyền đạt một ý nghĩ tiêu cực liên quan đến sự kiện này. Bạn không thể nói về những điều như vậy ở đây. Không có suy nghĩ tiêu cực ở đây, chỉ với những khẳng định tích cực. Họ không thể nghe bạn, họ sẽ không nghe thấy bạn khi nói hay suy nghĩ tiêu cực. Bạn phải tích cực thực hiện nhiệm vụ của bạn "

Tôi quay sang bên phải, nhận ra rằng một nhóm các bản thể anh linh đã tham gia với chúng tôi trên lĩnh vực vũ trụ. Sự kiện này thực sự là một trở về quê hương đối với tôi. Trong số các anh linh, tôi nhận ra bạn bè và người thân đã qua đời khi tôi sống. Tôi cũng nhận ra những người bạn khác từ đời sống tâm linh của tôi, trước khi tôi sinh ra trên trái đất. Tôi đã tràn ngập niềm vui khi tôi nhận ra ông bà, cô dì của tôi, và người chú đã chết khi tôi đang sống. Tuy nhiên, tôi đã thất vọng vì tôi không nhìn thấy cha tôi trong nhóm. Sau đó tôi nhận ra những người bạn khác, trong đó có một cô gái thời trung học. Tôi không biết cô ấy đã chết. Cảm xúc của thương yêu và niềm vui mà tôi chia sẻ với những người thân và bạn bè đã vượt xa những cảm xúc tôi đã chia sẻ với họ trong cuộc sống của tôi. Như là con của một gia đình nghiện rượu và tan nát, tôi đã không truyền đạt được cảm xúc cho người thân hoặc bạn bè. Thực ra, tôi đã không biết rằng tôi đã có nhiều cảm xúc. Hầu hết những cảm xúc của tôi đã được ẩn giấu ở bên trong.

Bây giờ tôi đã trở về nhà của tôi như một bản thể tinh thần, những chào đón là những điều mà tôi tưởng tượng đã diễn ra trong một gia đình lành mạnh. Có vẻ như chúng tôi đang ăn mừng những ngày lễ lớn, mỗi sự sinh ra và sinh nhật, tất cả các sự kiện tuyệt vời trong cuộc sống của chúng ta mà không bao giờ có thể ăn mừng như những bản thể có sự chết. Tôi muốn mừng kỷ niệm về này nhà tiếp tục mãi mãi, nhưng một sự im lặng đột nhiên đến hý trường đông đúc.

[Dougherty sau đó trải qua một nhận xét cuộc sống, trong đó ông thấy mình là thẩm phán duy nhất cho chính mình. Sau đó, một bản thể mà Dougherty xác định là "Đức Nữ Ánh Sáng” (Lady of Light) tiết lộ cho biết tương lai cá nhân của ông về việc tạo " Sứ mệnh của thiên thần "cũng như những lời tiên tri về tương lai của thế giới.]


2. Dinh chứa hồ sơ và viễn kiến của Ned Dougherty về tương lai của trái đất

Như những cảnh trong phim về cuộc sống tương lai của tôi đã hết, tôi thấy bản thể mình ở trong một tòa nhà, mà tôi biết như là “Dinh chứa hồ sơ” (Hall of Records). Tôi đang ngồi trên một băng ghế đá cẩm thạch và chờ đợi. Từ đó có thể nhìn ngoài qua một chỗ mở ở một bên của căn phòng. Tôi có thể nhìn thấy cột trụ lớn đỡ một cổng vòng cung của tòa nhà, mà trong đó tôi ngồi. Ở phía trước của cột, có một cầu thang dài dẫn đến một sân rộng lớn. Tôi thấy rằng mình ở trong cấu trúc lớn lao và tuyệt vời này trên trái đất, mà chỉ trong khoảng thời gian nào khác. Kiến trúc và thiết kế của tòa nhà đã đưa tôi đi đến kết luận rằng nơi đây có lẽ là trong thời Ai Cập cổ đại. Tuy nhiên, tôi đã không thấy bất kỳ bản thể khác hoặc hoạt động của con người, tôi kết luận là mình vẫn còn trong lĩnh vực thượng giới.

"Đức Nữ Ánh Sáng” (Lady of Light) xuất hiện trong phòng trước mặt tôi. Ngài đứng bên cạnh một quả cầu lớn của trái đất, lơ lửng trong một khung tròn lớn gắn liền với sàn đá cẩm thạch. Ngài bắt đầu nói với tôi về tương lai của thế giới khi chỉ vào quả cầu. Tôi thấy Ngài chỉ đến Trung Đông, và thấy một điểm chớp sáng. Sau đó Ngài chỉ đến Ý và tôi thấy điểm chớp sáng khác. Sau đó điểm chớp sáng bung ra nhanh chóng trên khắp Trung Đông và châu Âu diễn tả về những việc xảy ra, các biến cố trên thế giới gây ra bởi loài người: hành vi xâm lược, khủng bố và chiến tranh. Với tình cách cuồng tín, các nhóm tự xưng là của tôn giáo cho là hành động vì nhân danh Thiên Chúa đã thực hiện rất nhiều những hành vi này, nhưng tôi đã được bảo rằng hành động chiến tranh và xâm lược không phải là một phần kế hoạch của Thiên Chúa.

Tôi đã được chỉ về một viễn tượng của một cao nguyên lớn ở Trung Đông. Cao nguyên được bao quanh bởi một khu vực bụi bặm, khô và cằn cỗi mà dường như bỏ hoang và không có đời sống. Tôi đã được bảo rằng các sự kiện tương lai tại địa điểm này ở Trung Đông sẽ bắt đầu một phản ứng dây chuyền đưa đến các biến cố thảm khốc do con người, đầu tiên ở Trung Đông, sau đó ở châu Phi và châu Âu, tiếp theo là các biến cố ở Nga và Trung Quốc.

"Đức Nữ Ánh Sáng” (Lady of Light) chỉ cho tôi một cảnh của Trái đất lơ lửng trong không gian. Tôi thấy như trục quay của Trái đất bắt đầu dịch chuyển đáng kể. Tôi không thể nói sự dịch chuyển này bao lâu, cũng không phải là lúc nào hoặc ngày nào sẽ xảy ra. Tôi có thể nói rằng những thay đổi đáng kể vật lý địa chất về bề mặt trái đất sẽ diễn ra như một kết quả của sự dịch chuyển trục trái đất. Các trận động đất lớn đã xảy ra trên khắp thế giới, thay đổi đáng kể các lục địa lớn. Có cảnh núi lửa với cường độ mạnh phun những đám mây cuộn khói và tro vào khí quyển, đưa trái đất vào một thời kỳ đen tối. Lũ lụt lớn do kết quả từ sự tan chảy và dịch chuyển các chỏm băng ở vùng cực bắc và nam. Nhiều vùng đất thấp đã bị nhấn chìm bởi sóng thần rất lớn. Tôi đã trông thấy cảnh những biến cố diễn ra, được miêu tả như trong phim đen trắng. Tôi đã nhìn một cảnh từ vị trí đỉnh đồi trên bờ biển của Long Island, New York, một loạt các đợt sóng lớn tràn vào bờ biển, chôn vùi vùng đất này dưới nước. Tôi nhìn thấy một cảnh khác từ một góc phố trong thành phố New York, một bức tường nước lao xuống các đường phố rộng, những cao ốc xung quanh bắt đầu sụp đổ. Trong một cảnh khác, tôi thấy một bức tường nước khổng lồ đập vào bờ biển Miami. Tôi thấy như một vùng đất hoàn toàn mới nổi lên trong đại dương.

"Đức Nữ Ánh Sáng” (Lady of Light) nói với tôi rằng những biến cố trong tương lai sẽ không xảy ra, nếu loài người bắt đầu nhận biết ra và làm việc với kế hoạch của Thiên Chúa. Ngài nói với tôi:

"Cách hiểu và làm việc với kế hoạch của Thiên Chúa là qua lời cầu nguyện và sự suy gẫm, qua lời cầu để nguyện với Thiên Chúa, và qua suy gẫm để nhận được thông điệp của Ngài."

- Tôi đã được bảo rằng thế giới có thể được cứu vớt, không phải bởi các nhà lãnh đạo, nhưng bằng sự cầu nguyện trên khắp thế giới.
- Tôi đã được bảo rằng lời cầu nguyện của một nhóm hai mươi người có thể làm cho một quốc gia tránh được cảnh chiến tranh.
- Tôi đã được bảo rằng số phận của nhân loại đặt trên khả năng của chúng ta, cá nhân hay tập thể, để thay đổi đường hướng của nhân loại cho phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa.

Tại thời điểm này, Dougherty gặp một Đấng có hình dáng hết sức tốt lành, được ông đề cập đến như “Người tuyệt vời” ("The Magnificent Man"), phù hợp với sự mô tả về Chúa Giêsu Kitô, với chiếc áo choàng trắng dài, mái tóc nâu dài và gợn sóng, một bộ râu tỉa gọn gàng, có các em nhỏ bao quanh.]
Như đã trình bày về những biến cố, một loạt câu hỏi chạy qua tâm trí mà tôi hiểu là sẽ diễn ra trên trái đất trong tương lai, trong “Lần cuối” ("End Times") .Tôi đã nhận biết được sự hiện diện của "Đức Nữ Ánh Sáng” (Lady of Light) ở bên phải tôi, mà tôi nhìn thấy những cảnh đó ở phía trước. Nhận ra rằng "Đức Nữ Ánh Sáng” cũng ảnh hưởng đến cái nhìn của tôi trong “Lần cuối”. Khi tôi tập trung vào Ngài, tôi nhận ra sự nổi bật của Ngài trong chuỗi các biến cố được diễn ra trong “Lần cuối” ("End Times"). Tôi đã nhận được rằng các cảnh trí thế gian như núi và thung lũng đã được thấy trên sự bao la của không gian miêu tả về “Lần cuối” ("End Times").

Nói cách khác, tôi đã được chỉ cho biết về cảnh trí của trái đất có thể tồn tại sau “Lần cuối” ("End Times"). Tôi nhận ra rằng sự kết thúc “Lần cuối” không có nghĩa là sự kết thúc của thế giới. Điều này có nghĩa là sự kết thúc của thế giới như chúng ta biết, nhưng nó cũng có nghĩa là sự khởi đầu của một thế giới mới. Tôi cảm nhận rằng cảnh trần thế trong khoảng cách đó là một phần của thế giới mới, nhưng nó dường như rất xa - hầu như không có thể nhận rõ, gần như thần bí, giống như một thế giới trong mơ.

[Sau những thay đổi lớn xảy ra gây đầy thương tích về địa lý cũng như cho những sinh vật trên Trái đất, "Đức Nữ Ánh Sáng” (Lady of Light) cho ông Dougherty thấy sau đó là Trái đất trong tương lai sẽ trở thành nơi địa đàng tuyệt vời. Kinh nghiệm cận tử của Ned Dougherty kết thúc và sứ mệnh mới của ông trong cuộc sống bắt đầu.]

(Còn tiếp)

Edited by user Monday, November 16, 2015 11:03:50 AM(UTC)  | Reason: Not specified

DongA  
#490 Posted : Monday, November 16, 2015 11:27:56 AM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Ned Dougherty với “kinh nghiệm cận tử” và viễn kiến về tương lai

Kevin Williams
Người dịch Đông A
(Tiếp theo)


3. Sự tiên tri từ kinh nghiệm cận tử của Ned Dougherty về sự tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 của quân khủng bố

Trong “kinh nghiệm cận tử” của mình, Dougherty đã gặp được "Đức Nữ Ánh Sáng” (Lady of Light) tuyệt đẹp, ông nhận được nhiều viễn tượng (lời tiên tri) về tương lai. Một trong số đó đã thành sự thật sáu tháng sau khi cuốn sách “Fast Lane to Heaven” được xuất bản vào tháng 3 năm 2001. Lời tiên tri được tiết lộ đến Dougherty như sau:

"Một cuộc tấn công lớn của quân khủng bố có thể xảy ra với thành phố New York hoặc Washington, DC, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cách sống tại Hoa Kỳ của chúng ta." (trang 253, Fast Lane to Heaven, tháng 3 năm 2001).

Không có nghi ngờ gì về lời tiên tri này đề cập đến ngày 11 tháng 9 năm 2001 về việc quân khủng bố tấn công ở New York và Washington DC. Đây chỉ là một trong những lời tiên tri cho Dougherty trong “kinh nghiệm cận tử” của ông. Lời tiên tri khác mà ông nhận cũng được tiếp tục bao gồm trong bài viết này.

Kinh nghiệm cận tử khác, chẳng hạn như Dannion Brinkley, cũng đã đưa ra viễn kiến của cuộc tấn công của quân khủng bố ở New York và Washington. Điều này không phải là bất thường cho những người có kinh nghiệm cận tử về các viễn kiến tương lai.

Một người có trải nghiệm là P.M.H. Atwater có được viễn kiến về các cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9, sau khi nó xảy ra được ghi lại trong tập tin PDF có thể ghi lại miễn phí của bà là “The Challenge of September 11: A Memorial” (PDF file). E-book ngắn này, đã mô tả viễn kiến của bà về "làn sóng các linh hồn" ("wave of souls") rời khỏi hành tinh này vào thời điểm biến cố xảy ra:

"Sáng thứ tư, ngày 12 tháng 9, một lần nữa trong hình thức tinh thần, tôi đi vào trạng thái nội tại thuộc lĩnh vực tâm lin, tại đó có thể nhìn thấy hoàn toàn ... Thay vì tìm kiếm sự nhầm lẫn và tình trạng lộn xộn của ngày hôm trước, tôi đã ngạc nhiên khi quan sát linh hồn ra đi của những người đã chết tạo thành một làn sóng dao động rất lớn, có hình dạng của một "bàn tay" nới rộng lên phía trên. Họ đã đến với nhau như một khối năng lượng và họ đã "thức dậy", họ nhận thức được những gì đã xảy ra cho họ, những kẻ khủng bố và nạn nhân của chúng như nhau, đầu tiên tất cả như tê dại từ “cơn hồng thủy” do các vụ nổ đã xảy ra, sau đó họ tập hợp lại, để ra ngoài biến cố xảy ra cho họ. “The Challenge of September 11: A Memorial” (PDF file).



4. Những điều tiên tri khác về tương lai trong “Kinh nghiệm cận tử” của Ned Dougherty

a- Những sự cuồng tín về tôn giáo sẽ làm cuộc chiến tranh toàn cầu bùng cháy (Fast Lane lên thiên đường, trang 77, 251-252)

Như đã đề cập trước đó trong “kinh nghiệm cận tử” (NDE) của mình, Dougherty thấy một viễn tượng về tương lai của, “các nhóm tôn giáo cuồng tín đã thực hiện rất nhiều những hành vi được cho là hành động nhân danh Thiên Chúa, nhưng tôi đã được bảo rằng hành động chiến tranh và xâm lược không phải là một phần kế hoạch của Thiên Chúa ". Ông đã được thấy một viễn tượng về một khu vực khô khan, bụi bặm, và cằn cỗi của Trung Đông, có thể sẽ phát sinh ra phản ứng dây chuyền về sự kiện thảm khốc do con người tạo ra. Đầu tiên xảy ra ở Trung Đông, sau đó ở châu Phi và châu Âu, tiếp theo là các sự kiện ở Nga và Trung Cộng.

b. Trục quay của Trái Đất sẽ thay đổi gây ra thiên tai nghiêm trọng (Fast Lane lên thiên đường, trang 254)

"Đức Nữ Ánh Sáng” (Lady of Light) sau đó chỉ cho ông về viễn tượng mộtTrái đất lơ lửng trong không gian. Ông thấy trục quay của trái đất chuyển dịch và không thể nói là khi nào bắt đầu hoặc mất bao lâu. Tuy nhiên, ông quan sát thấy một cách rõ ràng những thay đổi về vật lý địa cầu: động đất lớn phun trào trên toàn thế giới thay đổi hình dạng của các đại lục, khói và tro núi lửa cuồn cuộn tuôn vào khí quyển. Ông xem phim đen trắng của những biến cố này.

Nhà "Tiên Tri ngủ" Edgar Cayce cũng dự đoán một sự thay đổi trong từ trường của Trái đất. Theo Goddard Space Flight Center của NASA, năm 1998, một điều gì đó làm thay đổi trường hấp dẫn của Trái đấ, nên các cực của từ trường gần lại với nhau (nd: gần với trục quay thực thụ của trái đất). Bài viết của NASA giải thích rằng khi băng trên các cực tan chảy, dòng hải lưu chuyển nước về xích đạo, yếu tố đó làm các nhà nghiên cứu tin rằng đây là một phần của nguyên nhân, điều này kết hợp với sự thay đổi trong mô hình khí quyển tạo sự chuyển dịch, điều này đang diễn ra trong từ trường của Trái đất. Phát hiện này của NASA khẳng định cả hai dự đoán của Dougherty và Cayce về một sự thay đổi cực là đúng.

c. Một đợt sóng thần rất lớn sẽ đập vào bờ biển Long Island và thành phố New York, sau đó là Miami Beach (Fast Lane to Heaven, trang 78, 253-254)

Rất có thể là dự đoán về cơn sóng thần lớn trong viễn kiến tương lai của ông Dougherty, có thể liên quan đến mối đe dọa tới sự sụp đổ của Cumbre Vieja trong quần đảo Canary. Lời tiên tri này, song song một cách chặt chẽ với một giả thuyết được kết nối từ sự phun trào của trận động đất “mạt thế” (eschatological) ở Cumbre Vieja, mô tả ở những “chương” khác nhau trong Kinh Thánh, liên quan tới lần “đến” thứ hai của Chúa Jesus. Sau “kinh nghiệm cận tử” của mình, Dougherty tự tìm hiểu về mối đe dọa có thể gây ra bởi Cumbre Vieja, và ông đi đến La Palma thuộc quần đảo Canary để điều tra về khu vực này bởi chính ông.

Quần đảo Canary


Bây giờ ông đã tin rằng, sự tiên tri chứng kiến trong “kinh nghiệm cận tử” của mình có liên quan trực tiếp đến mối đe dọa về sự sụp đổ của Cumbre Vieja, trong quần đảo Canary. Xem bài viết liên quan về một trận sóng thần lớn trong đó cho thấy biến cố này như thế nào, dường như là "ngọn núi khổng lồ, đang có lửa cháy" bị ném xuống biển, đã được mô tả như trong sách Khải Huyền (Khải huyền 08:08). Trong cuốn sách của mình, Dougherty cũng thảo luận về các cuộc hiện ra tại Turzovka năm 1958 cũng đưa ra dự đoán về sóng thần khổng lồ, được tạo ra bởi một sự sụp đổ của núi lửa. Xem thêm bài viết này mang tên “The Casting Down of Mountains”, tác động như một trang trung tâm cho các đoạn khác nhau trong Kinh Thánh có thể nói trước biến cố này trong tương lai này.

d. Một vùng đất mới sẽ nổi lên từ đại dương (Fast Lane to Heaven, page 78)

"Đức Nữ Ánh Sáng” (Lady of Light) tiết lộ cho Dougherty trong “kinh nghiệm cận tử” của ông rằng khi sóng thần lớn tấn công cả hai bờ biển phía đông và tây của nước Mỹ ", một vùng đất mới hoàn toàn sẽ nổi lên trong đại dương”. Lời tiên tri này giống như những gì Edgar Cayce dự đoán rằng lục địa Atlantis cổ xưa của sẽ nổi lên một ngày nào đó trong tương lai.

e. Trung Quốc sẽ trở thành một mối đe dọa cho hòa bình thế giới (Fast Lane to Heaven, page 252)

"Mối đe dọa lớn nhất đối với hòa bình và bảo vệ thế giới sẽ đến từ Trung Quốc, họ đang chuẩn bị riêng cho họ một cuộc chiến toàn cầu, với sự thống trị bằng cách xây dựng đội quân lớn nhất thế giới, tính cách tiên tri đã đề cập đến trong sách Khải huyền là đội quân" hai trăm triệu". Dưới dạng kiểm soát dân số, Trung Quốc đã tiêu diệt một cách có hệ thống những bé gái chưa chào đời, để ủng hộ cho phái nam, hòng sinh ra một đội quân có khả năng thống trị thế giới. "Đức Nữ Ánh Sáng” (Lady of Light) đã đặc biệt nói với tôi, "Hãy cầu nguyện cho việc chuyển đổi của Trung Quốc. Việc chuyển đổi của Trung Quốc với Thiên Chúa là cần thiết cho sự cứu rỗi của thế giới. "(Fast Lane lên thiên đường, trang 252).

Mối đe dọa lớn nhất, ông đã được chỉ cho biết, sẽ đến từ Trung Quốc và " đội quân hai trăm triệu " (xem Khải Huyền 9:16). "Đức Nữ Ánh Sáng” (Lady of Light) đặc biệt nói với ông: "Hãy cầu nguyện cho việc thay đổi của Trung Quốc. Sự thay đổi của Trung Quốc đối với Thiên Chúa là điều cần thiết cho sự cứu rỗi của thế giới". Ông nói rằng đã nhìn thấy hiện tượng tương tự như những gì sau đó, ông đã học được về các sự hiện ra của Đức Maria tại Zeitoun, Ai Cập, nơi mà cũng được gọi là "Đức Nữ Ánh Sáng” (Lady of Light). Điều này cũng gợi nhớ đến các cuộc hiện ra của Đức Maria tại Fatima, Bồ Đào Nha gần một trăm năm trước đây, Ngài tỏ sự quan tâm gần như giống hệt về một mối đe dọa tương tự từ Cộng sản Nga.

f. Chính phủ Mỹ sẽ sụp đổ để lại đất nước dễ bị tổn thương bởi sự tấn công của Trung Quốc (Fast Lane to Heaven, page 253)

"Chính phủ Hoa Kỳ sẽ không đáp ứng nghĩa vụ tài chính của họ, đưa đến hậu quả với nợ quốc gia đáng kinh ngạc và sẽ sụp đổ. Đó là kết quả về sự phá hủy các căn cứ quân sự của Mỹ từ thảm họa thiên nhiên, Mỹ sẽ mất khả năng tiến hành chiến tranh, hoặc bảo vệ chính họ, để lại một quốc gia dễ bị tổn thương với cuộc xâm lược của quân đội nước ngoài, đặc biệt là của Trung Quốc với "đội quân hai trăm triệu." (Fast Lane lên thiên đường, trang 253)
.

(./.)



CNH  
#491 Posted : Saturday, April 16, 2016 6:48:20 PM(UTC)
CNH

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 12/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: none

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Hình ảnh của thiên đàng, hỏa ngục.

Phải chăng thiên đàng là cõi phúc; còn hỏa ngục là bể khổ.

Kinh nghiệm cho thấy: bất cứ 1 hợp quần nào, 1 nhóm có hơn 1 người như: 1 đôi vợ chồng, 1 gia đình, 1 đám bạn bè, 1 hội đoàn, 1 đoàn thể, 1 cộng đồng, 1 cơ sở, 1 nước, 1 xã hội...nếu tất cả mọi người trong đó thương yêu nhau, thì mọi người đều được vui vẻ, hạnh phúc; công việc được dễ dàng suôn sẻ, thành công, thịnh đạt... đó là hình ảnh của thiên đàng ở ngay trên trần thế; cũng như ở cõi vĩnh hằng. Đó mới là: “Ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời”.

Để tạo được tiên cảnh nầy, không có cách nào khác ngoài việc giáo dục làm sao, để mọi người được đào tạo ngay từ lúc còn bé cái não trạng biết trân quí tính chân thật, bác ái, vị tha, khiêm nhu, hiền hòa, bao dung, nhẫn nhục; chịu chấp nhận khó khăn, đau khổ, thiệt thòi (hi sinh)... Đạo nào đào tạo tín đồ của mình biết quí trọng và thể hiện được những đức hạnh đó, mới là đạo tốt; mới tạo được những người con ngoan của Đấng Tối Cao (ĐTC), mà tôi thường gọi là Nguồn Tạo Hóa (NTH). Thiết tưởng ĐTC không cần con cái của Ngài hành đạo bằng hình thức như: tôn thờ, tế lễ, cầu xin, khấn vái, thủ tục, nghi lễ, nghi thức, công thức...

Lối hành đạo nầy gây tác hại cho xã hội mà ít ai thấy, vì nó tạo cho tín đồ tính ỷ lại vào tình thương của ĐTC. Kinh nghiệm cho thấy: đứa con nào ỷ lại vào sự nuông chiều quá đáng của cha mẹ, thường là con hư (spoiled). Chúng chỉ biết buông lời nịnh hót để vòi vĩnh chứ chẳng làm gì tốt. Đâu đó trong Tân Ước có câu đại ý rằng: Bọn nầy thờ Ta bằng môi miệng, mà lòng chúng thì xa Ta. Cũng có 1 dụ ngôn rằng: 1 người có 2 con trai; người cha sai đứa thứ nhất làm vườn nho; nó cằn nhằn (vì đang ham chơi?); nhưng sau đó nó đi làm bổn phận mà cha nó giao. Người cha cũng bảo thằng con thứ nhì làm vườn nho; nó “vâng dạ” lia lịa; nhưng rồi nó không bao giờ làm. Người con thứ nhì nầy sao mà giống y mấy người “ngoan đạo”... hình thức quá vậy ta. Vườn nho mà giao cho đứa con thứ nhì nầy, chắc là không bao giờ đạt kết quả tốt.

Không biết quí vị “lãnh đạo tinh thần” có nhột không khi thấy các xã hội mà đa số là tín đồ của mình, là những xã hội loạn lạc, bất an, nhiễu nhương, nghèo đói...đến nỗi dân cứ muốn đi tha phương cầu thực? Sao họ không biết so sánh dân của họ với dân Nhật? Giá như họ chịu cầu tiến, chịu phục thiện, chịu dẹp quách đi cái lối hành đạo hình thức, trình diễn, chẳng những vô bổ mà còn có hại cho xã hội; rồi qua học lối giáo dục giới trẻ của người Nhật, đem về giáo dục dân mình thì hay biết mấy.

Dân Nhật trước kia cũng xấu, cũng ác lắm; nhưng họ biết phục thiện; nhờ ảnh hưởng ông vua tốt của họ, vua Mutsuhito. Rồi cháu Ông là Thiên Hoàng Hirohito đã cảm kích tính cách anh hùng mã thượng của bên thắng trận, người Mĩ, rồi học nền văn hóa và cách trị quốc của Mĩ để áp dụng cho nước Ông, qua sự giúp đỡ của ông tướng Mĩ MacArthur. Ngày nay, dân Nhật tôn MacAthur là vị đại ân nhân của họ.

Có gương tốt mà không chịu noi theo lại cứ tưởng rằng ta đây mới là đạo đức, thánh thiện ghê gớm lắm. “Hỏa ngục” chính là ở đó; vì ai cũng tin rằng: đạo ta là tốt nhất, là đúng nhất; kết quả là kì thị tôn giáo, rồi đưa đến xung đột, khủng bố, chiến tranh tôn giáo. Ôi tôn giáo!

Tóm lại: _Phải chăng Thiên đàng là 1 hợp quần gồm những người tốt, trong đó ai cũng thương yêu nhau, lo tìm kiếm phúc lợi cho nhau. Còn hoả ngục thì ngược lại: là 1 tập hợp gồm những người kiêu căng, gian ác, ích kỷ, nhỏ nhen, tị hiềm, hận thù ... nhau.

Nếu vậy thì Thiên đàng không thể nào gồm những người "gian ác nhất", chỉ biết nịnh hót Chúa, cầu xin Chúa thương xót...., như kiểu bà "thánh" Faustina đã chiêm bao rồi viết nhật ký rằng: "...ta cũng không thể trừng phạt các tội nhân gian ác nhất, nếu kẻ đó kêu cầu tới lòng trắc ẩn của Ta...( đoạn 1146, theo ns ĐMHCG số 296, trang 3, tháng 4/2011).

Thiển nghĩ rằng:
_Loài người là tác phẩm của Chúa cho nên Chúa thương tác phẩm của Chúa là điều đương nhiên; ta khỏi phải nài nĩ. Điều kiện để xứng đáng với tình thương ấy là thể hiện tình thương đối với tha nhân.. Đó là ý nghĩa của "năm Thánh lòng Chúa thương xót". Điều chính yếu để những "tội nhân gian ác nhất" được nhận lại tình thương của Chúa là ăn năn, thống hối, cải thiện lối sống..., chứ không phải nài nĩ Chúa thương xót. Mong các ngài suy nghĩ cho kỹ, đừng dạy những điều gây hại, để rồi tạo ra những xã hội Công giáo tồi tệ như các nước ở Trung, Nam Mỹ châu.

- Hành đạo bằng hình thức, trình diễn, mê tín... là đức tin chưa trưởng thành. Thực hành đức hạnh trong nếp sống, mới là đức tin đúng và trưởng thành.

- Biết sai mà không sửa, là phạm trọng tội
- Giữ đạo theo “tông truyền”, là làm cho đạo bị lạc hậu.
- Tìm kiếm hòa bình cho thế giới, mới là làm từ thiện toàn diện
- Ai kêu nài Chúa thương xót, là tự chứng tỏ rằng mình nghi ngờ tình thương của Chúa.
- Ý kiến của ông Galileo đã chứng minh rằng nhiều tỉ người trước Ông đã tin sai bét.


CNH

4-2016


[/color]
4-2016

Edited by user Friday, September 30, 2016 1:58:17 PM(UTC)  | Reason: Not specified

DongA  
#492 Posted : Sunday, May 1, 2016 9:51:44 AM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Tìm hiểu về Tâm Linh


(Theo tinh thần Thiên Chúa giáo)


Đọc và nhận thấy những hướng dẫn Tâm Linh của Linh Mục Spitzer rất hay, nên mạn phép phỏng dịch để mong được chia sẻ. Dù rằng cảm thấy là khó có thể dịch sang tiếng Việt và rất có thể có lỗi lầm khi chuyển ngữ, tuy nhiên xin cố gắng vì mong tìm hiểu và có được sự góp ý, đặc biệt là quý vị lãnh đạo tinh thần.


UserPostedImage

Linh mục Robert Spitzer, tiến sĩ, là một linh mục Công giáo thuộc dòng Tên, và hiện là Chủ tịch Trung tâm “Magis Center of Reason and Faith” và “Spitzer Center”. Ông lấy bằng tiến sĩ triết học từ Đại học Công giáo Hoa Kỳ và từ năm 1998 đến năm 2009 là Viện trưởng Đại học Gonzaga. Linh mục Spitzer đã thực hiện nhiều phương tiện truyền thông bao gồm: Larry King Live (tranh luận với Stephen Hawking, Leonard Mlodinow, và Deepak Chopra về Thiên Chúa và vật lý hiện đại), “Today Show” (tranh luận về chủ đề “làm người sắp chết ngủ mê và chết khỏi đau đớn” - active euthanasia), The History Channel "Thiên Chúa và vũ trụ", và nhiều đoạn của PBS" Gần sự thật hơn ". LM Spitzer là tác giả của năm cuốn sách bao gồm “New Proofs for the Existence of God: Contributions of Contemporary Physics and Philosophy” (Eerdmans, 2010); “Ten Universal Principles: A Brief Philosophy of the Life Issues” (Ignatius, 2011); và “Healing the Culture: A Commonsense Philosophy of Happiness, Freedom and the Life Issues” (Ignatius, 2011) Theo sau là những việc LM Spitzer làm tại “Magis Center of Reason and Faith”.

About Fr. Robert Spitzer
Fr. Robert Spitzer, PhD is a Catholic priest in the Jesuit order, and is currently the President of the Magis Center of Reason and Faith and the Spitzer Center. He earned his PhD in philosophy from the Catholic University of America and from 1998 to 2009 was President of Gonzaga University. Fr. Spitzer has made multiple media appearances including: Larry King Live (debating Stephen Hawking, Leonard Mlodinow, and Deepak Chopra on God and modern physics), the Today Show (debating on the topic of active euthanasia), The History Channel in “God and The Universe,” and a multiple part PBS series “Closer to the Truth." Fr. Spitzer is the author of five books including New Proofs for the Existence of God: Contributions of Contemporary Physics and Philosophy (Eerdmans, 2010); Ten Universal Principles: A Brief Philosophy of the Life Issues (Ignatius, 2011); and Healing the Culture: A Commonsense Philosophy of Happiness, Freedom and the Life Issues (Ignatius, 2011). Follow Fr. Spitzer's work at the Magis Center of Reason and Faith.




(Nguyên bản bằng Anh ngữ: htxp://magisgodwiki.org/index.php?title=Purpose_in_Life)

Hạnh phúc và mục đích trong cuộc sống

Hai cuốn sách “Healing the Culture”“The Spirit of Leadership” (của Fr. Robert J. Spitzer) mô tả bốn cấp của hạnh phúc trong từng chi tiết.
"Hạnh phúc" có thể được định nghĩa là việc thực hiện một ước muốn (và "bất hạnh" là không hoàn thành ước muốn). Vì vậy, nếu có bốn loại ước muốn, sẽ cũng có bốn loại hạnh phúc. Thông thường, một trong những ước muốn (và sự hài lòng của mình - "hạnh phúc") trở nên nổi trội và những điều khác bị đẩy lui hoặc bỏ qua. Ưu thế của sự ước muốn trở thành bản sắc của chúng ta, khi những ước muốn bị lãng quên phục vụ cho ước muốn chủ yếu, điều này thường làm chúng ta thất bại hoặc suy yếu. Mặc dù tất cả bốn ước muốn đều thực dụng, ước muốn thống trị (hoặc nhận rõ) có xu hướng kiểm soát cách nhìn của chúng ta về sự hạnh phúc và thành công, mục tiêu cuộc sống, cách thực hiện các mối quan hệ và quan điểm về sự yêu thương, nguyên tắc và đạo đức, lý tưởng tìm kiếm, cách xét đoán về giá trị con người, sự tiến bộ trong cuộc sống và chính bản thân của chúng ta. Không cần phải nói, các loại ước muốn đã chọn để trở thành sự chi phối là một trong những quyết định quan trọng nhất trong cuộc sống của chúng ta. Vì vậy, sự giải thích có hệ thống về những ước muốn có thể hữu ích, để hiểu rõ hơn về ước muốn ở cấp thứ tư (sự siêu việt, niềm tin, đời sống tinh thần - the transcendent, faith, and/or spiritual life).

Đi từ nông cạn đến thâm sâu

Cấp thứ 1 (laetus) là ước muốn được kích thích từ bên ngoài với khoái lạc về thể chất và sự sở hữu (ví dụ, một bát mì ống hoặc một chiếc xe Mercedes E-Class với ghế da).

Cấp thứ 2 (felix) là sự “thỏa mãn cái tôi” (ego-gratification) phát sinh từ sự tác động của thế giới bên ngoài hướng đến thế giới nội tâm (my ego - "tôi"). “Thỏa mãn cái tôi” có thể là hình thức của sự gia tăng vị thế, sự ngưỡng mộ, thành tựu, quyền lực, kiểm soát, chiến thắng, vv, và thường kéo theo những lợi thế về so sánh, có thể dẫn đến sự “ngừng phát triển trí óc” (fixation) và điều kiện dễ gây xúc động rất tiêu cực.

Cấp thứ 3 (beatus) đi ngược lại cấp thứ 2. Thay vì từ thế giới bên ngoài chuyển đến thế giới nội tâm của ta (cấp 2), điều này đặt thế giới nội tâm của ta trong thế giới bên ngoài, có nghĩa là sẽ cố gắng để làm sự khác biệt tối ưu đến thế giới (với gia đình, bạn bè, tổ chức, cộng đồng, nhà thờ, văn hóa, và nước Chúa) với thời gian, tài năng, năng lực, cuộc sống của ta. Điều này có thể xảy ra qua hành động và "với" cách mạnh mẽ nhất qua tình yêu không điều kiện “agape” (tình yêu không kỳ vọng lợi nhuận - tình yêu, vì lợi ích của người được yêu thương).

Cấp thứ 4 (sublimis) là ước muốn cuối cùng, vô điều kiện, hay hoàn hảo trong sự thật, tình yêu, sự tốt lành, vẻ đẹp, sự hiện thực và trong Chúa; vì vậy cấp ước muốn thứ 4 cho người có đức tin là ước muốn cho Thiên Chúa . Điều này được trình bày đầy đủ nhất và được làm sáng tỏ trong suốt cuốn sách này.

Như một người tiến lên cao về bốn cấp ước muốn, người đó đạt được sự lan tỏa (pervasive), bền vững và mục đích sâu trong cuộc sống. Ví dụ, mục đích của cấp 3 hoặc 4 có hiệu quả lớn hơn nhiều trên thế giới (phổ biến hơn) so với mục đích ở cấp 1 hoặc 2 (bị giới hạn bởi lợi lộc cá nhân). Tương tự như vậy, mục đích ở cấp 3 và 4 tồn tại lâu hơn so với cấp 1 hoặc 2. Hơn nữa mục đích ở cấp 4 còn kéo dài đến vĩnh cửu. Cuối cùng, mục đích ở cấp 3 hoặc 4 sâu hơn (tận dụng quyền hạn cao hơn của chúng ta về sự sáng tạo, quan niệm, lý luận đạo đức, tình yêu, và nhận thức tâm linh) so với mục đích ở cấp 1 hoặc 2. Đời người càng có hiệu quả hơn nếu chuyển lên cấp ước muốn cao hơn với cuộc sống được xác định bởi sự lan tỏa, sức chịu đựng, và chiều sâu của các hành động.

“Hạn chế”(“down side”) về uy lực của sự thăng tiến và mục đích trong cuộc sống là sự hài lòng bị trì hoãn, có cái nhìn ngoài lề của cuộc sống, và từ bỏ cảm xúc ở một cấp nào đó. Rõ ràng là cấp 1 có sự thỏa mãn lập tức, bề mặt rõ ràng, và dữ dội; trong khi cấp 4 thường xuyên đòi hỏi phẩm cách (nuance), sự giáo dục, sự tinh tế, việc chậm trễ trong sự hài lòng, tách rời cảm xúc. Do đó, đời sống tinh thần được ghi dấu bởi một sự “hoán đổi” (“trade-off”) để đạt đến hiệu ứng phổ quát và vĩnh cửu, phát sinh từ điều siêu việt của chúng ta về sự yêu thương, chân (being), thiện, mỹ, mà chúng ta thường phải từ bỏ một số thỏa mãn tức thời, cảm xúc, và sự tỏ lộ ra bề ngoài (surface apparentness).

Sự “hoán đổi” (“trade-off”) ghi dấu một thách thức khó khăn nhất của đời sống tâm linh, vì điều này không phải dễ để buông bỏ những gì quá dễ dàng và được thỏa mãn cách mạnh mẽ. Tuy nhiên, đây là giá trị cho việc chuyển đến cấp 3 và 4, điều này làm chúng ta đầy mục đích cao cả hơn, hiệu ứng lâu dài hơn (ngay cả vĩnh cửu) và làm thức dậy các quyền hạn cao nhất, vi diệu nhất trong chúng ta, hơn nữa cấp 4 đưa chúng ta tới một mối quan hệ sâu sắc với Thiên Chúa, Đấng yêu thương vô điều kiện. Đồng thời cấp 4 hiện thực hóa nhân bản và đời sống tinh thần của chúng ta. Thánh Augustine đã có câu rất hay khi ngài cầu nguyện với Thiên Chúa, "Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa nên lòng chúng con khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa"
Như đã được đề cập ở trên, mỗi cấp ước muốn có thể thống trị, trở thành mục đích và bản sắc của chúng ta trong cuộc sống. Như được trình bày trong suốt cuốn sách, tối hậu là con người chỉ có thể thỏa lòng với cấp 4, vì đây là ước muốn của chúng ta đối với sự hoàn hảo trong chân thiện mỹ vô điều kiện, con người không bao giờ có thể mãn nguyện bởi những gì có điều kiện hoặc không hoàn hảo. Thiên Chúa là một Đấng chân thiện mỹ tuyệt hảo vô điều kiện, thánh Augustine đã đúng trong lời cầu nguyện của mình.

(Còn tiếp)

Edited by user Friday, May 20, 2016 2:09:37 PM(UTC)  | Reason: Not specified

DongA  
#493 Posted : Monday, May 2, 2016 7:24:54 AM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Tìm hiểu về Tâm Linh
(Theo tinh thần Thiên Chúa giáo)

(Tiếp theo)

Sự so sánh

Hầu hết chúng ta không đi đến kết luận về sự thật trong lời cầu nguyện của Thánh Augustine thông qua trực giác. Chúng ta thường làm điều đó qua những nỗi khó khăn. Chúng ta bị ám ảnh bởi thế giới vật chất (cấp 1) và thế giới bản ngã (cấp 2), bởi vì chúng lập tức được thỏa mãn, mãnh liệt, và lộ ra rõ ràng. Thật khó có thể làm lỏng sự thu hút của chúng trên chúng ta - để theo đuổi những gì phổ quát hơn, lâu dài và sâu sắc; ngay cả theo đuổi những gì vĩnh cửu, hoàn hảo, và vô điều kiện; thậm chí để theo đuổi sự hoàn thành cuối cùng của con người chúng ta. Vì vậy, hầu hết chúng ta chuyển qua một loạt các thử thách và khổ sở, thể hiện nỗi đau vì “nỗ lực quá nhiều” (over-investing) cho những gì thấp hơn giá trị tối hậu của chúng ta và thiên nhiên. Phổ biến nhất là việc “nỗ lực quá nhiều” cho “tập tục” (culture) của ta ở cấp 2, vì vậy điều này sẽ được làm sáng tỏ ở đây.

Cấp 2 (thỏa mãn bản ngã- ego-gratification) hầu như luôn luôn liên quan đến sự so sánh. Để thay đổi các vị trí kiểm soát từ thế giới bên ngoài đến thế giới bên trong, ta luôn tự hỏi, "Ai đạt được nhiều hơn? Ai đạt được ít hơn? Ai tiến bộ hơn? Ai làm ít hơn? Ai thắng? Ai thua? Ai có vị thế nhiều hơn? Ai có vị thế kém? Ai được ngưỡng mộ hơn? Ai được ngưỡng mộ ít? Ai có quyền kiểm soát nhiều hơn? Ai có quyền kiểm soát ít hơn? Ai được kính phục nhiều hơn? Ai ít được kính phục?" Chú ý rằng những câu hỏi không liên quan đến một sự theo đuổi về sự thật hay một ý tưởng đóng góp, hoặc thậm chí đến một ý nghĩa tối hậu. Người sử dụng những câu hỏi so sánh để có được bản sắc. Như vậy, người sống cho cấp 2 đúng là có câu trả lời cho những câu hỏi, và do đó luận giải những đặc điểm so sánh đến với bản thân họ. Do đó, người này không đạt được điều gì để đóng góp cho gia đình, đồng nghiệp, hay văn hóa; người đó đạt được kết thúc trong chính điều này như thành tích cho ý nghĩa của cuộc sống. Tương tự, người này không tìm kiếm vị thế đáng tin để làm điều gì tốt cho người khác hay cả cho Nước Chúa. Một cách đơn giản là người này tìm kiếm vị thế cho chính họ. Cũng giống như cho chiến thắng, quyền lực, kiểm soát, và v.v.

Chú ý thêm rằng ước muốn ở cấp 2 không phải là xấu. Thật vậy, hoàn toàn ngược lại. Ước muốn có thành tích dẫn đến tiến bộ trong nền văn minh. Ước muốn cho sự tôn trọng dẫn đến sự tín nhiệm, sự tự tin và lòng tự trọng. Khát khao chiến thắng dẫn đến khả năng cạnh tranh và tìm kiếm sự hoàn hảo. Ngay cả những tham vọng quyền lực có thể được sử dụng cho các mục đích tốt. Vậy vấn đề là gì? Vấn đề không phải là cấp 2, nhưng sống cho cấp 2 là kết thúc trong chính điều này. Khi một người thực hiện điều này, thành tích dẫn đến xu hướng "nhận trước", thay vì "một điều tốt ngoài thành tích." Tìm kiếm sự kính trọng dẫn đến thỏa mãn sau sự ngưỡng mộ. Tìm kiếm quyền lực là một kết thúc tự sai trái - và tìm kiếm quyền lực tuyệt đối thì điều này tự sai trái hoàn toàn.

Kết thúc mục tiêu (Ending the Game)

Những hậu quả khác nhau theo sau mục đích hẹp này trong cuộc sống là người đó có thể cảm thấy sự trống rỗng phát sinh từ "cuộc sống không đáng sống" (underliving life). Các ước muốn để tạo sự khác biệt tích cực (hoặc ngay cả một sự khác biệt tích cực tối ưu) cho gia đình, bạn bè, cộng đồng, tổ chức, đồng nghiệp, nhà thờ, văn hóa và xã hội (cấp 3) chưa được hoàn thành. Người đó bắt đầu nghĩ rằng cuộc sống của họ thực sự không có bất kỳ sự khác biệt nào với thế giới hay lịch sử - và cho rằng "tôi đừng sống thì tốt cho thế giới hơn". Vấn đề càng trở nên tồi tệ hkhi ước muốn cuối cùng (trong chân lý, tình yêu, sự tốt lành, cái đẹp và “Being” - ám chỉ Thiên Chúa) cũng chưa được thực hiện. Mặc dù người đó cuối cùng chờ đợi tất cả ở trái tim của người khác, nỗi ám ảnh ở cấp 2 của người đó ngăn cản việc đi tìm cấp 4. Một lần nữa, tinh thần của người đó bị ảnh hưởng ý nghĩa sâu xa của sự trống rỗng, với cảm giác "cuộc sống không đáng sống" (underliving life), một cảm giác ngày càng sâu sắc hơn: "Tôi đang lãng phí chút thời gian quý báu tôi có trong thế giới này. "

Hơn nữa, một loạt lớn cảm xúc tiêu cực bắt đầu đi với sự trống rỗng này. Hầu hết những cảm xúc phát sinh từ sự quy định về lợi thế so sánh. Từ khi nhận racấp 2 chi phối đối với vị thế, sự ngưỡng mộ, quyền lực, kiểm soát, chiến thắng, v.v kết thúc trong chính những điều này, chúng buộc phải tìm kiếm lợi thế so sánh như sự đáp ứng với chính những điều này, Sự quy định này đòi hỏi không chỉ là tôi tiến nhiều hơn và nhiều hơn nữa (trong trạng thái, quyền lực, chiến thắng, vv), nhưng cũng còn là tôi có nhiều hơn so với Joe, Sue, Frank và Mary. Khi tôi không có nhiều, khi tôi không tốt hơn so với những người khác, tôi tin rằng cuộc sống của tôi trì trệ hoặc đang mất đi, cảm thấy mờ mịt trong giá trị bản thân và sự thành công. Vì vậy tôi bắt đầu cảm thấy ghen tuông, một tình trạng bất ổn về cuộc sống, tự ti, cô đơn, thất vọng, và thậm chí một cảm giác khủng khiếp của sự tự thương mình và oán giận.

Người ta có thể trả lời rằng những cảm xúc tiêu cực không xảy đến cho ngườithắng vượt trội ở cấp 2, cho kẻ chiến thắng những bổng lộc. Trong khi sự thật người thắng không nhận được ý nghĩa của “sự thỏa mãn cái tôi”, đáng chú ý là sự trống rỗng nêu trên vẫn còn theo sau trong chấn động của nó. Hơn nữa, thắng như vậy bắt buộc tăng những thành công của họ ở cấp 2, bởi vì họ không thể đạt được bất kỳ ý nghĩa của sự tiến bộ mà không làm như vậy. Nếu không tiếp tục gia tăng những thành công, họ trải qua cùng một loại khó chịu, tự ti, ghen tuông, thất vọng, và tự thương hại như kẻ không thắng.

Hơn nữa, những người thắng mắc phải một căn bệnh đặc biệt - đó là ước muốn được ngưỡng mộ công khai. Khi nhận thấy cấp thấp hơn không thừa nhận ưu thế của người thắng (và mặc cảm của họ bằng cách so sánh), người thắng cảm thấy oán giận lớn lao. "Bạn đã không thưởng cho tôi xứng đáng. Hơn nữa, bạn coi như đang thực sự ngang hàng với tôi - bạn nghĩ rằng bạn là ai? Đúng là sự sỉ nhục. "Căn bệnh kỳ lạ này có một khía cạnh khác mà Thánh Augustinô cũng công nhận, có tên là sự khinh miệt. Người thắng cuộc bị chi phối của cấp 2 không thể làm gì! Họ thực sự cảm thấy rằng cuộc sống của họ có giá trị hơn cuộc sống của người khác, và vì vậy hoặc là tỏ vẻ khinh bỉ hay (nếu là giác ngộ hơn) là tỏ vẻ kẻ cả đang hạ mình ( "Đó là việc tốt nhỏ bạn đã làm"). Cuối cùng, người thắng như vậy không thể để thất bại; nếu họ thất bại, những người mà họ đã đối xử với sự khinh miệt sẽ gây thiệt hại cho họ.

Vả lại, hình ảnh của chính họ - kẻ thắng cuộc - là không thể chịu đựng được xấu hổ trước cấp thấp hơn ("Spitzer, bạn phát âm chữ "‘spectroscopy" không đúng ba lần. Tôi không thể tin rằng một người có tầm cỡ như bạn có một sai lầm như vậy." Tôi đi vào phòng, đóng cửa lại, và quay lại đoạn băng đau khổ trong tâm trí cho đến khi tôi muốn bản thân mình tổn hại về thể chất, những đau đớn về thể chất sẽ tốt hơn rất nhiều so với ... "không thể tin rằng tôi đã sai lầm ở nơi công cộng . Aaarrgghh! "). Người thắng với chi phối của cấp 2 cũng cảm thấy cần phải đổ lỗi cho người khác về tất cả các thất bại của họ (bởi vì về nguyên tắc, họ không thể thất bại).

Tóm lại, tốt hơn là người thắng cuộc phải hoàn hảo; nhưng một lần nữa, họ không thể hoàn hảo trọn vẹn. Vì vậy, người thắng phải dựng một vẻ bề ngoài lớn lao rồi bảo vệ nó; nhưng lại một lần nữa, họ không thể dựng một vẻ ngoài bất khả xâm phạm để che dấu thấp kém. Nên người thắng cuộc bị cấp 2 chi phối nên chuẩn bị cho sự khinh miệt, oán giận, trách móc, giận dữ, suy nhược về cái tôi nhạy cảm của mình và trên tất cả là cô đơn - không cho bất cứ ai (trừ mẹ Theresa (!?), và có lẽ mẹ của họ (!?)) ở chung quanh vì bất kỳ lý do nào khác hơn là sự cần thiết tuyệt đối. Lý do tôi (tác giả) biết tất cả những điều này là bởi vì tôi đã đấu tranh và tiếp tục đấu tranh với những cảm xúc tiêu cực (từ cả thắng và thua). Tuy nhiên, tôi có thể chứng thực rằng cấp 3 (sự đóng góp / tình yêu) và cấp 4 (đời sống siêu việt / tinh thần) sẽ có sự giúp đỡ bao la để giảm đau đớn, trống vắng, và nỗi ám ảnh của bản ngã bị cấp 2 chi phối. Thật vậy, chúng ta sẽ thấy, đời sống tinh thần có thể phá vỡ sự kìm kẹp của một bản sắc với chi phối của cấp 2, và mở ra một cuộc sống cao cả trong Thiên Chúa.

Sự siêu việt

Trong niềm tin Công giáo / Kitô giáo, "sống ở cấp 4" có nghĩa là ước muốn sự yêu thương vô điều kiện, tốt lành, tràn đầy sự thật và ơn cứu độ của Thiên Chúa. Các bằng chứng và giải thích này sẽ xảy ra thông qua sự mặc khải của Chúa Giêsu Kitô và sự linh ứng của Chúa Thánh Thần.
Người có lựa chọn thông tuệ như sự đáp ứng, thanh lọc và hân hoan về cấp 4 không nhất thiết phải coi như đây là xúc động (tình cảm) trong chọn lựa cấp 4. Như vậy, có thể nói rằng cấp 4 là bản sắc mà chúng ta muốn chuyển sang, nhưng lại thấy là mình không thể bỏ những điều nối vào cấp 1 và 2 (điều này liên quan đến việc chuyển sang cấp 4). Do đó chúng ta có thể thấy chính mình có xung đột về dục vọng, thất bại của quyết tâm, cảm giác thiếu tự tin và tội lỗi. Bạn không nên nản chí, bởi vì đây là một phần trong hành trình của mọi người đến với cấp 4. Tôi không thấy một người nào (hoặc một vị thánh nào) bỏ cấp 1 và 2 dễ dàng. Tuy nhiên, kiên nhẫn, gia tăng tích cực, giảm bớt tiêu cực và trên tất cả là cầu nguyện để mở đường cho sự tiến bộ.

Chậm, nhưng chắc chắn cấp 3 và 4 bắt đầu thay thế những điều nối sâu vào cấp 1 và 2, như giảm ganh tị, sợ hãi, giận dữ, vị kỷ, tự thương hại, khinh miệt, tự ti, tự tôn, cái tôi nhạy cảm, và rất nhiều điều khác làm suy nhược tình trạng cảm xúc. Cấp 4 (phát sinh từ một mối quan hệ sâu sắc sự yêu thương vô điều kiện của Thiên Chúa) mang lại hòa bình, cảm hứng, nhiệt tình, hy vọng, một hiệu quả đáng kể trong cuộc sống, và trên tất cả, tình yêu (ngay cả sự thăng tiến tới tình yêu vô điều kiện) ở trong họ. Một cách ngắn gọn, cuộc hành trình dài của sự tách ra từ cấp 1 và 2 để nối với cấp 3 và 4 mang lại sự minh mẫn, bình an và tình yêu vĩnh cửu.

Duy trì sự siêu việt

Như nguyện vọng bây giờ rõ ràng, cách hiệu quả nhất của việc chuyển từ cấp 1 và 2 để đến cấp 3 và 4 là nhờ ân sủng của Thiên Chúa, và cách hiệu quả nhất là qua lời cầu nguyện và đời sống chiêm niệm (contemplative) để ân sủng của Thiên Chúa ảnh hưởng đến chúng ta./.
DongA  
#494 Posted : Friday, May 13, 2016 3:46:17 PM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Tìm hiểu về Tâm Linh
(Theo tinh thần Thiên Chúa giáo)


Linh hồn của con người
(The Human Soul)


Nguyên bản bằng Anh ngữ tại trang web:
hxtp://magisgodwiki.org/index.php?title=The_Human_Soul


Bằng chứng siêu-vật thể về linh hồn con người ?
(Is There Evidence for a Trans-material Human Soul?)

Robert J. Spitzer, S.J

UserPostedImage

Đọc và nhận thấy những hướng dẫn Tâm Linh của Linh Mục Spitzer rất hay, nên mạn phép phỏng dịch để mong được chia sẻ. Dù rằng cảm thấy là khó có thể dịch sang tiếng Việt và rất có thể có lỗi lầm khi chuyển ngữ, tuy nhiên xin cố gắng vì mong tìm hiểu và có được sự góp ý, đặc biệt là quý vị lãnh đạo tinh thần.

Linh mục Robert Spitzer
http://www.strangenotion...uploads/userphoto/32.jpg

Linh mục Robert Spitzer, tiến sĩ, là một linh mục Công giáo thuộc dòng Tên, và hiện là Chủ tịch Trung tâm “Magis Center of Reason and Faith”“Spitzer Center ”. Ông lấy bằng tiến sĩ triết học từ Đại học Công giáo Hoa Kỳ và từ năm 1998 đến năm 2009 là Viện trưởng Đại học Gonzaga. Linh mục Spitzer đã thực hiện nhiều phương tiện truyền thông bao gồm: Larry King Live (tranh luận với Stephen Hawking, Leonard Mlodinow, và Deepak Chopra về Thiên Chúa và vật lý hiện đại), “Today Show” (tranh luận về chủ đề “làm người sắp chết ngủ mê và chết khỏi đau đớn” - active euthanasia), The History Channel "Thiên Chúa và vũ trụ", và nhiều đoạn của PBS "Gần sự thật hơn". LM Spitzer là tác giả của năm cuốn sách bao gồm “New Proofs for the Existence of God: Contributions of Contemporary Physics and Philosophy ” (Eerdmans, 2010); “Ten Universal Principles: A Brief Philosophy of the Life Issues” (Ignatius, 2011); và “Healing the Culture: A Commonsense Philosophy of Happiness, Freedom and the Life Issues” (Ignatius, 2011) Theo sau là những việc LM Spitzer làm tại “Magis Center of Reason and Faith” .


Kinh nghiệm cận tử
(Near-Death Experiences)


Tôi (LM Robert J. Spitzer, S.J) trích dẫn các bằng chứng về kinh nghiệm cận tử với một số lo lắng, bởi vì có rất nhiều sách viết về chủ đề này không dựa trên khoa học, hoặc bất kỳ hồ sơ bệnh lý, giao lưu văn hóa, nghiên cứu dài hạn, mà là trên một vài giai thoại đưa đến cực đoan. Một số sách không khoa học này có chương trình khá hấp dẫn, và một số sách khá phổ biến về nhân vật. Nhưng vấn đề những miêu tả này không làm giảm giá trị các nghiên cứu xuất sắc đã được thực hiện bởi Von Lommel và những người khác là báo cáo trên tạp chí y khoa uy tín ở Anh là The Lancet, [1] hai nghiên cứu được thực hiện bởi Kenneth Ring trên kinh nghiệm cận tử [2] và nghiên cứu sau đó của ông về kinh nghiệm cận tử của người mù, trẻ em (báo cáo trong hai bài báo “American Journal of Diseases of Children” thuộc “American Medical Association”) của Tiến sĩ Melvin Morse, [4] và thứ hai (toàn diện hơn) là nghiên cứu năm 1988 của Raymond Moody. Rồi các nghiên cứu tiếp theo, báo cáo trong tạp chí “Journal Near-Death Studies” được công bố bởi “Association for Near-Death Studies” (hội đồng đã xét). [6] Một bản tóm tắt ngắn gọn về các nghiên cứu của BS van Lommel và những cộng sự; BS Morse, TS Ring và BS Raymond Moody như đã nêu trên sẽ được trình bày.
Trước khi tiếp tục, điều này có thể hữu ích là báo cáo về những phát hiện của George Gallup Jr trong một cuộc thăm dò ý kiến năm 1982 của viện Gallup. Ông phát hiện ra rằng khoảng 8 triệu người lớn ở Hoa Kỳ đã có kinh nghiệm cận tử (một số lớn đáng kể để có thăm dò chính xác). Những người được thăm dò nêu ra mười đặc điểm duy nhất qua trải nghiệm cận tử như sau:

Nghiên cứu của Van Lommel và các người cộng sự:

Rời khỏi cơ thể 26%
Quan sát với nhận thức chính xác 23%
Nghe các âm thanh hay tiếng nói 17%
Có cảm giác bình yên, không đau đớn 32%
Thấy hiện tượng ánh sáng 14%
Xem xét lại cuộc sống 32%
Đang ở trong một thế giới khác 32%
Gặp các bản thể khác 23%
Có kinh nghiệm về đường hầm 9%
Có sự nhận biết trước 6%

The Lancet (một tạp chí quốc tế có uy tín của y học) báo cáo kết quả của một nghiên cứu trong thời gian dài về kinh nghiệm cận tử, được thực hiện bởi các bốn nhà nghiên cứu ở Hoà Lan. Nghiên cứu này khảo sát 344 bệnh nhân tim trong mười bệnh viện ở Hoà Lan, những người này đã được làm sống lại sau khi tim đã ngừng đập. Nghiên cứu này so sánh về thống kê dân số, y tế, dược phẩm, và các dữ liệu tâm lý giữa những bệnh nhân báo cáo có kinh nghiệm cận tử (Near-death experiences - Sau đây sẽ được viết tắt là "NDE") và bệnh nhân không có NDE sau khi hồi tỉnh. Một nghiên cứu trong thời gian dài về sự thay đổi cuộc sống sau NDE, so sánh các nhóm hai năm và tám năm sau NDE.
Nghiên cứu này cho thấy 62 bệnh nhân (18% - khoảng một trong năm người) tỉnh lại khi tim bị ngừng, trải qua NDE với một số đặc điểm được mô tả ở trên. Không có bệnh nhân nào báo cáo NDE là đau buồn hay đáng sợ. 18% với phản ứng tích cực, không nhất thiết có nghĩa là 82% còn lại không có NDE. Một số có thể đã không nhớ lại (có thể liên quan đến một loạt các yếu tố về tuổi, nên kéo dài CPR - sự trợ sinh- Cardiopulmonary resuscitation) và một số có thể là không muốn kể lại nó (vì sợ bị cho là không loạn trí). Tỷ lệ này cho phép các nhà nghiên cứu kết luận rằng kinh nghiệm liên quan đến NDE không phải chỉ là bởi sinh lý (physiology):

Với một lời giải thích hoàn toàn có tính cách sinh lý, cho những kinh nghiệm như thiếu oxy não, được báo cáo là hầu hết bệnh nhân đã chết. [9]

Các nhà nghiên cứu đưa ra kết luận từ điều này:

Phát hiện đáng chú ý nhất là NDE không có nguồn gốc ở thể lý hoặc y khoa. Sau khi tất cả, 100 phần trăm các bệnh nhân bị thiếu oxy, 100 phần trăm được cho thuốc morphine, 100 phần trăm là nạn nhân của sự căng thẳng nghiêm trọng, như thế rõ ràng không phải là lý do tại sao 18 phần trăm có NDE và 82 phần trăm không. Nếu họ đã được khởi động bởi bất kỳ một trong những điều đó, tất cả mọi người sẽ có NDE. [10]

Trong 62 bệnh nhân thông báo có NDE, tất cả trong số họ trải nghiệm một số trong mười đặc điểm sau đây, theo sự phân bố như sau:

(1) Nhận biết là đang chết (50%)
(2) Có những cảm xúc tích cực (56%)
(3) Có kinh nghiệm ngoài cơ thể (24%)
(4) Di chuyển qua một đường hầm (31%)
(5) Truyền đạt với ánh sáng (23%)
(6) Quan sát màu sắc (23%)
(7) Quan sát quang cảnh trên thiên đàng (29%)
(8) Gặp người đã chết (32%)
(9) Xét lại cuộc sống (13%)
(10) Sự hiện diện của biên cảnh (8%) [11]

Nghiên cứu này cũng báo cáo chứng thực là đúng sự thực có kinh nghiệm ngoài cơ thể. Những kinh nghiệm này, cho phép bệnh nhân có cảm quan nhận biết được điều mà họ đã không thể biết qua thân xác ở thể lý của họ. Nói cách khác, nếu những bệnh nhân này không ở trong tình trạng “ngoài cơ thể”, họ sẽ không bao giờ có thể trải nghiệm những dữ kiện mà họ đã báo cáo một cách chính xác. Trong nghiên cứu ở Hoà Lan (Dutch), một người đã ở trong tình trạng “hôn mê sâu” (coma), sau đó nói với một y tá mà ông nhận ra và nhìn thấy nơi cô đã đặt răng giả của mình trong nỗ lực hồi sức, và ngay cả còn tả về xe đẩy hàng mà cô đặt chúng vào đó. [12] Tương tự như vậy , Melvin Morse và Kim Clark báo cáo rằng một người phụ nữ biết một chiếc giày trên lề cửa sổ bên ngoài bệnh viện (không gần phòng nơi bệnh nhân được hồi sức, nhưng bên cạnh phòng thứ năm là tầng nơi cô được phỏng vấn). Các nhà tâm lý học đã làm cuộc phỏng vấn (Kim Clark) phải bò dọc theo gờ tường bên ngoài cửa sổ để xác minh lời khai. Chiếc giày đã thực sự ở đó. [13]

Raymond Moody cũng báo cáo đúng sự thực về những kinh nghiệm tương tự ngoài cơ thể, [14] thường xuyên nhất trong số đó là những người rời khỏi phòng mổ (sau khi nhìn thấy những nỗ lực hồi sức xảy ra) và thăm thân nhân và bạn bè trong phòng đợi của bệnh viện (di chuyển qua tường - theo nghĩa đen). Một bệnh nhân báo cáo nhìn thấy đứa con gái nhỏ của bà mặc áo choàng len không hợp (điều này rất là bất thường và chỉ có thể biết được nếu cô bé đã thực sự ở trong phòng đợi). Một phụ nữ khác tình cờ nghe anh rể nói chuyện với người cộng tác về kinh doanh một cách rất xúc phạm với cô ấy trong phòng đợi của bệnh viện , và đã có thể báo cáo lại điều này với anh sau đó. Những kinh nghiệm đúng sự thực này tạo bằng chứng trong mỗi nghiên cứu chủ yếu và giúp để chứng thực cho tính xác đáng về những tuyên bố của bệnh nhân đã ở trong một trạng thái ngoài cơ thể (với khả năng về cảm quan).

Những phát hiện này đã được chứng thực qua nhiều nghiên cứu khác. Một nhà nghiên cứu về NDE, Janice Holden làm một bản tóm 107 trường hợp, trong 39 nghiên cứu của 37 tác giả vào năm 2007 [15], trong đó những kinh nghiệm đã được báo cáo và đúng sự thực (có thể kiểm chứng). Bà kết luận như sau:

"Sử dụng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhất - đó là một trường hợp sẽ được phân loại là không chính xác nếu ngay cả một chi tiết được tìm thấy không tương ứng với thực tế - Holden cho thấy chỉ có 8 phần trăm dính líu đến một số không chính xác. Ngược lại, 37 phần trăm các trường hợp - gần gấp năm lần nhiều hơn - Được xác định chính xác bởi nguồn khách quan độc lập, chẳng hạn như việc điều tra báo cáo trong những trường hợp nghiên cứu "[16]. 55 phần trăm khác không liên quan đến sự thiếu chính xác, nhưng không thể được hoàn toàn xác nhận độc lập bởi các nguồn khác.

Thật khó để tin rằng mức độ của báo cáo có thể kiểm tra chính xác này, xảy ra ở thời gian khi không có hoạt động điện trong não, lại có thể được quy cho một chức năng của cơ thể. Theo quan điểm của sự kiện này, cũng như thực tế là nhiều báo cáo đã vượt quá khả năng của cơ thể bệnh nhân, điều này hợp lý và trách nhiệm để tin rằng những nhận biết này (cũng như “tự nhận thức” [self-consciousness] đi kèm với nó) hiện hữu độc lập với chức năng của cơ thể, và có thể do đó, tồn tại sau cái chết của thể xác.

Ngoài ra, bệnh nhân có vẻ như đã được biến đổi bởi kinh nghiệm. Điều này đặc biệt thấy rõ ở trẻ em, chúng mất nỗi sợ hãi về cái chết và được biến đổi cả một đời (xem bên dưới). Nghiên cứu của Van Lommel kết luận về vấn đề này:
Quá trình chuyển đổi sau NDE mất nhiều năm, và làm khác với những bệnh nhân sống sót sau khi tim ngừng mà không có NDE.
[17]

Kenneth Ring và các cộng sự: Nghiên cứu Kinh nghiệm cận tử của người mù

Ring, Cooper, và Tart nghiên cứu các hiện tượng không bình thường của người mù nhìn thấy trong các trải nghiệm cận kề cái chết [24]. Như đã nói ở trên, người có kinh nghiệm cận tử có thể nhìn thấy (không có bộ máy thị giác ở thể lý của họ) - thậm chí họ có kiến thức về dữ kiện của cảm quan vượt quá khả năng thể lý thông thường (xem ở trên, II.A, về tính năng đúng sự thực vững chắc của kinh nghiệm ngoài cơ thể). Nhà nghiên cứu Ring và các cộng sự chứng thực thêm nữa để kiểm tra (có thể kiểm chứng) kiến thức cảm quan của bệnh nhân cận tử nghiên cứu bởi Van Lommel, Morse, và Moody. Mặc dù điều này thực sự quan trọng là bệnh nhân nhìn được có thể báo cáo dữ kiện xảy ra, khi họ bất tỉnh với độ chính xác tuyệt vời, thậm chí điều này còn quan trọng hơn, đó là các bệnh nhân bị mù có thể làm được những điều rất giống với cùng một mức độ chính xác.

Giá trị cao của chứng thật về dữ kiện này, đưa TS Ring và các cộng sự nghiên cứu 31 bệnh nhân mù (21 người, trong số đó đã có một kinh nghiệm cận kề cái chết và 10 người trong số đó đã có “kinh nghiệm ngoài cơ thể”). Trong số này 31, 14 bị mù từ khi sinh ra và rõ ràng là không có kinh nghiệm về cái thấy nầy, và 17 đã có một số kinh nghiệm khi đã thấy trong quá khứ (dù họ mù vào lúc ở kinh nghiệm cận tử của họ, hoặc”kinh nghiệm ngoài cơ thể”). TS Ring tóm tắt những phát hiện của mình như sau:

Trong số những NDE được kể lại, không phải chỉ những kinh nghiệm của họ phù hợp với các mô hình NDE cổ điển, nhưng người trả lời chúng tôi không thay đổi cách nhìn thấy, đó là tùy theo tình trạng của họ; dù một NDEr bị mù bẩm sinh, hoặc đã bị mất thị giác của mình trong cuộc sống sau này, hoặc ngay cả (như trong một vài trường hợp) đã có một số nhận thức ánh sáng chỉ tối thiểu, các NDE được mô tả rất giống nhau. Hơn nữa, 80 phần trăm của ba mươi mốt người đáp ứng bị mù, đã tuyên bố là có thể nhìn thấy trong NDE của họ hoặc OBEs, như Vicki và Brad, thường nói với chúng tôi rằng họ có thể thấy vật và người trong thế giới vật chất, cũng như các vẻ ở thế giới khác. [25]
TS Ring và các cộng sự cũng thấy rằng phẩm chất khá cao của tri giác, trong phần lớn các bệnh nhân mù báo cáo, về sự nhìn thấy trong kinh nghiệm cận tử của họ:

Sự trả lời của chúng tôi như thế nào về việc cho thấy những người mù có thể nhìn trong những giai đoạn này? Tất nhiên là chúng tôi đã lưu ý rằng các nhận thức về thị giác của Vicki và Brad rất rõ ràng và chi tiết, đặc biệt là khi họ tìm thấy chính họ trong phần thế giới khác của cuộc hành trình cận tử của họ. Trong khi không phải tất cả NDErs mù đã có ấn tượng thị giác rõ ràng, ăn khớp, tuy nhiên một số người mù đã đủ để chúng ta có thể kết luận rằng những trường hợp như của Vicki và Brad đã là tiêu biểu cho vấn đề này. [26]

Còn 20 phần trăm người mù đã báo cáo rằng họ không thể nhớ những gì mình nhìn thấy? Có hai cách giải thích: (1) trên thực tế, họ không nhìn thấy bất cứ điều gì trong kinh nghiệm cận tử của họ, hoặc (2) mặc dù họ dường như đã có một số loại nhận biết, nhưng họ không nhận ra đó là "nhìn thấy." Ý kiến của TS Ring về hiện tượng thứ hai với một trong những bệnh nhân của ông như sau:

Người mà chúng tôi phân loại như là “người không biết nhìn” (nonvisualizer) đã thú nhận, vì "Tôi không biết bạn nói gì bằng cách nhìn thấy," ông ta không thể giải thích thế nào về nhận biết có được trong NDE của mình. [27]
Ngay cả với “nhóm không rõ ràng” (ambiguous group) này trong việc nghiên cứu, kết quả là khá đáng kể, 80% những người có thể báo cáo nhận thức về cảm quan, đã nêu chính xác những gì họ không thể nhìn thấy bằng thể xác của họ. Điều này chỉ ra mức độ cao của sự hiện hữu phi vật chất trong kinh nghiệm cận tử. Nó cũng chỉ ra rằng sự hiện hữu phi vật chất trong cách "thể hiện" này, vì nó không chỉ bảo tồn sự tự nhận thức, trí nhớ, trí thông minh, và bản sắc (mà đúng ra là thuộc về "tâm trí"), nhưng cảm quan nhận biết cũng đòi hỏi phải có sự tương tác với thế giới vật chất, ảnh hưởng bởi sự hiện thân (embodiment). Bằng chứng về sự sống còn phi vật chất này (với chiều của hiện thân phi vật chất) là khá đủ, bởi vì điều này không thể giải thích được bằng bất kỳ tính cách thể lý nào khác (thể chất được thể hiện).


(Còn tiếp)

Edited by user Friday, May 13, 2016 3:49:55 PM(UTC)  | Reason: Not specified

DongA  
#495 Posted : Sunday, May 15, 2016 1:54:03 PM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Bằng chứng siêu-vật thể về linh hồn con người?

(Is There Evidence for a Trans-material Human Soul?)


(Tiếp theo)

Sự tương đồng về dữ kiện trong nghiên cứu của Moody, Ring và Van Lommel

Năm 1978, Tiến sĩ Raymond Moody viết nghiên cứu đầu tiên của ông về kinh nghiệm cận tử, mang tên “Life After Life” (“Sự sống sau cuộc sống”). Nó được dựa trên hơn 100 trường hợp nghiên cứu, nhưng đã để lại nhiều câu hỏi chưa được trả lời, khi tiết lộ sự cần thiết cho một nghiên cứu dài hạn phức tạp hơn. Giữa năm 1978 và 1988, ông hoàn thành nghiên cứu, sau khi phỏng vấn hơn 1.000 bệnh nhân đã có kinh nghiệm cận tử. Nhận thấy rằng kinh nghiệm bệnh nhân có NDE báo cáo là có một hoặc nhiều trong số chín đặc điểm sau đây, (bảy trong số đó dường như là duy nhất tới NDE): (1) một cảm nhận về sự chết, (2) an bình và không đau đớn, (3 ) kinh nghiệm đường hầm, (4) ,người của ánh sáng (5) Bàn Thể ánh sáng, (6) xem xét lại cuộc sống, (7) nhanh chóng tới thiên đàng, (8) miễn cưỡng quay trở lại, và (9) ra khỏi cơ thể kinh nghiệm / thời gian khác nhau và địa điểm. [28]

Phát hiện của TS Moody tương quan chặt chẽ với phát hiện của TS Ring và Van Lommel. TS Ring chia nghiên cứu của ông thành năm giai đoạnvề NDE, trong khi van Lommel chia phát hiện của mình thành mười vẻ (features) về NDE.

Giai đoạn của TS Ring như sau:

An bình 60%
Tách ra khỏi cơ thể 37%
Sự tối tăm / đường hầm 23%
Ánh sang / những bản thể ánh sáng 16%
Lập nội tại (Inner setting) / thiên đường 10%

Chú ý sự tương quan với các vẻ (features) của Van Lommel [29]:

Nhận biết là mình chết 50% (không được báo cáo bởi TS Ring)
Cảm xúc tích cực 56% (so với TS Ring 60% cho những gì ông mô tả là "an bình")
Kinh nghiệm “ngoài cơ thể” 24% (so với 37% trong nghiên cứu của TS Ring)
Di chuyển qua đường hầm 31% (so với 23% trong nghiên cứu của TS Ring)
Thông tri với ánh sáng 23% (so với 16% trong nghiên cứu của TS Ring)
Quan sát màu sắc của 23% (không được báo cáo của TS Ring)
Quan sát cảnh thiên đàng 29% (so với 10% trong nghiên cứu của TS Ring)
Gặp gỡ với người đã chết 32% (không được báo cáo bởi Ring, nhưng báo cáo của Moody [30])
Xét lại cuộc sống của mình 13% (không được báo cáo bởi TS Ring)
Sự hiện diện của biên cảnh 8% (không được báo cáo bởi TS Ring)

Rõ ràng, nghiên cứu lớn hơn và trong thời gian dài hơn của bệnh nhân ở Hoà Lan trải qua các đường hầm, bản thể / những bản thể của ánh sáng, và cảnh thiên đàng thường xuyên hơn, ít hơn trong thời gian dài, so với với nhóm người ở Mỹ; trong khi các nhóm người Mỹ có kinh nghiệm ngoài cơ thể thường xuyên hơn. Sự khác biệt trong các dữ liệu có thể được giải thích, bởi thực tế hầu hết bệnh nhân chỉ có kinh nghiệm một số vẻ (features) trên của kinh nghiệm cận tử.

Kết luận về kinh nghiệm cận tử

Tóm lại, có bằng chứng đáng kể về sự hiện hữui phi vật thể (với một số kích thước của hiện thân phi vật thể). Bốn nguồn quan trọng nhất của các bằng chứng như sau:

(1) Trong số những người có thể nhớ về NDE, có sự đồng nhất đáng chú ý xung quanh mười vẻ của kinh nghiệm, bảy trong số đó là duy nhất với NDE, hai trong số đó được chia sẻ với hiện thân (cảm xúc tích cực và nhận thức màu sắc), và một trong số đó được chia sẻ với kinh nghiệm ngoài cơ thể (nhìn thấy cơ thể của một người từ trên cao và có khả năng đi xuyên vật chất) - trong Van Lommel, Ring, Morse, và Moody).

(2) Chứng thực, đúng sự thực, kiến thức cảm quan của bệnh nhân đã bất tỉnh (Van Lommel, Ring, Morse, và Moody).

(3) Chứng thực, đúng sự thực, kiến thức cảm quan của bệnh nhân đã bất tỉnh (Ring và van Lommel).

(4) Sợ hãi thấp hơn cách đáng kể về cái chết, đặc biệt là trẻ em. (Morse)

Các chứng thực kiến thức đúng sự thực về cảm quan hiểu biết của cả bệnh nhân nhìn được và mù rất quan trọng, bởi vì có vẻ như không có bất kỳ lời giải thích ở thể lý cho những hiện tượng chứng thực, dẫn đến kết luận rằng phải có một số hình thức của sự hiện hữu của nhận thức phi vật thể (bao gồm tự ý thức, trí nhớ , thông minh, và tự nhận dạng), và một số tồn tại của hiện thân phi vật thể (cho phép tương tác với thế giới vật chất). Van Lommel kết luận như sau:

Làm thế nào mà có thể có nhận thức rõ ràng bên ngoài cơ thể của một người vào lúc này mà não không còn hoạt động, đã chết trong một khoảng thời gian với EEG (điện não đồ) phẳng lặng? . . . Hơn nữa, người mù đã mô tả nhận thức đúng sự thực, về kinh nghiệm ngoài cơ thể tại thời điểm có kinh nghiệm này. NDE đẩy đến giới hạn về ý nghĩ thuộc y khoa về phạm vi nhận thức của con người và các mối quan hệ tâm-não. Trong nghiên cứu tiềm năng của chúng ta về bệnh nhân đã chết (EEG phẳng lặng, cho thấy không có hoạt động điện trong não và mất vai trò “thân não” (brain stem) với bằng chứng giãn đồng tử và không có các phản xạ ở miệng), các bệnh nhân báo cáo một nhận thức rõ ràng, trong đó chức năng nhận thức, cảm xúc, ý thức về bản sắc, hoặc ghi nhớ đã xảy ra từ thời thơ ấu, cũng như nhận biết từ một vị trí ở ngoài và trên cơ thể 'chết' của họ. [31]

Mặc dù phần lớn lớn bằng chứng này không phải là chứng minh cho sự sống vĩnh cửu (vì không có gì bảo đảm rằng sự tồn tại phi vật chất của nhận thức và cảm quan này sẽ kéo dài mãi mãi), điều này cung cấp cho các manh mối tới vĩnh cửu sau khi chết, thông qua những gì có thể được gọi là trực giác của trái tim.

Tình yêu của Bản Thể Ánh Sáng, tình yêu và niềm vui của những người thân yêu đã ra đi, và nhận thức về thiên đường, dường như báo hiệu về ý định của một đấng yêu thương thiêng liêng, để đáp ứng mong muốn lớn nhất của chúng ta là tình yêu vô điều kiện và niềm vui với đấng thiêng liêng cho toàn vĩnh cửu. Điểm cuối cùng này xứng đáng được xem xét đặc biệt, bởi vì trong mỗi thể hiện của một cuộc gặp gỡ với "Bản Thể Ánh Sáng," trong các nghiên cứu của Van Lommel l, Morse et al, Ring et al, và Moody, bệnh nhân báo cáo kinh nghiệm về sự yêu thương mãnh liệt. Các trường hợp sau đây giống như hàng trăm người khác báo cáo bởi các nhà nghiên cứu trên:

Tôi trở nên rất yếu,và ngã xuống. Tôi bắt đầu cảm thấy như bị cuốn đi, một chuyển động bản thể thật của mình vào và ra khỏi cơ thể của tôi và nghe thấy nhạc rất hay. Tôi nổi ở ở cuối hội trường và ra ngoài cửa vào hành lang có lưới. Ở đó dường như gần những đám mây, một màn sương màu hồng thực sự, bắt đầu tụ tập xung quanh tôi, và sau đó tôi trôi thẳng lên trên qua lưới, giống như nó không có ở đó, và vào vùng ánh sáng tinh khiết và trong suốt này, một sáng ánh trắng. Ánh sáng đẹp và rất tươi sáng, rạng rỡ, nhưng nó đã không làm tổn thương mắt. Nó không phải bất kỳ loại ánh sáng nào mà bạn có thể mô tả trên trái đất. Tôi đã thực sự không nhìn thấy một người trong ánh sáng này, nhưng ánh sáng này có một bản sắc đặc biệt, chắc chắn như vậy. Đó là ánh sáng của sự hiểu biết hoàn hảo và tình yêu hoàn hảo .... Và tất cả trong thời gian này, tôi cảm giác như mình đang được bao quanh bởi một tình yêu tràn ngập và lòng từ bi. [32]

Kinh nghiệm về tình yêu tràn ngập bởi những người gặp "Bản Thể Ánh Sáng" có thể khiêu khích trực giác một cách chính đáng, ý định của việc này không chỉ là lòng nhân từ nhất thời, nhưng để cho tình yêu vô điều kiện và vĩnh cửu (xảy ra để tương ứng với việc thực hiện các mong muốn lớn nhất của chúng ta).

Ghi chú

1. ↑ von Lommel 2001
2. ↑ Ring 1980.
3. ↑ Ring 1999.
4. ↑ Morse 1985 and Morse 1986.
5. ↑ Moody 1988.
6. ↑ See the website www.iands.org for a complete index of 135 topics concerned with research and longitudinal studies of NDEs.
7. ↑ See Gallup and Proctor 1982.
8. ↑ See van Lommel, et al 2001.
9. ↑ van Lommel, et al 2001, p. 2039.
10. ↑ van Lommel, et al 2001, p . 2044.
11. ↑ van Lommel, et al 2001, p . 2041.
12. ↑ van Lommel, et al 2001, p . 2041.
13. ↑ Morse 1990, p. 20.
14. ↑ Moody 1988, pp. 17-20.
15. ↑ Holden 2007, pp. 33-42.
16. ↑ Carter, 2010, p. 217.
17. ↑ van Lommel, et al 2001, p. 2039.
18. ↑ See Morse 1985 and 1986.
19. ↑ See Morse 1992, specifically pp. 64-88 and 89-115.
20. ↑ See van Lommel, et al 2001, pp. 2043ff.
21. ↑ See Moody 1988, pp. 33-56.
22. ↑ Morse 1992, pp. 30-32.
23. ↑ Morse 1992, p. 66.
24. ↑ See Ring, Cooper, and Tart 1999.
25. ↑ Ring and Valarino 2006, p. 81.
26. ↑ Ring and Valarino 2006, p. 81.
27. ↑ Ring and Valarino 2006, p. 81.
28. ↑ Moody 1988, pp. 7-20.
29. ↑ van Lommel, et al 2001, p. 2041.
30. ↑ Nghiên cứu của Moody quan trọng bởi vì nó cho thấy cách bệnh nhân đã được biến đổi bởi những cuộc gặp gỡ với những người thân yêu ra đi. Xem Moody 1993
31. ↑ van Lommel, et al 2001.
32. ↑ Moody, 1975 pp. 53-54.

DongA  
#496 Posted : Friday, May 20, 2016 2:06:18 PM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Sự siêu việt (của con người)
The Transcendentals

http://magisgodwiki.org/...itle=The_Transcendentals

LM. Robert Spitzer
Phỏng dịch: Trần Việt Bắc

Ghi chú:

Đọc và nhận thấy những hướng dẫn Tâm Linh của Linh Mục Spitzer rất hay, nên mạn phép phỏng dịch để mong được chia sẻ. Dù rằng cảm thấy là khó có thể dịch sang tiếng Việt và rất có thể có lỗi lầm khi chuyển ngữ, tuy nhiên xin cố gắng vì mong tìm hiểu và có được sự góp ý, đặc biệt là quý vị lãnh đạo tinh thần.

Có bằng chứng nào về linh hồn ‘ngoại-vật chất ’(siêu-vật thể)?

Cái gì và tại sao siêu việt

Những điều thêm vào các mục đã thảo luận từ trước về tính chất ‘siêu vật thể’ của con người, bằng cách khảo sát năm ước muốn siêu việt (điều này biểu lộ năm loại ý thức siêu việt): ước muốn cho sự thật hoàn hảo và vô điều kiện, tình yêu, công lý / sự tốt lành, vẻ đẹp, và ‘nguồn’ (home). Năm ước muốn siêu việt này (và ý thức) phân biệt nhận thức của con người với loài vật, và giải thích tại sao con người có khả năng sáng tạo vượt quy tắc định trước, ‘quy trình luận toán’ (algorithm), và các chương trình (chứng minh của Gödel), và lý do tại sao con người có một khuynh hướng tự nhiên về phía tâm linh và siêu việt.

Vì thế tại sao các nhà triết học, nhà khoa học và người với cảm giác thông thường, khẳng định rằng con người có một giá trị đặc biệt như vậy? Câu trả lời nằm trong nhiều quan sát liên quan đến nhau, mà điều này sẽ được thảo luận phía dưới. Những quan sát hiện diện trong các tác phẩm của nhiều triết gia và các nhà khoa học, [1] bắt đầu với Socrates, Plato, và Aristotle, chuyển qua Thánh Augustine, Moses Maimonides, Averroes, Thánh Thomas Aquinas, Francisco Suarez, John Locke, Immanuel Kant, GWF Hegel, John Henry Newman và vào thế kỷ 20 và 21 (thí dụ, Edmund Husserl, Edith Stein, Jacque Maritain, Henri Bergson, Emerich Coreth, Bernard Lonergan và nhiều người khác). Ý tưởng này cũng là trung tâm công trình của nhiều nhà vật lý nổi tiếng và các nhà sinh học trong các thế kỷ 20 và 21. Hai thí dụ về điều này sẽ đủ để cho luận điểm của chúng ta. Việc đầu tiên xuất phát từ nhà vật lý vĩ đại / vật lý thiên văn, Sir Arthur Eddington, người đã quan sát, sau khi chi tiết hóa các phương trình vật lý lượng tử và thuyết vật lý tương đối:

Chúng ta đều biết rằng có những vùng của tinh thần con người không bị ngăn cản bởi thế giới vật lý. Trong ý nghĩa thần bí của việc tạo dựng quanh chúng ta, trong sự biểu hiện của nghệ thuật, trong một khao khát hướng về Thiên Chúa, linh hồn lớn lên và tìm thấy sự hoàn thành của một cái gì đó cấy vào bản chất của nó. Việc thừa nhận đối với sự phát triển này là trong chúng ta, một phấn đấu sinh ra trong ý thức, hay nhận thức giác ngộ (Inner Light - enlightenment within oneself: giác ngộ trong chính mình) bắt nguồn từ một sức mạnh lớn hơn chúng ta. Khoa học khó có thể đặt câu hỏi về sự thừa nhận này, cho việc theo đuổi căn nguyên khoa học, từ sự cố gắng đó mà tâm trí được thúc đẩy để theo, câu hỏi đó sẽ không bị ngăn cản. Cho dù trong sự theo đuổi tri thức của khoa học, hay trong sự theo đuổi thần bí của tinh thần, ánh sáng vẫy gọi phía trước và mục đích gia tăng trong sự đáp ứng tự nhiên của chúng ta. [2]

Nhà di truyền học nổi tiếng Francis Collins, Giám đốc Dự án Human Genome, thể hiện một cái nhìn sâu sắc tương tự:
Là giám đốc của Dự án Human Genome, tôi đã dẫn đầu một tập đoàn các nhà khoa học, để đọc ra 3.1 tỷ chữ về “bộ di truyền” (genome) của con người, cuốn sách hướng dẫn về DNA của chúng ta. Là một người có niềm tin, tôi thấy DNA, tín hiệu về phân tử của tất cả các sinh vật sống, như ngôn ngữ của Thiên Chúa, sự trang nhã và tính phức tạp về các cơ quan của chính chúng ta và phần còn lại của thiên nhiên, như một sự phản ảnh về kế hoạch của Thiên Chúa. ... Có thể bạn theo đuổi một sự hiểu biết về cách làm việc như thế nào về đời sống, bằng cách sử dụng các công cụ của di truyền học và sinh học phân tử và lại thờ phượng một ĐấngThượng Đế Tạo Hóa hay không? Tiến hóa và đức tin vào Thiên Chúa có xung đột nhau không? Một nhà khoa học có thể tin vào phép lạ như sự sống lại (resurrection) hay không? Trên thực tế, tôi thấy không có xung đột ở đây, và cũng không rõ ràng là 40 phần trăm các nhà khoa học đang làm việc tự xưng là tín đồ. [3] Tôi đã thấy có một sự hòa hợp tuyệt vời trong việc bổ sung chân lý của khoa học và đức tin. Thiên Chúa của Kinh Thánh cũng là Thiên Chúa của “bộ di truyền” (genome). Thiên Chúa có thể được tìm thấy trong nhà thờ, hay trong phòng thí nghiệm. Bằng việc nghiên cứu sự sáng tạo hùng vĩ và tuyệt vời của Thiên Chúa, khoa học thực sự có thể là một phương tiện để thờ phượng. [4]

Nếu “bộ di truyền” (genome) của con người có thể được xem như là ngôn ngữ của Thiên Chúa, thì con người có thể được xem như là sự biểu hiện hoàn hảo về ngôn ngữ đó, và nó không phải là không có lý do để nói, từ góc độ khoa học và đức tin rằng con người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa (Gen 1:27 - "Vậy Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài, theo hình ảnh của Thiên Chúa, Ngài đã tạo ra anh ta, nam và nữ, Ngài đã tạo ra họ").

Vậy thì nguồn gốc triết học và khoa học của niềm tin này trong sự đặc biệt (và siêu việt) của con người là gì? Điều chủ yếu được căn cứ vào sự quan sát lâu dài về động vật không phải con người, trong đó tiếp tục được xác nhận trong điều tra thực nghiệm gần đây....

Điều này có thể được tóm tắt khá đơn giản như sau. Khi động vật hết (phải tìm) các cơ hội sống và sự nguy hiểm, chúng rơi vào giấc ngủ. Khi bạn ngưng cho chó của bạn ăn, hoặc cho nó sự yêu mến và chú ý (cơ hội sống), và khi không gặp sự nguy hiểm sống còn (như gặp một con vật săn mồi) trong tầm nhìn theo giác quan của nó, nó sẽ không thay đổi và không tránh khỏi rơi vào giấc ngủ.

Hoàn toàn trái ngược với điều này, khi con người hết (phải tìm) các cơ hội sống và sự nguy hiểm, họ thường xuyên đặt câu hỏi, tìm kiếm mục đích hay ý nghĩa trong cuộc sống, chiêm ngưỡng vẻ đẹp, suy nghĩ về sự tốt lành (hoặc không hoàn hảo) của người mình yêu. Nghĩ về sự bất công hay hay thiếu công lý và làm thế nào để tình trạng của họ hay thế giới tốt hơn và ngay cả khi họ suy nghĩ về toán học, vật lý, triết học và thần học - vì mục đích riêng của họ [6]. Khi con người hết (phải tìm) các cơ hội sống và sự nguy hiểm, họ thường không rơi vào giấc ngủ; họ tham dự vào những gì Plato và những người theo ông sau này (the neo-Platonists) gọi là "những hoạt động siêu việt." Những hoạt động này tiết lộ sự đặc biệt của con người, mà điều này làm cho họ xứng đáng có giá trị đặc biệt.

Những “người theo thuyết Plato sau này” (neo-Platonists ) xác định năm phạm vi của hoạt động siêu việt ("the five transcendentals"): ý thức và ước muốn cho sự thật, tình yêu, sự tốt lành / công lý, vẻ đẹp và Bản Thể/‘nguồn’ (home). Họ được gọi là "siêu việt", bởi vì tất cả dường như có một chân trời vô hạn và con người dường như ý thức những khả năng vô hạn của họ, và dường như muốn hoàn hảo (vô hạn) thực hiện của họ. Như vậy, theo quan điểm của nhiều nhà triết học, nhà toán học, và các nhà khoa học, con người có vẻ như có một ý thức và ước muốn cho sự thật hoàn hảo và vô điều kiện, tình yêu, sự tốt lành / công lý, vẻ đẹp và Bản Thể/‘nguồn’ (home). Năm điều siêu việt này cần thiết phải vượt qua tất cả các ‘quy trình luận toán’ (algorithm) hữu hạn (trong đó xác định tất cả các ‘thực tại thể chất’ và luật tạo thành các hạt hạ nguyên tử, phân tử, tế bào và cấu trúc hữu cơ phức tạp như bộ não), nhiều nhà triết học, nhà toán học, và các nhà khoa học đã cho rằng con người không chỉ là vật chất đơn thuần. Con người dường như có sức mạnh “‘siêu- vật chất ’(ngoài vật chất)” (transmaterial) hoặc tinh thần hay chiều hướng (demension) để giúp họ vượt qua tất cả các cấu trúc (cấu trúc vật lý) ‘quy trình luận toán’ (algorithm) và sự sáng tạo, trong cách ngược với các khả năng của trí thông minh nhân tạo (artificial intelligence).

Điều thú vị là tuyên bố này được chứng thực trong các lĩnh vực toán học bởi Kurt Godel (trong định lý nổi tiếng mang tên ông). Ông dự đoán các giới hạn của trí thông minh nhân tạo (artificial intelligence), được thách thức bởi sự thông minh của con người trên căn bản thường xuyên. Một cách cần thiết, Godel đã cho thấy rằng sẽ luôn có các dự án (propositions) không thể chứng minh, trong bất kỳ tập hợp các tiên đề phát biểu trong toán học. Con người không chỉ có thể cho thấy sự thích hợp, về sự hiện hữu của những phát biểu không thể chứng minh, nhưng cũng để chứng minh rằng họ thích hợp, bằng cách nhờ vào các tiên đề (axioms) vượt ra ngoài những gì đã dùng để tạo ra các phát biểu. Trí thông minh nhân tạo không có khả năng để làm việc này. Điều này cho thấy tư duy con người không dựa trên một tập hợp các quy định tiên đề, các quy tắc, hoặc các chương trình và bởi thiên nhiên, trên các luật và chương trình quy định. [7]

Nếu ai phủ nhận chiều hướng (demension) “‘‘siêu- vật chất ’(ngoài vật chất)” (transmaterial) này, người đó sẽ đơn giản phải bỏ qua sự khác biệt hoàn toàn giữa động vật và nhận thức của con người; bỏ qua sự ý thức của con người về chân trời vô hạn của sự thật, tình yêu, sự tốt lành / công lý, vẻ đẹp và Bản Thể/‘nguồn’ (home); bỏ qua những tính chất đặc biệt về sự sáng tạo của con người mà Godel đã diễn giải; và bỏ qua khả năng thiên nhiên của con người về sự tìm kiếm một Thượng Đế siêu việt. Nếu ai cảm thấy không chắc chắn về điều đã viết về phần chứng cứ này,rồi cho là điều này không thể lý giải để đi nhanh vào sự đơn giản hóa vật chất, dạng ngây thơ của động vật và trí thông minh của con người, và sự từ chối khả năng siêu việt của con người. Nhưng nếu ai dừng lại những vị thế đơn giản này, người đó vẫn còn mở cửa tới sự đặc biệt của con người, và do đó mở cửa tới giá trị đặc biệt của họ.

I. Ước muốn cho sự thật hoàn hảo và vô điều kiện

Trong tác phẩm nổi tiếng của Bernard Lonergan “Insight: A Study of Human Understanding”: Một nghiên cứu về sự hiểu biết của con người, Eight Ball ông trình bày một lập luận đáng tin cậy về sự hiện hữu của những ước muốn (và nhận thức của), sự thật hoàn hảo và vô điều kiện (mà ông gọi là "hoàn toàn khả tri" [“complete intelligibility”]). Luận điểm có thể được đặt ra trong bảy bước:

(1) Lonergan bắt đầu với hiện tượng về kinh nghiệm thường xuyên trải qua việc đặt câu hỏi, ngay sau khi có câu trả lời. Chúng ta có thể nhớ thời thơ ấu của chúng ta, khi chúng ta vây quanh cha mẹ của chúng ta với những câu hỏi như: "Tại sao điều này như vậy?" và cha mẹ của chúng ta sẽ trả lời, "Ồ, bởi vì điều đó", và chúng ta sẽ ngay lập tức hỏi "Vâng, tại sao lại vì điều đó?"và họ sẽ phản ứng tiếp với một câu trả lời, từ đó chúng ta sẽ hỏi một câu hỏi khác.

Khả năng đặt câu hỏi liên tục này cho thấy ý thức của chúng ta về một câu trả lời không đầy đủ, đó là câu trả lời không hoàn toàn ‘khả tri’ (intelligible); nó không giải thích "‘mọi sự về mọi thứ’ (“everything about everything.”)." Nếu chúng ta không biết rằng câu trả lời không khả tri, chúng ta sẽ không yêu cầu bất kỳ câu hỏi nào thêm, như "Cái gì?" "Tại sao?" "Làm thế nào?" v.v... Chúng ta sẽ rất hài lòng để biết tên của chúng ta và đáp ứng với những cơ hội sống và sự nguy hiểm - không có gì hơn. Đó là ý thức về "có cái gì hơn nữa để biết", ngay vào lúc khi cái gì đó được biết để đưa ra câu hỏi tiếp theo.

(2) Lonergan khẳng định rằng ông có một ước muốn tinh khiết không hạn chế để biết, đó là ông muốn biết tất cả những gì để biết và ông có khả năng đặt câu hỏi tiếp theo, khi chưa nắm được "tất cả những gì để biết."

(3) Bây giờ, câu hỏi đặt ra là làm thế nào ta có thể có năng lực để đặt câu hỏi, mỗi khi ta hiểu điều gì đó không đáp ứng được kỳ vọng của "tất cả những gì để biết?" Có vẻ như ta sẽ phải có một số ý thức (ít nhất là một ‘tiềm thức’ [tacit awareness]) của "tất cả những gì để biết ", đủ để hiểu rằng bất cứ điều gì ta đã nắm được vẫn chưa đáp ứng được mục tiêu này. Vì vậy, ta có thể di chuyển từ hình học giải tích, đến toán giải tích (calculus), đến hình học phi Euclid, với ‘tensor’ (một đại lượng trong toán học), và biết rằng các ‘tensor’ không mô tả một cách đầy đủ về sự khả tri của toàn bộ toán học - và điều đó thực sự không. Tương tự như vậy, ta có thể đạt được một sự hiểu biết về lĩnh vực ‘không-thời gian” (space-time), điện từ trường, các lĩnh vực lượng tử, “trường thống nhất lớn” (grand unified field), v.v... và nhận ra rằng “trường thống nhất lớn” vẫn không trả lời tất cả những gì để biết - và điều đó thực sự không. Điều này áp dụng cho mọi lĩnh vực về câu hỏi và mọi lĩnh vực của kiến thức, và ta sẽ biết, nếu ý tưởng của ta không giải thích ‘mọi sự về mọi thứ’.

(4) Một câu hỏi nữa đặt ra là, làm thế nào ta luôn biết rằng còn có nhiều hơn để biết, ngay cả khi ta đã nắm được những ý tưởng cao nhất, thông qua các quan điểm cao nhất? Làm thế nào ta biết rằng những ý tưởng và quan điểm không giải thích ‘mọi sự về mọi thứ’? Làm thế nào để ta biết những gì đủ điều kiện để giải thích ‘mọi sự về mọi thứ’?
Làm thế nào ta có thể có một sự "hiểu biết trước" (ý thức) sự giải thích của ‘mọi sự về mọi thứ’, đủ để tiếp tục đặt câu hỏi, và biết những gì sẽ không đáp ứng được mục tiêu của một lời giải thích tất cả ‘mọi sự về mọi thứ’?
Câu hỏi cuối cùng này trình bày một đầu mối quan trọng về sự siêu việt của chúng ta. Làm thế nào ta có thể liên tục nhận sự khả tri không đầy đủ (ngay cả trong những ý tưởng cao nhất và vĩ đại nhất), nếu ta không có một số ‘tiềm thức’ [tacit awareness] của những ý tưởng không đủ điều kiện cho sự hoàn toàn khả tri? Ta cần phải có một số cảm nhận của những gì hoàn toàn khả tri, để nhận ra những giới hạn của khả tri về các ý tưởng ta đã nắm được không? Không công nhận một giới hạn có nghĩa là ta có để được vượt quá giới hạn? Nếu ta không vượt quá giới hạn, làm thế nào ta có thể nhận ra nó là một giới hạn? Giới hạn của cái gì?

Vì vậy, điều này có vẻ như là ta phải có một ‘tiềm thức’ [tacit awareness] của" những gì đủ, để hội đủ điều kiện cho một lời giải thích ‘mọi sự về mọi thứ’." Hiển nhiên, ta không thể có một hiểu biết rõ ràng về tất cả nội dung mà ta không biết; nhưng ta có thể có ‘tiềm thức’ [tacit awareness] về điều gì, đủ cho sự giải thích ‘mọi sự về mọi thứ’. Điều này giải thích là thế nào mà ta có thể đạt được những quan điểm rất cao về toán học, vật lý và siêu hình học, và vẫn biết rằng ta đã không có một lời giải thích ‘mọi sự về mọi thứ’ - và ngay cả có cảm giác để đổi hướng để tìm sự giải thích.

(5) Cái gì có thể là nguồn gốc của ý thức này? Nó không thể là một nguồn vật chất, hoặc nguồn gốc hạn chế (sự kiện thực nghiệm, sự kiện hữu hạn, hay nội dung của hành vi hạn chế sự hiểu biết), vì ‘tiềm thức’ (tacit awareness) của "những gì là đủ cho một lời giải thích mọi sự về mọi thứ’" luôn luôn ở bên trên mỗi "thực tế khả tri mà điều đó để lại một câu hỏi chưa được trả lời," và mọi sự khả tri hạn chế luôn để lại một câu hỏi chưa được trả lời. Tại sao?
Bất kỳ sự khả tri hạn chế nào cần phải để lại một câu hỏi chưa được trả lời, bởi vì sự khả tri (tài liệu) sẵn sàng trả lời các câu hỏi về nó bị hạn chế. Vì vậy, luôn có thể có nhiều câu hỏi về một thực tế bị hạn chế hơn sẽ có khả tri (thông tin trong thực tế bị hạn chế) có sẵn để trả lời họ. Tại sao? Nhân vì các câu trả lời từ một khả tri hạn chế có một giới hạn nội tại (tức là, chúng không tiếp tục đi vô thời hạn), cuối cùng chúng sẽ được mở ra để tiếp tục câu hỏi mà không thể trả lời bằng sự hiểu hạn chế của chính nó. Như vậy, chúng ta có thể nói rằng mọi khả tri hạn chế có nhiều câu hỏi hơn là có thể trả lời. Sẽ luôn có một phạm vi của câu trả lời, mà điều đó phát sinh nhiều câu hỏi hơn sự hạn chế thực tế của sự khả tri có thể trả lời. Do đó, ‘tiềm thức’ [tacit awareness] của "những gì là đủ cho một lời giải thích ‘mọi sự về mọi thứ’" luôn luôn vượt xa bất kỳ hạn chế khả tri nào.

Do đó, nguồn của "‘tiềm thức’ [tacit awareness] này luôn ở trên khả tri hạn chế"phải là sự khả tri không hạn chế. Lonergan tự hỏi mình những gì là khả tri không hạn chế. Ông biết điều đó không thể là một ‘thực tại thể chất’, bởi vì khả tri của ‘thực tại thể chất’ bị giới hạn bởi không gian, thời gian, và các cấu trúc theo cách ‘quy trình luận toán’ (algorithmically) hữu hạn khác. Vì thế, ông dừng lại (settle) khi một thực tế “siêu thể chất” (trans-physical) hoặc “siêu vật thể” (transmaterial) như một ý tưởng không hạn chế (trong vòng hoạt động không hạn chế của hiểu biết). Không cần phải nói, hoạt động không hạn chế của hiểu biết không thể được xem như một bộ não (đó là thể chất , bị giới hạn bởi không gian, thời gian, và các cấu trúc của ‘quy trình luận toán’ hữu hạn khác); nên Lonergan đề cập đến nó như một thực tại "tâm linh". Thực tại tinh thần này, hoạt động không hạn chế của sự hiểu biết, là nền tảng của ý tưởng về khả tri không hạn chế, có vẻ như là nguồn gốc ‘tiềm thức’ [tacit awareness] của ta về "những gì đủ cho một lời giải thích ‘mọi sự về mọi thứ’."

(6) Mặc dù ý tưởng về sự ‘khả tri hoàn toàn’ (complete intelligibility) là nguồn gốc ‘tiềm thức’ [tacit awareness] của ta về "những gì là đủ cho một lời giải thích ‘mọi sự về mọi thứ’," ta không thể nói rằng ta hiểu được ý tưởng này, bởi vì nó phải căn cứ trong một hành động không hạn chế về sự hiểu biết, mà tôi, rõ ràng, không có.

Nhưng điều này như thế nào? Lonergan sử dụng thuật ngữ của "khái niệm" ( "khái niệm của con người", hoặc những gì ta sẽ gọi là "khái niệm khả tri hoàn toàn"). Khái niệm là gì? Nó là một sự hiện diện của nhận thức - sự hiện diện đó ta không giữ và kiểm soát được bởi ý thức, nhưng điều đó được giữ và kiểm soát bên ngoài nhận thức của ta, trong khi ta vẫn đang hiện diện với nó. Bây giờ nếu ta không hiểu sự hiện diện này, sau đó làm thế nào ta biết về nó? Ta phải biết nó như là một cái gì đó trên đường chân trời; như một cái gì đó ngoài sự hiểu biết của ta, tuy nhiên cái gì đó có thể hoạt động như một bối cảnh, để ta so sánh các ý tưởng ta đã hiểu.

Điều này sẽ giải thích thế nào, ta sẽ biết rằng còn hơn nữa để biết ngay vào lúc đã hiểu một cái gì đó mới, và sẽ giải thích thế nào là ta sẽ biết rằng các ‘tensor’ (một đại lượng trong toán học) không phải là giải thích đầy đủ của toán học, và toán học không phải giải thích đầy đủ sự khả tri của chính nó. Ta đang so sánh điều này với một bối cảnh, như vậy là quá nhiều hơn so với quan điểm cao nhất có thể, nhiều hơn so với bất kỳ sự khả tri hạn chế nào, nhiều hơn so với bất kỳ nội dung của hoạt động giới hạn nào của sự hiểu biết. [9]

Bây giờ, như đã nói, ta không hiểu, nắm giữ, hay kiểm soát được ý tưởng này; đó là với ta như một bối cảnh, giữ lấy và kiểm soát ta, để so sánh các ý tưởng khả tri mà ta đã hiểu. Nhưng có phải những gì đang giữ lấy và kiểm soát ý tưởng này như một bối cảnh với ta? Ta phải viện dẫn rằng đây sẽ chính là nguồn của điều này, đấy là hoạt động của sự hiểu biết không hạn chế.

(7) Điều này có nghĩa rằng ý tưởng về tính ‘khả tri hoàn hảo’ là nội dung của một hành động không hạn chế sự hiểu biết, đó là ‘bản chất thần thánh’ (divine essence), hiện diện với ta như một chân trời, một bối cảnh mà ta có thể so sánh, để mỗi nội dung khả tri ta nắm bắt qua hoạt động hiểu biết hạn chế của ta. Sự hiện diện của ‘bản chất thần thánh’ (divine essence), do đó phải là động lực thúc đẩy ý thức của ta về tính khả tri không hoàn hảo, động lực cho mọi câu hỏi, động lực cho mỗi hành động của sự sáng tạo.

Nếu ‘bản chất thần thánh’ (divine essence) không được tỏ ra cho ta, ta sẽ chỉ có khả năng biết đến đối tượng của cơ hội sống và sự nguy hiểm, chẳng hạn như thực phẩm, rắn, tên của tôi, tình cảm, vv, nhưng không có gì hơn nữa, ta sẽ không đặt câu hỏi về tính khả tri (chẳng hạn như "Cái gì?" "Tại sao?" Thế nào?” - mà điều này thâm nhập bản chất thực tế của thiên nhiên). Sự tò mò của ta sẽ chỉ được giới hạn với cơ hội sống và sự nguy hiểm, để phân biệt được (như) tâm trạng của chủ mình, để phát hiện có một loại dược thảo đúng mùi, hoặc một sinh vật nguy hiểm. Khả tri (bản chất của sự vật, bối cảnh khám phá [heuristic contexts]), "Cái gì?" "Tại sao?" "Thế nào?") sẽ ở bên ngoài ta - ta hoàn toàn không biết đến. Vì vậy, ta sẽ không có một ước muốn tinh khiết để hiểu - hãy để cho mình sự tinh khiết, ước muốn không hạn chế để hiểu. Nếu không có khái niệm ‘khả tri hoàn hảo’ (sự hiện diện các ý tưởng của tính khả tri hoàn toàn, sự hiện diện của bản chất thần thánh), ta sẽ chỉ thấy đầy đủ với một miếng thịt ngon và bỏ qua các tensor (một đại lượng trong toán học).

Lập luận trên về sự hiện hữu ý thức siêu việt của chúng ta - sự khả tri hoàn toàn (và sự hiện diện của siêu vật chất, nguồn không hạn chế đến với nhận thức của chúng ta) là đáng kể để chứng minh. Đáng tiếc, cái giá mà chúng ta phải trả cho tính trung thực này, đó là sắc thái và độ phức tạp của lập luận (argument). Người đọc sẽ bớt căng thẳng để biết rằng các lập luận khác, cho sự hiện hữu về ước muốn của chúng ta về tình yêu, sự tốt lành / công lý, vẻ đẹp và Bản Thể/‘nguồn’ (home) ít hơn về sắc thái và sự phức tạp, nhưng hậu quả là có ít tính trung thực. Có lẽ cách tốt nhất là để cho người đọc sử dụng các lập luận trên như nền tảng và ánh sáng, qua đó để thấy bốn ước muốn siêu việt khác, điều đó thể hiện sự viên mãn về sự hiệp thông (communion) với nguồn ‘siêu vật chất’ (trans-physical ) của họ.

II. Ước muốn cho tình yêu hoàn hảo và vô điều kiện

Con người cũng tỏ ra có một "ý thức" về tình yêu hoàn hảo và vô điều kiện. Không những chúng ta có sức mạnh để yêu (chẳng hạn như sức mạnh để được tự nhiên kết nối với một người khác, trong sự đồng cảm sâu sắc, cảm xúc, chăm sóc, tự hiến, quan tâm, và chấp nhận), chúng ta có một "cảm giác" sâu sắc kết nối giữa các cá nhân sẽ như thế nào, nếu nó đã được hoàn hảo. Cảm giác của tình yêu hoàn hảo này có tác dụng tích cực về kích động chúng ta theo đuổi các hình thức hoàn hảo của tình yêu hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là kích động chúng ta mong đợi tình yêu hoàn hảo từ những người khác. Điều này thường dẫn đến những ‘thất vọng” (frustrated expectations) của người khác và kết quả là các mối liên hệ bị giảm, vì tình yêu hoàn hảo và vô điều kiện không bao giờ có thể phát triển đủ nhanh, để phù hợp với nguyện vọng này.

Hiện tượng này dần dần được thể hiện rõ ràng. Thí dụ như dấu hiệu đầu tiên của sự không hoàn hảo, điều kiện và hữu hạn bắt đầu xuất hiện trong người thân yêu, ta có thể thấy khó chịu, nhưng có hy vọng rằng những lý tưởng sẽ sớm được bắt lại (như thể nó đã từng được bắt lấy để khởi đầu). Nhưng khi các sai lầm của người thân yêu bắt đầu được biểu hiện sâu sắc hơn (như không hoàn toàn khiêm tốn, hiền lành, tốt bụng, tha thứ, tự hiến, và quan tâm đến ta trong tất cả các quyền lợi của ta), sự khó chịu trở nên thất vọng, lần lượt nguyện vọng trở nên tiêu tan: "Tôi không thể tin rằng cô ấy thực sự là một người như vậy." Tất nhiên, cô không phải là một người như vậy, bởi vì cô ấy không hoàn hảo và vô điều kiện. Tuy nhiên, những nguyện vọng tiêu tan trở sự thành tổn thương im lặng, hay đòi hỏi công khai, cả hai đều nhằm mục đích lấy ra một cấp độ cao hơn về điều thực hiện từ người mình yêu. Khi cô ấy không làm theo, những ý nghĩ chấm dứt mối quan hệ có thể phát sinh.

Vấn đề gốc là không có tính xác đáng về tình yêu của cặp vợ chồng này cho nhau. Điều này không nảy sinh ra từ sự thiếu quan tâm, chăm sóc, và đáp ứng, hay thiếu ước muốn tự hiến, có trách nhiệm, tự - kỷ luật, và sự thật. Thay vào đó, nó phát sinh trong một ‘kỳ vọng sai lầm’ rằng họ có thể là hoàn hảo và vô điều kiện về tình yêu, sự thật, lòng tốt, sự công bằng, ý nghĩa và ‘gia đình’(home) cho nhau.

Tại sao chúng ta trở thành nạn nhân của những gì có vẻ như một lỗi hiển nhiên? Bởi vì ước muốn của chúng ta đối với tình yêu và tình yêu thì vô điều kiện, nhưng thực tế chúng ta không hoàn hảo. Ước muốn của chúng ta là cho sự hoàn hảo, nhưng thực tế là chúng ta không hoàn hảo.

Chúng ta, như bản thể con người, do đó, không thể đáp ứng ước muốn của người khác vô điều kiện và hoàn hảo. Nếu chúng ta không có sự vô điều kiện thật và hoàn hảo để đáp ứng ước muốn này, chúng ta bắt đầu tìm kiếm chung quanh để tìm một người thay thế. Người khác lúc đầu có vẻ giống như một người thay thế rất tốt, bởi vì họ phô bày những phẩm chất của sự ‘tự-siêu việt’ (self-transcendence). Do đó, chúng ta nhầm lẫn người khác cho sự hoàn hảo và vô điều kiện, và làm suy yếu mối liên hệ đã phô bày ra các cơ hội cho sự tăng trưởng, năng lực, niềm vui, nguyên nhân thông thường và sự kết nối với nhau.

Nguồn gốc của ước muốn này cho ‘tình yêu vô điều kiện’ là gì? Cũng như ước muốn không hạn chế để biết phải bao gồm ‘khái niệm ý thức’ (notional awareness) của tính ‘khả tri hoàn hảo’, để làm phát sinh một ý thức và sự không vừa lòng với mọi biểu hiện của tính khả tri không đầy đủ. Cũng thế sự ước muốn cho ‘tình yêu vô điều kiện’ phải có một ‘khái niệm ý thức’ của ‘tình yêu vô điều kiện’ để làm phát sinh ý thức và sự không vừa lòng với mọi biểu hiện của tình yêu có điều kiện và không hoàn hảo. ‘Khái niệm ý thức’ của ‘tình yêu vô điều kiện’ có vẻ như ở ngoài bất cứ tình yêu đặc biệt nào được biết đến hoặc kinh nghiệm cụ thể về tình yêu, điều này có vẻ gây ra sự không hài lòng với tất cả các tình yêu có điều kiện, mà chúng ta đã biết hoặc có kinh nghiệm.

Như vậy, sự không vừa lòng của chúng ta có vẻ sẽ phát sinh ra ‘tình yêu vô điều kiện’ lý tưởng, mà điều này đã không được kinh nghiệm cũng như không hiện thực hóa. Làm thế nào chúng ta có thể có một ý thức về tình yêu mà chúng ta không biết và cũng không có kinh nghiệm? Làm thế nào chúng ta có thể ngay cả ‘ngoại suy’ (extrapolate) về điều đó, nếu chúng ta không biết chúng ta đang đi đâu? Không có khả năng để đưa ra một câu trả lời hợp lý, cho những câu hỏi này đã khiến một số nhà triết học kết hợp những ước muốn về ‘tình yêu vô điều kiện’ với khái niệm về ‘tình yêu vô điều kiện’ trong chúng ta", điều này dường như có nguồn gốc của nó trong ‘tình yêu vô điều kiện’ của chính nó.

Lonergan tin rằng khi chúng ta thực hiện ước muốn của chúng ta đối với ‘tình yêu vô điều kiện’, do đích thực yêu mến Thiên Chúa, chúng ta đồng thời thực hiện đầy đủ khả năng của chúng ta để tự-siêu việt, trong đó bao gồm ước muốn của chúng ta cho sự thật hoàn hảo, tốt lành, và vẻ đẹp:

Tôi đã hình thành trong tình yêu với Thiên Chúa, như một thực hiện cuối cùng khả năng của con người cho sự tự-siêu việt; và quan điểm này của tôn giáo được duy trì khi Thiên Chúa đã hình thành sự hoàn tất tối cao các khái niệm siêu việt, như trí thông minh tối cao, sự thật, thực tại, sự công bình, sự tốt lành. [10]

Một lần nữa, ý thức của con người và ước muốn cho sự hoàn hảo và vô điều kiện, thể hiện một chiều hướng mà điều này không phải rút gọn đến các cấu trúc theo ‘quy trình luận toán’ (algorithm) hữu hạn (thể chất); và do đó dường như chúng ta có thêm năng lực siêu-vật thể [trans-physical] (tinh thần) và năng lực tự-siêu việt.

(Còn tiếp)
DongA  
#497 Posted : Saturday, May 21, 2016 8:26:37 AM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Sự siêu việt (của con người)
The Transcendentals


(Tiếp theo)

III. Ước muốn cho sự Tốt lành /Công lý hoàn hảo và vô điều kiện

Như với "cảm giác" (sense) của sự hoàn hảo và vô điều kiện về sự thật và tình yêu, những triết gia từ lâu đã nhận ra ước muốn của con người cho sự tốt lành hoàn hảo hay công lý. Con người không chỉ có cảm giác về tốt và xấu, là khả năng phản ảnh về đạo đức, cảm thấy tiêu cực sâu sắc về ý thức hợp tác với cái ác (tội lỗi), và cảm thấy tích cực sâu sắc về ý thức hợp tác với sự tốt lành (cao thượng); họ cũng có "cảm giác" về những gì hoàn hảovà tốt lành vô điều kiện/công lý sẽ như thế nào. Con người không chấp nhận dễ dàng với hành động theo lương tâm của họ bây giờ, họ đang liên tục phấn đấu cho những cách thức để đạt được sự cao quý hơn, tốt hơn, những lý tưởng cao hơn. Họ ngay cả còn đi xa hơn nữa để theo đuổi những thứ hoàn toàn tốt.

Manh mối tới ước muốn cho sự ‘tốt lành hoàn hảo/công lý’ này có thể được lượm lặt từ trẻ em. Một biểu hiện không hoàn hảo của công lý từ cha mẹ sẽ được vặn lại ngay lập tức, "Điều đó không công bằng!" Người lớn làm điều tương tự. Chúng ta có cảm giác về công lý hoàn hảo phải là gì, và tin rằng những người khác phải biết điều này. Khi cảm giác về công lý hoàn hảo bị vi phạm, chúng ta giống như có thể đáp ứng với sự phẫn nộ. Vi phạm loại này luôn có vẻ nghiêm trọng đặc biệt. Chúng ta dường như trong trạng thái choáng váng. Chúng ta thực sự hy vọng công lý hoàn hảo phải xảy ra, và khi không, nó làm ta thất vọng sâu sắc là nó có thể tiêu diệt chúng ta. Chúng ta có thể cảm thấy phẫn nộ với các nhóm, cấu trúc xã hội, và ngay cả với Thiên Chúa.

Ta chỉ cần xem những tờ báo năm ngoái để tìm một chủ đề (host) về các ông các bà với ý tốt, tận tâm, hào phóng đã cố gắng trích từ hệ thống pháp luật hoàn hảo và vô điều kiện, những công bằng xã hội lý tưởng, và các tổ chức dành riêng cho sự tốt lành chung.
Không riêng về chủ nghĩa Mác xít, sự hùng biện tuyệt vọng của chủ nghĩa lý tưởng và sự hoài nghi đã tiêu tan; điều này có thể được tìm thấy nơi những người biện hộ công cộng, chê bai các hệ thống pháp lý về việc truy tố những người vô tội và nạn nhân; họ phỉ báng các hệ thống tương tự về việc để những kẻ phạm luật được tự do.

Điều này cũng có thể được tìm thấy nơi các nhà giáo dục, họ chỉ trích hệ thống giáo dục không đặt tiêu chuẩn đủ cao, và những người ủng hộ cộng đồng, họ phá bỏ các hệ thống tương tự về việc đưa ra các tiêu chuẩn quá cao và quá độc quyền.

Nhưng thế giới không hoàn hảo của chúng ta sẽ không cho phép cả hai phiá là hoàn toàn chính xác.

Cũng như "cảm giác" về tình yêu hoàn hảo và vô điều kiện, ý thức của chúng ta về sự tốt lành/công lý hoàn hảo vô điều kiện có cả hai mặt tích và tiêu cực.

Mặt tích cực là khả năng cung cấp ‘sự khích động’ (fuel) cho tất cả các tranh giành của chúng ta đến bao giờ một trật tự xã hội hoàn hảo hơn, một hệ thống pháp lý tốt hơn, công bằng và bình đẳng hơn, và ngay cả việc mang công lý của Thiên Chúa đến thế gian (chủ nghĩa lý tưởng Promethean).

Mặt tiêu cực của "cảm giác" này về công lý hoàn hảo hay không điều kiện là nó lại kích thích sự mong đợi của chúng ta, cho công lý hoàn hảo trong một thế giới hữu hạn và có điều kiện, có nghĩa là những ‘lý tưởng Promethean’ của chúng ta có thể như bị vỡ mộng. Điều này gây thất vọng với các nền văn hóa, hệ thống pháp lý, các tổ chức và ngay cả gia đình của chúng ta. Chúng ta dường như luôn mong đợi nhiều về công lý và sự tốt lành hơn là so với thế giới hữu hạn có thể cung cấp, và điều này gây ra sự phẫn nộ, thiếu kiên nhẫn, sự phán xét người khác, và ngay cả sự hoài nghi khi nó không xảy ra.

Cái gì là nguồn gốc của "cảm giác" (khái niệm) về sự ‘tốt lành hoàn hảo/công lý’ này, thậm chí với ‘ước muốn Promethean’ để cứu thế giới và là "anh hùng cuối cùng?" Như với ước muốn cho ‘khả tri hoàn hảo’ và ‘tình yêu vô điều kiện’, ước muốn cho sự ‘tốt lành hoàn hảo/công lý’, dường như đi bên trên bất cứ kinh nghiệm hoặc kiến thức nào về công lý mà chúng ta có thể có. ‘Chủ nghĩa lý tưởng thất vọng’ (frustrated idealism) của chúng ta, cho thấy rằng ta liên tục nhìn thấy những giới hạn của bất kỳ biểu hiện đang có về sự tốt lành và công lý đó, lần lượt cho thấy rằng chúng ta đã vượt ra ngoài những giới hạn.

Cho rằng ước muốn của chúng ta sẽ chỉ hài lòng, khi chúng ta đạt đến sự ‘tốt lành hoàn hảo vô điều kiện/công lý’, có vẻ như ước muốn của chúng ta được hướng dẫn bởi một ý thức ‘tốt lành hoàn hảo vô điều kiện/công lý’; và cho rằng khái niệm này không thể có được từ một thế giới có điều kiện và không hoàn hảo, điều này có vẻ rằng nguồn gốc của nó từ sự ‘tốt lành hoàn hảo vô điều kiện/công lý’ của chính nó.

Vì lý do này, các triết gia đã liên tưởng nó với sự hiện diện của Thiên Chúa đến nhận thức của con người. Sự hiện diện về sự ‘tốt lành hoàn hảo vô điều kiện/công lý’ này, cho con người ý thức hơn nữa để thấy chiều hướng ‘ngoại-vật chất ’[transmaterial] (tinh thần) về sự tự-siêu việt của con người.

IV. Ước muốn cho vẻ đẹp hoàn hảo và vô điều kiện

Người ta không cần đọc các nhà thơ lãng mạn thế kỷ thứ mười chín, hoặc nghe các nhà soạn nhạc lãng mạn tuyệt vời, hoặc xem các tác phẩm của các nghệ sĩ lãng mạn, để thấy khả năng của con người thần tượng hóa về vẻ đẹp. Người ta chỉ cần nhìn vào các thí dụ về sự bất mãn đơn giản với vẻ đẹp trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Chúng ta nhìn không đẹp đủ, và những người khác cũng không đủ . Ngôi nhà không hoàn hảo đủ, bức tranh không bao giờ có thể đạt được sự hoàn hảo và các tác phẩm âm nhạc, tuy đẹp ngoài sức tưởng tượng, luôn luôn có thể hay hơn.

Có lần trong một thời gian tuyệt vời, chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã đến với vẻ đẹp tột bực. Điều này có thể xảy ra, khi nhìn vào một cảnh đẹp thiên nhiên: hoàng hôn trên mặt nước, màu cây xanh và núi màu nâu hùng vĩ với một bầu trời màu xanh lơ; nhưng ngay cả ở đó, mặc dù ước muốn của chúng ta để nâng cao nó để ‘gần với thần thánh” (quasi-divine), chúng ta cảm thấy buồn chán và phấn đấu cho một biểu hiện khác, hoặc ngay cả sự biểu lộ hoàn hảo hơn của vẻ đẹp thiên nhiên - một chút hoàng hôn tốt hơn, một điểm thuận lợi của dãy núi Alps, điều đó làm hoàn hảo hơn một chút.

Như với ước muốn cho ba sự siêu việt khác (sự thật hoàn hảo, tình yêu hoàn hảo, và sự tốt lành hoàn hảo / công lý), con người dường như có một ý thức về những gì đẹp hơn. Nó xúi giục họ ước muốn cho lý tưởng hoàn hảo hơn. Ước muốn này có cả ảnh hưởng tích cực và tiêu cực.

Ảnh hưởng tích cực là nó lại tiếp tục kích thích sự cố gắng của con người liên tục cho nghệ thuật, âm nhạc, và hoàn thiện văn học. Chúng ta không thụ động với ước muốn sáng tạo, chúng ta nhiệt tình với ước muốn sáng tạo, để thể hiện trong từng hình thức đẹp hơn, sự hoàn hảo của vẻ đẹp mà chúng ta dường như mang trong nhận thức. Chúng ta không chỉ đơn giản là muốn nói một ý tưởng, muốn thể hiện nó thật đẹp, thật vậy, đẹp hơn, thực sự hoàn toàn đẹp. Chúng ta không chỉ đơn giản là muốn thể hiện một tâm trạng trong âm nhạc, chúng ta muốn thể hiện nó một cách đẹp hoàn hảo. Phấn đấu này đã để lại một di sản kiến trúc, nghệ thuật, âm nhạc, kịch nghệ, và mọi hình thức của văn hóa cao.

Ảnh hưởng tiêu cực là chúng ta sẽ luôn luôn trở nên buồn chán, hoặc thất vọng với bất kỳ biểu hiện không hoàn hảo của vẻ đẹp. Điều này gây cho chúng ta cố gắng làm cho đẹp hoàn hảo cái gì là không hoàn hảo của thiên nhiên. Đúng là một khu vườn có thể đạt được một sự hoàn hảo nhất định của vẻ đẹp, nhưng ước muốn liên tục của chúng ta để cải thiện nó, có thể làm cho chúng ta nỗi không hài lòng lớn lên khủng khiếp, khi chúng ta không thể hoàn thiện điều này vô thời hạn.
Điều này được chứng minh khá mạnh mẽ trong cộng đồng nghệ thuật. Khi người ta đọc tiểu sử của những nghệ sĩ lớn, nhạc sĩ và nhà thơ, người ta cảm thấy bi kịch với điều gì mà nghệ thuật thường được thấm nhuần. Cái gì gây ra nguyên nhân những người nam và nữ tài năng ngoại hạng này hành hạ chính họ, đánh giá bản thân quá gay gắt, để đặt mình hoàn toàn vào nghệ thuật? Có lẽ đó là khi nghệ thuật trở thành một "ông thần", khi người ta cố gắng lấy ra vẻ đẹp hoàn hảo vô điều kiện, từ sự có điều kiện về tâm trí và hình thức.


Ý nghĩa của vẻ đẹp hoàn hảo đến từ đâu? Như với ba khao khát khác cho sự tối hậu, chúng ta được dẫn đến vẻ đẹp của chính nó cho sự không hài lòng, với ngay cả những vật thể đẹp nhất theo kinh nghiệm của chúng ta, cho thấy khả năng vô thời hạn, để nhận những giới hạn vẻ đẹp của thế giới,điều đó lần lượt cho thấy khả năng của chúng ta ở ngoài những giới hạn, điều đó lần lượt cho thấy một ý thức khái niệm về những gì đẹp hoàn hảo có thể (một ý thức khái niệm về một vẻ đẹp hoàn hảo và không hạn chế). Vì vậy, không đáng ngạc nhiên khi nhìn thấy thần thánh (divine) kết hợp với vẻ đẹp hoàn hảo, uy nghi, lộng lẫy, huy hoàng, hùng vĩ và vinh quang.

Khái niệm sự hiện diện nhận thức của con người về của vẻ đẹp hoàn hảo và vô điều kiện, cho thấy hơn nữa tính chất siêu- vật chất [transmaterial] (tinh thần), chiều hướng về sự tự-siêu việt (self-transcendent ) của con người.

V. Ước muốn về Bản Thể/‘nguồn’ ( Being/ ‘Home’) hoàn hảo và vô điều kiện

Tôn giáo đặt căn bản hầu như trong một cảm giác linh thiêng chứ không phải rút gọn về một dự đoán chủ quan đơn thuần. Thay vào đó, thiêng liêng là một nguồn, hoặc nguyên nhân của con người phấn đấu để sống trong lĩnh vực tâm linh và siêu việt. Lĩnh vực này không phải là một quan niệm khô khan, nhưng lại được làm đầy với ý thức siêu việt và cảm xúc thường xuyên, giống như những gì Rudolf Otto gọi là cảm giác về “sự thụ tạo” ("creatureliness"), “ cực kỳ bí mật” ("mysterium tremendum"), "sự khiếp sợ" (“awesomeness”), “quyền năng” ("overpoweringness") (hay "oai nghiêm"), "năng lượng "(hay" khẩn nài "-“urgency”)," niềm đam mê", và “sự siêu việt khác” (“transcendent otherness.”)[12]

Các nghiên cứu thấu đáo của Eliade (và những người khác) là điều quan trọng để xác nhận kết luận này cho chính mình. Như một đứa trẻ hay người lớn, bạn đã bao giờ cảm thấy cảm giác bị ghét bỏ hay bất hòa - một cảm xúc sâu sắc của sự không thuộc về điều gì? Bạn hãy tự hỏi, "Điều gì có thể là nguồn gốc?" và bạn nhìn xung quanh và thấy rằng tại thời điểm đặc biệt này, bạn có một mối quan hệ tốt với bạn bè và gia đình bạn. Sự quan hệ về công việc của bạn dường như khá tốt, tham dự cộng đồng đã đưa đến một số người bạn và hoàn cảnh thú vị để làm việc ở đó. Tuy nhiên, một cái gì đó còn thiếu. Bạn hoàn toàn không cảm thấy như là nhà trong một cảm giác tổng quát. Bạn chưa cảm thấy như ở nhà với gia đình, bạn bè, tổ chức, v.v... Bạn có cảm thấy như bạn không đồng đều với họ, và không thuộc về tổng thể. Và tất cả các bối cảnh cụ thể mà bạn nhìn thấy chưa có vẻ tốt. Bạn cảm thấy một sự trống rỗng, thiếu hòa bình, hoàn toàn không có gì bạn có thể đặt ngón tay của bạn lên.

Nhiều triết gia và thần học gia kết nối cảm giác này với khao khát của một con người phải ở nhà với tổng thể; không chỉ đơn thuần ở nhà với bản thân mình, gia đình, bạn bè của mình, hoặc ngay cả thế giới, nhưng để được hoàn toàn tại nhà (không có bất kỳ dấu hiệu nào của sự ghét bỏ). Khi những ước muốn cho ngôi nhà hoàn hảo, thậm chí chỉ làm đầy một phần; các nhà triết học, thần học, và thần bí học khác nhau gọi nó như là niềm vui-tình yêu- kính sợ (awe)-đoàn kết-thánh thiện- yên tĩnh.

Nguồn gốc ước muốn của chúng ta được ở nhà với tất cả những gì, để sống trong những gì mà Eliade gọi là "lĩnh vực thiêng liêng" ? Cái gì cho chúng ta khả năng để kinh nghiệm về những gì có vẻ là siêu việt niềm vui--tình yêu- kính sợ (awe)-đoàn kết-thánh thiện- yên tĩnh? Thật vậy, cái gì cho phép chúng ta cảm nhận và có thể nối (to bridge) được khoảng trống giữa chúng ta và “sự siêu việt khác”(“transcendent otherness.”) này? Có phải “sự siêu việt khác” nối khoảng trống này với chúng ta? Nếu vậy thì khi đó cảm giác của chúng ta với ‘nhà hoàn hảo và vô điều kiện’ còn cho thấy hơn nữa về sự kết nối và sự tham gia của chúng ta với ‘ngoại-vật chất’ [transmaterial] (tinh thần), lĩnh vực tự-siêu việt.

Kết luận

Nếu xem xét những ước muốn và khả năng của chúng ta trong các lĩnh vực của sự thật, tình yêu, sự tốt lành / công lý, vẻ đẹp và Bản Thể/‘nguồn’ (home), rất khó để từ chối sự hiện diện về ý thức ‘siêu-vật chất’ [transmaterial] và ước muốn này dường như chỉ ra một kết nối với nguồn ‘siêu-vật chất’ của sự ước muốn đó. Kết nối này, lần lượt cho thấy chiều hướng ‘siêu-vật chất’ của con người.

Nếu chúng ta muốn hạ thấp con người tới sự đơn thuần về vật chất, trí thông minh nhân tạo, và nhận thức loài của vật, chúng ta sẽ không chỉ phải bỏ qua bằng chứng ‘bất giản hoá luận’ (non-reductionistic) của Gödel cho trí thông minh của con người, chúng ta cũng sẽ phải đánh đồng mình với động vật rơi vào giấc ngủ, khi không có sự kích thích về các cơ hội sống và sự nguy hiểm. Hơn thế nữa, chúng ta sẽ phải phủ nhận sự hiện diện của tất cả các ước muốn siêu việt trên ở trong chính chúng ta (những ham muốn mà không thể được giải thích thông qua cách ‘quy trình luận toán’ (algorithm) hữu hạn - vật thể - cấu trúc). Điều này có vẻ như một giá khá cao để trả, sẽ có nghĩa là lên án chính mình, để bỏ qua tất cả mọi thứ có ý nghĩa như - sự thật, tình yêu, sự tốt lành / công lý, vẻ đẹp và Bản Thể/‘nguồn’ (home) - ở mức độ cao nhất có thể. Chúng ta có thực sự muốn làm điều này, tất cả vì sự nghiệp bảo vệ chủ nghĩa vật chất hoặc biện minh cho hành vi vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc ‘vô- ác tánh’ (non-maleficence)? Điều này dường như hoàn toàn ‘tự- phủ định’ (self-negation) trong nỗ lực để phủ nhận phẩm giá đích thực của mỗi con người. Đây có lẽ không phải là cách tốt nhất để tận dụng cuộc sống của chúng ta.

Chú thích

1- Nguồn gốc của ý tưởng này đến trước sự ra đời của triết học chính thức và khoa học, và có thể được tìm thấy trong một số lượng lớn của các tôn giáo được trình bày trong phần đầu về quyền hạn tinh thần của con người. Do Thái giáo chính thức hóa niềm tin này (xem Sáng Thế Ký 1-2), được truyền sang Thiên Chúa giáo, và sau đó sang đạo Hồi.

2- Eddington 1928, pp. 327-28

3- Có một tỷ lệ lớn hơn nhiều về các nhà khoa học làm việc là những người có niềm tin. Nhiều người không muốn tuyên xưng đức tin của mình trong một khung cảnh khoa học công cộng.

4- Collins 2007.

5- Lonergan 1997, p. 108-109.

6- "Khi một con vật không có gì để làm, nó đi ngủ. Khi một người không có gì để làm, anh ta có thể đặt câu hỏi. Những giây phút đầu tiên là một sự thức tỉnh thông minh con người. Nó được thoát ra từ sự thống trị của xu hướng sinh sống và từ các thói quen sinh hoạt hàng ngày. Đó là sự xuất hiện sự hiệu quả điều kỳ lạ của ước muốn để hiểu"(Lonergan 1997, p. 54).

7- Định lý đã được xuất bản bởi Kurt Godel năm 1931 (1931, tr. 173-198), và đã được sửa đổi bởi John R. Lucas vào năm 1961 (Lucas 1961, p. 120), và do nhà vật lý nổi tiếng Roger Penrose năm 1989 (Penrose 1989). Một bản tóm tắt tuyệt vời của bản dịch về chứng minh của Godel có thể được tìm thấy trong Barr 2003, p. 214.

8- Lonergan 1992.

9- Lonergan diễn tả nó như sau: "Khái niệm của con người thâm nhập vào tất cả các nội dung hiểu biết. Đó là khái niệm dựa trên khám phá tối thượng. Trước mỗi nội dung, là khái niệm để-được-biết đến thông qua nội dung đó. ...."(Lonergan 1992, pp. 380-381).

10- Lonergan 1972, p. 111

11- Eliade là biên tập viên của 16-tập Macmillan Bách khoa toàn thư của Tôn giáo. Xem Eliade 1987.

12- Xem Otto 1958, chapters 3-6.

CNH  
#498 Posted : Saturday, December 3, 2016 12:47:00 AM(UTC)
CNH

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 12/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: none

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Có Thiên Chúa hay không?

Đó là 1 thắc mắc lớn, rất thông thường. Trên “net”, thấy có câu hỏi “Có Chúa không nhỉ?”. Rồi có ý kiến cho rằng: điều gì phải nghi ngờ thì không đáng tin. Người viết có ý kiến:

Ai chịu quan sát khá kĩ sự sống, sẽ nghiệm thấy cách dễ dàng là: CÓ THIÊN CHÚA:

Tiếp cận quanh ta có sự sống; sự sống là vật chứng của sự sáng tạo, hoặc thiết kế thông minh (intelligent design). Thử hỏi có vật gì do loài người sáng tạo mà tinh vi, kì diệu bằng sự sống không? Đố các nhà bác học, các khoa học gia... chế tạo được bất cứ loại hạt giống nào mà có mầm sống; hạt lúa, hạt đậu, hạt cải... chẳng hạn; hoặc cái trứng có cồ?

Loài người sáng tạo được vật dụng là nhờ loài người có lí trí. Lí trí là 1 yếu tố của phần tinh thần của con người. Tinh thần của con người được xếp vào hạng CAO cấp; cao cấp so với tinh thần HẠ cấp của các loài động vật khác. “Cao cấp”, vì loài người biết làm thăng tiến cuộc sống bằng sự sáng tạo, phát minh, sáng tác... lúc đang sống. Các động vật khác không biết làm cho cuộc sống của chúng được thăng tiến, nên tinh thần của chúng chỉ được xếp vào hàng HẠ cấp. Tinh thần của “cái” mà tạo được sự sống phải cao bội phần hơn tinh thần cao cấp của loài người; và được xếp vào hạng SIÊU tinh thần.

“Cái” mà tạo được sự sống chính là Nguồn Tạo Hóa (NTH). SIÊU tinh thần của NTH hẳn phải có tính toàn tri, toàn năng và hằng sống, mới tạo được sự sống mà ta thấy quanh ta và trong ta. NTH mới chính là Thiên Chúa. Thiên Chúa không phải là ông thần (personnel God), ông tiên có phép mầu như người Thiên Chúa giáo tưởng tượng; cũng không phải ông Ngọc Hoàng Thượng Đế như người VN nghĩ.

Sự sống là vật chứng cho thấy có Thiên Chúa, cũng giống như radio, TV… là vât chứng cho biết có những làn sóng điện quanh ta, nhưng ta không thể dùng giác quan để cảm nhận được sóng điện. Thời nay, được coi TV, nghe radio, cell phone... ai mà không biết có nhiều làn sóng điện trong không gian?

Ngoài sự sống còn có vũ trụ, mà theo tài liệu của các khoa học gia thì loài người chỉ biết chưa được 4% về vũ trụ. Sự tinh vi và trật tự của vũ trụ cũng cho ta thấy đặc tính toàn tri và toàn năng của NTH.

Những khám phá về sự trật tự cách tinh vi, kì diệu trong vũ trụ là kết quả do nghiên cứu cao siêu của các nhà bác học. Giới bình dân, ít học như người viết bài nầy, chỉ quan sát sự sống, đã đủ để thấy có sự sáng tạo. CÓ SÁNG TẠO, ẮT PHẢI CÓ TÁC GIẢ. Tác giả đó chính là NTH, là Thượng Đế, là Thiên Chúa. Xin chịu khó vận dụng chút lí trí, sẽ thấy rất rõ các Bạn vô thần ơi.

CNH
11- 2016

Edited by user Monday, December 5, 2016 7:30:16 PM(UTC)  | Reason: Not specified

hoaphuong  
#499 Posted : Saturday, December 3, 2016 8:23:05 AM(UTC)
hoaphuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 12/28/2015(UTC)
Posts: 17
United States
Location: TEXAS

Thanks: 16 times
Was thanked: 29 time(s) in 12 post(s)




Hình như vô thần chỉ là tụi cộng sản thôi, còn tất cả những người theo các tôn giáo khác thì không phải vô thần phải không bạn CNH ?
CNH  
#500 Posted : Monday, December 5, 2016 8:09:41 PM(UTC)
CNH

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 12/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: none

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Cám ơn Hoaphuong đã có câu hỏi; để CNH tui có dịp viết thêm cho rõ hơn: Quan niệm vô thần theo cách hiểu riêng của tớ là: tôn giáo nào thờ loài thụ tạo, hay thọ tạo; nghĩa là được tạo, như thờ Hồ Chí Minh chẳng hạn; tớ cũng coi như tôn giáo vô thần.

CNH
Users browsing this topic
Guest
26 Pages«<23242526>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.