Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

6 Pages«<23456>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Thy Lan Thao  
#61 Posted : Monday, September 16, 2013 6:13:15 PM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,897
Location: usa

Thanks: 1699 times
Was thanked: 2834 time(s) in 1909 post(s)




Quán "Không"

*
Một vị thương gia lập nghiệp từ tay trắng, sau kiếm được rất nhiều tiền nhưng vì buôn bán trong thời kinh tế không ổn định, khiến anh ta trở nên phá sản, nợ nần chồng chất. Nghĩ mãi không tìm ra cách giải quyết, anh ta bèn ra bờ sông tự tử.
Vào lúc canh ba một đêm nọ, anh ta đến trước bờ sông, bỗng nhiên nhìn thấy một thiếu nữ đang ngồi khóc thảm thiết, anh bèn đến hỏi cô gái:
- Có chuyện gì mà đêm hôm khuya khoắt cô ngồi khóc một mình ở đây?
Cô gái buồn bã nói:
- Tôi bị người yêu ruồng bỏ, tôi không muốn sống nữa, bởi vì không có anh ấy tôi không sống nỗi.
Vị thương gia vừa nghe xong lập tức nói:
- Ồ! Lạ nhĩ, sao lúc chưa có bạn trai, cô có thể tự sống được.
Cô gái vừa nghe xong liền bừng tỉnh và bỏ ngay ý định tự tử.
Ngay lúc đó vị thương gia nọ cũng chợt nhận ra rằng: Khi chưa giàu có ta vẫn sống bình thường, ta cũng tay trắng làm nên mà!
Lúc đó cô gái quay sang hỏi vị thương gia:
- Đêm hôm lạnh lẽo như vậy, anh ra đây để làm gì?
Vị thương gia ậm ừ trả lời:
- Ừ… đâu có làm gì, chỉ là tản bộ chút vậy thôi”.
Thì ra, dù đã mất tất cả nhưng thực sự cũng chỉ bằng lúc ta chưa có mà thôi. Đây là một tuệ giác lớn! Phần lớn thế hệ chúng ta từng sinh ra trong chiến tranh, lớn lên trong giai đoạn đất nước đói nghèo, gia sản chỉ gói gọn trong một chiếc ba lô nhưng vẫn yêu đời, tin tưởng vào tương lai tươi sáng thì giờ đây rủi thời dẫu có thất thế sa cơ đến tay trắng cũng chẳng đến nỗi nào, vì trước đây ta có cái gì đâu! Ai thấy được điều này là có trí tuệ. Vì khổ đau, vật vả, thù hận thậm chí quyên sinh khi mất mát xảy ra, xét cho cùng cũng chỉ thiệt cho mình.
Nhờ quán không nên người con gái trong câu chuyện trên khi mất người yêu nghĩ rằng không có người yêu thì không sống nỗi, chợt thấy rõ rằng trước khi chưa gặp “kẻ phản bội” kia thì ta vẫn sống vui, liền lập tức đổi ý không trầm mình xuống sông nữa. Người thương gia trắng tay cũng đổi ý khi ngộ ra rằng trước đây ta cũng từ tay trắng mà lên. Bây giờ trắng tay nhưng cũng chỉ bằng ngày xưa chứ chưa mất mát tí gì.
Con người sinh ra đời với hai bàn tay trắng và dù thành công hay thất bại thì cũng trở về cát bụi với hai bàn tay không, vậy thì sá gì với được mất, có không, vì vô thường thay đổi vốn là bản chất của cuộc đời này. Chúng ta hãy quán chiếu thật sâu sắc vào sự chuyển biến vô thường của cuộc đời để sống bình thường trước mọi biến động có thể xảy đến với ta bất cứ lúc nào.
Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Thy Lan Thao  
#62 Posted : Wednesday, September 18, 2013 5:27:08 PM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,897
Location: usa

Thanks: 1699 times
Was thanked: 2834 time(s) in 1909 post(s)




Số Phận nhung nguoi ve bang Tàu VN Thương Tín








Số Phận nhung nguoi ve bằng Tàu VN Thương Tín

LGT : 17 giờ ngày 29/04/1975, cuộc « thương thuyết » giữa chính phủ đầy ngây thơ và ảo tưởng mệnh danh « thành phần thứ ba » với quân Cộng Sản Việt Nam đã hoàn toàn tan vỡ ... Quân đội Cộng Sản tập trung hoả lực và cơ giới tiến thẳng vào thủ đô Sài Gòn. 1030 sáng ngày 30/04/1975, với danh nghĩa Tổng Thống, cựu Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Trước đó không đầy 24 giờ, Dương Văn Minh ký cho Nguyễn Hữu Chung một Sự Vụ Lịnh đưa chiếc tàu Việt Nam Thương Tín đi, và một SVL cho Nguyễn Hữu Chung đến Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam đưa một số vàng tồn trữ ở Ngân Hàng này xuống tàu Việt Nam Thương Tín để khỏi lọt vào tay Cộng Sản. Nguyễn Hữu Chung đến Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam định lấy vàng đem đi, Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hảo và Thống Đốc Lê Quang Uyển nhất định không chịu trao, vì muốn giữ lại trao cho VC để lấy điểm. Bàn cãi nhau trong vòng 1 tiếng đồng hồ, Nguyễn Hữu Chung không thuyết phục được Nguyễn Văn Hảo và Lê Quang Uyển, nên Nguyễn Hữu Chung phải lật đật xuống tàu Việt Nam Thương Tín để ra đi.

Tàu Việt Nam Thương Tín ra đến sông Lòng Tảo bị Cộng quân nã B-40 vào hông tàu, làm thủng một mảng lớn. Nhà Văn Chu Tử, Chủ Nhiệm Nhật báo Sống ở Sài Gòn đã bị đạn B-40 của Cộng Sản Việt Nam giết chết trên tàu Việt Nam Thương Tín. Vậy mà khi cập bến Guam, phần do nội tuyến VC tuyên truyền, phần vì ly biệt người thân, 1652 người đã chấp nhận lên tàu Việt Nam Thương Tín quay trở lại Việt Nam, vào tháng 10/1975, dưới sự điều khiển của Trung Tá Hải Quân Trần Đình Trụ. Sau khi cập bến, tất cả những người trở về đã bị cầm tù ngoại trừ một bé trai 7 tuổi. Cựu Trung Tá Trụ đã bị tù 13 năm. Cuối cùng ông được trả tự do và ông cùng với gia đình đã được định cư tại Hoa Kỳ qua diện HO năm 1990.

Kể từ khi cộng sản chiếm đóng miền Nam, nhiều người đã hậm hực tiếc rẻ không chạy thoát trước ngày 30/04, ra nước ngoài. Vì thế, mọi người đã sững sờ khi nghe tin hơn 1600 người « đòi về » với chế độ cộng sản chứ không thèm ở trên xứ tự do ! Người Mỹ trên đảo lúc đó đã tìm đủ mọi cách để dỗ dành, chiều chuộng họ để họ ở lại nhưng không được. Họ nhất quyết tin tưởng nếu « thành tâm » về với cộng sản như vậy, họ sẽ được cộng sản đãi ngộ tử tế và coi như anh hùng ! Lúc đó, người nào cũng hy vọng là sự trở về của họ sẽ được cộng sản thích thú chấp nhận và đãi ngộ tử tế. Người Mỹ thì biết những người trở về sẽ vô cùng cực khổ vì thiếu thốn nên đã trang bị cho họ đủ thứ mùng mền, chăn gối, lương thực ê hề. Có người đã phải nói người Mỹ cho nhiều đồ như cho con gái về nhà chồng !

Nào ngờ đâu khi tàu Việt Nam Thương Tín cập bến Nha Trang, Việt Cộng đã cho lột sạch sẽ quần áo và của cải trước khi đưa tất cả vào trại giam. Mỗi người phải trút bỏ hết quần áo và được cấp phát 2 bộ quần áo cũ hay quần áo tù. Cộng sản làm như vậy để tiện lục soát trong quần áo và tịch thu toàn bộ của cải, kể cả những bộ quần áo của người tỵ nạn.

Kết quả là mỗi người được cộng sản đón bằng cái còng số 8, bất kể đàn bà trẻ con ! Tất cả phải lột sạch quần áo để công an khám người, khám tóc tìm cái gì có thể giấu được. Quần áo bị tịch thu để công an có thời giờ lục soát kỹ càng và lấy luôn. Trong số những người về có tới 400 sĩ quan cảnh sát, và mấy trăm sĩ quan quân đội. Đàn bà và trẻ con bị giam tối thiểu 9 tháng, những người khác từ 5 năm trở lên, tuỳ theo thành phần, lý lịch. Một số lớn bị tình nghi do CIA "cài" về để làm gián điệp, tình báo thì còn bị giam lâu hơn !

Thân nhân gia đình của những sĩ quan trở về đã thất vọng và nguyền rủa chồng họ không tiếc lời. Báo hại những người vợ nghèo nàn này còn phải lo tiền bạc đồ ăn đi thăm nuôi. Nhiều bà đã quá giận bỏ chồng khiến cho gia đình tan nát. Các "nạn nhân" chỉ còn cúi đầu sống trong sự tiếc hận, tủi hổ với lương tâm và với mọi người, và tiếc nuối một dịp may đã mất đi vĩnh viễn. Nhưng trong số những người trở về VN trên tàu Việt Nam Thương Tín cũng có nhiều hoàn cảnh thương tâm. Thí dụ như Trường Sa. Trả lời phỏng vấn của Thy Nga, ông cho biết : Khi đó, tôi là Chỉ huy trưởng cái đoàn hộ tống công-voa các thương thuyền của các nước đi tiếp tế cho chính quyền Lon Nol tại Campuchia. Ngày 29 thì tôi ở Vàm An Long trên sông Cửu Long. Khi mà tôi liên lạc với các cấp chỉ huy của tôi thì người ta đi hết rồi, thành ra đêm hôm đó, tôi dùng một chiếc tàu nhỏ trở về Sài Gòn nhưng không vô được bên trong nữa. Và từ đó, tôi gặp chiến hạm từ Sài Gòn đi ra, tôi lên chiến hạm, đi tới đảo Guam luôn. Khi lên tàu, tôi tìm khắp trên các chiến hạm đang di tản, không có gia đình tôi. Không liên lạc được với gia đình, vợ con tôi ở Sài Gòn. Tôi không bỏ rơi gia đình trong cảnh khó khăn như thế. Khi đến đảo Guam thì tôi xin Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc can thiệp cho tôi trở về Việt Nam. Hoàn cảnh nào, tôi cũng chấp nhận hết. Vì vậy, tôi theo tàu Việt Nam Thương Tín trở về Việt Nam. Khi tàu tới Nha Trang, VC bắt tôi lên Ty Cảnh Sát cũ tại Nha Trang ở đó 2 tháng, rồi chuyển ra trại A 20 Phú Khánh. Một thời gian ngắn sau thì chuyển ra Bắc, trại Nghệ Tĩnh đến năm 1984, mất cả thảy 9 năm ! Chỉ vì đã ra đi, rồi lại trở về. Năm 1986 thì tôi vượt biên, bị bắt. Từ cửa biển vào Mỹ Tho, dọc đường tôi bị đánh dữ lắm. Họ giam tôi 45 ngày trong xà-lim tối, sau đó, họ cho ra lao động. 2 năm sau thì thả tôi về. Đến tháng 04/1989, tôi tiếp tục đi nữa. Lần này thành công, tôi cùng 3 con đến Pulau Bidong, phải chờ 28 tháng, mới được Canada nhận vào.

Giống như nhạc sĩ Trường Sa, ông M Ngọc Phan cũng vì vợ con còn kẹt lại ở Việt Nam, nên đã từ đảo Guam trở lại VN trên tàu VN Thương Tín để rồi trải qua 6 năm tù đầy trong trại tù cải tạo của CS và 12 năm sau, ông và gia đình mới vượt biên thành công, đến được Hoa Kỳ. Sau đây là đoạn hồi ký của ông.

* * * * *


Thằng Quốc ngả người về phía bố, mặt nhăn nhó vì ù tai khi chiếc Boeing 747 hạ thấp để chuẩn bị đáp xuống phi trường San Francisco.
- Ba ơi, lỗ tai con bị nhức quá.
- Ráng chút đi con, mình sắp tới nơi rồi. Máy bay xuống tới phi đạo là hết ngay ấy mà. Coi mẹ và các chị em con có ai than thở gì đâu.

Nói xong, tôi lấy tay day day hai bên lỗ tai thằng nhỏ, giúp nó làm giảm áp lực không khí cho dễ chịu.

Rồi máy bay cũng đã hạ cánh an toàn. Bên ngoài nắng nhạt cuối ngày trải dài lên hai tấm thảm cỏ màu xanh lá mạ chạy dài tít tắp hai bên phi đạo. Tôi thở dài nhẹ nhõm :
- Thế là cuối cùng mình đã đến nơi, muộn hơn những 12 năm.

Máy bay vừa ngừng, đèn an toàn chưa tắt thì mọi người đã ào ào đứng dậy, báo hại nhân viên phi hành phải la ơi ới, yêu cầu bà con ngồi xuống lại.

Chuyến máy bay này do Cao Uỷ thuê bao để chở người tỵ nạn, mà phe ta phần đông không rành tiếng Anh và luật lệ trên máy bay mới ra nông nỗi. Riêng tôi nghĩ mình chờ đã bao năm nay, thì có chờ thêm vài chục phút nào có sá gì, nên nói với vợ con cứ từ từ, chờ cho mọi người xuống hết rồi mới đứng dậy lấy hành lý.

Hoàn thành xong thủ tục Quan Thuế, người đại diện Hội Bảo Trợ hướng dẫn gia đình tôi đến ... Cổng Thiên Đàng. Thật đúng như vậy, bao nhiêu là người thân ăn mặc đẹp đẽ, đang náo nức chờ đợi đón rước gia đình tôi vào miền đất hứa mà tôi đã trót một lần từ bỏ.
Sau những niềm vui và choáng váng với hạnh phúc chan hoà giữa đại gia đình anh chị em trong bữa tiệc đoàn tụ, nằm trên giường đã lâu mà tôi vẫn còn thao thức mãi. Vì khác biệt múi giờ cũng có, mà cái chính là đầu óc vẫn còn quay cuồng, với quá khứ sau bao năm rồi mà vẫn còn hiển hiện như mới ngày hôm qua.
* * * * *
Vào đầu tháng 04/1975, căn cứ Hải Quân Phú Quốc cấm trại 100 % vì tình hình đất nước càng lúc càng mịt mờ, tôi đưa vợ con lên tàu vào đất liền để rảnh tay lo nhiệm vụ của một Sĩ Quan luôn luôn chấp hành lệnh cấp trên.

Bé Dương mới hơn 2 tuổi và vợ lại gần sanh, nên tôi nghĩ không gì tốt và an toàn hơn là gửi cả về bên Ngoại ở Rạch Giá, để có người giúp đỡ lúc sanh nở.

Ngày 29/04 thì tình hình đã rối beng lên, tất cả tàu trong căn cứ được lệnh nhổ neo, tôi đi theo chiếc Tuần Duyên Hạm HQ 600.

Mặc dầu đã cố gắng liên lạc về Rạch Giá với gia đình, nhưng làm sao mà kịp được nữa !

Lệnh đầu hàng của tướng Dương Văn Minh như nhát chém cuối cùng cắt đứt hy vọng của mọi người. Ngồi trên boong tàu nhìn về quê hương mà nước mắt tôi chan hoà. Thôi thế là hết ! Thế là tán gia vong quốc.

Trước đấy hơn một tháng, đã có biết bao công chức, lính tráng di tản về hòn đảo cuối vùng đất nước này, nên HQ cố gắng hết sức để đưa họ ra khơi, mà lúc này cũng chưa ai biết sẽ đi về đâu.

Tàu tôi đã chuyển rất nhiều chuyến ra Tuần Dương Hạm. Tôi chứng kiến bao cảnh thương tâm vợ chồng con cái la khóc vì lạc nhau, thảm cảnh tai nạn khi chuyển lên tàu lớn, có người rớt xuống biển mà không thể nào vớt được. Trong hoàn cảnh hỗn quan hỗn quân ấy, tôi đã hết lòng giúp đỡ mọi người, những ghe nhỏ từ đảo Phú Quốc hay từ Rạch Giá chạy ra chở đầy người, nhưng vợ con mình thì lại không thấy đâu !

Hạm Trưởng ra lệnh chạy về hướng Singapore, ba ngày sau tàu cặp bến thì tôi chuyển qua chiếc HQ 229 để đi Subic Bay- Philippines. Nơi đây tôi đã đứng nghiêm, đau lòng tham dự lễ hạ quốc kỳ VNCH trên con tàu, tháo cặp lon trên vai áo bạc màu, làm thủ tục ở đây 20 ngày rồi lên máy bay qua đảo Guam.

Suốt những này ở trại Asan, tôi thẫn thờ như kẻ không hồn, lạc lõng giữa những người đồng số phận lưu vong. Chỉ có một số người may mắn đầy đủ gia đình, họ mau mắn tiến hành thủ tục định cư càng sớm càng tốt.

Nhìn cảnh gia đình họ mà tôi thèm thuồng và tủi cho thân phận mình. Tuy nhiên tôi vẫn lo làm giấy tờ để đi định cư mà lòng thì ngao ngán. Rồi đây trên xứ người, trơ trọi một thân một mình, không cha mẹ anh em, vợ con thì mình sẽ sống ra sao. Càng nghĩ càng buồn.
Đêm đêm tôi ra ngồi sát bãi biển, mắt đăm đắm nhìn về hướng quê nhà, nơi có người cha già yếu, vợ dại con thơ
đang lo lắng không biết tôi sống chết ra sao. Tôi nhớ đến miền quê nghèo mà mình đã sống từ nhỏ, có bà con lối xóm đầy ấp tình người, luôn luôn thuận hoà và bảo bọc nhau trong mọi hoàn cảnh ngặt nghèo. Nhất là bây giờ không biết vợ tôi sanh nở có mẹ tròn con vuông hay không. Mình đi rồi thì mẹ con nó lấy gì sanh sống và tồn tại đây.

Tôi nhớ tới cuộc di cư mà cha mẹ mình đã trải qua 20 năm về trước mà lòng não nề. Trong một nước mà còn không thể gặp nhau, huống hồ bây giờ tôi ra nước ngoài thì biết bao giờ gặp lại.

Đến cuối tháng Sáu, trong trại có tin đồn là nếu ai muốn về VN thì chính phủ Mỹ sẽ cho về. Tôi nghe một cách lơ là vì cho rằng khó có chuyện đó xẩy ra, nhưng càng lúc tin đồn càng lớn mạnh, một người quen nói với tôi là rất nhiều người đã ghi danh để trở về.

Cùng lúc ấy, có một nhóm khá đông hàng ngày tụ tập trước Văn phòng Đại diện, biểu tình yêu sách "được mau trở về VN vì nước nhà đã được độc lập, đã hết chiến tranh rồi. Hoà bình đến thì nước nhà cần bàn tay của mọi công dân". Cho đến lúc này, việc định cư của tôi vẫn còn mù mờ, không có tin tức gì cả. Tinh thần tôi dao động, khủng hoảng, đắn đo không biết tính sao.

Nếu đi định cư thì chắc chắn là phần vật chất thì no ấm rồi đó, nhưng về tinh thần thì có gì bù đắp được, khi không có gia đình và một người thân nào ở bên cạnh. Nhưng trở về thì sẽ ra sao ? Họ có bắt bớ tra tấn tù đày gì không ? Tôi trằn trọc thao thức nhiều đêm để quyết định cho hướng đi của cuộc đời mình.

Người xưa đã nói : Thà chết một đống, còn hơn sống một người. Cả gia đình tôi còn ở miền quê hương ấy, tôi lại là con trai cả, có nhiệm vụ với nguyên một đại gia đình và với vợ con. Nhất định mình phải trở về, không lẽ bây giờ họ thắng rồi, mà lại "Đánh kẻ chạy lại". Cùng lắm là sau vài tuần điều tra, thấy chẳng có gì là họ cho về với gia đình chứ cơm đâu mà nuôi mãi.

Đọc lịch sử thế giới ai cũng thấy rằng người thắng trận bao giờ cũng mã thượng, như cuộc chiến Nam Bắc ở Hoa Kỳ 1861-1865, Bắc Quân thắng trận nhưng lính Nam Quân vẫn an lành trở về nhà, cả hai miền đều chung sức làm nên nước Mỹ ngày càng cường thịnh. Rồi như nước Nhật, nước Đức kia, thua trận thê thảm năm 1945 mà được cựu thù giúp đỡ, nên chỉ chừng một thập niên sau là trở thành những cường quốc ngay. Việt Nam chắc hẳn cũng thấy ra điều đó. Nhất định là mình phải trở về. Nghĩ vậy nên khi tôi bước lên tàu VNTT mà lòng khấp khởi.

Sau hai tuần hải hành, tàu Việt Nam Thương Tín đã vào hải phận Vũng Tàu. Hôm đó là ngày 29/09/1975 có trên dưới 1450 hành khách, với rất nhiều lương thực và hành lý do chính Phủ Hoa kỳ trao tặng gồm chăn màn, quần áo và thuốc men như những món quà của người đi xa mang về cho gia đình ...

Không biết tại sao mà liên lạc từ trước rồi, mà mãi ngày hôm sau mới thấy hai chiếc tàu Hải Quân bây giờ trương cờ đỏ sao vàng ra đậu cách đó khoảng 200 m, rồi họ bắc ống dòm nhìn sang chăm chú. Mấy tiếng đồng hồ sau mới ra hiệu hướng dẫn chiếc VNTT chạy ngược ra phía miền Trung.

Bây giờ thì nỗi lo lắng đã hiện lên nét mặt nhiều người, nhưng ai cũng nán lòng chờ đợi vì chưa biết rồi ra sẽ như thế nào.

Ngày hôm sau thì tàu cập bến Nha Trang. Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân nơi tôi theo học còn đây, mà sao phố phường im vắng như thành phố chết ? Tất cả mọi người lớn bé đều bị dồn lên xe bít bùng mà chở về Trung Tâm Thẩm Vấn của Quân đoàn II cũ. Lúc này thì ai cũng lờ mờ nhận thấy rằng khốn nạn đến nơi rồi !

Mọi người phải trút bỏ hết quần áo, bị khám xét rất nhiều lần từ đầu đến chân, được phát cho hai bộ đồ lính rộng thùng thình, một chiếc chiếu rộng 8 tấc rồi dẫn đi nhốt vào những căn barrack.

Nhớ mới đây, thực phẩm ở trại Mỹ ê hề thịt trứng, nho cam mà bây giờ chỉ có cá mối ươn kho mặn là chính, thỉnh thoảng mới được ca canh nấu bằng rau muống hoặc rau cải già. Mỗi ngày một nhóm phải đi khai báo lý lịch trên Phòng Chấp Pháp : trước đây làm chức vụ gì trong Nguỵ Quyền, hoạt động ra sao, trong bao nhiêu năm ... Mỗi người được phát một số tờ sơ yếu lý lịch và ít tờ giấy trắng để viết lời khai. Cán bộ thì ông nào ông nấy mặt lạnh như tiền, cặp mắt thò lỏ ra như mắt chuột và hàm răng thuốc lào thì cứ vẩu tướng mãi lên, họ luôn luôn nói lải nhải câu : "Nếu các anh thành thật khai báo, thì đảng và nhà nước sẽ khoan hồng cho về".

Bây giờ thì cái câu ông Thiệu nói, nó hiển hiện lên trí óc mọi người : "Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm." Về sau này ai cũng hiểu rằng đám cán bộ này thuộc Cục Tình Báo Nước Ngoài thuộc Bộ Công An.

Suốt 2 tháng trời, tinh thần mọi người trở về đều bị khủng bố, ép cung, còn về vật chất thì quá thiếu thốn, cực khổ. Những giòng nước mắt hối hận đêm đêm ứa ra mà không ai dám than với ai, chỉ thầm đấm ngực ăn năn "Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng".

Họ chụp mũ mọi người là CIA, Mỹ gài lại VN phá hoại, chống phá nhà nước. Không biết bao nhiêu lần tôi phải giải thích tại sao tôi lại trở về.

Tôi kể về nỗi nhớ nước thương nhà, lưu luyến vợ con và gia đình, nhưng những con người không có trái tim đó họ không chịu hiểu. Điều phiền muộn nhất cho mọi người là về đến nước nhà rồi mà không ai được liên lạc với gia đình. Chúng tôi cũng biết chắc rằng người thân cũng lo lắng rất nhiều vì mình biệt vô âm tín.

Vài tháng sau thì đàn bà con nít đã được thả ra, nhưng hơn 500 Sĩ Quan, Cảnh Sát hoặc những người làm bên ngành An Ninh bị tách riêng ra. Đến đầu năm 1976 thì tôi bị chuyển đến trại A-30 Xuân Phước ở gần Tuy Hoà để "Cải tạo lao động" với câu quen thuộc cũ : "Nếu các anh cải tạo tốt, lao động tốt, học tập tốt thì đảng và nhà nước sẽ khoan hồng cho các anh về". Chẳng còn ai tin những lời hứa hẹn này và câu sau của ông Thiệu lại vang vọng : "hãy nhìn kỹ những gì VC chúng làm".

Tôi nghe nói những người từ cấp Đại Uý trở lên đã bị chở ra ngoài Bắc, riêng những người thuộc Ban Đại Diện tàu này thì đã bị đưa về khám Chí Hoà từ những ngày đầu. Chắc chắn là họ thê thảm rồi chứ không được tưởng thưởng vì đã đem về cho VC một con tàu đâu.

Thời gian tù đày càng ngày càng vô vọng vì tù mà không có án, thân thể hao mòn vì thiếu thốn. Sự đói khát, kiểm thảo, phê bình, lao khổ trong tù thì đã có quá nhiều người nói đến, kể ra chỉ rườm lời. Tôi xuống tinh thần rồi đổ bệnh tưởng không qua khỏi.

Sự hối hận này so với những người khác cũng chưa thấm vào đâu, nhất là những người vì ngây thơ, đã chia tay với gia đình khi ở bên trại mà trở về một mình. Càng những ông khi biểu tình đòi về to mồm thế nào, thì sự hối hận càng tăng thêm độ nặng chừng đó. Họ không dám nhìn ánh mắt những bạn đồng tù.

Rồi cũng không ai hiểu tại sao đội của tôi lại được tuyên dương là có thành tích lao động nên được cho phép viết thư về nhà. Dĩ nhiên với nội dung là ca tụng đảng và nhà nước chăm sóc cho mình rất chu đáo.

Mấy tháng sau thì vợ và đứa em trai ra thăm, nhưng tôi vì không đi lao động nổi nên bị phạt không cho gặp mặt gia đình, cũng không được nhận quà thăm nuôi !

Sau này tôi mới biết được mùa nước năm ấy, quê tôi bị nước lũ tràn về, lúa chưa chín đã bị chìm trong làn nước lụt, mất trắng. Thế mà gia đình chỉ còn con heo độc nhất đành phải bán đi mà ra thăm nuôi tôi.

Thời điểm ấy đi đâu cũng phải trình báo, xe cộ khó khăn, nếu không phải là công nhân viên, cán bộ thì chỉ còn có nước mua vé chợ đen mà thôi. Từ miền quê Rạch Giá ra đến Tuy Hoà biết bao vất vả tốn hao, thế mà không được nhìn mặt nhau cho dù là qua một hàng rào kẽm gai.

Rồi qua một năm dài đằng đẵng nữa, tôi mới được phép thăm nuôi. Lần này vợ tôi bồng thằng Quốc đi theo. Hai người ngồi 2 bên mép bàn, tên quản giáo với ánh mắt cú vọ ngồi đầu bàn. Cả hai đều không nói nên lời khi thấy nhau ốm yếu như que tăm, một người trong nhà tù nhỏ còn người kia trong tù lớn rộng ra cả nước.

15 phút trôi qua thật nhanh, biết bao tâm tình muốn nói mà cả hai không thể thốt nên lời, cuối cùng tôi gắng gượng bảo :
- Mình cố ráng săn sóc gia đình thay anh, còn anh thì không cần đi thăm nuôi nữa đâu nghen.

Tôi lủi thủi trở vào bên trong dẫy trại giam, không dám quay lại nhìn vợ con đang giọt ngắn giọt dài. Tưởng là về để giúp đỡ vợ con, ai ngờ mình lại trở nên gánh nặng cho cả gia đình.

Cả đời nào có biết văn chương là gì, thế mà hôm ấy tôi cũng viết được một bài thơ :
Hết chiến tranh rồi phước hoạ ai
Đợi mong mòn mỏi tháng năm dài
Lặn lội thăm chồng đi khắp chốn
Đường xa vạn dặm trĩu đôi vai
Viếng thăm chưa thoả niềm thương nhớ
Chia ly thêm nặng nỗi u hoài
Lỡ bước sa cơ đời đen tối
Thương người thiếu phụ lắm chông gai.
Xuân qua hè tới, thấm thoát mà đã hơn sáu năm trời mang thân tù tội, nhìn những hàng cây xoài, cây nhãn do chính tay mình trồng đã đâm hoa kết trái, mà mình vẫn còn ở nơi đây chúng tôi càng hối hận. Nhưng cuối cùng đến giữa năm 81 thì họ thả tôi ra.

Tôi phải mất ba bốn ngày trời mới từ miền Trung lần mò về đến quê nhà. Những người tài xế xe đò, những người buôn gánh bán bưng, bà già bán cơm ... khi biết tôi là tù được tha đều tỏ lòng quí mến mà giúp đỡ trên quãng đường qui hồi cố hương. Lòng tôi nao nao. À thì ra lòng con người Việt Nam vẫn còn đây chứ không phải đã bị nhuộm màu đỏ hết.

Dọc đường về, nhìn đâu cũng thấy cảnh u ám, người người đói khát, da mặt ai cũng đen đúa xấu xí. Từ đường lộ về đến nhà gần ba cây số, tôi tự hỏi sao hàng cây xanh tươi ngày xưa bây giờ lại xơ xác quạnh hiu, không còn sinh khí như vậy.

Đến nhà, con chó vàng xồ ra sủa rồi vẫy đuôi mừng rỡ. Cha tôi lọm khọm buông gậy mà chạy ra đón con. Vợ và 2 đứa nhỏ tíu tít quấn quít mà sao căn nhà coi bộ vắng vẻ hơn xưa nhiều quá. Thì ra các em tôi đã lần lượt theo nhau vượt biên hết rồi. Bà con xóm ngõ cũng đang tiếp tục âm thầm ra đi mỗi ngày một nhiều.

Tôi thẩn thơ ra vào trong căn nhà vắng hẳn tiếng cười, lo lắng như con chim đã một lần bị tên, thấy cành cây cong cũng sợ, nên dù có nhiều người đề nghị đi vượt biên lắm mà tôi chưa biết tính sao. Tôi đã một lần quyết định sai lầm, lần này nếu ra đi mà bị bắt thì chắc là ở tù lâu lắm.

Rồi tôi cũng phải ra đi mà thôi, nhưng phải mất đến 6 năm sau, với bao lần thất bại vì bể bãi, rồi cả gia đình tôi mới đến được bến bờ tự do.

Hôm nay, những người bà con đến chung vui, có ông bạn trẻ Đinh Đoan tặng cho bài thơ « Đố Ai » :
Người ơi có nhớ năm nao
Cái ngày tan tác ba đào thương đau
Đố xem kẻ kẹt trên tàu
Đảo Guam phải đến dạ sầu nhớ ai
Mênh mông với nỗi u hoài
Theo tàu Thương Tín đưa ngài về quê
Gian nan khổ ải chẳng nề
Ai ngờ bóc lịch ê chề thảm thương
Ra tù với nỗi sầu vương
Ngược xuôi dẫn vợ tìm đường vượt biên
Trời cao cũng độ kẻ hiền
Giúp ông tìm được đến miền tự do
Thiên đàng kia vẫn còn chờ
Gia đình hạnh phúc ước mơ đã thành.
Hỏi em hỏi chị hỏi anh
Xin cho tôi biết quí danh của ngài ?
Mục Đồng ở New York có bài thơ « Ông Là ... » hoạ lại :
Tôi còn nhớ chuyện năm xưa.
Cái ngày tan tác như vừa hôm qua
Tuần duyên vượt sóng hải hà
Đưa chàng chiến sĩ rời xa quê mình
Nhưng sau vì nghĩa vì tình
Nên đành chấp nhận hy sinh trở về
Bao nhiêu gian khổ chẳng nề
Dù cho bóc lịch ê chề thảm thương
Cuộc đời dâu bể khôn lường
Bao đêm dắt vợ tìm đường ra khơi
Hình như cũng thuận ý trời
Qua cơn bĩ cực đến thời thái lai
Ông là : bác Ngọc chứ ai
Đêm đen bỏ lại, tương lai đang chờ
Mừng vui hai chữ tự do
Gia đình đoàn tụ giấc mơ đây rồi

Phải ! Giấc mơ đây rồi. Giấc mơ này tôi đã ao ước từ 12 năm trước, mong được đoàn tụ với mọi người trong gia đình. Đến nay mới đạt được, và tôi đã phải trả một giá quá đắt.

Hơn 15 năm ở xứ Huê Kỳ trôi qua thật nhanh, bây giờ mái tóc đã muối nhiều hơn tiêu, mà trên chỏm đầu tóc đã đi chơi hết trơn nên trọc boong như cái hột vịt lộn, tôi ngồi vò đầu ngẫm nghĩ lại thì mình đúng là ở hiền gặp lành, chung tình với vợ con nên bây giờ được vợ cưng như cái trứng mỏng, con cái ngoan ngoãn.

Tôi tuy đến muộn, nhưng biết thân biết phận mình, vợ chồng cố ráng làm ăn, nên nay cũng « đi xe hơi, ở nhà lầu, nhà có TV tủ lạnh đủ cả ; cơm ăn ngày 3 bữa, quần áo mặc cả ngày » (just kidding). Giá mà hồi đó không trở về, có khi mình đã lấy một cô vợ Mễ, và nay thì cô ta đã xay mình nát ra như cám, "tiêu diêu nơi miền cực nhọc" rồi, mà vợ con mình cho đến bây giờ không biết ở nơi nao.

Người ta nói trâu chậm uống nước đục, mà tôi sao lại cứ được uống sữa tươi thế này ? Hoàng thiên đối với tôi như vậy nghĩ cũng là quá hậu đãi.

M Ngọc Phan
Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Thy Lan Thao  
#63 Posted : Sunday, November 24, 2013 6:58:08 PM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,897
Location: usa

Thanks: 1699 times
Was thanked: 2834 time(s) in 1909 post(s)
Chuyện trong trại tù cải tạo của Việt Cộng.



Hôm nay, lần đầu tiên kể từ ngày nhập trại, Ban Y Tế Trung Đoàn đến khám bịnh,cấp thuốc cho “tù cải tạo”. Khoảng năm giờ sáng, bịnh nhân các đội dưới sự hướng dẫn của đội trưởng xếp hàng ngồi trước cửa ra vào ‘bệnhxá”.
“Bệnh xá” là phần rất nhỏ của góc căn phòng trong gian nhà hoang phế. Phòng được ngăn vách bằng những tấm tole, bên trong còn mấy cái bàn, ít cái ghế cũ có vẻ long ốc, mất đinh vì xiêu vẹo. Những dấu vết còn lưu lại tố cáo có sự cạy phá để “giải phóng” những vật dụng như bóng đèn, dây điện, vách ngăn, rèm cửa, cây gỗ... vừa mới xảy ra. Vì việc "giải phóng" ấy quá triệt để, quá “hồ hỡi” làm cho vết thương của căn nhà tăng thêm vẻ trầm trọng. Nghe nói, gian nhà lớn nầy nguyên trước kia là bệnh viện của quân-đội Hoa Kỳ.
Các "nhà trưởng" nạp giấy báo cáo số bệnh nhân cho các quản giáo. Quản giáo mỗi đội nhìn con số trên giấy rồi đưa tay đếm tới, đếm lui “kiểm tra”. Cùng lúc, một toán bộ đội võ trang từ từ tiến vào theo “đội hình bảo vệ”, nghĩa là súng cầm tay, mũi súng chĩa thẳng vào tù, vẻ hung hăng và nghiêm trọng sẳn sàng nhả đạn, vây chặt lấy bệnh nhân. Tiếp theo, chừng khoảng năm tên bộ đội không vũ-trang, vai mang xách-cốt, tay cầm giấy tờ, mặt mày “khẩn trương”, “lừng lững” đi vào. Lại có tiếng quát dẹp đường cho toán khiêng những thùng nước khói bốc nghi ngút. Bên trong “bệnh xá”, bọn bộ đội đưa giấy tờ cho nhau xem, chúng bàn cãi có vẻ gay go. Tù không nghe được, ch thấy chúng vung vít múa may, dường như chúng bốc thăm ! Một tên trong bọn bước về phía tù lớn tiếng tuyên bố:
- Báo cáo với các anh, được sự chỉ định phân công của "trên", Hôm nay, ban Y Tế Trung Đoàn xuống khám bịnh, cấp thuốc điều trị phục vụ sức khỏe cho các anh. "Mỹ Ngụy" bỏ chạy đã mang theo hoặc phá hủy toàn bộ tài sản, thành ra đảng và nhân dân đang gặp khó khăn, phải thắt lưng buộc bụng. Tuy nhiên, đảng và nhân dân vẫn “đặc biệt quan tâm chiếu cố “ đến các anh. Báo cho các anh rõ, thuốc cung cấp đợt nầy chỉ dành riêng
cho các anh. Cán bộ phải đợi đợt tới ! Do tình hình cũng như do nhân dân yêu cầu, chúng tôi phải phục vụ tốt sức khỏe để các anh bước vào "bước học tập" kế tiếp. Đây là đợt khám bịnh cơ bản, và thời gian tới là bước học tập mang “tính bản lề”.
Tên bộ đội đứng bên cạnh lộ vẻ khó chịu, bèn cướp lời :
- Vì “tình hình khẩn trương của vấn đề, không có dài dòng”, yêu cầu các anh "nhà trưởng" đọc tên, đồng thời kiểm tra xem trại viên của mình có bịnh thực không, vì số thuốc trên rót xuống rất giới hạn, mà số bệnh nhân vượt ngoài “dự toán chỉ tiêu”. Theo sự bắt thăm, thì lần lượt các đội bên tay trái tôi vào trước. Báo cáo để các anh yên tâm, nếu hôm nay anh nào không khám kịp thì sẽ được thỏa mãn vào lần tới. Chúng ta chỉ được có hai giờ đồng hồ để “triển khai công tác”. Sau đó, các anh sẽ được “tiếp xúc và làm việc” với một bộ phận khác. Thôi, cho bắt đầu.
Thời gian nầy, trong trại tù, rất nhiều bịnh nhân, cũng như qúa nhiều loại bịnh như kiết lỵ đã gây nhiều tử vong, bịnh phù thủng bại xuội do thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamine B1, và nhiều nhất là ghẻ ngứa. Ghẻ ngứa là một loại bịnh gây kinh hoàng cho tù. Ban đầu da khô héo, mỗi lần gãi thì tế bào da chết, rơi rụng những lớp vảy, sau đó nổi lên vài nốt mụn nhỏ đỏ, có chứa nước. Khi vết mụn vỡ, chảy nước nhờn lên da, từ đó ghẻ lở “tự-do” tung hoành. Những mụn ghẻ ấy tập trung vào vùng da non, chỗ kín.
Tù thao thức suốt đêm chờ sáng để được khám bịnh, nhận thuốc. Bây giờ nghe thông báo chỉ khám được một số, nên tù lo sợ nếu vuột lần nầy thì không biết đến bao giờ ! Nhưng nỗi háo hức mong ước ấy chợt tắt như que củi bị dội nước sau khi hoạt cảnh khám bệnh cho tù diễn ra.
Y sĩ Việt cộng hỏi :
- Bịnh gì, đau đâu ?
- Báo cáo anh, tôi bị kiết lỵ.
- Làm sao biết kiết” nị “ ?
- Dạ đoán thế.
- Chỉ giỏi đoán mò, kiết “nị nà” do ăn uống bừa bãi, cấp một “ny:” “cao hạ tỳ“, thuốc “lầy” đặc chế, không bị “phản ứng nâm sàng” đâu.
Tù bước sâu vào bên trong, một tên bộ đội múc từ trong cái chảo đang ninh những lá cây bằng cái chén cũ, sứt mẻ, cáu bẩn. Nước “thuốc” hâm hẩm nóng, tù uống một hơi, đi ra cho tù khác vào. “Chất thuốc” có mùi “nỉ”
ngai ngái hương vị của lá cây mọc hoang mà thông thường gọi là “cây cứt lợn”.
Người tù thứ hai khai đau đầu, được cảnh cáo còn “tư duy” nhiều, chưa “an tâm”. “Nước thuốc” được đổi tên “nhức đầu thống”.
Tùy theo bịnh mỗi người, y sĩ Việt cộng có nhận xét, có cả lời cảnh cáo, hay thay tên nước thuốc như : Phù thủng thì ăn uống linh tinh, không hợp vệ sinh, tên nước thuốc là tăng lực. Ghẻ ngứa thì do không lưu ý sát trùng khi làm vệ sinh cơ thể, tên thuốc là hoạt bào... và tất cả đều
được xác nhận không có dấu hiệu lâm sàng, đừng lo ngại vì thuốc đặc chế không có “chống chỉ định” !
Khám bịnh xong, tù về “nhà” và đến 8 giờ quay trở lại tập họp tại địa điểm ban sáng. Không khí có phần “găng” hơn. Một tên bộ đội cố ra dáng là cán bộ chỉ huy, trịnh trọng “có vài lời trước khi bắt tay vào công tác”:
- Trước không khí khẩn trương khai giảng khoá học tập chính trị, chúng tôi nhiệt liệt chào mừng và chúc các anh thu hoạch "lý tưởng cách mạng" được toàn diện, sớm giác ngộ xã hội chủ nghĩa, trở thành người công dân mới có ích cho cách-mạng, cho nhân dân và cho bản thân. Báo cáo các anh rõ là "trên" ấn định rằng thì là... sau khi đánh giá thành quả thu hoạch xong thì các anh sẽ được về. Như vậy, đềà nghị các anh an tâm, vấn đề lâu hay mau là do các anh. Chúng tôi là cán bộ từ trung ương được chỉ định xuống thực hiện công tác chuyên ngành nhằm mục đích bảo vệ các anh khi trở về với xã hội có điều kiện tốt trở thành người lương thiện !
Bây giờ ta hãy nắm vững mấy nguyên tắc chỉ đạo sau đây, để “tiến trình thao diễn công tác” được thuận lợi. Những nguyên tắc cơ bản ấy là : Tiến trình từng anh một, theo thứ tự được kêu, đến bàn đầu tiên khai sơ khởi lý lịch trích ngang. Nhớ thành thực khai báo, không giấu giếm. Cảnh báo các anh rằng cách mạng đã biết hết, biết rõ các anh. Thành thật tâm sự với các anh, việc khai báo nầy là do sự khoan hồng nhân đạo của đảng để các anh có dịp tự trình bày tội lỗi của mình sao cho xứng đáng với tình thương, với sự ưu ái đảng dành cho. Đảng cũng như cha mẹ, đảng biết các anh chỉ là nạn nhân thôi. Tội phạm mà đảng cần trừng trị là bọn phản quốc đã chạy ra nước ngoài. Khai báo lý lịch trích ngang rồi thì đến phần lấy dấu tay. Đấy là những điểm mang tính đại cương sơ lược cơ bản, còn chi tiết thì các đồng chí phụ trách sẽ hướùng dẫn thực tế sau. Tóm lại, động viên các anh chỉ có thế. Chúc các anh hạ quyết tâm hoàn thành chỉ tiêu công tác mà "trên" tin tưởng giao phó.
Tù ngao ngán nghe, ngao ngán về vận mệnh Dân Tộc đang bị bọn “vượn người” thao túng đày đọa. Tên cán bộ tiến gần đến nhóm tù đang xếp hàng ngay ngắn trước hắn, mắt nheo nheo, miệng lẩm bẩm, rồi nhìn vào xấp giấy trên tay, hắn đọc thật to, thật rõ ràng :
- Anh Hồ văn Tên , ai tên Hồ văn Tên ?
Tù yên lặng. Tên cán bộ đọc lại Hồ văn Tên nhiều lần, mặt y đỏ dần rồi chuyển sang tái xanh, y run vì giận. Một tù nhân vụt chạy ra, nghiêm
chỉnh :
- Báo cáo anh, xin anh cho tôi xem thử vì sợ anh em viết thảo quá nên không được rõ.
Tên bộ đội sau giây lát ngập ngừng, khó chịu - có lẽ vì tự ái, cuối cùng y cũng trao xấp giấy đang cầm cho anh với sự hằn học :
- Đấy, các anh “tự quản“ với nhau đi. Chữ cứ như gà bớùi, tự do, cẩu thả quen thói!
Người tù đọc tên :
- Anh Nguyễn Văn A .
Tên bộ đội ghé sát nhìn tờ giấy, quát :
- Thế tên Hồ văn Tên đâu, ai cho phép anh thông qua ?
Người tù kín đáo giấu nụ cười :
- Báo cáo anh, do anh em viết không rõ, đấy là cách chia danh mục và danh mục ấy là "họ và tên" !
Tên bộ đội cằn nhằn chữa thẹn :
- Vô tổ chức quen thói, tiếp tục tự quản với nhau đi. Nhớ là báo cáo ngay mỗi khi gặp "sự cố".
Tù Nguyễn Văn-A bước vào “làm việc” :
Tên bộ đội hỏi :
- Cấp bậc, chức vụ ?
Tù đáp
- Thiếu úy. Xử lý thường vụ Trưởng Cuộc Cảnh Sát...
Chưa dứt câu, tù giật mình bởi tiếng thét từ tên bộ đội cĩ vẻ chỉ huy tổng quát:
- Sao tối nghĩa thế ? Sao lại Lý Thường Vụ ? Lý-Thường-Kiệt chứ !
Cai tù ung dung ghi và đọc tóm tắt : Tên : Nguyễn văn-A. Cấp bậc : Thiếu úy. Chức vụ : Lý Thường Kiệt Trưởng Cuộc. Tù ái ngại ký vào rồi lăn dấu
tay vô “Danh Bản Căn Cước Cảnh-Sát”. Người thứ hai vào :
- Tên ?
- Trần văn B.
- Cấp bậc, chức vụ ?
- Trung úy. Đại đội Trưởng An Ninh Thiết Lộ.
Tên bộ đội ghi danh bản gằn giọng hỏi :
- An ninh thiết lộ nghĩa là gì, nhiệm vụ cơ bản cụ thể như thế nào ?
- Dạ là giữ gìn đường sắt của xe lửa.
Tên cán bộ chỉ huy hùng hổ xía vào :
- Bọn ngụy sử dụng ám số, ám hiệu đánh lừa ta. Nhưng qua khai thác, đơn vị nào của địch có “từ” an ninh là nguy hiểm lắm đấy. Đồng chí ghi vào phụ chú nó thuộc thành phần tích cực chống phá cách mạng. Hồ sơ cần truy cứu.
Người tù thứ ba tiến tới. Sau khi xưng tên, cấp bậc đến phần chức vụ thì tù khai là : Đại úy chủ sự phòng Mãi ước. Tên chỉ huy giải thích cho tên ghi chép :
- Bọn ngụy quyền rắc rối, muốn đánh lạc hướng ta. Chủ nhiệm thì chúng gọi chủ sự. Còn Mãi ước là cái nghĩa lý gì ? "Mãi" là mãi mãi, là vĩnh
viễn, là liên tục. "ước" là ước hẹn. "Mãi ước" là ước hẹn mãi mãi. Thế thì nó là CIA rồi. Nó thề mãi mãi, ước hẹn mãi mãi. Ước hẹn thề gì, chỉ có bọn CIA mới thắt chặt buộc ràng như thế. Ghi vào cho nó là CIA.
Người tù kế khai :
- Cấp bậc: Thiếu úy công nhật, chức vụ : Đả tự viên (Trong Lực-Lượng CSQG có một số nhân viên ngạch hành chánh thư ký đánh máy có văn bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp và thâm niên được cải thành Thẩm Sát Viên Công Nhật, sau đổi sang thành Thiếu úy công nhật).
Tên thư ký quay qua hỏi :
- Đả tự viên chủ yếu trách nhiệm làm cái gì ?
- Dạ là đánh máy ...
Tù chưa kịp khai thêm cho đầy đủ là “đánh máy chữ” thì tên bộ đội chỉ huy lao vào như mũi tên, mặt mày xám ngắt giận dữ, hắn xỉa xói chỉ vào mặt người tù, gầm rống như đang lên cơn điên :
- Đéo mẹ, quân gian ác. Đánh người ta bằng tay đã chết rồi, tên nầy còn đánh bằng máy. Ghi vào, hắn thuộc bộ phận “cực kỳ ác ôn”.
Tên bộ đội lại hô:
- Tiếp!
Một người mới lại bước vào.
Tên thư ký gằn giọng, hằøn học hỏi:
- Tên , họ. cấp bậc, chức vụ ?
-Thiếu- úy – Tùng sự tại Trung-tâm điện-toán I.B.M.
Viên thư ký bộ đội nhíu mày lẩm nhẩm:” ai bi em là cái quái gì nhỉ!”. Y quay qua rì rầm với với tay chỉ huy. Sau đó, hắn chụm hai bàn tay như cái loa nói vọng ra ngoài:
- Có sự cố, các đồng chí bảo vệ tiếp tục tích cực đề cao cảnh giác, thực hiện tốt nhiệm vụ. Ban chỉ huy cần khẩn trương hội ý giao ban!
Sau khi cẩn thận hỏi lại tù cách viết cho đúng chữ I,B,M thay vì như y đã viết “ai bi em”. Tên thư ký hỏi đồng bọn của hắn:
- Các đồng chí có “nhận thức” gì về “cụm từ “ ai bi em?”.
Tên chỉ huy mau mắn ngắn gọn giải quyết
- Từ trước tới nay, tôi chỉû nghe nói “xê, i, a” và tôi cũng biết là nó ghê gớm nguy hiễm lắm, các đồng chí lãnh đạo dã chỉ thị cần phải hết sức cảnh giác cách mạng. Còn với bọn “ai bê em “ thì thú thật là tôi chưa bao giờ nghe nói cả. Có thể lực lượng nầy mới được thành lập và chắc chắn nguy-hiễm hơn bọn “xê, i, a”. Vậy tôi chỉ thị đề nghị tách riêng hồ sơ tên nầy để đích thân tôi sẽ viết báo cáo cầm tay về Trung-đòan xin chỉ thị. Tôi cũng chỉ thị cách ly y và chờ lệnh .
Thế là cuộc họp giao ban đã qua. Không biết tên chỉ huy nổi giận từ bao giờ; chân tay y run lên, đơi mắt long sòng sọc dổ lửa hận thù vào đám tù cô thế, rồi ngún nguẩy bỏ đi.
Thoạt đầu thấy bọn cán binh cai tù phản ứng và giải thích, tù cười khúc khích. Nhưng khi thắy tên chỉ huy giận quá, tù im thinh thích và cảm
thấy lo sợ sự trả thù từ bọn người ngu dốt, nhiều mặc cảm nhưng lại có vũ khí. Mỗi người đều cố tìm cách đặt tên chức vụ mình cho thật dễ hiểu, như Trung đội trưởng An Ninh Phòng Vệ Tổng Hành Dinh thì khai là "Trưởng toán gác cổng", Ban Trận Liệt thì là "Liệt kê các trận đánh". Tuy nhiên, tù cũng gặp lúng túng không giải nghĩa được những chữ như : Điện toán, An bài điện tử v.v.... Gặp những trường hợp khó khăn nầy, tù đành loanh quanh dài dòng giải thích, cuối cùng cũng được ”lãnh đạo” chấp thuận “nhất trí, thống nhất ý kiến đề xuất ” như “Điện tử “ ghi là làm toán bằng điện, hoặc "An bài điện tử" là kết quả của bài toán điện (?).
Thế rồi những khó khăn cũng qua đi. Trưa về đến “nhà”, tù nhận phần ăn. Một số người thích nhau gộp lại thành từng nhóm ngồi ăn chung để cười vui đùa cợt. Đám tù trẻ thường rất dễ tìm đề tài khôi hài. Người tù giải vây vụ “Hồ văn Tên” ban sáng cầm chén cơm vừa mới ăn xong, đi ngang qua, bị anh em chận hỏi :
- Ăn nhanh thế ?
Anh ta cười :
- Ăn rồi cũng như chưa ăn!.
Lại có tiếng chen vào :
- Sáng nay, không có anh thì không biết bao giờ mới xong vụ “Hồ văn Tên !”
Tay cầm cái tăm, anh xỉa vào những chiếc răng không lưu lại bất kỳ dấu vết nào chứng minh rằng vừa mới ăn xong, anh đáp :
- Thấy nó nổi nóng rồi, để lâu chút nữa là phiền lắm, mình lên cho xong chuyện. Ông nào còn xì ke (thuốc lào) cho mượn một ngao, “hòa bình xong trả luôn thể “.
Đến trưa, tù nhà trưởng “khẩn trương” thơng báo:
-Anh nào hồi sáng xung phong xin đọc tên, đến gặp anh bộ đội để được hướng dẫn lên trình diện cấp trên".
Người tù vẫn thong thả tích cực rít tận lực ngao thuốc lào, khói tuôn mịt mù, mắt ngất ngây say, sau khi đã cẩn thận lên tiếng “có tôi “.
Bất cứ sự việc nào cũng làm cho tù bàn tán, lo âu. Và tù lại cũng chóng quên, chóng quay về với nếp sống, nếp suy tư bình thường là :
Bao giờ về ?
Thuốc lào
Cờ tướng
Rì rào bàn tán
Trao đổi tin tức, và
Chờ... lãnh cơm.
Trời sập tối, bốn người tù”tranh thủ” xúm quanh những đồ vật được gọi là bàn ghế để thực hành câu tục ngữ mới: “Gần mực thì đen - gần đèn thì hút...thuốc… lào”. Họ vừa canh chừng cảnh giác, vừa trò chuyện thì anh “Hồ văn Tên “(người tù đứng đọc tên hồi sáng được đổi tên mới) dè dặt, nhẹ nhàng kiếm chỗ ké mông vào, anh nói :
- Vừa mới được “buông”. Mẹ nó, khi không mang ách giữa đường.
Có tiếng hỏi :
- Bộ nó bắt gắn “cần “ hả ? (cần antenna –nghĩa là làm ăn ten)
Một người khác hỏi:
- Rồi sao , “no” (NO) hay “dét” (YES) ?
Anh trả lời :
- Cụ trước được “đánh giá” là thông minh. Cụ sau cần xét lại quân bạ.
Một người tiếp theo :
- Mình không làm, thằng khác cũng làm. Thằng khác làm nguy hiểm hơn mình làm. Mình hy sinh để cứu anh em. Tại sao mình không tương kế tựu kế.
Lại có tiếng reo, tiếng ho do bị “xốc” thuốc lào, đứt cơn ho, bằng giọng khôi hài pha một chút cay đắng, anh nói :
- Hy sinh – cứu... cái “ củ từ ”, tương kế tựu kế cái con c..., đéo mẹ, cụ tưởng nó ngu lắm à ?. Cụ muốn thì cứ vào, đừng xúi ai ăn cứt gà cả.
Giọng anh “sang số ”, đổi sang tông “la”:
- Cậu phải biết, tớ muốn ăn cái gì mà mọi người cùng ăn. Tớ muốn người ta gọi tớ là “đồ người đẻ”. Còn ai muốn ăn cái mà mọi người không ăn, muốn người ta gọi là "đồ gì đẻ chứ không phải người đẻ" thì tùy !.
Không khí nặng nề “đột xuất do có sự cố kỹ thuật”, họ tự động “tan hàng” không kịp hơ “cố gắng”, lầm lũi về chỗ nằm, và dĩ nhiên không quên thủ tục “liều một đám” (làm một điếu) thuốc lào.
Câu chuyện rẽ hướng bất ngờ, cấy trong lòng nhau mỗi người một ít bâng khuâng, suy ngẫm. Tưởng rằng : Qua đêm, mọi chuyện sẽ bị đẩy lùi vào bóng tối. Nhưng không, hột giống đã có điều kiện nẩy mầm, vươn lên, phát triển, và định vị nhân cách làm NGƯỜI hay tâm địa của kẻ cam tam làm NGỢM. Bởi vì hôm sau và những ngày kế tiếp, cuộc diện diễn ra tuy có vẻ “đơn giản” nhưng hậu quả thật xót xa, hoàn toàn không như là “đang giởn !” :
Ban chỉ huy trại gọi anh “Hồ văn Tên” và tất cả những “tên phản động, tham gia cuộc họp phản cách mạng” đồng loạt lên “làm việc với ban lãnh đạo trại”.
Kết quả sau gần một tháng “làm việc” kết quả như sau :
- Anh “Hồ văn Tên” vào connex.
- Ba anh làm bản kiểm điểm phê và tự phê, bị cấm viết và nhận thư cho đến khi cĩ lịnh mới.
- Anh “tương kế tựu kế để cứu anh em” thì chuyển sang “K” bên cạnh, cách cái hàng rào. Nơi đây, anh phải “hy sinh” để phải “được thăm nuôi đặc biệt … ”.
Tù nhanh chóng loan truyền tin tức, nhận diện người “hy sinh”, tìm cách hạn chế sự “hy sinh” ấy bằng xa lánh, thẳng thừng miệt thị.Từ đó, hắn có tên mới là “thằng hy sinh”
Ngoài “sự cố ” nầy, tù còn “khách quan hiện thực” đối mặt với sự thật về nền khoa học “ưu-việt, đỉnh cao trí tuệ loài vượn được soi sáng bởi chủ nghĩa Mac Lênin và được soi chiếu thêm bằng nghị quyết của Trung ương đảng về phát kiến tài tình đầy tính khoa học”; đã sáng tạo ra một loại thuốc nấu từ cây cứt lợn chữa được bá bịnh, và với mỗi loại bịnh thì thuốc được tự động đổi
tên.
Tù còn ”thu hoạch” được kinh nghiệm về chữ nghĩa. ”Kinh qua” bài học đó, tù biết kiêng ky, húy tránh trước hết là những danh từ gây “tai nạn chết người ” như những danh từ Hán Việt (dù đã được Việt hóa từ lâu). Một người vẩn vơ suy nghĩ, bâng quơ mỉm cười và thì thầm :
- Chỉ mới là trận giao hữu mở màn giữa vượn và Người ! ./-
Tông Ph.H
Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Thy Lan Thao  
#64 Posted : Tuesday, November 26, 2013 7:31:21 PM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,897
Location: usa

Thanks: 1699 times
Was thanked: 2834 time(s) in 1909 post(s)



Sàigòn! Một thời để nhớ...

Hồi xửa hồi xưa… có một Sàigòn người ta gọi cà phê là “cà phe”, đi uống cà phê là đi uống “cà phe” với giọng điệu rất là ngộ nghĩnh. .Tiếng Tây gọi cà phê là Café, tiếng Anh là Coffee nhưng mấy xì thẩu Chợ Lớn thì gọi là “cá phé”. Vậy thì café, coffee, cà phê, cà phe hay là cá phé muốn gọi sao thì gọi nhưng ai cũng hiểu đó là món thức uống màu đen có hương vị thơm ngon, uống vào có thể tỉnh người nếu uống quá đậm có thể thức ba ngày không nhắm mắt. . .

TRỞ VỀ THẬP KỶ 50 : CÀ PHÊ VỚI Năm một ngàn chín trăm… hồi đó người Sàigòn chưa ai biết kinh doanh với nghề bán cà phê cả. “Xếp sòng” của ngành kinh doanh… có khói này là do các xếnh xáng A Hoành. A Coón. chú Xường, chú Cảo… chủ các tiệm hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại. Vô bất cứ tiệm hủ tíu nào vào buổi sáng cũng có bán món cá phé, cà phê, cà phe đi kèm để khách có thể ngồi đó hàng giờ nhăm nhi bàn chuyện trên trời dưới đất.
Hồi đó chẳng ai biết món cà phê phin là gì đâu ? Các chú Xường, chú Cảo, A Xứng, A Hía chỉ pha độc một loại cà phê vớ. Một chiếc túi vải hình phểu được may cặp với một cọng kẻm làm vành túi và cán. Cà phê bột đổ vào túi vải (gọi là bít tất, hay vớ đều được). Vì chiếc vợt cà phê nầy hơi giống như chiếc vớ dùng để mang giày nên “dân chơi” gọi đại là cà phê vớ cho vui. Chiếc vớ chứa cà phê này sau đó được nhúng vào siêu nước đang sôi, lấy đũa khuấy khuấy vài dạo xong đậy nắp siêu lại rồi… kho” độ năm mười phút mới có thể rót ra ly mang ra cho khách. Chính cái “quy trình” pha chế thủ công đầy phong cách Tàu này mà dân ghiền cà phê còn gọi nó là cà phê kho bởi chỉ ngon lúc mới vừa “kho nước đầu”. Nếu ai đến chậm bị kho một hồi cà phê sẽ đắng như thuốc Bắc. Có mấy khu vực có những con đường qui tụ rất nhiều tiệm cà phê hủ tíu. Ở Chợ Cũ có đường MacMahon (đọc là đường Mạc Má Hồng, nay là đường Nguyễn Công Trứ) có rất nhiều tiệm cà phê kho từ sáng đến khuya. Khu Verdun – Chợ Đuổi cũng đáng nể bởi cà phê cà pháo huyên náo suốt ngày. Ở bùng binh Ngã Bảy (góc Điện Biên Phủ và Lê Hồng Phong bây giờ) có một tiệm cà phê hủ tíu đỏ lửa từ 4giờ sáng cho đến tận 12 giờ đêm..

Còn nếu ai đi lạc vào khu Chợ lớn còn “đã” hơn nhiều bởi giữa khuya vẫn còn có thể ngồi nhăm nhi cà phê, bánh bao, bánh tiêu, dò-chả-quải đến tận sáng hôm sau. .

Trang trí chung của các tiệm cà phê hủ tíu tàu
Sách phong thủy Tàu thường khuyên không nên cất nhà ở ngã ba, ngã tư đường vì dễ bị nạn xui xẻo nhưng các chú Xường, chú Hía. A Hoành. A Koón…. thì đều chọn các nơi này làm chỗ kinh doanh. Tuy Sàigòn, Chợ lớn, Gia Định. Phú Nhuận, Đa Kao hàng trăm tiệm cà phê hủ tíu Tàu nhưng nhìn chung chúng đều có một “mô-típ – made in China” khá giống nhau tức là quán nào ở phía trước cửa cũng có một xe nấu hủ tíu được làm bằng gỗ thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên của xe được trang trí bằng những tấm kính tráng thủy vẽ những nhân vật Quan Công, Lưu Bị, Triệu Tử Long, Trương Phi trong truyện Tam Quốc Chí khá vui mắt. Bên trong quán hoặc xếp bàn tròn hoặc vuông. Khách vừa vào trong gọi “cá phé”, song mấy tay phổ ky vẫn bưng ra một mâm nào bánh bao, xíu mại, há cảo, dà chá quải đặt trên bàn. Khách dùng hay không cũng chẳng sao “pà – con – mà !”
Uống cà phê phải biết cách Như đã nói ớ trên, hồi đó không có cà phê ta mà chỉ có cà phê Tàu. Vì thế uống cà phê Tàu phải có một phong cách riêng. Cà phê được mang ra dân “sành điệu”, hồi đó ngồi chân dưới chân trên, sau khi khuấy nhẹ cho tan đường bèn đổ ly cà phê ra cái đĩa đặt phía dưới. Chưa uống vội, khách chậm rãi mồi điếu thuốc rít vài hơi để chờ cà phê nguội. Ông Sáu “trường đua” nay đã 80 kể rằng hồi ông còn là một chú nhóc nài ngựa ở trường đua Phú Thọ ông cũng uống cà phê theo phong cách này, tức uống bằng đĩa chớ không uống bằng ly. Bàn tay phải nhón lấy cái đĩa đưa lên miệng và húp sì sụp: “Uống vậy mới khoái, mới đúng kiểu của dân từng trải “, ông Sáu “trường đua” nói với vẻ tự hào. Ông còn kể cho tôi nghe chuyện ông từng ăn mảnh ở mấy tiệm hủ tíu bánh bao hồi năm sáu chục năm về trước với giọng khoái trá : “Hồi đó tao làm nài ngựa. Hôm nào ngựa thắng độ thì nài được chủ ngựa thưởng cho bộn tiền. Hôm nào ngựa thua thì coi như đói. Không sao, 73 gần trường đua có một tiệm hủ tíu cà phê. Vào búng tay chóc chóc gọi cà phê. Cứ cho mấy thằng phổ-ky mang bánh bao xíu mại ra bày trên bàn. Đợi đến khi nó mang cà phê ra rồi bỏ chạy sang bàn khác thì nhanh tay gở miếng giấy phía dưới cái bánh bao ra và khoắng ngay cái nhân phía trong tọng vào miệng rồi đậy bánh lại như cũ. Thế là chỉ tốn ly cà phê vài xu mà đã có cái nhân bánh bao to đùng ngon lành trong bụng rồi”. Theo ông Sáu “trường đua” thì các chủ tiệm cà phê hủ tíu hồi đó rất chìu khách. Sì sụp húp cà phê bằng đĩa xong muốn ngồi bao lâu cứ ngồi, hết trà con hô lên “xà lẵm” là có người mang ra bình trà mới, uống chừng nào chán thì đi. Khi được hỏi tại sao dân “sành điệu lại không uống bằng ly mà đi húp cà phê bằng đĩa, ông Sáu “trường đua” lắc đầu nói không biết chỉ biết dân “sành điệư” chơi vậy mình cũng bắt chước chơi vậy thôi vậy mới là. . . sành điệu !

CÀ PHÊ PHIN Dòng cà phê… với cà phê kho lững lờ trôi như thế hằng thế kỷ của thiên kỷ trước là như thế, cứ vào tiệm hủ tíu mà uống cà phê đổ ra đĩa rồi sì sụp húp thì được xem như đó là phong cách của dân chơi sành điệu.
Một người tên ông Chín “cù lủ” một tay bạc bịp nay đã hoàn lương cho rằng dân cờ bạc, dân giang hồ hồi đó chẳng đời nào bưng ly mà uống như ngày nay. Kẻ ngồi nghiêm túc, nâng ly lên uống như uống rượu bị các đàn anh “húp” đĩa xem khinh bằng nửa con mắt, coi như hạng… “bột” lục hục thường tình không đáng kết giao. Nhưng rồi cái quan điểm húp cà phê trên đĩa mới … “sang” cũng đến lúc phải lụi tàn, vì bị chê là kiểu uống bẩn, uống thô vụng khi trào lưu cái phin “filtre” bắt đầu xuất hiện và đã làm biến dạng cái kiểu uống cà phê trong tiệm hủ tíu. Vào thập niên 60 Nhà hàng Kim Sơn (nằm trên góc Lê Lợi-Nguyễn Trung Trực) mở cú đột phá ngoạn mục bằng cách bày bàn ghế ra hàng hiên dành cho các văn nghệ sĩ trẻ chiều chiều ra đó bàn chuyện.văn chương và. . . rửa con mắt. Hồi đó cà phê Kim Sơn chỉ có một đồng một cốc bằng giá vé xe buýt dành cho học sinh. Mặc dù chủ quán Kim Sơn lúc đó vẫn là người Hoa nhưng đã tiếp thu phong cách cà phê hè phố của dân Paris (Pháp). Theo lý thuyết, những giờ uống cà phê là những giờ thư giản hoàn toàn vừa nhăm nhi từng ngụm nhỏ cà phê đặc sánh vừa ngắm quang cảnh sôi động đông vui của đường phố. Thuở ấy con đường Lê Lợi vẫn còn những hàng me. Vào những ngày me thay lá, dưới ánh nắng chiều phớt nhẹ, lá me vàng khô rơi tản mạn như hoa “com-phét-ti” lấp lánh làm cho đường phố trở nên… “mộng mị” và thơ… Kim Sơn biết tận dụng ưu thế chiếm lĩnh một góc ngã tư, tầm nhìn rộng bao quát để khai thác dịch vụ cà phê hè phố. Cái phin đã trở nên quen thuộc, cao cấp hơn cái vợt cái vớ của cà phê kho trên cái siêu đất “phản cảm” xưa.
Thời điểm này những nhà văn, nhà báo. các nhà doanh nghiệp tên tuổi cũng có những quán cà phê sang trọng xứng tầm với địa vị của họ. Những La Pagode, Brodard, Givral, Continental là nơi gặp gỡ giao lưu cửa giới thượng lưu Sàigòn.

CÀ PHÊ TÂY Cà phê La Pagode khách không ngồi ghế sắt ghê gỗ mà ngồi trên những salon bọc da để phóng tầm mắt nhìn ra con đường Catinat (nay là Đồng khởi) con đường đẹp và sang nhất của Sàigòn. Cách La Pagode độ trăm mét Nhà hàng Continental cùng mở một không gian cà phê sang trọng ,đúng phong cách “Phăng-se”. Đối diện Continental là tiệm cà phê Givral nơi nổi tiếng với những món bánh ngọt tuyệt hảo. Tiệm tràn ngập ánh sáng bởi những khung cửa kính nhìn ra Nhà Hát Lớn (nay là Nhà Hát TP) với một bầu trời khoáng đãng. Những nhà báo, văn nghệ sĩ thường ghé đây uống cà phê trước khi tỏa đi khắp nơi cho công việc riêng của họ. Còn một quán cà phê với một phong cách phương Tây như bàn ghế trang trí nội thất sang trọng cũng nằm trên con đường này là quán cà phê Brodard. Với một phong cách cũng gần giống với La Pagode, không gian Brodard yên tĩnh, ánh sáng thật nhạt để khách có thế thả hồn êm ả bên tách cà phê nóng hổi quyện hương thơm. Có thể nói từ giai đoạn này người Việt Nam ở Sàigòn “thức tĩnh” trước thị trường buôn bán cà phê mà từ lâu họ đã bỏ bê và đã để cho các chú Hoành, chú Koón, chú Xường… tự do khai thác. Khi qua tay người Việt quán cà phê không còn luộm thuộm những cái “đuôi” mì, hủ tíu, hoành thánh, xíu mại, há cảo, bánh bao … nữa mà nó thuần túy chi có cà phê nhưng được chăm chút một cách tỉ mỉ hơn, biết tạo ra một không gian tao nhã hơn, thu hút hơn…
CAFÉTÉRIA CA NHẠC Để gần gũi hơn, thu hút khách hơn và cũng mang tính giải trí hơn, một số nơi đã ổ chức hình thức phòng trà ca nhạc theo dạng Cafétéria. Cafétéria rộng thoáng hơn những “Tháp ngà” La Pagode, Brodard, Givral, Continental… nơi đây không phải chỗ để trầm tư, bàn luận chuyện đời mà hoàn toàn là chỗ vui chơi giải trí. Trên đường Bùi Viện đầu những năm 60 mọc ra một cái quán với tên là Phòng trà Anh Vũ. Tuy là phòng trà nhưng có thiết kế một sân khấu nhỏ vừa cho một ban nhạc bỏ túi đệm đàn cho những ca sĩ tiếng tăm được mời đến trình diễn như Bạch Yến, Mai Hương, Duy Trác, Cao Thái… Lúc đó phòng trà Anh Vũ là điểm hẹn của nhiều người dân Sàigòn cũng như những văn nghệ sĩ sinh sống tại đây. Con đường chật hẹp Bùi Viện bỗng đêm đêm sáng lên rực rỡ ánh đèn Anh Vũ, người xe tấp nập đông vui. Một Cafétéria khác theo cách của Anh Vũ cũng đã mọc lên bên cạnh rạp Ciné Việt Long (trên đường Cao Thắng) với tên Phòng trà Đức Quỳnh.
Ca sĩ kiêm nhạc sĩ tóc dài Đức Quỳnh là chủ nhân của cái Cafétéria này. Đức Quỳnh với cây Piano và giọng ca trầm ấm của ông và những ca sĩ Minh Hiếu – Thanh Thúy, Phương Dung đã thu hút một số đông người yêu nhạc đêm đêm đến đây vừa giải khát vừa giải trí một cách tao nhã. Rồi tiếp theo là Cafétéria Jo Marcel, trên đường Hai Bà Trưng, Đêm Màu Hồng trên đường Tự Do (nay là đường Đồng Khởi) thi nhau mọc lên đầy “Nền văn hóa ẩm thực” cà phê lên một tầm cao hơn, tức vừa uống cà phê vừa được thưởng thức những ca khúc do các ca sĩ, nhạc sĩ có tiếng trình bày. Một Phòng trà ca nhạc khác cũng khó quên chính là phòng trà Bồng Lai nằm trên sân thượng của Nhà hàng Kim Sơn mở cửa hàng đêm từ 9 giờ tối. Ở đây khách thường xuyên được nghe giọng ca vàng đương thời, ấy là ca sĩ Anh Tuyết với bài hát “Ánh đèn màu”. Cũng như ca sĩ Cao Thái nổi tiếng với bài “Mexico” , ca sĩ Ánh Tuyết mỗi lần trình diễn “Ánh đèn màu” là bà hát với những dòng nước mắt. Nội dung ca khúc là nói về tâm trạng của người nghệ sĩ là ca hát để người mua vui để rồi khi ánh đèn màu tắt người nghệ sĩ lại một mình giữa cô đơn…

Có lẽ do cái nội dung u buồn ấy đụng chạm vào nỗi lòng của bà nên bà rất ít khi chịu hát nhạc phẩm ấy. Nhưng hầu như đêm nào cũng có người yêu cầu, trừ những người thân quen bắt buộc phải đáp ứng còn thì Ánh Tuyết xin lỗi từ chối khéo.

LẠI QUAY VỀ CÀ PHÊ VỚ ĐÔNG VUI Những quán cốc che tạm tấm bạt bên lề đường với những chiếc ghế gỗ lùn làm chỗ tụ họp của các thanh niên vui đón những ngày hạnh phúc mới. Vòng quanh Hồ con Rùa, xuống đến Phạm Ngọc Thạch, quẹo qua Nguyễn Đình Chiểu có hàng mấy chục “túp lều” cà phê như thế mọc lên san sát bên nhau. Chỉ có ai ở tuổi thanh niên vào thời điểm lịch sử có một không hai đó mới thấy được cái thú ngồi quán cà phê bụi lụp xụp mà hầu như đường nào cũng có. Có người còn có thuốc Ruby, Con Mèo để phì phà bên ly cà phê vớ nhưng để phiêu bồng hơn một số lớn thanh niên chơi… “bốc – lăn – se” tức thuốc vấn. Anh nào cũng thu sẵn một bọc trong túi xách để sẵn sàng bày ra cho bạn bè tha hồ vừa bốc vừa lăn vừa se vừa liếm vừa dán rồi phì phèo nhả khói. Cà phê quán cóc (nhảy nay chỗ nay mai chỗ khác như cóc nhảy ấy mà) thời ấy được coi như thời huy hoàng lãng mạn nhất của nền… văn hóa ẩm thực cà phê cóc Sàigòn.
Ban ngày đã rộn ràng như thế đến đêm bên những ngọn đèn dầu lù mù loanh quanh những con đường trong thành phố cũng có những quán cóc để dân mê cà phê, mê hòa bình được tận hưởng những giờ phút, sảng khoái, thanh bình, yên ả nhất của đời mình.

SÀIGÒN DĨ VÃNG VÀ SÀIGÒN BOLSA Sàigòn một thuở là Hòn ngọc Viễn Đông, một Paris lấp lánh khắp cõi Châu Á, tới hôm nay, lại mang một cái tên khác lạ, chẳng đẹp đẽ chi, nếu không muốn nói là vô nghĩa. Bởi thế nên người ta vẫn gọi tên cũ chính danh là Sàigòn. Một thành phố mãi mãi vẫn mang tên là Sàigòn. Sàigòn của muôn đời. Sàigòn trong trái tim người đang sống ở thành phố đó hay lưu lạc khắp năm châu thế giới.. Người Sàigòn không nhất thiết phải sinh ra tại đó, có bao nhiêu đời Ông Bà Cha Mẹ từng lập nghiệp lâu năm bền vững. Một người, bất cứ ai, cũng có thể nhận chính mình là dân Sàigòn, dù chỉ ở đây một ngày, một tuần hay một tháng, một năm. Chỉ sống một ngày ở Sàigòn, nhưng yêu Sàigòn mãi mãi, và mang Sàigòn ở trong tim, như một phần của thân xác, linh hồn mình. Chỉ như vậy thôi, người ta có thể ngẩng cao đầu, tự hào vỗ ngực tuyên xưng, tôi chính là dân Sài gòn. Tóm lại, Sàigòn là của tất cả mọi người suốt giải giang sơn, từ Bắc qua Trung tới Nam. Sàigòn như một hiền mẫu, giang vòng tay ôm thương yêu quảng đại tới con người tứ xứ, không phân biệt Bắc, Trung, Nam và ngay cả người ngoại quốc nữa. Một người Pháp sinh ra ở Paris, bỗng dưng một hôm tuyên bố, từ nay tôi không còn là một Parisien, cư dân ở Paris nữa. Tôi là người Sàigòn và sẽ ở lại đây cho tới cuối đời. Thế là dân Sàigòn bèn gọi chàng Tây là anh Hai, hoặc anh Tư gì đó. Tinh thần người Sàigòn là như vậy đó, thiệt là cởi mở và phóng khoáng.
Một nhạc sỹ sáng tác nhạc gửi : “Sàigòn ơi ! Ta hứa rằng ta sẽ trở về” . Rồi chàng cũng đã trở về thật, sau hơn chục năm xa cách. Nhưng chàng khám phá ra mình thực sự mất Sàigòn trong thực tại. Thế nên, nếu có sự trở lại, thì chỉ còn một hành hương về Sàigòn trong quá khứ với ngọc ngà dĩ vãng..
Hãy cùng trở về Sàigòn từ một ký ức xa tắp mù khơi. Sàigòn của những thập niên 1950 từ hơn nửa thế kỷ trước. Sàigòn với các hộp đêm, sòng bài Đại Thế Giới, Chợ Lớn, một Las Vegas thu nhỏ. Tại đây có đủ loại sòng bài và cách chơi khác nhau, lại có chỗ giải trí như xe nhỏ chạy bằng điện húc nhau đùa rỡn, hiện nay Las Vegas vẫn còn trò chơi này. Khu văn nghệ khác như phòng trà vũ trường. Con đường Trần Hưng Đạo Galliéni, Đồng Khánh chạy dài từ Sàigòn tới Chợ Lớn dài vun vút dẫn khách tới sòng bài, lưu thông hàng ngàn chiếc xe hơi nối đuôi nhau, đèn pha sáng chói, chẳng khác gì đại lộ Champs Elyseé tại Paris. Đường Richaud Phan Đình Phùng quả thật văn nghệ với quán cà phê Gió Nam nỗi tiếng vì cô hàng café tuyệt sắc giai nhân. Nàng có nước da trắng xanh liêu trai với mái tóc thề ngây thơ nữ sinh. Nhân vật đã đi vào truyện Duyên Anh, qua bao chàng trai say đắm, tranh đua nàng, từ trí thức đến du đãng yên hùng. Cũng tại đường Phan Đình Phùng với quán phở Con Gà sống thiến cùng hai kiều nữ con chủ quán, nổi danh tài sắc. Yến Vỹ cùng chị, cả hai để mái tóc bồng rối như minh tinh Brigitte Bardot. Bao thực khách đến chẳng phải phở ngon, nhưng vì Yến Vỹ đẹp lại hát hay. Thì ra ngoài quán café, nhà hàng phở giai nhân cũng khiến một chàng Cử Văn Khoa phải vào nhà thương điên vì tình si. Phan Đình Phùng còn thêm café quán Luật Khoa và cơm gà Xing Xing, với những giai nhân lai Pháp, càng làm thêm Sàigòn có một chút Paris.
Sàigòn by night đã là những phòng trà ca nhạc và vũ trường khiến màn đêm Thành Đô trở nên lung linh ảo huyền, như một ngàn lẻ đêm huyền thoại. Nổi bật nhất từ cuối thập niên 50 là phòng trà ca nhạc Anh Vũ. Nơi đây khởi đi cho nhiều danh ca sau này. Thanh Thúy ở tuổi mượt mà thanh xuân đôi tám đã hát từ Anh Vũ, làm mê say bao tao nhân mặc khách. Người ta mê Thanh Thúy vì có lối trình diễn độc đáo bên giọng ca trầm buồn. Thanh Thúy vừa hát vừa đưa tay vuốt làn tóc buông rơi, sau đó gây chú ý là tự vuốt đôi chân ngọc tuổi dậy thì, có lúc nàng lại vưốt cây micro nữa, khiến các chàng trai sởn da gà vì sốt nóng lạnh. Ban CBC thuở Anh Vũ đã là ban nhạc kích động nhỏ nhất thế giới, với tuổi khoảng sáu, bảy mà thôi. Thảm kịch cũng xảy ra cho phòng trà Kim Điệp Sàigòn, khi một chàng Tây lai bị giết. vì dám cặp kè với người đẹp Tuyết Không Quân. Tuyết là một giai nhân nổi tiếng sát phu qua hai đời chồng bị tử nạn trong chiến tranh. Phòng trà Kim Điệp sau vụ ấu đả vì ghen tuông. bị đóng cửa để trở thành Nhà sách. Quán café trà thất đẹp nhất Sàigòn phải kể là Quán Gió, sau thành “Hầm Gió”, thiết trí sâu dưới đất, như một hầm rượu bên Âu châu. Người đẹp ngồi cash, bên một thùng rượu làm thành cái bàn khá ngoạn mục. Ca sỹ Thanh Lan thường có buổi trình diễn tại đây . Chính những phòng trà đêm Sàigòn đã đưa nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn lên đỉnh cao. Nhiều ca khúc phản chiến cấm hát ở Đài phát thanh nhưng tại phòng trà thì vẫn được trình diễn tự do. Vũ trường, phòng trà Sàigòn còn ghi lại một thiên tình sử đẫm lệ, khi nữ ca sỹ Diệu Anh kiều diễm hát hay, đã tự tử vì… bị một nam ca sỹ bỏ rơi. Chàng trai bạc tình sau đó vì buồn và hối hận đã bỏ hát vài năm. Đêm Sàigòn trà thất vũ trường còn ghi đậm cây si thường xuyên Mai Thảo và Hồng Dương, để viết thêm những tình sử lâm ly với hai nữ danh ca khác. Đêm Sàigòn bạc vàng, bạc triệu với Lệ Thu và Khánh Ly, những tiếng hát vàng ròng cả nghĩa trắng lẫn nghĩa đen, vì lương tháng hai nữ danh ca này lên tới một triệu.
Trong khi đó, lương một Đốc sự, Phó Quận trưởng tới năm 1975 chỉ có 33 ngàn đồng một tháng. Vũ trường thơ mộng nhất Sàigòn là Mỹ Phụng ngay tại bến Bạch Đằng. Thuở đó cuối thập niên 50 đầu 60, người ta thích đi Mỹ Phụng vì ban đêm có gió sông Sàigòn mát dịu lại thêm nữ danh ca Lệ Thanh. Nàng chuyên hát những tinh khúc ướt át, trong điệu slow tắt đèn, mờ ảo như “Dang dở ” “Nỗi Lòng”. Tiếng hát mê đắm Lệ Thanh đã thu hồn một Bác Sỹ trở thành phu quân của nàng. Đêm Sàigòn ngọc ngà dĩ vãng khiến người ta khó quên được vì những dạ vũ Bal Famille có khi kéo dài từ đêm suốt sáng. Ai có ngờ cô bé Mai đen 16 tuổi, thường đi với bé Phú, sau này lại trở thành ca sỹ Khánh Ly nổi danh cho tới nay. Phú mệnh danh là Phú chuột, trắng trẻo, mũm mĩm xinh như thỏ con, thường nhảy cùng Mai với đám bạn trai. Mai nhảy có khi bỏ cả giày cao gót giữa đêm vui đã gần rạng sáng. Thuở ấy, người đi dạ vũ phải trầm trồ khen ngợi tài nhảy của Tony Khánh, thường nhảy cặp với vợ. Mỗi lần Khánh cùng phu nhân ra sàn nhảy, mọi người đều ngừng khiêu vũ để thưởng thức tài nghệ bậc sư biểu diễn. Sau đó là pháo tay nổ ròn như ngày Tết. Hòn ngọc Viễn Đông Sàigòn từ thập niên 50 nay đã trên nửa thế kỷ, Sàigòn đổi tên và Sàigòn ngọc nát châu chìm. Những cột đèn tuy không biết đi, nhưng đã chắp cánh bay xa, thành bao nhiêu Little Sàigòn rải rác khắp hải ngoại.
HuTiuSGxua
Và dân Sàigòn năm xưa, những chàng trai hào hoa phong nhã, bao giai nhân ca sỹ lừng danh, nay đã thất thập cổ lai hy, hay gần mấp mé tuổi hạc. Thế nhưng trái tim chằng bao giờ già. Bởi vậy nói như Thi sỹ Thanh Tâm Tuyền ta gọi tên ta, Sàigòn cho đỡ nhớ. Hỡi những Đêm Mầu Hồng, Queen Bee, Arc En Ciel, Mỹ Phụng, Tự Do… Những đêm vui thắp sáng kỷ niệm, những ngày xuân mãi mãi xanh tươi, để làm thành một Thủ Đô Sàigòn bất tử, ta yêu lắm và yêu mãi mãi. Sàigòn trong lời nhạc của Ngô Thụy Miên, thì dù Em của ta có đi khắp thế giới Paris, Vienne, cũng chẳng thể tìm đâu đẹp hơn Sàigòn của ta ngày hôm qua dĩ vãng cũng như Sàigòn mai sau, khi hết Cộng sản. Bây giờ tuy chưa có Sàigòn mai sau, nhưng ta tạm có Little Sài gon Bolsa tại Nam Cali, Thủ đô tỵ nạn của người Việt hải ngoại – chỉ tại Little Sàigòn mới giống Sàigòn năm xưa được. Sàigòn Bolsa mùa xuân pháo nổ tưng bừng qua phố phường Westminster, Bolsa, Brookhurst, Euclid… trong khi ấy nay Sàigòn ở Việt Nam làm sao có pháo ?
Thế nên người có tiền ở Sàigòn bây giờ, Tết đến lại thích đi du lịch sang Mỹ để đón xuân thực sự như Sàigòn thuở xưa, và tìm lại Sàigòn đích thực. Sàigòn đã ra đi và Sàigòn tung cánh chim viễn xứ, quy tụ quây quần tại Mỹ, Canada, Úc, Pháp. Đức v v . Ba triệu người Việt lưu vong là ba triệu trái tim nồng nàn vẫn yêu thương Việt Nam và thắp sáng mãi Sàigòn Hòn Ngọc Viễn Đông nay thắp sáng ở xứ người. Sàigòn đã ra đi và tương lai sẽ có lúc, Sàigòn trở lại, như một Châu Về Hiệp phố. Sàigòn khi ấy sẽ rực sáng tin yêu của Tự Do, Dân Chủ và Phú Cường.

Tâm Triều
Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
thanks 1 user thanked Thy Lan Thao for this useful post.
đông hương on 11/27/2013(UTC)
Thy Lan Thao  
#65 Posted : Sunday, May 4, 2014 8:37:36 AM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,897
Location: usa

Thanks: 1699 times
Was thanked: 2834 time(s) in 1909 post(s)


Đừng coi thường luật nhân quả


Chuyện nhân - quả là có thật. Thực tế cuộc sống đã rất nhiều lần chứng minh điều này.
Trong ngành y tế, dù ở bệnh viện nào, các bác sĩ sản khoa cũng có một nguyên tắc bất di bất dịch, không bao giờ “kế hoạch hóa gia đình” (nạo, phá thai) cho các bệnh nhân vào ngày mồng Một âm lịch hoặc Rằm, trừ khi đến phiên trực tại bệnh viện. Bởi theo họ, đây là một công việc mà duy tâm cho là tạo nghiệp chướng dẫn đến hậu quả khôn lường. Nói cách khác là chuyện tâm linh theo thuyết nhân - quả. Cho nên càng tránh được bao nhiêu càng tốt cho họ bấy nhiêu, nhất là vào những ngày “thiêng” như vậy. Vậy, chuyện nhân - quả có thật hay không?
Trả nghiệp sát sinh
Sư thầy Giác Liên, trụ trì chùa Phước Hải, Vĩnh Long từng kể chuyện nhân - quả được chứng kiến trong nghiệp tu hành của mình. Những câu chuyện ấy đến nay đối với người dân Vĩnh Long vẫn “nằm lòng” như những bài học đạo lý để “định hướng” cách sống, sao cho không theo vết xe đổ của những nhân vật trong câu chuyện của sư thầy. Một trong những câu chuyện đó phải nhắc đến là cậu bé tên Hiếu, sống lê lết ở chợ Trà Vinh, sống bằng cách xin ăn với thân hình của một… con bò, được sư thầy Giác Liên kể trên một website của Phật giáo.
Theo sư thầy Giác Liên, Hiếu sinh ra trong một gia đình có nghề: mổ bò lâu đời để bán thịt ở Trà Vinh. Ông nội của Hiếu làm giàu bằng nghề này nên rủng rỉnh tiền bạc. Một lần, trước khi làm thịt một con bò cái bỗng dưng ông nằm mơ thấy một người đàn bà đến bên ông khóc lóc: “Xin ông đừng giết tôi, để tôi sinh con rồi ông hãy giết”. Và không những mơ thấy một lần mà ông còn mơ tới 3 lần chỉ trong một đêm. Ông mang chuyện này kể cho vợ thì được khuyên can không nên làm thịt con bò mà hãy nuôi để cho nó đẻ. Nhưng suy đi tính lại, cuối cùng ông vẫn quyết định thịt nó để bán. Mới sáng tinh mơ không hiểu sao so với những lần mổ bò khác, nó kêu la khủng khiếp hơn nhiều, rồi giãy giụa, lồng lộn đến nỗi đứt cả sợi dây trói khi mổ. Khi chết rồi cái ấn tượng mà ông nội Hiếu mãi đến sau này không thể quên được là cái đầu nó lắc lư mãi như thể còn sống.
Tuy nhiên, điều trùng hợp là đúng lúc giết con bò chửa đó, con dâu ông trở dạ sinh đứa cháu nội, đồng thời là “đích tôn” của ông với những dị tật rất giống… con bò ấy là mắt lồi, sứt môi, đầu cứ lắc lư, chân tay cong queo đến nỗi không đi lại được, phải bò. Đứa trẻ ấy chính là Hiếu. Nhìn hình ảnh của Hiếu, ông nội Hiếu không thể nào không liên tưởng đến cái chết của con bò, nhất là động tác lắc lư cái đầu. Như hiểu nguồn cơn sâu xa vì sao cháu mình lại bị như vậy và muốn “chuộc” lại lỗi lầm, ông bỏ nghề sát sinh và có bao nhiêu tiền của ông dốc hết ra để chữa chạy cho cháu. Nhưng cậu bé vẫn vậy. Khổ hơn, khi được 10 tuổi, Hiếu đã phải lê la ra chợ xin ăn do người thân của em lần lượt ra đi hết vì trọng bệnh. Mỗi lần xin ăn, chẳng hiểu ai xui khiến, vừa lết Hiếu vừa la khóc thảm thiết: “Xin các bác, các dì đừng “sát sanh” con! Con là con bò nè…”.
Không chỉ sư thầy Giác Liên mà ngay người viết bài này cũng chứng kiến một gia đình có hai thế hệ bán thịt bò ở chợ Ngọc Hà, quận Ba Đình, Hà Nội gặp chuyện tương tự. Chẳng hiểu gia đình này có mổ bò hay không nhưng chỉ biết trong thập niên 90 của thế kỷ trước, trên sạp bán thịt lúc nào cũng có bê “bao tử” bày bán. Tuy nhiên, đặc biệt ở chỗ con gái họ rất giống… bò, nhất là mắt và mũi đến nỗi ai đi qua cũng phải dừng lại nhìn và lờ mờ nhận ra đây chính là “nghiệp chướng” của gia đình bán bê “bao tử”. Và dường như nhận ra sự quả báo này, gia đình hàng thịt đó đã chuyển nghề không bán thịt bò, bê “bao tử” nữa mà mở hàng cơm ở phố Nguyễn Bỉnh Khiêm, một hàng cơm nức tiếng Hà Nội. Tất nhiên cô con gái ấy cùng bán cơm với cha mẹ cho đến tận bây giờ.
Oán báo oán?
Như câu chuyện trên đây, có rất nhiều câu chuyện nhân - quả khác được kể trong cuộc sống với muôn hình vạn trạng từ nhân vật đến hoàn cảnh… trên cơ sở những gì người ta nhìn, nghe thấy được. Ngay như gần đây nhất, câu chuyện của người tù oan sai Nguyễn Thanh Chấn, ở Bắc Giang cũng gây “chấn động” dư luận bởi có ý kiến cho rằng, có “luật” nhân - quả trong vụ án oan này.
Ông Chấn kể, ngày mới bị tạm giam để phục vụ công tác điều tra, ông nhiều lần bị điều tra viên ép phải nhận đã ra tay sát hại chị Nguyễn Thị Hoan. Nếu không nhận sẽ bị đánh cho “lên bờ xuống ruộng”. Vì không thể chịu đựng nổi, ông Chấn đã buộc phải khai nhận mình chính là người đã ra tay sát hại chị Hoan vào ngày 15-8-2003. Khi đó, một cán bộ điều tra đã hướng dẫn ông viết một lá đơn tự thú khai nhận là hung thủ giết người.
Ông Chấn nhớ lại: “Một điều tra viên khác đã đánh và bắt tôi tập đi tập lại các động tác để thực nghiệm tại hiện trường vụ án mạng. Mỗi lần thực hiện sai các động tác, tôi lại bị họ lao vào đánh đập”. Có một điểm đáng lưu ý ở đây: Sau khi vụ án có hiệu lực, ông Chấn bị đưa đi cải tạo tại Trạm giam Vĩnh Quang (Vĩnh Phúc) thì chỉ một thời gian ngắn sau đó, đã có 2 điều tra viên chết do tai nạn giao thông và trọng bệnh. Chưa kể đến Thẩm phán Nguyễn Minh N, chủ tọa phiên tòa xét xử sơ thẩm cũng bị tai nạn giao thông vào năm 2010 dẫn đến phải điều trị lâu dài.
Cùng thời điểm này, sau khi sát hại chị Hoan, thủ phạm giết chị Hoan bỏ lên Lạng Sơn gặp một người thân là chị Lý Thị N và cho biết hắn chính là hung thủ gây ra vụ án mạng tại Bắc Giang. Khi ấy, Chung đưa hai chiếc nhẫn kim loại màu vàng nhờ chị N mang bán hộ nhưng biết đây là tài sản của vụ “giết người, cướp tài sản” nên chị N đã từ chối.
Sau đó, Chung đã nhờ anh trai của mình đang sinh sống tại Lạng Sơn mang nhẫn đi bán. Không biết có phải nhân quả không mà cuối năm 2005 (2 năm sau khi vụ án xảy ra), anh trai của Chung đã bị một số đối tượng ở Lạng Sơn đâm chết trong một vụ xô xát nhỏ.
Mang tính giáo dục sâu sắc
Trước những hiện tượng trên đây, GS Ngô Đức Thịnh, một chuyên gia nghiên cứu tâm linh cho rằng, thật khó để giải thích trên cơ sở khoa học thực tiễn. Bởi từ trước tới nay, duy tâm - duy vật là hai phạm trù vẫn chưa tìm được tiếng nói chung do một phạm trù thì phải nghe, nhìn, sờ thấy được. Còn phạm trù kia thì trừu tượng, bí ẩn. Thế nhưng, với tư cách là một người nghiên cứu tâm linh, GS Ngô Đức Thịnh khẳng định, những gì chưa chứng minh được thì không có nghĩa không tồn tại, đặc biệt với hàng loạt hiện tượng “gieo gì gặt nấy”, “nhân nào quả ấy” như các chuyện trên cùng với thực tiễn xảy ra rất nhiều trong đời sống. Cho nên chuyện nhân - quả là có thật. Và theo ông, nhân - quả là một quy luật rất hay của đời sống và nhà Phật lấy đó là mục đích thượng tôn để giáo dục con người về đạo đức, nhân cách và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc khi khuyến khích con người làm nhiều việc thiện để kết quả của quá trình ấy là nhận lại cho mình từ những gì mình làm.
Quy luật nhân - quả theo GS Thịnh, không do quyền lực siêu nhiên nào có thể tác động, thao túng mà chính do con người quyết định. Cũng như số phận, cuộc đời của mỗi người phụ thuộc vào hành vi, tâm tính của chính họ. Không có chuyện mê tín dị đoan ở đây vì ngay cả trên quan điểm khoa học thì rõ ràng những gì bạn nhận hôm nay là quá trình sống của ngày hôm qua. Bởi vậy hãy sống theo chân lý “gieo gì gặt nấy”.
Theo NĂNG LƯỢNG MỚI
Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Thy Lan Thao  
#66 Posted : Sunday, June 1, 2014 4:52:22 AM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,897
Location: usa

Thanks: 1699 times
Was thanked: 2834 time(s) in 1909 post(s)





CHIẾC LÁ SẠCH

Hiểu Kỳ

Có một thanh niên từ ngàn dặm xa xôi tìm đến đại sư Thích Tế chùa Nhiên Đăng, thưa rằng :

- Con là một thư sinh luôn biết Tam cương-Ngũ thường.. từ xưa đến nay không bao giờ biết nói những lời vu khống bịa đặt, không gây ra chuyện thị phi, nhưng không hiểu vì sao luôn có người dùng lời ác độc chửi bới con, dùng lời bịa đặt dơ bẩn hủy nhục con. Đến hôm nay, con thật sự không chịu nổi nữa, nên con muốn vào chùa cạo tóc làm tăng để xa lánh chốn bụi hồng, xin Đại sư hãy thâu nhận đệ tử !

Đại sư Thích Tế yên lặng nghe chàng trai nói xong, bèn mỉm cười bảo rằng :
- Thí chủ hà tất vội vã, đợi bần đạo vào trong sân nhặt một chiếc lá sạch, thí chủ sẽ có thể biết được tương lai của mình và mình nên sẽ làm gì.

Đại sư dẫn chàng trai đến bên một con suối nhỏ chảy ngang qua chùa, tiện tay hái một lá trên cây xuống và bảo với một chú tiểu đi lấy dùm cho mình một cái thùng và một cái gáo múc nước.

Chú tiểu vội vàng mang thùng gỗ và chiếc gáo hồ lô đến trao cho Đại sư.

Thích Tế kẹp lấy chiếc lá sạch trong tay và bảo chàng trai :
- Thí chủ không gây ra chuyện thị phi, xa rời bụi trần, cũng giống như chiếc lá sạch trong tay bần đạo vậy.

Vừa nói, Thích Tế vừa đặt chiếc lá vào trong thùng, xong chỉ vào thùng nói :
- Nhưng hôm nay thí chủ không may gặp phải những lời chửi bới, hủy nhục vây hãm vào trong giếng sâu khổ đau trần thế, có phải giống như chiếc lá sạch bị bỏ vào trong tận đáy thùng này hay không ?

Chàng trai thở dài gật đầu thưa :
- Thưa vâng, con chính là chiếc lá dưới đáy thùng.

Đại sư Thích Tế đặt thùng nước lên trên một tảng đá bên cạnh bờ suối, khom người múc một gáo nước dưới suối lên, nói :
- Đây là một câu chửi bới dành cho thí chủ, với ý đồ muốn nhấn chìm thí chủ.

Vừa nói, vừa dội gáo nước lên trên chiếc lá trong thùng, chiếc lá chao động mạnh, sau đó lặng lẽ nổi lại lên mặt nước.

Đại sư khom lưng múc thêm một gáo nước kế tiếp, bảo rằng :
- Đây là câu chửi bới độc ác của loại người thô lỗ thấp hèn dành cho thí chủ, vẫn với một mưu đồ là muốn nhấn chìm thí chủ như trước, vậy thí chủ hãy nhìn xem lần này chiếc lá sẽ như thế nào ?
Theo cách đã làm, Đại sư dội gáo nước lên chiếc lá, nhưng chiếc lá chỉ lắc lư và lại nổi lên trên mặt nước như cũ.

Chàng trai hết nhìn nước trong thùng, rồi lại nhìn chiếc lá nổi bềnh bồng, thưa với Đại sư :
- Chiếc lá không hề bị tổn hại, chỉ là nước trong thùng sâu, chiếc lá theo mực nước mà cách miệng thùng càng lúc càng gần..

Đại sư Thích Tế nghe xong, mỉm cười gật đầu, lại múc thêm một gáo dội lên chiếc lá, bảo chàng trai rằng :
- Lời nói bịa đặt hay xỉ mạ thấp hèn..không có cách nào đánh chìm được một chiếc lá sạch. Chiếc lá sạch bị chao động bởi những lời nói vu khống, hủy báng dội lên thân nó, nhưng nó không những không bị chìm xuống dưới đáy, ngược lại tùy theo mức gia tăng của nước ( những lời nói vô bổ, tùy tiện và thô lỗ ), khiến nó càng nổi lên cao, từng bước từng bước xa rời đáy thẳm.

Đại sư vừa nói, vừa tiếp tục đổ nước vào thùng, thoáng chốc nước tràn đầy, chiếc lá rốt cuộc đã nổi lên trên mặt thùng.

Chiếc lá rực rỡ, giống như một chiếc thuyền lá nhỏ, nhẹ nhàng nhấp nhô, lắc lư theo dòng nước.

Đại sư Thích Tế ngắm nhìn chiếc lá cảm thán rằng :
- Nếu lại có thêm những lời vu khống thô lậu, hủy báng thấp hèn, thì càng tuyệt.

Chàng thanh niên nghe xong, không hiểu thâm ý, bèn thưa với Đại sư rằng :
- Vì sao Ngài lại nói như thế ?

Thích Tế cười, múc thêm hai gáo nước, dội lên chiếc lá trong thùng, nước trong thùng tràn ra bốn phía, lôi theo chiếc lá xuống tới dòng suối, chiếc lá nhập dòng ung dung trôi đi.

Đại sư bảo chàng trai :
- Những lời bịa đặt, vu khống, xỉ mạ thấp hèn bỉ ổi ..rốt cuộc sẽ giúp cho chiếc lá vượt thoát được vòng kiềm tỏa, hướng đến sông dài, biển lớn và những phương trời cao rộng thênh thang.

Chàng thanh niên hốt nhiên tỏ ngộ, vui mừng khấu tạ Thích Tế :
- Thưa Đại sư, con đã hiểu rõ rồi, một chiếc lá sạch sẽ không bao giờ bị nhấn chìm xuống đáy nước. Những lời nói vu khống bịa đặt, hủy báng sỉ nhục chỉ có thể giúp gội rửa một tâm hồn vốn đã trong sạch, lại càng trong sạch thêm mà thôi.

Đại sư Thích Tế mỉm cười hoan hỷ.
Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
HongLan  
#67 Posted : Wednesday, June 11, 2014 8:23:51 AM(UTC)
HongLan

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/23/2011(UTC)
Posts: 697
Switzerland
Location: Lucerne

Thanks: 602 times
Was thanked: 622 time(s) in 428 post(s)

Câu Chuyện Chiếc Đồng Hồ



UserPostedImage


Cách đây hơn hai chục năm, hồi tôi học phổ thông cấp III, đồng hồ đeo tay còn là thứ xa xỉ phẩm khan hiếm.

Một hôm, thằng bạn cùng bàn sắm được một chiếc đồng hồ mới toanh, nó đeo đồng hồ rồi xắn tay áo lên trông thật oách làm sao, khiến cả lớp phục lăn.
Chỉ vài hôm sau đã thấy mấy thằng khác cùng lớp đua nhau sắm đồng hồ đeo tay. Ngay cả trong giấc mơ tôi cũng ao ước được như chúng nó ... sắm một
chiếc đồng hồ để mọi người trông thấy mà thèm...

Hôm chủ nhật, tôi về nhà chơi. Lấy hết lòng can đảm, tôi nói với mẹ:
“Mẹ ơi, con muốn mua một cái đồng hồ đeo tay, mẹ ạ !”

Mẹ tôi trả lời:

“Con này, nhà mình đến cháo cũng sắp sửa chẳng có mà ăn nữa, lấy đâu ra tiền để sắm đồng hồ cho con ?”

Nghe mẹ nói thế, tôi rất thất vọng, vội quáng quàng húp hai bát cháo rồi chuẩn bị về trường. Bỗng dưng bố tôi hỏi:

“Con cần đồng hồ làm gì thế hả ?”

Câu hỏi của bố nhen lên một tia hy vọng trong lòng tôi. Rất nhanh chóng, tôi bịa ra một câu chuyện:

“Hồi này lớp con đang học ngày học đêm để chuẩn bị thi đại học, vì là lớp cuối nên bây giờ chúng con lên lớp không theo thời khoá biểu của trường nữa,
cho nên ai cũng phải có đồng hồ để biết giờ lên lớp.”

Nói xong, tôi nôn nóng chờ bố trả lời đồng ý, thế nhưng bố tôi chỉ ngồi xổm ngoài cửa chẳng nói câu nào.

Trở về ký túc xá nhà trường, tôi chẳng còn dám nằm mơ đến chuyện sắm đồng hồ nữa. Thế nhưng chỉ mấy hôm sau, bất chợt mẹ tôi đến trường, rút từ túi áo ra
một túi vải hoa con tý, rồi mở túi lấy ra một chiếc đồng hồ mác Omega mới toanh sáng loáng. Tôi đón lấy nó, đeo ngay vào cổ tay, trong lòng trào lên
một cảm giác lâng lâng như bay lên trời. Rồi tôi xắn tay áo lên, với ý định để mọi người trông thấy chiếc đồng hồ của mình.
Thấy thế, mẹ tôi liền kéo tay áo tôi xuống rồi bảo:

“Con này, đồng hồ là thứ quý giá, phải lấy tay áo che đi, để giữ cho nó khỏi bị sây xước chứ! Con nhớ là tuyệt đối không được làm hỏng,
lại càng không được đánh mất nó đấy ! Thôi, mẹ về đây.“

Tôi tiễn mẹ ra cổng trường rồi hỏi:

“Sao nhà mình bỗng dưng lại có tiền thế hở mẹ ?”

Mẹ tôi trả lời:

“Bố mày bán máu lấy tiền đấy!”

Bố đi bán máu để kiếm tiền mua đồng hồ cho tôi? Trời ơi ! Đầu óc tôi quay cuồng, ngực đau nhói...

Tiễn mẹ về xong, tôi tháo chiếc đồng hồ ra, bọc kỹ mấy lớp vải như cũ cất vào cái túi con tý mẹ đưa. Ngay hôm ấy, tôi hỏi thăm các bạn xem có ai
cần mua đồng hồ mới không. Các bạn hỏi tôi tại sao có đồng hồ mà lại không đeo, tôi bảo tôi không thích. Họ chẳng tin, cho rằng chắc hẳn đồng hồ của tôi
có trục trặc gì đấy, vì thế chẳng ai muốn mua nó. Cuối cùng tôi đành phải nhờ thầy chủ nhiệm lớp, giúp tôi tìm người mua đồng hồ, và thành thật kể lại
đầu đuôi câu chuyện cho thầy nghe, vừa kể vừa nước mắt lưng tròng. Thầy chủ nhiệm nghe xong bèn vỗ vai tôi và nói:

“Đừng buồn, em ạ. May quá, thầy đang cần mua một chiếc đồng hồ đây, em để lại nó cho thầy nhé !”

Thầy trả tôi nguyên giá, còn tôi thì dùng số tiền đó nộp hai tháng tiền ăn ở nhà ăn tập thể. Có điều khó hiểu là sau đó, chưa bao giờ tôi thấy
thầy chủ nhiệm đeo đồng hồ cả. Mỗi lần tôi hỏi tại sao thì thầy chỉ cười không nói gì...

Về sau tôi thi đỗ đại học rồi ra trường và làm việc ở một tỉnh lỵ xa quê...

Câu chuyện chiếc đồng hồ kia, cứ mãi mãi đeo bám ám ảnh tôi...

Trong một dịp về quê thăm gia đình, tôi tìm đến nhà thầy chủ nhiệm cũ và hỏi chuyện về chiếc đồng hồ ấy. Thầy tôi bây giờ đã già, tóc bạc hết cả.
Thầy bảo:

“Chiếc đồng hồ vẫn còn đây.“

Nói rồi thầy mở tủ lấy ra chiếc túi vải hoa nhỏ xíu, năm nào mẹ tôi đưa cho tôi. Thầy mở túi, giở từng lớp vải bọc, cuối cùng chiếc đồng hồ hiện ra,
còn mới nguyên! Tôi kinh ngạc hỏi:

“Thưa thầy, tại sao thầy không đeo nó thế ạ?”

Thầy chủ nhiệm từ tốn trả lời:

“Thầy đợi em đến chuộc lại nó đấy !”

Tôi hỏi tiếp:

“Thưa thầy, vì sao thầy biết em sẽ trở lại xin chuộc chiếc đồng hồ ạ ?”

Thầy bảo:

"Bởi vì chuyện không đơn giản về 1 chiếc đồng hồ, mà điều quan trọng hơn là về "lương tâm của một con người".”


(st)
thanks 1 user thanked HongLan for this useful post.
Thy Lan Thao on 7/30/2014(UTC)
HongLan  
#68 Posted : Sunday, June 22, 2014 3:16:56 PM(UTC)
HongLan

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/23/2011(UTC)
Posts: 697
Switzerland
Location: Lucerne

Thanks: 602 times
Was thanked: 622 time(s) in 428 post(s)


Lên Rừng Thăm Bạn


UserPostedImage


Từ trên đồi cao nhìn xuống, giữa đại ngàn mênh mông xanh ngắt, đám rẫy của anh Khan nhỏ như một chiếc chiếu, màu nhạt lá non. Tôi lặn lội tìm đến giang sơn biệt lập của anh khi mùa bắp đang rộ trái. Lọt thỏm giữa đám rẫy là lều tranh. Giữa lều, treo một chiếc võng làm bằng bao bố. Những ngày ở đây, tôi ngủ trên chiếc võng này. Cái sạp tre để sát vách, chỗ ngủ hàng đêm của anh Khan.Đối diện vách bên kia, anh kê những viên đá làm ba ông táo nấu ăn. Mọi thứ trong lều đều đơn giản. Phía ngoài, gần bên hông lều, một cái hố đang đào dở. Hố rộng bằng căn phòng nhỏ. Theo lời anh, còn phải đào sâu hơn nữa, khoảng hai thước. Lúc mới đến, tôi hỏi: “Đào hố để làm gì?“

Anh nói: “Bắt khỉ.”
Tôi ngạc nhiên: “Bắt khỉ?”

“Ừ , bắt khỉ.”

“Để ăn thịt?”

“Khỉ ốm, chỉ có da bọc xương. Thịt khỉ lại tanh, không ai ăn.”

“Không ăn thì bắt để làm gì?”

“Để đuổi khỉ.”

“Bắt khỉ để đuổi khỉ? Tôi không hiểu.”

“Cứ ở đây vài hôm thì hiểu.”

Anh Khan không giải thích. Có lẽ anh muốn dành cho tôi một lý thú bất ngờ.

Buổi sáng sớm, trời còn mát, và buổi chiều, khi mặt trời xuống lấp lửng trên đọt cây rừng, nắng cũng dịu bớt, tôi phụ anh Khan trong công việc đào hố. Anh xúc đất vào cái ki đan bằng nan tre. Tôi kéo đất lên, đổ chung quanh hố. Anh gầy nhưng sức dẽo và bền, tôi không bì kịp. Làm việc với anh, tôi đuối, phải nghỉ từng chặp. Những lúc tôi nghỉ, anh một mình xúc từng xẻng đất quăng lên. Anh làm đều đặn, khoan thai như đang tập thể dục dưỡng sinh. Đối với anh, không có gì phải vội vàng. Anh quan niệm rằng con người lầm lẫn khi chạy đua với thời gian. Đời sống ngắn ngủi mà một lúc muốn chụp bắt nhiều thứ. Và sau cùng, cái thứ mà họ không muốn chụp bắt đến với họ. Đó là sự tử vong. Khi nằm ngắc ngoải, họ nghĩ lại và thấy rằng họ chưa kịp sống cho đúng nghĩa một người đã sống. Nghe anh bày tỏ cái quan niệm sống này, tôi rất chán, nhưng vẫn hỏi sống thế nào cho đúng nghĩa một người đang sống? Anh nói, không tham cầu, không chờ đợi, tận hưởng sự hiện hữu trong từng giây phút. Tôi hỏi tận hưởng luôn cả nghịch cảnh, và nỗi niềm đau khổ? Anh nói nghịch cảnh hay đau khổ là do tâm cảm. Tại sao không coi đó là sự thay đổi món ăn của tinh thần? Đã từng ăn những món dở, mới biết thế nào là món ngon. Tôi cười, rằng tư tưởng anh được chắp nối một phần triết Đông, một phần triết Tây. Anh nói, anh chẳng cần biết Đông hay Tây. Anh sống theo kiểu của anh. Và anh cũng nói, tôi đã đến đây rồi, nên bỏ quên sách vở, để cho cái đầu được nghỉ ngơi thư thái.

Buổi trưa, lúc trời bắt đầu nắng gắt, tạm ngừng công việc đào hố. Tôi theo anh Khan đi kiểm soát chung quanh rẫy. Có những chỗ bị chồn, sóc cắn phá làm bắp hư hại. Và, vài nơi trên những luống khoai lang bị heo rừng ủi. Anh lần theo những dấu chân, để biết lối nào heo thường vào rẫy. Phải trừ khử những con heo phá hoại này. Anh Khan nói thế.

Tôi thấy chung quanh rẫy có treo những cái thùng thiếc, buộc lòng thòng thêm vài viên đá, và nối sợi dây dài đến lều.

Tôi hỏi: “Để làm gì?”

Anh nói: “Chuyện đơn giản thế này cũng không biết. Mãi chạy theo máy móc tinh xảo, lo tìm hiểu những chuyện xa vời tận mặt trăng mặt trời, đến lúc quay trở lại với đời sống thiết thực cận kề thì loay hoay, bối rối.”

“Anh chưa trả lời câu hỏi của tôi.”

“Mùa bắp ra trái, thú rừng thường hay đến kiếm ăn. Nhất là khỉ, heo rừng, chồn, sóc phá hại mùa màng. Thú rừng rất sợ tiếng động. Lâu lâu, giựt sợi dây làm thùng thiếc khua động để thú rừng bỏ chạy.”

“Tôi coi trong sách vở, nói người ta làm những hình nộm, trông giống như người đang giữ vườn, để đánh lừa thú vật không dám đến gần.”

“Chẳng có sách vở nào nói hình nộm để đuổi thú. Hình nộm chỉ có tác dụng đuổi chim mà thôi. Trên những cánh đồng, mùa lúa chín, người ta làm hình nộm ở nơi trống trải, dễ nhìn thấy, để chim muông không dám đáp xuống ăn lúa. Còn đây là rẫy bắp giữa rừng, nhiều cây cối rậm rạp che khuất, làm hình nộm không có tác dụng với thú rừng.”

Tôi đến với anh Khan được ba ngày. Lòng đã chán. Anh ít nói đến độ lầm lì. Sau những bữa cơm chiều, anh thường ngồi bập thuốc rê, trầm tư. Lưng anh hơi còng xuống. Trông giống một hình tượng cô đơn, im lặng ngồi chịu đựng với thời gian. Tôi nói với anh như thế. Anh chỉ mỉm cười, xa vắng. Tôi cố gợi chuyện, bằng cách hỏi tại sao anh tách rời vợ con, lên rừng một mình như người ở ẩn? Tại sao khi ra khỏi tù, anh vụt đổi thái độ và lối sống? Anh ngó mông ra rừng, nói chậm rãi, thỉnh thoảng dừng lại một lúc lâu để bập vài hơi thuốc. Mỗi lần nhìn lại chặng đường đã đi qua, thật kinh khủng. Chiến tranh như con quái vật khổng lồ, theo nó thì bị nó ăn nuốt, cưỡng lại thì bị nó chà đạp. Đàng nào cũng chết, chỉ có điều chết trước hay sau mà thôi. Anh may mắn chưa kịp chết thì chiến tranh chấm dứt, bước sang giai đoạn khác. Trong tình thế mới, anh bị đẫy vô tù. Ở tù đã khốn nạn, nhưng ở tù dưới chế độ được mệnh danh là ưu việt, lại càng khốn nạn hơn. Những con người của chế độ ưu việt này, đã phát triển đến cao độ cái tính nham hiểm và gian trá. Họ biến tù nhân thành những con ma đói, và hạ xuống ngang hàng với súc vật. Điếu thuốc đã tàn, anh Khan ngừng lại vấn thêm điếu khác. Lúc nào cũng có điếu thuốc đang cháy khi anh nói, và anh cứ bập hoài, như để trấn an một nỗi niềm, hay để suy nghĩ, gạn lọc từng câu. Ngày anh được thả ra khỏi nhà tù, có người bạn cùng chung cảnh ngộ, kể cho anh nghe hai câu chuyện ngụ ngôn, gọi là chút quà tiễn bạn, làm vốn sống khi ra khỏi địa ngục.

Truyện một: Có một thương gia giàu có, hay đi buôn bán nhiều nơi, gom góp những vật quý trong thiên hạ về làm của riêng. Trong số những vật quý này, có con sáo biết nói tiếng người. Một hôm, người thương gia nói với con sáo rằng: “Sáo ơi, ta có việc sắp đi ngang qua quê hương thuở trước của mày. Vậy, mày có gì nhắn cho bạn cũ ở đó, ta chuyển lời chọ” Con sáo nói: “Ông chủ làm ơn cho tôi gởi lời thăm các bạn, và hỏi chúng có nhắn gì cho tôi hay không.”

Khi đến quê hương của con sáo, người thương gia ngước nhìn lên vòm cây, nơi có đàn sáo đang đậu, ông nói: “Đàn sáo ơi, con sáo quý của nhà ta, gởi lời thăm chúng bây. Và hỏi chúng bây có nhắn lại lời gì cho nó hay không?” Đàn sáo im lặng. Người thương gia đứng chờ một lúc. Và lạ thay, từ trên cây, đàn sáo rớt xuống chết hàng loạt.

Người thương gia trở về, con sáo của ông hỏi: “Ông chủ ơi, các bạn tôi thế nào?” Người thương gia nói: “Ta đã chuyển lời thăm của mày, hỏi chúng có nhắn gì cho mày không, chúng chỉ im lặng. Và sau đó rớt xuống chết như bị lời trù rủa ghê gớm.”

Ngày hôm sau, Người thương gia thấy con sáo quý của mình: nằm chết trong chuồng. Ông xách con sáo vất ra ngoài như một thứ đồ bỏ. Bỗng, con sáo vỗ cánh bay đi mất, trước sự ngạc nhiên của người thương gia.

Dứt chuyện thứ nhất, anh Khan nhìn tôi chờ đợi một sự góp ý. Tôi hỏi ý nghĩa chỗ nào? Anh giải thích, con sáo bị nhốt trong lồng vì nó có giá trị. Giả chết là một cách đánh lừa người thương gia, rằng nó không còn giá trị nữa. Nhờ thế mà nó thoát được sự giam cầm. Trong chế độ ưu việt này, người nào tỏ ra có giá trị, sẽ bị theo dõi dòm ngó. Nếu không dùng được, họ tiêu diệt, chứ không cho sống. Tốt nhất là giả ngây khờ, chẳng ai thèm để ý, sẽ được yên thân. Tôi mừng vì anh Khan đã bắt đầu tỏ thái độ cởi mở, ít ra anh cũng không còn giữ thế thủ với tôi. Còn chuyện thứ hai, tôi hỏi.

Truyện hai: Trong một buổi lâm triều, sứ giả của một nước láng giềng, dâng tặng nhà vua ba bức tượng hình người, và xin cho biết bức tượng nào giá trị nhất. Nhà vua và cả đám quần thần cầm lên, săm soi hoài, thấy ba bức tượng đều giống nhau, trọng lượng cũng bằng nhau, khó mà phân định bức tượng nào giá trị nhất. Cuối cùng, vua cho truyền rao trong dân chúng, tìm người thông minh giúp vua giải quyết vấn đề ba bức tượng.

Khi nghe chuyện này, có một nông dân cầm theo ba cọng rơm, lên đường đến kinh đô, xin vào yết kiến nhà vua để tìm hiểu giá trị của ba bức tượng. Anh xỏ cọng rơm vào lỗ tai bức tượng thứ nhất, cọng rơm thông qua lỗ miệng. Anh xỏ cọng rơm vào lỗ tai bức tượng thứ hai, cọng rơm thông qua lỗ tai phía bên kiạ Anh xỏ cọng rơm vào lỗ tai bức tượng thứ ba, xỏ đến cuối cọng rơm, nhưng vẫn không thấy thông ra chỗ nào.

Anh nông dân cầm bức tượng thứ ba đưa cho nhà vua và nói :đây là bức tượng giá trị nhất.

Tôi lại hỏi ý nghĩa thế nào? Anh Khan cười, nụ cười ít thấy nơi một kẻ trầm tư, rằng nếu không có lời bình giải kiểu Mao Tôn Cương, thì tôi khó mà lãnh hội được cái thâm thuý của người xưa. Câu chuyện trên muốn nói, thứ nhất, tai nghe mà bép xép ra lỗ miệng, thì hoạ tòng khẩu xuất, nghĩa là tai hoạ theo cái miệng mà ra. Thứ hai, nghe tai này lọt qua tai kia, không nhớ gì cả, là thứ vô dụng. Cả hai loại người trên, chẳng giá trị gì. Thứ ba, nghe và cất kỹ trong lòng, không nói ra. Đây là loại người ý tứ kín đáo. Sống trong chế độ ưu việt, áp dụng Ba Không: không nghe, không thấy, không biết, có thể tránh được nhiều tai vạ. Tôi nói, tránh được tai vạ để giữ tính mệnh, nhưng sống mà buồn quá, cũng chán. Anh Khan ngước nhìn lên đám mây cao, nói trời lặng thinh, nhưng bốn mùa vẫn luân chuyển, vạn vật vẫn không ngừng sinh hoá. Không ai có thể biết được ngày mai sẽ xảy ra chuyện gì. Hãy chờ xem.

Một ngày, sau bữa cơm chiều, có hai gã người Thượng ghé rẫy của anh Khan. Anh giới thiệu, một người tên Y Nôm, người kia tên SõLum. Cả hai đều nước da ngăm đen, thân hình rắn rỏi. Họ dắt theo một con chó, loại chó săn, cao giò, bụng thon, tai vểnh, lông có vằn như cọp. Và mang theo những cái rế đan bằng mây rừng, giống cái rế lót nồi ở những vùng quê. Như đã hẹn trước, anh Khan đưa họ đi quan sát dấu chân heo rừng. Dài theo những lối heo thường ra vào phá rẫy, họ đặt những cái rế lật ngửa lên. Giữa rế để một miếng mồi bằng loại thịt đã có mùi hôi, được móc với một chùm lưỡi câu. Mỗi lưỡi câu cột dính với vành tròn phía trong của cái rế, bằng sợi cước dài khoảng gang taỵ

Tôi hỏi: ” Làm thế mà có thể bắt heo rừng được sao?”

Y Nôm hỏi lại: “Chứ ông cán bộ nghĩ phải làm thế nào?”

“Tôi nghe người ta nói, dùng một thân cây níu quằn xuống làm cần bẫy, cột sợi dây làm thòng lọng, đặt trên mặt đất. Khi heo dẵm phải, cần bẫy bật, và cái thòng lọng siết giò heo treo lên.”

“Ông cán bộ chỉ nghe người ta nói, chứ ông không có để cái tay làm công việc. Làm cái bẫy như thế cũng được, nhưng không tốt và có hại cho con người.”

“Tại sao không tốt mà lại có hại cho người?”

Y Nôm cười, lắc đầu.

Anh Khan nói: “Nó không đủ lời giải thích đâu. Này nhé, trên đường heo đi, không dễ tìm được cây nào thích hợp để làm bẫy. Và khi đã làm bẫy rồi, không dễ gì con heo dẵm chân phải cái vòng thòng lọng. Giả dụ, heo đã dẵm vào thòng lọng, cần cây bật siết giò heo treo lên. Nó có thể cắn đứt dây, hoặc cắn đứt lìa một cái giò bỏ lại để thoát thân.”

“Trời đất! Nó dám tự cắn đứt cái giò à?” Tôi kêu lên kinh ngạc.

“Có nhìn thấy cái giò bỏ lại, mới biết loài heo rừng gan dạ phi thường. Làm cái bẫy như trên, đã khó lại tốn nhiều công, nhưng kết quả rất ít. Và chừng nào heo chưa mắc bẫy thì còn duy trì cái bẫy. Nếu lỡ có ai ngang qua, vô tình dụng phải, sức bật của cần bẫy có thể gây nguy hiểm.”

“Thế còn cái rế kia, bắt heo cách nào?”

“Cách nào thì chờ xem. Có thể ngày mai, ngày mốt. Không lâu đâu.”

“Nếu trong vài ngày, heo không đi qua lối đặt những cái rế, thì có cần phải thay mồi không?”

“Không cần. Heo là loài ăn tạp.

Mồi càng bốc mùi càng hấp dẫn.”

Khi hai gã người Thượng đi khỏi, tôi hỏi anh Khan, tại sao Y Nôm gọi tôi là cán bộ? Anh nói, tất cả những ai đến với buôn bản vùng cao, mang cái dáng dấp phi lao động, chỉ biết đứng nhìn, hỏi những câu ngớ ngẩn, và chỉ trích phê bình, lý thuyết suông mà chẳng làm được gì, họ đều gọi là cán bộ. Anh nói tiếp, trong thời chiến tranh, người Thượng đã đóng góp tích cực một phần xương máu cho sự thành công chiếm đoạt miền Nam. Người ta hứa hẹn với họ, rằng họ sẽ được đền bù xứng đáng bằng cách cải thiện cho đời sống dân buôn bản tốt đẹp hơn. Nhưng chiến tranh chấm dứt đã lâu rồi, chế độ đã thành hình vững chắc, mà đời sống của họ vẫn thế, thậm chí còn khó khăn hơn. Họ không còn được làm ăn tự do nữa. Thỉnh thoảng, có những ông cán bộ từ miền xuôi lên đây, gọi sự tự do này là sự tuỳ tiện, thiếu tổ chức. Người ta đặt ra kế hoạch, bắt họ phải làm theo khuôn mẫu. Những kẻ không có một chút kinh nghiệm nào về đời sống giữa núi rừng, dạy khôn cho kẻ được sinh ra và lớn lên từ bao đời cha ông ở đây. Tóm lại, người ta nói về vấn đề cải thiện đời sống, mà không hề cung cấp phương tiện. Người ta chỉ muốn tổ chức lại mô hình xã hội, để dễ bề kiểm soát mà thôi. Trên đường trở lại căn lều, anh Khan nói từ ngày có tôi đến đây, anh đã phá lệ Ba Không: không nghe, không thấy, không biết.

Sáng hôm sau, anh Khan và tôi đang ăn khoai lang lót dạ, nghe có tiếng chó sủa, và tiếng kêu ơi ới ngoài rừng.

Anh Khan nói: “Y Nôm, SõLum gọi.”

Tôi theo anh ra nơi đặt bẫy. Hai gã người Thượng, mỗi người cầm một cây lao, đầu có bịt sắt nhọn, đứng vây một lùm cây rậm. Con chó sủa, nhiều lần dọm mình muốn chồm vô, nhưng không dám.

SõLum ngoắc tôi: “Ông cán bộ lại đây coị”

Theo ngón tay chỉ của SõLum, một con heo rừng lông xám, hai bên mép có nanh dài và cong. Loại heo độc chiếc, đủ khả năng tách bầy, đi kiếm ăn một mình riêng lẻ. Nhìn cái tư thế mắc bẫy của con heo, tôi hiểu được tất cả những gì hôm qua còn thắc mắc. Heo táp miếng mồi, nuốt tới cổ, không trôi được vì đã mắc phải những lưỡi câu, cột bởi những sợi cước dính vào lòng chiếc rế. Vì sợi cước ngắn nên cái rế áp sát vào mõm. Heo dùng chân trước đẫy chiếc rế ra, nhưng không dám đẫy mạnh vì sợ sợi cước căng, làm lưỡi câu móc đau cuống họng. Đẫy một hồi, chân trước vô tình lọt vào một cái lỗ của chiếc rế. Coi như một cái chân đã bị trói. Cái chân trước còn lại, sẽ tiếp tục đẫy nữa, rồi cũng sẽ lọt vô cái lỗ khác, không rút ra được. Thế là cái mỏm heo và hai chân trước hoàn toàn bị khoá bằng chiếc rế. Heo không dám làm động mạnh chiếc rế, sợ lưỡi câu móc đau cuống họng. Khi đã mắc bẫy, heo chỉ có thể lê lết xa nơi đặt bẫy một khoảng mười thước không hơn. Và, người thợ săn chỉ còn một việc phải làm sau cùng, là phóng lao đâm vào những chỗ nhược của con heo mà không sợ bị nó tấn công ngược lại.

Sau vụ bẫy heo rừng. Anh Khan nói, Y Nôm và SõLum cho biết đàn khỉ đã kéo về lảng vảng vùng này rồi. Nhưng chừng nào chúng đến tảo thanh rẫy bắp thì chưa biết. Một hôm, tôi thấy vài con khỉ nấp ló trên cây. Anh Khan nói, đó là những con tiền sát, đi dò địa bàn hoạt động. Khỉ là loài tinh khôn sau loài người. Chúng sống có đàn. Mỗi đàn có một con khỉ đầu đàn. Con này sẽ dẫn đàn đi kiếm ăn rày đây mai đó, như những bộ tộc du mục thời xưa. Chúng đến cái rẫy nào một lần, sẽ lẩn quẩn ở đó nhiều ngày, ăn cho tàn mạt rồi mới chịu đi nơi khác. Con khỉ đầu đàn, không vào rẫy. Nó ngồi trên ngọn cây cao để canh chừng, và xua con cháu vào mục tiêu, ăn cho no, còn độn hai bên má làm phần dự trữ. Trước khi rút lui, chúng còn mang theo một hoặc hai trái bắp làm chiến lợi phẩm, và đóng thuế cho con khỉ đầu đàn. Khi nào con khỉ đầu đàn la ré lên là báo hiệu có biến, đàn khỉ đang ăn sẽ bỏ chạy, mất trật tự còn hơn cuộc di tản chiến thuật từ cao nguyên về miền biển. Tôi hỏi thế những cái thùng thiếc khua động chung quanh rẫy, không có tác dụng làm chúng sợ hay saỏ Anh Khan nói, cũng có tác dụng trong những lần đầu, nhưng nhiều lần sau chúng quen, không sợ nữa. Khi ta ở trong lều, thì chúng phá ngoài rẫy. Khi ta ra rẫy, chúng kéo vô trong lều, lục phá tan hoang đồ đạc.

Một buổi trưa, nghe tiếng khọt khẹt ngoài rẫy, anh Khan giựt dây khua thùng báo động và chạy ra xem. Một vạt bắp bị phá. Nhiều cây gảy gục và trái bị cạp lem nhem dang dở.

Anh nói: “Chỉ mới đợt đầu mà thiệt hại như thế, thì đàn khỉ này có thể đông gần trăm con.”

Tôi ra bìa rẫy, nhìn lên những ngọn cây rừng, tất cả đều im lìm.

“Chúng đã chạy xa hết rồi.” Tôi nói.

“Chưa chắc. Có thể chúng nấp đâu đó trong những vòm lá. Thử ném mạnh một viên đá lên thì biết ngaỵ”

Tôi ném viên đá, không thấy động tĩnh gì. Anh Khan ném một khúc gỗ mục lên tàng cây khác. Bỗng nghe ào ào trên cây. Bầy khỉ hốt hoảng chuyền cành, đổi chỗ ẩn nấp. Chỉ trong vài giây ngắn ngủi, tất cả đều im lìm trở lại. Nhìn kỹ sẽ thấy vài con thu mình trong lá, hai mắt thao láo nhìn xuống.

Trở lại lều, anh Khan chuẩn bị bắt khỉ bằng cách đâm một chén muối ớt thật cay, trộn với cơm nguội, để xuống hố. Anh dựng thêm một cây tầm vông từ dưới lên miệng hố, và giải thích, cây tầm vông làm cái thang cho khỉ xuống hố. Gặp cơm trộn ớt đỏ, nó sẽ bốc ăn, cay quá chảy nước mắt, nó sẽ đưa tay dụi mắt. Tôi cười, bàn tay dính ớt mà dụi vào mắt, thì chỉ còn có cách làm hiệp sĩ mù nghe gió kiếm mà thôi.

Chuẩn bị xong, anh Khan kéo tôi ra một góc rẫy, nơi bìa rừng, ngồi dưới bóng cây tọ Anh nói, bỏ trống cái lều, nhường cho bầy khỉ. Nhưng suốt chiều hôm đó, không có con khỉ nào bén mảng vào lều.

Hai hôm saụ Trên đường từ nhà Y Nôm trở về, vừa đến rẫy đã nghe tiếng con khỉ đầu đàn trên ngọn cây ngoài rừng la ré lên, anh Khan chạy vội vào lều. Bầy khỉ tuôn ra, phóng chạy. Đồ đạc trong lều bị phá tung, vất bừa bãi. Dưới cái hố, bên hông lều, những con khỉ còn kẹt lại, tranh nhau leo lên bằng cây tầm vông. Cứ con này ôm cây tầm vông leo lên, thì con kia sợ hãi nắm đuôi kéo xuống, giành leo lên trước. Rốt cuộc, không con nào lên được miệng hố. Chúng quờ quạng, loi choi, bưng mặt, dụi mắt, và la chí choé. Anh Khan rút cây tầm vông lên. Thế là những con khỉ dưới hố đã hoàn toàn bị nhốt. Tôi đếm được bảy con.

Tôi hỏi: “Đã bắt khỉ rồi. Bây giờ, làm cách nào đuổi khỉ?”

“Đến giai đoạn này, mọi chuyện sau đều dễ dàng.”

Tất cả đồ nghề đã chuẩn bị từ trước. Anh Khan dùng thanh cây, một đầu có buộc thòng lọng, tròng vào cổ từng con, kéo lên, trói lại. Anh lấy kéo cắt lông trên đầu khỉ, như bị cạo trọc. Và lấy sơn màu đen đỏ trắng vàng, phết lem nhem lên đầu, lên mặt khỉ, trông rất khôi hài. Xong, anh mở trói, thả nó chạy vào rừng. Lại lôi con khác lên, hớt lông, sơn đầu…

Anh Khan giải thích, khỉ có khuynh hướng nhập bầy. Những con khỉ này, nó sẽ chạy đi tìm bầy để nhập. Nhưng những con khỉ khác không còn nhận ra bạn nữa, và tránh xa nó như con vật quái đản. Tự bản thân con vật bị sơn mặt, nó không biết nó quái đản, nên bầy khỉ càng chạy tránh, nó càng bám theo để nhập bầy. Cứ thế, một bên chạy, một bên bám riết, càng ngày càng đi xa, thật xạ

“Rồi nó sẽ về đâu?”

“Rừng núi bao la muôn trùng, ai biết sẽ về đâu.”

“Những con khỉ bị bôi sơn lên mặt, rồi sẽ ra saỏ”

“Cũng không ai biết sẽ ra saọ Nếu nó cứ bám riết theo bầy, có thể một ngày nào đó, con khỉ đầu đàn sẽ cắn nó chết.”

Sáng mai, tôi sẽ rời khỏi lều rẫy, bỏ lại núi rừng, từ giả anh Khan để đi một nơi thật xạ Trong đêm, tôi nằm thao thức trên chiếc võng, không ngủ được. Nhìn ánh trăng khuya lạnh lẽo soi vào căn lều trống trải, tôi nghĩ đến những ngày cô đơn của anh Khan giữa đám rẫy đìu hiu. Tôi lại nghĩ đến đàn khỉ cứ chạy mãi, chạy mãi, không biết giờ này chúng dừng lại hay chưa? Anh Khan cũng không ngủ được. Anh ngồi dậy vấn thuốc, bất ngờ anh hỏi tôi, nghĩ thế nào về những con khỉ bị sơn mặt? Tôi nói, nếu ở Âu Mỹ, Hội Bảo Vệ Súc Vật sẽ can thiệp cho nó. Anh bảo, khi tôi sang xứ người, nên tìm đến cái Hội Bảo Vệ Súc Vật, để nhờ họ che chở. Và nhớ hỏi họ, rằng giữa vùng rừng núi Việt Nam, có những “con khỉ người” đang bị sơn mặt, họ có bảo vệ không?


(Theo: Lâm Chương)
thanks 1 user thanked HongLan for this useful post.
Thy Lan Thao on 7/30/2014(UTC)
Sương Đêm  
#69 Posted : Wednesday, July 30, 2014 12:59:02 AM(UTC)
Sương Đêm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/8/2012(UTC)
Posts: 601
Switzerland
Location: Lucerne

Thanks: 1625 times
Was thanked: 592 time(s) in 454 post(s)
UserPostedImage



Nói lái trong ngôn ngữ và văn học Việt Nam



Theo định nghĩa chung chung của một số nhà Ngôn ngữ học thì Nói lái là nói bằng cách giao hoán âm đầu vần và thanh điệu hoặc trật tự của hai âm tiết để tạo thành nghĩa khác hẳn và cho rằng đây là một trong những đặc trưng của tiếng Việt, nhằm mục đích đố chữ, bông đùa, chơi chữ hay châm biếm. Thí dụ như “lộng kiếng” nói lái thành “liệng cống” hay “đầu tiên” thành “tiền đâu”, “đơn giản” thành “đang giỡn”…


Có người còn cho rằng Nói lái là một đặc điểm độc đáo của tiếng Việt mà các ngôn ngữ khác không có, khi nói lái người ta phải chọn một nhóm hai hoặc ba tiếng rồi hoán vị các phụ âm hoặc các thanh của những tiếng đó cho nhau. Chẳng hạn như “Vũ như Cẩn” thành “vẫn như cũ” hay “Nguyễn y Vân” thành “vẫn y nguyên” hoặc “bảng đỏ sao vàng” thành “bỏ Đảng sang giàu”…

Lại có người giải thích : Nói lái là cách đánh tráo vần, thanh điệu… giữa hai hoặc ba tiếng với nhau, nó không rườm rà không phức tạp mà rất đơn giản dễ vận dụng để tạo thêm nghĩa mới phù hợp với mục đích giao tiếp và cho rằng nếu không có những cách nói lái này, quá trình giao tiếp sẽ kém sinh động hơn, đơn điệu hơn nhưng tựu chung, khi nói lái, người ta tránh không nói thẳng chữ muốn nói; mà người nghe vì không tinh ý, nhất thời không nhận ra nên xảy ra nhiều giai thoại vô cùng lý thú.

Như chúng ta đã biết, một chữ gồm hai phần: phụ âm và âm. Chẳng hạn như chữ thung gồm phụ âm th và âm ung. Chúng ta lại có thêm sáu thanh: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng và không dấu tạo tiếng Việt thành giàu âm sắc, chỉ cần khác dấu, chữ được phát âm khác nhau: thung (thung dung), thúng (cái thúng), thùng (cái thùng), thụng (áo thụng), thủng (lỗ thủng) và tất nhiên có nghĩa khác nhau, và đây cũng là nét độc đáo của ngôn ngữ Việt, nên người nước ngoài bảo người Việt nói chuyện nghe giống như hát vậy. Thêm vào đó, tiếng Việt vốn đơn âm nên có thể Nói lái dễ dàng mà vẫn có nghiã : Cái biệt thự nầy bự thiệt ! Bí mật coi chừng bị bật mí hoặc kháng chiến lâu ngày sẽ khiến chán hay muốn đầu tư nhưng không biết từ đâu, và đã tháo giầy nhưng chưa thấy giàu ! Theo con Hương vì thương con heo cô ấy…

Đặc biệt, đối với những người lớn tuổi hay trưởng thành ở Việt Nam chẳng có ai là không biết cách nói lái, tùy theo gốc gác hoặc sinh hoạt ở Bắc, Trung hay Nammà cách nói lái có khác nhau đôi chút.


- Nói Lái theo cách ngoài Bắc : người miền Bắc đổi chỗ cho hai chữ, đồng thời đổi luôn hai dấu (nghĩa là đổi âm sắc).

Thí dụ như chữ tượng lo nói lái thành lọ tương (lo đổi chỗ cho tượng, lấy dấu nặng thành lọ, tượng đổi chỗ cho lo, mất dấu nặng thành tương).

Chữ đấu tranh nói lái lại là tránh đâu (tranh đổi chỗ cho đấu, lấy dấu sắc của đấu thành tránh, đấu đổi chỗ cho tranh, mang dấu của tranh vì không dấu nên thành đâu).

- Nói lái theo kiểu trong Nam : theo cách nói lái trong Nam, âm trong hai chữ đổi chỗ cho nhau, phụ âm giữ nguyên vị trí.

Thí dụ như chữ cá đối nói lái thành cối đá (phụ âm ghép với âm ối của đối thành cối, và phụ âm đ ghép với âm á của cá thành đá). Và cứ như vậy mà cờ Tây thành Cầy tơ, Thầy tu thành thù Tây, hiện đại thành hại điện, Thứ Lễ thành Thế Lữ, trò chơi thành trời cho…

Trong vài trường hợp người ta nói lái cho cả ba chữ, thì chỉ hoán đổi hai chữ đầu và cuối nhưng giữ nguyên chữ giữa. Chẳng hạn như : “Trần bá Cương” thành “Trương bá Cần”, “Chín bến đò” thành “chó bến Đình”, “Âu cái Đằng” thành “ăn cái đầu”, “Hương bên đèo” thành “Heo bên đường”…

Đôi khi người ta lại đổi chỗ hai phụ âm cho nhau để sau khi nói lái có nghĩa và dễ nghe hơn. Thí dụ chữ chiến binh thay vì nói lái thành chinh biến cũng có thể nói thành chính biên. Do đó với hai chữ tranh đấu có người đã đùa mà nói rằng: tranh đấu thì tránh đâu khỏi bị trâu đánh thì thế nào cũng phải đấu tranh.

Cũng như trong trường hợp trên, những chữ trùng âm như nhân dân, lù đù, lật đật…không nói lái được.

Tuy nhiên, Nói lái là lối nói mà chỉ cảm nhận được chớ không công thức hóa được. Nếu nói lái mà đơn giản như đang giỡn (có thêm chữ g và dấu hỏi thành dấu ngã) thì không thể áp dụng công thức nào vào đây cả.

Đặc biệt là người miền Nam thường phát âm phụ âm cuối không chính xác như c # t, n # ng, y # i, dấu hỏi đọc như dấu ngã. Chẳng hạn như chữ Cắt và Cắc, Đan và Đang, Thai và Thay, suy nghĩ và nghỉ ngợi… họ đều phát âm giống nhau, khó mà phân biệt. Vì vậy khi người miền Nam nói lái thì rất dễ dàng, nhanh chóng do biến đổi bằng nhiều cách khác nhau nhưng khi viết ra thành chữ thì nhiều khi không đúng vào đâu cả (tức là sai Chánh tả). Thí dụ như sao vàng nói lái thành sang giàu nhưng viết đúng theo âm luật là sang vào thì không phải là ý của người muốn nói; bởi vậy, người ta nói nói lái chớ không ai nói viết lái. Tuy nhiên, có nhiều câu thơ, bài thơ không những nói lái mà còn viết lái rất tài tình, chúng tôi sẽ giới thiệu phần sau.

Sau đây, chúng tôi xin mời quý vị bước vào thế giới của ngôn ngữ Nói Lái qua các câu đố, câu hò, câu đối, giai thoại trong dân gian và cả những bài thơ mang tính cách Văn học Nghệ thuật hoặc đã có từ lâu trong nền Văn học Việt Nam. Dĩ nhiên, theo như ý kiến của Hoàng Lão Tà trong bài “Ăn tục nói phét” thì “môn nói lái rất thần sầu quỷ khiếp đa dạng, đa năng mà ngay trong thi ca kim cổ đều sử dụng. Lúc nào nói lái được là chớp ngay cơ hội. Và nói lái phải tục mới vui, mới cười được, chứ nói lái thông thường thì chả có gì hấp dẫn”.

1/- Nói Lái trong Câu đố :
Cũng như Ca dao, Tục ngữ, Thành ngữ… Câu đố cũng là một hình thái của Văn học dân gian Việt Nam. Người ta sử dụng Câu đố trong các buổi họp mặt vui chơi hoặc trong lúc lao động chân tay để quên đi mệt nhọc hay thử tài trí giữa hai bên nam nữ. Những câu đố Nói lái thường rất dễ đáp nhưng vì bất ngờ hay bị tròng tréo chữ nghiã mà đôi khi không đáp được.

- Lăng quằng lịt quịt … lăng quằng trứng, là cái gì? (Đáp là cái Lưng quần trắng)
- Lăng quằng lịt quịt … lăng quằng rừng, là cái gì? ( là cái Lưng quần rằn)
- Trong nhà chạy ra hỏi cái gì bán, là cái gì ? ( là cái giàn bí)
- Vừa đi vừa lủi, vừa mổ, là cái gì ? ( là cái lỗ mũi)
- Mẹ thương con, con gầy, là cái gì ? ( là cây gòn)
- Trên trời rơi xuống cái mau co, là cái gì ? ( là cái mo cau)
- Cầm đục cất đục là cái gì ? (là Cục đất)
- Ghe chài chìm giữa biển đông,

Ván phên trôi hết cái cong nó còn’’ là cái gì ? (là con còng)

- Khoan mũi, khoan lái, khoan lai,
Bò la, bò liệt đố ai biết gì? ( là củ khoai lang).

- Hít vào, hít ra, hít một là cái gì ? (là hột mít)
- Cà vô, cà ra, cà nhột, là cái gì ? (là cột nhà)
- Cúng trên núi, cúng mê, cúng mải là cái gì ? (là cái mủng)
- Cú trong nhà cú ra, cú hãi là cái gì ? (là cái hũ)
- May không chút nữa thì lầm,
Cau dày không bẻ bẻ nhầm cau ranh, là cái gì ? (là canh rau)…
- “Sáng nay đi hỏi chị Năm,

Có đi ra chợ chuộc dùm đôi bông” là cái gì ? ( là trái chùm ruột)

- Cái gì ở cạnh bờ sông,
Cái mui thì nát cái cong thì còn ? ( là con còng )

- Cái gì bằng ngón chưn cái mà chai cứng, là gì ? ( là ngón chưn cái)
- Khi đi cưa ngọn, khi về cũng cưa ngọn, là gì ? ( là con ngựa)
- Miệng bà Ký lớn, bà Ký banh

Tay ông Cai dài, ông Cai khoanh. Là cái gì ? ( là canh bí và canh khoai)
Ngoài ra, còn có câu đố về các con vật, câu đố đặt ra là từ hai con vật nầy khi Nói lái sẽ thành hai con vật khác, đã được giải đáp như sau :

- Con Cua con Rồng lái là Con Công con Rùa
Con Cáo con Sóc lái là con Cóc con Sáo.
Con Trai con Rắn lái là con Trăn con Rái.(cá)
Con Cò con Báo lái là con Cáo con Bò
Con Sáo con Bò lái là con Sò con Báo
Con Sếu con Ngao lái là con Sáo con Nghêu …
- con Sâu con Dế –> con dê con sấu
con Ngao con Sán –> con ngan con sáo
con Ong con Kiến –> con yến con công
con Ốc con Kiến –> con yến con cóc
con Trai con Rắn –> con trăn con rái
con Ốc con Nhện –> con ếch con nhộng
- Con SÁO nói với con BÒ,
Có con SÒ BÁO: bên kia Hội chùa.
Con CÔNG nghe rũ con RÙA,
Con CUA thấy vậy, mới khua con RỒNG.
Cả bọn kết lại thật đông,
Con CÒ, con SÓC cũng mong theo cùng.
CÓC, SÒ xúm lại đi chung…
- Cô Công nói với Cậu Rùa,
Rồng ở dưới đất, còn Cua trên trời.
Ốc gào Nhện hỡi, nhện ơi:
Ếch bơi phố núi, Nhộng chơi ao làng.
Gió chiều nhẹ thổi mênh mang,
Tao nhân mặc khách lang thang bên đường…


2/- Nói Lái trong Câu Hò đối đáp:
Hò đối đáp vốn là một loại hình thức dân ca phổ biến khắp ba miền đất nước. Nó thường xảy ra trên cánh đồng hay dòng sông, nam và nữ thường hò đối đáp với nhau để xua đi nỗi mệt nhọc trong công việc. Điều đáng ngạc nhiên là họ có thể dễ dàng sáng tạo và hò đối đáp ngay tại chỗ. Những người này rất nhanh nhẹn và thông minh đến mức ngay cả những người có học đôi khi cũng phải khâm phục họ và đôi khi phải bỏ cuộc. Có nhiều cặp trai gái trở thành chồng vợ sau những cuộc hò nầy.

Những câu hò đối đáp thông thường thì rất nhiều nhưng dùng cách nói lái để hò đối đáp thì rất hiếm quý.

# Thông thường thì bên con gái cất cao câu hò đối trước :

“Hò hơ… Con cá đối nằm trên cối đá,
Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo.
Anh mà đối đặng… ơ.. ờ
Hò hơ…Anh mà đối đặng, dẫu nghèo em cũng ưng”.

# Sau khi phân tách và tìm câu trả lời, bên con trai hò đáp :

“Hò hơ… Chim mỏ kiến(g) đậu trên miếng cỏ,

Chim vàng lông đáp dựa vồng lang.

Anh đà đối đặng ơ… ờ
Hò hơ…Anh đà đối đặng, hỏi nàng có ưng chưa?”
Và như thế, bên nầy đối, bên kia đáp cứ kéo dài không dứt cuộc tranh tài đầy lý thú của hai bên nam nữ để lại dân gian những câu hò Nói lái độc đáo đầy sáng tạo:

- Con sáo sậu chê cô xấu xạo,
Con chó què chân bị cái quần che.
- Con bé mập ú nhờ bà mụ ấp,
Thằng bé ốm tong vác cái ống tôm.
- Chiều chiều cụ Mão lên rừng cạo mũ,
Sáng sớm bà Hạc đi bán bạc hà.
- Cô nàng dâu Hứa đi mua dưa hấu,
Thằng rể bảnh trai ngồi cạnh bãi tranh.

- Người mặc áo xanh chính là anh xáo, (anh Sáu)

Miếng thịt băm nát trong bụng bác Năm.

- Chàng trai sứt môi ngồi ăn xôi mứt,

Cô gái mồm to lặn lội mò tôm.

- Con cóc cái ngồi trên cái cốc,
Con cầy tơ đứng dưới cờ Tây.

Bên cạnh đó còn có những câu Nói lái mà đôi trai gái khéo léo gởi gắm tình cảm cho nhau mà người ngoài vì vô tình không hiểu được. Trước hết, người con gái thố lộ :

- “Cam sành nhỏ lá thanh ương,
Ngọt mật thanh đường nhắm lớ, bớ anh !”

Cảm thương vì “thương anh” mà “nhớ lắm” của nàng nên chàng hứa hẹn :

- “Thanh ương là tuổi mong chờ
Một mai nhái lặn chà quơ, quơ chà”.
(Có nghiã: Qua muốn “nhắn lại” với bậu là nếu “thương anh” mà bậu “chờ qua” thì “qua chờ” bậu).

3/- Nói Lái trong câu đối :
Câu đối là cách chơi chữ và là một trong những thú tiêu khiển của người xưa. Người ta thường viết câu đối trong dịp Tết hay trong các lễ mừng thượng thọ, thăng quan tiến chức, đỗ đạt hay tân hôn, sinh nhật…. Người viết câu đối phải là người văn hay, chữ tốt và nhất là ý nghiã của câu đối phải phù hợp với trọng tâm của buỗi lễ. Cho nên, viết câu đối rất khó mà nói lái trong câu đố thì lại càng khó hơn nữa. Vậy mà trong dân gian Việt Nam vẫn có nhiều câu đối nói lái.

Thảm thương cho cuộc sống thiếu thốn, đói nghèo của nghề giáo dưới chế độ Xã hội Chủ nghiã, người ta than thở qua bài “Buồn đời giáo-chức”:

Thảm kịch của thầy giáo, phải tháo giầy,

Tháo luôn cả ủng, thủng luôn cả áo.
Làm giáo chức, nên phải giứt cháo,
Thảo chương rồi, để được thưởng chao,
Lấy giáo án đem dán áo.

Cùng với một câu đối bất hủ như sau :

- Chiều ba mươi, thầy giáo tháo giày ra chợ bán
Sáng mùng một, giáo chức dứt cháo đón xuân sang.

Tuy vậy, vẫn còn một câu đối khác nghe chỉnh hơn :

- Thầy giáo…tháo giầy, tháo cả ủng, thủng cả áo, đem giáo án ra… dán áo.

Mèo con….còn meo, còn léo nhéo, kéo lòn nhòn, ngậm xương cá về..ca xướng.

Còn đây là câu đối Tết dành tặng cho những tên keo kiệt, coi trọng đồng tiền hơn bất cứ mọi thứ trên đời (xin nói lái từng cặp chữ thì sẽ thấy):

- Thiên tường, tác biệt,
Hiền tạ, thu sương.

Ngoài ra, còn có những câu đối không dùng trong mục đích nào cả mà chỉ để thỏa mãn tánh trào phúng và tài Nói lái của mình :

- Kia mấy cây mía trên xe chú,
Có vài cái vò dưới nhà cô.
- Thầy giáo tháo giầy, vấy đất vất đấỵ
Thầy tu thù Tây, cầu đạo cạo đầu.
- Trai Thủ Đức năm canh thức đủ,
Gái Đồng Tranh sáu khắc đành trông.
- “Trai Thủ Đức năm canh thức đủ,
Gái Gò Công sáu khắc gồng co”.
- Gái Hóc Môn vừa hôn vừa móc,
Trai Gò Công vừa gồng vừa co.
- Thầy giáo Bản Giốc, vừa bốc vừa giảng,
Tử tù Cổng Trời, bị cởi bị trồng.
- Con trai Bắc Ninh, vừa binh vừa nắc,
Con gái Hà Đông, hồng diện đa dâm.
- Đại học Suối Máu, sáu tháng muối cơm,
Giáo khu Thừa Thiên, cửa thiền thưa thớt.
- Dân nhậu Chu Lai, uống chai uống lu,
Người dân Đập Đá, bị đá bị đập.
- Rượu thuốc Bạch Hổ, uống bổ như hạch,
Con gái Đà Nẵng, tứ đẳng nõn nà.

- Nhà văn Nhật Tiến bảo học tiếng Nhật là tiện nhất.

Luật sư Ðức Tiến không biết tiếng Ðức nên tức điếng.
- Con cá rô cố ra khỏi rá cô !

Chú chó mực chực mó vào chõ mứt.

-“Vợ nuôi chó, chồng chén cầy; tứ đốm tam khoanh, cây còn hóa ra là nhà Tuất.
“Ngưòi bảo heo, kẻ kêu lợn; ba bầy bảy mối, lớn lại thành đích thị họ Trư.”


Còn về câu đối “Gái Củ Chi, chỉ cu, hỏi củ chi?” thì có các câu :

- Trai Giồng dứa, trồng dừa giống, trên giồng dứa.
- Trai Láng Hạ, lạ háng người Láng Hạ.
- Trai Thành Đông, đồng thanh hét thành đồng.

Sau hết, có một người thích nói lái, tức cảnh sinh tình đưa ra câu đối sau đây, xin mời chư quý vị tìm cho câu đáp :

- “Xuân Cali lạnh lẽo, nghe gọi heo, gọi lợn, gọi chó, gọi cờ tây, chạnh thèm bát giả cầy…”

4/- Nói lái trong các giai thoại :
Giai thoại được hiểu là câu chuyện thú vị làm cho người nghe phải hào hứng, vui thích. Từ xưa, có rất nhiều giai thoại, đặc biệt là giai thoại trong văn chương thì không những được người đời truyền tụng qua những cuộc trao đổi trong giới Văn gia, trí thức mà còn được ghi vào sách vở. Tuy nhiên, có những giai thoại Nói lái thì ít người quan tâm, thỉnh thoảng họ cũng có nghe qua nhưng rồi bỏ, xem đó như là những câu chuyện dân gian. Vì vậy, những giai thoại nầy trở thành loại văn chương truyền khẩu, mặc ai muốn kể sao thì kể, muốn thêm thắt thế nào cũng được miễn đáp ứng được sự cảm nhận của người nghe là được.

A)- Chuyện Đại phong :

Chuyện thế này: hai anh hề trên sân khấu tuồng ngoài Bắc, trong lúc diễu giúp vui, anh A đố anh B: Đại phong là gì?

- “Thì đại là lớn, còn phong là gió, đại phong là gió lớn”, anh B giải thích.

Anh A bảo :“ Đại phong có nghiã là lọ tương đấy. Nầy nhé, Đại phong là gió lớn, mà gió lớn thì chùa đổ, chùa đổ thi tượng (Phật) lo, tượng lo là lọ tương.
Có người còn cho rằng chuyện Đại phong xuất xứ từ Trạng Quỳnh. Trạng Quỳnh tên thật là Nguyễn Quỳnh, sinh quán Nghệ An dưới thời Lê Trung Hưng (1530-1540), là người hay chữ, thông minh xuất chúng, với bản tính nói ngông hay châm chọc vua chúa quan quyền thời bấy giờ. Một hôm Quỳnh dâng lên chúa Trịnh một lọ thức ăn khoác lác là một món ăn tuyệt hảo, ngoài có đề hai chữ Đại Phong. Sau khi ăn thử, chúa Trịnh vì bị Trạng lừa bỏ đói, ăn rất ngon miệng nên cật vấn về món ăn lạ, thì Trạng giải thích rằng Đại Phong là gió to, gió to thì tượng lo, tượng lo nói lái là lọ tương.

Ngoài ra, Trạng Quỳnh còn có một câu nói lái khác mà người ta cho rằng để chọc bà Đoàn thị Điểm (?)

- Nắng cực lúa mất mùa, đứng đầu làng xin xỏ,
Nỡ lòng nào chị chẳng cho.

B)- Chuyện Trạng Quỳnh – “đá bèo” và “ngọa sơn” :

Một bà Chúa có nhan sắc mà tính kiêu ngạo, đi ra chơi phố phường thấy ai trái ý là sai lính bắt đánh liền. Quỳnh lững thững đi chơi, gặp kiệu Chúa, thấy gần đấy có cái ao bèo, vội vàng chạy xuống cầu ao nhằm đám bèo mà đá tứ tung. Chúa biết Quỳnh, thấy chơi lẩn thẩn như thế mới hỏi:

- Ông làm gì đó?

Quỳnh ngẩng lên thưa:

- Tôi ở nhà buồn quá, ra ao đá bèo chơi ạ !

Chúa đỏ mặt tía tai, đánh kiệu bỏ đi.

Một buổi trưa nọ, Quỳnh định vào nội phủ thăm Chúa nhưng biết là Chúa đang ngon giấc ở dinh bà Chính cung, Quỳnh cụt hứng lui gót. Trên đường về, Quỳnh đề lên vách phủ hai chữ “Ngọa Sơn”. Khi Chúa gọi vào hỏi, Quỳnh trả lời :

- Khải Chúa, “Ngọa Sơn” nghĩa là nằm ở trên núi, có thế thôi ạ! Tiện tay, thần viết chơi, chẳng có gì để Chúa bận tâm cả.

Sau đó, Chúa thấy hai chữ “Ngọa Sơn” xuất hiện la liệt trên các vách tường, cửa nhà ngoài phố…Chúa truyền gọi một người đến hỏi duyên cớ. Người kia run lẩy bẩy, thưa:

- Chúng con là kẻ hèn mọn dốt nát, đâu dám sính chữ. Việc này chẳng qua chỉ tại Trạng Quỳnh đấy ạ ! Trạng Quỳnh có lần vào nội phủ, về mách với chúng con là Chúa đang bận “Ngọa Sơn”, rồi giải thích rằng: Ngọa là nằm, nằm lâu thì phải ngủ, ngủ thì phải ngáy. Sơn là núi, mà núi thì phải có đèo. “Ngáy Đèo” nói lái lại là… , con không dám nói ra đâu. Không ngờ bọn trẻ con nghe lỏm được lời Trạng, buồn tay viết bậy bạ lung tung. Xin Chúa tha cho con!

Hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện này là do Quỳnh, có làm lớn chuyện ra chỉ tổ thêm xấu hổ nên bỏ qua.

C)- Chuyện Đại điểm Quần thần:

Một giai thoại về Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm được lưu truyền ở miền Nam như sau : hồi Thủ Tướng Tâm còn là Quận Trưởng Cai Lậy (có biệt danh là Hùm Xám Cai Lậy) lúc ăn mừng tân gia, có người dâng lên quan bốn chữ đại tự Đại Điểm Quần Thần rất đẹp và giải thích Quần thần là người bề tôi, Đại điểm là điểm lớn, ý nói quan lớn là người bề tôi có vị trí to lớn trong quan trường. Quan lấy làm thích thú đem treo bức liễn trong phòng khách. Ít lâu sau có người đến ngắm bức liễn, rồi xin quan lớn dẹp đi. Quan ngạc nhiên hỏi, người ấy giải thích: người viết liễn đã cố ý châm biếm quan lớn, mà quan không biết. Bốn chữ trên dịch từng chữ: Đại điểm là chấm to; Quần thần là bầy tôi. Đại Điểm Quần Thần là Chấm To Bầy Tôi nói lái lại là Chó Tâm Bồi Tây. Chẳng biết quan có tìm tác giả bốn chữ nói trên để trị tội hay chăng, nhưng có lẽ vì không muốn làm lớn chuyện mà thêm xấu hổ, nên ỉm luôn.

D)- Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nói lái :

Trước khi chết, Trạng Trình (1491-1585, thời Lê Mạc) có làm một tấm bia căn dặn con cháu khi nào chết nên đem tấm bia nầy chôn trước mộ, tấm bia được khắc chữ bên trong nhưng sơn bít bên ngoài. Sau đó chừng 100 năm, cha con ông Khả đem bò tới đó cho ăn mà lại cột nhằm mộ bia của Trạng. Hôm đó nhằm lúc trưa nắng, vì quá khát nước nên bầy bò đụng với nhau, chạy tán loạn làm gẫy tấm bia, sập xuống. Làng xã hay tin biết cha con ông Khả làm hư mồ mả của Trạng nên bắt về trị tội. Cha con ông Khả năn nỉ quá, xin cho đi vay bạc hỏi tiền làm lại tấm bia khác thường cho Trạng. Làng xã thấy tội nghiệp nên ưng thuận. Sau khi vay mượn và bán hết đồ đạc trong nhà thì chỉ được có một quan tám, nhưng được bao nhiêu cũng phải tiến hành sửa chữa. Đến chừng đập bia ra vừa tróc lớp ô dước bên ngoài thì thấy có hàng chữ như thế nầy:”Cha con thằng Khả làm ngã bia ta, Làng xã bắt đền tam quán”. Thì ra tam quán nói lái thành quan tám, đúng như lời tiên tri của ông Trạng.

Đ)- Chuyện về ông Thủ Thiệm :(theo “Thủ Thiệm Đất Quảng” của Hoàng Quốc)

Thủ Thiệm người xứ Bình Định, xã An Hoà thuộc phủ Hà Đông sau đổi thành Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam. Ông sinh năm 1854 mất vào năm1920 tại quê nhà. Lúc nhỏ, Thủ Thiệm có tên là Nhơn, khi lớn lên đi học và đi thi, ông lấy tên chính thức là Thiệm. Theo phong tục xưa, Thủ sắc là người giữ các sắc phong của Vua ban cho làng, chức này thường được Hội đồng kỳ mục tín nhiệm giao cho các nhà Nho, hoặc ít ra cũng là người có chữ nghĩa thánh hiền ở trong làng đảm nhận. Có lẽ nhờ thông Hán học mà Thiệm được giao làm Thủ sắc của làng. Từ đó, người làng gọi ông là Thủ Thiệm, tức đem ghép chức Thủ sắc vào tên ông. Ông là người hoạt bát, nhanh nhẹn, thông minh, ứng đối tài tình nên có nhiều giai thoại để đời :
- Một đám cưới nọ tổ chức rất linh đình, hơn nữa số lễ vật của khách đến chúc mừng cũng để bù đắp vào các khoản chi phí, đó là chưa nói đến trường hợp gia chủ được lãi, nếu có chủ tâm tính toán trước. Thủ Thiệm ghét cay ghét đắng cái thói này. Tương truyền có một chuyện như vầy: Khi đi dự đám cưới, Thủ Thiệm mua một tấm lụa, viết lên đó ba chữ Hán thật to:”Miêu Bất Tọa” làm quà tặng đám cưới. Trong tiệc rượu, nhiều người nhờ Thủ Thiệm giải thích mấy chữ đó. Thủ Thiệm chép miệng: – Chà có rứa mà mấy ông cũng hỏi! “Miêu” là mèo, “Bất” là không, “Tọa” là ngồi. “Miêu Bất Tọa” là mèo không ngồi, mà mèo không ngồi tức là mèo đứng. Các ông các bà mừng “Bách niên giai lão”, “Bách niên hạnh phúc”, còn tui thì “Mèo Đứng” cũng vậy mà thôi chứ có khác gì đâu. Nhìn thấy tấm lụa có chữ “Miêu Bất Tọa” treo trang trọng giữa phòng chính, ai cũng bấm bụng cười thầm.

- Có cậu con trai học dốt, thi trượt nhưng người cha đã bỏ tiền mua chức cửu phẩm văn giai, mở tiệc đãi cả làng mừng con trai đỗ đạt. Mừng cháu có thành tích, Thủ Thiệm cho câu đối Nôm:

“Cha ở nhà đại du
Con đi thi đậu tru”

Câu đối Nôm dán trên cột nhà khiến chủ nhà bật ra tiếng chửi đổng, còn khách khứa tủm tỉm cười thầm.

- Trong ngày đám tang vợ, Ông đề trên lá phướn vợ chữ khuynh địa có nghĩa là méo đất, và khóc vợ, rồi kể lể thờ dài: “Lúc thiếu “cái nớ” thì làm răng mà các dì giúp tui được, phải không các dì?” khiến bà con chòm xóm “lỡ khóc, lỡ cười” với ông chủ nhà trong lúc tang ma bối rối.

E)- “Méo trời và Méo đất”:

Có một ông thợ hớt tóc góa vợ nên đã quan hệ “già nhân nghĩa, non vợ chồng” với một bà góa chồng. Có hai câu thơ ông tự “vịnh” về mối quan hệ của chính mình thực đáng ghi nhớ :

Yêu em từ độ méo trời,
Khi nào méo đất mới rời em ra (!)

Yêu từ thuở “méo trời” đã hay, nhưng công khai thừa nhận sẽ hết yêu khi “méo đất” dẫu có hơi ác nhưng cách dùng từ thì quả thực tinh quái và thông minh hết chỗ chê.

G)- Bài thơ Tác hợp : (theo “Quảng Nam Nói Lái” của Huỳnh ngọc Chiến)

Ở xứ Quảng Nam có ông Dương Quốc Thạnh, biệt hiệu Sơn Hồ, chuyên làm thơ nói lái theo thể Đường luật, đối nhau chan chát trong từng câu từng chữ. Có một cậu công nhân gốc Hội An làm việc ở Phú Ninh quan hệ với một cô thợ may ở địa phương mang bầu. Cậu về thú thực với gia đình và xin cưới gấp nhưng ba mẹ không chịu. Ông lại là người quen biết cả hai bên nên nhà gái nhờ ông thuyết phục bên nhà trai. Cuối cùng đám cưới vẫn được diễn ra với cô dâu mang bụng bầu 6 tháng (!). Không khí nặng nề giữa hai họ được giải tỏa hoàn toàn khi ông, với tư cách chủ hôn, đọc bài thơ này và nhà trai thực sự vui vẻ khi tuyên bố nhận con dâu.

Ai bàn chi chuyện đã an bài,
Trai khiển đồng tình gái triển khai.
Cứ sợ cho nên thành cớ sự,
Mai than mốt thở lỡ mang thai.
Tính từ ngày tháng vương tình tứ,
Khai ổ bây giờ báo khổ ai.
Cưỡng chúng ông bà nghe cũng chướng,
Thôi đành để chúng được thành đôi !

Bài thơ quả thật vô cùng sâu sắc và lý thú. Chuyện đã rồi thì thôi đừng bàn ra tán vô làm chi. Do chàng trai điều khiển nên cô gái mới phải chìu theo nhưng lỗi là do cô đồng tình nên cũng không thể trách ai. Vì quan hệ lén lút nên mới xảy ra “cớ sự”. Bây giờ đã sắp đến ngày sinh nở rồi, sắp đến lúc “khai ổ” rồi mà đám cưới không thành thì sẽ làm khổ cho cả hai bên nhà trai nhà gái lẫn hai người trong cuộc.

Thêm một chuyện khác là ở Quận Đại Lộc cũng thuộc Quảng Nam có anh Trần Hàn xấu trai, mặt thì rỗ, lại thêm chột hết một mắt, nhưng anh ta hát hay nổi tiếng. Nhưng “Cao nhơn tắc hữu cao nhơn trị”, vì khi anh xuống làng La Qua, quận Điện Bàn, gặp một cô gái hát chỉ hai câu mà không tài nào đối được, đành bỏ nghề hát, tuyệt tích giang hồ. Câu hát rằng:

Trần ai gặp lúc cơ hàn
Rổ đan mặt mốt, xuống ngàn đổi khoai.

Cái chữ khó của câu hát là chữ “Rổ” đan mặt mốt, nghĩa trắng là nghèo quá phải đan rổ tre long mốt để đựng khoai, nghĩa đen lại là mặt rỗ hoa mè lại đui một mắt (mặt mốt nói lái là một mắt).

H)- Tranh đấu bị trâu đánh :

Ở một cơ quan nọ (dĩ nhiên là cơ quan của Việt cộng) có hội nghị họp chống tham nhũng cửa quyền. Gần kết thúc cuộc họp có một chị công nhân cũ của nhà máy đòi đứng lên phát biểu. Chị vừa nói vừa khóc: “Chúng tôi cũng muốn đấu tranh đòi quyền lợi lắm, nhưng như tôi đây, đấu tranh thì không biết tránh đâu, chưa kịp tránh đâu thì đã bị trâu đánh. Vì vậy bây giờ tôi đang thất nghiệp !

I)- Một mẩu đối thoại :

A: Bên đó thế nào ?
B: Ồ, có đại phong.
A: Làm gì thì làm, nhớ thủ tục đầu tiên đấy nhé !
B: Vâng, biết rồi, khổ lắm nói mãi. À, anh thấy cô ấy thế nào ?
A: Người đẹp có đôi chân thảo bình nên hình chụp tôi lộng kiếng rồi !
B: Anh thì lúc nào cũng tếu, cũng vũ như cẩn vậy.
A: Thôi chào, chúc anh mạnh sự lòi.!!!

(Chú thích : – Thảo bình, theo nghiã Hán Việt, thảo là cỏ, bình là bằng. Thảo bình là cỏ bằng. Cỏ bằng nói lái là cẳng bò. – Mạnh sự lòi nói lái là Mọi sự lành).

K)- Bài thơ chú Phỉnh :

Tạp chí Xưa Nay số 298 (12/2007), nhân kỷ niệm 15 năm ngày mất của Quách Tấn (một nhà thơ sở trường Thơ Đường luật có tên trong “Thi nhân Việt Nam”) có bài viết về tác giả bài thơ nói lái Chú Phỉnh nổi tiếng. Bài thơ nói lái như thế này:

Chú phỉnh tôi rồi Chính phủ ơi,
Chú khiêng đi mất chiến khu rồi !
Thi đua sao cứ thua đi mãi,
Kháng chiến như vầy khiến chán thôi !.

Theo ô.Quách Tạo, tác giả bài thơ nói lái này là Hồ Đệ, người đã gây dựng vào năm 1954 ở Quảng Nam tổ chức Hậu Quốc Dân Đảng phối hợp với nhóm các chức sắc Cao Đài do Cao Hữu Chí đứng đầu để chống Việt Minh và đã bị Tòa án Liên khu V xử.
Không hiểu sao về sau người ta lại cứ nghĩ tác giả bài thơ nói lái này là nhà thơ Quách Tấn, có thể vì theo lý luận của hỏi-cung-viên Cao Kế: “Bài thơ Đường này anh không làm thì ai vô đây mà làm?”.

Về chuyện này, năm 1991, Quách Tấn, khi đó đã mù, nói với Quách Tạo: “Việc đời cũng lạ. Văn của mình thì họ chê nhưng lại đem chép hàng vài chục trang sách của mình rồi ký tên, xuất bản làm tác giả. Còn văn bá láp và phản động thì họ lại quả quyết đó là của mình để tìm cách buộc tội”.

Cùng với tư tưởng “phản động” nầy, trong bài “Nói lái” của Đỗ Thông Minh cũng có ghi bài thơ “chú Phỉnh” tuy có khác đi đôi chút :

Kháng chiến thôi rồi khiến chán ôi,
Chiến khu để lúa chú khiên rồi !
Thi đua chi nữa thua đi quách,
Anh hùng ? Chỉ tổ ung hành thôi !

Rõ ràng, chính vì bài thơ được phổ biến bằng cách truyền miệng nên tình trạng “tam sao thất bổn” là không thể tránh, mặc dù nội dung không thay đổi nhiều lắm.

L)- Câu ró và Câu rạo :

Có anh chàng nọ trước kia để râu trông rất đẹp nhưng sau đó không biết lý do gì, cạo đi hàm râu của mình làm cho cô bạn gái nhận không ra. Chàng bèn làm thơ nói lái như vầy để than thở :

Xưa kia câu ró ngó xinh,
Bây giờ câu rạo vô tình ngó lơ!

M)- Nói lái để hẹn hò :

Trai gái miền Trung hẹn hò gặp gỡ nhau, sợ có người nghe nên tìm cách nói lái vẩn vơ về ruộng đồng, rơm rạ để hiểu ngầm với nhau.
Chàng nói bâng quơ: “bị môn, bị khoai, bị nưa”. Nàng chưa có cơ hội nên khất: “cau khô, trầu héo, tái môi.” hay “nón cụ, quai thao, tốt mối, xấu cuồng” hoặc “bưởi đỏ, cam sành, tốt múi”..

Người qua đường không thể hiểu rằng bị nưa là bựa ni (tức là bữa nay), tái môi là tối mai, tốt mối xấu cuồng là tối mốt xuống cầu, tối múi là túi mốt (tức là tối mốt).

N)- Đặt tên con :

Biết Tú Đạp là dân học thức nên có người quen nhờ đặt tên cho đứa con trai vừa mới sinh. Sau mấy ngày suy nghĩ, anh đề nghị người quen nên đặt tên con là Gia Bảo vì cái tên này nói lên rằng cả gia đình rất quí cậu bé.

Sau khi làm giấy khai sinh cho cậu bé được mấy ngày, ông bố đến gặp Tú Đạp giận dữ hỏi:

- Tại sao anh biết là hồi đó chúng tôi mua phải loại bao giả, hả? Bao nội địa thì có khi bị rách, chớ làm gì có bao giả !!! (Gia Bảo nói lái là Bao giả !)

O)- Thuyền ta lái gió :

Biết nói lái, biết trò chơi chữ để thưởng thức cái của trời cho mà còn để tránh… làm phiền người nghe vì lời thật mất lòng. Nhưng cũng có trường hơp ngược lại, người nói vô tình nói lái làm khổ cả người nói lẫn người nghe.
Số là, có một ông thầy giáo khi đọc đề thi về bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận, thay vì đọc câu
“Thuyền ta lái gió với buồm trăng” đã vô tư đọc thành “Thuyền ta ló giái với buồm trăng”,
khiến cả lớp cười rần lên làm ông thầy sượng chết người. Ôi, tiếng Việt đáng yêu mà cũng đáng sợ quá!


(st)
thanks 2 users thanked Sương Đêm for this useful post.
Thy Lan Thao on 7/30/2014(UTC), UyenMai on 8/15/2014(UTC)
UyenMai  
#70 Posted : Friday, August 15, 2014 10:21:02 PM(UTC)
UyenMai

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/23/2011(UTC)
Posts: 625

Thanks: 226 times
Was thanked: 467 time(s) in 384 post(s)


"Bố yên tâm đi xa công tác, mẹ ở nhà đã có chú hàng xóm yêu thương"

Mới đây, cư dân mạng chia sẻ hình ảnh chụp lại bài kiểm tra tập làm văn của một học sinh tiểu học khiến cho người chấm bài phải “bối rối” ghi vào lời phê: “Xin ý kiến phụ huynh”.

Tuy chưa xác định đây có phải là một bài làm văn có thật hay không nhưng câu chuyện trong bài văn “lá thư gửi bố” của một học sinh tiểu học khiến cho dân mạng phải suy ngẫm.

Với đề bài “Hãy viết một lá thư gửi cho người thân”, em học sinh đã chọn đối tượng gửi thư là người bố của mình đang đi công tác ở đảo xa. Nội dung lá thư như sau:


UserPostedImage
UserPostedImage

thanks 1 user thanked UyenMai for this useful post.
Thy Lan Thao on 8/24/2014(UTC)
Thy Lan Thao  
#71 Posted : Monday, September 1, 2014 8:58:43 AM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,897
Location: usa

Thanks: 1699 times
Was thanked: 2834 time(s) in 1909 post(s)
TẠI SAO VŨ-HOÀNG-CHƯƠNG
BỊ VIỆT CỘNG BẮT VÀO TÙ KHÁM LỚN?


Đã là cựu học sinh Chu-văn-An, ai không biết thi sĩ Vũ-hoàng-Chương là một vị giáo-sư Việt Văn rất đáng mến. Quả thật vậy, trong cuộc đời thi sĩ, Ông đã từng xuất bản cả chục tập thơ và kịch thơ , cũng như trong nghề dạy học, ai đã từng là học trò Ông thảy đều thương kính, coi Ông như một vị giáo sư có đầy đủ tác phong về đạo đức và sư phạm. Hơn thế nữa, hãy xem nhà văn Song-Thao (cũng là một cựu học sinh Chu-văn-An) mô tả Ông trong tập truyện “Chốn cũ” vừa xuất bản:
“Thầy đi quanh lớp bằng những bước chân nhẹ nhàng, đầu nghểnh cao, mắt xa vắng, giảng bài bằng cái giọng nhừa nhựa thanh thanh. Có những lúc mắt thầy như nhắm hẳn lại, đầu lắc lắc từng chặp. Những lúc đó thầy như thoát hồn bay về một trời thơ nào đó. Thầy say thơ. Thầy ngâm thơ như một người đồng thiếp. Như không còn thầy. Như không có trò. Như không phải là một lớp học. Chỉ có một cõi thơ lồng lộng bát ngát. Chúng tôi cũng thấm thơ. Vô cùng nồng nàn là những dòng thơ đất Việt. Chỉ có tiếng chuông báo hết giờ học mới có thể kéo thầy trò ra khỏi cơn mê văn chương…”
Làm thơ đã hay, dạy học thì say mê như thế, Vũ-hoàng-Chương không hề làm chính trị. Hồi toàn quốc kháng chiến năm 1946, Ông cũng chỉ tản cư khỏi thành phố một thời gian rồi lại hồi cư, chứ không ra bưng. Từ năm 1954 khi di cư vào Saigon, Ông cũng không tham gia một đảng phái nào. Thế nhưng cuộc đổi đời ” tháng tư đen” đã đưa Ông vào tù và chỉ được tha về khi kiệt lực gần chết. Chúng ta thử tìm hiểu nguyên do nào đã đưa Ông vào vòng lao lý gần một năm trời. Với thân hình gầy còm và “ả phù dung” dằn vặt làm sao Ông sống nổi. Kể ra cũng có nhiều lý do xa gần.
Bài thơ hoạt cảnh Tết Con Rồng.
Miền nam ViệtNam bị mất về tay cộng sản tháng tư năm 75 thuộc năm Mão. Cuộc đổi đời đã gây ra nhiều cảnh éo le cả về hoàn cảnh xã hội lẫn nhân tình thế thái. Vũ-hoàng-Chương bị kẹt lại và Ông đã mắt thấy tai nghe và ngay cả chính Ông cũng là nạn nhân của sự thế . Cuối năm bước sang năm Thìn là tết con rồng, Ông đã làm một bài thơ tức cảnh như sau:
Vịnh tranh gà lợn
Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành,
Gà lợn om sòm rối bức tranh.
Rằng vách có tai, thơ có hoạ
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành.
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.
Đây đích thực là hoạt cảnh của miền Nam sau mấy tháng về tay chủ mới: Chính quyền tiếp thu vào tay cộng sản chưa hoàn toàn kiểm soát được xã hội vốn vẫn thoải mái trong nếp sống từ bao năm qua. Dân chúng vẫn hoài nghi cách mạng cho nên tình thế chưa thấy gì làm sáng sủa. Mặt khác đa số người thuộc chế độ cũ không tin miền Nam có thể dễ dàng rơi vào tay cộng sản như vậy nên thầm kín trong lòng vẫn ước mong lật ngược thế cờ khỏi cảnh tối tăm hiện tại.
Với bối cảnh xã hội như vậy, kẻ hồ hởi, người âm thầm cho nên nẩy sinh ra lắm vẻ, biết ai là ai bây giờ. Bức tranh xã hội thật là rắm rối. Cộng sản đi đến đâu thì mạng lưới công an rình rập nhòm ngó tới đó. Kẻ thân trong nhà cũng còn nghe lén để báo cáo lập công thì còn biết tin ai bây giờ. Cho nên nhìn bề ngoài đố biết lòng dạ ai thế nào.
Ngay như chính tác giả cũng đã là nạn nhân của lòng người đổi trắng thay đen. Số là Vũ-hoàng-Chương và gia đình đã từ lâu vẫn ở nhờ trên căn gác nhỏ trong biệt thự của bà Mộng-Tuyết (phu-nhân thi sĩ Đông-Hồ), Ông đã từng đặt tên đây là “gác mây” để Ông bạn với “ nàng thơ” và “nàng tiên nâu”. Thế nhưng từ khi có cán bộ từ ngoài bắc vào, Bà Mộng-Tuyết thì hồ hởi tiếp đón, còn Vũ-hoàng-Chương thì lặng lờ như không Cho nên Bà muốn đỡ phiền lụy sau này đã ngỏ ý muốn Ông dời nhà đi ở chỗ khác. Chính vì vậy mà thi sĩ họ Vũ đã phải dời sang Khánh hội ở nhờ nhà em vợ là thi sĩ Đinh-Hùng. Ôi tình nghiã bao năm như vậy mà chỉ vì một chút “quáng” đã làm cho huynh đệ ly tan ! Riêng đối với Ông, con người còn tình người, chân thật và chất phác thì vẫn “một tấc thành” không a dua xu nịnh với ai.
Bây giờ xuân và tết đến, thôi hãy quên hết moi sự mà nghe khúc tân thanh của năm con rồng. Theo tôi, ý giả của câu cuối bài thơ này là như vậy; nhưng nghĩ kỹ hơn,nếu chúng ta ở Saigon trong thời điểm đó thì “khúc tân thanh” ở đây chính là những loa tuyên truyền ra rả sáng chiều mà cộng sản đặt ở khắp phường phố. Cũng có thể nghĩ xa hơn, khúc tân thanh chỉ là sự rút gọn của “khúc Đoạn trường tân thanh” mà từ nay còn phải ngâm mãi. Với một bài thơ xuân như thế được phổ biến ra ngoài, thi sĩ Vũ-hoàng-Chương tránh sao khỏi bị bắt vì tội phản động. Nhưng chưa hẳn như vậy.
Món quà chiêu dụ bất thành .
Hãy trở lại vài chục năm về trước, chúng ta được biết thi sĩ Vũ sinh năm 1916. Hai chục năm sau vào thời điểm thi sĩ trưởng thành thì phong trào thi ca lãng mạn nở rộ do ảnh hưởng của văn chương Pháp. Cùng thời với Vũ-hoàng-Chương còn có rất nhiều văn nhân thi sĩ khác cùng nổi tiếng trên văn thi đàn, trong đó có Huy-Cận (tên thật là Cù-huy-Cận) sinh năm 1919. Huy-Cận cũng là một nhà thơ nổi tiếng, điển hình là bài “Ngậm ngùi” đã được phổ nhạc mà chúng ta thường nghe. Huy-Cận kém Vũ-hoàng-Chương ba tuổi và xuất bản tập thơ đầu “Lửa Thiêng” sau khi Vũ-hoàng-Chương đã có thi tập “Thơ say” và “Mây” đang sắp phát hành. Vì thế Huy-Cận coi thisĩ Vũ như anh.
Hai người cũng chơi với nhau khá thân. Một hôm Huy-Cận bất ngờ gặp Vũ-hoàng-Chương và rủ Ông đi ăn phở. Vì mới ra tập thơ đầu lại cũng có ý thân mật so sánh nên Huy-Cận nửa đùa nửa thật vỗ vai Vũ-hoàng-Chương nói rằng:
“Đã lâu lại gặp ‘chàng Say’
‘Lửa Thiêng’ xin đốt chờ ‘Mây’ xuống trần
Vũ-hoàng-Chương cũng hơi khựng một chút, nhưng vui vẻ đáp ngay:
‘ Mây’ kia chẳng chịu xuống trần
Lửa ơi theo khói lên gần với ‘Mây’.
Hai người đối đáp với nhau như thế, vừa có ý kiêu ngạo, vừa có ý thân thiện, thật xứng đôi. Rồi thời gian trôi qua, năm 1946 Huy-Cận ra bưng theo kháng chiến dùng thi tài của mình để phục vụ bác và đảng, được sủng ái nên đã có thời leo lên đến chức Thứ trưởng bộ Văn hóa. Vũ-hoàng-Chương thì chạy tản cư, cũng có làm một số bài thơ ái quốc, nhưng sau đó hồi cư về lại Hanoi rồi di cư vào Saigon theo hiệp định Genève năm 1954, vẫn tiếp tục nghiệp thơ và sinh sống bằng nghề dạy học.
Vật đổi sao dời, năm 1975 miền nam bị bỏ rơi và cộng sản thắng đại cái “đại thắng muà xuân”.Và hai thi nhân lại có dịp gặp nhau trong hoàn cảnh éo le quốc cộng. Huy-Cận được cử vào Saigon cùng với một phái đoàn với mục đích thăm dò và chiêu dụ các văn nghệ sĩ miền Nam.
Dĩ nhiên người mà Huy-Cận muốn gặp đầu tiên là Vũ-hoàng-Chương cũng vì tình bạn cũ và cũng nghĩ rằng nếu chiêu dụ được Vũ theo cách mạng thì mình lập được công lớn. Vì vậy Huy-Cận đã sửa soạn cuộc thăm viếng rất trọng thể. Lễ vật đến thăm Vũ-hoàng-Chương gồm một chai rượu quí, một lọ đầy thuốc phiện và cũng không quên mang theo một bức hình Hồ chí Minh. Rượu và thuốc thì để biếu bạn, còn bức hình thì Huy-Cận ước mong sẽ được Vũ-hoàng-Chương đề tặng cho mấy vần ca ngợi để có bằng chứng báo cáo lấy công đầu.
Cuộc gặp gỡ diễn ra tốt đẹp sau bao năm xa cách. Vũ-hoàng-Chương đón Huy-Cận như một bạn cố tri nồng nàn vui vẻ. Sau khi Huy-Cận ngỏ ý muốn Vũ đề thơ thì Ông trầm mặc không nói gì. Huy-Cận khi ra về có hẹn ba ngày sau sẽ cho người đến xin lại bức hình, Vũ-hoàng-Chương cũng chỉ ậm ừ tiễn bạn.
Đúng ba ngày sau khi nhân viên của Huy-Cận tới thì thấy trên bàn vẫn còn y nguyên hai món lễ vật và bức hình, Vũ-hoàng-Chương không hề đụng tới mặc dù rượu với thuốc phiện đối với Ông là rất quí hiếm. Còn bức hình thì vẫn chỉ là bức hình như khi đem tới,không một nét chữ đề. Được báo cáo lại, dĩ nhiên là Huy-Cận tím mặt. Nhưng Ông biết tính họ Vũ là ngưòi không dễ lung lạc nên cũng đành thôi.
Vũ-hoàng-Chương, ông qủa là một người có khí phách. Ông có một cơ hội an thân nhưng Ông đã không làm, chỉ vì tấm lòng Ông “một tấc thành” nên Ông phải giữ tiết tháo không a dua theo thời cuộc. Thế là lại có thêm một cái ‘họa’. Nhưng như thế vẫn chưa hết.
Chê thơ Tố-Hữu và dạy cộng sản cách làm thơ.
Theo một bài đăng trên “net” của tác giả Sông-Lô viết về Vũ-hoàng-Chương nhận xét thơ Tố-Hữu, được biết phái đoàn từ bắc vô nam cùng với Huy-Cận như đã nói ở đoạn trên còn có nhiều nhân vật sáng giá khác như Tố-Hữu, Hoài-Thanh, Xuân-Diệu, Vũ-đình-Liên…. Phái đoàn được ký giả nằm vùng Thanh-Nghị tiếp đón và tổ chức một đêm”họp mặt văn nghệ” với các nhân vật gạo cội miền Nam để cùng đánh giá văn hoá hai miền ngõ hầu thống nhất tư tưởng về một mối. Buổi họp này Vũ-hoàng-Chương đã được mời và có tham dự. Đề tài được đưa ra là mấy câu thơ của Tố-Hữu đã làm để khóc Stalin khi ông trùm đỏ Nga-sô này chết vào năm 1953. Hai câu thơ đã gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp cùng đầy đủ tiếng khen chê đối với tên trùm văn nghệ cộng sản này là câu:
“Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười “
Thanh-Nghị với tư cách nằm vùng theo cộng sản từ lâu, coi như đại diện miền nam, dĩ nhiên ca ngợi thơ Tố-Hữu hết mình. Rồi lần lượt đến Xuân-Diệu, Huy-Cận, Vũ-đình-Liên từ ngoài bắc vào lên diễn đàn thì khỏi nói. Cũng cần có một tiếng nói miền nam cho xôm tụ, cho nên Hoài-Thanh khẩn khoản mời Vũ-hoàng-Chương lên phát biểu với dụng ý là họ Vũ, một thi bá đương thời, nhưng vốn người trầm mặc hiền hoà chắc cũng chỉ vuốt theo mà không nói điều gì nghịch ý. Xin trích nguyên văn sau đây một đoạn của Sông-Lô:
“Ai đã biết Vũ-hoàng-Chương ắt phải biết cái đanh thép bên trong tấm thân nhỏ bé ọp ẹp của ông. Đôi ba lần tạ từ không được, đành nhảy vào ưỡn ngực “ hò kéo pháo”, nhưng trước khi vào cuộc họ Vũ đã yêu cầu cử tọa thông cảm nếu có chỗ nào thất thố vì ông sợ rằng những gì ông muốn trình bày sẽ làm tổn thương cái ‘sáng giá’ của đêm họp ‘văn nghệ đặc biệt’ này, bởi vì ‘tất tần tật’ đã thẩm định rồi.”
Sau đây là lời của Vũ-hoàng-Chương;
“Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.
Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được ‘đóng khung’ tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố-Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên, đạt đến một mức độ điêu luyện cao. Lời thẩm định của Thanh-Nghị thật xác đáng,tôi chịu. Nhưng thơ không phải chỉ có thế.Xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt; tức chưa phải là hay. Thơ hay cần phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép. Vấn đề của thơ,nói cho đến nơi, là ở đây, có nghiã là thơ phải thực.
Tố-Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ Việtnam, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ Việtnam yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca; nhưng trước hết phải biết bà mẹ Việtnam có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?
Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài ‘Đời đời nhớ Ông’ Tố-Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:
“Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin “
Chắc chắn là không có một bà mẹ Việtnam nào, kể cả Bà Tố-Hữu, mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. Cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu sau ta đang mổ xẻ.
Một tình tự không chân thực, dù đươc luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp,thơ hay, mà chỉ là thơ khéo làm; đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thợ thơ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi một tuyên truyền nào đó. Tố-Hữu nếu khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Nhưng bà mẹ Việtnam trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm“.
Vẫn theo lời kể của Sông-Lô thì lời thẩm định này đã gây sôi nổi trong đám thính giả có mặt hôm đó. Muốn phản bác luận điệu của Vũ-hoàng-Chương, có người đã yêu cầu Ông nói về thơ để hòng bắt bẻ này nọ, nhưng Ông vẫn ôn tồn phát biểu:
“Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại thơ tình tự hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo; nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy.
“Tôi xin nhắc ; sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca; vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian,thời gian, chân lý cuộc sống.”
Sau đêm hôm ấy, hình như có một buổi họp khẩn cấp của các “nhân vật then chốt” cộng sản, và Vũ-hoàng-Chương đã bị bắt. Như vậy cái tội phản động của thi sĩ họ Vũ không phải là một mà có đến ba : bắt đầu từ bài thơ thời sự , kế đến không nể nang tình bạn và sau cùng là đã dạy khôn cho kẻ đang thắng thế. Theo Sông-Lô thì Vũ-hoàng-Chương không phải là người dại, cũng không phải người can đảm mà Ông chính là người của tự do không phải quị lụy trước bất cứ một áp lực nào.
Niềm hãnh diện cuối đời : Thủ-tướng bưng bô.
Vũ-hoàng-Chương bị bắt vào khám Chí hòa, giam chung cùng một số nhà trí thức khác. Với thân hình gầy yếu sẵn có, phải ăn cơm tù đạm bạc lại thêm thiếu thuốc phiện thì làm sao mà Ông chịu nổi. Có thể nói bao nhiêu ngày trong tù, Ông đau yếu cả bấy nhiêu ngày. Sức lực Ông kiệt quệ dần dần, đã có lúc phải nằm liệt giường. Chính quyền “giải phóng” biết Ông không còn sống nổi bao lâu, nên sau thời gian giam giữ đã quyết định thả Ông về để tránh tiếng Ông bị bức tử trong tù. Về nhà gặp lại vợ con, dĩ nhiên là Ông mừng rỡ, nhưng trong đáy lòng hình như Ông có điều gì thỏa mãn vì tuy nằm bep trên giường Ông không có vẻ sầu héo bi lụy của một người gần đất xa trời. Một hôm Ông thố lộ là ở trong tù Ông có phần thích thú vì đã được Thủ-tướng bưng bô vệ sinh cho mình. Mãi sau người nhà Ông mới biết bị giam chung cùng với Ông là Bác sĩ Phan-huy-Quát. Bác sĩ Quát đã có thời làm Thủ-tướng chính phủ dân sự do Cụ Phan-khắc-Sửu là Quốc trưởng. Vì mến thương Vũ-hoàng-Chương và vì lương tâm của người y sĩ, trong thời gian bị giam chung, Bác sĩ Quát đã tận tình chăm sóc cho nhà thi sĩ bất hạnh đau yếu, và không ngần ngại giúp đỡ cả việc vệ sinh hàng ngày. Đó là niềm vui cuối cùng của thi sĩ họ Vũ trước khi Ông lìa đời ngày 6 tháng 9 năm 1976.
Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
UyenMai  
#72 Posted : Thursday, September 11, 2014 9:57:56 AM(UTC)
UyenMai

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/23/2011(UTC)
Posts: 625

Thanks: 226 times
Was thanked: 467 time(s) in 384 post(s)


Những mỹ nhân lừng lẫy Sài Gòn một thuở



UserPostedImage

Đặng Tuyết Mai


Bà là vợ của Phó tổng thống chính thể Sài Gòn Nguyễn Cao Kỳ. Xuất thân trong một gia đình gia giáo ở Bắc Ninh, thời thơ ấu Đặng Tuyết Mai sống ở Hà Nội. Năm 1953, cô theo bố mẹ vào Nam, định cư ở Đà Lạt, học tại trường Yersin Đà Lạt. Được dạy dỗ cẩn thận, Tuyết Mai học rất giỏi, thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp.

Trước khi lập gia đình Đặng Thị Tuyết Mai là một trong 4 nữ tiếp viên hàng không đầu tiên của Hãng hàng không Air Vietnam. Mối tình của Đặng Tuyết Mai và Nguyễn Cao Kỳ bắt nguồn từ một chuyến bay từ Manila về Việt Nam.

Từ buổi gặp gỡ đầu tiên đó, tướng Kỳ đã gặp phải lòng mối tình 'sét đánh' và mở đầu cho một câu chuyện tình đẹp giữa 2 người. Chắc hẳn người dân Sài Thành xưa vẫn chưa quên cảnh tướng Kì lái máy bay riêng để thả thư tỏ tình với Tuyết Mai.

UserPostedImage


Đám cưới của nữ tiếp viên hàng không Air Vietnam Đặng Tuyết Mai với tướng Nguyễn Cao Kỳ diễn ra tại khách sạn Caravelle đã làm tốn hao biết bao giấy mực của báo giới đương thời. Cô con gái và là MC hải ngoại nổi tiếng Nguyễn Cao Kì Duyên là dấu ấn bằng xương bằng thịt của chuyện tình thuộc dạng 'thiên duyên kỳ ngộ này..



-------------------------



UserPostedImage

Trần Lệ Xuân


Bà là vợ ông Ngô Đình Nhu, em trai của Ngô Đình Diệm, Tổng thống VNCH. Ngô Đình Diệm không có vợ, vì thế những nghi lễ ngoại giao, bà Lệ Xuân được phép hành xử như cương vị Đệ nhất phu nhân.

Mẹ là bà Thân Thị Nam Trân, cháu ngoại vua Đồng Khánh và em họ của vua Bảo Đại. Cha của bà là luật sư Trần Văn Chương. Lúc nhỏ, bà học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, tốt nghiệp tú tài Pháp.


UserPostedImage


Thời bấy giờ, bà đã vận động Nghị viện của Việt Nam Cộng hòa ban hành bộ luật gia đình cấm ly dị và chỉ một vợ một chồng và gặp không ít rắc rối trong vấn đề này.

Trần Lệ Xuân là một phụ nữ đẹp, dáng vẻ thanh thoát. Hình ảnh mà người ta nhớ về bà nhiều nhất là chiếc áo dài cổ thuyền đặc biệt do chính tay bà vẽ kiểu. Trong dân gian gọi 'áo dài bà Nhu'.


-------------------------



UserPostedImage

Nguyễn Thị Mai Anh


Vốn là người kín kẽ, vợ Tổng thống chính thể Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu ít khi phô trương hình ảnh. Bà là con gái một gia đình gia thế gốc người Mỹ Tho. Nguyễn Thị Mai Anh có dáng dấp hết sức sang trọng, quý phái.


UserPostedImage

Quý bà Mai Anh vô cùng quyền quý và đài các.


Bà được đánh giá là một trong những phu nhân ứng xử khéo léo và đôi khi rất cao tay đối với những người đẹp vây quanh chồng mình. Nhiều tài liệu cho rằng, chính bà Mai Anh đã khiến ca sỹ Kim Loan, người có nhan sắc và giọng hát mê hoặc Nguyễn Văn Thiệu phải 'cao chạy xa bay' tận trời tây.


-------------------------



UserPostedImage

Thẩm Thúy Hằng
Người đẹp Bình Dương


Thẩm Thúy Hằng sinh ra ở đất Hải Phòng nhưng sau đó bà chuyển vào An Giang sinh sống. Sự nghiệp điện ảnh của bà bắt đầu từ vai diễn vào năm 1958, khi bà chỉ mới 18 tuổi.

Cũng chính vai diễn đầu tiên này đã giúp tên tuổi của Thẩm Thúy Hằng tỏa sáng như một ngôi sao đình đám lúc bấy giờ. Trước đó, khi mới 16 tuổi bà đã giành được giải thưởng cao nhất khi tham gia một cuộc thi tuyển diễn viên điện ảnh.

Sở hữu một nhan sắc được xem là tuyệt đỉnh giai nhân lúc bấy giờ, Thẩm Thúy Hằng có thể khiến người đối diện bị cuốn hút bởi nét đẹp sắc sảo mà tự nhiên của mình. Nếu ngắm lại những bức ảnh thời trẻ của nữ diễn viên điện ảnh tài sắc này, không ít khán giả sẽ phải ngỡ ngàng trước vẻ đẹp trên gương mặt và cả vóc dáng của bà.

Không chỉ vậy, nhan sắc và tài năng của bà còn vươn xa ra khu vực châu Á khi được nhiều nhà sản xuất ở các nước như Hoa Kỳ, Thái Lan, Hồng Kông, Nhật Bản, Đài Loan… mời hợp tác.


UserPostedImage

Nhan sắc huyền thoại của Thẩm Thúy Hằng.


Về sự nghiệp phim ảnh, mặc dù đã từng đóng rất nhiều vai khác nhau nhưng dấu ấn mà Thẩm Thúy Hằng để lại trong lòng khán giả sâu đậm nhất vẫn là bộ phim Người đẹp Bình Dương. Bằng tài năng xuất sắc của mình, bà đã chinh phục đông đảo khán giả và còn đạt rất nhiều giải thưởng ở các liên hoan phim quốc tế.

Tiếng tăm của Thẩm Thúy Hằng thời điểm đó còn sánh ngang với những ngôi sao minh tinh của châu Á. Những năm sau 1975, bà cũng tham gia một số bộ phim về cách mạng và sau đó khép lại con đường nghệ thuật của mình bằng vai diễn cuối cùng trong vở kịch Lôi Vũ.


-------------------------



UserPostedImage

Kim Cương
Kim Cương sống mãi trong lòng khán giả.


Kim Cương vốn là người bạn thân thiết lâu năm với NSƯT Thẩm Thúy Hằng. Mặc dù tỏa sáng trên con đường nghệ thuật gần như cùng thời điểm nhưng có thể nói, con đường mà NSND Kim Cương trải qua cũng gặp không ít gian truân.

Xuất thân từ gia đình có truyền thống nghệ thuật lâu đời, có mẹ là cố NSND Bảy Nam nên NSND Kim Cương cũng chịu sự ảnh hưởng rất nhiều. Ngay từ khi còn nhỏ, bà đã theo gia đình để mưu sinh bằng nghề diễn.


Khác với người bạn thân Thẩm Thúy Hằng, tên tuổi Kim Cương lại gắn liền với sân khấu kịch nói hơn là điện ảnh, mặc dù bà cũng tham gia đóng phim không ít.

Rất nhiều vai diễn để đời của bà là những nhân vật đã từng lấy nước mắt của đông đảo khán giả nhiều thế hệ. Trong số đó, có phần lớn các tác phẩm do chính NSND Kim Cương viết kịch bản. Vì vậy, bà cũng đã được sách kỷ lục Việt Nam ghi nhận là nữ nghệ sỹ viết nhiều kịch bản kịch nói nhất Việt Nam.

Được mệnh danh là một 'kỳ nữ' của làng sân khấu kịch nói miền Nam lúc bấy giờ, NSND Kim Cương không chỉ thu hút khán giả bằng tài năng diễn xuất mà còn là nhan sắc mặn mà của bà. Hàng loạt vở kịch mang đậm dấu ấn của cái tên Kim Cương mà rất nhiều khán giả có thể nhắc đến như: Lá sầu riêng, Trà hoa nữ, Lôi Vũ, Bông hồng cài áo…

Ngoài ra, bà cũng là người cùng góp mặt với cô bạn Thẩm Thúy Hằng trong bộ phim nổi tiếng Tứ quái Sài Gòn vang bóng một thời. Những năm sau 1975, NSND Kim Cương vẫn thỉnh thoảng tham gia một số chương trình nghệ thuật song song với việc từ thiện giúp đỡ những mảnh đời khó khăn, bất hạnh.


-------------------------



UserPostedImage

Thanh Nga


Là một trong bộ ba người bạn thân cùng với NSND Kim Cương và NSƯT Thẩm Thúy Hằng, con đường nghệ thuật của NSƯT Thanh Nga lại tỏa sáng trong lĩnh vực sân khấu cải lương.

Tuy vậy, gia tài phim ảnh của bà cũng không hề nhỏ và những vai diễn của bà dù ở bất cứ lĩnh vực nào cũng nhận được rất nhiều tình cảm từ công chúng.

Thập niên 60 - 70, nhắc đến Thanh Nga, có thể nói là không ai không biết đến tên tuổi của bà với nhan sắc và tài năng thuộc hàng bậc nhất ở Sài Gòn. Nét đẹp sang trọng, quý phái và đậm chất Á Đông của bà luôn khiến những người mộ điệu phải trầm trồ khen ngợi.

Tỏa sáng dưới ánh đèn sân khấu là vậy, nhưng cuộc sống riêng tư của NSƯT Thanh Nga cũng không may mắn có được sự suôn sẻ và bà cũng đã trải qua hai cuộc hôn nhân trong đời.


UserPostedImage


Với vẻ đẹp sắc nước hương trời và tài năng của mình,
Thanh Nga đã được công chúng ưu ái dành tặng cho danh hiệu 'Nữ hoàng sân khấu'.


Không chỉ vậy, bà luôn là mục tiêu theo đuổi của rất nhiều người đàn ông địa vị, giàu có ở Sài Gòn thời điểm đó. Thế nhưng, đường tình lại gian truân, đúng với câu 'hồng nhạc bạc phận', những vai diễn trắc trở trên sân khấu dường như cũng vận vào cuộc đời của bà.

Năm 1978, sự ra đi bất ngờ của bà sau một vụ sát hại đã để lại niềm thương tiếc cho rất nhiều khán giả ái mộ mình. Cho đến tận bây giờ, khi nói đến NSƯT Thanh Nga, công chúng vẫn nhắc đến bà như một nữ nghệ sỹ tài sắc vẹn toàn bậc nhất trong làng nghệ thuật sân khấu miền Nam.


-------------------------



UserPostedImage

Kiều Chinh
Người phụ nữ sống cả đời vì thiện nguyện.


Nổi tiếng ở miền Nam nhưng Kiều Chinh lại được sinh ra ở Hà Nội. Kiều Chinh gây ấn tượng với nhiều người bởi vẻ đẹp khá hiện đại của bà. Điều đó cũng đã ảnh hưởng trong phong cách diễn xuất của bà và có lẽ, đây cũng là lý do mà bà được mời tham gia trong một số bộ phim của Hollywood thời điểm đó.

Với vai nữ chính trong phim Hồi chuông Thiên Mụ vào năm 1957, Kiều Chinh đã nhanh chóng trở thành một trong những ngôi sao sáng của làng điện ảnh Việt Nam. Những năm sau này, bên cạnh vai trò của một diễn viên, Kiều Chinh còn kiêm luôn công việc của một nhà sản xuất phim.

Các bộ phim do bà đảm nhận vai chính hoặc tổ chức sản xuất luôn nhận được những phản ứng tích cực từ giới chuyên môn và giúp bà giành được khá nhiều giải thưởng quốc tế.

Ít ai biết rằng, một bộ phim tài liệu của Mỹ nói về diễn viên Kiều Chinh của Việt Nam đã từng nhận được giải thưởng Emmy tại Hoa Kỳ.

Khó có thể phủ nhận tài năng của người phụ nữ gốc Hà Thành này bởi điều đó cũng đã được minh chứng qua những giải thưởng danh giá khác mà bà có được như giải 'Thành tựu suốt đời'. Hiện, Kiều Chinh đang định cư ở Mỹ nhưng thỉnh thoảng bà vẫn về thăm quê hương.

Không chỉ là một phụ nữ hướng về cội nguồn mà bà còn là người đóng góp rất lớn cho một tổ chức từ thiện gồm một số người bạn nước ngoài của bà để xây dựng gần 50 trường học ở Việt Nam.


(st)
thanks 1 user thanked UyenMai for this useful post.
Thy Lan Thao on 9/11/2014(UTC)
Sương Đêm  
#73 Posted : Friday, September 19, 2014 2:47:57 AM(UTC)
Sương Đêm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/8/2012(UTC)
Posts: 601
Switzerland
Location: Lucerne

Thanks: 1625 times
Was thanked: 592 time(s) in 454 post(s)


Còn Nhớ Chăng Tiếng Lóng Sài Gòn?


Lê Văn Sâm


UserPostedImage


Một thời, một nơi chốn nào đó, trong đời sống ngôn ngữ dân gian lại nảy sinh ra một số tiếng lóng, một số thành ngữ, một câu hát nhại theo câu hát chính phẩm, hầu hết là để châm biếm, tạo nên nụ cười, hay có khi là để răn đe, tìm sự hoàn thiện trong cuộc sống, chúng chỉ sống một thời rồi tự biến mất, nhường chỗ cho đoạn đời “tiếng lóng” khác đến thay thế. Do đó, việc ghi chúng lại để đọc vui chơi hay phục vụ nghiên cứu văn học dân gian, chỉ có giá trị, khi ghi rõ định vị địa lý và thời gian.

Tỷ như Sài Gòn vào thập niên 60, thịnh hành tiếng lóng “sức mấy” để thay nói bất lực hay chuyện không thể. Phổ biến đến nỗi, một nhạc sĩ đã chọn làm đề tài cho một bài hát đường phố “Sức mấy mà buồn, buồn chi bỏ đi Tám”.

Những câu chuyện thuộc loại tiếng lóng đó xuất hiện vào thời buổi Sài Gòn thời chiến, quê hương chiến tranh buồn phiền; “sức mấy” đã trở thành bút hiệu của một chuyên mục phiếm luận trên báo, sau đó một kỹ thuật gia sản xuất còi ôtô đã chế ra một điệu còi ôtô, bấm còi là kêu vang trên phố một dòng nhạc còi auto 9 nốt “tính tính tè tè, tè ti tè ti té”, làm cho đường phố càng náo loạn hơn.

Trước đó cũng từ bài ca Diễm xưa của Trịnh Công Sơn mà sinh ra tiếng lóng “xưa rồi Diễm ơi”, mỗi khi có ai lặp lại một đòi hỏi nào đó, mà người nghe không muốn nghe thêm nữa.

Thời các vũ trường mới du nhập Sài Gòn như Mỹ Phụng, Baccara, Tháp Ngà, thì dân chơi gọi Tài-pán tức người điều phối nhóm vũ nữ, bằng tiếng lóng “Cai gà”, gọi cảnh sát là “mã tà”, vì police (cảnh sát) hay mang cái dùi cui, tiếng Tây là matraque, đọc trại thành “mã tà”.

Cũng từ thời thuộc địa, tiếng Tây chế ra tiếng lóng âm Việt rất nhiều như: “gác-dang” tức thuê người làm bảo vệ; tiếng Pháp "gardien" đọc trại ra thành gác-dang. Cũng như nói “de cái đít” tức lùi xe "arriere"; tiền cho thêm người phục vụ tiếng Pháp: "pour-bois" âm bồi gọi “tiền boa”, sau này chế ra là “tiền bo”. Cũng thời Pháp thuộc, Sài Gòn có nhiều cách nói mà đến nay không ai biết nguyên do. Tỷ như gọi sở bưu điện là nhà dây thép, mua tem dán bao thư gọi là “con cò”, còn nếu gọi “ông cò” là chỉ cảnh sát trưởng mấy quận ở thành phố, gọi “thầy cò” tức là các ông chữa morasse các tòa báo do chữ correcteur, nhưng nói “cò mồi” là tay môi giới chạy việc, “ăn tiền cò” thì cũng giống như “tiền bo”, nhưng chữ này chỉ dùng cho dịch vụ môi giới.

Thời kinh tế phát triển, đi xe auto gọi là đi “xế hộp”, đi xe ngựa gọi là đi “auto hí”, đến thời xe máy nổ ầm ào, đi xe đạp gọi là “xe điếc”, đi nghỉ mát Vũng Tàu gọi là “đi cấp”, đi khiêu vũ gọi là “đi bum”, đi tán tỉnh chị em gọi là đi “chim gái”, đi ngắm chị em trên phố gọi là “đi nghễ”, gọi chỉ vàng là “khoẻn”, gọi quần là “quởn”, gọi bộ quần áo mới là “đồ día-vía”. Ði chơi bài tứ sắc các bà gọi là“đi xòe”, đi đánh chắn gọi là “múa quạt”, đi chơi bài mạt chược các ông gọi là “đi thoa”, đi uống bia gọi “đi nhậu”, đi hớt tóc gọi đi “húi cua”.

Có một cụm tiếng lóng từ Huế khoảng 1920 – 1950 du nhập Sài Gòn, đó là “đi đầu dầu”, tức các chàng trai ăn diện “đi nghễ” với đầu trần không mũ nón, để cái mái tóc chải dầu brillantine láng cóng, dù nắng chảy mỡ. Tuyệt vời gọi là “hết sẩy”, quê mùa chậm chạp gọi là “âm lịch”, hách dịch tự cao gọi là “chảnh”.
Tiền bạc gọi là “địa”, có thời trong giới bụi đời thường kháo câu “khứa lão đa địa” có nghĩa ông khách già đó lắm tiền, không giữ lời hứa gọi là “xù”, “xù tình”, tức cặp bồ rồi tự bỏ ngang. Làm tiền ai gọi là “bắt địa”, ăn cắp là “chôm chỉa”, tương tự như “nhám tay” hay “cầm nhầm” những thứ không phải của mình.

Ghé qua làng sân khấu cải lương hát bội, người Sài Gòn gọi là làng “hia mão”, có một số tiếng lóng người ngoài làng có khi nghe không hiểu. Tỷ như gọi “kép chầu”, có nghĩa là đào kép đó tuy cũng tài sắc nhưng vì một lý do nào đó không được phân vai diễn gánh hát, đêm đêm họ cũng xách vali trang phục phấn son đến ngồi café cóc trước rạp hay túc trực bên cánh gà, để đợi, ngộ nhỡ có đào kép chính nào trục trặc không đến rạp được, thì kép chầu thay thế vào ngay. “Kép chầu” phải thuần thục rất nhiều tuồng để đau đâu chữa đó. Ðào chính chuyên đóng vai sầu thảm gọi là “đào thương”, kép chính chuyên đóng vai hung tàn gọi là“kép độc”.

Có một cụm tiếng lóng xuất phát từ hai nơi, một là cải lương rạp hát, hai là quanh các tòa soạn báo chí, đó là “café à la… ghi” tức uống café thiếu ghi sổ…

Vào làng báo mà tiếng lóng người Sài Gòn xưa gọi “nhật trình”. Nếu thiếu tin lấy một tin cũ nhưng chưa đăng báo để đăng lấp chỗ trống, gọi là “tin kho tiêu”, các loại tin vớ vẩn dăm dòng từ quê ra tỉnh gọi là “tin chó cán xe”, tin quan trọng chạy tít lớn gọi là “tin vơ-đét” => vedette, nhặt từ tài liệu dài ra thành một bài gọn gọi là “luộc bài”, chắp nhiều thông số khác nguồn ra một bài gọi là “xào bài”, truyện tình cảm dấm dớ gọi là“tiểu thuyết 3 xu”, các tạp chí bình dân xoi mói đời tư gọi là “báo lá cải”. Làng nhật trình kỵ nhất là loan tin thất thiệt, lóng gọi là “tin phịa”, nhưng trong “tin phịa” còn có hai mảng chấp nhận được đó là loan tin thăm dò có chủ đích, lóng gọi là “tin ballons” tức thả quả bóng thăm dò, hay tin thi đua nói dối chỉ được xuất hiện vào đầu tháng tư, gọi là “tin Cá tháng Tư”.

Có đến bảy tiếng lóng để thay cho từ chết. Ðó là “tịch”, “hai năm mươi”, “mặc chemise gỗ”, “đi auto bươn”, “về chầu diêm chúa”, “đi buôn trái cây” hay “vào nhị tỳ”, “nhị tỳ” thay cho nghĩa địa và “số dách” thay cho số một… đều ảnh hưởng từ ngôn ngữ minh họa theo người Hoa nhập cư.

Thời điểm truyện và phim kiếm hiệp của Kim Dung nói chung là chuyện Tầu thịnh hành, người Sài Gòn đã chế ra nhiều tiếng lóng, như ai dài dòng gọi là “vòng vo Tam Quốc”, ai nói chuyện phi hiện thực gọi là “chuyện Tề Thiên”, tính nóng nảy gọi là “Trương Phi”. Một số tên nhân vật điển hình của Kim Dung được dùng để chỉ tính cách của một người nào đó. Tỷ như gọi ai là “Nhạc Bất Quần” tức ám chỉ người ngụy quân tử, đạo đức giả, gọi là “Ðoàn Chỉnh Thuần” tức ám chỉ đàn ông đa tình có nhiều vợ bé…
(SĐ: Và ai có tánh hoài nghi = gọi là Tào Tháo ! BigGrin )

Sài Gòn là đất của dân nhập cư tứ xứ, nơi tha hương văn hóa bốn phương, nên ngôn ngữ càng thêm phong phú, trong đó tiếng lóng cũng “ăn theo” mà ra đời.
Thời Mỹ đến thì một tiếng “OK Salem”, mà các trẻ bụi đời vừa chạy vừa la để xin ông Mỹ điếu thuốc.

Thời gọi súng là “sén” hay “chó lửa”, dân chơi miệt vườn gọi “công tử Bạc Liêu” còn hiểu được, Sài Gòn xuất hiện cụm từ “dân chơi cầu ba cẳng” thì thật không biết do đâu? Có lẽ cầu ba cẳng có tên Pallicao, lêu nghêu 3 cẳng cao như dáng vẻ cowboy trong các phim bắn súng, nên mới gọi “dân chơi cầu ba cẳng”? Ðó cũng là lúc các tiếng lóng như “dân xà bát”, “anh chị bự”, “main jouer” tay chơi ra đời, chạy xe đua gọi là “anh hùng xa lộ”, bị bắt gọi là “tó”, vào tù gọi là “xộ khám”. Bỏ học gọi là “cúp cua”, bỏ sở làm đi chơi gọi là “thợ lặn”, thi hỏng gọi là “bảng gót”.

Cũng do scandal chàng nhạc sĩ nổi tiếng kia dẫn em dâu là ca sĩ K.Ng. qua Nhà Bè ăn chè, để ngoại tình trong túp lều cỏ bị bắt, từ đó “đi ăn chè” trở thành tiếng lóng về hành vi ngoại tình trốn ra ngoại ô.

Cũng có một số tiếng lóng do nói lái mà ra như “chà đồ nhôm” tức “chôm đồ nhà”, “chai hia” tức chia hai chai bia bên bàn nhậu, nó cùng họ với “cưa đôi”. Lóng thời sự loại này có “tô ba lây đi xôxích le” tức “Tây ba lô đi xe xích lô”.

Trong tiếng lóng còn chất chứa ân tình. Họa sĩ chuyên vẽ tranh sơn mài đề tài lá hoa sen xuất thân xứ Ca Trù hay than “buồn như chấu cắn”, hay có người than phiền vì câu né tránh trách nhiệm với hai tiếng “lu bu” để thất hứa, nay còn có người nhấn them “lu xu bu” nại lý do không rõ ràng để trốn việc.

Ðể tạm kết thúc phần dẫn này, tôi muốn nhắc một số âm sắc Bắc Hà. Những âm sắc theo chân người Hà Nội vào Nam rồi trở thành tài sản chung của người Việt. Bắt quả tang thành “quả tó”, gọi chiếc xe Honda là “con rim”, gọi tờ giấy 100USD là “vé”, đi ăn cơm bình dân gọi là “cơm bụi”, xuống phố dạo chơi gọi là “đi bát phố”, gọi người lẩm cẩm là“dở hơi”…


Very interesting, Thank's!
-SĐ-
Sương Đêm  
#74 Posted : Tuesday, September 23, 2014 12:06:20 AM(UTC)
Sương Đêm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/8/2012(UTC)
Posts: 601
Switzerland
Location: Lucerne

Thanks: 1625 times
Was thanked: 592 time(s) in 454 post(s)



Kính chuyển đến quý vị... Tùy nghi nhận định...



Preview YouTube video PHẬT GIÁO VIỆT NAM - CHÍ MINH TÔNG - SƯ QUỐC DOANH





(st)
thanks 1 user thanked Sương Đêm for this useful post.
Thy Lan Thao on 9/24/2014(UTC)
HongLan  
#75 Posted : Wednesday, September 24, 2014 12:48:15 AM(UTC)
HongLan

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/23/2011(UTC)
Posts: 697
Switzerland
Location: Lucerne

Thanks: 602 times
Was thanked: 622 time(s) in 428 post(s)

BÍ ẨN HIỆN TƯỢNG XÁC CÁC THÁNH KHÔNG HƯ NÁT


QUYỀN NĂNG CỦA SIÊU NHIÊN


Có những thi thể không bị rữa nát qua thời gian dù không trải qua bất cứ sự can thiệp kỹ thuật nào. Hiện tượng có vẻ đi ngược với quy luật tự nhiên này được gọi là nhục thân bất hoại (incorruptible body).


Các tài liệu tôn giáo ghi nhận nhiều trường hợp các vị thánh “nhục thân bất hoại” : Thánh Jean Marie Baptiste Vieanney [Gioan Maria Vianê] (1786-1859) được khai quật năm 1904, xác cũng còn nguyên vẹn. Thánh Francis Xavier [Phanxicô Xaviê] (1506-1552) được chôn cất tại một đảo ở Trung Quốc trong quan tài bằng gỗ. Khoảng 2 tháng rưỡi sau, người ta khai quật mộ ngài để di chuyển, thấy thánh thể vẫn như lúc sống. Hiện nay di hài 400 năm tuổi của ngài vẫn còn nguyên và được lưu giữ tại thành Goa (Ấn Độ).

UserPostedImage
Di hài Thánh Francis Xavier [Phanxicô Xaviê]




Thánh Bernadette (Lourder, Pháp) là một ví dụ điển hình. Bà qua đời ở tuổi 35. Và 30 năm sau đó (1909), vì một nghi lễ tôn giáo, nhà thờ đã khai quật mộ. Đại diện nhà thờ, bác sĩ phẫu thuật và những người chứng kiến đã vô cùng kinh ngạc khi thấy thi thể của bà vẫn nguyên vẹn, dường như đang trong một giấc ngủ dài.


UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

Thánh Bernadette trong quan tài pha lê



Bác sĩ phẫu thuật Tourdan đã ghi lại những gì ông quan sát được: “Cỗ quan tài của bà được mở ra dưới sự chứng kiến của mọi người trong đó có tôi. Di hài của Thánh Bernadette trong trang phục yêu thích của bà không hề có mùi xú uế. Khuôn mặt, bàn tay và cẳng tay lộ ra bên ngoài. Đầu của bà nghiêng sang một bên, miệng hé mở có thể nhìn thấy hàm răng trắng. Hai tay đặt trên ngực, vẫn giữ được lớp da hoàn hảo”. Gia đình của Thánh Bernadette đã làm lễ tắm rửa, thay quần áo và quan tài cho bà. Di hài của bà được đặt vào một vị trí mới sâu trong nhà mồ.

Vào năm 1913, Đức Giáo Hoàng Pius X phong Chân Phước cho Bernadette. Điều này đồng nghĩa với việc mộ của bà được mở ra một lần nữa. Việc này bị gián đoạn đến năm 1919 vì cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Điều kinh ngạc là ở lần khai quật này, di hài của bà vẫn nguyên vẹn.

Năm 1925, Thánh nữ Bernadette được Đức Giáo hoàng Pius XI phong Thánh. Lần thứ ba, mộ bà được mở ra. Di hài được đưa vào một quan tài bằng pha lê cho mọi người chiêm ngưỡng và quàn tại nhà nguyện ở Nhà thờ Lourder cho đến tận ngày nay vẫn còn, nếu có dịp xin mời các bạn đến thăm để được tận mắt chứng kiến.

Hùng hồn không kém là thi hài của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (Đấng triệu tập Thánh Công Đồng Chung Vatican II năm 1962). Ngài qua đời ngày 03/06/1963 khi Công Đồng vẫn đang diễn ra, và sau đó Đức Hồng Y Montini lên ngôi với hiệu triều Đức Thánh Cha Phaolô VI tiếp tục Thánh Công Đồng.


Thi hài của ĐTC John XXIII được đặt ngay bên dưới chân bàn thờ chính của Đền thờ thánh Phêrô để dân chúng chiêm ngắm

38 Năm sau ngày ngài băng hà, Tòa Thánh tiến hành các thủ tục tôn phong Chân Phước cho ngài, khi mở quan tài để kiểm tra thì phát hiện xác chết của ngài không hề mảy may hư nát và thối rữa. Thời gian sau, ngài được tôn phong Chân Phước (Beautification).

Hiện nay, thi hài của ĐTC Gioan XXIII đã được đưa lên đặt trong 1 quan tài bằng pha lê bên dưới bàn thờ chính của Đền thờ Thánh Phêrô để dân chúng có thể kính viếng và chiêm ngắm. Nét mặt ngài vẫn giữ nguyên sức sống và cơ thể không hề bị tẩm ướp bằng bất cứ loại hóa chất nào. Hầm mộ cũ trước đây nơi đặt quan tài của ngài bây giờ đã được thế chỗ bằng quan tài của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.

UserPostedImage
Thi hài Đức Thánh Cha John XXIII




Khoa học đang tìm lời giải


Các tài liệu tôn giáo nhìn chung đều cho rằng hiện tượng các vị thánh đạt tới nhục thân bất hoại là do sức mạnh siêu nhiên của Thiên Chúa, hoặc tu luyện đến độ gột rửa sạch mình đến mức cơ thể không thể bị phân hủy.

Các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục nghiên cứu hiện tượng này, nhưng theo một hướng khác tuy nhiên vẫn chưa có lời giải. Một giả thiết được đưa ra là trong những điều kiện môi trường, vật chất khá đặc biệt (như nhiệt độ, độ ẩm, yếm khí), vi khuẩn bị tiêu diệt làm quá trình phân rã theo tự nhiên không thể thực hiện. Nhưng xem ra giả thiết này không phù hợp, vì khi họ đưa xác các Thánh ra điều kiện môi trường bình thường, nó cũng không bị hư nát.


UserPostedImage
Di hài Thánh Vincent de Paul [Vinhsơn Phaolô]



Cho đến nay, chưa có cơ sở nào để giải thích hiện tượng nhục thân bất hoại. Hiện tượng này đang bị bao phủ bởi một bức màn kỳ ảo, và tất cả vẫn đang là giả thiết.
Khoa học đang đau đầu khi tiếp cận với các thế lực của siêu nhiên.


UserPostedImage
Di hài Thánh Catherine Laboure (1806-1876)




Nữ thánh Klara của thành phố Assisi
UserPostedImage


Bà Thánh thành Assisi, sinh năm 1194. Khấn trọn đời lúc 18 tuổi. Lập dòng Klarissinen khó nghèo,và khiêm nhường. Sau này Mẹ và em gái của bà cung vào tu tại đây. Ngay khi còn sinh tiền nhà dòng của bà đã được phát triển khắp mọi nơi trong và ngoài nước ý. Bà mất ngày 11.8.1253. Thân xác vẫn còn tồn tại yên nghỉ tại nhà thờ của thành Assisi.



Nữ Á Thánh Anna Maria Taigi
UserPostedImage

Sinh Ngày 29.5.1769 tai Siena (Italy). Mất ngày 9.6.1837 tại Roma.


Anna Maria Taigi đã được nhận ơn tiên tri của chúa 25 năm liền. Bà mẹ của 7 người con đã thị kiến thấy một vòng hào quang quanh mặt trời, trong tâm điểm của mặt trời bà thấy được mọi chuyện quá khứ, vị lai của nhân
Trong cuộc sống của bà, bà sống cuộc đời ăn năng đền tội và chay tịnh Anna Maria Taigi mất khi 68 tuổi tại Rôma và được Đức Giáo Hoàng Benedikt XV phong á thánh vào ngày 30.5. 1920.



UserPostedImage
Thánh Johannes Bosco (Don Bosco)

Tên thật là Giovanni Bosco, sinh ngày 16.08.1815 tại Becchi ở Piemont (Norditalien), thụ phong Linh mục năm 1841.

Lúc sinh tiền Ngài đã thành lập nhà dòng Salêsiêng (Salesianer) 1859, chuyên chăm sóc các thanh thiếu niên bụi đời, huấn nghệ và học hỏi Lời Chúa.Ngài có ơn tiên tri, và được coi như thánh sống.
Năm 1866 xây nhà thờ Salesianer và mộ ngài cũng nằm tại đây (31.01.1888). Hiện nay xác Ngài được bỏ vào lòng kính để mọi người có thể thăm viếng cầu nguyện.

UserPostedImage


UserPostedImage


Có rất nhiều trường hợp các Thánh khác xác không thối rữa và hư nát,
ngược lại còn bốc mùi của hương hoa hồng như thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu,
Thánh Martinô de Porrés...
Nhưng không liệt kê ra ở đây vì chưa kiếm thấy tài liệu hình ảnh.


(st)
thanks 1 user thanked HongLan for this useful post.
Thy Lan Thao on 9/24/2014(UTC)
HongLan  
#76 Posted : Friday, September 26, 2014 5:12:46 AM(UTC)
HongLan

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/23/2011(UTC)
Posts: 697
Switzerland
Location: Lucerne

Thanks: 602 times
Was thanked: 622 time(s) in 428 post(s)

Đọc thử xem đúng không....


Tháng sinh hé lộ điều gì về cuộc đời của bạn?



UserPostedImage



Tháng Giêng

Những người sinh tháng Giêng thuộc kiểu người cứng đầu và có một trái tim sắt đá, vì thế họ là con người của tham vọng và luôn nghiêm túc trong mọi việc. Họ thích được chỉ bảo người khác cũng như là được người khác chỉ bảo. Tuy nhiên, những người sinh tháng này lại hay suy xét những sai sót hay điểm yếu của người khác, vì vậy họ cũng rất thích chỉ trích người khác.

Trong công việc, những người sinh tháng Giêng thường làm việc chăm chỉ và hiệu quả. Họ thật sự là người biết cách làm người khác vui lòng nhưng họ lại là một người trầm tính, ít nói trừ khi họ thực sự cảm thấy vui vẻ hoặc tức giận. Người của tháng Giêng cũng khá bảo thủ nữa. Họ luôn biết cách chăm sóc bản thân, ít khi bị bệnh gì nặng nhưng lại hay cảm vặt.

Ai sinh vào tháng đầu năm đều thuộc tuýp người lãng mạn, nhưng tiếc rằng họ không biết cách biểu lộ tình yêu cho lắm. Họ yêu thích trẻ con, đề cao lòng trung thành, là con người rất biết giao tiếp nhưng lại hay ghen. Còn đối với chuyện tiền bạc thì những người này vô cùng cẩn trọng.



Tháng 2

Sinh vào tháng 2, bạn có nhiều ý niệm trừu tượng và rất sắc sảo, tuy vậy bạn vẫn thích những điều thực tế. Bạn là con người thông minh và nhanh trí, có điều tính cách của bạn lại hay thay đổi. Bạn gợi cảm, quyến rũ, tính tình ôn hòa, trầm tính, hay mắc cỡ và rất khiêm nhường. Những người sinh tháng 2 cũng rất chân thật và trung thành. Hơn nữa, bạn cũng rất cả quyết, một khi đã quyết việc gì thì sẽ làm đến cùng.

Sinh ra vào tháng 2, bạn cũng rất yêu thích sự tự do, nên khi bị cấm đoán, bạn sẵn sàng trở thành một kẻ nổi loạn. Bạn cũng thích công kích người khác nữa nhưng lại quá nhạy cảm và dễ bị tổn thương. Bạn hay giận dữ nhưng lại không bao giờ biểu lộ ra ngoài, không thích những thứ không cần thiết, rất muốn kết giao bạn bè nhưng lại không để cho người khác biết là bạn muốn điều đó.

Bạn ưa thách thức và rất tham vọng nên trong bạn luôn đầy ắp ước mơ và hi vọng. Bạn thích giải trí và những hoạt động sôi sục. Tâm hồn bạn lãng mạn nhưng chẳng bao giờ bạn bộc lộ.



Tháng 3

Bạn sở hữu tính cách thu hút người khác và cũng vô cùng quyến rũ. Bạn là con người của yêu thương nhưng hay mắc cỡ và bảo thủ. Bạn bí ẩn, bản tính tự nhiên của bạn là chân thành tử tế và giàu lòng trắc ẩn. Bạn thích hạnh phúc và bình yên. Đối với mọi người, bạn rất nhạy cảm. Bạn cũng thích phục vụ người khác nhưng lại thường để mình rơi vào những cơn giận dữ. Tuy nhiên, bạn là một người đáng tin cậy.

Bạn đánh giá cao lòng tốt và sự biết ơn. Bạn hay quan sát và đánh giá mọi người. Tuy là người tốt, nhưng một khi ai đó đã gây thù chuốc oán với bạn thì bạn sẵn sàng ôm giữ lòng báo thù mạnh mẽ. Ngoài ra, bạn là con người mơ mộng, nhiều ảo tưởng, thích du lịch và thích được chú ý, thích trang trí nhà cửa, thích những điều đặc biệt. Trong tình yêu, bạn hay vội vàng trong việc chọn lựa người yêu. Bạn còn là người hay u uất nữa.



Tháng 4

Sinh ra vào tháng 4, bạn là người năng động và hoạt bát. Bạn thường quyết định mọi việc nhanh chóng nhưng sau đó lại hay hối tiếc vì cái mình đã quyết định.Bạn chỉ yêu và quyến rũ trong mắt người bạn yêu mà thôi. Bạn sở hữu cái đầu với những dây thần kinh làm bằng thép và rất thích được người khác chú ý. Bạn rất biết cách cư xử, thân thiện và rất biết cách an ủi, giúp người khác giải quyết rắc rối. Bạn ưa thích phiêu lưu vì bạn là người vô cùng dũng cảm và hầu như chẳng sợ gì cả.

Bạn quan tâm đến mọi người, khéo léo và rất tử tế, tuy nhiên bạn lại để mình hơi mang nặng cảm xúc và hay giận dữ, đồng thời khá hấp tấp. Bù lại, bạn có trí nhớ tốt và thích sự di chuyển. Bạn cũng hay khích lệ người khác cũng như tự cổ vũ chính bản thân bạn trong mọi chuyện. Về sức khỏe, những người sinh tháng 4 không sở hữu cơ bắp của người khổng lồ đâu. Những cơn đau đầu và lồng ngực thường xuyên tìm đến bạn. Một điều khiến bạn thường xuyên bị ám ảnh và hãy coi đó là điểm yếu để lưu ý và khắc phục.



Tháng 5

Người sinh tháng 5 là một người cứng đầu và có trái tim sắt đá. Bạn sở hữu ý chí vô cùng mạnh mẽ và ý chí cầu tiến đáng khâm phục. Bạn có những suy nghĩ sắc bén và thường suy nghĩ theo hệ thống chứ không hề bộc phát. Tuy vậy, bạn lại là một người khó kiểm soát cơn giận dữ. Bạn cuốn hút người khác và thích người khác chú ý đến bạn nhờ vào tâm hồn sâu sắc và cách nói chuyện duyên dáng.

Nữ giới sinh tháng 5 xinh đẹp không chỉ vẻ bề ngoài mà còn đẹp cả trong tâm hồn nữa. Bạn luôn giữ vững lập trường của mình trong mọi tình huống. Khi bạn gặp chuyện khó khăn, mọi người không cần tốn nhiều công sức cũng dễ dàng an ủi bạn vì cơ bản bạn là một con người hiểu chuyện. Bạn cũng có tính mơ mộng, nhưng bù lại trong nhiều quyết định quan trọng, bạn lại vô cùng sáng suốt.

Về sức khỏe, những người sinh tháng 5 thường hay bị đau ở tai và cổ, nhưng xét về cơ bản, thể chất của bạn khá tốt. Với trí tưởng tượng phong phú, cung hoàng đạo thuộc tháng này thường có xu hướng thích văn học và hội họa.



Tháng 6

Những người sinh tháng 6 hay suy nghĩ xa xôi, dễ để trái tim bị lung lay ảnh hưởng bởi lòng tốt (đôi khi giả vờ) của người khác. Bạn sở hữu trái tim nhạy cảm, phong cách lịch sự và thói quen nói năng từ tốn; bạn có tinh thần năng động nhưng lại hay ngập ngừng không chịu quyết đoán, thường có xu hướng trì hoãn cho đến khi sự việc không vui xảy đến.

Những người sinh tháng này cũng rất kén chọn, luôn muốn thứ tốt nhất trong khả năng có thể kiểm soát. Là người nóng nảy, tuy nhiên người sinh tháng 6 thường vui tính, hài hước và rất thân thiện. Bạn cũng là người giỏi tranh luận và nói nhiều. Tuy nhiên, về cơ bản, bạn là người hay mơ mộng viển vông, thích được giao du kết bạn và thường thì không giấu diếm điều ấy với người khác, kể cả người mới quen.

Về sức khỏe, cung hoàng đạo tháng 6 hay bị dính những cơn cảm lạnh. Rất dễ tổn thương, và một khi đã bị như vậy, người sinh tháng 6 thường phải mất nhiều thời gian để chữa lành vết thương lòng. Điểm không tốt ở bạn là "cả thèm chóng chán.



Tháng 7

Sinh ra vào tháng 7, bạn luôn đem không khí vui vẻ cho mọi người xung quanh. Nhưng khi có cảm giác căng thẳng bạn lại là người im lặng đến khó đoán. Vì thế, bạn được xếp vào tuýp người sống nội tâm, bạn thường thích ở một mình với sự yên tĩnh, ít khi bạn thích đi đâu, cũng như không thích kết bạn mới. Bạn có lòng tự tôn rất lớn và bạn được nhiều người biết đến. Bạn là người chân thật và rất dễ để an ủi.

Bạn cũng biết quan tâm đến cảm xúc của mọi người, luôn cư xử tế nhị, thân thiện, hóm hỉnh và vui tính nên mọi người xung quanh cảm thấy bạn rất dễ gần. Bạn thường không mang hận thù dù ai đó có làm điều gì sai trái với bạn, nhưng tha thứ không có nghĩa là bạn đã quên. Mặc dù có lòng vị tha cao cả, nhưng bạn cũng rất cảnh giác và sắc sảo.

Bạn đối xử rất công bằng với mọi người và không bao giờ đánh giá người khác vội vã, mà luôn quan sát trước khi đưa ra kết luận cuối cùng. Với bạn bè, những người sinh tháng 7 là người bạn trung thực và chân thành.



Tháng 8

Những người sinh vào tháng 8 là những người hay thích đùa. Họ khéo léo trong cách cư xử và biết quan tâm tới người khác, rất nhiều người quý mến họ bởi tính cách đáng quý này. Ngoài ra, họ còn nổi tiếng với tài năng nghệ thuật, âm nhạc. Sinh ra vào những ngày thu, nên tính cách của họ cũng rất lãng mạn, nhạy cảm và nhiều mơ ước. Những người sinh ra vào thời điểm này còn có khả năng suy nghĩ rất phi thường, họ dũng cảm, cứng rắn, có tư tưởng độc lập, có khí chất lãnh đạo và không dễ bị chùn bước trước khó khăn nào.

Bên cạnh đó, họ cũng là người biết cách an ủi người khác. Họ có lòng tự tôn cao và thèm khát những lời tán thưởng. Khi đang ghen hay khi bị ai đó chọc tức, những người này sẽ trở nên đáng sợ lắm đấy. Họ thích quan sát mọi thứ, cẩn thận và hay cân nhắc nhưng hay quyết định vội vàng đến khó hiểu. Về sức khỏe, thể chất của những người sinh vào giữa mùa thu không được tốt lắm, phải học cách thư giãn mới có thể sống khỏe được.



Tháng 9

Sinh ra vào giữa mùa thu, bạn tế nhị và biết cách thỏa hiệp. Bạn cẩn thận và có đầu óc tổ chức. Thích chỉ ra khiếm khuyết của người khác cũng như là chỉ trích mọi người, tuy vậy bạn nên biết kiềm chế trước những lời chỉ trích của mình. Bạn điềm tĩnh, tốt bụng và giàu lòng vị tha. Bạn trung thành nhưng không phải lúc nào bạn cũng là người chân thật. Bạn cũng thích quan tâm tiểu tiết bởi bạn muốn tìm ra sự thú vị của mọi thứ, chính vì vậy mà bạn cũng rất kén chọn trong việc tìm ra một nửa của mình.

Bạn nói ít nhưng lại là người biết nói chuyện và rất dễ thu hút người khác. Sinh ra vào tháng 9, bạn cũng dễ nảy sinh tham vọng trong mọi việc, thích tìm tòi và khám phá, tỉ mỉ trong công việc. Tính cách của bạn dễ hiểu và khá là vui tính. Bạn thích du lịch và tham gia vào các hoat động. Đôi khi năng nổ là vậy, nhưng bạn lại có xu hướng giấu đi mọi cảm xúc.



Tháng 10

Những người sinh vào tháng 10 thích tán gẫu, thích là trung tâm của sự chú ý. Cũng vì thế mà họ có bề ngoài thu hút và tính cách của họ cũng thu hút như chính vẻ ngoài của mình vậy. Đôi khi, họ thích nói dối nhưng lại không biết che dấu điều đó. Với họ, bạn bè rất quan trọng, vì thế họ thích giao du kết bạn. Tình cảm của họ là yêu, ghét rõ ràng, họ chỉ yêu quý những người yêu quý mình và không quan tâm đến người khác nghĩ gì.

Những người sinh ra vào thời điểm giao mùa này cũng dễ bị tổn thương, nhưng họ không cần nhiều thời gian để chữa lành mọi thứ. Họ là người hay mơ mộng và kén chọn. Họ khá nồng nhiệt nhưng vẫn là một người dứt khoát, công bằng và sáng suốt. Họ có niềm đam mê với du lịch, nghệ thuật và văn học. Họ hay động lòng và cũng hay ghen và dễ tực giận. Với tính cách năng động, họ luôn thích ở ngoài hơn là ở nhà. Điểm yếu của những người sinh vào tháng này là hay bị ảnh hưởng bởi người khác và hay mất tự tin.



Tháng 11

Những ai sinh ra vào tháng 11 là con người của những ý tưởng và khó đoán. Bạn lúc nào cũng có suy nghĩ hướng về phía trước. Bạn độc đáo và thông minh, sáng suốt trong mọi việc, có nhiều ý tưởng phức tạp nhưng suy nghĩ của bạn rất sắc sảo. Bạn có thể trở thành một bác sĩ giỏi, tính tình năng động nhưng bạn là con người của sự bí ẩn. Sinh ra trong tháng này, bạn khá tò mò và giỏi đào bới bí mật của người khác lắm, đầu óc bạn lúc nào cũng tràn đầy những ý tưởng.

Bạn rất dũng cảm và tử tế, cương quyết, kiên nhẫn, và cả chăm chỉ nữa. Có lẽ vì thế mà bạn không bao giờ chịu bỏ cuộc dù trong hoàn cảnh nào. Bạn luôn tin rằng “có chí thì nên”. Không chỉ có vậy, bạn cũng là con người bướng bỉnh và sắc đá. Bạn thích ở một mình, luôn có những suy nghĩ khác người, khó ai mà xoay chuyển được bạn một khi bạn đã quyết định. Người sinh vào tháng 11 có một tính tình sắc sảo và nhiều hoài bão và bạn đặc biệt lại không thích những lời khen ngợi. Bạn giàu cảm xúc vì thế mà tình yêu của bạn rất sâu nặng.



Tháng 12


Sinh vào vào tháng cuối năm, bạn là người trung thành và tử tế. Nếu là con gái thì bạn là người rất quyến rũ. Bạn cũng có tham vọng nhưng lại hay bị ảnh hưởng bởi số đông. Bạn suy nghĩ logic, thích hòa mình vào cộng đồng, thích được ngợi khen, được chú ý và được yêu.

Trong các mối quan hệ, bạn rất chân thành, thật lòng và không giả dối, bạn không đặt nặng cái tôi của mình nhưng tính tình của bạn lại sớm nắng chiều mưa. Với tính cách vui vẻ, trẻ trung, bạn ghét bị quản thúc, bạn có năng khiếu hài hước nên hay thích làm trò đùa, mang lại niềm vui cho người khác. Điểm nổi bật trong tính cách của những người này là thiếu kiên nhẫn và hay vội vàng.



(st)
HongLan  
#77 Posted : Tuesday, October 7, 2014 8:04:41 AM(UTC)
HongLan

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/23/2011(UTC)
Posts: 697
Switzerland
Location: Lucerne

Thanks: 602 times
Was thanked: 622 time(s) in 428 post(s)

Nét đẹp Hàn Quốc ở ASIAD 17


Làn da mịn màng, miệng tươi trong trang phục truyền thống hanbok... Họ là những cô gái bê khay đựng huy chương ở Á vận hội 2014.

UserPostedImage


Có tổng cộng 204 tình nguyện viên tham gia việc bưng bê khay đựng hoa và huy chương, trong các lễ trao giải cho vận động viên.


UserPostedImage


Tất cả đều là sinh viên năm nhất của trường Cao đẳng kỹ thuật Inha ở thành phố Incheon.


UserPostedImage


Họ mặc áo dài cổ truyền hanbok...


UserPostedImage


... và vấn tóc theo kiểu truyền thống của Hoàng gia Hàn Quốc.


UserPostedImage


Tất cả đều đi giày cao gót cỡ 7,5 centimet...


UserPostedImage


... dù đều cao 1m68.


UserPostedImage

"Để đi đứng và thực hiện các động tác đúng cách, chúng tôi phải trải qua một quá trình tập luyện đầy thách thức kéo dài tám tuần.
Tuy nhiên, tất cả đều không bỏ cuộc"
, một người đẹp có tên Park Seong-Yun nói.


UserPostedImage


Họ tập luyện bằng cách để một cuốn sách trên đầu hoặc kẹp giữa hai đầu gối khi đi lại...


UserPostedImage


... trong khi tay cầm khay có cốc đựng đầy nước, với yêu cầu không được để tràn ra ngoài.


UserPostedImage


Một yêu cầu quan trọng là luôn phải tươi cười, bất kể trong hoàn cảnh nào.


UserPostedImage

(st)
Sương Đêm  
#78 Posted : Wednesday, October 8, 2014 3:23:57 AM(UTC)
Sương Đêm

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/8/2012(UTC)
Posts: 601
Switzerland
Location: Lucerne

Thanks: 1625 times
Was thanked: 592 time(s) in 454 post(s)

Sáng nay đọc trên mạng

CÓ MỘT CUỘC SỐNG SAU KHI CHẾT
của: Hannes WINTER
Cập nhật: 08. Oktober 2014, 08:30am

thâý hay hay.... Post lên đây, share bà con gần xa...
SĐ dịch tạm tạm.. Tự biết không hay, không chuẩn.



Es gibt ein Leben nach dem Tod
Von
Hannes Winter
Aktualisiert am 08. Oktober 2014, 08:30 Uhr

Gibt es ein Leben nach dem Tod? Die Antwort darauf wird kontrovers diskutiert und mit Skepsis betrachtet. Manche Patienten, die klinisch tot waren, aber reanimiert werden konnten, berichten von Lichtern oder ähnlichen Erfahrungen. Bisher belächelte die Medizin solche Erzählungen und tat sie als Halluzinationen ab. Zu Unrecht, wie Wissenschaftler der Universität Southampton nun herausgefunden haben.

Die Forscher fanden Beweise für ein Leben nach dem Tod. Das berichtet der britische "Telegraph". Vier Jahre lang haben die Wissenschaftler 2060 Patienten in 15 Krankenhäusern in den USA, Grossbritannien und Australien untersucht. Alle Probanden erlitten einen Herz-Kreislauf-Stillstand. Es ist die bisher grösste Studie zu Nahtod-Erfahrungen und ausserkörperlicher Wahrnehmung. Das Ergebnis: Auch nach dem Tod blieb bei vielen das Bewusstsein erhalten. Ein Drittel der Patienten, die überlebt haben, berichten von Wahrnehmungen zu dem Zeitpunkt, als sie bereits klinisch tot waren und bevor die Ärzte sie erfolgreich reanimierten.
Besonders eindrücklich sind die Schilderungen eines 57-jährigen Sozialarbeiters aus Southampton. Er erinnerte sich daran, wie er nach dem Tod seinen Körper verlassen und dessen Wiederbelebung von der anderen Seite des Zimmers beobachtet habe. "Der Mann beschrieb alles, was in dem Zimmer passiert ist", sagte Dr. Sam Parnia, Leiter der Studie und mittlerweile in New York tätig. Der Sozialarbeiter berichtete detailliert von den Tätigkeiten des Klinikpersonals und den Geräuschen der Maschinen. Wohlgemerkt: Der Mann, den die Mediziner für glaubhaft halten, war drei Minuten lang klinisch tot.

Bewusstsein bleibt nach dem Tod erhalten

Nach bisherigen Erkenntnissen kann das Gehirn nicht funktionieren, sobald das Herz nicht mehr schlägt. "In diesem Fall scheint die bewusste Wahrnehmung bis zu drei Minuten weiter funktioniert zu haben, obwohl das Gehirn sich normalerweise 20 bis 30 Sekunden nach dem Tod ausschaltet", erklärt Parnia. Damit scheint bewiesen, dass das Bewusstsein auch nach dem Tod erhalten bleibt. Wie lange diese Erfahrung andauern kann, wissen die Ärzte nicht.
Von den 2060 untersuchten Patienten überlebten 330. Von ihnen berichteten 140 von Wahrnehmungen, bevor die Ärzte sie aus dem Tod zurück holen konnten. Ein Fünftel der Probanden erinnerte sich an ein ungewöhnliches Gefühl von Friedlichkeit und Stille. Zwei Drittel nahmen wahr, wie die Zeit schneller oder langsamer wurde. Manche sahen ein helles Licht, die Sonne oder einen Blitz, andere wurden durch tiefes Wasser gezogen und hatten Angst vor dem Ertrinken. 13 Prozent der Patienten gaben an, vom Körper getrennt gewesen zu sein.

Studienleiter Parnia ist überzeugt, dass viele Menschen bewusste Erfahrungen machen. Die Erinnerung an diese würden Beruhigungsmittel und Medikamente aber erschweren oder unmöglich machen. Parnia und sein Team haben nun wissenschaftlich belegt, was bisher als Halluzination oder Einbildung abgetan wurde. Es ist ein Hinweis auf ein Leben nach dem Tod.


Sehr interessant!



Có một cuộc sống sau khi chết

Có cuộc sống sau khi chết? Câu trả lời là hay gây tranh cãi và bị hoài nghi. Một số bệnh nhân đã chết lâm sàng, nhưng có thể được sống lại, cho biết những kinh nghiệm họ đã trãi qua, là đã thâý ánh đèn hoặc tương tự (ánh sáng). Cho đến nay, y học chế giễu câu chuyện này và coi chúng như ảo giác. Để cho rằng, họ (số bệnh nhân đã chết lâm sàng, nhưng có thể được sống lại) không sai, các nhà khoa học tại Đại học Southampton hiện nay đã tìm ra được (bằng chứng).

"Các nhà nghiên cứu tìm thấy bằng chứng cho cuộc sống sau khi chết". "Telegraph" của người Anh báo cáo như thế.
Trong bốn năm qua, các nhà khoa học đã nghiên cứu 2.060 bệnh nhân tại 15 bệnh viện ở Mỹ, Anh và Úc ..
Đến nay, đây là sự nghiên cứu lớn nhất với những bịnh nhân từng trãi cận kề cái chết và ra khỏi nhận thức cơ thể.
Kết quả: Ngay cả sau khi chết nhiều người vẫn nhận thức được. Một phần ba số bệnh nhân sống sót, cho biết sự nhận thức của họ vào thời điểm khi họ đã chết lâm sàng, trước khi các bác sĩ thành công làm họ sống lại.
Ấn tượng đặc biệt là những mô tả của một nhân viên xã hội 57 tuổi ở Southampton. Ông nhớ lại sau khi chết, cách ông rời bỏ cơ thể của mình và quan sát các Bác Sỉ đang hồi sinh cơ thể ông từ phía bên kia trong căn phòng.

Tiến sĩ Sam Parnia, người lãnh đạo nghiên cứu và hiện đang hoạt động ở New York, cho biết:
- Ông ta mô tả tất cả những gì đã xảy ra trong phòng!

Ông đã báo cáo chi tiết của các hoạt động của nhân viên bệnh viện và các âm thanh của máy.
Nên nhớ rằng: Các Bác Sỉ đều tin và cho rằng ông ta đã chết lâm sàng trong 3 phút!

Ý thức được bảo tồn sau khi chết

Cho đến nay, theo kiến thức, não không thể hoạt động khi tim không còn nhịp đập.

Theo tiến sĩ Sam Parnia:
- Trong trường hợp này, sự nhận thức ý thức dường như tiếp tục hoạt động đến ba phút, mặc dù não 20 đến 30 giây sau cái chết là tắt.

Điều này dường như chứng minh rằng, sau khi chết, ý thức được ở lại. Nhưng được bao lâu, thì các bác sĩ không biết.

Trong bốn năm qua, các nhà khoa học đã nghiên cứu 2.060 bệnh nhân tại 15 bệnh viện ở Mỹ, Anh và Úc .. và 330 bịnh nhân được tái sinh. 140 trong số họ đã cho biết về nhận thức ý thức trước khi các bác sĩ kéo họ lại từ cõi chết. Một phần năm các bịnh nhân nhớ lại một cảm giác khác thường của sự an lạc và yên bình. Hai phần ba nhận thức rằng, thời gian nhanh hơn hoặc chậm hơn. Một số cho rằng, đã nhìn thấy một ánh sáng, mặt trời hoặc tia chớp, những người khác thì cho rằng, họ đã bị kéo qua dòng nước sâu và họ rất sợ chết đuối. 13 phần trăm bệnh nhân nói rằng, họ đã được tách ra khỏi cơ thể.

Trưởng nhóm nghiên cứu, ông Parnia, quả quyết, rất có nhiều người đã trãi qua những giây phút đó (Ý thức được sau khi chết).
Sự ý thức nầy không thể qua thuốc và thuốc an thần. Bởi vì thuốc hay thuốc an thần rất khó khăn hoặc không thể nào làm được việc nầy, (để bịnh nhân còn giữ được ý thức sau khi chết).

Parnia và nhóm của ông hiện nay đã chứng minh khoa học những gì cho đến nay đã bị bác bỏ, bị xem như là một ảo giác hoặc trí tưởng tượng.
Đây là một ghi chú về một cuộc sống sau khi chết.
HongLan  
#79 Posted : Friday, October 10, 2014 12:21:20 AM(UTC)
HongLan

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/23/2011(UTC)
Posts: 697
Switzerland
Location: Lucerne

Thanks: 602 times
Was thanked: 622 time(s) in 428 post(s)

Tuổi Già ..


UserPostedImage

Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER (NV)




Cảm giác cô đơn, trống rỗng khi bạn đời 'ra đi'


“Tôi là một phụ nữ ngoài 60 tuổi, chồng qua đời 10 năm, lẻ loi, không có tài sản, có Medical, không bị các bệnh truyền nhiễm, tự chăm sóc bản thân được, biết lái xe, muốn tìm nơi nương tựa cuối đời. Xin liên lạc về email…”

Nội dung email này, do một độc giả gửi tới tòa soạn, có thể khiến nhiều người bật cười theo nhiều nghĩa khác nhau.

Thế nhưng, đọc thêm một lần, rồi một lần nữa, có thể nghe ra được nỗi gì cô độc đến não nề.

Ngồi xuống nghe tâm tư của những người gần bước đến tuổi 70 hoặc hơn nữa, cả đàn ông lẫn phụ nữ, những người hiện đang lẻ bóng, bởi người phối ngẫu qua đời hoặc ly dị đã lâu, chợt hiểu thêm thật nhiều về nỗi cô đơn cũng như khao khát tìm được người bạn tâm giao, tri kỷ để tìm vui, để nương tựa trong những năm tháng cuối, ray rứt và da diết đến mức nào.


Cảm giác cô đơn, trống rỗng

Một nghiên cứu theo dõi hơn 2,000 người trên 50 tuổi trong vòng 6 năm và kết quả nhận được cho thấy nỗi cô đơn làm nguy cơ tử vong tăng lên gấp 2 lần và có nguy cơ chết sớm cao hơn 14% so với người không cô đơn.

Một nghiên cứu khác lại cho thấy 43.2% trong số 1,600 người trên 70 tuổi cho rằng họ cảm thấy cô đơn và thường thiếu bạn tâm giao.

Một nửa trong số những người tham gia khảo sát nói nỗi cô đơn của họ càng hiển hiện rõ hơn vào cuối tuần và ba phần tư trong số đó phải chịu đựng nỗi cô độc khi đêm về.

Bà Mai Phương, 69 tuổi, hiện sống một mình ở Anaheim cũng là người mang trong lòng nỗi trống trải,cô đơn kể từ khi chồng qua đời cách đây hơn 2 năm. Nhìn cách bà đi làm, tham gia những sinh hoạt hội nhóm, bạn bè, khó ai có thể nghĩ được trong bà lại có một góc cô đơn hun hút đến vậy.

“Thời gian ổng mới mất, trong tôi hoàn toàn trống rỗng.” Bà bắt đầu câu chuyện bằng giọng nói buồn và nhẹ hơn bình thường.

Không còn những đêm mất ngủ vì lo lắng cho bệnh tật của chồng. Không còn những thấp thỏm mỗi khi đưa ông vào bệnh viện. Không còn phải suy nghĩ đến chuyện lo hôm nay nấu món gì, ngày mai đổi món nào. Nhưng lấp đầy cho những cái “không còn” đó lại là một khoảng trống đến rợn người.

“Tôi không dám ở nhà một mình, tôi cứ bám víu vào thằng con út khi đó còn ở chung nhà. Nó đi đâu tôi theo đó, nó đi ăn sushi ở hướng Nam, tôi đi theo hướng Nam. Nó lái xe ngược hướng Bắc đi uống boba, tôi cũng ngồi xe theo hướng Bắc. Có lúc ngồi trong xe cũng chỉ ngủ gà ngủ gật nhưng mà vẫn cứ leo lên xe con mỗi khi nhìn thấy nó đi đâu, cho dù nó có muốn hay không muốn mang mình theo.” Người đàn bà có đôi môi luôn cười nhưng ánh mắt lại rười rượi, nhớ lại.

Bà biết con bà không thích như thế. Bà biết bà không nên bám theo con như thế. “Nhưng mà... biết làm sao.” Bà Phương cười buồn.

Người phụ nữ có gương mặt phúc hậu này chậm rãi nói tiếp, “Tôi thấy rõ ràng mình mất một chỗ tựa, như thiếu một cây gậy để chống mà đi kể từ lúc ổng mất. Cô đơn lắm!”

Nỗi cô đơn, trống vắng không chỉ ở chỗ thiếu đi một bóng hình, một người hằng ngày ra vào mình trông thấy, nhìn thấy, chuyện trò, mà ngay cả, như bà Phương tâm sự, nhìn những hàng cây khô héo, nhìn bụi vương trong nhà, lại chợt nhớ ra có người đã từng làm thay mình những việc như thế. Đó là chưa kể những lúc ngồi lần hồi giải quyết từng cái hóa đơn điện, nước, gas, rác... lại nhớ bao lâu rồi mình không phải làm những việc này.

“Nhiều lúc đang ở sở làm mà nỗi buồn cũng ập đến, tôi phải đi vào trong restroom đứng khóc một mình,” bà kể.

Với bà Kim Lan, 70 tuổi, chồng qua đời đã 16 năm, khi bà mới 52 tuổi, thì nỗi cô đơn, trống trải càng về những năm sau này càng mãnh liệt hơn so với thời gian đầu khi người bạn đời của bà ra đi, bởi “khi đó tôi không có thời gian và tinh thần để nghĩ đến nó. Tôi phải bận rộn trong việc đi làm hai 'job' để kiếm tiền nuôi con, trả tiền nhà.”

Mặc dù không nhận ra nỗi trống vắng, cô đơn vào thời gian ấy, nhưng bà Kim Lan lại gần như bị rơi vào tình trạng “trầm cảm.” Bà nhớ lại, “Tôi đi làm gần như câm lặng, chỉ có hai câu 'Hi' khi đến và 'Bye' khi về. Trong lòng lúc nào cũng như buồn bực, ray rứt.”

“Tôi cảm thấy như tôi giận chồng tôi rất nhiều. Bởi vì chúng tôi đều thích sống ở miền quê, cả hai hẹn nhau khi nào con ra trường thì sẽ tìm nơi vắng vẻ, thanh tịnh để ở. Vậy mà chưa chi ổng đã bỏ tôi ra đi. Tôi cứ cố nghĩ đến những tính xấu của ông để mà giận thêm. Và tôi trút sự tức giận đó lên các con tôi, như một người điên sẵn sàng la hét cho dù chỉ là một điều nhỏ nhặt.” Bà Lan tiếp tục kể bằng giọng tâm tình khi đêm xuống mỗi lúc một sậm màu hơn.

Rồi thì thời gian đó cũng qua khi bà được bạn bè rủ đi tập Taichi, nghe tiếng người ta trò chuyện, nhìn người ta cười giỡn với nhau, bà Lan tìm lại được nụ cười và tiếng nói của chính mình.

Về hưu ở tuổi 63, bà Lan lại tiếp tục giúp con nuôi cháu. Những niềm vui giản dị này không cho bà có thời gian buồn, sự bận rộn với các cháu khiến bà không thấy lẻ loi.

Tuy nhiên, khi các cháu lớn dần, bà ngoại không còn là người để chúng gần gũi, quyến luyến, và như một lẽ thường tình “càng về già càng thấy hụt hẫng,” bà Lan cảm nhận.

“Nhiều lúc thấy mình bơ vơ, trống vắng, hay có cảm tưởng như mình bị bỏ rơi. Những lúc đau ốm, yếu trong người là lúc cảm thấy cô độc nhất, sợ hãi nhất. Bạn bè đến thăm thì vui, nhưng họ bước chân ra về là mình thấy chơi vơi.” Người phụ nữ có giọng nói của người Hà Nội xưa nói như trải lòng.

Cảm giác lẻ loi, trống trải đến nao lòng đó không chỉ là cảm nhận của riêng phụ nữ, mà đàn ông vẫn không làm sao thoát được những lúc nỗi cô đơn ùa đến, bủa vây.

“Một sự trống vắng lạ lùng lắm, cứ như mình bị rớt vào khoảng không nào đó, chới với” là điều mà ông Vương Văn Chương cảm nhận được từ khi vợ ông qua đời, cách đây “3 năm 9 tháng.”

Ông Chương năm nay 72 tuổi, hiện ở Garden Grove, sống cùng con cháu kể từ khi vợ mất, bởi “sống trong ngôi nhà cũ, nhìn đâu cũng thấy bóng hình vợ tôi, buồn lắm, chịu không được.”

Ông Chương kể, “Vợ tôi đi làm suốt 29 năm, khi vừa về hưu được hai tháng, đang lên kế hoạch đi du lịch đây đó thì phát hiện bị ung thư bao tử giai đoạn cuối. Năm tháng sau thì vợ tôi mất.”

Sự ra đi của người bạn đời đã đồng hành cùng ông suốt 42 năm, người cùng ông trải qua chuyến vượt biển thập tử nhất sinh vào năm 1977 với 27 ngày trôi trên biển cho đến khi được tàu cứu vớt, rồi sang Mỹ vui buồn, sướng khổ có nhau, để lại trong lòng người đàn ông này một khoảng trống mênh mông.

Ông Chương dọn về ở với gia đình con trai, như một sự trốn chạy những kỷ niệm, dù vậy, ông vẫn cảm thấy “rất cô đơn, nhất là khi đêm về, lúc con cháu đi vắng, tất cả đều im ắng.”

“Đó là nỗi cô đơn của sự thiếu một vòng tay, một giọng nói, một cái hôn, mà ở người đàn ông thì họ lại thích có những cái vuốt ve mơn trớn, giờ thiếu hết tất cả. Thiếu nhiều lắm, một sự trống vắng lạ lùng lắm, cứ như mình bị rớt vào khoảng không nào đó, chới với.” Ông Chương mô tả.

Trong cuốn “Loneliness (Nỗi cô đơn)”, ông John Cacioppo, nhà tâm thần học của trường Đại Học Chicago, nói rằng, “Nỗi đau của sự cô đơn cũng giống như nỗi đau thể xác vậy.”

Nghiên cứu của trường Đại học UC San Francisco cũng đưa đến những ngạc nhiên bất ngờ khi biết rằng không chỉ ở một mình người ta mới thấy cô đơn. Trong số 43% người già cho rằng mình cô đơn thì chỉ có 18% sống một mình.

Với người lớn tuổi, cảm giác lẻ loi có thể hủy hoại tinh thần, sức khỏe nhiều gấp đôi so với chứng bệnh béo phì.

Chính vì điều này mà người già lẻ bóng vẫn luôn khao khát tìm được một người bạn tâm giao, tri kỷ để nương tựa khi tuổi về chiều.


Kỳ 2: Tuổi già lẻ bóng: cô đơn và nỗi khát khao tìm tri kỷ

Trong cuốn “Loneliness (Nỗi cô đơn)”, ông John Cacioppo, nhà tâm thần học của trường Đại Học Chicago, cho rằng, “Nỗi đau của sự cô đơn cũng giống như nỗi đau thể xác vậy.” Với người lớn tuổi, cảm giác lẻ loi có thể hủy hoại tinh thần, sức khỏe nhiều gấp đôi so với chứng bệnh béo phì.
Chính vì điều này mà người lớn tuổi lẻ loi vẫn luôn khao khát tìm được một người bạn tâm giao, tri kỷ để nương tựa khi đã về chiều.
tuổi càng cao lại càng thận trọng, đắn đo trong việc tìm người nương tựa

Như đã nói, ước mong có được một người bạn khác phái làm nơi nương tựa lúc tuổi già xế bóng là một nhu cầu có thực, rất người, rất đời của hầu hết những người lớn tuổi đang sống một mình, chứ không chỉ ở riêng vài người.
Tuy nhiên, để đi tới chỗ tìm được người như mơ ước quả thật không hề dễ dàng.
Ông Vương Văn Chương, người gần như rơi vào khoảng trống chơi vơi khi người vợ gắn bó cùng ông suốt 42 năm qua đời một cách vội vã cách đây gần 4 năm, thừa nhận “dù nhiều đêm nằm một mình cũng cảm thấy rất cô đơn” nhưng ông không tự hoạch định cho mình chuyện phải đi cưới vợ lần nữa hay tự tiết chế mình không nên đi bước nữa, mà “mọi sự cứ để cho tự nhiên.”
Theo ông Chương "việc có một người bạn tâm giao hay bạn tình ở tuổi này vừa cần thiết nhưng đồng thời cũng có thể mang đến những hệ lụy."

Bởi: “Cần thiết là đỡ cô đơn, cho mình cảm giác không trống trải. Nhưng thực tế tôi thấy có nhiều người khi vợ qua đời, do không chịu được sự trống vắng, họ vội vàng đi cưới một người vợ khác nhưng rồi không hạnh phúc, lại chia tay.” Tôi có nhiều bạn gái nhưng tôi luôn duy trì một khoảng cách.
“Ở tuổi hơn 70 này mà dính vào ái tình cũng mệt lắm nên cũng cố né, nhưng không biết nghiệp của mình đến đâu, có thật sự thoát được không. Dính vô cũng vui nhưng cũng sẽ nhiều phiền phức. Thế nên tôi cảm thấy cần thận trọng hơn” Ông Chương nói một cách cởi mở.
Bà Kim Lan, 70 tuổi, chồng mất đã 16 năm, không ngần ngại khi nói lên ước mơ của mình là mong tìm được một người bạn khác phái để nương tựa nhau cho đỡ nỗi hiu quạnh.
“Giờ đây, tôi chỉ mong có một người bạn khác phái để chăm sóc nhau, để có người tâm tình, nói chuyện, đi ăn uống, đi xem phim. Nhiều người cho rằng nếu chỉ vậy thì bạn trai hay gái cũng được. Nhưng không phải. Người bạn khác phái có nhiều điều khác lắm. Tôi mơ như vậy nhưng chưa tìm được.” Người phụ nữ cô đơn đang sống tại Santa Ana nói về nỗi niềm của mình bằng giọng nhẹ nhàng nhưng ẩn chứa nỗi buồn sâu thẳm.
Dầu tha thiết như thế nhưng thật sự người bà Lan hướng đến cũng phải có những điều kiện nhất định.

Người đàn ông sẽ được chọn làm nơi nương tựa cho bà Lan không chỉ “hợp tính tình, biết thông cảm, biết chăm sóc nhau” mà còn phải là người “không nghèo mạt rệp” hay không thể thuộc dạng “người chỉ muốn thỏa mãn nhu cầu thể xác, vừa mới quen biết đã đưa ra lời mời đi chơi xa với nhau, ngủ cùng nhau.”
“Tôi thấy nhiều người đàn ông ly dị vợ, tìm đến phụ nữ khác để được chăm sóc, để đòi hỏi sắc dục. Đó là còn chưa kể có những người đàn ông có tật quen với ai cũng mang đi khoe như một chiến tích. Sợ lắm!” Bà Lan nói về sự dè dặt của mình.
Ông Chương Dù cho biết có đôi người cũng bày tỏ thái độ quý mến ông, nhưng ông chưa tính chuyện tiến tới với ai bởi “chưa gặp người cùng tần số tâm linh.”
“Tần số tâm linh” mà ông Chương muốn nói là sự hợp nhau không chỉ về tính tình mà còn là cùng sở thích cùng quan niệm, đồng điệu về nhiều điều trong cuộc sống.
Người đàn ông có cách nói chuyện khiến nhiều phụ nữ muốn ngồi xuống nghe nhiều hơn, chia sẻ, “hồi ở tuổi 20-30, gặp cô nào đẹp là mình có thể yêu ngay, không nghĩ suy gì nhiều. Nhưng ở tuổi này, cái nhìn của mình có sự đắn đo và thận trọng hơn, sự lựa chọn có suy nghĩ nhiều hơn là tiếng sét ái tình.”
Thêm vào đó, ông Chương cũng cho rằng chỉ quen với người cùng hoàn cảnh đơn lẻ như ông, chứ không quen người đang có gia đình hoặc ngay cả vợ của bạn, dù đã ly hôn hay chồng qua đời ông cũng không muốn tiến tới vì “tôi tôn trọng bạn bè mình, tôi không muốn phá vỡ mối quan hệ đã có.”
Với bà Mai Phương thì chuyện thấy có một người bạn khác phái để trò chuyện, để cùng đi ăn uống cũng là một nhu cầu rất thực, “nó khiến mình vui hơn.” Thế nhưng, người phụ nữ gần 70 đang sống ở Anaheim này cũng rất ngần ngại, dè dặt trong việc bộc lộ cảm xúc với người mà bà có cảm tình hay nghĩ rằng người đó cũng có cảm tình với mình.
“Nhìn cử chỉ, nhìn cách họ chăm sóc mình khi đi dự tiệc tùng, nhóm bạn thì biết rằng có điều gì đặc biệt, mình cũng cảm thấy xúc động, xao xuyến. Nhưng mà làm sao có thể mang điều đó ra tâm sự với ai được. Ngộ nhỡ không phải, hay ngộ nhỡ họ cũng ngượng mà chối thì có phải mình quê quá không? Từng tuổi này rồi, đâu thể như thời trẻ được.” Bà Phương bày tỏ.
Chính từ điều này, bà Phương chọn cho mình một cách nghĩ: chỉ xem đó là một người bạn – bạn thân hơn bình thường – nhưng chỉ là bạn.
Thế nhưng, liệu ước mơ đó, nỗi khao khát đó có dễ dàng đến trong tầm tay những người lẻ bóng này? Họ có thật sự mở lòng đón nhận những tâm hồn đồng điệu hay vẫn còn đâu đó những rào cản, những ngại ngần, đắn đo, và nhiều suy tính của người đã đi gần hết ba phần tư chặng đường đời? Và quan trọng hơn, người tâm giao, tri kỷ để nương tựa lúc tuổi già được quan niệm theo nghĩa nào?


Chỉ kết bạn, không lấy làm chồng/vợ

Bà Mai Phương, người trở thành góa phụ từ hơn 2 năm qua, càng lúc càng nhận ra “nỗi buồn của sự cô đơn mỗi lúc một thấm sâu hơn.”
Tuy nhiên, bà gần như xác định cho mình một tư tưởng: Chỉ cần có bạn tâm giao chứ không lấy chồng thêm lần nữa.
Lý do?
“Mang một người chồng về nhà như mua thêm sự mệt mỏi.” Bà Phương trả lời.
Theo người phụ nữ gần bước vào tuổi 70 này thì ngoài yếu tố “tuổi già nhiều bệnh tật, mang nhau về lại phải chăm sóc cho nhau” lại còn có thêm lý do: chưa sẵn sàng chấp nhận một ai có thể thay thế vào vị trí của người chồng mà bà đã gắn bó suốt bao năm qua.
Bà tâm sự, “Có những đêm thật cô đơn, thật trống vắng, tôi cũng nghĩ giá như mình có một người nương tựa. Thế nhưng khi nghĩ đến hình ảnh người đó sẽ ngồi vào chiếc ghế nơi chỗ chồng tôi từng ngồi, tự dưng tôi lắc đầu ‘không được, không được’, hay nghĩ đến sẽ có một người nào đó nằm cạnh bên mình, tự dưng lại cũng thấy xa lạ, lại lắc đầu 'không thể được'.”
Bà Phương nói tiếp, chậm rãi:
“Tình yêu thời trẻ như tờ giấy trắng. Còn tuổi này ai cũng có tì vết hết rồi, không ai muốn người kia biết hết về quá khứ của mình.”

Cũng theo bà Phương, một lý do “tế nhị” khiến bà thấy thật khó để có thể đi thêm bước nữa ở lứa tuổi này. Đó là “Nếu là chồng, là tình nhân thì chắc hẳn sẽ phải có chuyện ‘chăn gối’ Nhưng cứ thử hình dung, mình không còn trẻ, người mình đã không còn săn chắc, quần áo bên ngoài có thể che phủ tất cả, nhìn ai cũng đẹp. Thế nhưng khi cởi bỏ lớp quần áo ra thì sẽ là gì? Nhìn vào sự nhăn nheo đó liệu có còn hấp dẫn nhau không?”

“Tuổi này sức khỏe không còn nhiều cho ‘chuyện đó’, nếu muốn được thỏa mãn thì phải dùng thuốc, mà điều đó thì không có lợi cho sức khỏe lâu dài.”
Bà Phương lý giải thích thêm về quan niệm chỉ muốn có bạn tâm giao chứ không muốn trở thành chồng hay tình nhân.

“Dù sống một mình nhiều khi cũng kẹt lắm, nhất là lúc đau ốm. Nhưng tôi cũng không muốn cuộc sống của mình bị trói buộc nữa. Có người bạn thân hơn mức bình thường để mình có thể tâm sự nhiều hơn, để mình có thể vui khi gọi điện thoại nói chuyện hay thỉnh thoảng rủ nhau đi ăn, đi mua sắm. Nhưng đừng bao giờ trông mong người đó là của riêng mình.”

“Có người quan tâm thì khiến mình vui hơn, nhưng cũng bận rộn hơn. Nhưng nếu nghĩ người đó là của riêng mình thì sẽ rất khổ.” Bà Phương nhấn mạnh.

Bà Kim Lan dù luôn mong mỏi sẽ tìm được một người đàn ông để bầu bạn, nương tựa cho vui lúc tuổi già, nhưng vẫn cho rằng “khó mà sống chung như vợ chồng.”
Bà Lan nêu suy nghĩ, “Già rồi thì tính khí khó thay đổi lắm. Người trẻ khi xáp lại với nhau thì còn có nhiều thời gian để tìm hiểu, để thay đổi, còn người già thì sao? Về sống chung không hợp rồi lại cãi vả chia tay à? Có thể có người có nhiều nhu cầu về thể xác, tôi thì lại không muốn như thế.”

Cũng theo bà Lan, “nếu người đàn ông muốn một người vợ thì họ thường đi tìm những phụ nữ trẻ trung hơn chứ không ai đi cưới những người già.”
Thế nhưng, trái với suy nghĩ của bà Kim Lan, ông Vương Văn Chương, 72 tuổi, lại cho rằng, “Nếu phải tìm một người khác phái để đi thêm bước nữa, hay để làm một người tri kỷ thì ngoài việc đó phải là một phụ nữ có tư cách, có học thức, thì theo tôi, người đó cũng phải từ 65 tuổi trở lên vì như vậy mới có được sự đồng điệu tương xứng.”

Tuy nhiên, ông Chương cũng nhìn nhận, “Dù muốn dù không thì thật sự ở tuổi 70 sức khỏe đã kém rồi. Nếu lấy một người còn quá trẻ sẽ không đáp ứng, thỏa mãn được người yêu trẻ thì không hay. Mình phải hiểu thân phận mình ở lứa tuổi này trong vấn đề tình cảm, nên nghiêng về tinh thần nhiều hơn, chứ cứ mộng về chăn gối với nhau thì sẽ mất đẹp đi.”

“Tôi vẫn thiên về một tình cảm mang nhiều yếu tố tinh thần hơn, chứ không đặt nặng chuyện xác thịt để cưới một cô vợ trẻ vì tôi nghĩ tuổi tôi khó có thể mang lại sự hạnh phúc cho người ta.” Ông Chương nói một cách thẳng thắn.


Bước ra khỏi nỗi buồn

Tuổi già lẻ bóng, quạnh hiu sẽ không loại trừ ai. Nhưng như bà Mai Phương rút tỉa:
“Nếu cứ sống mãi với quá khứ sẽ tự giết chết mình. Đừng bao giờ để cho nỗi buồn kéo mình trì xuống mà hãy tìm cách bước ra khỏi nó.
Hãy làm cho cuộc sống mình trở nên bận rộn hơn, hãy có những nhóm bạn để chia sẻ với nhau.”

Hoặc như bà Kim Lan, vẫn thường cảm nhận nỗi hắt hiu của mình, nhưng bên cạnh đó bà cũng có nhóm bạn cùng đi tập thể dục, cùng đi ăn uống với nhau. Hoặc khi buồn thì mang quần áo cũ ra sửa hoặc mua những hạt ngọc trai giả về kết xâu làm trang sức, cũng là một cách giết thời gian, chôn nỗi buồn.

Hay như ông Chương nghiền ngẫm, “Thật ra tuổi này mà cứ sống độc thân như vậy rồi đi chùa là tốt nhất, nhưng mà thật không dễ, bởi vẫn có những người ưu ái mình, cũng khiến mình mệt, hay mình cũng có thể xúc động vì ai đó thì cũng mệt lắm.”

Cả ông Chương, bà Lan hay bà Phương đều nghiêng về hướng:
“có một người bạn đặc biệt, chăm sóc nhau rất kỹ, thấu hiểu nhau, nếu vì hoàn cảnh gia đình, kẹt con kẹt cháu, thì ai sống ở nhà nấy.”

Nỗi niềm nghe rất giản dị nhưng để những người đơn lẻ này tìm được chút niềm vui khi tuổi về chiều thì không chỉ chính họ tự mở lòng mình, mà những người xung quanh cũng cần có cái nhìn rộng lượng và bao dung hơn.



UserPostedImage

HL st
Thy Lan Thao  
#80 Posted : Saturday, November 22, 2014 6:14:17 AM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,897
Location: usa

Thanks: 1699 times
Was thanked: 2834 time(s) in 1909 post(s)
Giai Thoại Về TÁC GIẢ Nhạc Phẩm LÀNG TÔI

Tác Giả: Phan Văn Thanh, CHS Văn Đức Lớp 12C Niên Khóa 1972 – 1975

UserPostedImage

Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh
Có sông sâu lờ lững vờn quanh êm xuôi về Nam …
Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau
Bóng tre ru bên mấy hàng cau đồng quê mơ màng!

Năm ấy, đoàn hát Kim Chung lần đầu tiên có kế hoạch thực hiện bộ phim nhựa có tiếng nói (âm thanh). Để cho bộ phim thêm phần hấp dẫn, trang trọng và gây ấn tượng với công chúng trong buổi chiếu ra mắt, toàn bộ êkíp điều hành, bầu sô, đạo diễn … đồng ý việc tổ chức một cuộc thi sáng tác bài hát làm nền cho phim với giải thưởng lớn cho tác phẩm được chọn. Đây cũng là bộ phim nhựa có âm thanh đầu tiên của ngành điện ảnh Việt Nam vào thời ấy. (1952)

Cuộc thi được tổ chức rộng rãi trong công chúng, không phân biệt tuổi tác, chuyên nghiệp hay nghiệp dư…đã có nhiều nhạc sĩ tên tuổi cùng một số những người mới thành danh trong làng ca nhạc giải trí thời đó tham gia. Đề tài sáng tác là quê hương và con người Việt Nam.

Sau nhiều lần chọn lựa rất công bằng và vô tư, ban giám khảo đã mất khá nhiều thời gian bàn bạc, nhận xét rồi cân nhắc để đưa ra một sự chọn lựa chính xác, dù biết đó là một quyết định rất khó khăn. Cuối cùng, Ban tổ chức đã công bố, tác phẩm được chọn để trao giải là bài hát “Làng Tôi” của một tác giả vô danh tiểu tốt, cái tên nghe chừng như rất xa lạ trong làng ca nhạc Việt thời ấy đó chính là nhạc sĩ Chung Quân.

Bản nhạc Làng Tôi được chọn vì nó mang hơi thở của một vùng quê yên bình, lời lẽ cũng mộc mạc, dung dị thấm đẫm tình cảm của người dân Việt Nam, cho dù năm đó tác giả bài Làng Quê mới chỉ vừa 16 tuổi. Nhạc phẩm Làng Quê và cái tên Chung Quân ra đời từ dạo ấy. Nhờ giai điệu du dương, thắm thiết tình người tình quê của Làng Tôi cứ mãi bay xa mà cái tên nhạc sĩ Chung Quân trở nên nổi tiếng và đi vào lòng người.

Nhiều nhạc sĩ tên tuổi và giới văn nghệ thời đó có hơi ngỡ ngàng, nhưng mọi người đều công nhận bản nhạc "Làng Tôi" xứng đáng được nhận giải thưởng vinh dự đó.

Quê tôi chìm chân trời mờ sương
Quê tôi là bao nguồn yêu thương
Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn
Là bao vấn vương tâm hồn ... người bốn phương.

Bản Làng tôi đã giành được giải của công ty điện ảnh, đoàn cải lương Kim Chung ở Hà Nội để làm bản nhạc nền cho phim Kiếp Hoa.

Hành trình về phương Nam

Thế rồi, thế sự đổi thay theo mệnh nước nổi trôi. Năm 1954, Chung Quân cùng gia đình di cư vào Nam, định cư ở vùng Khánh Hội. Nhờ đã từng học sư phạm chuyên ngành về nhạc và danh tiếng của Làng Tôi, Chung Quân được Bộ Quốc gia Giáo dục của Đệ Nhất Cộng Hòa ưu đãi, cho dạy môn nhạc tại hai trường trung học Chu Văn An, và Nguyễn Trãi. Thời gian giảng dạy ở trường Nguyễn Trãi, Chung Quân là thầy dạy nhạc của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng sau này như Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Đức Huy, Nam Lộc... Cũng khoảng thời gian 1955 - 1956, ông có soạn bản hợp xướng Sông Bến Hải, theo một vài ý kiến thì đó là một trường ca có giá trị nghệ thuật, viết về cuộc di cư năm 1954, nhưng về sau không thấy phổ biến rộng rãi.

Trường Nguyễn Trãi năm ấy có cậu học trò nghèo nên buổi trưa thường không về nhà mà nghỉ lại ở trường cùng bữa ăn trưa là gói xôi mà mẹ cậu đã mua cho cậu đem theo từ sáng sớm. Thay vì nghỉ trưa, cậu học trò lại tha thẩn trong trường để rồi lắng nghe được câu chuyện tranh cãi giữa hai người thầy.

Trong một căn phòng, tiếng của vị giáo sư Hà Đạo Hạnh (cử nhân toán) đang ầm ĩ nói với nhạc sĩ Chung Quân

 Trình độ học vấn của anh chỉ đáng là học trò của tôi thôi. Việc anh được dạy chung với những giáo sư như chúng tôi là một vinh dự cho anh, anh có biết điều đó không?
 Nhưng thưa giáo sư, nếu hỏi công chúng có biết nhạc sĩ Chung Quân là ai không? Thì chắc chắn nhiều người biết đó là tác giả của bản nhạc Làng Tôi. Còn như hỏi họ, có biết giáo sư Hà Đạo Hạnh là ai không? Tôi tin người ta không mấy người biết.
Câu chuyện đang đến hồi hấp dẫn, và cậu học trò cố áp sát tai để chờ nghe tiếp xem Giáo sư Hà Đạo hạnh trả lời ra sao, bỗng từ phía sau, một bàn tay lạnh lùng của thầy giám thị véo vào tai cậu học trò kéo đi chỗ khác! Và vì thế mà câu chuyện đành dở dang ở đây.

Rồi thời gian trôi qua, tưởng mọi chuyện đã rơi vào quên lãng. Nhưng không, nhạc sĩ Chung Quân đã không chịu bỏ qua dễ dàng như vậy, ông nhất định phải đòi lại món nợ danh dự này. Không công danh thà nát vói cỏ cây.

Nhạc sĩ Chung Quân sau đó đã quyết chí tiếp tục con đường kinh sử, ông ghi danh theo học và hoàn thành tú tài toàn phần, sau đó, ông lại tiếp tục việc học để đạt cho kỳ được mảnh bằng Đại học. Cuối cùng, ông đã tốt nghiệp cử nhân văn chương tại Anh quốc.

Đã mang tiếng đứng trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông

Nhớ lại câu chuyện ngày xưa, nhạc sĩ Chung Quân sao chép tất cả văn bằng mà mình có được gửi về cho giáo sư Hà Đạo Hạnh kèm theo lời nhắc nhở rất nhẹ nhàng lịch sự.

Thưa giáo sư Hà Đạo Hạnh, tất cả những gì mà giáo sư làm được thì Chung Quân tôi cũng đã làm được. Còn những gì Chung Quân tôi làm được thì giáo sư đã không làm được.

Viết tới đây tôi bỗng nhớ tới bài thơ của cụ Nguyễn Công Trứ có đoạn như sau:

Đã hẳn rằng ai nhục ai vinh
Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong
Chí những toan xẻ núi lấp sông
Làm lên tiếng phi thường đâu đấy tỏ …

Nhạc sĩ Chung Quân đã đòi lại món nợ danh dự năm xưa một cách sòng phẳng bằng ý chí và lòng kiến nhẫn của chính ông. Rất lịch sự, tế nhị mà cũng rất quân tử. Không ồn ào, không gióng trống khua chiêng làm người khác phải ngượng ngùng, mất thể diện. Quả thật, chẳng ai biết trước được chuyện gì xảy ra trong cuộc đời.

Cậu học trò nghe lén câu chuyện ngày xưa sau này cũng theo cái nghề “gõ đầu trẻ”. Ông dạy Trung học đệ nhị cấp (cấp 3) ở miệt dưới tận tỉnh Bạc Liêu. Ngoài công việc dạy học, ông còn làm thêm nghề tay trái là viết báo, viết văn với bút hiệu Thái Phương. Sau biến cố 1975, ông nghỉ dạy và chuyển hẳn sang viết báo. Hiện nay, độc giả biết nhiều đến ông với bút danh nhà văn Đoàn Dự.

Đã có lần, nhà văn Đoàn Dự gặp lại thầy cũ là giáo sư Hà Đạo Hạnh và ông có hỏi vị giáo sư:

 Thưa Thầy, sao ngày đó thầy lại nặng lời với Nhạc sĩ Chung Quân thế ạ!
 Hồi ấy tôi có hơi nóng nảy nên đã quá lời
Mọi chuyện rồi cũng qua đi, người xưa giờ cũng đã trở về cùng cát bụi, nhưng câu chuyện thì sẽ còn mãi như một bài học, một tấm gương về cách đối nhân xử thế của người xưa vậy.

Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
thanks 1 user thanked Thy Lan Thao for this useful post.
HongLan on 11/25/2014(UTC)
Users browsing this topic
Guest
6 Pages«<23456>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.