Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

86 Pages<12345>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#41 Posted : Saturday, October 24, 2009 7:55:24 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,096

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
chị LN ơi .. và các anh / chị thích về ca dao quê hương VN ..
dưới nầy có phải là ca dao không ạ ? Cái nầy là HP đem mấy bài viết rất hay từ đây để chia sẻ nơi cõi ảo khác .. rồi tình cờ thấy trong đó cũng có những điều ngộ nghĩnh và lý thú bàn về ca dao, tục ngữ, thành ngữ VN ..

Trời mưa bong bóng phập phồng
mẹ đi lấy chồng con ở với ai
con về ở với dì hai để cha thoải mái mà hai ba …bà.


Tongue


Hà Phương Hoài  
#42 Posted : Saturday, October 24, 2009 9:23:29 PM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,237
Location: USA

Thanks: 144 times
Was thanked: 102 time(s) in 61 post(s)
quote:
Originally posted by Hoang Thy Mai Thao
chị LN ơi .. và các anh / chị thích về ca dao quê hương VN ..
dưới nầy có phải là ca dao không ạ ? Cái nầy là HP đem mấy bài viết rất hay từ đây để chia sẻ nơi cõi ảo khác .. rồi tình cờ thấy trong đó cũng có những điều ngộ nghĩnh và lý thú bàn về ca dao, tục ngữ, thành ngữ VN ..

Trời mưa bong bóng phập phồng
mẹ đi lấy chồng con ở với ai
con về ở với dì hai để cha thoải mái mà hai ba …bà.


Tongue




Đúng thế, 2 câu đầu là một bài ca dao rất nổi tiếng, riêng 2 câu sau thì Hoài tôi chưa từng thấy. Tặng HP thêm 2 câu có chữ trời mưa bong bóng
Trời mưa bong bóng phập phồng
Mẹ đi lấy chồng con ở với ai ?
Chẳng thà ăn sắn ăn khoai Không ở dượng ghẻ om tai láng giềng

Trời mưa bong bóng phập phồng (2) Em đi lấy chồng để khổ cho anh
và mấy câu có chữ phập phồng
Đứng gần em, gan nọ phập phồng
Nghiêng tai hỏi nhỏ, nước mắt hồng vội tuôn
Gặp mình giữa đám ruộng vuông,
Lời phân chưa hết, nước mắt tuôn theo liền.

Nón treo quai gãy khi không, Can chi bậu sợ phập phồng lá gan.


hph

Hà Phương Hoài  
#43 Posted : Sunday, October 25, 2009 6:00:50 AM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,237
Location: USA

Thanks: 144 times
Was thanked: 102 time(s) in 61 post(s)
"Đẻ đất đẻ nước"
Trong kho tàng văn học dân gian thì ta không chỉ nói đến văn học của Dân tộc Việt (người Kinh) mà phải bao gồm cả 54 sắc dân khác trong cộng đồng Việt Tộc, Xin giới thiệu đến quý vị Bài Sử Thi của dân Tộc Mường
Sử thi "Đẻ đất đẻ nước" có quy mô hoành tráng. Bản sưu tầm ở Thanh Hoá dài tới 8503 câu thơ. Người Mường ở Nghĩ Lộ, Hoà Bình và miền tây Thanh Hoá còn truyền tụng "Đẻ đất đẻ nước". Các thầy mo (thầy cúng) vẫn đọc "Đẻ đất đẻ nước" trong các tang lễ.

2. Tóm tắt

Thuở ấy, khi đất trời còn hỗn mang, bỗng "mưa dầm mưa dãi" nước ngập mênh mông, 50 ngày sau mới rút hết. Tự nhiên mọc lên một cây xanh có 90 cành, có một cành cao trọc trời, biến thành ông Thu Tha, Bà Thu Thiên. Hai Thần truyền lệnh làm ra Đất, Trời và Vạn vật. Sau đó, nắng dữ dội suốt 12 năm liền, mặt đất xơ xác. Thần Pồng Pêu ao ước một trận mưa lớn. Tức thì mưa to gió lớn suốt chín, mười ngày đêm; hạt mưa to bằng quả bưởi, nước lại ngập bao la. Bẩy tháng sau nước rút cạn, có một cây si khổng lồ mọc lên tua tủa 1919 cành. Trời sai con Sâu Gang khoét ruỗng ruột cây si. Cây đổ, mỗi cành hoá ra một bản mường:
..."Một cành đổ về đất Sạp
Nên mường Sạp.
Một cành đổ về đất Giạp
Nên mường Giạp.
Một cành ngã về đất Bi, đất Lỗ. Nên Mường Bi, Mường Lỗ..."


Có một cành si lại hoá ra Mụ Dạ Dần; mụ đẻ ra hai cái trứng kì dị, nở ra cun Bướm Bạc và cun Bướm Bờ. Vừa mới nở, cun Bướm Bạc đã ăn hết 9 chõ cơm; cun Bướm Bờ ăn hết 5 chõ xôi:
"Cun Bướm Bạc và cun Bướm Bờ
Lớn cao hơn đụn chính, đụn mười.
Tiếng cười như tiếng trống cái
Tiếng nói như tiếng sấm vang
Xương vai dài tám mươi lóng Xương sống dài bẩy mươi gang..."


Vua trời cho mười nàng tiên xuống trần gian du ngoạn. Hai cun cưõi ngựa bạc, vác ná đi sãn lợn rừng, gặp các nàng tiên "lưng ong, tóc mượt". Hai nàng tiên quên đường về trời. Họ nên vợ nên chồng . Sau 12 năm 9 tháng, hai nàng tiên sinh được một bầy con mà "Trống chim Tùng, mái chim tót là con út con yêu". Đôi chim trống mái sau "9 ngày, 9 đêm, 9 tháng" để ra 1919 chiếc trứng nở ra Thần Chớp, Thần Mây, nở ra chuột, lợn, voi, thú dữ... Đôi chim đẻ ra lứa thứ hai "được một trứng đen đen bốn khúc - Trứng bầu dục 4 khuôn - Mặt vuông mặt tròn chín cạnh -Rành rành mười hai quai"... Mụ Dạ Dần sai chim chiền chiện ấp, trứng nở ra một bầy con, mỗi đứa nói một thứ tiếng: tiếng Lào, tiếng Thái, tiếng Kinh, tiếng Mọn, tiếng Mường, tiếng Mán, tiếng Mèo… Trứng cũng nở ra anh em nhà lang: ông Dịt Dáng, ông Lang Tà Cái, ông Lang Cun Cần, bố Bướm Khang, ông Sang Si, nàng Vạ Hai Chiếng.... Loài người có từ đấy. Bộ tộc Mường có từ đấy.

Thần Cuộng Minh Vàng Rậm, nàng ả Sấm Trời "đúc 9 mặt trời, đúc được 12 mặt trăng" làm chói chang trời đất. Họ nhà Ngao "thần nỏ" dùng cung tên bắn rụng hết, chỉ để lại một mặt trăng, một mặt trời. Rồi ông Thu Tha, bà Thu Thiên làm ra năm, tháng, ngày, đêm, bốn mùa cho người theo đó làm ăn sinh sống.

Người Mường chưa có thủ lĩnh.Mường nước mời ông Dịt Dáng, rồi mời Lang Tá Cái ra "cầm binh cầm mường”. Cả hai đều bất tài bị "ma đón đường, thuồng luồng xanh","rồng vàng ngăn ngõ". Mường nước phải đi mời Lang Cun Cần ra tiễu trừ ma quỷ, thú dữ.
"Ma chạy từng bầy trốn vào trong núi
Ma rồng sơ Lang Cun Cần trời
Thuồng luồng sợ Lang Cun Cần chặt Ma Trời, ma Đất cùng chạy nhanh nhanh"...


Lang Cun Cần trở thành thủ lĩnh từ đó. Rùa Thần giúp lang dựng nhà cửa to đẹp. Tà Cắm Cọt (thần lửa) cho Cun Cần lửa. Nàng tiên Mái Lúa (thần Trồng Trọt) giúp lang nhiều hạt giống để sản xuất. Lang Khấm Dậm bày cho cách ủ men chế rượu cần. Mụ La, mụ Húng, (thần chăn nuôi) dạy cho mường nước nuôi gia súc, gia cầm. Mường nước có trâu bò cày ruộng làm nương.

Hai chương 17, 18 gồm 1263 câu thơ kể chuyện Lang Cun Cần lấy vợ. Lang lấy em gái nàng Vạ Hai Chiếng, bị làng bản coi khinh, bị vua Trời sai cun Sấm nàng Sét (thiên lôi) xuống trừng phạt, may mà thoát chết. Lang Cun Cần sai bỏ nàng Vạ Hai Chiếng vào rừng sâu. Lang sai người đem lễ vật đi khắp nơi tìm "gái đẹp con dòng". Cun Cần lấy được nhiều vợ: có vợ là con gái vua Trời, có vợ là thần tiên, có vợ là con gái mường nước. Lang Cun Cần có một bầy con:
"Nàng Vậm Đầu Đất
Đẻ được cun Tồi, cái Sang
Nàng Vậm Đầu Nước
Đẻ ra cun Tàng, cái Lớn,
Nàng Ả Sao, Ả Sáng,
Ả Rạng nhà ông vua Trời
Đẻ được Lang Cun Khượng
Ả Gái nuôi trong mường Đẻ ra chàng Toóng Ín..."


Con cái trưởng thành. Lang Cun Cần chia đất cho các con. Anh em bất hoà. Toóng Ín vu cho Lang Cun Khương làm giặc để âm mưu cướp đất của anh. Lang Cun Khương chạy lên vua Trời, nhờ ông ngoại che chở. Trời giáng hoạ, gây ra lũ lụt, ép anh em nhà Lang phải giết Toóng Ín. Từ đó, Lang Cun Khương trở nên một thủ lĩnh giàu có, đầy quyền uy.

Tậm Tạch là tôi tớ của lang đã tìm được cây Chu Đồng (cây thần) lấy được "bông thau, quả thiếc" mà trở nên giàu có. Anh em Lang Cun Khương lập mưu chuốc rượu cho Tậm Tạch say, lừa lấy được "bông thau, quả thiếc". Lang đưa cả mường nước đi chặt cây Chu Đồng kéo về làm nhà chu.Tậm Tạch phản loại bị lang giết chết. Rùa Thần lại giúp lang làm nhà chu "sáng cả mường, kinh kì kẻ chợ", "rạng trời rạng đất". Lang giết 10 voi ngà, 30 trâu mộng, 9 bò, 100 gà sao, nấu 1000 vò rượu, để ăn mừng. Lang Cun Cần ban thưởng cho các con nhiều vàng bạc quý giá.

Con của Tậm Tạch lại đốt nhà chu để báo thù cho cha. Hắn lại bị lang giết chết, máu hắn hoá thành con Moong khổng lồ, tàn phá bản mường. Lang Cun Cần đưa tất cả mường nước đi săn Moong, vô cùng nguy hiểm mới giết được. Moong được ăn thịt; người Lào, người Thái, người Tày, người Mường nhanh chân lấy được da Moong vằn vện mà học được cách thêu thùa, dệt vải rất đẹp. Người Kinh đến sau lấy được thịt và mỡ Moong, từ đấy biết nấu nhiều món ăn ngon.Người "Mường ngoài" (Hoà Bình) đến sau cùng, chẳng được thứ gì , chỉ nhìn thấy đống tro thui Moong, chẳng may, gió thổi tro bay dính vào môi, nên môi người "Mường ngoài" bị đen là vì thế!

Tai hoạ còn nhiều. Chó ăn phải phổi Moong mà thành chó điên. Chó điên bị giết, xác bị quẳng xuống sông, cá ăn phải biến thành Cá điên. Cá điên bị lang bắt giết, bầy quạ ăn phải hoá ra Quạ điên. Mường nước săn nùng mãi, cuối cùng Lang Cun Khương bắn trúng Qụa, cả bày hoảng sợ bay trồn vào rừng sâu. Nhưng rồi hồn Toóng Ín lại biến thành Ma Ruộng đưa bầy Rắn "mỏ vàng, mỏ đỏ" đánh nhau với anh em Lang Cun Khương. Quân hai bên đánh nhau suốt đêm ngày, kịch chiến giữa ruộng, quần nhau trên đồi gianh, đuổi nhau trong rừng sến, hỗn chiến tại bến sông Rồng,... Toóng Ín thất thế phải chạy xuống thuỷ phủ của Long Vương ẩn náu và xin cầu viện. Long Vương biến Toóng Ín thành Ma May, Ma Lang. Hắn đưa binh mã gồm thuồng luồng, ba ba, cá ngao... dâng nước làm lũ lụt, dìm chết được Lang Cun Tàng, Lang Cun Khương cùng mường nước nổi chiêng cồng đem giáo mác, cung nỏ, lưới... vây các ngả sông đón đánh. Giặc Ma May, Ma Lang bị đại bại, bỏ lại trên bãi chiến trường bao xác loài thuỷ quái, làm thổi cả bản mường.

Từ đó, mường nước yên vui, hoà bình thịnh vượng. Lang Cun Cần đã sống được trên vạn năm. Trẻ già, trai gái mường nước nô nức sắm áo quần, lo kiệu lo ngai, rước vua về, "Đồng chì tam quan kẻ chợ"

Phân Tích:
Đẻ nước

1. Xuất xứ

Đoạn thơ này trích gần trọn chương "Đẻ nước" trong sử thi "Đẻ đất đẻ nước"; từ câu 268-334 theo sưu tầm của Hoàng Anh Nhân (Thanh Hoá)

2. Ý chủ đạo

Đoạn thơ nói về trận đại hồng thuỷ thời tiền sử - buổi đầu khai thiên lập địa theo cách cảm nhận riêng của người Mường xa xưa.

3. Ông Pồng Pêu

Là Thần Mưa theo cách gọi của ngưòi Mường.

Thiên tai kéo dài "Hạn 9 tháng biền biệt - nắng 12 năm xác đất" làm cho muôn loài đau khổ: "cây cau úa cả tàu - rừng vàu không mọc măng", làm cho "chó mực, chó ngao lè lưỡi, rái cá phải chạy lên đồi"...

Ông Pồng Pêu lúc đó đang ngồi "đan chài" và "đan lưới" trong nhà, bình dị như con người lao động. Ông ngước nhìn khắp trời đất, rồi gọi gió, gọi "mưa cho mát lòng các loài thú hiền thú dữ, cây lau cây bái". Tức thì trời mưa to. Pồng Pêu là biểu tượng cho ý nguyện của muôn loài muôn vật và con người vì sự sống bắt diệt trên trái đất.


4. Cảnh trời mưa
Mưa miêu tả dữ dội chẳng khác nào trận đại hồng thuỷ trong Kinh thánh nói đến. Mây vàng mây đen đùn lên che kín cả bầu trời, gió ùn ùn thổi điên cuồng. Cun Sấm nàng Sét cùng ra oai:
"Lanh lảnh cun Sấm xuống thét Lăm lăm nàng sét xuống đánh".

Mưa kéo dài "mưa 9 đêm, mưa liền 9 ngày". Hạt mưa " to bằng hột cà" về sau "to bằng quả bưởi". Nước ngập mênh mông. Mưa để "rước nàng ngâu về trời" để "đưa chàng ngâu qua sông Ngân". Mưa "ngập cây", "ngập bụi", mãi "bốn tháng nước rút - bẩy tháng nước xuôi". Mưa đem đến sự sống cho đàn cua đá, đàn cá, đàn ba ba, đàn cá chuối, đàn nòng nọc, đàn cá cơm. Sau khi "đẻ nước" trời "đẻ đất".
Có đất, đất đang xơ xác,
Có nước, nước ùn đục ngầu Đó vẫn là cảnh thiên địa sơ khai.


Biện pháp lặp và liệt kê được nhà thơ dân gian xưa của tộc Mường, vận dụng tạo nên ấn tượng "đẻ nước". Thần mưa, thần Sấm, thần Sét, Chức nữ, Ngưu lang...được nói đến hồn nhiên đầy ý vị. Đoạn sử thi đã giải thích hiện tượng mưa gió, lũ lụt qua cảm quan nghệ thuật “vạn vật hữu linh" của người Mường thời viễn cổ.


hongvulannhi  
#44 Posted : Sunday, October 25, 2009 12:36:53 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,244

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5289 time(s) in 3545 post(s)
Ca Dao Tình Yêu

Wednesday, 8. April 2009, 02:02:31

Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh gây nên những bất ngờ thú vị là chất hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu Nam Bộ. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây.

Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, không dụng công, toát ra một cách tự nhiên qua những từ ngữ mộc mạc; không hề chau chuốt chân thật đến độ người nghe phải bật cười. Một anh chàng quá đỗi si tình đã trở thành "liều mạng":

"Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông"

Một cô nàng thật thà cả tin đã giật mình "hú vía"
vì kịp thời nhận ra "chân tướng" đối tượng:

"May không chút nữa em lầm
Khoai lang khô xắt lát em tưởng cao ly sâm bên Tàu"

Có những nỗi niềm tương tư ấp ủ trong lòng, nhưng cũng có khi người ta không ngại ngần thổ lộ trực tiếp với bạn tình:

"Tôi xa mình hổng chết cũng đau
Thuốc bạc trăm không mạnh, mặt nhìn nhau mạnh liền"

Họ là những người lao động chân chất, nên cũng bày tỏ tình cảm với nhau bằng thứ khẩu ngữ thường ngày không chưng diện, màu mè, tuy vậy, cái tình trong đó cũng mãnh liệt và sâu sắc.

Đây là lời tâm sự của một anh chàng đêm hôm khuya khoắt lặn lội đi thăm người yêu:

"Thương em nên mới đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau
May đất mềm nên mới hổng đau
Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này"

Chàng thật thà chất phác, nhưng mà cũng có chút ranh ma đấy chứ? Chất hóm hỉnh đã toát ra từ cái "thật thà tội nghiệp".

Nhưng phần lớn vẫn là sự hóm hỉnh mang tính chất đùa nghịch. Một chàng trai đã phóng đại nỗi nhớ người yêu của mình bằng cách so sánh ví von trào lộng:

"Vắng cơm ba bữa còn no
Vắng em một bữa giở giò không lên"

Nỗi vấn vương tơ tưởng đi vào tận giấc ngủ khiến chàng trở nên lú lẫn một cách buồn cười:

"Phòng loan trải chiếu rộng thình
Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn mình, em ơi!"

Nhưng cái độc đáo là ở đây nỗi niềm đó lại được bộc lộ một cách hài hước:

"Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa
Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều"

Có một chút phóng đại làm cho lời nói nghe hơi khó tin! Nhưng hề gì. Chàng nói không phải cốt để đối tượng tin những điều đó là sự thật mà chỉ cốt cho nàng thấu hiểu tấm tình si của mình. Nàng bật cười cũng được, phê rằng "xạo" cũng được, miễn sao hiểu rằng mình đã phải ngoa ngôn lên đến thế để mong người ta rõ được lòng mình.

Lại có một chàng trai đang thời kỳ tiếp cận đối tượng, muốn khen cô nàng xinh đẹp, dễ thương mà khó mở lời trực tiếp. Để tránh đột ngột, sỗ sàng, chàng đã nghĩ ra một con đường vòng hiếm có:

"Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh
Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương".

Mục đích cuối cùng chỉ đơn giản là khen "mình dễ thương" mà chàng đã vòng qua năm non bảy núi. Bắt đầu từ thế giới tự nhiên - trong thế giới tự nhiên lại bắt đầu từ ông trời - tạo hóa sinh ra những loại cây, hoa đẹp đẽ - rồi mới bước qua thế giới của loài người - trong thế giới loài người lại từ hiện tại ngược dòng lịch sử để bắt đầu từ tổ tiên ông bà, tới thế hệ cha mẹ, rồi tới nhân vật chính - "mình". Thật là nhiêu khê, vòng vo tam quốc làm cho đối tượng hoàn toàn bất ngờ. Những lời ngộ nghĩnh kia dẫn dắt tới sự hiếu kỳ háo hức muốn biết "chuyện gì đây", cho đến khi cái kết cục thình lình xuất hiện làm cho cô nàng không kịp chống đỡ... Nhưng mà nó thật êm ái, thật có duyên biết bao, nên dù phải đỏ mặt, cô hẳn cũng vui lòng và không thể buông lời trách móc anh chàng khéo nịnh!

Ngược lại, cũng có những lời tỏ tình khá táo bạo, sỗ sàng, nhưng hình ảnh thì lại hết sức ngộ nghĩnh, dí dỏm:

"Con ếch ngồi dựa gốc bưng
Nó kêu cái "quệt", biểu ưng cho rồi"

Những người nghe câu "xúi bẩy" này không thể không bật cười, còn đối tượng xúi bẩy cùng lắm cũng có thể tặng cho người xúi có phần trơ tráo kia một cái nguýt dài.

Những câu ca dao hóm hỉnh không chỉ bật lên từ tâm trạng đang vui, tràn đầy hy vọng, có khi "rầu thúi ruột" mà họ vẫn đùa. Những trắc trở trong tình yêu nhiều lúc được trào lộng hóa để ẩn giấu nỗi niềm của người trong cuộc:

"Thác ba năm thịt đã thành bùn
Đầu thai con chim nhạn đậu nhánh tùng chờ em"

Quả là "khối tình thác xuống tuyền đài chưa tan", nên chàng lại quyết tâm chờ tiếp ở kiếp sau cho đến khi nào nên duyên nên nợ. Kiên nhẫn đến thế là cùng!

Khi chàng trai cố gắng đến hết cách vẫn không cưới được người mình yêu, không biết trút giận vào đâu, bèn đổ lỗi cho một nhân vật tưởng tượng:

"Quất ông tơ cái trót
Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
Biểu ông xe mối chỉ năm bảy lần, ổng không xe"

Thái độ quyết liệt trong tình yêu lắm lúc được thể hiện đầy ấn tượng. Anh chàng hay cô nàng trong câu ca dao dưới đây đã xem cái chết nhẹ như lông hồng. Thà chết còn hơn là lẻ bạn!

"Chẳng thà lăn xuống giếng cái "chũm"
Chết ngủm rồi đời
Sống chi đây chịu chữ mồ côi
Loan xa phượng cách biết đứng ngồi với ai?"

Có chàng trai thì quyết tâm đem tuổi thanh xuân gửi vào cửa Phật:

"Nếu mà không lấy đặng em
Anh về đóng cửa cài rèm đi tu"

Chàng vừa muốn tỏ lòng mình vừa muốn thử lòng người yêu. Và cô nàng cũng tỏ ra quyết tâm không kém. Chàng đi đến đâu nàng theo đến đó để thách thức cùng số phận:

"Tu đâu cho em tu cùng
May ra thành Phật thờ chung một chùa"

Bằng câu đùa dí dỏm của mình, cô nàng đã làm nhẹ hẳn tầm nghiêm trọng của vấn đề trong tư tưởng anh chàng và cũng hóa giải tâm tư lo âu, phiền muộn của chàng - "Có gì đáng bi quan đến thế? Cái chính là em vẫn giữ vững lập trường" - đồng thời cũng hàm thêm chút chế giễu - "Mà có chắc là tu được không đấy?".

Khi yêu, nhiều cô gái cũng mạnh dạn bày tỏ tình cảm của mình không kém các chàng trai.

"Phải chi cắt ruột đừng đau
Để em cắt ruột em trao anh mang về"

Không tiếc cả thân thể, sinh mạng của mình, nhưng cô gái chỉ... sợ đau, thật là một cái sợ đầy nữ tính rất đáng yêu. Hay khi chàng trai muốn liều mình chứng tỏ tình yêu, nhưng cũng lại "nhát gan" đến bật cười:

"Gá duyên chẳng đặng hội này
Tôi chèo ghe ra sông cái, nước lớn đầy... tôi chèo vô"

Tinh nghịch, hóm hỉnh những lúc đùa vui và cả những khi thất vọng, đó là vũ khí tinh thần của người lao động để chống chọi những khắc nghiệt của hoàn cảnh. Những chàng trai, cô gái đất phương Nam đã lưu lại trong lời ca câu hát cả tâm hồn yêu đời, ham sống, hồn nhiên của họ trên con đường khai mở vùng đất mới của quê hương tiếp nối qua bao thế hệ - Đó là tinh thần phóng khoáng, linh hoạt, dày dạn ứng biến của những con người "Ra đi gặp vịt cũng lùa; Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu"...
(Tạp chí Tài hoa trẻ)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#45 Posted : Sunday, October 25, 2009 1:58:28 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,244

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5289 time(s) in 3545 post(s)
ĐÔI ĐIỀU TÂM TÌNH

Cùng các bạn thân mến,
Sau một tuần mở mục TỤC NGỮ CA DAO VÀ QUÊ HƯƠNG, được các bạn nồng nhiệt ủng hộ, LN rất cảm kích và biết ơn.

Sau khi nghe được những lời góp ý của một số bạn, LN đã suy nghĩ, và đồng ý với sự góp ý của các bạn, nên thêm phần Danh Ngôn vào mục Tục Ngữ Ca Dao. chúng ta cũng cần phải nhắc nhớ đến những lời hay ý đẹp của các Danh Ngôn, để lấy đó làm châm ngôn cho cuộc đời, và nhiều khi còn cần bàn luận, mổ xẻ về một ý tưởng nào đó, hay một câu nói nào đó...

LN mong các bạn hãy hưởng ứng và đóng góp bài vở thêm nữa, cho Quán Tục Ngữ Ca Dao càng ngày càng phong phú về bài vở, và đông người vào đọc và góp ý hơn nữa.

Thành thực cám ơn các bạn

TÌnh thân,
HONG VU LAN NHI
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#46 Posted : Sunday, October 25, 2009 2:14:37 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,244

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5289 time(s) in 3545 post(s)
Ca Dao Tình Yêu
(Hươu Dấn Thân Sưu tầm)

Mình về em dặn mình rằng
Ðâu hơn (thì) mình kết, đâu bằng (thì) đợi em
Ai về Giồng Dứa qua truông
Gió run bông sậy để buồn cho em
Có yêu thì nói rằng yêu
Chẳng yêu thì nói một điều cho xong
Làm chi dở đục dở trong
Lờ lờ nước hến cho lòng tương tư
Ðường dài ngựa chạy biệt tăm
Người thương có nghĩa trăm năm cũng về
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Em đây vốn thiệt chưa chồng
Núi cao, sông rộng, biết gởi lòng cùng ai
Thò tay xuống ngắt cọng ngò
Thương em đứt ruột giả đò ngó ra
Tình thương quán cũng như nhà
Lều tranh có nghĩa hơn tòa ngói cao
Có thương thì thương cho trắc
Còn trục trặc thì trục trặc cho luôn
Ðừng như con thỏ đầu truông
Khi vui giỡn bóng, khi buồn nó giỡn trăng
Rượu ngon bất luận be sành Anh thương em không vì bởi tấm áo lành của mẹ cha.


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#47 Posted : Sunday, October 25, 2009 5:54:50 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,096

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
quote:
Originally posted by hongvulannhi
ĐÔI ĐIỀU TÂM TÌNH

Cùng các bạn thân mến,
Sau một tuần mở mục TỤC NGỮ CA DAO VÀ QUÊ HƯƠNG, được các bạn nồng nhiệt ủng hộ, LN rất cảm kích và biết ơn.

Sau khi nghe được những lời góp ý của một số bạn, LN đã suy nghĩ, và đồng ý với sự góp ý của các bạn, nên thêm phần Danh Ngôn vào mục Tục Ngữ Ca Dao. chúng ta cũng cần phải nhắc nhớ đến những lời hay ý đẹp của các Danh Ngôn, để lấy đó làm châm ngôn cho cuộc đời, và nhiều khi còn cần bàn luận, mổ xẻ về một ý tưởng nào đó, hay một câu nói nào đó...

LN mong các bạn hãy hưởng ứng và đóng góp bài vở thêm nữa, cho Quán Tục Ngữ Ca Dao càng ngày càng phong phú về bài vở, và đông người vào đọc và góp ý hơn nữa.

Thành thực cám ơn các bạn

TÌnh thân,
HONG VU LAN NHI


Đại Tỷ LN kính - quí và thương mến,
Tiểu Muội HP xin thay mặt phía độc giả nơi đây để nói về sự đồng ý hoàn toàn với "đôi điều tâm tình" chị LN bày tỏ đó ạ .
Riêng phần mình , HP rất cảm ơn sự làm việc miệt mài của tất cả các quí anh / chị và quí bạn để tô điểm cho mảnh vườn Ca Dao - Tục Ngữ - Danh Ngôn thêm ngày càng tươi tốt và đẹp đẽ - những cây cành, hoa lá, trái xum xuê . Để những người là độc giả trung thành như HP được hưởng nhiều lắm những điều tốt và hữu ích . Vì mỗi lần muốn thư giãn đầu óc là chạy vào "lớp học" vườn quê nầy - được cười theo nụ cười dân gian rất dễ thương ... hay được trầm ngâm suy nghĩ thêm về cuộc đời, về con người . Những yêu thương, giận hờn, trách móc hay ghét bỏ ... qua vô vàn hình ảnh rất sống động của đời sống gia đình - xã hội Việt Nam từ ngàn xưa cho tới ngàn nay .

Theo ý nghĩ của HP :
- Ca Dao là Ý - Lời của Hồn Quê Hương - Dân Tộc được chắt chiu gạn lọc .. để lại bằng ngôn từ thật là giản dị, đơn sơ mà sâu sắc vô vàn . Bởi thế Ca Dao mới là ngọt ngào như dòng sữa Mẹ .. thấm vào hồn con lời tình tự Quê Hương .
- Tục Ngữ là suy tư người thầy giảng luận trong lặng lẽ về luân lý - đạo đức làm người, về hiểu biết lẽ sống, về niềm tin và hi vọng . Vì thế, Tục Ngữ được gọi là "cẩm nang" về kiếp sống nhân sinh .
- Danh Ngôn là những trái ngon ngọt nhất trên cành cây cuộc sống . Cho ta biết nơi cuộc đời trần gian - thì những thành công - thất bại, hay những cay đắng - khổ đau - hạnh phúc nào cũng đều được trả giá trước hoặc sau bởi chính ta và đồng loại .

Đa tạ và chúc tất cả & tất cả luôn vui vẻ & an hoà .
Thân tình, HP-HTMT

UserPostedImage
Hà Phương Hoài  
#48 Posted : Sunday, October 25, 2009 8:48:29 PM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,237
Location: USA

Thanks: 144 times
Was thanked: 102 time(s) in 61 post(s)
quote:
Originally posted by hongvulannhi
ĐÔI ĐIỀU TÂM TÌNH

Cùng các bạn thân mến,
Sau một tuần mở mục TỤC NGỮ CA DAO VÀ QUÊ HƯƠNG, được các bạn nồng nhiệt ủng hộ, LN rất cảm kích và biết ơn.

Sau khi nghe được những lời góp ý của một số bạn, LN đã suy nghĩ, và đồng ý với sự góp ý của các bạn, nên thêm phần Danh Ngôn vào mục Tục Ngữ Ca Dao. chúng ta cũng cần phải nhắc nhớ đến những lời hay ý đẹp của các Danh Ngôn, để lấy đó làm châm ngôn cho cuộc đời, và nhiều khi còn cần bàn luận, mổ xẻ về một ý tưởng nào đó, hay một câu nói nào đó...

LN mong các bạn hãy hưởng ứng và đóng góp bài vở thêm nữa, cho Quán Tục Ngữ Ca Dao càng ngày càng phong phú về bài vở, và đông người vào đọc và góp ý hơn nữa.

Thành thực cám ơn các bạn

TÌnh thân,
HONG VU LAN NHI



Lan Nhi Quý Mến

Ý kiến của LN và các bạn rất hay tuy nhiên Hoài tôi có chút bảo thủ .
1. Khi nói Ca Dao và Tục Ngữ và Quê Hương là chúng ta đang hướng về Cội nguồn, có nghĩa là chúng ta chỉ chú tâm đến cái hay cái đẹp của cha ông.
2. Khi nói đến Danh Ngôn mà ta không xác định Danh Ngôn Việt Nam hay Danh Ngôn Thế Giới. Nếu bảo rằng đã là Danh Ngôn thì chung chung, đâu cũng được vậy thì chúng tôi sẽ được ăn bát phở nóng sốt trên có bỏ Camembert của Tây và Limberger của Mỹ.

Với cái đầu óc của "Ông già xứ Huế cổ lỗ xỉ" Hoài tôi thấy không ổn khi tựa đề của trang đang từ Tục Ngữ Ca Dao và Quê Hương đang biến dạng thành Tục Ngữ - Ca Dao - Danh Ngôn và Quê Hương làm cho Hoài tôi cảm thấy chới với, Nhất là sáng vừa thức dậy đang còn mơ màng trong giấc mộng đi từ Cà Mau, Hậu Giang lên tới cực Bắc quê ta để xem Sử Thi của dân Tộc Mường Hoài tôi không khỏi bỡ ngỡ.

Bây giờ tuy đã tỉnh táo viết đôi dòng cho quý vị Hoài tôi vẫn chưa thấy hướng đi của Tục Ngữ-Ca Dao-Danh Ngôn và Quê Hương "ổn" trong mai hậu.

Trân Trọng
Hà Phương Hoài  
#49 Posted : Monday, October 26, 2009 2:35:58 AM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,237
Location: USA

Thanks: 144 times
Was thanked: 102 time(s) in 61 post(s)
quote:
Originally posted by hongvulannhi
Ca Dao Tình Yêu
(Hươu Dấn Thân Sưu tầm)

...................
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Em đây vốn thiệt chưa chồng
Núi cao, sông rộng, bi.............





Qua mấy bài ca dao tình yêu trên có bài nhắc đến 2 địa danh của đất thần Kinh: Núi Ngự Và Sông An Cựu. Hai địa danh nầy có gì đặc biệt mà thơ văn cũng như Ca Dao đã thường xuyên nhắc đến với biết bao là thân thương:

Sau đây là vài câu ca dao đượm tình quê hương về núi Ngự Bình và sông An Cựu được trích từ
http://e-cadao.com/cadaomain.asp
Mãng vui Hương Thủy, Ngự Bình
Ai vô Bình Định với mình thì vô
Chẳng lịch bằng đất kinh đô
Nhưng Bình Định không đồng khô cỏ cháy
Hai dòng sông chảy Ba dãy non cao
Biển đông sóng vỗ dạt dào Tháp xưa làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh

Xuất xứ: - Miền Trung, Bình Định, Huế (Câu số 26018 )
Núi Ngự Bình mơ màng trăng gió
Niềm tâm sự ai thấu rõ cho mình;
Đoái nhìn sông Hương nước chảy thanh thanh,
Sông bao nhiêu nước dạ em si tình bấy nhiêu.
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo,
Sông An Cựu nắng đục mưa trong,
Mặc ai một dạ hai lòng,
Em ôm duyên thủ tiết loan phòng đợi anh.
Nước trong xanh bên thành con yến trắng
Thẳng cánh cò bay tới cõi xa xăm.
Anh đi mô không bóng không tăm,
Năm canh em đợi ruột tằm héo hon.
Thiên sinh nhơn hà nhơn vô lộc,
Địa sinh thảo, hà thảo vô căn,
Một mình em ngồi giữa lòng thuyền dưới nước trên trăng. Biết ai trao duyên gởi nợ cho bằng thế gian?

Xuất xứ: - Miền Trung, Huế (Câu số 26064 )
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Đôi ta như chỉ lộn vòng Đẹp duyên thì đẹp nhưng tơ hồng không xe

Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 5264 )
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo (2)
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Em đây vốn thực chưa chồng Núi cao sông rộng biết gởi lòng cùng ai?

Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 5265 )
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo (3)
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Kìa ai lắng đục tìm trong Chứ em đây thủy chung như nhất, một lòng với anh

Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 5266 )
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo (4)
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Mặc ai, một dạ hai lòng, Ôm duyên thủ tiết, một lòng đợi anh

Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 5267 )
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo (5)
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Dẫu ai ăn ở hai lòng Em đây vẫn một dạ thủy chung với chàng

Xuất xứ: - Đại Chúng (Câu số 5268 )
Núi Ngự Bình:

Núi Ngự Bình đứng trơ vơ về phía tây nam, cách kinh thành Huế khoảng 3 km (2 miles) là ngọn núi hình thang, cao 105 m (315 ft), đỉnh bằng phẳng. Tên cũ của Núi Ngự là Bằng Sơn.
Cùng với sông Hương núi Ngự Bình, người ta quen gọi Huế là xứ sở của Sông Hương - Núi Ngự.
Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn viết “Phía Đông bắc Hương Thuỷ, nổi vọt lên ở quãng đất bằng” như hình bức bình phong làm lớp án thứ nhất trước kinh thành Huế, tục gọi là núi Bằng, đời Gia Long đặt cho tên hiện nay (Ngự Bình), đỉnh núi bằng phẳng, khắp nơi trồng thông"
Núi Ngự Bình cao 105m, dáng cân đối, uy nghi. Hai bên Bằng Sơn có hai ngọn núi nhỏ chầu vào gọi là Tả Bật Sơn và Hữu Bật Sơn. Vương triều Nguyễn được thành lập, quyết định xây dựng kinh thành Huế, thấy Bằng Sơn như một bức bình phong án ngữ trước mặt, Gia Long chấp nhận đồ án của các thầy địa lý: chọn núi này làm tiền án của hệ thống phòng thành đồ sộ, kiên cố và đổi tên cho ngọn núi này là Ngự Bình.


Một nhánh của sông Hương chảy về Hà Trung, Hà Trữ có tên là Sông An Cựu hay Lợi Nông

Để có thể hiểu thấu đáo về Sông An Cựu, xin trích bài khảo luận của Bác Sĩ Hồ Đắc Duy
SÔNG AN CỰU
HỒ DẮC DUY

Ở thành phố Huế có 4 con sông: sông Hương, sông Như Ý, sông Bạch Yến và sông Gia Hội.

Ngoài sông Hương và Gia Hội chảy qua thành phố, còn lại là các sông chảy quanh vùng ngoại ô. Tất cả đều là chi lưu của sông Hương, mỗi con sông có một dáng dấp khác nhau về hình thể, chiều dài và đặc tính kinh tế cũng như gắn liền với lịch sử phát triển của vùng đất Thừa Thiên – Huế từ khi các chúa Nguyễn hùng cứ ở phương Nam.
Sông An Cựu là con sông đào, nhưng lại là con sông dài nhất với chiều ngang khá khiêm tốn chỉ xấp xỉ 1/15 so với sông Hương.
Sau khi lên ngôi hoàng đế, vua Gia Long bắt đầu cho xây dựng kinh thành và lập ra kế hoạch phát triển vùng phụ cận Huế, biến vùng đất này trở thành trung tâm quyền lực chính trị của vương triều mới.
Sau khi quan sát địa lý hình thể và thăm dò ý dân nhà vua quyết định cho đào sông Lợi Nông.

Sông Lợi Nông nằm bờ nam là thủy lộ nối sông Hương với đầm Hà Trung là một đầm nằm trong hệ thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, thông thương với biển đông bằng hai cửa Thuận An và Tư Hiền.

UserPostedImage

Cửa sông An Cựu bắt đầu bên bờ nam sông Hương ngay điểm cuối cùng của mũi phía đông của cồn Dã Viên ở tọa độ 16°27'33.67" vĩ Bắc 107°34'33.82" kinh Đông sông được khơi trên một lòng một con suối cũ, chảy theo hướng bắc nam, bờ phía tây của sông chảy dọc theo dưới chân của gò Dương Xuân, Bến Ngự, Phủ Cam, Kho Rèn… đến vùng An Cựu thì chảy thẳng vào đồng bằng càng ngày càng cách xa vùng núi Ngự Bình – Thiên Thai, Ngũ Phong chảy chừng 17 dặm thì đến hành cung Thần Phù chảy thêm 28 dặm nữa qua hành cung Thuận Trực rồi đổ vào phá Hà Trung ở tọa độ 16°21’ vĩ Bắc 107°45' kinh Đông. .

UserPostedImage

Sông An Cựu có một hệ thống mạng lưới nhận nước khá lớn từ các khe suối của vùng đồi núi nằm bờ phía tây của sông như vùng gò Dương Xuân, Phủ Cam, Ngự Bình Thiên Thai, Ngũ Phong, Thần Phù, Phú Bài kéo dài cho đến, Hà Trung, Hà Trử.

Hệ thống nhận nước này cách đây 60-70 chục năm còn thấy rõ bời các khe suối lộ thiên khi chúng đổ vào sông An Cựu, hiện nay bị che khuất, bị san lấp, bị đô thị hóa, bị cải tạo… nhất là ở các vùng Nam Giao, Bến Ngự, Phủ Cam đã bị biến dạng hoàn toàn, dấu tích còn lại của hệ thống này là cống nằm bên cạnh nhà số 156B đường Phan Chu Trinh. Hệ thống này là cơ chế để giải thích câu ca :

Núi Ngự Bình trước tròn sau méo
Sông An Cựu nắng đục mưa trong....

Với câu ca này, cách đây gần mười năm khi công trình làm đập trên nguồn Tả Ngạn của sông Hương hay đường Trường Sơn đã làm cho nước sông Hương dục ngầu trong một vài năm, sau khi công trình hoàn thành, các vùng đất đá được rửa sạch nước sông lại trong như cũ, cũng thế hiện nay sắc nước của sông An Cựu không còn đúng như các thập niên 50-60 của thế kỷ trước nữa, thay vào đó là lũ lụt, ngập úng.

Sông An Cựu dài 45 dặm dài hơn sông Hương 10 dặm, hình sông được khắc tượng vào Chương Đỉnh. Thời Gia Long sông mang tên An Cựu đến khi vua Minh Mạng lên ngôi được 2 năm thì đổi tên là sông Lợi Nông.
Khâm Định Đai Nam Hội Điển Sự Lệ, trang 200 quyển 212 cho biết năm Gia Long thứ 13 vua ra lệnh vét sông An Cựu tứ bờ nam sông Hương đến cửa sông Lê Xá dài 1217 trượng 7 thước. Đến năm 1833 vua Minh Mạng ban sắc cho tiếp tục vét sông Lợi Nông từ địa phận các xã Thần Phù, Lê Xá, Lương Xá gồm 17 đoạn với tổng số chiều dài là 447 trượng, mặt sông rộng 1 trượng 5 thước, dáy sông rộng 1 trượng 3 thước 2 tấc.
Dọc theo hai bên bờ sông cho trồng tre để giữ đất tránh sạt lở bờ khi lũ lụt, suốt chiều dài 45 dặm của sông An Cựu các vua triều Nguyên đặt 2 hành cung là hành cung Thần Phù và hành cung Thuận Trực. Hành cung là nơi nhà vua nghỉ chân trong các chuyến thăm viếng dân tình.

Lúc khời đầu khi đào sông chỉ vì mục đích lợi nông, biến hàng ngàn vạn mẫu đất vùng rừng hoang đầm lầy ngập mặn thuộc khu vực đầm Hà Trung, đầm Thanh Lam, đầm Mỹ Á, An Truyền, Tô Đà… trở thành đồng ruộng phì nhiêu, khi kinh tế nông nghiệp phát triển thì kéo theo sự phát triển các cụm dân cư rải rác dọc theo 2 bên bờ sông như chợ Bến Ngự, chợ An Cựu… thủy lộ duy nhất và quan trọng số một đi từ kinh thành về phía nam là con sông An Cưu, từ đầm Hà Trung - Đá Bạc - Cầu Hai thuyền có thể ra biển đông bằng cửa biển Tư Hiền có thể theo đường bộ qua Hải Vân Quan.

Sông An Cựu trở nên con đường thủy huyết mạch của trung tâm quyền lực cjính trịcủa vương triều nhà Nguyễn ở Huế.

Vào thập kỷ 50 của thế kỷ trước vẫn còn những chuyến đò dọc từ làng Hà Trung – Hà Trử , từ Lương Điền - Nong – Phú Bài từ Thần Phù – Giạ Lê về Huế. Những con đò dọc mang đầy ắp cây trái, lúa khoai, đặc sản tôm cá của vùng đầm phá Cầu Hai Bạch Mã. Giọng hò đối đáp từ những con đò dọc này vang lên giữa đêm khuya nhất các đêm trăng rằm trên sông An Cựu nghe thật lạ lùng, quyến rũ đến liêu trai, phải là những cư dân sống 2 bên bờ sông hay những hành khách xuôi đêm mới cảm nhận cái đẹp vô ngần ấy, tiếng hò trên sông An Cựu êm đềm và ấm cúng hơn trên sông Hương vì sông Hương quá rộng nên tiếng hò không bay xa, không ngân vang như trên sông vĩ Dạ, Như Ý, An Cựu.

Thật may mắn cho người viết vì đã có một thời thơ ấu sống bên giòng sông An Cựu thập niên 40 – 50 của thế kỷ trước

Bây giờ hình như người ta lãng quên cái thủy lộ một thời huy hoàng trong quá khứ.

Nay tình trạng ô nhiễm ngày càng trầm trọng, nước sông không còn xanh ngọt như xưa mà nó có màu đen và mùi hôi, nhất là chung quanh khu vực chợ Bến Ngự, An Cựu và một đám bèo hoa dâu đang phát triển rất nhanh trước măt cung An Định, mặt sông dày đặc rác và các chất thải thâm chí cả xác súc vật chết.

Nước thải của những hộ dân sống quanh bờ sông và từ chợ Bến Ngự, AnCựu… đều được đổ xuống giong sông này mà không qua xử lý.
Giòng chảy đang bị thu hẹp dần, do mực nuớc xuống thấp nên đất ở lòng sông trồi lên rải rác từ cầu Nam Giao xuống cung An Định, trên các bãi bồi này cỏ dại mọc rất nhanh. Bèo hoa dâu bám vào làm cản trở giòng chảy khiến cho việc lưu thông giảm đi rất nhiều hậu quả làm khả năng tự làm sạch cũng bị mất đi.

Một số cư dân đã ra phát cỏ, đắp kè, giãy đất bồi để trồng rau muống, môn, khoai...

Và kể từ khi hệ thống điều tiết nước ở Cống Phú Cam (Cửa Khâu) được xây dựng vào năm 1978, tại vị trí đầu sông An Cựu thì tình trạng ô nhiễm này càng nhiều hơn vì nước không được rửa sạch từ nguồn nước sông Hương, người phụ trách điều tiết, quản lý môi trường vệ sinh chưa ý thức được hết trách nhiệm nên…

Các cây cầu bắc ngang qua sông An Cựu như cầu Ga cách cửa sông khoảng 500m, cầu Nam Giao, cầu Bến Ngự, cầu Phủ Cam Phú Ca ) cầu Kho Rèn, cầu An Cựu, những cây cầu này được xây dựng từ thế kỳ trước chì có thể xử dụng trong một vài năm nữa mà thôi.

Và hiện nay người ta bắc thêm 3 chiếc cầu chưa đặt tên, cây cầu cuối cùng ở khu vực Thần Phù gần nơi mà vua Minh Mạng đã cho xây dựng một hành cung gần 2 thế kỷ trước.

Muốn mang đến một món quà cho những ai yêu Huế và cho một người muôn năm cũ đã sống bên bờ sông An Cựu của một thời vàng son thuở trước
Hồ Đắc Duy

Vì sao Sông An Cựu nắng đục mưa trong

Chắc hẳn những ai đã sống ở Huế đều không thể không biết đến hai câu ca dao :
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo Sông An Cựu nắng đục mưa trong

Thế nhưng đã có mấy ai đã từng đặt câu hỏi Vì sao sông An cựu lại “nắng đục mưa trong” ? Con sông gắn liền với những địa danh quen thuộc : Bến Ngự, Phủ Cam, An cựu… đã từng đi vào thi ca, âm nhạc và nó cũng mang trong mình một truyền thuyết vô cùng thú vị.

UserPostedImage

Sông An cựu ngày xưa ( đoạn này có tên là Phủ Cam)

Sông An Cựu là chi lưu của sông Hương, chảy qua phía Nam Thành phố Huế, sông còn có tên là Lợi Nông. Đây là một con sông đào, được đào vào năm Gia Long 13. Vua Gia Long cho đào khơi thông sông Hương với sông Đại Giang nhập vào phá Hà Trung, góp phần thau chua rửa mặn cho cánh đồng Hương Thuỷ, vì vậy mới có tên là Lợi nông. Ngoài ra, sông An Cựu còn có tên khác là sông Phủ Cam hay sông Thanh Thuỷ. Năm 1836, sông Lợi Nông đã được khắc vào Chương đỉnh trong Cửu đỉnh đặt trong Hoàng Thành.

Ở đoạn đầu của sông có Bến Ngự để thuyền rồng của nhà vua cập bến mỗi khi đi tế trời ở Đàn Nam Giao. Phía hạ lưu có các hành cung Thần Phù, Thuận Trực để vua tạm nghỉ trong những lần về chơi ở phá Hà Trung hoặc về rừng Đông Lâm săn bắn.

Theo truyền thuyết thì đầu thế kỷ 19, khi sơn hà xã tắc đã thống nhất, cùng với việc kiến thiết xây dựng kinh đô, củng cố triều chính, phát triển kinh tế, vua Gia Long đã sắc cho Bộ Công đào sông An Cựu theo ước nguyện của dân trong vùng. Lúc đó dòng sông được khơi thông từ vũng eo dưới mũi cồn Giã Viên. Nhưng do khơi dòng đúng vào nơi hang động của một con thuồng luồng khổng lồ nhiều năm ẩn dật dưới lòng sông Hương làm cho hang động của nó bị lộ ra, do vậy mà mỗi khi trời nắng, thời tiết nóng không chịu được nó trở nên dữ tợn, vẫy vùng, khuấy đảo phù sa, làm đục ngầu cả dòng nước nguồn, chính vì vậy mà sông An Cựu trở nên đục vào những ngày nắng. Còn những ngày mùa thu, tiết trời mát mẻ, thuồng luồng nằm im trong hang động, dòng sông không bị khuấy đảo, nước sông An Cựu trở nên trong vắt như mặt nước Hương Giang.

UserPostedImage

UserPostedImage

Sông An Cựu với bờ kè hai bờ sông

Trên thực tế, thì dòng sông này là dòng sông đào nhận nước từ sông Hương trong xanh chảy về Phá Hà trung và ra biển nên ngay cả những ngày mưa nước vẫn ít khi đục vì không có nước nguồn trên núi chảy về. Trái lại, mùa nắng hạn, nước sông cạn, có khi cạn gần đến đáy sông và lại có màu vàng đục của lớp phù sa dưới đáy. Ngoài ra còn có một cách giải thích khác nữa, tôi không biết có chính xác không những đến bây giờ cái kiến thức này vẫn tôi vẫn không bao giờ quên. Đó là vào năm tôi học học lớp 9, thầy Việt Anh ( trường Nguyễn Tri Phương - Huế) dạy chúng tôi môn hoá học đã đưa ra một cách giải thích khác hẳn và rất chi là hoá học : sở dĩ sông An Cựu nắng đục mưa trong là do dưới lòng sông chứa một hàm lượng lớn nguyên tố sắt, vào mùa nắng sông cạn nước, nhiệt độ lên cao do đó xảy ra phản ứng khử tạo ra oxit sắt kết tủa có màu nâu đỏ, chính hàm lượng oxit sắt này lơ lửng trong dòng nước đã làm cho nước sông có màu đục ngầu. Đến khi trời lạnh lớp oxit sắt này lắng xuống nên dòng sông lại trong xanh. Một lời giải thích thú vị mà cho đến bây giờ tôi vẫn không quên cả câu ca dao lẫn bài học của Thầy. Cách lý giải này mặc dù chưa được kiểm chứng nhưng có một chi tiết liên quan đến nó, đó là một trong những cây cầu bắc qua dòng sông này có tên là cầu Kho rèn (nối liền đường Trần Phú và đường Lý Thường Kiệt). Phải chăng theo cách gọi tên cây cầu như vậy thì nơi đây xưa kia đã có một Kho rèn hoặc một lò rèn lớn hoạt động, như vậy liệu có phải vùng đất ở đây có sắt hoặc giả sắt từ lò rèn này mà trôi xuống lòng sông?
Cho đến bây giờ thì dòng sông An Cựu, không chỉ nắng đục mà mưa nước vẫn đục. Đất đai từ các cống rãnh hàng năm vẫn đổ xuống dòng sông. Người ta vẫn lén lút đổ rác, đổ xà bần xây dựng xuống dòng sông làm cho dòng sông đào vốn đã không sâu bây giờ ngày lại càng cạn dần. Có những đoạn sông vào mùa nắng hạn mặt nước chỉ còn xâm xấp đáy sông.

UserPostedImage

Lực lượng thanh niên và dân phòng vớt bèo trên sông An cựu

Chính quyền thành phố cũng đã tốn không biết bao nhiêu tiền để nạo vét dòng sông, dọn rác, xây kè chống xói lở và vành đai hai bên bờ, tạo cảnh quang cho dòng sông, vậy mà chính những bờ kè và lề sông ấy lại trở thành những quán ăn, quán bia, quán giải khát di động và có ai chắc rằng rác từ đó lại không được xả xuống dòng sông? Nếu mỗi một người dân không tự ý thức trong việc bảo vệ môi trường, cứ đà ấy, viễn cảnh của một dòng sông đen chẳng mấy chốc sẽ trở thành… cận cảnh! Và, hàng chục tỷ của Nhà nước đã và đang đổ ra để chỉnh trang đôi bờ sông An Cựu sẽ không còn mấy ý nghĩa. "Sông An Cựu, nắng đục, mưa trong" câu ca dao xưa đã đi vào tâm thức của người dân xứ Huế chẳng lẽ bây giờ chỉ là huyền thoại ?

UserPostedImage
Cung An Định - một công trình di tích lịch sử nằm ngay sát bờ sông An Cựu

Nguồn: myblog.yahoo.com/ngvliem/


Hoàng Thy Mai Thảo  
#50 Posted : Monday, October 26, 2009 3:19:24 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,096

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
chị LN, anh HPH và quí anh/chị - quí bạn thân mến,
HP thấy có người hỏi về câu ca dao dưới đây :
Nhạn đậu cành thung
giương cung bắn nhạn; Con nhạn lụy rồi, làm bạn với ai
?
Ca dao


đọc cũng thấy ngộ nghĩnh lắm thay - vì HP có nhỏ em út tên là Nhạn Lì ... quá xá là lì .. nên HP đem về đây nhờ các anh chị "giải mã" giùm cành thung là cành gì?

HP cám ơn trước thật nhiều .
Thân mến, HP

ps.
@ Anh HPH, HP cám ơn anh Hoài về mấy câu ca dao có hai chữ "phập phồng" hôm trước - hay lắm !( có người cũng gọi tên HP chỉ với chữ Hoài đó ạ Smile)
@ Chị LN ơi, tiểu muội HP thì đại tỷ LN nói gì cũng đồng ý hết à .. thế mới biết HP dễ tính há Tongue

Hà Phương Hoài  
#51 Posted : Monday, October 26, 2009 4:35:37 AM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,237
Location: USA

Thanks: 144 times
Was thanked: 102 time(s) in 61 post(s)
quote:
Originally posted by Hoang Thy Mai Thao
chị LN, anh HPH và quí anh/chị - quí bạn thân mến,
HP thấy có người hỏi về câu ca dao dưới đây :
Nhạn đậu cành thung
giương cung bắn nhạn; Con nhạn lụy rồi, làm bạn với ai
?
Ca dao


đọc cũng thấy ngộ nghĩnh lắm thay - vì HP có nhỏ em út tên là Nhạn Lì ... quá xá là lì .. nên HP đem về đây nhờ các anh chị "giải mã" giùm cành thung là cành gì?

HP cám ơn trước thật nhiều .
Thân mến, HP




HP quý mến:

Câu hỏi của HP cũng khá hóc búa vì Câu:
Nhạn đậu cành thung
giương cung bắn nhạn; Con nhạn lụy rồi, làm bạn với ai
?

có 2 chữ cổ "Cành Thung" hoặc là phương ngữ mà nay chẳng còn ai xài;
Đây là vài tài liệu có thể phần giải thích ý nghĩa của "Cành Thung"

1. Tuyển tập các bài văn cúng cổ truyền có bài Văn khấn Lễ Tiểu Tường, Đại Tường (Giỗ đầu, giỗ thứ 2)

Nam mô a di Đà Phật!
- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.
- Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương
- Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân
- Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo,
Cao Tằng Tổ tỷ
Hôm nay là ngày…. Tháng ……. Năm ……….. Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.
Nay nhân ngày Giỗ Đầu (Giỗ thứ Hai) theo nghi lễ cổ truyền,
Kính dâng lễ mọn biểu lòng thành.
Trước linh vị của: Hiển………………chân linh.
Xin kính cẩn thưa rằng:
Than rằng: Mây che núi Hổ (nếu là cha hoặc núi Dĩ nếu là mẹ) muôn dặm mơ màng Gió thổi cành Thung (nếu là cha thì Cành Thung hoặc cành Huyên nếu là mẹ) một vùng nghi ngút
Nhớ thưở trước, một nhà sum họp, vui vầy những ước, đặng trăm năm
Mà bấy nay, đôi ngả cách xa, nông nỗi nào ngờ, nên một phút.
Ơn chín chữ, trời cao biển rộng, hiểm chưa chút công đền nghĩa trả, gánh cương thường, nghĩ nặng trên vai;
Đêm năm canh, than vắn thở dài, những mơ màng tiếng nói điều ăn, lòng tưởng vọng, thấm đau trong ruột.
Cõi trần thế, xuân qua thu lại, ngày trời kể, chẵn một năm tròn; (hoặc hăm bốn tháng tròn).
Giỗ Tiểu Tường (hoặc Đại Tường) lễ bạc tâm thành, chén rượu dâng một vài tuần rót.
Nhà đơn bạc, còn nhiều bề khiếm khuyết, hương thơm, nến đỏ, việc lễ nghi, tạm gọi theo thời;
Bài văn ai kể mấy khúc nôm na, tâm động, thần tri, miền minh phủ, may chi thấu chút. Xin kính mời: Hiển:…………………………………………. Hiển:…………………………………………. Hiển:………………………………………….
Cùng các vị Tiên linh Tổ bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ về hâm hưởng.
Kính cáo: Liệt vị Tôn thần, Táo Quân, Thổ Công, Thánh Sư, Tiên Sư, Ngũ tư Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho tòan gia an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Cẩn cáo!

2. Trong sách Bích Câu Kỳ Ngộ,câu 19 được học giả Hoàng Xuân Hãn đọc Nôm là “Phúc lành nhờ ấm thung huyên”.
Cụ chú thích “Thung huyên": cha mẹ. Chính âm là Xuân-huyên. Chữ thung là cối giống chữ Xuân, nên có sự sai ấy.
Nhưng sự sai có từ xưa. Tự vị Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 cũng đã chép vậy.
Và trong văn vần ta như Kiều có câu: “ở trên còn có nhà thung. Lượng trên trông xuống biết lòng có thương”.

Chữ vần thung kia không thể đổi được…” Tạ Trọng Hiệp về sau còn bổ sung thêm các chứng cứ cho việc chữ XUÂN phải đọc là THUNG trong văn thơ Nôm như sau:
- Tống Trân số phận long đong
Lên ba bỗng bị nhà thung chầu trời. (Tống Trân Cúc Hoa, 25,26)

- Tuyết sương trắng điểm cành thung
Phan phu nhân mới rướm dòng nước hoa
(Phan Trần, 35,36)

- Con giữ đạo tam tòng Riêng còn một cội huyên thung
Muộn mằn chưa nảy chồi lan quế.
(chèo Quan Âm Thị Kính)

- Tủi thân sớm vắng nhà thung
Lấy ai dạy dỗ cậy trông sau này
(Thạch Sanh, 115,116)

- Chị nhờ em gánh hiếu trung
Chồi huyên gần cỗi gốc thung gần già (Nhị Độ Mai, 973,974).

Như vậy Cành Thung có thể là cành xuân Hoặc Cành Thung là Nhà Cha

hph

hongvulannhi  
#52 Posted : Monday, October 26, 2009 5:03:23 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,244

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5289 time(s) in 3545 post(s)
Anh hph thân mến,
LN đã rất vui khi mở mục Tục Ngữ Ca Dao và Quê Hương tại vùng đất của Trưng Vương và Thân hữu, nơi có đông đảo bà con ghé qua thăm, đọc và tìm hiểu ngọn ngành ý nghĩa của Ca Dao.

Bằng chứng là hp đã mang về những câu ca dao để " hỏi" trang chủ ca dao hph những câu mà đa số chúng ta chỉ đọc, hoặc thuộc lòng mà lại ít hiểu về những ý nghĩa gửi gấm trong đó.

Chẳng hạn, ngày còn nhỏ, khi LN đọc câu:

Tiếc thay cây quế giữa rừng
Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo...

thì LN đã chỉ hiểu được rằng, quế là loại quí hiếm. Và Mường, Mán là dân tộc thiểu số quê mùa, ở trong rừng rú, không biết được quế là loại cây qui ... nên đối với loại quê mùa đó thì cây quế cũng giống như những cây hoang dại trong rung mà thôi.

Khi lớn hơn, LN bước vào ngưỡng cửa Trung học, thì sự hiểu biết về hai câu ca dao đó có phần rộng hơn.

Tiếc thay cây quế giữa rừng,
Để cho tha9`ng Mán, thằng Mường nó leo

là ý chỉ vua nhà Trần đã gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm Thành là Chế Mân, và của hồi môn là hai châu Ô và châu Lý...

Dân gian xót thương cho lá ngọc cành vàng Huyền Trân, nên đã truyền tụng trong dân gian lời ca dao ai oán đó.

LN nói không ngoa, nếu chúng ta tìm đọc ca dao, sẽ thấy đủ Hỉ, Nộ, Ái, Ố trong đó.

Cám ơn anh hph đã post nhiều bài giá trị về ca dao. LN vừa đọc xong bài " Sông An Cựu nắng đục, mưa trong ", và đã hiểu đưọc trọn nghĩa tại sao " nắng đục, mưa trong.
hp thân thương,
@ Chị LN ơi, tiểu muội HP thì đại tỷ LN nói gì cũng đồng ý hết à .. thế mới biết HP dễ tính há Tongue

"tiểu muội của chị LN" nghe nè, không phải là dễ hay khó tính, mà là chị em mình luôn luôn nhìn về khía cạnh đẹp có chân tình bao phủ. Cũng như em mang logo nào về UNT chị cũng đồng ý hết á.Smile

Tuy nhiên, theo anh hph cho biết, thì tục ngữ ca dao thuần tuý vẫn là đề tài rộng lớn, bao la như đất trời. Tìm hiểu một mình vấn đề đó thôi cũng ná thở rồi. Nhớ rằng em cũng là một trong team của UNT, có nghĩa là em cũng phải đi tìm các bài nói về ca dao tục ngữ đem về post cho bà con đọc đấy nha.

Chúc anh hph và hp một ngày đầu tuần vui thật vui.
HONG VU LAN NHI



Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#53 Posted : Monday, October 26, 2009 9:55:32 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,244

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5289 time(s) in 3545 post(s)
Chất hóm hỉnh trong Ca dao tình yêu Nam Bộ

Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh gây nên những bất ngờ thú vị là chất hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu Nam bộ. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây.

Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, không dụng công, toát ra một cách tự nhiên qua những từ ngữ mộc mạc; không hề trau chuốt chân thật đến độ người nghe phải bật cười. Một anh chàng quá đỗi si tình đã trở thành 'liều mạng':

'Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông'

Một cô nàng thật thà cả tin đã giật mình 'hú vía' vì kịp thời nhận ra 'chân tướng' đối tượng:

'May không chút nữa em lầm
Khoai lang khô xắt lát em tưởng cao ly sâm bên Tàu'

Có những nỗi niềm tương tư ấp ủ trong lòng, nhưng cũng có khi người ta không ngại ngần thổ lộ trực tiếp với bạn tình:

'Tôi xa mình hổng chết cũng đau
Thuốc bạc trăm không mạnh, mặt nhìn nhau mạnh liền'

Họ là những người lao động chân chất, nên cũng bày tỏ tình cảm với nhau bằng thứ khẩu ngữ thường ngày không chưng diện, màu mè, tuy vậy, cái tình trong đó cũng mãnh liệt và sâu sắc.

Đây là lời tâm sự của một anh chàng đêm hôm khuya khoắt lặn lội đi thăm người yêu:

'Thương em nên mới đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau
May đất mềm nên mới hổng đau
Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này'

Chàng thật thà chất phác, nhưng mà cũng có chút ranh ma đấy chứ? Chất hóm hỉnh đã toát ra từ cái 'thật thà tội nghiệp'.

Nhưng phần lớn vẫn là sự hóm hỉnh mang tính chất đùa nghịch. Một chàng trai đã phóng đại nỗi nhớ người yêu của mình bằng cách so sánh ví von trào lộng:

'Vắng cơm ba bữa còn no
Vắng em một bữa giở giò không lên'

Nỗi vấn vương tơ tưởng đi vào tận giấc ngủ khiến chàng trở nên lú lẫn một cách buồn cười:

'Phòng loan trải chiếu rộng thình
Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn mình, em ơi!'

Nhưng cái độc đáo là ở đây nỗi niềm đó lại được bộc lộ một cách hài hước:

'Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa
Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều'

Có một chút phóng đại làm cho lời nói nghe hơi khó tin! Nhưng hề gì. Chàng nói không phải cốt để đối tượng tin những điều đó là sự thật mà chỉ cốt cho nàng thấu hiểu tấm tình si của mình. Nàng bật cười cũng được, phê rằng 'xạo' cũng được, miễn sao hiểu rằng mình đã phải ngoa ngôn lên đến thế để mong người ta rõ được lòng mình.

Lại có một chàng trai đang thời kỳ tiếp cận đối tượng, muốn khen cô nàng xinh đẹp, dễ thương mà khó mở lời trực tiếp. Để tránh đột ngột, sỗ sàng, chàng đã nghĩ ra một con đường vòng hiếm có:

'Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh
Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương'

Mục đích cuối cùng chỉ đơn giản là khen 'mình dễ thương' mà chàng đã vòng qua năm non bảy núi. Bắt đầu từ thế giới tự nhiên - trong thế giới tự nhiên lại bắt đầu từ ông trời - tạo hóa sinh ra những loại cây, hoa đẹp đẽ - rồi mới bước qua thế giới của loài người - trong thế giới loài người lại từ hiện tại ngược dòng lịch sử để bắt đầu từ tổ tiên ông bà, tới thế hệ cha mẹ, rồi tới nhân vật chính - 'mình'. Thật là nhiêu khê, vòng vo tam quốc làm cho đối tượng hoàn toàn bất ngờ. Những lời ngộ nghĩnh kia dẫn dắt tới sự hiếu kỳ háo hức muốn biết 'chuyện gì đây', cho đến khi cái kết cục thình lình xuất hiện làm cho cô nàng không kịp chống đỡ… Nhưng mà nó thật êm ái, thật có duyên biết bao, nên dù phải đỏ mặt, cô hẳn cũng vui lòng và không thể buông lời trách móc anh chàng khéo nịnh!

Ngược lại, cũng có những lời tỏ tình khá táo bạo, sỗ sàng, nhưng hình ảnh thì lại hết sức ngộ nghĩnh, dí dỏm:

'Con ếch ngồi dựa gốc bưng
Nó kêu cái 'quệt', biểu ưng cho rồi'

Những người nghe câu 'xúi bẩy' này không thể không bật cười, còn đối tượng xúi bẩy cùng lắm cũng có thể tặng cho người xúi có phần trơ tráo kia một cái nguýt dài.

Những câu ca dao hóm hỉnh không chỉ bật lên từ tâm trạng đang vui, tràn đầy hy vọng, có khi 'rầu thúi ruột' mà họ vẫn đùa. Những trắc trở trong tình yêu nhiều lúc được trào lộng hóa để ẩn giấu nỗi niềm của người trong cuộc:

'Thác ba năm thịt đã thành bùn
Đầu thai con chim nhạn đậu nhánh tùng chờ em'

Quả là 'khối tình thác xuống tuyền đài chưa tan', nên chàng lại quyết tâm chờ tiếp ở kiếp sau cho đến khi nào nên duyên nên nợ. Kiên nhẫn đến thế là cùng!

Khi chàng trai cố gắng đến hết cách vẫn không cưới được người mình yêu, không biết trút giận vào đâu, bèn đổ lỗi cho một nhân vật tưởng tượng:

'Quất ông tơ cái trót
Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
Biểu ông se mối chỉ năm bảy lần, ổng hổng se'

Thái độ quyết liệt trong tình yêu lắm lúc được thể hiện đầy ấn tượng. Anh chàng hay cô nàng trong câu ca dao dưới đây đã xem cái chết nhẹ như lông hồng. Thà chết còn hơn là lẻ bạn!

'Chẳng thà lăn xuống giếng cái 'chũm'
Chết ngủm rồi đời
Sống chi đây chịu chữ mồ côi
Loan xa phượng cách biết đứng ngồi với ai?'

Có chàng trai thì quyết tâm đem tuổi thanh xuân gửi vào cửa Phật:

'Nếu mà không lấy đặng em
Anh về đóng cửa cài rèm đi tu'

Chàng vừa muốn tỏ lòng mình vừa muốn thử lòng người yêu. Và cô nàng cũng tỏ ra quyết tâm không kém. Chàng đi đến đâu nàng theo đến đó để thách thức cùng số phận:

'Tu đâu cho em tu cùng
May ra thành Phật thờ chung một chùa'

Bằng câu đùa dí dỏm của mình, cô nàng đã làm nhẹ hẳn tầm nghiêm trọng của vấn đề trong tư tưởng anh chàng và cũng hóa giải tâm tư lo âu, phiền muộn của chàng - 'Có gì đáng bi quan đến thế? Cái chính là em vẫn giữ vững lập trường' - đồng thời cũng hàm thêm chút chế giễu - 'Mà có chắc là tu được không đấy?'.

Khi yêu, nhiều cô gái cũng mạnh dạn bày tỏ tình cảm của mình không kém các chàng trai.

'Phải chi cắt ruột đừng đau
Để em cắt ruột em trao anh mang về'

Không tiếc cả thân thể, sinh mạng của mình, nhưng cô gái chỉ… sợ đau, thật là một cái sợ đầy nữ tính rất đáng yêu. Hay khi chàng trai muốn liều mình chứng tỏ tình yêu, nhưng cũng lại 'nhát gan' đến bật cười:

'Gá duyên chẳng đặng hội này
Tôi chèo ghe ra sông cái, nước lớn đầy… tôi chèo vô'

Tinh nghịch, hóm hỉnh những lúc đùa vui và cả những khi thất vọng, đó là vũ khí tinh thần của người lao động để chống chọi những khắc nghiệt của hoàn cảnh. Những chàng trai, cô gái đất phương Nam đã lưu lại trong lời ca câu hát cả tâm hồn yêu đời, ham sống, hồn nhiên của họ trên con đường khai mở vùng đất mới của quê hương tiếp nối qua bao thế hệ - Đó là tinh thần phóng khoáng, linh hoạt, dày dạn ứng biến của những con người 'Ra đi gặp vịt cũng lùa; Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu'...
TS. Đoàn Thị Thu Vân
(Theo tạp chí Tài Hoa Trẻ)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Linh Phuong  
#54 Posted : Monday, October 26, 2009 11:09:04 AM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng
UỚc gì anh lấy được nàng
Thì anh mua gạch bát tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Có rửa thì rửa chân tay Chớ rửa lông mày chết cá ao anh.
hongvulannhi  
#55 Posted : Monday, October 26, 2009 5:21:31 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,244

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5289 time(s) in 3545 post(s)
THÁCH CUOI

Em là con gái nhà giàu
Mẹ cha thách cưới ra màu sinh sao
Cưới em trăm tấm gấm đào
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời
Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng
Sắm xe tứ mã đem sang
Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu
Ba trăm nón Nghệ đội đầu
Một người một cái quạt Tàu thật xinh
Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình
May chăn cho rộng ta mình đắp chung
Cưới em chín chĩnh mật ong
Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò
Cưới em tám vạn trâu bò
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm
Lá đa mặt nguyệt hôm rằm
Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi
Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng
Thách thế mới thỏa trong lòng Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#56 Posted : Monday, October 26, 2009 8:28:06 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,096

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
Muốn cho hai bảy mười ba Hai bảy mười bốn người ta thiếu gì
Câu nầy bắt đầu từ Tam Kỳ truớc năm 1945.
Tam Kỳ có một huyện gọi là huyện Hà đông. Tại đây có 2 vợ chồng nghèo, ngày kỵ cha chồng, bà vợ nấu chè cúng. Nấu xong, vợ múc chè và kêu chồng đem lên bàn thờ. Bà vợ đếm thầm, ông chồng bưng lên 7 lần, mỗi lần 2 tay 2 chén tức là 14 chén. Sau khi cúng xong, ông chồng bưng xuống chỉ còn có 13 chén.
Vợ hạch sách chồng:
-2 lần 7 là 14 chén, sao chỉ còn có 13?
Chồng cải lại:
-2 lần 7 là 13 chứ sao lại 14!
Hai bên đều nhất định mình là đúng, cải hoài không đuợc, đem lên quan Huyện. Ông quan Huyện nầy ăn hối lộ khét tiếng nên đuợc chồng đút lót truớc.
Hôm ra công đường, quan huyện bảo:
-Hãy đếm từ tháng 7 đến tháng 8, 9, 10, 11, 12, tháng giêng, tháng 2, 3 ,4, 5, 6 rồi đến tháng 7. Như vậy có phải đếm 2 tháng 7 là 13 tháng không? (nghỉa là đúng với cách đếm trên đầu ngón tay).
Thế là chị vợ thua kiện vì quan ăn hối lộ. Vợ tức quá nên hát lên rằng:

"Nực cuời ông huyện Hà Đông! Xử vị lòng chồng hai bảy muời ba.
Nói ra tan cửa nát nhà, Nghe ra hai bảy muời ba bực mình!"

# by Vi Hoàng / PNV
Hà Phương Hoài  
#57 Posted : Monday, October 26, 2009 9:15:31 PM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,237
Location: USA

Thanks: 144 times
Was thanked: 102 time(s) in 61 post(s)
quote:
Originally posted by Linh Phuong
Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng
UỚc gì anh lấy được nàng
Thì anh mua gạch bát tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Có rửa thì rửa chân tay Chớ rửa lông mày chết cá ao anh.


Nhân thấy Linh Phượng đưa bài Trên trời có đám mây xanh......



Bài nầy đã gây nhiều tranh luận và hình như vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Xin được đưa lên để nhờ quý bằng hữu chỉ giáo

Trong tám câu trên về cú pháp thể thơ thì chẳng có gì để thắc mắc, nhưng khi xét về nội dung thì câu 6 và câu 8 là trọng tâm của tranh luận:
Câu 6: Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân Câu 8: Chớ rửa lông mày chết cá ao anh.

Trước hết ta thử định nghĩa chữ hồ. Theo từ điển tiếng Việt thì
hồ là:
- 1 dt Nơi trũng ở trong đất liền, sâu và rộng, chứa nước thường là ngọt: Hồ Hoàn-kiếm; Hồ Tây ở Hà-nội; Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân (cd).
- 2 dt Bầu đựng rượu (cũ): Thơ lung túi, rượu lưng hồ (cd).
- 3 dt Cháo loãng nấu bằng gạo hoặc bằng bột: Ăn hồ, ăn cháo cho xong bữa; Có bột mới gột nên hồ (tng).
- 4 dt Chất dính ong để dán: Quấy bột làm hồ; Mua một lo hồ về dán phong bì thư.
- 5 dt Thứ nhạc cụ kéo như kéo nhị: Tiếng hồ trầm hơn tiếng nhị.
- 6 dt Âm đầu trong năm âm của nhạc cổ nước ta: Hồ, xừ, xang, cống, xế.
- 7 dt Con cáo (cũ): Đàn hồ, lũ thỏ một ngày quét thanh (NĐM).
- 8 dt Tiền người đánh bạc nộp cho chủ ong bạc: Chứa thổ đổ hồ (tng).
- 9 đgt 1. Cho quần áo hoặc tơ, sợi vào nước có pha bột để cho cứng: Hồ sợi trước khi dệt 2. Nhúng quần áo vào nước có pha chất xanh nhạt: áo sơ-mi hồ lơ.
- 10 trgt Hầu như; Gần như: Của thì như nước hồ vơi lại đầy (cd); Hồ vui sum họp lại xa khơi (ChMTrinh).


ao là:
- 1 d. Chỗ đào sâu xuống đất để giữ nước nuôi cá, thả bèo, trồng rau, v.v. Ao rau muống. Ao sâu tốt cá (tng.). - 2 đg. Đong để ước lượng. Ao thúng thóc. Ao lại dầu xem còn mấy chai.

Theo bài Tản Mạn Ca Dao của Nhà văn Nguyễn Phú Long (Ohio, USA) thì:

Về tám câu ca dao rất phổ thông trên đây, tôi có mấy thắc mắc từ lâu, thắc mắc vì chẳng hiểu tại sao câu thứ sáu đang nói xây hồ, mà câu thứ tám lại là ao. Thắc mắc vì rửa chân tay thì được mà rửa lông mày thì lại chết cá ao anh?

Một vị cao niên người khô như con mắm nhưng làm thơ ướt át như mới vớt dưới nước lên, trong lúc trà dư tửu hậu, nói với tôi đại ý, hồ hay ao cũng là một chỗ đất chũng có nước, hồ có khi lớn hơn ao, nhưng cũng có khi nhỏ hơn ao, mà dù to dù nhỏ thì cũng được thôi, văn chương bình dân đâu có ai khắt khe bắt lỗi… hơn nữa về phương diện âm điệu, chữ ao nơi câu tám đắc địa hơn chữ hồ, mới lại biết đâu đó chẳng qua là người xưa muốn tránh…điệp tự!

Lời phát biểu chứng tỏ tính dễ dãi, chín bỏ làm mười, dĩ hòa vi quý…đúng là một nhà thơ, chẳng lấy làm quan trọng hai chữ “Chính danh” làm nghe tới đây tôi chợt nhớ đến bài tiểu luận nói về Khuất-Nguyên và tết Đoan-Ngọ mới đọc ngày nào đại ý…

Sử ký Tư-Mã-Thiên khi chép chuyện quan tả-đô nước Sở là Khuất-Nguyên
(343 – 277 trước Công Nguyên) tự tử ở sông Mịch-La lúc thì viết đeo đá (bội thạch) khi thì tả ôm đá (Bảo thạch) ông vô tình cũng không “nhất trí “ quan tâm đến ngữ nghĩa dù chỉ là hai từ nhỏ làm cho Tiêu-Dĩ-Cự, một nhà nghiên cứu sử thời Mạt Minh đặt thành Mịch La nghi án! Cho nên nhiều khi xin chớ coi thường lỗ nhỏ, lỗ nhỏ cũng làm đắm thuyền và lời phát biểu của vị cao niên kia chỉ xin ghi nhận như một ý kiến cá nhân rất đáng quý, có tính cách tham dự tích cực vào việc cùng nhau thảo luận tìm giải thích cho một thể tài chung, gây hào hứng.

Còn vấn đề “Đừng rửa lông mày chết cá ao anh” thì một vị cao niên khác, uyên bác Hán học, luôn gọi tôi là tiên sinh, mặc dù tôi đã từng gõ cửa học hỏi ba điều bốn chuyện nhiều phen, cũng bữa đó cho hay, bài ca dao này thực ra còn hai câu chót Có chết thì chết cá mè ranh, Đừng chết cá trắm, chép mà anh bắt đền!

Tôi hơi ngạc nhiên vì chưa nghe bao giờ. Trong cuốn Ca-Dao Hài-Hước của Đào-Thản tái bản hồi tháng 8 năm 2001 ở trong nước, bài này cũng chỉ có 8 câu. Ông bạn vong niên còn lưu ý, trong hai câu cuối này, nêu lên toàn những loài cá mầu trắng, thân hình như chiếc lá, giống như cá diếc! Rất gợi hình, ví von,chúng

Khác hẳn loại cá xộp, cá quả, cá trê… mình tròn. Phải hiểu ngầm, ý tại ngôn ngoại, ngôn ngữ, nhất là văn chương, đôi khi không nói ra được… “sự thật phũ phàng!” Hơn nữa, đôi khi ngôn ngữ lại có nhiều nghĩa khác nhau, thí dụ, lấy ý từ tập Cửu Chương, chương Tư-Mỹ-Nhân, của Khuất-Nguyên, Tô-Đông-Pha đã viết câu thơ dưới đây và chữ “Mỹ nhân “ là để chỉ “nhà vua “ chứ không phải người đẹp.
Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương.

Một thí dụ khác, đọc câu ngạn ngữ “Mèo mả gà đồng.” và câu ca dao “Măng non nấu với gà đồng, Chơi nhau một chuyến xem chồng về ai.”

Thì “gà đồng” nơi câu ca dao là con ếch chứ không phải con gà như trong câu ngạn ngữ.
Nói về đám mày râu, thì trong truyện Thúy Kiều, khi tả Từ Hải “Vai năm tấc rộng thân mười thước cao.”

Đọc qua thấy vóc dáng gì kỳ quá mỗi thước là 0,425 mét Vậy cha nội này chẳng đi cà-khêu mà cao hơn 4 mét! Cao quá! Kềnh càng, khác người quá! Nhưng phải tả khác thiên hạ như thế mới nói lên được cái tài năng khác thiên hạ, ý của tác giả là thế, giống như trong truyện Tam-Quốc Chí cũng vậy tác giả La Quán Trung đã áp dụng phương pháp khoa trương, phóng đại để tả hình dáng nhân vật: “hình dáng Lưu Bị mình cao bẩy thước rưỡi, hai tai chấm vai, tay dài quá đầu gối” Văn chương đâu phải khoa học mà cần rõ ràng như hai với hai là bốn, nói vậy mà không phải vậy ca dao cũng vậy. Hãy nghe câu ca dao dưới đây nào ai đi hỏi “Thế cái tỉnh tình tinh là cái gì?” Người xinh cái bóng cũng xinh, Người giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn!

Vâng, văn chương chẳng phải khoa học, Khoa học là rất khó và văn chương cũng chẳng dễ đâu. Mấy điều nhận xét trên đây là những đóng góp, tham dự thật hào hứng, quý báu, biết đâu, chả có quý vị cao minh đây đó biết rành sự thật, để ý chỉ vẽ, góp ý thêm cho tác giả sau này thì “chúng tôi” thật là hoan hỷ và vô vàn cảm tạ.

Mặt khác văn chương truyền khẩu, đại chúng, tác giả phần lớn là những người bình dân ít học, ít thông hiểu chữ Hán như các vị túc nho, sáng tác ca dao Việt-Nam vậy cũng là tuyệt vời, làm sao bì được với “kẻ sĩ”, “Văn như Siêu, Quát…” mà các vị này gặp trường hợp nói đến các chữ tục, thì lại biểu diễn, thường dùng chữ nghĩa cao siêu cho nó thanh thoát nhẹ nhàng bớt, chẳng hạn: hậu môn, tiểu tiện, cửa mình, “em ngồi bên cửa mình em!”. Trong quá khứ ta cũng còn thấy nhiều vị đã phô diễn tài năng diễn tả những đều khó nói ấy trong văn thơ một cách độc đáo, tuyệt vời: Đầu sư chẳng phải gì bà vãi, Bá ngọ con ong bẽ cái lầm.
Hồ-Xuân-Hương.
Thu-Ba khen ngợi Thu-Bồn, Thu-Bồn cảm động sờ “tay” Thu-Ba.
Bùi-Giáng (?)

Tuy nhiên với tinh thần cầu học, tôi chẳng muốn giữ thái độ “Biết thì thưa thì thốt, chẳng biết thì dựa cột mà nghe.” Xin mạo muội trình bầy thêm mấy ý nghĩ thô thiển, dù đúng dù sai, cũng là đóng góp phần nhỏ vào bài Tản Mạn… cho thêm hào hứng vì “Tới đây chẳng hát thì hò, Chẳng phải như cò ngỏng cổ mà nghe.” Và có điều gì không phải ước mong các vị am tường điều chỉnh cho.

Trước hết, đọc bài ca-dao trên đây ta thấy mạch văn không liền từ đầu đến cuối. Hình như có một người xướng xuất sáu câu đầu và một người khác bổ túc những câu sau. Hai người này có thể ở những vùng đất khác nhau, ở các giai đoạn thời gian khác nhau như trường hợp câu “Ba phen quạ nói với diều ” Song cũng có thể cùng nhau hiện diện một lúc để cùng “tán tỉnh” cô gái trước mặt.

Đây chỉ là sự phỏng đoán vì câu thứ sáu chẳng thấy vần với câu thứ bẩy và giọng văn của sáu câu thứ nhất tao nhã, bóng bẩy, văn vẻ, trang trọng… chẳng như những câu còn lại, lời nói nôm na, thiếu hoa mỹ. Lại nữa, chữ thứ hai của mỗi câu đều là vần trắc, hơi lạm dụng luật “Bình: Hai, sáu, tám. Trắc: Tư.”
Xin đọc lại một lần nữa hai câu này: Có rửa thì rửa chân tay, Chớ rửa lông mày chết cá ao anh.

Câu trên thấy hai danh từ chỉ định những phần thân thể có thể đem rửa dưới ao là chân và tay. Chân tay, nhất là chân tay nhà nông, thường dính bụi bậm, đất cát không thải ra những chất gây cho cá chết. Vì vấn đề cân xứng, câu dưới nếu có hai danh từ chỉ định những phần thân thể không nên rửa ở dưới ao thì câu ca dao lý thú hơn. Do đó tôi nghĩ, có lẽ, xin nhấn mạnh chữ có lẽ, lông mày không phải là một danh từ, chúng là: hai danh từ riêng biệt: Lông mày và Mày! Như mắt phượng, mày ngài, truyện Thúy-Kiều có câu: “Làn thu thủy, nét xuân sơn,
dịch từ câu chữ Hán, Nhỡn quang như thủy, my tự xuân sơn

Nghĩa là mắt trong như nước mùa thu, mày như núi mùa xuân. Vì khuôn khổ hạn hẹp luật lệ trong câu thơ nên không thể đặt “Đừng rửa lông mày và mày chết cá ao anh.” Nên ở giữa lông mày tối thiểu cần phải có một dấu phẩy, chết nỗi ca dao không phải là văn chương viết và đọc, mà là nói và nghe vậy thì làm sao đặt dấu phảy vì đặt dấu phẩy ở đâu bây giờ?

Thông thường ta hiểu tạo hóa ban cho mỗi người hai cái mày ở trên cặp mắt Trên mày có những sợi lông gọi là lông mày, tương đối nó thẳng, cứng, ngắn…

Phái nữ thường tô, vẽ, tỉa cho thêm phần hoa mỹ, việc này các nàng thường tự làm một mình trong phòng kín đáo, trước gương soi, ít ai có diễm phúc được săn sóc bởi người tình của mình như người đẹp Triệu-Minh trong tác phẩm võ hiệp của Kim-Dung thuở trước.

Mặt khác, nơi cuốn tùy bút của nhà văn lão thành Võ-Phiến lại thấy nêu hai câu thơ trong truyện Tây Sương Ký của Trung-Hoa được Nhượng-Tống dịch như sau: Mày xanh lồ lộ vẻ xinh, Nõn nà bộ ngực xuân tình đây vơi!

Hai câu thơ dịch thật là gợi cảm. Tiếp theo trong khi đầu óc còn đang lơ mơ về hai câu thơ dịch này, còn đang mường tưởng mày xanh lồ lộ song chúng nằm ở đâu cơ chứ! Thì một người bạn khác, nghe được, bèn sốt sắng bầy tỏ thêm ý kiến, nhưng cũng không dám cả quyết lắm.

Theo đó, phân tách lông mày thành hai danh từ lông và mày cũng chưa chắc đúng. Mày có thể là nhân vật chỉ định từ để cho câu ca dao mang ý nghĩa: “Chớ rửa lông của mày mà chết cá ao anh.”

Có thể lắm chứ! Tuy nhiên chữ “mày” và chữ “anh” ở đây đi với nhau quá gượng ép nên người bạn đáng kính của tôi cũng cẩn thận rào đón là tất cả những “phân tách triệt để” kia cũng chỉ là có thể. Ai mà đoán trúng được tim đen của cái anh chàng tính xây hồ bán nguyệt này, mấy câu ca dao tuy bình dân nhưng thâm sâu, hiểm hóc ghê vậy đó!

Tới đây, rút cuộc thì mấy thắc mắc của tôi cũng chưa được giải thích thỏa đáng, mấy vị cho ý kiến thật là đáng quý, và mấy điều tôi trình bầy tôi chắc chắn cũng còn nhiều hời hợt, thô thiển, tôi mới chỉ nêu lên được vấn đề để suy nghĩ, tôi đã lúng túng, loanh quanh, sơ sài… như đám lính công thành bất lực, như đang ngứa lưng nhờ người gãi, mà chỉ gãi bên ngoài áo bông chẳng “đã” chút nào.

Tôi biết còn nhiều thiếu sót, có khi cả nhầm lẫn… vậy xin kể đây như mớ tài liệu gom lại chưa kịp gạn lọc, san định đàng hoàng… Như trên đã nói có điều gì không phải ước mong các vị am tường điều chỉnh, bổ túc cho.

Chưa đạt mục đích hữu ích thôi thì bài tản mạn ca dao này xin coi là để mua vui vậy, và, rất tiếc, dù chỉ mua vui nhưng cũng chẳng kéo được “Một vài trống canh. Nguyễn Phú Long

Nhà Văn Trúc Lang cũng góp ý như sau:
Anh thắc mắc về 2 chữ Hồ, Ao. Thật ra là do dụng ý của tác giả. Hồ bán nguyệt do bàn tay người xây nơi thanh cảnh như Hồ Tịnh Tâm Thành Nội hoặc Cung Điện Lăng tẩm như Lăng Tự Đức, Chùa Từ Hiếu. Người ta không xây ao mà đào Ao hoặc do thiên nhiên mà có. Do đó giá trị của Ao thấp hơn Hồ Tác gỉa muốn dụng ý nêu cao gía trị của người đẹp dù có rửa ở Hồ hay Ao chỉ rửa chân tay, chớ đừng rửa lông mày mà đau lòng tim Anh. Ao là Ao lòng, cá là trái tim .
Tản mạn về ao làng

Một trong những hình ảnh thân thương, ăn sâu vào trí nhớ con người ở các làng quê từ thời thơ ấu cho đến lúc về già là hình ảnh những cái ao làng. Câu "còn ao rau muống, còn đầy chum tương" nói lên một cuộc sống thanh đạm mà ung dung trong cảnh thanh bần.

Những ngày giáp Tết Nguyên đán, ở bên bờ ao thường diễn ra nhiều hoạt động náo nhiệt, ồn ào mà đằm thắm. Người ta tát cạn ao rồi chia phần cá, có những người vớt từ dưới ao lên những cây gỗ xoan ngâm trong bùn từ tháng giêng để chuẩn bị làm nhà hoặc sửa nhà. Nhiều người chung nhau một con lợn và mổ thịt ngay bên bờ ao, chia thịt, luộc lòng Người ta rửa lá dong để gói bánh chưng thật tấp nập và nhộn nhịp.

Phong cảnh cái ao thật đẹp. Mùa xuân, các đám cưới đủ màu sắc ngả bóng xuống ao làng với những tà áo, khăn, nón xênh xang. Dáng đi của những người dự đám cưới in xuống nước như say như tỉnh. Mùa hạ, trên mặt ao có sen quỳ trắng, sen diệp hồng hoặc hoa súng toả ra một mùi thơm nhẹ. Bên cạnh những bông hoa súng thường có những con chim cuốc đen lủi thủi. Lại có câu: "Ao cá trê, êm ả ngủ chờ sung" hoặc: bèo lạnh cầu ao, ai đợi chờ?..." Cái ao cũng dự báo mùa thu đến: “Bờ ao hiu hắt, nước trong xanh” hay: "Ao thu lạnh lẽo nước trong veo". Đó là lúc cuối thu đầu đông.

Bờ ao thường được "trang điểm" bằng các loài cây quen thuộc như cây vối, cây sung, rặng cúc tần cổ tích, vương vít những đàn gà con có màu hoàng yến. Một góc ao được bắc giàn mướp để cho những quả bầu, quả mướp rủ xuống. Những khi hoa mướp nở làm vàng rộm cả một góc ao với những cánh bướm bay đi, bay lại. Bờ ao trong sáng như ca dao.

Khi có khách quý đến, chủ nhà lấy vó cất một vài con cá tươi, xử lý thật nhanh, uống rượu ngay bên bờ ao đó là một "bữa tiệc" khó quên. Nhưng cũng có khi ở vào hoàn cảnh: "Ao sâu, nước cả khôn chài cá" thì chủ và khách chỉ uống rượu suông với nhau cũng vẫn rất thân tình.

Ao cũng là nơi hẹn hò, gặp gỡ của trai gái trong làng. Họ hẹn hò và thề thốt với nhau bên bờ ao vào những buổi chiều tối, những đêm trăng hoặc những buổi sáng sớm. Những cuộc tình này cũng rất nên thơ và lãng mạn. Các cô gái trong lễ vu qui, qua chiếc ao làng, lòng lại bồi hồi nhớ những đêm hẹn hò. Tuổi thơ của nhiều người còn gắn liền với những kỷ niệm khó quên:
"Nhớ những ngày trốn học
Đuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được. . . Chưa đánh roi nào đã khóc!"

(Quê hương - Giang Nam)

Họ hàng của ao có đầm, có hồ, kênh, lạch. Ao cũng có luật âm thầm mà chặt chẽ của nó. Tầng nước trên thường là cá diếc. Tầng giữa có cá trắm, cá chép, cá quả cá sộp. Lớp dưới cùng là cá trê. Riêng có "cá chuối đắm đuối" thì hoạt động ở tất cả các tầng nước. ở trong cái ao, xã hội cá giống hệt như xã hội loài người. Cá tranh ăn, xô xát, đánh nhau, nhường nhịn, sống có đàn...

Ao có nhiều tên tùy theo vị trí địa dư, dáng dấp hoặc đặc trưng riêng như: ao cây vối, ao cây sung, ao chùa, ao đình, ao xóm, ao cây gạo, ao bèo, ao thả cá, ao thả rau cần, ao nuôi vịt..

Ao cũng là nơi dân làng ngồi nghỉ ngơi, xuống ao khoả nước, nhúng cái nón xuống nước cho mát nón hoặc sẵn tay ướt vuốt tóc và vuốt lông mày để cho các chàng trai có câu ca dao: " Có rửa thì rửa chân tay, chớ rửa lông mày chết cá ao anh".

Đứng ở bờ ao một mình, nhất là trong những lúc thanh vắng là có sự mong, nhớ, tơ tưởng... Như trong câu ca dao: "Đêm qua ra đứng bờ ao, Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ":

Tâm trạng con người trong lúc này là nói buồn trong cõi nhớ. Người đi xa trở về, thấy chốn quê hương là đẹp hơn cả, cũng bồi hồi: "Ta về ta tắm ao ta; Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn".

Ao nhà ta tuy không phải là đẹp lắm, nhưng nó là cái của ta, cái của mình nên nó đẹp và quý vô cùng.

Khuyết danh
Hoàng Thy Mai Thảo  
#58 Posted : Monday, October 26, 2009 9:29:50 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,096

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
anh HPH và quí anh / chị thân mến,
câu ca dao dưới nầy - theo sự giải nghĩa sau đó thì có đúng chưa ạ ?
HP xin cám ơn trước Smile

Một mai thiếp có xa chàng Đôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin

Tại sao đôi bông thì trả, đôi vàng thì xin? Không lẽ người đàn bà nước mình mang thói tham lam?
Sự thiệt nó có tích như vầy: đôi bông là vật cha mẹ chồng cho nàng dâu hồi đám nói; đôi vàng là của riêng mà hai vợ chồng trẻ nhờ dành dụm sắm được lúc sau. Nàng dâu than vãn bà mẹ chồng khắc nghiệt, sẵn sàng "trả đôi bông" lại cho mẹ chồng. Nhưng nàng vẫn thương chồng - "xin giữ đôi vàng" - nài nỉ chồng cất nhà ở riêng để thoát ách. Câu hát đó cao sâu lắm! Hồi xưa khách qua đường hễ nghe nó là hiểu được tánh tình của bà mẹ chồng như thế nào. Bởi vậy, người hát phải biết hát, người nghe phải biết nghe.

Sơn Nam

(Miễu Bà Chúa Xứ - - Hương Rừng Cà Mau)

# by xv05 / PNV
Yeu Ca Dao  
#59 Posted : Monday, October 26, 2009 9:54:25 PM(UTC)
Yeu Ca Dao

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 25

quote:
Originally posted by hongvulannhi
THÁCH CUOI

Em là con gái nhà giàu
Mẹ cha thách cưới ra màu sinh sao
Cưới em trăm tấm gấm đào
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời
Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng
Sắm xe tứ mã đem sang
Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu
Ba trăm nón Nghệ đội đầu
Một người một cái quạt Tàu thật xinh
Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình
May chăn cho rộng ta mình đắp chung
Cưới em chín chĩnh mật ong
Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò
Cưới em tám vạn trâu bò
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm
Lá đa mặt nguyệt hôm rằm
Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi
Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng
Thách thế mới thỏa trong lòng Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân



Em là con gái nhà giàu
Mẹ cha thách cưới ra màu sinh sao
Cưới em trăm tấm gấm đào
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời
Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng
Sắm xe tứ mã đem sang
Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu
Ba trăm nón Nghệ đội đầu
Một người một cái quạt Tàu thật xinh
Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình
May chăn cho rộng ta mình đắp chung
Cưới em chín chĩnh mật ong
Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò
Cưới em tám vạn trâu bò
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm
Lá đa mặt nguyệt hôm rằm
Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi
Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng
Thách thế mới thỏa trong lòng
Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân[/blue]


1. Thách cưới

Con trai lớn phải hỏi vợ, con gái lớn phải gả chồng!

Dù chưa đi tới chuyện vợ chồng, đang tuổi mới lớn người ta cũng không thể nào không thấy lòng xuân rạo rực lúc đêm về.

Người ta thương nhớ, tương tư và thu hết can đảm để ngại ngần ngỏ ý:
“Thấy em, anh cũng muốn thương,
Sợ rằng cha mẹ không tường lòng anh.”

Cô bé xinh đẹp làm sao để lòng anh say đắm, anh uống thuốc liều mới dám ngỏ lời rằng anh “muốn thương... ai” rồi đó.
Nhưng...chao ôi, mối tình đầu, lời tỏ tình đằm thắm gặp ngay một cô bé chanh chua quá thể.

Cô ỷ cô con nhà giầu, cô ỷ cô xinh đẹp để chua ngoa, bỉ thử chàng rằng:
“Cóc mà mang guốc ai ưa?
Đồ đen như mọi mà đòi vợ xinh!”

Chàng nghe mà tối tăm mặt mũi!
Sao lại có con người đanh đá đến thế?
Cái con ranh con đẹp thế mà quá quắt! Ta nam nhi há chịu thua cô?
- A, cô em dám chê anh cả đấy à? Anh đây tuy đen thật nhưng anh đen giòn, đen duyên. Cô em chê anh thì cô cũng liệu cái thân cô đấy:
“Chê tôm ăn cá lù đù Chê thằng bụng ỏng, lấy thằng gù lưng!”

Đôi mắt lá răm nó vẫn liếc mình thật đa tình mà bây giờ nó lườm, nó nguýt sắc như dao cau?

Đôi môi ăn trầu cắn chỉ xinh xinh thế kia mà nó nỡ bĩu dài ra, buông những lời làm chàng đau hơn hoạn:
“Gió đưa lúc lắc cột đình. Đỉa đeo chân hạc sao vừa mà mong?”

Hiền đến mấy mà nghe đến đây chàng cũng phát nổi nóng lên:
- Cô em giỏi nhỉ, cô phải biết rằng ông Giời tuy ở trên cao nhưng “Giời cao có mắt” đấy nhá. Chớ có hợm mình bởi vì “Cười người hôm trước, hôm sau người cười”. Cô chê ỏng, chê eo rồi cô chống mắt ra mà xem:
“Chuột chê xó bếp không ăn Chó chê nhà dột ra nằm bụi tre”

Này, cô em đanh đá, cá cầy! Cô tưởng cô xinh đẹp, trẻ trung mãi sao? Cô có biết rằng “Cái già xồng xộc” nó đang đuổi theo cô không? “Em ơi, trẻ mãi ru mà, Càng đắn đo lắm, càng già hết duyên.”

Đến lúc đó thì đôi ta thay bậc đổi ngôi ngay, chưa biết mèo nào cắn miu nào ạ.
Chàng còn dọa dẫm người đẹp rằng:
- Bây giờ cô ỷ mình trẻ trung, duyên dáng nên đanh đá, chỏng lỏn với anh. Mai này, cô vào tay anh rồi thì sẽ biết tay nhau:
“Còn duyên anh cưới ba heo. Hết duyên, anh đánh ba hèo đuổi đi.”

Chê nhau, cái nhau thật đấy, lời qua, tiếng lại thật đấy nhưng có khi cuộc hôn nhân vẫn được “người lớn” tiến tới mà đôi trẻ chẳng biết gì.

*

Chuyện cưới hỏi thời nào cũng rất nhiêu khê, nhất là với những thủ tục rườm rà do người Tầu du nhập vào xứ ta. Những hủ tục ấy chắc đã xâm nhập từ thời ta chịu ách đô hộ hơn một ngàn năm.
Phải có 6 lễ trịnh trọng cho rỡ mặt họ hàng.
Phải thách cưới thật cao, thật khó để chứng tỏ con gái mình đắt giá.

Đám hỏi, đám cưới phải thật huy hoàng, lộng lẫy, phải ăn uống, tiệc tùng ê hề để mọi người phải xít xoa khen ngợi, tưng bừng chúc tụng và ồn ào cảm phục.

Hai họ đòn phép, tranh hơn từng lời nói. Thậm chí tới lừa gạt nhau trong những lần thách cưới.

Người ta đi vay, đi mượn để thỏa mãn những đòi hỏi quá đáng của nhà gái. Đợi khi cá đã cắn câu, chim đã vào lồng rồi sẽ tính sau.

Chà, chà, nhà gái thách cưới cao kỳ làm như em là con gái Ngọc Hoàng không bằng. Sao không đòi hẳn như thế này: “Cưới em trăm tấm lụa đào
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời”

Cưới em tám vạn trâu vò Bẩy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm”


Trăm hòn ngọc chưa đủ, nhà trai anh sẽ lên trời hái cho được 28 ông sao đem về nộp quà thách cưới.

Nếu “Nhị thập bát tú” cũng chưa đủ lòng tham thách cưới của nhà em thì nên đòi thêm cả mặt trăng đêm rằm để làm đồ dẫn cưới em luôn:
“Lá đa mặt nguyệt hôm rằm
Răng nanh thằng Cuội, râu cằm Thiên lôi“

“Gan ruồi, mỡ muối cho tươi Xin chàng chín chục con dơi góa chồng“


*

A! Thách cưới!

Một bên đòi hỏi thật nhiều cho ra vẻ gia đình mình hoặc giầu có, hoặc tiếng tăm quan trọng, con gái mình xinh đẹp, ngoan hiền, đảm đang, có giá và nhà trai phải quỵ lụy, thỏa mãn những đòi hỏi của nhà gái để cưới cho bằng được vợ hiền, dâu thảo.

Người ta cười nói vui vẻ với nhau nhưng trong lòng nung nấu một mối hận thù.
Người ta chờ ngày “rửa mối hận lòng”. “Cưới nàng anh toan dẫn voi.
Voi sợ quốc cấm nên thôi không bàn
Dẫn trâu sợ họ máu hàn
Dẫn bò sợ họ nhà nàng đau gan
Miễn là có thú bốn chân. Dẫn con chuột béo mời dân mời làng “


Gia đình em đòi cho lắm vào, anh đây cố gắng đấy chứ. Anh không thèm dẫn trâu, dẫn bò tầm thường mà anh dẫn luôn ... con chuột, cũng là thú bốn chân vậy, khỏi cần bắt bẻ gì anh.

Tuy nhiên, nói vậy thôi, cũng còn câu “giơ cao, đánh sẽ”. Thôi thì nhà gái đành chấp nhận vậy, em cũng theo đường hướng của nhà trai, chỉ xin chàng: “Chàng dẫn thế đã là sang.
Nỡ nào em lại phá ngang như là
Người ta thách lợn thách gà. Nhà em thách cưới một nhà khoai lang..


Chàng dẫn cưới nghèo hèn đến đâu cũng được nhưng làng xóm sẽ được mời đầy đủ để biết mặt, biết tiếng gia đình chàng. Tiếng rằng “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp mà: “Củ to thì để mời làng. Còn như củ nhỏ họ hàng cùng xơi”

Chưa đâu, không những họ hàng, làng nước biết đến gia đình chàng mà đến con chó giữ nhà, con lợn, con gà cũng được hưởng phần đó chàng ơi: “Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi.
Để cho con chó ăn chơi giữ nhà
Bao nhiêu củ rụi củ hà. Để cho con lợn con gà nó ăn”


Chuyện cưới hỏi sao mà cay chua đến thế. Nhà anh đòi hỏi thách cưới trên trời như thế thì anh đành chịu thua. Thôi thì để anh: “Anh về bán cặp cây đa.
Bán cặp trâu già mới cưới đặng em

Cưới em ba vạn trâu bò.
Bẩy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm” Vậy đã vừa lòng cha mẹ em chưa!


*

Cha mẹ ngồi ngoài phòng khách nói chuyện với bà mai, bàn chuyện cưới hỏi, thách cưới với nhà trai: Mẹ ngồi mẹ thách cưới.
Cau chẵn ba nghìn. Lợn béo năm đôi


Trong khi “em” ngồi trong buồng nôn nóng và chóng cả mặt mày.

Mẹ cha nào có thấu hiểu cho tấm lòng em? Em muốn kêu lên rằng: “Mẹ ơi hăm ba tuổi rồi. Chồng con chưa có, mẹ thời tính sao?”

Nhiều khi bác mẹ nhà nàng chẳng kể gì tới nỗi lòng con trẻ. Hễ mẹ nghĩ rằng “vừa đôi, phải lứa” là mẹ gả, mẹ bán con về nhà chồng. Có khi mẹ chỉ nghĩ gia cảnh nhà người giầu có là mẹ bằng lòng, mong con được yên ấm tấm thân: “Mẹ tôi tham thúng xôi rền Tham con lợn béo, tham vò rượu tăm..”

Em van, em nài mẹ nhưng mẹ không thèm nghe. Bây giờ cảnh vợ chồng chênh lệch nó khổ đau, thấm thía đến thế nào? “Em đã bảo mẹ rằng đừng
Nhưng mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào
Bây giờ chồng thấp, vợ cao
Như đôi đũa lệch, so sao cho vừa?” Phận em sau khi lấy chồng như cá cắn câu.


Anh không cưới được nàng chỉ vì nhà anh nghèo hèn, không có nhà ngói, cây mít, không có lợn béo, rượu tăm. Anh nghèo nhưng anh sạch, anh rách nhưng anh thơm. Chỉ tiếc người ta không biết phân biệt vàng thau để đôi mình ly biệt, để lòng anh tan nát: “Tiếc thay bác mẹ nhà nàng.
Cầm cân không biết là vàng hay thau
Thật vàng chẳng phải thau đâu. Mà đem thử lửa cho đau lòng vàng”


*

Có những khi lỗi chẳng tại mẹ, tại cha hay tại nhà gái đòi thách cưới thật cao mà chỉ vì chàng nhút nhát, chậm chạp chưa kịp ngỏ lời khi đóa hoa chớm nở.

Chợt một chiều thấy pháo đỏ rơi đầy trước ngõ rỗi nàng đi chia trầu cau sau lễ hỏi, chàng choáng váng đau khổ.

Lòng nao nao buồn nhớ người phụ ngãi, tham vàng. Chàng bước ra vườn, chàng leo lên bứt chùm hoa bưởi: “Trèo lên cây bưởi hái hoa...

Còn chùm hoa bưởi nào thơm như mùi hoa bưởi ngày xưa? Chàng thẫn thờ, ngơ ngẩn bước đi: “Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân...”

Em ơi, nụ tầm xuân ngày nao vẫn nở: “Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc.”

Nhưng mà người xưa thì chẳng còn. Trời ơi, anh ân hận, hối tiếc làm sao: “Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay.
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không?”
Bây giở em đã có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ Chim vào lòng biết thuở nào ra?


Trời ơi là trời! Bao giờ anh còn thấy lại được con chim trong lồng hay con cá cắn câu!
Đêm xuống, chàng trằn trọc, não nề nhớ người xưa: “Đêm nay mới thật là đêm Ruột xót như muối, dạ mềm như dưa”

Mới ngày nào tấm lụa đào còn phất phơ giữa chợ mà ngày nay lụa đã dạt vào tay ai? “Tiếc thay cho tấm lụa đào Áo rách chẳng vá, vá vào áo tơi

Phải chi em gặp người xứng lứa, vừa đôi thì anh đây không tiếc.
Tấm lụa đào đem vá vào áo tơi mới càng làm anh đau đớn không cùng! “Trời ơi có thấu cho chăng Lụa đào mà vá áo tơi cho đành!”

Kathy Trần
Hà Phương Hoài  
#60 Posted : Monday, October 26, 2009 10:32:19 PM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,237
Location: USA

Thanks: 144 times
Was thanked: 102 time(s) in 61 post(s)
quote:
Originally posted by Hoang Thy Mai Thao
From: group ThuHa - Paris
Date: 26 oct. 2009 16:19 Subjec :
Ca Dao Viet Nam : Chuyen Vui
....................

Một người lên " net "

Cả nhà kẹt " phone ."[/size=3] [/navy]


Kính gửi quý vị
Việc đưa tân ca dao lên để chúng ta cùng nhau - thư giản một chút là điều rất hay. Tuy nhiên Tân ca dao vẫn có âm điệu tiết tấu rất là ca dao vì lẽ đó dễ ngộ nhận giữa chân và giả. Hoài tôi thiết nghĩ trong trang Tục Ngữ Ca Dao và Quê Hương chỉ nên Post lên Ca Dao Chân Chính để tránh lứa tuổi mai hậu nhầm lẫn không biết đâu là ca dao đâu là ca dao tiếu lâm. Điều nầy chúng tôi đã thấy xảy ra tại nhiều trang ca dao trên mạng.

Những bài vui cười như chuyện của HP và LN đưa lên thì dễ chấp nhận hơn vì ai cũng biết đó là chuyện cười; còn đưa một dọc tân ca dao mà không có chú thích gì cả thì theo Hoài tôi cảm thấy rất là NGUY HIIỂM.
Xin quý vị cho biết tôn ý

Trân trọng
HPH

Users browsing this topic
Guest (3)
86 Pages<12345>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.