Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
NTV  
#1 Posted : Saturday, November 30, 2019 4:20:58 PM(UTC)
NTV

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/26/2017(UTC)
Posts: 120
Japan

Thanks: 7 times
Was thanked: 8 time(s) in 6 post(s)
UserPostedImage
"Chúng tôi chưa bao giờ chia tay dù chỉ trong ý nghĩ. Bởi rất khó khăn chúng tôi mới đến được với nhau". Lê Uyên Phương FB


Lê Uyên Phương là nghệ danh của một cặp vợ chồng nghệ sĩ nổi tiếng từ trước năm 1975 với những tình khúc ca ngợi tình yêu nồng nàn, lãng mạn như chính cuộc tình của họ: nữ ca sĩ Lâm Phúc Anh và cố nhạc sĩ Lê Văn Lộc.

Ca sĩ Lâm Phúc Anh sinh tại Hà Nội năm 1952, trong một gia đình gốc Hoa. Ba mẹ Phúc Anh gặp nhau tại Hà Nội vào giữa thập niên 1940 và sau đó di cư vào miền Nam năm 1954.
Gia đình giàu có, Lâm Phúc Anh được theo học chương trình Pháp từ nhỏ, từ trường tiểu học ‘Sans Famille’ đến trường ‘Regina Pacis’ và sau đó là nội trú ở trường ‘Franciscaine’ Đà Lạt.
Từ bé, Lâm Phúc Anh đã yêu thích vọng cổ vì thường theo mẹ đi xem cải lương nhưng khi bắt đầu ca hát, bà chọn con đường tân nhạc.
“Bài hát đầu tiên, được trình diễn đầu tiên để cho các sơ Franciscaine được tổ chức ở rạp ‘Hòa Bình’ ở Đà Lạt. Hôm đó ban nhạc của anh Phương đã đệm và tôi đã tập hát bài đầu tiên là bài ‘Nỗi lòng,’" nữ ca sĩ chia sẻ.

Chồng bà, nhạc sĩ Lê Uyên Phương, tên thật là Lê Văn Lộc, sinh năm 1941 tại Đà Lạt. Ông từng là Hiệu trưởng một trường tiểu học tại Pleiku, sau đó về Đà Lạt dạy tại trường Bùi Thị Xuân, trường Petit Lycée và dạy nhạc.
Bà cho biết Lê Uyên Phương mê nhạc từ lúc còn rất nhỏ. Nghệ danh Lê Uyên Phương của ông ghép từ tên một người yêu cũ và một chữ lót trong tên của mẹ là Công Tôn Nữ Phương Nhi.
Hai người chính thức sống với nhau vào năm 1969 và nhanh chóng trở thành đôi song ca được yêu chuộng thời bấy giờ với tên gọi là Lê Uyên và Phương, hay thường gọi tắt là Lê Uyên Phương qua những bản tình ca nổi tiếng do Phương sáng tác và lối trình diễn say đắm, nồng nàn của đôi uyên ương này.


UserPostedImage
Họ gặp nhau tại Đà Lạt vào năm 1966 và bị ‘tiếng sét ái tình.’


“Anh Phương có một người bạn ở trọ nhà tôi. Khi ảnh đi qua chơi, đi thăm người bạn đó, thì gặp tôi. Hai đứa thích nhau ngay lập tức. Những ngày đầu gặp gỡ đó có nhiều điều thú vị lắm. Anh có dáng dấp đặc biệt và đôi mắt rất hiền từ, tôi thích lắm. Phải nói lúc đó ảnh là người con trai đầu tiên tôi nhìn, tôi có cảm xúc. Lúc đó tôi mới 14 tuổi. Tôi không hiểu được yêu là gì, không biết, chỉ thấy thích người này thôi. Dễ thương lắm. Tức là hai đứa khi gặp nhau rồi chỉ muốn ở bên cạnh nhau ‘all the time’, không muốn rời nhau một phút nào hết,” Lê Uyên thổ lộ.

Trước khi gặp Lê Uyên, Phương đã sáng tác một loạt ca khúc viết từ Pleiku và Đà Lạt, sau này được tập họp trong tập nhạc nhan đề ‘Yêu nhau khi còn thơ.’
‘Khi loài thú xa nhau’ là tập nhạc thành hình trong thời gian hai người chung sống với nhau sau khi vượt qua những khó khăn do gia đình của Lê Uyên cản trở.
“Lúc yêu nhau thì gặp khó khăn từ gia đình tôi, sau đó vẫn có những cuộc gặp lén lút để đi chơi với nhau. Sau khi đã chính thức lấy nhau rồi thì có những buổi văn nghệ được tổ chức ở nhiều nơi, nhiều lúc tại Đà Lạt, những ‘ball’ ở tại nhà hoặc tại giảng đường Spellman Viện Đại học Đà Lạt. Năm 1968 là buổi trình diễn đầu tiên tại giảng đường Spellman,” bà nói.

Theo lời Lê Uyên, bản nhạc đầu tiên Phương sáng tác và tập cho bà hát là bản 'Tình khúc cho em'. Bài này cùng với các ca khúc như Vũng lầy chúng ta, Hãy ngồi xuống đây, Đá xanh, Chiều phi trường, Lời gọi chân mây…được tập họp trong tập nhạc ‘Khi loài thú xa nhau’.
“Tập ‘Khi loài thú xa nhau’ nói về tình yêu đôi lứa trong thời chiến tranh và dĩ nhiên chuyện tình đó là chuyện tình của hai đứa chúng tôi. Cho nên những bài nhạc đó cho tới giờ phút này vẫn được mến mộ nhiều nhất là trong giới trẻ được sinh ra sau năm 1975 tại Việt Nam.”

“Tập nhạc thứ ba mà anh viết là tập ‘Uyên ương trong lồng’ với một cảm xúc khác về hôn nhân, về hoàn cảnh sống, về tất cả mọi thứ, không còn, không có một tình yêu đơn thuần, đơn giản như tập trước đó,” bà cho biết thêm.

UserPostedImage


Sau năm 1975, Phương không sáng tác nhiều, chủ yếu là phổ nhạc những bài thơ của các thi sĩ như Phạm Công Thiện, Nguyễn Xuân Thiệp, Hoàng Khởi Phong, Huy Tưởng, Phong Vũ, Trịnh Cung, Kim Tuấn, Thái Tú Hạp, Dã Dương và được tập trung trong đĩa CD có tên là ‘Tình như mây cõi lạ.’
Theo lời họa sĩ Trịnh Cung, bản nhạc cuối cùng Lê Uyên Phương sáng tác trước khi vượt biên vào năm 1979 là bản ‘Ở đây, thôi ở đây đành’, phổ thơ cùng tên của Trịnh Cung. Người nhạc sĩ đã đàn và hát cho họa sĩ Trịnh Cung nghe chỉ vài ngày trước khi ra đi tìm tự do.
Lê Uyên giải thích lý sao trong giai đoạn sau này Phương không viết nhạc và lời như trước nữa:
“Đời sống bên này, trước hết là hoàn toàn khác ở Việt Nam nên cảm xúc về môi trường, về hoàn cảnh đương nhiên phải khác…Ảnh phải mượn những bài thơ mà ảnh nghĩ đã được viết từ Việt Nam, từ lâu lắm rồi, chớ đời sống bên này khó mà viết một bài cho hay. Cho nên cách phổ thơ là điều anh muốn nhất, tại vì ít nhất nó cũng giữ được những cảm xúc nào đó từ Việt Nam, từ quê hương.”
Lê Uyên cho biết còn những sáng tác mới của Phương chưa được phát hành, một tập nhạc mà bà đang làm, nói về con người, đời sống của con người, thân phận của con người trong chiến tranh. Tập nhạc đó có tên là ‘Con người: Một sinh vật nhân tạo’.

Nhạc sĩ Lê Uyên Phương mất ngày 20/6/1999 tại bệnh viện trường đại học California ở Irvine, chỉ 19 ngày sau khi bác sĩ phát hiện ông bị ung thư phổi, trùng hợp với 19 buổi hát đôi song ca này nổi tiếng, theo lời kể của ca sĩ Lê Uyên.

Lê Uyên - Phương: Mối tình lãng mạn bất chấp sinh tử


UserPostedImage


Cuộc đời của Lê Uyên - Phương là âm nhạc, là tình yêu, tuy hai mà một. Những bản tình ca đầy tính hiện sinh như Dạ khúc cho tình nhân, Vũng lầy của chúng ta, Lời gọi chân mây, Tình khúc cho em… là minh chứng sống cho cuộc tình vĩ đại, vượt qua mọi lằn ranh của sự sống, cái chết, vượt qua những bệnh tật, khổ đau nghiệt ngã trong cõi đời để trở thành bất tử. Vượt qua định mệnh, hình ảnh Lê Uyên Phương ôm cây đàn guitar bên người bạn đời Lê Uyên trở thành một dấu ấn không thể phai trong lịch sử tân nhạc Việt Nam, còn vang vọng từ thời vàng son cho đến hôm nay.

Tình yêu đánh bại “tử thần” lần thứ nhất

Tình yêu của Lê Uyên Phương tựa như định mệnh. Cuộc gặp gỡ tình cờ tại Đà Lạt nhiều năm về trước đã thay đổi hay con tim, hai mảnh đời mà cũng thay đổi diện mạo của nền tân nhạc Việt Nam. Khi ấy, Lê Uyên là nàng tiểu thư với nhan sắc kiều mị, nức tiếng Chợ Lớn của Sài Gòn - Gia Định, Lê Uyên Phương lại là chàng nhạc sĩ tài hoa, lãng tử của phố núi Đà Lạt. Cuộc gặp định mệnh tại “thành phố buồn” vào mùa Đông 1966 khiến cả hai phải lòng nhau. Như một mối tình kinh điển, chàng lãng từ nghèo và nàng tiểu thư quyền quý phải lòng nhau trong một mối tình đầy đam mê tuổi trẻ. Ngay từ phút ban đầu lưu luyến, Lê Uyên Phương đã quyện vào nhau bằng tình yêu hồn nhiên không suy tính.

Ở tuổi 27, chàng nhạc sỹ vẫn không dám yêu ai vì mắc bệnh hiểm nghèo, có thể ra đi bất kỳ lúc nào. Những khối bướu xương mọc khắp trên tay chân anh, và được tiên liệu anh sẽ không sống qua năm 30 tuổi. Ám ảnh bệnh tật cùng tình yêu mãnh liệt biến Lê Uyên Phương trở thành một “Hàn Mặc Tử trong âm nhạc” với nỗi niềm yêu đời và yêu người da diết.

Quan niệm sống cho ngày hôm nay, tính hiện sinh khiến anh cháy trọn lòng mình trong những cung bậc âm thanh. Tình yêu ấy, tiếng hát ấy tựa như được cất lên từ tâm can, đủ sức hóa giải mọi định kiến cùng nỗi niềm người nam nhi bất đắc chí vì bệnh tật. Đà Lạt trở thành nơi minh chứng cho mối tình Lê Uyên Phương.
Vượt qua sự cấm cản của gia đình cùng ám ảnh bệnh tật, Lê Uyên Phương song hành như hai đứa trẻ ngây ngô, đắm chìm trong men say tình ái. Có lẽ vì thế mà những tác phẩm của cặp đôi trong giai đoạn này luôn thấm đẫm những đam mê, hoan lạc và sự nồng nàn. Cả hai đến bên nhau, hát với nhau mà không cần biết ngày mai ra sao. Và dẫu có sao, Lê Uyên Phương cũng nguyện “chết bên nhau thật là hồn nhiên” như lời ca khúc Dạ khúc cho tình nhân.

UserPostedImage


Tình yêu Lê Uyên Phương, âm nhạc Lê Uyên Phương cùng triết lý hiện sinh lãng mạn trở thành chuẩn mực sống của lớp thanh niên thời đại bấy giờ. Có lẽ vì thế mà trong giai đoạn cực thịnh của bolero, người ta đã ưu ái gọi tên tình yêu của cả hai là dòng nhạc Lê Uyên Phương, như một cách trân trọng, tôn vinh cho mối tình đắm say mật ngọt ấy.
Thần chết lại nhường bước thần tình yêu

Năm 1979, hai vợ chồng Lê Uyên Phương rời khỏi Việt Nam và định cư tại nam California, Hoa Kỳ. Như bao người, đôi tình nân phải bắt đầu mọi thứ từ con số 0. Thời gian này, Lê Uyên Phương vẫn da diết nỗi hoài vọng về một thiên đường đã qua. Tại đây, anh nhớ nhiều hơn về quê nhà, về những tháng ngày đắm say trên từng triền dốc Đà Lạt, hay những khoảnh khắc cả hai cùng luyện giọng trên căn gác xép chật hẹp mà chan chứa tình yêu tại chợ Lớn.

Vượt qua những xáo trộn nơi xứ lạ, tình yêu lại lần nữa dẫn lối cho Lê Uyên Phương để lại lần nữa cùng cất vang tiếng hát tại những tụ điểm ca nhạc, những sân khấu lớn nhỏ khắp xứ cờ hoa. Tình yêu của cả hai vượt lên mọi khó khăn của cuộc sống, để nằm giữa lằn ranh chênh vênh giữa lý trí của con người, linh hồn thượng đế và hơi thở của tình yêu.

Tại họa ập đến khi vào năm 1985, Lê Uyên gặp tai nạn, trúng đạn lạc từ một vụ thanh toán của hia băng xã hội đen. Chị mê man trên giường bệnh 19 ngày liền. Khi ấy, người duy nhất ở bên chị, làm bóng tùng quân đưa chị vượt qua những đau đớn thể xác không ai khác ngoài Lê Uyên Phương. Lúc này, những câu hát cả hai từng ca “Nhìn suốt kiếp như chết mòn. Nhìn hấp hối thương đau. Ngày mai ta không còn thấy nhau” như lại vận vào mối tình si ấy, thách thức tất cả giữa lằn ranh sống, chết.

Sau khi hồi phục, Lê Uyên lui về ở ẩn, không xuất hiện trên sân khấu suốt 4 năm liền. Lúc này, dư luận bắt đầu râm ran cả hai rạn nứt. Nhưng với tính cách vốn trầm lặng, khép kín, người con Đà Lạt không thanh minh với bất kỳ ai, chỉ lặng yên chăm sóc cho người phụ nữ của đời mình và hai cô con gái bé bỏng.

Biết yêu nhau cả khi chết đi rồi

Nghiệt ngã thay, đến năm 1999, Lê Uyên Phương đã nằm xuống mãi mãi, bỏ lại tất cả sau lưng. Anh ra đi không phải vì chứng ung thư xương được dự báo từ rất lâu mà vì ung thư phổi. Giây phút ấy, cô tiểu thư ngày nào cũng như mất đi toàn bộ lẽ sống, nghị lực sống. Chị đã từng nghĩ đến cái chết khi uống thuốc ngủ quá liều để đoàn tụ với anh ở bên kia thế giới, nhưng tất cả lại bất thành. Trong niềm đau chuếnh choáng, Lê Uyên Phương vẫn không tin anh đã rời xa thế gian. Trong tâm tưởng chị, người chồng, người tình mà với chị “chỉ cần yêu thôi, không cần ăn uống gì cũng chịu đựng được” như vẫn còn đâu đây. Anh chỉ như vừa bắt đầu một hình trình mới, dài hơn và lãng du mọi chân trời anh hoài niệm.

Trước khi bỏ lại thế giới sau lưng, Lê Uyên Phương từng dặn dò chị: “Nếu anh có mệnh hệ nào thì em phải tiếp tục sống và hát để tình yêu chúng ta được lan tỏa khắp nơi, trong trái tim nhiều người để mọi người yêu nhau nhiều hơn”, những câu nói này đã giữ chân chị ở lại với trần thế. Từ đây, Lê Uyên Phương vẫn tiếp tục sống trong hoài niệm, giữa hai bờ hiện thực và ảo mộng, chị mơ về ngày xa xưa ấy, khi cùng anh đi dạo trên những triền dốc mơ mộng, yên bình của Đà Lạt. Những cuộc đối thoại trong tâm tưởng, trong tĩnh lặng tiếp sức cho Lê Uyên Phương hoàn thành các dòng nhạc, từng bản thu còn dang dở của hai người.

Với tâm thế sống để lan tỏa yêu thương, Lê Uyên mang theo cả tư tưởng, nhân sinh quan của Lê Uyên Phương để cất lên những tiếng ca da diết, dạt dào cảm xúc. Nhạc Lê Uyên Phương không thể tách rời Lê Uyên, chị phải sống, phải hát thêm lần nữa và gìn giữ thứ âm nhạc hiện sinh ấy cho nhiều người, cho nhiều thế hệ. Lê Uyên cũng là Lê Uyên Phương, Lê Uyên Phương cũng là Uyên. Cả hai hòa quyện vào nhau, không thể chia lìa, không thể tách rời. Những gì chàng nhạc sĩ tài hoa ấy dâng hiến cho đời cùng đều vì tình yêu với Lê Uyên, mối tình kết ấy tựa như một chất gây nghiện, rót từng giọt từng giọt vào lòng người, nhẹ nhàng mà đắm say để đến khi tỉnh giấc nam kha, ta chợt nhận ra mình đã bước vào thế giới ảo mộng của Lê Uyên - Phương tự khi nào.

UserPostedImage


Mất nhiều năm sau khi Lê Uyên Phương ra đi, Lê Uyên mới đủ can đảm trở lại sân khấu, chìm đắm trong những tình khúc ghi đậm dấu ấn tình yêu của hai người. Cho đến bây giờ, hai kẻ si tinh đã ở hai miền thế giới, tình yêu của họ vẫn làm lay cảm lòng người tựa như: “Xa nhau như nước xa nguồn Cuộc tình ngày nào tìm đến rồi mãi thiết tha…”.

Hà Vũ (VOA), Mai Gia Ly SAOStar

Edited by user Saturday, November 30, 2019 9:09:36 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.