Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

320 Pages«<316317318319320>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Bắc Kì Nho Nhỏ  
#6341 Posted : Sunday, July 7, 2019 3:40:31 PM(UTC)
Bắc Kì Nho Nhỏ

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/23/2012(UTC)
Posts: 608
Location: Deutschland

Thanks: 200 times
Was thanked: 444 time(s) in 300 post(s)


Dzui là dzui qúa dzui ... Thấy các Bác gái, Bác giai ai cũng tươi rói, da dẻ hồng hào, khỏe mạnh, thấy dzui lây và mừng cho các Bác. Nhiều Bác nom mãi trẻ như ngày nào ... Chỉ có Bác Hải Tôi là khó nhận ra (vì nhìn Bác, cái pụng fệ chiếu ngay vào mắt, gắng lắm mới nhìn thấy mặt BigGrin ).

Chúc các Bác luôn hồn an, xác mạnh ạ !

Thạch Bích




UserPostedImage



thanks 1 user thanked Bắc Kì Nho Nhỏ for this useful post.
hongvulannhi on 7/25/2019(UTC)
tictac  
#6342 Posted : Tuesday, July 9, 2019 5:12:56 PM(UTC)
tictac

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,835
Location: Riverside

Thanks: 365 times
Was thanked: 594 time(s) in 496 post(s)

UserPostedImage

Phố Tàu và Một Người Đàn Bà Việt Nam tại La Havana, Cuba.
Nguyễn Quang Thiều


Những khu phố và đặc biệt những ngôi nhà của những người Hoa trong các ngõ phố lúc nào cũng âm u và đầy vẻ lo ngại với những người chưa quen. Trước kia, ở Hà Nội có nhiều gia đình Hoa kiều nhưng tôi chưa một lần bước vào bất cứ một ngôi nhà nào đó của họ. Và thế, ngôi nhà của người Hoa lần đầu tiên tôi bước vào là một ngôi nhà ở phố Thượng Hải, thủ đô La Havana. Hồi học ở đó, có ba thứ của người Hoa mà sinh viên Việt Nam hay mua, đó là sâm nước, mì chính và mỳ sợi tươi. Người Cuba giống người Châu Âu và nhiều nước khác không dùng mì chính. Vì vậy những sản phẩm đó chỉ để bán cho chính người Hoa ở đó và một số sinh viên Châu Á.

Tôi đã bước vào ngôi nhà của người Hoa nằm trong một cái ngõ trên phố Thượng Hải ở khu vực La Havana cổ. Một ngôi nhà trần rất cao và phòng khách khá rộng. Những đồ gỗ, tủ, bàn uống trà đều bằng gỗ đã sẫm màu thời gian. Ánh sáng rất ít trong căn phòng. Chỉ có một chiếc bóng đèn nhỏ tỏa ánh sáng vàng đục. Tôi quan sát thấy các lối đi và các phòng trong ngôi nhà đều phủ bóng tối.. Trên một bức tường chính diện với cửa ra vào có treo hai bức ảnh. Một bức ảnh tôi nhận ra ngày đó là Mao Trạch Đông. Ở giữa phòng khách là ông chủ ngôi nhà. Một người đặc Trung Quốc. Tóc cắt ngắn, áo cổ khuy cài bằng vải. Ông ta ngồi trong một chiếc ghế bọc nhung to đã bạc màu. Ông nói chuyện với chúng tôi bằng một thứ tiếng Tây Ban Nha đặc thổ âm tiếng mẹ đẻ của ông. Khi chúng tôi hỏi mua mấy thứ hàng nói trên, ông gọi vọng vào căn phòng bên cạnh. Một người đàn bà chắc là vợ ông bưng một cái thùng gỗ cũng thẫm màu thời gian ra và mở ra. Trong đó đựng những lọ sâm nước và những gói mì chính. Hồi ở Cuba, sinh viên chúng tôi thường nấu ăn thêm mà chủ yếu là mỳ sợi với thịt hộp nên hay dùng mì chính. Còn sâm nước là mua giúp cho mấy cán bộ Việt Nam sang công tác mang về nước.

Ở La Havana hồi tôi đang học không có Chinatown nhưng sau này thì có. Ở Việt Nam có khu người Hoa rất lớn gọi là Chợ Lớn chứ không gọi là Chinatown. Nhưng ở rất nhiều nước trên giới thì có. Từ xa người ta đã có thể nhận ra Phố Tàu bởi cái cổng to trang trí rồng phượng rực rỡ. Có một đặc điểm là bên ngoài những ngôi nhà người Tàu thường rực rỡ nhưng bên trong thì âm u và đầy bí ẩn của những lo ngại mơ hồ. Một lần đến phố Tàu, một người Cuba hỏi tôi có phải tôi đến thăm người đàn bà Việt Nam không. Tôi ngỡ ngàng vì không nghĩ có người Việt Nam sống ở Cuba như vậy ngoại trừ một vài sinh viên học xong lấy vợ người Cuba và ở lại. Nghe vậy, tôi thực sự tò mò và tìm cách gặp người đàn bà này.

Và đến một ngày, tôi đã gặp người đàn bà Việt Nam trong khu phố ấy. Một người đàn bà làm dâu một gia đình Trung Quốc từ khi còn rất trẻ. Năm bảy tuổi, bà được đưa từ Bắc Giang xuống Hà Nội làm con ở cho một gia đình Hoa kiều. Sau đó, gia đình Hoa kiều này chuyển vào Sài Gòn sinh sống và buôn bán. Thấy cô bé xinh đẹp và thông minh họ đưa cô bé đi theo. Gia đình người Hoa cho gọi mẹ cô bé đến và nói rõ câu chuyện. Vì gia đình quá nghèo khổ, bà mẹ đồng ý cho con đi theo gia đình người Hoa và nhận một ít tiền.

Khi gặp tôi, bà đã đứng lặng nhìn tôi mà không trả lời câu hỏi của tôi : “ Bà là người Việt Nam à ?”. Bà đã khóc vì câu hỏi ấy. Bà cố gắng nhớ một câu tiếng Việt cho trọn vẹn nhưng không thể làm được. Bà phải nói với tôi bằng tiếng Tây Ban Nha. Bà nhớ Hà Nội và cái làng quê xa lắc của bà mà bà không còn nhớ tên làng được nữa. Khi đứa con đầu lòng ra đời, bà đã cầu xin chồng mình bằng được để đặt tên cho đứa con là Thăng Long. Vì tất cả những gì bà sống cho gia đình người Hoa ấy đã làm người chồng chấp nhận tên đứa con của ông ta bằng một cái tên Việt Nam. Bà nói với tôi thi thoảng bà vẫn mơ về mảnh đất Việt Nam. Mơ về cái làng nơi bà sinh ra và lớn lên rồi ly biệt nó từ khi còn rất nhỏ. Nhưng bà biết, bà không còn cơ hội để trở về mảnh đất ấy. Bà không thể trở về bằng thân xác bà nhưng bà luôn trở về trong những giấc mộng. Bà vẫn tự may cắt áo tứ thân như hồi còn trẻ ở Việt Nam bà mặc mỗi khi Tết đến. Và không chỉ mỗi khi Tết đến mà mỗi khi có sự kiện gì đó bà lại mặc chiếc áo tứ thân. Bà vẫn để tóc như một phụ nữ Việt Nam từ thập kỷ 30, 40 của thế kỷ trước. Chỉ có tiếng mẹ đẻ là bà không thể nào nói được nữa.. Khi mới rời Việt Nam lúc bà chỉ mới 11 tuổi, những năm đầu tiên đêm nào trước khi ngủ bà cũng hình dung ra những người thân yêu của mình còn ở Việt Nam và nói chuyện với hình ảnh của họ để khỏi quên họ và quên tiếng mẹ đẻ. Nhưng thời gian khắc nghiệt cứ đẩy bà xa dần ngôn ngữ ấy. Tôi là người học ngoại ngữ và tôi thông cảm với bà.

Sau khi gặp tôi, bà đã mời tôi đến ăn cơm với gia đình bà vào ngày Chủ nhật để đứa con trai bà có thể gặp tôi, một người từ mảnh đất chôn nhau cắt rốn của bà. Trong suốt thời gian học tập ở Cuba, ba lần bà đến tận cư xá của tôi ở để thăm tôi và mang tôi cho một món ăn Việt Nam mà bà vẫn còn nhớ. Đó chính là món cá kho. Tặng tôi món cá kho nhưng bà rất lo lắng vì nghĩ tôi không còn nhận ra hương vị món ăn quê hương do bà nấu nữa. Mỗi khi tôi khen bà nấu ngon và rất Việt Nam thì tôi thấy bà vui như một đứa trẻ. Có lúc bà đã khóc vì sung sướng.

Khi tôi báo cho bà tôi chuẩn bị về Việt Nam bà vô cùng buồn. Tôi hỏi bà còn nhớ một ai trong gia đình bà không để tôi có thể đi tìm và cho họ biết thông tin về bà. Nhưng bà không thể nhớ được một ai cụ thể nữa. Trước khi tôi về, bà đã đưa tôi một bọc vải nhỏ trong đó đựng một túm tóc của bà. Bà nói với tôi hồi nhỏ mẹ bà nói với bà nếu phải tha phương cầu thực thì tìm cách gửi một túm tóc mình về quê để sau này chết mà nhớ đường về quê. Bà nhờ tôi thả túm tóc đó xuống một dòng sông nào đó ở Việt Nam hay vùi vào một cánh đồng nào đó để khi bà chết thì linh hồn bà biết đường tìm về với xứ sở mình. Lúc này không phải bà khóc mà tôi khóc. Tôi xúc động đến lạnh người. Tôi hứa với bà tôi sẽ thực hiện mong ước của bà. Và vào một ngày mùa đông năm 1989, sau khi về nước được gần hai tháng, một buổi tối tôi đạp xe ra cầu Long Biên và thả túm tóc bà xuống sông Hồng.

Bây giờ đã là năm thứ 26 kể từ ngày tôi từ Cuba trở về nước. Tôi nghĩ nếu bà còn sống thì năm nay bà đã hơn trăm tuổi. Tôi không biết bà có còn sống không. Nhưng có một điều tôi tin : đó là bà sẽ trở về xứ sở của mình cho dù thế nào. Bà chỉ là một cô gái đi ở đợ và trở thành dâu của gia đình người Hoa và sống trong cái cộng đồng đông đúc, dị biệt và âm u ấy nhưng trái tim bà, tâm hồn bà và linh hồn bà vẫn không hề thay đổi.

Một người đàn bà Việt Nam tưởng như yếu đuối, đã không còn nói được tiếng Việt lại sống một cách mãnh liệt và như không có gì lấn át được trong một cộng đồng người Tàu đông đúc, âm u và đầy lo ngại như thế.

Edited by user Tuesday, July 9, 2019 5:14:14 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked tictac for this useful post.
Bắc Kì Nho Nhỏ on 7/11/2019(UTC)
tictac  
#6343 Posted : Friday, July 12, 2019 9:13:28 AM(UTC)
tictac

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,835
Location: Riverside

Thanks: 365 times
Was thanked: 594 time(s) in 496 post(s)
Đừng đợi đến lúc bạn già rồi, mới biết được điều gì là hạnh phúc


UserPostedImage
Hạnh phúc là gì? Đến nơi đâu mới tìm được hạnh phúc?


Con người vẫn luôn mong muốn tìm đến được bến bờ hạnh phúc, nhưng lại không hiểu một điều quan trọng…

Bạn nghèo khó, nhưng có người nguyện đi cùng bạn chính là hạnh phúc.

Bạn đau ốm, có người tận tình chăm sóc cho bạn chính là hạnh phúc.

Khi bạn lạnh, có người ôm bạn chính là hạnh phúc.

Khi bạn khóc, có người an ủi bạn, là hạnh phúc.

Khi bạn già, có người bầu bạn cùng, cũng là hạnh phúc.

Bạn sai, có người bao dung, tha thứ cho bạn, cái này là hạnh phúc.

Bạn vất vả, có người thương xót, đây cũng chính là hạnh phúc.



Hạnh phúc không phải là quanh bạn có bao nhiêu người, mà là có bao nhiêu người bên cạnh bạn.

Hạnh phúc không phải là bạn lái những chiếc xe sang trọng, mà là bạn lái xe về đến nhà bình an.

Hạnh phúc không phải là bạn tích trữ được bao nhiêu tiền, mà là mỗi ngày thể xác và tâm hồn được tự do, được làm những việc mình yêu thích.



Hạnh phúc không phải là vợ của bạn xinh đẹp ra sao, mà là vợ của bạn luôn có thể nở nụ cười rạng rỡ.

Hạnh phúc không phải được ăn ngon mặc đẹp, mà là không có bệnh, không có tai ương.

Hạnh phúc không phải lúc bạn thành công được tung hô nhiệt liệt, mà là lúc bạn sa cơ vẫn có người nói: “Bạn tôi à! Cố lên!”

Hạnh phúc không phải là bạn nghe qua bao nhiêu lời ngon ngọt, mà là khi bạn bi thương rơi lệ, vẫn có người nói với bạn: “Không sao đâu mà, có tôi ở đây…”


Tuệ Tâm
hongvulannhi  
#6344 Posted : Tuesday, July 16, 2019 12:16:56 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,279

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5289 time(s) in 3545 post(s)
UserPostedImage

Đêm Thức Với Mưa

Đêm chợt thức không hay mùa trở lạnh
mưa thì thầm cùng gió gọi ngàn phương
lắng nghe đêm giọt buồn rơi tí tách
nghe tri âm nao nức khúc tình trường

Mưa vẫn vậy hồn nhiên đời vũ trụ
chỉ rằng ta hay vông viễn xa xôi
chỉ rằng ta hay bâng khuâng thức ngủ
để cho mưa day dứt rắc bồi hồi

Xa rồi hỡi những hạ nồng xóa gót
dấu chân xưa hoang hoải bước vào thu
đêm đã lạnh cho lòng càng thêm lạnh
mưa đồng tình mưa rải giọt sầu ru

Còn ai không nghe đêm đời viễn xứ
buồn vui rồi còn lại chỉ mình thôi
viết đi em những chuỗi dài ngôn ngữ
em và thơ từ muôn kiếp luân hồi

Không còn ai chỉ còn ta bên lối
nói chuyện với Mưa cho Gió kề vai
những được mất gởi vào tim cằn cổi
để rồi mai phải đứng dậy chào ngày !

Mỹ Trinh
16 tháng 07, 2019

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#6345 Posted : Thursday, July 25, 2019 10:22:59 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,279

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5289 time(s) in 3545 post(s)

UserPostedImage

Thương gửi Lan Phi Vo, Huy Van ,Trần Tiễn San, Binh Phan
và mọi Binh Chủng QLVNCH
*
Wednesday, July 10, 2019

TẤM THẺ BÀI THƠM MÙI... TRẦM HƯƠNG

*

Em là Huế thì anh là Đại Nội
em phượng hồng, anh Vọng Cảnh_Thiên An
em áo tím thì anh là Lính Trận
em giòng Hương thì anh Biệt Động Quân
*
Anh đến Huế, dấu giày Saut in đậm
áo quân trang thơm hương ngát hoa rừng
tóc mây thẹn núp quanh vai một bận
lỡ cảm rồi , Huế nhớ Lính ngàn năm...
*
em là rứa, Lính _người tim em chọn
dẫu biết ngày mô Lính trở về không
chiến trường mô Hạ Lào hay Lệ Khánh
màu phong sương đỏ khô góc thư tình.
*
Tim hồi hộp khi người đưa thư tới
trời Huế vui hay xụ mặt xuống gần
tay Huế run, cầm thư không dám xé
sợ tim ngừng_và nước mắt thành sông...
*
Răng cũng chịu, dù anh về ...nạng gỗ
băng quấn đầu hay cụt một bàn tay
Huế chỉ sợ, cờ phủ nôi anh ngủ
bạn anh trao kỷ vật..tấm thẻ bài...

...

Thư gửi Huế, viết có vài ba chữ
mưa trắng rừng, anh núp dưới poncho
quanh đạn rít, đại bác gầm...đào lổ
may hào sâu không trúng đạn AK
*
Chờ Lính nhé, Huế ơi chờ Lính nhé
mai mốt về, đeo em nhẫn cỏ tranh
viên đạn đồng thế mề đay trên cổ
áo hoa rừng thay áo cưới mừng em

***

Chiến tranh không cho chết người Lính Trận
mà lại là O Huế của tôi thương
ngày tôi về, kinh thành như sập đổ
thẻ bài không mùi máu...mà trầm hương !

đông hương

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#6346 Posted : Thursday, July 25, 2019 10:29:56 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,279

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5289 time(s) in 3545 post(s)
Dzui là dzui qúa dzui ... Thấy các Bác gái, Bác giai ai cũng tươi rói, da dẻ hồng hào, khỏe mạnh, thấy dzui lây và mừng cho các Bác. Nhiều Bác nom mãi trẻ như ngày nào ... Chỉ có Bác Hải Tôi là khó nhận ra (vì nhìn Bác, cái pụng fệ chiếu ngay vào mắt, gắng lắm mới nhìn thấy mặt BigGrin ).

Chúc các Bác luôn hồn an, xác mạnh ạ !

Thạch Bích

UserPostedImage

Thac.h Bi'ch o+i

Bac' na`o thi` cu~ng gia` ro^`i
ne^n ha.nh phu'c nha^'t co`n ngo^`i be^n nhau
co`n noi' cu+o+`i, co`n tre^u nhau
ro^`i nhu+ so'ng bie^?n tan mau cuo^'i tro+`i.


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Bắc Kì Nho Nhỏ on 7/28/2019(UTC)
Con Mua Nho  
#6347 Posted : Friday, July 26, 2019 3:30:04 AM(UTC)
Con Mua Nho

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/21/2011(UTC)
Posts: 4,267
Woman
Location: Bordeaux

Thanks: 320 times
Was thanked: 2953 time(s) in 1406 post(s)
UserPostedImage


Đợi Chờ Tình Hạ


Nắng trôi qua vùng cao rực cháy
Em đi về quên tóc tơ riêng
Khép áo giấu làn hương mười bảy
Ta loay hoay gió cuốn lên tìm

Cơn mưa cũ ướt mềm vai áo
Nhớ nhung nào gõ nhịp trong tim
Dốc đường thoảng dư hương mờ ảo
Dã quỳ xanh nép bụi im lìm

Ta khao khát tiếng yêu mùa hạ
Để tắm mình trong mắt em yêu
Môi hôn trao thuở nào vụng dại
Thời gian đưa ngưng đọng trời chiều

Hạ mùa này xác xơ mắt lá
Câu thơ buồn ta viết hôm kia
Cung đàn buông âm trầm rất lạ
Như khóc thương một nỗi chia lìa

Hạ bây giờ riêng ta đứng đợi
Dáng em về gót mịn chân qua
Chợt nhạt nhòa người xa vời vợi
Biết bao giờ kỷ niệm phôi pha?

Chút luyến tiếc còn vương làn tóc
Ta đợi chờ mùa hạ lại sang
Âm vang nào nghe như tiếng khóc
Đêm nay buồn, nặng nửa ta mang



Huỳnh Minh Nhật



UserPostedImage


Bắc Kì Nho Nhỏ  
#6348 Posted : Sunday, July 28, 2019 12:04:03 PM(UTC)
Bắc Kì Nho Nhỏ

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/23/2012(UTC)
Posts: 608
Location: Deutschland

Thanks: 200 times
Was thanked: 444 time(s) in 300 post(s)
Originally Posted by: hongvulannhi Go to Quoted Post

Thac.h Bích ơi

Bác nào thì cũng già rồi
nên hạnh phúc nhất còn ngồi bên nhau
còn noí cười, còn trêu nhau
rồi như sóng biển tan mau cuối trờị





UserPostedImage


Chị Cả ơi,
em gái vẫn biết mà :

Ngày nào tuổi mới vào Xuân
Mà nay thấp thoáng đã gần cuối Thu
Cuộc đời một cõi phù du
Hơn nhau cách sống đời dù ra sao
Trăm năm nào có là bao ?
Yêu thương, rộng lượng ngày nào còn đây
Bạn bè, bằng hữu xum vầy
Vui cười, chia sẻ ắp đầy tình thân
Xa xôi hay rất cận gần
Ngày qua, ngày đến ân cần có nhau
Hôm nay cho mãi về sau
Sống vui, sống khỏe sá đâu tuổi già ?!


Thực tình thấy các bác an mạnh, vui vẻ, quây quần vui chơi ... TBích mừng lắm.
Ghẹo bác Hải Tôi, độc thân vui tính, cũng chỉ để vui đùa thôi.
Chúc các bác mọi sự tốt lành.

TBích
thanks 1 user thanked Bắc Kì Nho Nhỏ for this useful post.
hongvulannhi on 7/28/2019(UTC)
hongvulannhi  
#6349 Posted : Sunday, July 28, 2019 1:17:58 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,279

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5289 time(s) in 3545 post(s)

UserPostedImage


Chị Cả ơi,
em gái vẫn biết mà :

Ngày nào tuổi mới vào Xuân
Mà nay thấp thoáng đã gần cuối Thu
Cuộc đời một cõi phù du
Hơn nhau cách sống đời dù ra sao
Trăm năm nào có là bao ?
Yêu thương, rộng lượng ngày nào còn đây
Bạn bè, bằng hữu xum vầy
Vui cười, chia sẻ ắp đầy tình thân
Xa xôi hay rất cận gần
Ngày qua, ngày đến ân cần có nhau
Hôm nay cho mãi về sau
Sống vui, sống khỏe sá đâu tuổi già ?!


Thực tình thấy các bác an mạnh, vui vẻ, quây quần vui chơi ... TBích mừng lắm.
Ghẹo bác Hải Tôi, độc thân vui tính, cũng chỉ để vui đùa thôi.
Chúc các bác mọi sự tốt lành.

TBích


Ba'c na`o thi` cu~ng gia` ro^`i
Chi? rie^ng co' ba'c Hai? to^i đo^?i nhie^`u
Nga`y xu+a tim ye^u qua' ye^u
Nga`y nay tim đa~ tie^u đie^`u xa'c xo+

Tu+` bao gio+` đe^'n ba^y gio+`
Phai? đeo Pacemake đe^? cho tho+? đe^`u
Ma('t thi` kem nhe?m ke`m nhe`m
Mi' thi` xu.p xuo^'ng cha(?ng xem ro~ na`o

Tha^n thi` ga`y hai chu.c pao
Ca'i bu.ng va^~n cu+' to sao to la`
Kha'c nhie^`u hi`nh da'ng Hai? ta
Xu+a oai hu`ng the^', gio+` ta`n ta. ghe^

Cu`ng em va`i lo+`i ti? te^
Cuo^.c đo+`i thay đo^?i: đi ve^`, ho+.p tan

HONG VU LAN NHI

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Con Mua Nho  
#6350 Posted : Wednesday, August 7, 2019 4:44:54 AM(UTC)
Con Mua Nho

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/21/2011(UTC)
Posts: 4,267
Woman
Location: Bordeaux

Thanks: 320 times
Was thanked: 2953 time(s) in 1406 post(s)

UserPostedImage


Đừng Nhớ Người Xa

Sáng Tác: Vũ Thanh
Hoà Äm: Quốc Khanh
Trình Bày: Hoàng Thục Linh



Lòng đã dặn lòng, đừng khóc biệt ly
Mà sao khi tạ từ, tràn mi nước mắt
Phút chia tay, vì sao cúi mặt
Để người quay lưng, nghe tim mình quặn thắt

Người chẳng phụ người, mà vẫn dở dang
Tại ta hay tại trời bày ra số kiếp
Lúc yêu nhau, mừng câu ước thề
Nay mất nhau ngỡ ngàng, đắng cay bẽ bàng
Ôi chuyện hợp tan

Người đi xa quá trời Tây, biết còn có về
Thời gian - phương thuốc để quên hay thử đá vàng
Đông tàn xuân sang, trăng tròn trăng khuyết, trùng dương cách biệt
Mơ phút giây sum vầy, phút giây tương phùng.. chỉ là mộng thôi.

Lòng vẫn dặn lòng, đừng nhớ người xa
Mà tâm tư lặng thầm, gọi tên ai mãi
Tiếng mưa đêm ngoài kia nức nở
Đây lá thư cuối cùng.. lá thư cuối cùng tôi gửi về anh.




UserPostedImage


hongvulannhi  
#6351 Posted : Monday, August 12, 2019 2:46:08 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,279

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5289 time(s) in 3545 post(s)

Tháng Sáu trời mưa


By Nguyên Tâm - April 9, 2016

Nguyên Sa là một trong những thi sĩ có thơ được phổ nhạc nhiều nhất. Nhạc sĩ phổ thơ của ông nhiều nhất có lẽ là Ngô Thụy Miên. Có thể nói, hầu như bài thơ nào của Nguyên Sa được Ngô Thụy Miên (chọn) phổ nhạc đều hay cả. Nói rõ hơn, thơ cũng hay mà nhạc cũng hay; như Paris Có Gì Lạ Không Em, Áo Lụa Hà Đông, Tuổi Mười Ba… Những ca khúc ấy, thơ và nhạc như quyện vào nhau, được người ta nghe đi nghe lại, hát đi hát lại suốt gần nửa thế kỷ qua.

Tuy nhiên, có một bài thơ của Nguyên Sa được Ngô Thụy Miên phổ nhạc, cũng rất nổi tiếng, nhưng không phải nhờ công của Ngô Thụy Miên, mà là của nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm.

UserPostedImage

Nguyên Sa và Hoàng Thanh Tâm

Năm 1984, Ngô Thụy Miên phổ nhạc bài thơ ấy nhưng không được nhiều ca sĩ hát. Nếu được nghe người nào hát, không mấy ai muốn nghe đi nghe lại.

Lý do vì giai điệu không có gì đặc biệt mà người nghe thường thấy trong nhạc Ngô Thụy Miên. Nói dở thì không hẳn là dở nhưng rõ ràng nhạc không hay, rất bình thường. Giai điệu nghe cứ ngang ngang, đều đều, lạt lạt, thiếu thiếu… gì đấy! Thậm chí, nghe hai ba lần rồi vẫn không nhớ nhạc hát như thế nào.

Bỗng từ năm 1987, ca khúc Tháng Sáu Trời Mưa trở nên nổi tiếng, ai cũng (thích) hát, không riêng gì giới ca sĩ. Đấy cũng là thời điểm của tiếng hát Ngọc Lan… lan rộng khắp nơi, từ hải ngoại về đến trong nước.

Bài hát ấy theo tiếng hát Ngọc Lan đến với nhiều người. Và… nhiều người nhớ mang máng bài này hình như của Ngô Thụy Miên! Lý do là nạn thâu băng nhạc lậu ở Việt Nam đã có từ hồi ấy. Các “cửa hàng” kinh doanh băng đĩa nhạc thường kiêm luôn dịch vụ thâu nhạc “chọn lọc”. Khách cứ nói mình thích bài đó bài kia do ca sĩ này ca sĩ nọ hát rồi cửa hàng thâu đầy một băng… cassette. Trên hộp băng chỉ ghi (tay) mục lục thứ tự tên bài hát; còn tên tác giả thì không ai bận tâm. Những băng nhạc “chọn lọc” kiểu này tràn lan khắp Việt Nam giai đoạn ấy.

Ở hải ngoại thì hầu như nhà nào cũng có máy nghe và thâu nhạc nên bạn bè ai thích bài nào thì mình thâu tặng bài đó; cũng “làm biếng” ghi tên tác giả! Lâu ngày, rất nhiều người cứ tưởng cái bài Tháng Sáu Trời Mưa mà mình thích là của Ngô Thụy Miên.

Thật sự, đấy chính là bản phổ nhạc của Hoàng Thanh Tâm khi ông ở bên Úc năm 1987. Chính ông lúc ấy cũng không hề biết nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã phổ nhạc bài này trước đó 3 năm.

Bản của Hoàng Thanh Tâm đến với công chúng lần đầu tiên qua giọng hát Thái Hiền.

Một lý do khác khiến sự nhầm lẫn này càng phổ biến là nhiều người, giống như nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm, không biết Ngô Thụy Miên cũng có một bản trùng tên trước đó. Có một số người nghe nói Ngô Thụy Miên phổ nhạc bài này nhưng lại chưa hề được nghe chính bản nhạc đó. Thành ra, cứ đinh ninh bản “Hoàng Thanh Tâm” là của Ngô Thụy Miên!

Thậm chí sau này có internet rồi Youtube, không ít người còn nghĩ người ta viết lộn tên tác giả khi thấy tên Hoàng Thanh Tâm. Công bằng mà nói, một phần cũng vì nhạc sĩ Ngô Thụy Miên không chỉ là bậc đàn anh trong làng sáng tác ca khúc mà sự nổi tiếng của ông cũng hơn hẳn nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm; nhất là những bài phổ thơ của Nguyên Sa.

Trong một chương trình nhạc Hoàng Thanh Tâm tại Úc năm 2011, chính tác giả lên sân khấu tâm sự với khán giả và nói rằng đây là nhạc phẩm tiêu biểu nhất trong cuộc đời sáng tác của ông.

Ông viết ở một căn phòng nhỏ dành cho người độc thân trong một đêm mưa gió, cũng vào Tháng Sáu. Một tác phẩm rất tâm đắc như thế lại bị hiểu nhầm của người khác thì không có gì khổ tâm bằng! Thà bị như những nhạc sĩ khác viết ca khúc mà không được trả tiền bản quyền hoặc không được nhắc đến tên, còn đỡ khổ (tâm) hơn. Tâm lý chung của nhiều người nghe nhạc, chỉ chú trọng đến bài hát và ca sĩ mà ít quan tâm đến nhạc sĩ. Có một thời người ta phát hành băng nhạc mà không thèm ghi tên tác giả ca khúc.

Không phải vì họ không cần trả tiền bản quyền tác giả mà chính vì họ biết đa số người mua băng cũng chẳng bận tâm gì lắm. Những sự vô tình ấy đôi khi gây ra những thiệt thòi về vật chất và mất mát về tinh thần đối với người nhạc sĩ.

Không ít nhạc sĩ có nhiều ca khúc được ưa chuộng nhưng chính bản thân họ sống trong nghèo khổ giữa sự thờ ơ của người đời như Trúc Phương.

Ngoài bản Tháng Sáu Trời Mưa, Hoàng Thanh Tâm và Ngô Thụy Miên còn “đụng hàng” một lần nữa trong bài thơ Cần Thiết của Nguyên Sa.

Bài này cũng được Hoàng Thanh Tâm phổ nhạc năm 1987; còn Ngô Thụy Miên phổ nhạc năm 1993.

Tuy nhiên, lần này không có rắc rối hoặc nhầm lẫn gì. Một phần, có lẽ, vì cả hai phiên bản không được công chúng đón nhận nồng nhiệt như bản Tháng Sáu Trời Mưa của Hoàng Thanh Tâm.

Phiên bản nổi tiếng này thực ra không khó để phân biệt với bản kia của Ngô Thụy Miên. Ngoài giai điệu khác hẳn nhau, lời ca cũng khác rõ nhiều chỗ. Chẳng hạn của Hoàng Thanh Tâm:

Mình dựa vào nhau cho thuyền ghé bến
Sưởi ấm đời nhau bằng những môi hôn
Mình cầm tay nhau nghe tình dâng sóng nổi
Hãy biến cuộc đời thành những tối tân hôn…

Còn của Ngô Thụy Miên:

Đôi mắt em, anh xin, đừng lo ngại
Mười ngón tay đừng tà áo mân mê
Đừng hỏi anh rằng: có phải đêm đã khuya
Đừng hỏi anh rằng: có phải đêm đã khuya…

Lúc còn sống, có lẽ thi sĩ Nguyên Sa rất vừa ý với những bài của Ngô Thụy Miên phổ nhạc. Không biết riêng trong bản Tháng Sáu Trời Mưa, ông thích bản phổ nhạc của ai hơn?

NT.

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Mắt Buồn  
#6352 Posted : Saturday, August 17, 2019 3:43:15 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 4,927

Thanks: 663 times
Was thanked: 573 time(s) in 413 post(s)

Chuyến Đi Nhớ Đời


Lời Giới Thiệu: Tôi tin rằng một người trong nước (dân Sài Gòn) kể câu chuyện dưới đây đã không nói dối; Và tôi còn tin rằng - như cô bạn "múa nói" - người Hà Nội bây giờ bây giờ khác xưa (trước 1954) nhiều rồi. Họ chẳng còn thấy khó chịu hay lạ lùng về những chuyện “kinh dị” tương tự như trong câu chuyện nữa!

Cuộc đời là một sự thay đổi; nhưng tiếc rằng ở Việt Nam ta bây giờ (từ hơn 75 năm qua) sự thay đổi đi quá nhanh. Không thể nào còn mong mỏi (hay mơ ước) có một Sài gòn trước 75, hay một Hà nội trước 54. Nghĩ mà buồn… Thật buồn!

Trần văn Giang

***

“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài...”

Đầu tháng Năm năm ngoái, tôi có dịp theo đoàn nghệ thuật Q. (nơi tôi đang công tác) ra Hà Nội để tham gia hội diễn toàn quân.

Đoàn tôi xuống sân bay Nội Bài vào buổi cuối chiều. Hà Nội đã vào hạ, nhưng chưa nóng gay gắt như Sài Gòn, thời tiết dịu dàng, vô cùng dễ chịu. Trên con đường cao tốc rất đẹp và hiện đại nối sân bay với nội đô, không nhiều lắm xe cộ nối nhau lao vun vút, thỉnh thoảng có những bác nông dân tỉnh bơ dắt trâu đủng đỉnh băng qua đường. Hai bên đường, những thửa ruộng lúa chín vàng trải dài vút tầm mắt, cách quãng lại có những tấm biển khổng lồ, quảng cáo điện thoại di động hay băng vệ sinh, biểu hiện của một thành phố thời hiện đại.

Về tới nội thành, trời đã tối hẳn, đoàn chúng tôi nghỉ tại một nhà khách quân đội ở đường Tầu Bay. Tối hôm đó tôi cứ trằn trọc, chỉ mong tới sáng để đi thăm thủ thủ đô. Tất cả những vẻ nên thơ, những địa danh nổi tiếng, những món ăn bất hủ của Hà Nội, thực ra tôi đều đã biết, nhưng là biết qua tưởng tượng, qua những tập bút ký, những đoạn tản văn hoặc những ca từ của các ca khúc viết về Hà Nội. Ôi những cây bàng lá đỏ; Ôi Hồ Gươm, Tháp Rùa; Ôi Hồ Tây lộng gió; Ôi hoa sữa đường Nguyễn Du bên hồ Thiền Quang thơ mộng... Ôi... Ôi... Ôi... Chưa kể các món ăn. Người Hà Nội sành ẩm thực lắm, nào phở, nào bún ốc, nào chả cá Lã Vọng…, nghĩ tới tôi cứ tứa hết nước dãi.

Sáng hôm sau, hai người bạn và tôi tranh thủ lúc đoàn chưa có kế hoạch tập luyện bèn rủ nhau đi chơi ngay. Ra khỏi nhà khách một quãng, thấy mấy thanh niên ngồi túm tụm, mỗi người trên một chiếc xe máy, đồ chừng họ là xe ôm, nhưng không dám chắc lắm, bởi xe họ mới và là loại khá “xịn.” Chúng tôi tiến lại gần, còn đang phân vân thì một người trong bọn họ nhìn chúng tôi quát to:

"Thích soi à?"

Chúng tôi chưa kịp hiểu gì thì một người khác lại quát:

"Cụp mẹ mày pha xuống!"

Rồi một người khác:

"Bố mút mẹ mày pha ra bây giờ!"

Chúng tôi hoàn toàn không hiểu gì cả, nhưng thấy họ có vẻ hung dữ nên chúng tôi vội lảng ra xa. May quá có một chiếc tắc-xi đi ngang, chúng tôi leo lên tắc-xi và đi vào khu trung tâm. Ngồi trên xe, tôi đem câu chuyện trên kể với anh lái tắc-xi và được anh cho biết "soi" tức là nhìn, "pha" là mắt. Đại ý là mấy thanh niên vừa rồi bảo chúng tôi không được nhìn và phải cụp mắt xuống.

Hồ Gươm quả thật danh bất hư truyền, đẹp đến nao lòng. Tháp Rùa nổi lên giữa hồ trên một cù lao cỏ nhỏ xinh xinh. Xung quanh hồ là những cây liễu thướt tha soi bóng, hoàn toàn đúng với những gì các nhà văn đã từng viết. Thật là một vẻ đẹp vô cùng lãng mạn. Tháp Bút đúng là hai cây bút, chọc thẳng lên trời, biểu hiện cho tri thức kẻ sĩ Bắc Hà. Tuy xung quanh hồ có một vài toà nhà mang kiến trúc vô cùng dị hợm, nhưng cũng không làm xấu được Hồ Gươm bao nhiêu. Có một điều khá đặc biệt, cách Tháp Bút chừng hai trăm mét, ngay trên lối đi dạo quanh hồ là một công trình mang kiến trúc của một cái lô cốt thời Tây. Rất nhiều người ra vào đó, người nào khi vào mặt cũng khó đăm đăm, nặng trình trịch, khi ra thì rất tươi, cứ như họ vào đó để chích “đô-phin (?).” Về sau mới biết, đó là cái “toa-lét” công cộng. Giời ạ! Khác nào một hột mụn cơm, một nốt vá chó giữa má nàng hoa hậu.

Chúng tôi rủ nhau ăn sáng, thực đơn sẽ quyết định là phở. Tôi ra sức ca tụng với hai người bạn (đều là dân Miền Tây) rằng phở là món ăn quốc tuý của Việt Nam, nhưng phở với đầy đủ phẩm chất của nó phải là phở Hà Nội. Chúng tôi vào một quán phở nằm trên một con đường tôi không nhớ tên nhưng cũng thuộc khu trung tâm. Quán vắng tanh, nhưng ngay cạnh đó là một quán phở khác, đông nghẹt. Khách ăn vào chen nhau mua ra, trên tay mỗi người lăm lăm tô phở. Hết bàn ghế, họ ngồi xổm ngay trên vỉa hè húp xì xoạp, vừa ăn vừa sỉ mũi xoèt xoẹt. Chúng tôi chọn quán này vì nó vắng, có bàn ghế mà ngồi. Ông chủ quán bưng ra ba tô tái chín, bốc hơi nghi ngút, ngửi mùi tôi đã rạo rực. Một anh bạn tôi, theo thói quen, nói rất dõng dạc:

"Cho xin chén giá chụng đi."

Ông chủ quán quay lại nhìn chúng tôi như nhìn người ngoài hành tinh, rồi bảo:

"Giá chụng hả? Vào Sà Ghềnh mà ăn."

Ông ta nói với cách nhái giọng Miền Nam, thái độ chẳng thân thiện gì. Tôi hết hồn, cấu mạnh vào đùi anh bạn, rồi nói nhỏ vào tai hắn:

"Ăn đi, đòi hỏi vớ vẩn, người Hà Nội họ nề nếp lắm, lần sau nói năng phải thưa gửi đàng hoàng."

Suốt buổi sáng và cho tới chiều hôm đó, chúng tôi bát phố Hà Nội, toàn đi bộ, rạc hết cặp giò. Đường phố Hà Nội cũng như Sài Gòn, nghĩa là rất nhiều xe máy, kẹt xe liên tục. Trước đây, tôi nghĩ Sài Gòn chắc nhiều xe máy và sự chấp hành luật giao thông của người dân chắc kém nhất Việt Nam. Nay tôi thấy tôi nhầm, lượng xe thì hai thành phố như nhau, nhưng người Hà Nội chạy xe láo kinh khủng, không có luật lệ gì hết nếu không có mặt cảnh sát. Về phương diện này dân Hà Nội là bậc thầy. Ngoại trừ khu vực được gọi là phố cổ, người dân xây nhà với những lối kiến trúc kinh dị, không ai giống ai, cái thì giống điện "Kremli," cái thì như lâu đài Ba Tư, lộn xộn đứng gằm ghè bên nhau. Về mặt này, Hà Nội cũng ăn đứt Sài Gòn. Có lẽ do đặc tính người Hà Nội là nghệ sĩ nên họ luôn thích sáng tạo.

Chúng tôi ghé vào một tiệm băng đĩa, (nghe nói người Hà Nội cũng sành âm nhạc, hơn nữa có rất nhiều những CD "độc," hàng Trung Quốc mà những tiệm Sài Gòn không bao giờ có, bởi không nhập hàng này, người Sài Gòn không thích nhạc cổ điển) quả thật, tôi đã không thất vọng. Chúng tôi chọn được mấy CD của Mozart, Tchaikovsky... do dàn nhạc hoàng gia Anh trình bày đàng hoàng. Chợt nhìn thấy trên kệ có để một CD của một cô bạn ca sĩ, tôi hỏi thử:

"Có bán CD của ca sĩ TT không anh."

Anh chủ tiệm bĩu môi:

"Con dở hơi, có mà bán cho chó."

Ở tiệm đĩa ra, tôi muốn về lắm rồi. Quả thật tôi không còn tin vào những áng văn thơ trác tuyệt viết về Hà Nội mà tôi đã đọc. Nào là “cây bàng lá đỏ...” Có đâu, đường phố trụi thùi lụi, có mà bàng bê tông thì có. Nào là “quán cóc liêu xiêu...” Có đâu, toàn quán nhậu tạp nham. Nào “Hồ Tây chiều nay, mặt nước vàng lay bờ xa mời gọi...” Có mà mời gọi, cứ thử lên đó ngồi xem, kể cả ngồi xuống đất cũng có mấy thằng cô hồn ra đòi tính tiền chỗ. Còn người Hà Nội thanh lịch thì bây giờ tôi cảm thấy rờn rợn, tự nhiên tôi nghi ngờ sự hiểu biết của mình về nghĩa từ thanh lịch. Nhưng chúng tôi vẫn chưa về được, vì một anh bạn nhất quyết đòi đi mua quần áo gì đó. Anh bảo vợ dặn phải mua. Chúng tôi ghé vào một tiệm quần áo, sau khi xem, anh hỏi:

"Chị có kiểu quần X, áo Y, váy Z... Mà của Trung Quốc ấy."

Chị chủ quán liếc xéo anh rồi bảo:

"Anh giai thành phố Hồ Chủ Tịch mà kém tắm thế, muốn đồ Trung Quốc hả? Lên Đồng Xuân, Bắc Qua ấy, đây chỉ có hàng Anh, Mỹ... Anh dùng tạm, không thì phắn mẹ ló đi cho em nhờ. Cháo ám!"

Tôi biết, thứ hàng Anh, Mỹ của chị ta có bán rất nhiều trong khu bán sỉ trên chợ An Đông.

Chiều hôm đó, chúng tôi ăn cơm trong một quán cơm bình dân gần nơi ở của đoàn. Nghe nói bia hơi Hà Nội ngon lắm, thấy quán này cũng có bán, chúng tôi gọi uống thử. Không ngon như đồn đại, tôi thấy nó nhạt và chua. Trong quán, có một anh cũng ngồi ăn và uống bia, anh ta chắc là một tay buôn chuyến đồ nông phẩm, vì tôi thấy chiếc xe của anh hai bên phía sau có chở hai cái sọt. Ăn xong, anh trả tiền, rồi càu nhàu:

"Bia với bọt nhạt như nước nồn, chua noen noét như cứt mèo, nàm mẹ nó be rượu cho xong."

Chị chủ quán bình thản:

"Như lước l… thì ló mới nghìn rưỡi, còn muốn không như lước l... thì những ba nghìn rưỡi cơ. Buôn cứt người còn chê cứt mèo. Sốt ruột."

Anh chàng định sửng cồ, nhưng thấy chị chủ quán tay lăm lăm con dao thái thịt, chắc không phải tay vừa, nên anh cun cút đi mất.

Quả thật, cách đối thoại của người Hà Nội vô cùng khó hiểu, hình như nó mang nhiều tính ẩn dụ. Thì người Tràng An mà lại, ho ra thơ, thở ra văn. Có điều tôi thấy quá nhiều người phát âm sai chính tả. Ở trong đoàn có mấy cô diễn viên múa là người Hà Nội, họ kể rằng bây giờ người Hà Nội tạp nham, nói ngọng nhiều lắm. Nhưng tôi nghĩ, nói ngọng tức phát âm không chuẩn do khiếm khuyết ở lưỡi hoặc dây thanh quản. Họ không thế, họ không nói ngọng mà phát âm sai chính tả. Hình như đây là một thứ mốt của người Hà Nội, kiểu như cái mốt nói chen tiếng Tây.

Tối hôm đó, tôi kể chuyện đi chơi và phát biểu cảm tưởng của tôi cho mấy cô diễn viên múa người Hà Nội. Các cô cười ngặt nghẽo và bảo:

"Hà Nội là như thế đấy, các anh không quen nên thấy sốc đó thôi, bọn em thấy bình thường."

Đúng thật, những gì gây sốc hoặc dị ứng cho ta, đều là do không quen, chứ không hẳn là những thứ đó không tốt. Một cô múa tiết lộ với tôi:

"Ở Hà Nội còn nhiều nơi đẹp thơ mộng lắm, không hề như những ấn tượng của anh đâu. Ở những nơi đó anh sẽ thấy Hà Nội hiện ra đúng như những gì anh đã nghĩ. Em ví dụ cho anh nhé, như vườn Bách Thảo chẳng hạn, ở gần Lăng Bác ấy, anh đã đi chưa? Không phải là bách thú Thủ Lệ đâu nhé."

Mấy hôm sau, chúng tôi tới chơi nhà của một trong mấy cô múa đó. Nhà cô ở khu phố cổ, rất gần với Hồ Gươm. Chúng tôi chui vào một con hẻm. Lúc này là bốn giờ chiều, trời còn đang sáng rỡ, vậy mà vừa bước chân vào hẻm, chúng tôi không còn nhìn thấy nhau nữa, nó tối như hũ nút vì bên trên hẻm cũng là nhà. Đi chừng ba chục mét thì tới một cái sân, rộng chừng hai chục mét vuông, là của chung cho tám hộ gia đình, trong đó có hộ của cô bạn chúng tôi. Nhà cô, nhân khẩu có năm người, gồm bố mẹ và ba đứa em cô, tất cả sinh hoạt gói trong mười lăm mét vuông. Cô cho biết, đây là cảnh sống của tuyệt đại đa số cư dân phố cổ, nhưng sống tại phố cổ vẫn là ao ước của nhiều người, nhà cửa ở đây đắt hơn kim cương. Tôi ngồi chơi một lát rồi lỉnh đi mất, tôi có ý định tìm tới vườn Bách Thảo, mong lấy lại một chút thi vị của Hà Nội.

Tôi tới vườn Bách Thảo thì trời đã nhá nhem tối. Trong vườn, không khí nhẹ nhõm mát mẻ, quả thật cô diễn viên múa đó đã không đánh lừa tôi. Đây đúng là một vườn địa đàng. Các loại cây cổ thụ xoè tán uy ngiêm, trên gốc già cỗi là những loài cây kí sinh, chen nhau mọc xanh rì, càng làm tăng vẻ huyền bí. Trong vườn cũng có hồ, có những con đường nhỏ rải nhựa chạy uốn lượn ngoằn nghoèo. Giữa vườn có một trái núi đất (sau tôi được biết tên, đó là Núi Nùng) có vẻ như là tự nhiên, chứ không phải như những hòn giả sơn vẫn có nhan nhản trong các khu du lịch ở Sài Gòn. Núi Nùng rất đẹp, đủ chủng loại cây mọc trên nó, có đường đi lên và trên đỉnh hình như có một ngôi chùa hay một cái miếu gì đó. Dọc con đường nhỏ, có đặt những chiếc ghế đá, đây đó có một vài cặp tình nhân đang ngồi tâm sự. Cảnh vật, không khí này, với vẻ u tịch mơ màng khiến tôi chợt nhớ tới một bài ca về Hà Nội. Thậm chí tôi còn cất tiếng hát khe khẽ.

Tôi theo con đường nhỏ leo lên đỉnh Núi Nùng. Chà, núi cao ra phết, tôi đã khá mỏi chân. Chợt tôi thấy đâu đó một mùi um um rất khó chịu, tôi nhìn quanh và phát hiện ra một đám cháy nho nhỏ, xung quanh là mấy thằng nhóc chừng mười ba, mười bốn tuổi đang la hét cười như nắc nẻ. Tò mò, tôi tiến lại gần, thì ra cái mùi là lạ kia phát ra từ đám cháy. (Về sau, cô "diễn viên múa" có giải thích cho tôi rằng cái mùi đó là do bọn trẻ con đốt hạt của một loại trái cây, thứ trái đó người ta gọi là quả thối, một thứ quả đặc sản của Núi Nùng. Bọn trẻ đốt để khủng bố các cặp tình nhân.) Thấy lạ quá, tôi tiến vào gần hơn, thì một thằng nhóc, mặt câng câng hất hàm bảo tôi:

"Nhìn cái đéo gì? Thích gì?"

Tôi hốt hoảng, bật lui rồi quay trở xuống. Xuống đến chân núi, tôi đã mỏi chân lắm, thấy một chiếc ghế đá còn trống, tôi bèn ngồi xuống. Vừa dựa lưng vào lưng ghế, tôi chợt thấy dính nhem nhép đằng sau, đưa tay quờ ra sau, tôi linh cảm ngay thấy điều chẳng lành. Một mùi thối hung hãn khủng khiếp bốc lên. Thôi đúng rồi, có đứa nào chơi ác, nó ỉa lên lưng ghế. Thế là nguyên mảng lưng áo tôi dính nhoe nhoét, toàn cứt. Thực ra cứt nó chỉ là sản phẩm của bộ máy tiêu hoá, với nguyên liệu đầu vào là những thứ thơm tho. Có điều cũng nguyên liệu đó nếu đưa vào những bộ máy tiêu hoá khác, như của con heo chẳng hạn, thì nó sẽ cho ra sản phẩm kém chất lượng hơn nhiều, mùi cứt heo so với cứt người thì kém xa về độ tàn bạo. Chỉ có bụng dạ con người mới có khả năng để cho ra những thứ thối tha như thế.

Tôi lâm vào tình thế khó xử quá, cởi áo vứt đi thì cởi trần từ đây về nhà sao được, từ đây về tuốt đường Tầu Bay đâu có gần gụi gì. Mà nếu để nguyên thế này ra ngoài đường thì thiên hạ họ chửi bố lên cho, có khi họ còn đánh ấy chứ. Dám lắm.

Cuối cùng tôi quyết định cứ để nguyên thế mà về, tôi bảo anh xe ôm rằng tôi sẽ trả tiền gấp đôi, anh ta mới chịu. Trên đường, tôi đi tới đâu, dân tình giạt ra tới đó, có mấy thằng du côn khạc nhổ chửi bới ầm ĩ. Mặc kệ, tôi còn cảm thấy thích, coi đây là một sự trả thù đời nho nhỏ.

Đoàn tôi đã thi xong. Mọi người đều phấn khởi vì hôm thi, ai cũng làm tốt phần việc của mình, cả đoàn chắc mẩm đạt được thành tích đề ra, tức là đứng thứ ba toàn đoàn. Thực lực đoàn tôi có thể tranh chấp ngôi nhất nhì, nhưng vuốt mặt nể mũi, phải tôn trọng đoàn chủ nhà chứ. Đấy là luật bất thành văn của bất kỳ cuộc hội diễn nào. Biết như thế nên lãnh đạo đoàn chỉ đề ra chỉ tiêu đứng thứ ba. Thế nhưng mọi việc không như dự tính, kết quả đoàn tôi đứng thứ hai từ dưới lên. Hôm đi nghe kết quả về, ông trưởng đoàn mặt cứ như đưa đám, phen này về ăn nói ra sao với cấp trên, chương trình đầu tư mấy trăm triệu chứ bỡn à.

Tôi nghe trong đoàn người ta bàn tán rằng, hồi bắt đầu dàn dựng chương trình, ông A. (một cây đa cây đề trong làng ca múa nhạc quân đội, trưởng ban giám khảo) đã vào đoàn và đặt thẳng vấn đề, nếu đoàn đưa cho ông mấy trăm triệu đó, ông sẽ lo dàn dựng toàn bộ chương trình và bảo đảm chỉ tiêu đứng thứ ba (giống như một thứ thầu khoán và bảo hành công trình). Chả hiểu sao ông trưởng đoàn tôi không đồng ý.

Trong khi tất cả các đoàn phía Nam đều do một tay ông A. lo hết. Thế bảo sao chả về áp chót. Ghê thật. Đúng là thời hiện đại, kinh tế thị trường. Môi trường văn hoá nghệ thuật cũng không thoát khỏi sự chi phối của nó. Các ông văn hoá đầy mình còn hành xử như thế, trách quái gì ba cái chuyện nói ngọng với ỉa bậy.

Ngày mai đoàn tôi lại về Sài Gòn. Đoàn đứng vị trí thứ mấy với tôi chẳng quan trọng, tôi chỉ là thằng nhạc công và tôi đã làm tốt phần việc của mình. Những chuyện "maphia" đó thuộc phần các vị chức sắc. Tôi chỉ biết, tôi đã được du hí nửa tháng trời ở thủ đô.

Thế là mãn nguyện...

Vương Văn Quang

hongvulannhi  
#6353 Posted : Monday, August 19, 2019 8:25:29 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,279

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5289 time(s) in 3545 post(s)

mê dài

về đây em từ mê dài
rủ sương áo bụi mòn vai gánh đời
ngồi lại thôi ở bên tôi
lắng nghe chiều xuống
chiều trôi tiếng chiều

lời reo suối mát tình iêu
cây rừng cổ tích nói điều nghìn năm
về rồi dựng mái liều tranh
tôi đàn
em hát
tiếng oanh tuyệt vời

ngồi đây một chút xa xôi
kéo về thu lại trời tôi còn hoài
rượu chiều nay chưa vội say
mà em sao thế
áo bay nghìn trùng

ghi dăm con chữ lại cùng
thôi thì ném trả tương phùng vào mơ
về đây cho phút ngẩn ngơ
rồi mai tỉnh lại
còn trơ giấc gầy

về đây nằm chờ gió mây
thổi khô buổi nọ hàng cây ngập ngừng
chân có đi
như đã từng
theo nhau như thể reo mừng cánh chim

áo phơi thổi phận mỏng mềm
tôi ra trời cũ tiễn đêm đón ngày
hẹn gì không ở một mai
tôi ngồi hoa cỏ chưa hay những gì!

Phạm Quang Trung

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#6354 Posted : Monday, August 19, 2019 8:15:50 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,279

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5289 time(s) in 3545 post(s)

UserPostedImage




Bài xướng từ Chiếc Lá Thu Phai

CHIỀU RƠI

Hoàng hôn rơi! hoàng hôn rơi!
Mây pha sắc tía rối bời tà dương
Hương xưa một giấc mộng thường
Ai mang cung lỡ trải đường chiêm bao

Nỗi niềm theo gió xanh xao
Ánh hoàng hôn đổ lũng sâu tội tình
Dấu giầy trên vách nguyên trinh
Bụi trần gian phủ tan hình hài xưa...

Mây chiều ngưng đọng sương mưa
Rơi xuyên triền nắng, giọt thưa thớt buồn
Giọt nào rả rích giận hờn
Đan vào lòng nhớ từng cơn u tình

Ráng chiều phai! Bóng xế chìm!
Duyên xưa còn lại một thiên sử lòng
Chiều mang theo cả mênh mông
Chìm trong bóng tối, đợi vầng trăng xa....

Mục Tú, ct

Họa vần

THU RƠI

Lá thu rơi lá thu rơi
Hoàng hôn buông vội bời bời ánh dương
Ngồi xây giấc mộng bình thường
Mà sao chợt thấy lạc đường chiêm bao

Nghe rừng lá đổ xôn xao
Tiếng chim về tổ đào sâu ân tình
Lá rơi hồn lá trung trinh
Nghe từng tiếng vỡ tan hình bóng xưa

Mây đen vần vũ chuyển mưa
Vài giọt thánh thót lưa thưa gợi buồn
Mái tole vọng tiếng oán hờn
Gió gieo nốt nhạc từng cơn u tình

Tà dương vội vã đắm chìm
Ngày vương sót lại trang thiên sử lòng
Đêm về bóng tối mênh mông
Ánh trăng e thẹn đôi vầng thu xa

Peter Lý

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

tictac  
#6355 Posted : Thursday, August 22, 2019 2:45:19 PM(UTC)
tictac

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,835
Location: Riverside

Thanks: 365 times
Was thanked: 594 time(s) in 496 post(s)

UserPostedImage

ĐÀN ÔNG HƠN NHAU,
CHÍNH LÀ Ở NỤ CƯỜI CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐI CÙNG


Tôi luôn rất thích nụ cười của đàn bà. Đàn bà dù có nhan sắc hay không, xinh hay không xinh, chỉ cần cười là tôi đã thấy đẹp. Tôi đã nghĩ đó là nét đẹp, là sức quyến rũ rất riêng của đàn bà, hơn cả chân dài hay ngực khủng.
Nụ cười hạnh phúc và rạng ngời của đàn bà luôn có sức lan tỏa cả không gian xung quanh. Luôn hiền lành và tràn đầy bao dung, như chính trái tim và tấm lòng của họ.
Nhưng bạn biết tôi sợ gì nhất ở nụ cười của đàn bà không? Là khi nó nhẹ như không, bình thản đến lạnh người. Là khi cạn cùng của đổ vỡ, đàn bà cười nhẹ tênh. Tôi sợ điều này hơn cả nước mắt hay sự im lặng của đàn bà. Vì thay vì khóc, đàn bà cười, nụ cười như vỡ vụn trong tổn thương mà bất cần.

Tôi còn nhớ, anh từng nói với tôi, anh yêu nụ cười của chị.
Quả thật, chị cười rất tươi, một nụ cười đẹp nhất mà tôi từng thấy. Những năm tháng khi cả hai chỉ là sinh viên, anh đã không ngại đạp xe đi cả mấy cây số chỉ để mua món đồ chị thích, khiến chị cười khi chị muộn phiền. Từng chứng kiến anh đã cố gắng và hạnh phúc đến nhường nào để có thể nhìn thấy chị cười tươi đẹp và hạnh phúc như thế. Khi ấy tôi đã nghĩ, đàn bà chỉ có thể cười khi hạnh phúc, khi đủ đầy yêu thương và sẻ chia. Tôi đã không biết, ngay cả khi đau khổ tột cùng, đàn bà vẫn có thể cười.

Anh cầu hôn chị sau 5 năm yêu thương. Sau 5 năm kết hôn, anh thăng tiến trong công việc.
Chị vẫn một mình ở nhà quán xuyến việc nhà với hai đứa con ngoan. Vài lần lại ngôi nhà khang trang của anh chị, không biết sao tôi lại không còn thấy nụ cười khi xưa của chị. Tôi từng nghĩ có lẽ cuộc sống áp lực và vất vả dễ khiến con người ta muộn phiền. Nhưng rõ ràng những năm tháng bão bùng một thời còn cực khổ hơn gấp bội, vậy sao chị vẫn có thể hạnh phúc như đã từng?

Cho đến khi tôi biết, anh có nhân tình.
Anh xem điều đó như một lẽ dĩ nhiên. Anh bảo với tôi rằng xã hội thượng lưu anh mới bước vào, đàn ông nào lại không có nhân tình? Anh chỉ là làm quen với “quy luật” của thế giới đó. Anh không nhận ra, chẳng có “quy luật” nào tàn nhẫn như vậy cả. Chỉ là anh không kiềm lòng trước cám dỗ ở đời mà thôi.

Ngày đó, tôi gặp chị, nụ cười bao năm héo úa đã không còn. Tệ hơn hết, chị cười nhẹ tênh, dù tôi biết lòng chị có bao nhiêu đổ vỡ nát tan. Nụ cười đó của chị luôn khiến tôi ám ảnh sau này. Đàn bà đau lòng đến mức nào, khóc không dứt ra sao để ráng nặn một nụ cười xót xa đến như thế? Nụ cười ấy chứa bao nhiêu là khổ đau và bất hạnh.
Rồi chị ly hôn, như buông bỏ tất cả.

Hai năm sau đó, chị như hồi phục sau những tháng ngày như không thể đứng dậy. Chị lại cười, nụ cười hạnh phúc của riêng mình.
Đúng lúc ấy anh lại muốn quay về. Chỉ là, mọi thứ đã quá muộn. Anh mãi mãi không thể có lại nụ cười hạnh phúc chị từng chỉ dành riêng cho anh.

Đàn ông hơn nhau, chính là ở nụ cười của người đàn bà đi cùng.
Đàn ông yêu thương, đàn bà sẽ cười hạnh phúc. Đàn ông tệ bạc, nụ cười của đàn bà héo úa mà đáng thương.
Đàn bà hơn nhau là biết chọn người đàn ông có thể làm mình cười cả một đời, hơn là chỉ biết khóc mỏi mệt.
Vì vậy, nếu đàn ông chỉ có thể đem đến cho ta nước mắt, hãy ra đi để tìm nụ cười của chính mình.
Đàn bà đẹp nhất khi cười. Và nụ cười của đàn bà cũng chỉ nên dành cho một người xứng đáng…

KaLua st
tictac  
#6356 Posted : Friday, August 23, 2019 5:42:42 PM(UTC)
tictac

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,835
Location: Riverside

Thanks: 365 times
Was thanked: 594 time(s) in 496 post(s)

UserPostedImage

Đóa Hồng Muộn



Ly dị vợ rồi, ở một mình ên chịu sao thấu, đàn ông tuổi nào cũng cần phải được nâng khăn sửa túi. Lại có người hù dọa, già mà sống đơn độc, tuổi thọ sẽ teo lại ngắn ngủn. Không may đêm khuya đổ bệnh, nằm trơ mỏ như chó ốm, không có ai gọi cấp cứu, nghe khiếp quá, bác bèn về Sài gòn cưới vợ.

Cô Kim kém bác mười tám tuổi, khoảng cách chắc ăn, bác sẽ không hụt hẫng trong chuyện chăn gối. Dù cô có một đời chồng, hai đứa con, không sao, điều quan trọng là cô còn trong độ tuổi ăn chơi bốn mùa. Cũng tại cái vụ bốn năm mùa chơi không ra chơi loạn lạc, lại thêm tính xấu của bác gái, dồn bác vào đường cùng phải ly dị.

Cô Kim ngoan, siêng năng, chìu chồng, ai cũng khen làm bác nở mũi. Dạo mới qua Mỹ, cô đi học ESL kiếm vài trăm trợ cấp, thỉnh thoảng cô có thêm mấy buổi bán hàng trong chợ VN, có tháng cô thu vô gần một ngàn đô.

Cô muốn kiếm tiền nhiều hơn, báo đăng cần người trông người già, bao ăn ở năm ngày, nghỉ hai ngày cuối tuần, lương tháng 1,200$. Sau khi liên lạc với chủ nhân và hẹn ngày gặp mặt, cô báo với bác, anh à, em vừa tìm được việc làm…, cuối tuần em về nhà với anh.

Em tính rồi, làm việc ở đó em có tiền nhiều hơn lúc trước, ăn ở nhà chủ bớt được tiền chợ nhà mình. Em sẽ phụ anh trả tiền điện nước, gửi một ít về cho các con, phần còn lại để dành cho tụi mình sau này.

Anh cho phép em đi làm chỗ này được không ?

Cô nói năng nhỏ nhẹ, lễ độ như thế, làm sao bác có thể hẹp hòi từ chối được, vả lại cô đi làm chứ có đi chơi đâu mà bác can ngăn. Để trấn an bác, cô thỏ thẻ, em sẽ nấu sẳn thức ăn cho anh cả tuần, mỗi ngày anh chỉ mang ra hâm nóng thôi. Nếu anh có rủ thêm bạn đến ăn cho vui thì báo trước, em sẽ nấu dư ra.

Giời ạ, bác rinh cô qua đây đâu phải vì cái ăn. Cơm canh ba món nóng hổi vợ già của bác nấu ngon hơn hàng quán ngoài phố, tại bà cụ « hết hạn sử dụng », trái nết khó ưa, nên bác mới tìm đến cô. Bây giờ cô biến mất năm ngày trong tuần, bác thiệt thòi quá. Nói ra sợ người ta cười chê, già ham vui, lại kém nhân ái, nếu cô làm nhiều tiền, bác phải vui với cô, sao lại ích kỷ chỉ nghĩ cho riêng mình.

Thấy bác suy tư, cô sốt ruột, anh nghĩ sao. Bác phân trần, anh ngại em không quen việc, ở nhà người lạ đâu có thoải mái, chủ nhà đối xử ra sao, để em đi làm, bạn bè biết được họ sẽ chê trách anh.

Cô nài nỉ, anh cứ đưa em đến gặp chủ nhà đi, nếu họ đàng hoàng em mới nhận việc, thôi cứ thế mà làm nhe anh.

Cô nói như ra lệnh, bác đành gật đầu, thầm mong chủ nhà sẽ là người khó ưa, bà cụ nằm liệt giường khó chịu, cô sẽ tự động rút lui.

Trời không chìu ý bác, buổi gặp gỡ hai bên thật suông sẽ, cô chủ nhỏ nhẹ lịch sự, bà cụ tám mươi tuổi, không liệt giường liệt chiếu, hơi đãng trí nhưng rất hiền.

Từ dạo cô Kim đi làm xa, bác mong thời gian qua mau, đến cuối tuần vợ chồng bác trùng phùng hủ hỉ thời kỳ vợ chồng son. Thời gian lặng lẽ trôi mặc cho bác sốt ruột, rồi bác nghe ấm ức, nghèn nghẹn, có vợ cũng như không.

Hai ngày về nhà với bác, cô ưu tiên lên mạn chát với các con bên Sàigòn, sau đó cô đi chợ cho nhà, ghé qua dịch vụ gửi tiền cho các con. Nhân tiện, cô mua thêm bột, thịt, tôm, lá chuối, làm bánh này bánh nọ, đến thứ hai cô giao hàng cho khách bên xóm cô trông nom bà cụ, coi như kiếm chút đỉnh cho đầy hầu bao.

Với chừng đó việc phải làm, nghĩa vụ lúc màn đêm buông xuống, có lúc quá mệt mỏi, cô xù luôn. Chuyện chăn gối bỗng rối bời như như dạo bác gái bước vào quỷ đạo khô cằn sỏi đá, vụ này mà kéo dài, coi như bác chết héo.

Bác giận lắm nhưng không biết làm sao để giải bày tâm sự, bác bèn « ngủ chay » hai cái week end liền tù tì, để biểu lộ sự phản kháng của bác.
Xui quá, cô không hề hay biết kiểu phản đối lặng lẽ của bác, cô tiếp tục lặng lờ « trốn việc ». Tội nghiệp cô, hai ngày nghỉ cô làm việc như trâu chứ có được xả hơi đâu. Đấu tranh ôn hòa không hiệu quả, bác mời cô họp hội nghị hai người, nhắc lại nhiệm vụ làm vợ của cô. Một tuần bác hy sanh năm ngày để cô kiếm tiền, cô phải xử sự cho đáng mặt quân tử của bác chứ, bác bỏ ngang buổi họp, ra phòng khách để tránh giọt nước sắp tràn ly.

Cô Kim nhanh nhẫu chạy theo bác, em xin lỗi, em tham công tiếc việc, vô tình bỏ quên anh, em xin đền bù thoải đáng. Phải thế chứ, bác hài lòng lắm, cô ăn đứt bác gái ở điễm này, dễ bảo, vợ chồng son có khác.

Gần đến ngày đi thi quốc tịch, cô chăm chỉ ôn bài, và xin nghỉ một tuần để chuẩn bị cho cuộc thử thách lớn trong đời cô. Lấy chồng, theo chồng đi Mỹ, chỉ mới là bước đầu của giấc mơ Mỹ, phải mang các con, rồi sau đó anh chị em qua hết bên này, như vậy mới bỏ công cô lấy chồng già.
Tính cô thật thà, có sao nói vậy người ơi, nên cô trình bày kế hoạch dài hạn của cô cho bác nghe. Sau năm năm lấy bác và có quốc tịch, cô bảo lãnh các con, mười mấy năm sau là gom đủ đại gia đình cô « quy mã » (qua Mỹ).

Đến lúc đó cô tha hồ relax, vui chơi với bác, bác nghe lạnh buốt con tim. Vậy là bác phải trường kỳ chờ đợi cô Kim, giá trước khi cưới, cô Kim bộc bạch giải bày giấc mơ Mỹ của cô, bác đâu bị « hố hàng » như bây giờ.

Hồ sơ bảo lãnh cô nhờ văn phòng luật sư lo giúp, chi phí cô trả, không làm phiền bác. Chỉ có khoảng « trăng mờ bên chiếu » là không điều độ, cô xin khất nợ, lo cho gia đình xong, cô sẽ trả gấp bội. Tự nhiên bác lên hàng chủ nợ, món nợ khó đòi, vì thời gian qua rồi làm sao lấy lại được, bác tự an ủi, bù lại, bác có vợ trẻ, le lói với đời.

Bác là việt kiều may mắn, cưới người chân thật như cô thật hiếm. Tiền bạc sòng phẳng, cô không tơ hào tiền hưu của bác, cô tự lo cho gia đình cô, biết điều như cô là nhất xứ thung lũng hoa vàng của bác rồi.

Ngày các con qua Mỹ, cô không ngủ được, giấc mơ Mỹ đã đạt được một nửa, cảnh mẹ con trùng phùng cảm động đến rơi nước mắt, bác cũng rơi lệ, xót phận mình từ nay bấp bênh vô bờ bến.

Cô xin nghỉ việc trông nuôi bà cụ, chạy xuôi ngược lo cho các con hội nhập vào cuộc sống mới, và tìm việc làm gần nhà, có hôm quá bận, cô mua cơm hộp cho cả nhà ăn.

Lúc mới qua, cô bận đi làm xa, bác đành chờ cuối tuần vớt vát chút đỉnh, tuy anh đầu sông em cuối sông, nhưng rồi chúng mình lại bù đắp cho nhau. Bi chừ cô ở nhà với bác, một nách hai con, quay cuồng với cuộc mưu sinh hàng ngày, bác không giúp một tay thì thôi chứ làm sao than thở được. Mà than cái gì, mẹ con người ta xum họp, người ngoài còn chung vui, bác là chồng, là ba ghẻ, là người nhà, sao lại buồn phiền được.

Ngày các con của cô có nghề và ra riêng sinh sống, trả lại lâu đài tình ái cho hai người, bác mừng như con nít được ăn kẹo kéo. Chuyến này sướng nhé, nhà chỉ có hai đứa mình, bác tha hồ kéo dài hạnh phúc đến vô tận.

Bác lại mơ nữa rồi, anh em bên nhà cứ réo cô liên tục, cô lên mạn chát và ra tay nghĩa hiệp. Cảnh này thấy quen quen, y chang dạo bác chán ngán bà vợ già, lên mạn giao lưu với anh em của bác bên Sàigòn.

Cô lại thành thật khai báo với bác, Chúa thương cho em qua Mỹ (cô theo bác vô đạo Chúa), cho em cơ hội kiếm tiền, và chu toàn bổn phận với các con, bây giờ xin anh cho phép em lo cho anh em còn lại bên nhà.

Cô thủ thỉ, anh hai của em nói, thầy trụ trì chùa gần nhà mẹ em bảo, em lấy hết phần phước của anh em, nên em được đi Mỹ, có cơ hội làm giàu. Nghĩ lại em thấy ấy nấy, tại em hưởng phúc mà họ phải ở lại sống nghèo khó.

Không biết thầy chùa nghĩ sao mà phán một câu xanh rờn, khiến cô cảm thấy mình có tội tày đình.

Thầy tìm ở đâu ra thuyết nhân quả siêu đến độ, làm siêu lòng những người như cô, may mắn định cư ở hải ngoại, cảm thấy mình phạm đủ thứ tội. Nào là tội vượt biên suýt mất mạng, tội đi Tây, đi Mỹ, đi Úc, tội cày siêng giàu lẹ.

Để giải oan nghiệp chướng, mỗi người tự tìm cách tạo phúc phần cho kiếp sau, cô Kim có cách của cô.

Mười bẩy năm, sau khi theo bác qua Mỹ, cô Kim thực sự hoàn thành nhiệm vụ với các con và gia đình.

Anh em cô đã định cư bên Mỹ, nghiệp chướng thầy trụ trì phán quyết lúc trước, nay đã được giải oan.

Hú hồn, chuyến này bác hạnh phúc thật sự rồi nhe, hết đường đi bán than, nói ra mắc ghẹn chứ được tích sự gì.

Ngày đó chúng mình cưới nhau, cô mới bốn mươi tuổi. Bây giờ cô đang bước vào thời kỳ đáng sợ nhất đời người phụ nữ, sức yếu vì lao lực quá nhiều, tính nết cũng theo đó mà nỗi chứng, buồn vui vật vờ vô cớ.

Bác khuyên cô đi làm part time cho vui, chứ cô đâu cần tiền như lúc trước. Căn nhà của bác đã pay off, điện, nước, ăn uống đâu có là bao so với tiền hưu của bác, cô ngoan lắm, gật đầu một cái rụp.

Sau bao nhiêu năm làm việc như goulag ở Xi Bê Ri, thân xác cô bắt đầu làm nũng cô, cô bị đau lưng, loét bao tử, cao máu... Tuy nhỏ tuổi hơn bác, nhưng sức khoẻ của cô kém bác đến cả một con giáp. Bác ngao ngán nhận ra, lúc cô thanh thản trở về bên bác, cũng là lúc khả năng ăn chơi bốn mùa của cô sắp cạn kiệt.

Cũng tại phụ nữ xứ mình quen sống vì người khác mới ra nông nỗi. Bác là người giúp cô thực hiện giấc mơ Mỹ, và cũng là nạn nhân của giấc mơ đó. Biết sao bi giờ, ước mơ của người này, là ác mộng của người kia, như hai mặt của chiếc mề đai.

Sống với bác, cô thấy trống vắng, thiếu các con, nhớ anh em. Cô chợt ngộ ra, cô chưa hề yêu bác, cô cảm mến, cảm phục lòng tốt của bác, vị cứu tinh của cô, chỉ vậy thôi. Và không ngăn được tình cảm của mình, ngoài giờ làm việc, cô chạy đến với các con, hoặc ghé nhà anh em, cô có rủ, nhưng bác không đi với cô.

Bây giờ bác giận cô thật đấy, nhưng biết nói gì đây, tình cảm là chuyện tự nguyện, làm sao có thể ghi sổ để bắt người ta trả góp. Xét cho cùng, cô Kim cũng chả phạm lỗi gì trầm trọng đến độ bác phải ly dị, như đối với bác gái lúc trước. Cô đảm đan việc nhà, chí thú làm việc kiếm tiền, yêu con, yêu anh em, chỉ chưa yêu bác đắm đuối thôi.

Mà tình yêu phải có thời gian nuôi dưỡng, mười bẩy năm qua cô bù đầu với những nhiệm vụ phải hoàn tất, từ nay bác kiên nhẫn mài sắc đi, có ngày bác sẽ được cô Kim yêu thương.

Bác nản quá, càng ngày cô càng xa cách bác, đồng sàng mà dị mộng. Bác đã hơn bẩy mươi, bác không đủ kiên nhẫn chờ đợi tình yêu của cô. Ly dị, bác có nghĩ đến, nhưng lý do ngớ ngẩn, chỉ vì chưa được yêu, ông già dị hợm. Mà cô Kim chắc cũng không đồng ý ly dị. Mười mấy năm nay, cô quen sống ở nhà bác, chia tay với bác, cô biết đi đâu, mọi người đã êm ấm, đâu dễ gì họ dành cho cô một góc nhỏ trong căn nhà hạnh phúc của họ.

Hôm qua các con của bác gọi điện thoại, ba nhớ thắp nén nhan ngày giỗ má, năm nào cũng chỉ một câu ngắn gọn, nhưng lần này bác thấy khác.

Bác lên Oak Hill, với bó hoa hồng đỏ sậm, đặt trước mộ bia bác gái, khói nhan bay lượn lờ. Nụ cười phúc hậu của bác gái, an nhiên, như cười với mọi người đi ngang qua mộ phần người quá cố.

Bác lướt ngón tay lên bờ môi trên tấm bia lạnh ngắt, bác lại thấy ấm lòng, bốn mươi năm tình cũ, tưởng đã lùi xa mất rồi, nay bỗng trổi dậy trong lòng bác.

Số vợ bác hẫm hiu, lúc sống với nhau, vợ bác chỉ nghe những lời chê trách, già sinh tật, trái nết. Điều tệ nhất khiến bác ly dị vợ, bác gái chưa thật lòng yêu thương anh em của bác, khiến hai người xung khắc nhau.

Vậy bác đã yêu thương anh em cô Kim chưa, nếu bác thật lòng yêu họ, chắc bác không buồn như bây giờ.

Lúc sống bên nhau, bác chưa bao giờ tặng hoa cho bà vợ cũ, đóa hồng hôm nay như lời tạ tội muộn màn.

Vai bác run lên, giọng bác tắc nghẹn, tôi thật bất công với mình.

Đoàn Thị
hongvulannhi  
#6357 Posted : Sunday, August 25, 2019 6:54:08 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,279

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5289 time(s) in 3545 post(s)

UserPostedImage

Mối Tình Già


Cứ chiều ngày chủ nhật nào cũng vậy, khi mặt trời ngả về phương Tây, người ta thấy một ông già mái tóc bạc phơ phủ dài dưới gáy và chòm râu trắng như cước chẩy xuống tận ngực. Ông chậm rãi cất bước trên con đường đất nhỏ quanh khuôn viên ngôi chùa, hai bên lề có những khóm hoa đủ mầu sắc. Ông lơ đãng đưa mắt hết nhìn xung quanh, nhìn gần nhìn xa, rồi lại ngước mặt nhìn nền trời cao với những tảng mây trắng hơi ửng vàng bàng bạc xây thành chất lũy, từng khối, từng khối đầy đủ hình thù cảnh vật núi non, người, vật đủ loại, chập chùng mờ ảo quái dị như một thế giới nào đó khác với thế giới hiện tại. Ông lẩm bẩm:

- "Có thật có một thế giới nào khác ngoài thế giới này không bà nhỉ? Chẳng lẽ chết là hết? Cả ngàn năm nay người ta đã nói nhiều về cõi niết bàn, về chốn thiên đường. Bây giờ bà đang ở đâu, niết bàn, thiên đường hay chỉ là cõi hư vô? Rõ ràng mới đấy mà đã trở thành không rồi!".

Thoạt đầu người ta tưởng ông già nói chuyện với một người nào đó. Thực ra ông nói một mình hay chính xác hơn, ông nói chuyện với một cái bóng vô hình.

Ngôi chùa nhỏ lại tọa lạc tại một vùng ngoài xa thành phố nên rất êm ả yên vắng, vì khách thập phương ít lui tới.

Chùa có một sư bà tuổi đời trên dưới 80. Bà thứ hai vào khoảng 70 tuổi nhưng chỉ là tín nữ, vì bà chưa xuống tóc, đến chùa ở mới mấy năm nay. Cả hai đều mình hạc xương mai. Sư bà ít khi ra khỏi chùa, bà trụ tại đây đã trên 30 năm, suốt ngày đêm chỉ ngồi gõ mõ tụng kinh niệm Phật, khi rỗi rãi thì đọc sách hoặc ra sau vườn trồng hoa, trồng rau với bà tín nữ.

Ngoài hai người trên, chùa còn một sư cô tuổi 17, 18. Bà tín nữ tuy khoác trên người bộ đồ mầu xám nhạt nhưng trông dáng điệu vẫn còn vẻ sang cả. Bà để mớ tóc bạc trắng quấn tròn lại phía sau đầu và trùm tấm khăn mầu xám nhạt nên trông chẳng khác gì một sư nữ. Bà chỉ mới quy y chứ chưa xuống tóc, vì lòng bà (theo lời bà sám hối với sư bà trụ trì) còn vướng chút bụi trần.

Từ ngày chồng mất, mãn tang, giã từ con cháu bà lên chùa này nương tựa cửa Phật cho tới nay cũng đã mấy năm. Sau những giờ tụng niệm đọc kinh, mỗi buổi chiều bà thường thiền hành quanh khuôn viên chùa dăm chục phút. Cả ba người tuy sống trong cùng ngôi chùa nhưng ít khi họ chuyện trò tâm sự, nhất là chuyện riêng tư quá khứ.

Sư cô người trắng trẻo hồng hào, phải nói là khá xinh đẹp, đang sắp thi vào đại học, theo cha mẹ lên chùa ngày Phật đản, không hiểu sao cô bất thần xin phép cha mẹ, xin phép sư bà ở lại tu luôn, mặc cho sự ngăn cản của cha mẹ.

Còn sư bà và bà tín nữ là cả một sự bí ẩn. Không ai biết gốc tích dĩ vãng của họ. Hơn nữa, từ khi di tản sang đây, người ta mải lo làm giầu nhiều hơn là quan tâm tới những chuyện khác, nhất là chuyện tu hành của mấy người đàn bà không tên tuổi, ít được người đời biết tới.

Ngoài ra, vì ngôi chùa này nhỏ lại tọa lạc nơi vắng vẻ chốn rừng sâu nên các Phật tử ít lai vãng chiêm bái. Thời buổi này, nhất là sống ở xứ sở có nhiều cơ hội làm giầu, người ta tới lễ Phật thì ít mà muốn khoe của, khoe sự giầu sang phú quý thì nhiều nên những ngày lễ Phật, những ngôi chùa lớn danh tiếng, Phật tử đến đông như hội chợ...

Người con trai sau khi ngừng xe lại trước con đường nhỏ dẫn vào chùa, bước ra khỏi xe, mở cửa xe cho ông già bước ra, lễ phép nói:

- "Thưa ba, chiều nay con vẫn tới đón như giờ giấc mọi lần?".

Ông già cười nhẹ, đáp:

- "Vẫn vậy thôi".

Ông già nhìn theo anh con trai phóng xe đi khuất mới thong thả cất bước về phía chùa. Cũng một buổi chiều như chiều nay nhưng cách đây đã bốn năm, ông được người bạn rủ tới chùa này ngoạn cảnh. Theo sự mô tả của ông bạn, cảnh giới ngôi chùa chẳng khác gì cảnh giới những ngôi chùa trong nước của những nhà tu hành chân chính thủa xa xưa trong rừng thẳm núi cao. Chùa u nhã tĩnh mịch, tuy nhỏ nhưng nằm trên khu đất khá rộng, vây quanh là những hàng cây cổ thụ cành lá xum xuê có từ trăm năm, tạo cho người ta cảm giác khác hẳn với thế giới bên ngoài, tâm thần lâng lâng như lạc vào nơi miền cực lạc cõi trần gian. Con người như bay bổng lên tầng cao tinh khiết siêu thoát, không vướng chút bụi đời.

Nghe bùi tai hấp dẫn, thế là hai ông bạn già - năm đó cũng đều trên dưới bẩy chục tuổi nhưng còn tương đối khỏe mạnh - cùng nhau lái xe tới vãn cảnh chùa.

Quả đúng như lời ông bạn nói - ông Thụy - tên ông già, cảnh vật cũng như đa số những ngôi chùa khác nhưng vô cùng u nhã thanh tịnh. Không gian thoang thoảng hương thiền. Ông Thụy thấy tâm hồn mình nhẹ lâng lâng sau những ngày tháng ưu tư buồn phiền mệt mỏi sống nơi đất nước người. Ông thực tâm chẳng muốn rời xa quê hương đất nước chút nào nhưng thời thế bắt buộc, nhất là các con ông, sau những năm tù đầy về, bọn nó nhất định rời bỏ quê hương sang đây sống một cuộc đời mới.

Ông Thụy già rồi chẳng còn tham vọng gì nên lúc nào cũng có cảm tưởng mình sống thừa với những ngày tháng vô vị. Con cháu ông, chúng có đời sống của chúng. Và chúng còn mải mê học hành, mải mê theo đuổi công danh sự nghiệp hoặc mải mê vui chơi. Ông chỉ còn nguồn yêu thương an ủi duy nhất là bà vợ. Nhưng ít lâu nay bà bỗng thay tính đổi nết, trở nên con người khác. Từ lúc trở thành vợ ông, bà đã phong thanh biết chuyện ông có một mối tình đầu sâu đậm khó quên, dù năm tháng trôi qua. Bà biết ông không yêu bà. Ông lấy bà vì bổn phận - cũng như bà - vì gia đình ép buộc, nên khi về già tình vợ chồng cũng trở nên nhạt nhẽo. Tuy nhiên lúc nào bà cũng vẫn đóng trọn vẹn vai trò làm vợ, làm mẹ và làm bà. Và đối xử với ông vẫn nói năng nhẹ nhàng, lễ độ trong khuôn phép con nhà gia giáo.

Nhưng lẽ sống của bà bây giờ chính là nhà thờ. Sáng đi lễ. Chiều đi lễ. Buổi tối ngồi trong phòng tụng kinh trước ảnh Chúa. Vì vậy ông càng thấy mình bơ vơ lạc lõng và rất cô đơn trong cái tuổi già nơi xứ người nên ông luôn nghĩ tới người yêu thuở đầu đời, không biết giờ này trôi dạt nơi đâu, có còn trên cõi thế? Tuy hơn nửa thế kỷ trôi qua ông vẫn không thể nào quên "nàng" được. Ông tìm đến bạn bè kiếm nguồn an ủi nhưng họ cũng có cuộc sống riêng tư của họ. Chỉ khi nào rảnh rỗi như hôm nay họ mới lái xe cho ông "đi chơi xa".

Trong khi ông bạn đang chiêm ngưỡng pho tượng Phật bà Quan Âm trước sân chùa, ông Thụy thơ thẩn dạo bước trên con đường đất nhỏ giữa những khóm hoa nhỏ thì thấy một người nhẹ nhàng đi tới. Ông đứng nép vào bên đường nhường bước. Đó là một sư bà. Bỗng ông giật thót mình, lấy tay chùi kính mắt một lần rồi lần nữa, vì mắt ông bỗng hoa lên, mờ đi. Chẳng lẽ thị giác về già đánh lừa ông. Dù mấy chục năm trôi qua không gặp lại, ông vẫn quên làm sao được khuôn mặt, dáng dấp "người ấy", cho dù thời gian đã làm thay đổi nhiều. Nhưng trực giác của ông…Không kìm lòng được nữa, ông thảng thốt kêu lên:

- "Ô, Liên!".

Bà nghe tiếng kêu cũng giật thót mình ngừng bước, mở lớn đôi mắt nhìn. Từ lâu lắm rồi, nhất là ở nơi chùa chiền hoang vắng này có ai biết tên bà và gọi đúng tên bà thời con gái? Nhưng chỉ mấy phút sau, khi nhận ra tiếng nói (đã ngấm sâu trong tiềm thức bà) và khuôn mặt con người vừa thốt tiếng kêu, bà cũng thảng thốt không kém, với giọng xúc động, hơi run run, tay trái đặt lên ngực:

- "Mô Phật! Thì ra là... ông!"

Dứt lời bà quay mặt sang phía khác, có lẽ để tránh cái nhìn của ông. Ông Thụy nói nhanh như sợ người đối diện bỏ đi:

- "Vâng, tôi đây, Thụy đây. Anh đây. Em, em... bà..."
- "Mô Phật, xin ông đừng gọi tôi tiếng em nữa".
- "Vâng vâng, bà, bà...".

Ông Thụy ấp úng nghẹn lời không nói thêm được. Ông muốn ôm chầm lấy bà siết chặt trong vòng tay. Mấy chục năm trời nay, ai ngờ Chúa Phật run rủi, ông gặp lại bà mà lại gặp trong cảnh ngộ éo le như thế này. Mắt ông như mờ đi và hình như ông thấy bà cũng cố che dấu hai giọt nước mắt sắp lăn xuống má. Ông biết mấy chục năm qua ông chưa quên được bà và bà cũng vậy. Nhưng sao giờ này sống trên đất Mỹ bà lại đổi đời đi tu. Ông thắc mắc. Nhất định phải có nguyên do. Hai người cứ lúng túng và đứng trơ ra. May có người đi tới. Đó là ông bạn đồng hành lái xe. Ông Thụy vội nói, nhỏ nhưng cũng đủ để bà nghe kịp:

- "Tuần tới tôi sẽ lên".

Ông Thụy không thấy bà gật hay lắc đầu. Ngồi trên xe và xe phóng đi lâu rồi, mặt ông Thụy vẫn thừ ra đờ đẫn buồn hiu.

- "Ông tương tư sư bà đấy à?".

Ông bạn lái xe nói đùa. Ông Thụy lắc đầu:

- "Không phải tương tư mà là gặp lại người xưa và dĩ vãng đang bừng sống lại trong tôi. Tôi bị "sốc", "sốc" nặng! "

- Thế đúng là Lan và Điệp thời nay rồi. Liệu sư bà có cắt đứt giây chuông?".

Ông Thụy nói như than:

- "Chưa biết được ông ơi, nhưng nhất định đêm nay tôi mất ngủ".
- "Coi chừng cơn tam bành của Hoạn thư ở nhà đấy, ông bạn già!".
- "Bà ấy già rồi còn ghen tuông gì nữa, hơn nữa lại là chuyện ngày xưa".

Người bạn lái xe cười cười nói:

"Ông lầm rồi. Mấy mụ ấy chỉ khi nào hết thở thì may ra mới hết máu ghen".

Dứt lời ông đưa tay nhấn nút CD. Một bài hát vang lên. Éo le làm sao trong bài hát lại có câu, cô ca sĩ hát như rên rỉ: "tình ngỡ đã quên đi... nhưng tình bỗng lại về...".

Chiều chủ nhật tuần sau, ông Thụy bắt người con trai lớn lái xe đưa lên chủa. Trong lúc đi đường ông kể hết chuyện tình của mình với bà sư thuở thiếu thời. Người con trai đã ngoài 50 tuổi, có học, trước là sĩ quan cấp tá và là người hiểu biết việc đời và rất cảm thông trường hợp của ông bố.

Khi xe ngừng ở lối vào chùa, ông Thụy thoáng nhìn thấy bà đứng bên vệ đường sau hàng cây nhìn về phía ông như có ý trông chờ. Ông quay lại dặn con giờ giấc tới đón. Khi quay lại không thấy bóng bà đâu nữa. Ông bước vào chùa. Sư bà trụ trì trên điện Phật bước ra niềm nở chào đón khách. Ông Thụy còn lòng dạ nào chuyện trò xã giao. Ông đi thẳng ngay vào "vấn đề":

- "Thưa, xin lỗi sư bà, tôi muốn gặp bà Liên".

Vì ông không biết pháp danh của bà nên cứ gọi theo tên ngoài đời. Sư bà không hề hỏi lý do, gọi ngay sư cô đi tìm "bà Liên". Ông Thụy được dẫn vào phòng khách gặp bà. Bà cúi đầu không nhìn ông khi ông bước vào. Hai người ngập ngừng đến mấy phút, ông Thụy mới lên tiếng:

- "Bà vẫn khỏe? Tôi thật không hiểu...".

Câu nói ngừng lại ở đây. Bà nói, dọng nhẹ nhàng:

- "Tôi ở chùa này đã bốn năm rồi nhưng chỉ mới quy y chứ chưa xuống tóc".
- "À ra vậy! Thế có nghĩa là… bà vẫn chưa muốn dứt nợ trần?".

Ông Thụy hấp tấp hỏi. Bà thở dài:

- "Cũng vì chút lòng trần chưa dứt nên chưa thể xuống tóc".
- "Có phải tại...".

Ông Thụy muốn nói có phải tại chồng con. Nhưng ông kịp thời ngưng. Bà nói liền một hơi, dọng nghe có vẻ trách móc:

- "Tại ông... ông hiểu không? Tôi chưa xuống tóc là muốn gặp lại ông một lần chót trong đời. Mấy chục năm rồi tin ông biền biệt. Nhưng tôi vẫn tin là sẽ có ngày gặp lại ông trước khi về cõi khác. Tôi đã nguyện trước đức Phật, nếu trong 5 năm không gặp lại ông tôi sẽ xuống tóc. Xuống tóc đúng vào cái ngày ông… hôn tôi lần đầu. Hơn 4 năm đã trôi qua nhưng linh tính báo cho biết tôi sẽ gặp lại ông. Tạ ơn đức Phật từ bi run rủi, hôm nay...".

Ông Thụy muốn chồm lên ôm bà vào lòng nói lời an ủi cũng như âu yếm. Nhưng nhìn nét mặt bà với chiếc khăn mầu xám nhạt chùm trên đầu, ông bỗng khựng lại. Có một cái gì vô hình đã ngăn cản ý định của ông. Ông thở dài đăm đăm nhìn hai bàn tay mình xoa xoa trên mặt bàn gỗ mầu nâu đen. Bà biết ý định của ông nhưng vờ như không biết. Bà nói, dọng vẫn nhỏ nhẹ trong trẻo ngọt ngào ấm áp - khi xưa ông mê mẩn vì dọng nói này:

- "Ông nên nhớ đây là chốn thiền môn và tôi là con cái của Phật. Ông là người ngoài đạo nên tôi tin đức Phật tha thứ cho ông".

Có tiếng gõ nhẹ vào cửa phòng. Người con trai ông Thụy bước vào cúi đàu chào bà rồi nói với bố:

- "Thưa ba, trời sắp tối và sương mù đang buông xuống".

Ông Thụy đứng lên định cầm tay bà nhưng lại ngưng. Sau một tiếng thở dài, ông nói khẽ:

- "Thôi tôi về Liên nhé, hẹn gặp".

Bà không nói gì lặng lẽ tiễn ông ra ngoài đường, chỗ xe hơi đậu. Thế là từ đó chiều chủ nhật nào ông Thụy cũng bắt người con trai trưởng đưa ông lên chùa. Ông không muốn nhờ người khác vì e ngại chuyện lộ ra ngoài. Ông nói với bà vợ là tới nhà người bạn xoa mà chược. Bà yên tâm vì có người con trai lớn đi kèm.

Chiều chủ nhật nào cũng vậy, cứ tới khoảng 4, 5 giờ chiều là bà lắng tai nghe ngóng tiếng động cơ xe hơi vọng tới. Rồi hai ông bà già sóng bước bên nhau đi trên con đuờng đất nhỏ quanh khuôn viên chùa. Họ chuyện trò. Họ tâm sự chuyện ngày xưa và chuyện ngày nay. Ông kể cho bà nghe gia cảnh của mình. Bà cũng vậy. Họ mải mê nói quên cả thời gian trôi và đã cuốc bộ biết bao cây số không thấy mệt mỏi, nhất là với đôi chân già yếu. Ông cho biết sau khi lập gia đình có bốn người con: hai trai hai gái. Hai trai sống với vợ con trên đất Mỹ. Còn hai gái sống tại Saigon. Ông có đến 7, 8 đứa cháu nội ngoại. Vợ chồng ông hiện sống trong nhà người con trai lớn.

Còn bà thì kể sau hơn hai mươi năm lập gia đình chỉ có hai người con: một trai một gái đều sống trên đất Mỹ với bầy con. Chồng bà mất trước năm 1975 trong trận đánh Hạ Lào. Sang Mỹ sống vài năm, bà quyết định đi tu, mặc cho con cái ngăn cản. Bà chưa chịu "xuống tóc" ngay vì còn "một chút vướng víu". Chút "vướng víu" đó là ông. Ông nghe bà nói thế, nhìn quanh thấy vắng bóng người, ông cầm tay bà siết chặt đến nỗi bà phải kêu lên. Câu chuyện riêng tư của đôi bạn già không thoát khỏi cặp mắt của sư bà. Mỗi lần sư bà thấy hai người đi bên nhau mải mê chuyện trò lại lẩm bẩm: "Thiện tai! Thiện tai!".

Bây giờ đúng là họ quên tuổi già để sống lại tuổi đôi mươi. Bao nhiêu kỷ niệm xưa cũ thời trai trẻ lãng mạn, họ nói ra cho nhau nghe hết. Dù là những kỷ niệm nhỏ nhặt trong đời sống học trò.

Vào khoảng năm 1919, 1920 của thế kỷ trước, hai gia đình ở cùng một khu phố giữa thủ đô Hà nội. Nhà ông đầu phố, nhà bà cuối phố. Phố Hà Nội thường nhỏ, ngắn. Lúc ấy họ chẳng thèm để ý gì đến nhau vì họ còn quá nhỏ. Nhà bà theo đạo Phật, làm nghề buôn bán, nổi tiếng giầu có. Nhà ông, theo đạo Công giáo, bố ông làm công chức cao cấp, gia đình có một đời sống khá giả. Khi ông lên trung học mới để ý tới "con bé cuối phố" xinh đẹp ngoan ngoãn. Họ yêu nhau tha thiết lúc nào không biết. Khi ông lấy xong bằng Thành Chung, bà mẹ ông ngỏ ý muốn ông lấy vợ "để sớm có cháu nội nối dõi tông đường". Thế là ông đưa "thỉnh nguyện" ngay, đó là cô gái cuối phố. Ông không ngờ gặp phản ứng liền của cả cha lẫn mẹ. Họ bác bỏ một cách thẳng thừng và hơi tàn nhẫn:

- "Ồ, không được. Gia đình nó ngoại đạo!".

Nhất định là không được, mặc cho ông hết lời năn nỉ và ca ngợi những đức tính quý báu của cô nàng. Bà mẹ ông có vẻ thông cảm với cậu con trai nên ra điều kiện:

- "Nếu nó chịu rửa tội theo đạo thì mẹ bằng lòng".

Đêm đó ông chưa bao giờ tỏ ra bất lực, chán đời, chán cả sự học hành và đau khổ tận cùng. Còn về phía bà. Khi hay tin con gái có "bạn trai" là ông, bà mẹ gọi cô con gái vào phòng riêng và nghiêm mặt nói: "Từ nay tôi cấm cô không được giao thiệp thân mật với "thằng ấy". Bà cãi:

- "Anh ấy đàng hoàng đứng đắn, con nhà tử tế".

Bà mẹ dằn dọng:

- "Tôi đã bảo cấm là cấm, cô hiểu chưa? Bố cô mà biết chuyện này cứ gọi là cô nhừ đòn".

Bà vẫn không chịu thua:

- "Nhưng anh ấy có làm gì nên tội đâu mà bố mẹ ghét thế?".

Bà mẹ nói như rít:

- "Tội gì à? Nhà nó theo đạo Công giáo, còn nhà mình theo đạo Phật. Nếu nó bằng lòng bỏ đạo nó theo đạo mình thì tôi cho cô cậu lấy nhau".

Bà cũng thức trắng đêm đó như ông và khóc hết nước mắt. Bà đau khổ đến muốn tự tử.

Hai, ba năm sau bà lấy chồng, ông lấy vợ theo sự lựa chọn, quyết định của cha mẹ. Họ xa nhau từ đấy mặc dù trong lòng tình yêu, nhất là tình yêu thuở ban đầu vẫn nở rộ, vẫn tha thiết. Một khi tình yêu càng bị ngăn cản, càng bị cấm triệt thì càng âm ỉ phát triển mạnh. Nhưng vào thời đó, vì lễ giáo, vì gia phong, vì giòng họ, vì xã hội, vì dư luận đôi bạn trẻ đành bất lực, chấp nhận hy sinh chia tay bởi sự kỳ thị vô lý!

Mỗi lần ông đi thăm bà về, bà đều gói một bọc lớn đủ thứ trái cây để ông đem về cho "chị nhà" và các cháu. Bà bảo: "Đây là lộc Phật". Ông đem về nhà nói dối vợ là vợ bạn cho "cây nhà lá vườn". Nhưng sau đó bà vợ cũng biết và ra lệnh cấm con cháu không được ăn.

Ông không biết giải quyết sao đành nhờ người con trai "cố vấn". Và cả hai đồng ý đem những trái cây này đến cho đám con của người con trai thứ hai "hưởng lộc" dùm. Còn ông, mỗi lần lên thăm bà, ông bắt con trai lái xe tới tiệm bán hoa mua tặng bà một chậu lan. Từ trẻ bà vốn thích loại hoa trưởng giả quý phái này. Thời gian cứ lặng lẽ trôi, hết mùa đông lại tới mùa xuân, không chủ nhật nào ông không đi thăm bà và hai người tiếp tục sóng đôi cất bước chuyện trò tâm sự tới khi măt trời khuất sau rặng núi.

Bà vợ ông, sau những tháng ngày ngấm ngầm chịu đựng hết nổi, bà làm dữ. Bà cấm người con trưởng chở ông già đi thăm "con mụ dở hơi".

Thế là ông phải nhờ cậy vào người con trai thứ nhưng là "đánh du kích", chứ không đều đặn đúng hạn kỳ như trước nữa. Có khi cả tháng ông mới đi thăm bà được một lần. Ông không nói nhưng bà hiểu. Bà thông cảm hoàn cảnh ông. Nhưng bà cũng không muốn "cắt đứt giây chuông".

Thế rồi ông bị đưa vào bệnh viện ghép động mạch vành tim bị tắc nghẽn, vì tuổi già sức yếu nên mất cả mấy tháng trời mới lại sức. Khỏe một chút, ông kiếm cách đi thăm bà ngay.

Nhưng lần này... Người đón ông không phải là bà mà là sư cô. Sư cô nét mặt hơi buồn báo ông biết: bà nhập bệnh viện cả tháng rồi vì chứng sưng màng não và phổi có nước. Ông nghe choáng váng sây sẩm mặt mày muốn ngã qụy. Còn sư cô quầy quả bước vào trong Chùa và miệng luôn lẩm bẩm: "Thiện tai! Thiện tai!"

Khi ông tới bệnh viện thì bà đã trong tình trạng hôn mê. Cạnh bà có vợ chồng người con trai của bà. Hình như trong khi nằm bệnh, lúc tỉnh táo, bà đã nói cho con bà biết chuyện của hai người và bà ước muốn được nhìn thấy ông trong giây phút chót, vì vậy khi thấy ông đến, họ nhìn ông với cái nhìn trìu mến đầy thông cảm. Có một lúc bà tỉnh lại mở mắt nhìn. Thấy ông mắt bà như sáng hẳn lên. Ông đua tay tìm tay bà. Bà đưa tay tìm tay ông và nắm chặt bàn tay ông như không muốn rời. Rồi miệng bà mấp máy. Ông ghé sát tai nghe. Bà chỉ thều thào được tiếng "anh" rồi bàn tay bà từ từ buông bàn tay ông ra. Bà đã nhẹ nhàng về bên kia thế giới, mà ông nghĩ có lẽ là cõi niết bàn.

Sau khi bà mất, ông vẫn tiếp tục lên chủa. Mỗi lần lên ông mang theo một chậu lan nhỏ. Lâu dần nhiều hoa quá, sư bà bảo sư cô làm một dàn gỗ để treo những chậu lan trước phòng của bà tín nữ Diệu Liên (pháp danh của bà). Ông cứ việc móc chậu lan lên dàn, có đến mấy chục chậu. Khi lên tới chùa, việc trước tiên ông làm là đến trước cửa phòng (cũ) của bà lầm bầm như nói điều gì với bà, xong, ông mới làm công việc tưới những chậu lan. Rồi sau đó, ông (rủ bà) đi dạo con đường đất quanh khuôn viên chùa và chuyện trò với nhau y như khi bà còn sống. Duy có điều bây giờ chỉ có mình ông nói. Cũng từ ngày bà mất, ông không cạo râu cắt tóc nữa, lâu ngày tóc phủ xuống cả cổ và râu dài tới ngực. Tất cả đều bạc phơ.

"Ồ, tôi nghĩ bà cũng như tôi thôi, làm sao quên cái ngày ấy được. Lúc tôi đón bà ở cổng trường ấy mà, đưa bà về gần tới nhà, tôi đã thu hết can đảm cầm lấy bàn tay phải bà.Tôi còn nhớ rõ là bàn tay phải bà, đúng không? Mất bao ngày đêm đắn đo suy nghĩ mãi tôi mới dám liều đấy. Tôi nhớ ngón tay trỏ của bà còn dính chút mực tím. Tôi thấy bàn tay bà run rẩy rút vội ra và nhìn trước sau sợ có người trông thấy. Rồi bà bước mau như muốn chạy trốn. Tôi cứ đứng ngây người nhìn theo bà và sợ bà giận. Đêm đó tôi thao thức mãi, vừa lo âu vừa sung sướng. Bàn tay bà mềm mại thơm tho quá. Hôm sau tôi đến cổng trường bà sớm hơn mọi ngày và hồi hộp chờ đợi. Sao mà lúc đó thời giờ trôi chậm thế. Khi bà cắp cặp đi ra. Nhìn thấy tôi bà làm bộ như không thấy. Tôi tưởng bà giận thật, lẽo đẽo theo sau năn nỉ và cả xin lỗi nữa. Bà nói khẽ, mắt vẫn nhìn thẳng: "Cấm không được làm như hôm qua nữa đấy! Coi chừng bọn bạn. Hình như chúng nó đã sinh nghi, theo dõi". Thì ra bà không giận tôi, vì tôi ngu đần nên tưởng thế. Sau này bà mới thổ lộ là cũng rất hồi hộp xúc động khi bàn tay tôi nắm bàn tay bà. Chao ôi, lần đầu tiên trong đời cầm tay người con gái, tâm hồn tôi bay bổng trên trời xanh, cảm tưởng mình là kẻ sung sướng nhất trần gian. Chắc bà khi đó cũng có cùng ý nghĩ như tôi, có phải vậy không? Tôi đoán đúng mà. Hà hà… À, mà sau đó, hình như đến mấy tháng thì phải, không chịu nổi nữa tôi đánh bài liều. Đi đến nơi góc phố, nhìn quanh không thấy bóng người, tôi ôm vội lấy bà và hôn nhẹ lên má bà một cái. Trời ơi, thiên đường niết bàn là đây chứ còn phải tìm ở đâu nữa! Tôi không hiểu sao lúc đó bà lại đứng im cho tôi làm cái việc đó. Kìa, bà nói đi. Cái má bà trắng hồng và… thơm thơm quá chừng! Sao, khi đó bà ngượng cứng người à?". Ông Thụy nói một hồi dài có vẻ mệt và mắt vẫn nhìn sang bên, hệt như ngày bà còn sống đang cất bước bên ông. Rồi ông ngồi bệt xuống bên vệ đường và... thở. Lát sau, chừng như đỡ mệt ông đứng lên nói: "Ta đi tiếp chứ, bà. Mặt trời còn cao mà!". Và ông lại tiếp tục nói tới những kỷ niệm xa xưa. Thỉnh thoảng ông quay sang trái hay sang phải, có khi ngừng bước như chờ bà, hỏi: "Có phải thế không bà? Bây giờ tôi vẫn nhớ như in, như mới xẩy ra ngày hôm qua...". Ngưng chút ông nói tiếp: "Thế rồi bà biết không? Hôm người ta tới nhà bà rước dâu ấy mà, tôi đứng mãi tận đằng xa nhìn. Bà mặc cái áo gấm dài mầu đỏ, khăn đỏ đội trên đầu… Tim tôi muốn vỡ ra từng mảnh. Sau này nghe người ta kể lại khi bước lên xe hoa bà đã khóc. Tôi không hiểu ý nghĩa những giọt nước mắt này, vì các cụ ta thường nói "khốc như thiếu nữ vu quy". Vậy đó là những giọt nước mắt sung sướng hay đau khổ?".

Ông lại ngừng nói và vô tình ngước nhìn lên bầu trời mùa đông về chiều và như trực nhớ ra không có bà ở bên liền kêu lên thảng thốt:

- "Ô, bây giờ bà đang ở đâu? Có phải bà đang ngự trên chín tầng thức mây thăm thẳm kia và ngó xuống nhìn tôi tủm tỉm cười? Bà dứt hết nợ trần thật rồi sao? Bà để lại tôi một mình cất bước trên con đường này sao? Bà Liên! Bà Liên!".

Ông nói to như hét. Con trai ông hoảng hốt chạy tới dìu ông ra xe.

Thanh Thương Hoàng

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Con Mua Nho  
#6358 Posted : Wednesday, August 28, 2019 5:56:36 AM(UTC)
Con Mua Nho

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/21/2011(UTC)
Posts: 4,267
Woman
Location: Bordeaux

Thanks: 320 times
Was thanked: 2953 time(s) in 1406 post(s)
UserPostedImage


DẤU XƯA …


Loay hoay tôi lại tìm tôi.
Tìm trong sỏi đá lõm lồi dấu xưa.
Từ trong nỗi xót xa vừa.
Đong đưa tiếng gọi vắng thưa muôn trùng.

Tìm tôi nơi giữa mông lung.
Vàng xưa rụng lá bên khung khuyết buồn.
Ngậm ngùi níu ánh chiều buông.
Cho màu luyến ái tím buồn mắt ai.

Mai sau tình có thoát thai.
Đời xa còn lại dấu hài in sâu.
Tìm đâu nỗi nhớ tìm đâu?
Bài thơ năm cũ đã nhàu nát xưa.

Mộng như một giấc ngủ vừa.
Tỉnh ra còn lại như chưa nồng nàn.
Lỡ từ ai bước sang ngang.
Con đò tách bến ngỡ ngàng rưng rưng.

Buồn rơi tiếng gọi ngập ngừng.
Chợ xa quang gánh bóng từng theo chân.
Nẻo về ngỏ cũ xa gần.
Trăng tròn trăng khuyết bao lần bên ai.

Tìm nhau trong giấc mộng dài.
Một màu cô quạnh chiều phai thuở nào.
Đợi chờ một kiếp trăng sao.
Thiên thu định sẵn chiêm bao mộng hờ.



Cổ Nguyệt Đình



UserPostedImage


hongvulannhi  
#6359 Posted : Thursday, August 29, 2019 4:36:59 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,279

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5289 time(s) in 3545 post(s)

CÂU CHUYỆN CHÚ CHÓ & ÔNG CHỦ MÙ


• Chiếc xe tải mất lái đâm vào một người mù đang được con chó dẫn đường. Người mù chết ngay. Con chó xông vào cứu chủ nên cũng bị chẹt chết. Linh hồn hai kẻ bị nạn bay lên trời, tới lối vào cổng thiên đường.

Thiên thần gác cổng chặn lại: “Xin lỗi, bây giờ danh sách lên thiên đường chỉ còn lại một suất. Một trong hai ngươi phải xuống địa ngục.”

Người chủ chó hỏi: “Con chó của tôi chưa hề biết thiên đường là gì, địa ngục là gì. Có thể để cho tôi quyết định ai được lên thiên đường hay không ạ ?”

Thiên thần nhìn người mù với ánh mắt khinh bỉ, chau mày nói: “Rất tiếc ! Đã là linh hồn thì đều bình đẳng với nhau. Các ngươi phải qua một cuộc thi để chọn ra kẻ được lên thiên đường.”

Người mù thất vọng hỏi: “Thi thế nào ạ ?”

“Rất đơn giản, thi chạy. Từ đây chạy tới cổng thiên đường, ai tới trước thì được lên thiên đường. Nhưng ngươi cũng đừng lo, vì ngươi đã chết rồi nên không còn là kẻ mù nữa, và tốc độ chạy của linh hồn thì không liên quan gì tới thể xác; linh hồn nào càng trong sạch lương thiện thì chạy càng nhanh.” Người mù nghĩ ngợi giây lát rồi đồng ý.

Khi tuyên bố cuộc chạy đua bắt đầu, thiên thần cứ tưởng người mù sẽ khôn ngoan ráng sức chạy thật nhanh, ai ngờ người đó vẫn đi thong thả chậm rãi. Kỳ lạ hơn là con chó dẫn đường kia cũng không chạy mà chỉ đi cùng với chủ của nó, không hề rời một bước. Bấy giờ thiên thần mới hiểu ra: bao năm nay con chó ấy đã tập được thói quen mãi mãi làm theo chủ nó, luôn luôn đi đằng trước để dẫn đường cho chủ, người chủ bảo gì thì nó nghe theo ngay. Rõ ràng, nếu là kẻ có tâm địa độc ác thì khi tới cổng thiên đường người chủ sẽ bảo con chó đứng lại để người đó dễ dàng thắng cuộc thi chạy này.

Thiên thần thương hại nhìn con chó và lớn tiếng bảo nó: “Mày đã vì cứu chủ mà hiến dâng tính mạng của mình, bây giờ chủ mày đã hết mù rồi, mày chẳng cần dẫn đường cho ông ta nữa, mày chạy nhanh lên nào !” Thế nhưng người chủ cũng như con chó, cả hai dường như chẳng nghe thấy thiên thần nói gì cả, vẫn cứ thong thả như đi dạo.

Khi tới cách cổng thiên đường vài bước chân, người chủ ra lệnh cho con chó dừng lại. Nó bèn ngoan ngoãn ngồi xuống. Thiên thần nhìn người chủ với ánh mắt khinh bỉ.

Người chủ nhoẻn miệng cười quay lại bảo thiên thần: “Tôi sắp sửa tiễn con chó của mình lên thiên đường. Bây giờ điều tôi lo nhất là nó thật sự không muốn lên đấy mà chỉ thích ở bên tôi ……Chính vì thế mà tôi muốn quyết định thay cho nó.”

Thiên thần ngạc nhiên đứng sững lại.

Người chủ nhìn con chó với ánh mắt lưu luyến, lại nói: “Thật tốt là ta có thể dùng cách chạy thi để quyết định thắng thua. Ít nhất tôi cũng có thể bảo con chó kia bước thêm vài bước nữa, như vậy nó có thể lên thiên đường được rồi. Có điều con chó này đi cùng tôi đã bao năm nay mà bây giờ lần đầu tiên tôi mới hết mù và được nhìn thấy nó bằng chính mắt của mình. Bởi vậy tôi muốn đi thong thả một chút để được nhìn nó lâu hơn. Nếu được phép thì có lẽ tôi thật sự muốn mãi mãi được nhìn thấy nó. Nhưng bây giờ đã tới cổng thiên đường rồi. Đây mới là nơi nó cần được đến. Xin thiên thần làm ơn chăm nom nó giúp tôi !”

Nói dứt lời, người chủ ra lệnh cho con chó tiến lên phía trước. Khi con chó tới cổng thiên đường thì người chủ rơi xuống địa ngục như một chiếc lá rụng. Con chó quay đầu nhìn thấy chủ nó rơi xuống bèn chạy thục mạng đuổi theo chủ.

Lúc bấy giờ, vị thiên thần lòng đầy hối hận vội giương cánh bay theo định túm lấy con chó dẫn đường. Nhưng vì con chó ấy vốn có linh hồn trong sạch nhất, lương thiện nhất, cho nên nó chạy nhanh hơn bất cứ thiên thần nào. Và thế là rốt cuộc con chó dẫn đường ấy lại trở về bên người chủ của nó. Dù là ở dưới địa ngục, nó cũng sẽ mãi mãi bảo vệ chủ của mình.

Thiên thần đứng rất lâu nhìn theo hai linh hồn đáng thương kia và lẩm bẩm: “Ngay từ đầu ta đã phạm sai lầm. Hai linh hồn ấy là một thể thống nhất không thể tách rời nhau. Được cùng ở bên nhau thì dù là thiên đường hay địa ngục chúng cũng bằng lòng.”

® BNQ St (Internet)
Ảnh minh họa:

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

tictac  
#6360 Posted : Sunday, September 1, 2019 10:32:45 AM(UTC)
tictac

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,835
Location: Riverside

Thanks: 365 times
Was thanked: 594 time(s) in 496 post(s)

UserPostedImage

VĨNH BIỆT ROXIE!



Sáng nay đưa Roxie đi khám bệnh tại VET CLINIC, gần nhà. Lý do hai ngày nay nó ói và bỏ ăn nằm một chỗ, đến nỗi buổi tối khi tôi và Q. trở về, nó không buồn đứng lên vẫy đuôi để mừng. Thời tiết cũng đột ngột trở lạnh và trong lòng tôi cứ nghĩ nó đang nhỏng nhẻo với chủ.

Đến bệnh viện y tá khám sơ khởi và nghi nó bị gan, vì hai tròng mắt bị vàng. Nhưng sau khi lấy 2 ống máu để xét nghiệm bác sĩ nói Roxie ung thư gan nặng. Gan đã bị bể và máu chảy âm ỉ bên trong. Và có lời khuyên là hãy để cho Roxie ra đi càng sớm càng tốt, vì nó đang trong tình trạng đau đớn rất nhiều nhưng không thể bày tỏ ra được.
Con gái tôi vừa nghe bác sĩ giải thích vừa khóc. Tôi đứng bên cạnh, nhìn xuống Roxie đang vô tư nhìn lên. Nhìn đôi mắt nó mà tôi xúc động vô cùng.
Nhớ ngày con gái tôi đem nó về nhà, cách đây gần 12 năm, nó giống như một cuộn bông gòn chạy tới chạy lui trong nhà. Đôi khi va vấp một vài chân ghế chân bàn là té lăn cù. Thời gian trôi qua, Roxie càng lớn càng đẹp và trở thành một niềm vui không thể thiếu trong nhà. Rồi con gái tôi có gia đình, có con (tức Danny bây giờ) nó cũng bớt đi sự nồng nhiệt ban đầu và bàn giao trách nhiệm chăm sóc lại cho tôi một lúc nào, tôi không rõ.

Tự dưng tôi trở thành một ông già ôm đồm nhiều việc và cảm thấy mình không bao giờ ở không. Một ông già nhớ trước quên sau và một ngày mù quáng chạy đuổi theo những điều nhân quả …
Tháng 11 chưa gì đã khởi đầu bằng những bất trắc. Thời tiết thay đổi đột ngột cùng những cơn bão, những giá rét đang xảy ra nhiều thành phố vùng đông Bắc nước Mỹ … Những đám cháy vĩ đại ở California. Những thiệt hại người và của. Những thệt hại lớn lao và rời rộng đến nỗi, sự ra đi của một con chó nhỏ, sẽ ít oi và trở thành vô nghĩa.

Khi người chồng Mễ chia tay với con gái tôi, lúc đó Danny còn nhỏ. Nhiều đêm, tôi làm viêc khuya. Một mình tôi trong phòng riêng và chiếc máy đánh chữ. Mọi người đều ngủ, duy có Roxie còn thức trước cửa phòng. Lâu lâu nghe nó hực lên một tiếng vì đánh hơi nghe thấy những khác lạ ngoài vườn. Một chiếc lá rơi không đúng mùa hay một con chim đêm vừa rơi khỏi chỗ ngủ, chẳng hạn. Khi tôi có những chuyến đi xa nhiều ngày, chính Roxie bịn rịn với tôi nhiều nhất. Nó là “kẻ” tiễn chân tôi ra cửa và vẫy đuôi mừng tôi khi về. Lần nào cũng vậy, ra tới ngoài nhìn lại, tôi đều thấy nó đang nhìn theo tôi cùng chiếc túi kéo có bánh xe. Tôi không biết trong cái đầu nhỏ xíu của nó đang nghĩ gì nhưng tôi biết nó đang hụt hẫng buồn. Và như vậy, tôi kéo lê nỗi buồn nhẹ nhàng như vậy, đi qua biết bao trạm đời, qua biết bao chỗ dừng chân quen, lạ.

Mùa hè, tôi đi bộ nơi công viên sau nhà. Những đóa huệ mưa nhỏ nhoi nở trắng một bờ cỏ. Mặt trời lên từ sáng sớm. Roxie chạy theo sau, vừa tung tăng tìm kiếm, vừa sục sạo đánh hơi những dấu tích quen thuộc. Lâu lâu nó dừng lại và ngước mặt nhìn trời. Gió mơn man trên đám lông màu vàng và trên vòm mủi ướt át của nó. Rồi mùi vị của cỏ vừa mới cắt khi tôi đi qua. Mùi nhựa đường bốc lên buổi chiều. Và cuộc đời nhờ đó cũng lớn lao và đẹp.
………
Buổi chiều nay, sau 4 giờ chúng tôi sẽ chia tay với Roxie. Vì giờ đó đứa cháu ngoại tan trường. Danny vừa ngồi trên xe vừa khóc. Còn có thêm người bạn trai mới quen của mẹ nó. Người ta sẽ chích cho nó một liều thuốc và nếu còn đủ sức, chắc nó sẽ vẫy đuôi mừng rỡ như bao lần đi chích ngừa khác.
Danny tối qua, còn ôm ấp Roxie. Và còn đem để bên cạnh con chó những món đồ chơi vì ai đó nói với nó rằng những thứ đó sẽ an ủi được Roxie khi đang bệnh. Sáng nay, nghe mẹ nó nói lại, trước khi đi đến trường nó đã ôm Roxie cầu nguyện.

Có ai từng thấy sự vô tư yêu đời của một con vật, dù đang yếu đuối nhưng đôi mắt đầy trìu mến, mạnh mẽ đến không ngờ, vì chung quanh toàn những người thân? Nó đâu biết đó sẽ là chia tay hay một trùng phùng sau cuối?
Mọi thứ đều giống như những thước phim vớt lên từ một giấc mộng. Trong đó tình yêu và những vị đắng nằm chung nhau, để làm gia vị cuộc đời.

Tôi đi qua Downtown chiều nay. Con đường lạnh và đậm đặc màu chiều. Những luồng xe vuột qua tôi, qua những đời rồi cười. Tiếng gió như đang kể với tôi những câu chuyện xa xưa về con chó. Những hành trình và những bước đi, từ ngày đầu tiên khi bước vào nhà tôi, nó như cuộn bông gòn, cho đến khi trường thành, và đến bây giờ, giữa bốn bức tường, những mũi kim đâm vào thịt da run rẩy.
Vĩnh biệt Roxie. Nghe ông ngoại nói đây. Hãy đi một cách không đớn đau và thanh thản.

Tháng 11, 16 2018
PhamNguYen
Users browsing this topic
Guest (6)
320 Pages«<316317318319320>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.