Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

8 Pages«<678
Options
View
Go to last post Go to first unread
wild grass  
#141 Posted : Tuesday, June 19, 2018 1:08:31 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)



ĐẰNG GIANG MÁU VẪN ĐỎ BỜ SÔNG XƯA!

Nguyễn Thiếu Nhẫn





Hỡi quân Đại Hán cuồng rồ
Đằng giang máu vẫn đỏ bờ sông xưa
Bọn bây chớ có nằm mơ
Đằng giang cọc nhọn đang chờ bọn bây!



Năm Kiến Vũ thứ mười, tức năm Giáp Ngọ 34 sau Tây Lịch, vua Hán là Quang Vũ Đế cử Tô Định làm Thái Thú quận Giao Chỉ. Năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đuổi Tô Định ra khỏi thành Luy Lâu, gây nền tự chủ cho dân Việt trên địa giới cũ của các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố.

Nền tự chủ ấy chưa được bao lâu, tháng Chạp năm Kiến Vũ thứ 17, tức tháng 1 năm 42 sau Tây lịch, Hán Quang Vũ cử Mã Viện Nam chinh, đánh lấy lại đất Giao Châu.

Mã Viện là một đại danh tướng của Đông Hán, được mệnh danh là “Phục Ba tướng quân”, tức là Tướng quân hàng phục sóng dữ. Năm ấy Mã Viện đã 70 tuổi, vừa dẹp xong cuộc nổi loạn của Lý Quảng ở Hoãn Thành, thuộc tỉnh An Huy, Trung Quốc ngày nay. Mã Viện có hai phó tướng Lưu Long và Đoàn Chí. Họ Đoàn phụ trách thủy quân. Mã Viện mang một vạn quân lấy ở các quận Trường Sa, Linh Lăng, Quế Dương và Thương Ngô; từ Hồ Nam xuôi xuống Lưỡng Quảng. Tại những vùng chưa thuộc ảnh hưởng của Hai Bà Trưng, Mã Viện tuyển thêm một vạn hai ngàn quân bộ rồi hội binh với thủy quân của Đoàn Chí tại Hợp Phố, tức vùng bán đảo đối diện đảo Hải Nam bây giờ. Mã Viện theo đường thủy tiến vào Quảng Yên, theo sông Thái Bình tiến vào Trung Châu.

Quân Đông Hán đông hơn về số lượng, thiện chiến hơn, lại được chỉ huy bởi một danh tướng đã có gần nửa thế kỷ cầm quân. Trong khi đó, quân Nam tuy lòng yêu nước có thừa, nhưng số lượng đã ít, lại là quân ô hợp. Đánh nhau nhiều trận cho đến tháng 4 năm 43. Quân Nam và quân Đông Hán giao chiến với nhau một trận lớn tại hồ Lãng Bạc.


Nam quân thua trận, Hai Bà lui về Cẩm Khê. Theo sử nước ta thì Hai Bà tự trầm ở Hát Giang.

Mã Viện lập lại nền đô hộ ở Giao Châu, lại dựng một cột đồng to, cho khắc mấy chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt!” tức “cột đồng gãy thì Giao Chỉ sẽ bị diệt!”

*****


Năm Bính Tuất 1406, Minh Thành Tổ hạ chiếu đánh nước ta, lúc ấy do nhà Hồ cai trị đã được sáu năm. Thành Quốc Công Chu Năng được phong làm Đại tướng, Tán Bình Hầu Trương Phụ và Tây Bình Hầu Mộc Thạnh làm tả, hữu phó tướng. Phong Thành Hầu Lý Bân, Vân Dương Bá Trần Húc làm tả, hữu tham tướng, chia quân làm hai đạo tiến sang nước ta.

Khi đến Long Châu, Quảng Tây thì Chu Năng bị bệnh chết. Trương Phụ lên thay, theo lối Bằng Tường, từ Quảng Tây đánh vào ải Nam Quan. Mộc Thạnh đi ngã Vân Nam, đánh vào Phú Lĩnh, xuôi theo sông Thao mà xuống, họp cùng Trương Phụ tại Bạch Hạc, Vĩnh Yên. Tháng Chạp năm Bính Tuất 1406, Trương Phụ đánh thành Đa Bang. Trương Phụ cùng Đốc tướng Trần Duệ đánh mặt Đông Nam, đều dùng thang vân thê để leo thành. Thành vỡ, quân Minh tiến xuống Đông Đô, tức Hà Nội ngày nay.

Tháng 3 năm Đinh Hợi 1407, Mộc Thạnh đem quân thủy lục tiến xuống Mộc Phàm giang, hạ trại hai bên bờ sông. Tả Tướng quốc Hồ Nguyên Trừng, là con thứ của Hồ Quý Ly đem 300 chiến thuyền đánh vào Mộc Phàm, bị quân Minh tập công từ hai phía phải rút lui về cửa Muộn Hải, thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định bây giờ, hợp với hai tướng Hồ Đô, Hồ Xạ đào hào đắp lũy, tính kế phòng thủ lâu dài.
Hồ Nguyên Trừng rước Thái Thượng Hoàng Hồ Quý Ly và vua Hồ Hán Thương ở Tây Đô ra Hoàng Giang, mở một trận phản công lớn vào Hàm Tử. Thủy lục của Hồ Nguyên Trừng lúc ấy có 7 vạn. Hồ Xạ, Trần Đĩnh đánh vào bờ phía Nam, Đỗ Nhân Giám, Trần Khắc Trang đánh vào bờ phía Bắc. Thủy quân do Đỗ Mãn, Hồ Vấn chỉ huy.

Quân Minh để quân Nam vào sâu trong trận mới ra đánh. Quân Nam đại bại. An phủ sứ Bắc Giang là Nguyễn Hy Chu bị bắt và bị Trương Phụ chém. Thượng Hoàng Hồ Quý Ly và Hán Thương chạy ra bể lui về Thanh Hóa. Quân Minh đuổi theo rất gấp. Quý Ly lại chạy vào Nghệ An. Tháng 5 năm ấy (1407) Quý Ly và Hán Thương đến cửa Kỳ La, nay thuộc huyện Kỳ Anh tỉnh Nghệ An.
Trương Phụ sai Mộc Thạnh đi đường bộ, Liễu Thăng đi đường thủy vây bắt được Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương, Tả Tướng Quốc Hồ Nguyên Trừng, Hữu Tướng Quốc Hồ Quý Tỳ, em ruột Hồ Quý Ly cùng nhiều đại thần. Tất cả bị giải về Kim Lăng, Trung Hoa.


*****


Cũng năm Đinh Hợi 1407, Giản Định Vương Trần Quỹ, con thứ vua Trần Nghệ Tôngphất cờ khởi nghĩa, được Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân theo phò tá, lòng người theo về. Tháng Chạp năm Mậu Tý 1408, Giản Định Đế từ Hóa Châu tiến ra phía Bắc. Tướng Minh đang cai trị nước ta là Lữ Nghị cấp báo về Kim Lăng. Minh Thành Tổ phái Mộc Thạnh đem 4 vạn quân từ Vân Nam sang cứu viện. Giản Định Đế muốn thừa cơ đánh thẳng ra Đông Đô, còn Đặng Tất lại chủ trương đợi quân các nơi về đông đủ rồi hãy tấn công. Vua tôi bất hòa, Giản Định Đế nghe lời dèm pha giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân, lòng người chán nản.

Con Đặng Tất là Đặng Dung và con Nguyễn Cảnh Chân là Nguyễn Cảnh Dị đem quân bản bộ bỏ Giản Định Đế về Hà Tĩnh lập cháu vua Nghệ Tông là Trần Quý Khoách lên ngôi, hiệu là Trùng Quang. Quý Khoách sai Nguyễn Súy bắt Giản Định Đế đưa về tôn làm Thái Thượng Hoàng để thống nhất hai đạo quân kháng chiến.

Trương Phụ lại đem viện binh từ Trung Hoa sang. Quân kháng chiến sức yếu, thua nhiều trận phải lui về phía Nam. Tháng 6 năm Quý Tỵ 1413, quân Minh chiếm Nghệ An, tháng 9 đến Hóa Châu. Quân kháng chiến phản công được vài trận nhưng cuối năm ấy, Quý Khoách cùng các tướng đều bị bắt. Còn Giản Định bị bắt trước đó đã giải về Kim Lăng.


Trương Phụ cho giải Trùng Quang Đế Quý Khoách, Nguyễn Suý, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị về Yên Kinh, Trung Quốc. Dọc đường, vua Trùng Quang nhảy xuống biển tự vận, còn các Tướng kia cũng tử tiết cả.


*****



Tháng Tư năm 43, tháng Năm năm 1407, tháng Mười Một năm 1413 đều là những năm tháng đen tối của đất nước. Trong những năm tháng ấy, đất nước rơi vào tay giặc; lãnh đạo đất nước kẻ tự sát, người bị bắt, bị giết; dân tộc lầm than.

Nhưng lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc đã nhiều lần chứng minh rằng những giờ phút đen tối ấy rồi sẽ qua đi, bởi dân tộc Việt Nam là một dân tộc bất khuất và không chấp nhận bị ngoại bang thống trị. Bà Trưng mất thì đến Bà Triệu, đến Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương mất lại có Mai Hắc Đế và Bố Cái Đại Vương, họ Khúc và cuối cùng là Ngô Quyền giành lấy độc lập.

Nhà Hồ vừa bị tiêu diệt thì đến Giản Định Đế, Trùng Quang Đế của nhà Hậu Trần. Nhà Hậu Trần dứt thì chỉ năm năm sau, Bình Định Vương dấy nghĩa ở đất Lam Sơn, mười năm kháng chiến gian khổ để nước nhà độc lập hơn bốn trăm năm.

Mã Viện đã đánh dấu chiến công của mình ở phương Nam bằng cách dựng lên một cột đồng và ngạo nghễ khắc vào đó một lời nguyền, đe dọa diệt chủng: Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt. Cây cột đồng ấy không bao lâu đã bị chôn vùi dưới những viên đá được ném đi bởi lòng căm hờn của những người bị trị; tuy sức yếu nhưng không thiếu tinh thần quật khởi.


Năm Vĩnh Tộ thứ 10, đời vua Lê Thần Tông (1619-1643), Giang Văn Minh quê ở Đường Lâm đỗ Thám Hoa. Năm Dương Hòa thứ 3, cũng đời vua Lê Thần Tông, ông được cử đi sứ sang nhà Minh để nạp đồ tiến cống. Trước mắt bá quan văn võ và sứ thần các tiểu quốc khác; để thử tài sứ thần nước Việt, vua nhà Minh đã trịch thượng ra câu đối:

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục
(Cột đồng đến nay rêu đã xanh)

Sứ thần Việt quốc ngạo nghễ đối lại:

Đằng giang tự cổ huyết do hồng.
(Sông Đằng từ xưa máu còn đỏ)

Câu đối của sứ thần Giang Văn Minh vừa đanh thép vừa tràn đầy tinh thần tự hào dân tộc, nhắc lại ba lần máu nhuộm Đằng Giang: Ngô Vương Quyền giết Hoàng Thao, phá quân Nam Hán, Lê Hoàn diệt quân Tống năm 981 và Hưng Đạo Đại Vương phá Nguyên năm 1288. Mất mặt, vua Minh nổi giận đã làm một chuyện tàn ác là ra lệnh mổ bụng Giang Văn Minh để xem gan sứ Việt bao lớn. Rồi cho khâm liệm và trả di hài về nước.

Vua Lê Thần Tông vô cùng thương tiếc đã thân hành làm lễ tế với lời điếu:

Sứ bất nhục quân mệnh, khả thi vị thiên cổ anh hùng”.
(Tức là: Đi sứ không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là bậc anh hùng ngàn thuở).

Có một sự trùng hợp lạ lùng: Giang Văn Minh quê ở Đường Lâm cũng lại là quê của Ngô Vương Quyền, người đã lập chiến công đầu tiên trên Bạch Đằng Giang với lời thơ hùng tráng của Phạm Sư Mạnh đời Trần:

Hung hung Bạch Đằng đào,
Tưởng tượng Ngô Vương thuyền

(Bạch Đằng cuồn cuộn sóng trào
Tưởng thuyền Ngô Chúa hôm nào trên sông
).


*****



Cuộc đô hộ của nhà Minh đối với nước Việt kéo dài 20 năm, nhưng thực sự chỉ có 5 năm hơi yên ổn từ 1413 cho đến năm 1418 là năm mà Bình Định Vương xướng nghĩa. Giặc dù mạnh cũng khó ngồi yên ổn đặt ách cai trị lên đất nước Việt bởi vì:

“Nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng văn hiến đã lâu.
Cõi bờ cương vực đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần gây nền độc lập
Cùng Hán, Đuờng, Tống, Nguyên hùng cứ một phương.
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Nhưng hào kiệt đời nào cũng có…”

(Bình Ngô đại cáo)





UserPostedImage




Hoàn cảnh của miền Nam sau 1975 có hơi khác hơn một chút. Miền Nam đã thực sự bị xâm chiếm và đặt lên một ách cai trị hết sức hà khắc bởi chính những người cộng sản cùng màu da, cùng dòng máu. Tám mươi bốn triệu dân cả nước bây giờ tuy không phải chịu cảnh bị ngoại nhân trực tiếp đô hộ như thời Đông Hán, thời Minh, nhưng bị đô hộ bởi một giai cấp bóc lột, phi nhân là đảng Cộng Sản. Cho đến giờ này, những quyền tự do căn bản nhất của tám mươi bốn triệu người dân chỉ có trên giấy tờ và các ống loa tuyên truyền của đảng. Các quyền tự do căn bản nhất ấy đối với người dân chỉ là những giấc mơ chưa với tới.

Có người sẽ hỏi: Các người đã tranh đấu, đã kêu gào ba mươi lăm năm nay mà chế độ Cộng sản Việt Nam có sụp đổ đâu?

Xin thưa rằng chưa. Chưa chứ chẳng phải là sẽ không bao giờ! Nếu những người dân Đông Âu cứ chấp nhận rằng chế độ Cộng sản Đông Âu sẽ không bao giờ sụp đổ; không có cuộc đấu tranh ở Ba Lan, không có những đợt sóng ngầm ở Đông Đức, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi… Nếu thế giới cũng nghĩ như vậy và cũng ngồi yên thì Cộng Sản Đông Âu sẽ không nối nhau sụp đổ trong năm 1989.

Đó là một tấm gương, xin những ai chủ bại cho rằng cuộc đấu tranh để giải trừ Cộng Sản ở nước ta hiện nay là lỗi thời hoặc vô vọng. Đó chỉ là những lời xảo ngôn để che dấu tinh thần cầu an, trốn tránh trách nhiệm.

Đố chúng tắc mộc chiết; Nghị đa tắc đê quyết.
Nhiều mọt sẽ làm đổ cây; Nhiều tổ kiến sẽ làm sụp đê!


Nhiều suối nhỏ sẽ thành sông lớn. Hàng ngàn sự chống đối đấu tranh, tưởng chừng vô vọng từ mọi phía, góp lại sẽ thành cơn bão lớn đối với Cộng sản Hà Nội.


*****



Những năm tháng đen tối của lịch sử đất nước đã qua đi vì chúng ta đã có Trần Bình Trọng thà làm quỷ nước Nam, đã có Trùng Quang Đế, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị tử tiết khi nước mất, có Tổng Đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết theo thành khi thành mất.

Những năm tháng đen tối của đất nước ta hiện nay cũng sẽ qua đi vì năm 1975 chúng ta đã có Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn, Phạm Đức Lợi, Nguyễn Văn Long…

Và sau năm 1975, chúng ta đã có Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân cùng hàng ngàn anh hùng, liệt sĩ khác mà rồi một ngày không xa lịch sử sẽ tìm đến để ghi tên.

Những năm tháng đen tối hiện nay rồi cũng sẽ qua đi vì hiện nay trong cũng như ngoài nước vẫn còn những người âm thầm hy sinh cho đại cuộc bằng cách này hay cách khác.

Xã tắc từ đây vững bền,
Giang sơn từ đây đổi mới…

(Bình Ngô đại cáo).



*****



Dân tộc nào, đất nước nào lại chẳng phải trải qua những tháng năm đen tối, đau buồn. Dân tộc và đất nước Việt Nam cũng thế.

Đất nước ta lại bất hạnh nằm cạnh một nước Trung Hoa rộng lớn lúc nào cũng nuôi giấc mộng cuồng rồ bành trướng lãnh thổ về phương Nam. Nhưng, với một quá khứ “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm nô lê giặc Tây, 30 năm nội chiến từng ngày”, dân tôc ta, đất nước ta vẫn kiên cường, bất khuất, ngẩng cao đầu không bao giờ chịu khuất phục ngoại bang.

Đảng CSVN, qua việc làm của tên tội đồ của dân tộc là Hồ Chí Minh và những kẻ thừa kế đã là “những con đĩ Mỵ Châu” - nói theo cách nói của nhà văn Dương Thu Hương - đã hiến đất, dâng biển và đang “dạng háng” chờ những tên Trọng Thủy tân thời đem quân xâm chiếm nước ta.

Cuộc biểu tình ngày 5 tháng 6 năm 2011 vừa qua do những lời kêu gọi của nhóm Nhật Ký Yêu Nước trên mạng xã hội facebook đã xảy ra ở hai thành phố Hà Nội và Sàigòn đã mở ra một phương thức tranh đấu mới cho công cuộc tranh đấu ĐÒI LẠI QUYỀN LÀM NGƯỜI mà CSVN đã tước đoạt của toàn dân Việt Nam trong suốt hơn 60 năm qua.



Hỡi các anh em Quân Đội Nhân Dân yêu nước, thương nòi; hỡi các anh em “Công an Nhân dân là bạn của dân” hãy cùng hợp lực với toàn dân Việt Nam chém chết “những con đĩ Mỵ Châu đang dạng háng chờ những tên Trọng Thủy đem quân đến xâm chiếm nước ta!”

Hỡi 84 triệu người dân trong nước và 3 triệu người Việt tỵ nạn tại hải ngoại hãy hô to lời hịch:

NAM QUỐC SƠN HÀ NAM ĐẾ CƯ…

Và xin noi gương sứ thần Giang Văn Minh khẳng khái trả lời bọn giặc bành trướng phương Bắc tân thời:

ĐẰNG GIANG TỰ CỔ HUYẾT DO HỒNG!


*****


Hỡi quân Đại Hán cuồng rồ
Đằng giang máu vẫn đỏ bờ sông xưa!
Bọn bây chớ có nằm mơ
Đằng giang cọc nhọn đang chờ bọn bây!



thanks 1 user thanked wild grass for this useful post.
NNT on 4/22/2019(UTC)
wild grass  
#142 Posted : Sunday, January 20, 2019 11:34:00 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)







thanks 1 user thanked wild grass for this useful post.
NNT on 4/22/2019(UTC)
wild grass  
#143 Posted : Sunday, January 20, 2019 11:50:48 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)




Hình ảnh người dân
Tưởng Niệm 74 Tử Sĩ Hoàng Sa từ Hà Nội vào Sài Gòn ngày 19/02/2019




Mặc dù bị cấm đoán và ngăn chặn dưới mọi hình thức của nhà cầm quyền Việt cộng, nhưng ngày 19/1/2019 vừa qua, một số bà con từ Hà Nội vào đến Sài Gòn, đã can đảm họp nhau làm Lễ Tưởng Niệm 74 Tử Sĩ Hoàng Sa qua một số hình ảnh ghi lại dưới đây:




UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


thanks 1 user thanked wild grass for this useful post.
NNT on 4/22/2019(UTC)
wild grass  
#144 Posted : Sunday, March 24, 2019 1:22:35 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)


Nhớ đến anh, Người Lính VNCH

Nguyễn Phú



Kính tặng các anh Chiến hữu yêu dấu QLVNCH tại chiến trường Long Khánh, 1975.


Người chiến sĩ QLVNCH với trọng trách mà Tổ quốc đã giao phó cho họ qua ba điều tâm niệm: Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm, như chiếc ghe nhỏ đang cố gắng đẩy chiếc sà lan nặng nề đầy cát giữa dòng sông nước chảy cuộn, tìm cách tránh né những cụm lục bình trôi theo dòng nước lũ, mà hầu như lúc nào những cụm lục bình trôi không định hướng ấy cũng muốn bám chặt vào cánh quạt máy chân vịt của chiếc ghe đó…


Thế rồi dòng đời trôi qua, trong mọi bối cảnh, bất chấp gian nan, sự khổ cực, sự ngược đãi và bất công mà anh phải trải qua hằng ngày, người Chiến sĩ QLVNCH đó vẫn kiên trì chiến đấu, bởi vì anh chỉ có biết thực thi những điều nhắn nhủ mà vị Tổng tư lệnh QLVNCH đã nói với anh và các đồng đội: “Hãy kiên trì chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc chống lại cuộc xâm lăng trắng trợn của bè lũ Cộng Sản Bắc Việt.”


Người Chiến sĩ QLVNCH đó có thể là người lính thuộc SĐ21BB đã phơi thây trên những tuyến đầu của Quốc Lộ 13 để mở đường cho cuộc phản công giải tỏa các đồng đội họ trong chiến trường An Lộc.


Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh cựu Biệt Kích Quân được đồng hóa ra phục vụ trong TĐ.92/ BĐQ/BP, mà dưới sự đàn áp tấn công liên tục của Cộng Quân thuộc Trung Đoàn 274 Bắc Việt, anh đã kiên trì giữ vững trại Tống Lê Chân đến hơi thở cuối cùng.


Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính thuộc Trung Đoàn 43/SĐ18BB, mặc dầu bị tràn ngập và áp đảo dưới hỏa lực dữ dội của Cộng Quân thuộc Công Trường 6 và Sư Đoàn 341 Bắc Việt, anh đã làm tròn nhiệm vụ mà Hằng Minh đã trong đợi nơi anh: ngăn trở và làm chậm lại những toán quân tiền phương của Cộng quân Bắc Việt, mua thêm thời gian cho sự bố trí chiến đấu của SĐ18BB và các đơn vị bạn trong cuộc phòng thủ tuyến thép Long Khánh.


Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính ĐPQ còn lại của Chi khu Định Quán, mặc dầu đơn vị anh đã tan rã đêm 16 Tháng Ba, 1975, anh và một vài đồng đội của anh đã hăng hái tình nguyện giúp đỡ chi đội thiết giáp M-113 võ trang và tái thiết bị để chống chọi lại với chiến xa T-54 của địch tại tuyến thép 2/52, để rồi ngày 12 Tháng Tư,1975, anh lại cùng toán quân đặc nhiệm của Trung Đoàn 43, phục kích và tảo thanh Cộng quân trong thị xã Xuân Lộc.


Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh chị Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn thuộc Tiểu Khu Long Khánh đã can đảm, kiên trì trong gian nan, hy sinh thân mình cùng với các anh lính của Chiến hữu Vương Mộng Long, giữ vững phòng tuyến tại khách sạn Long Khánh cũ trong đợt tấn công ào ạt lần thứ hai của Cộng quân vào 5 giờ sáng ngày 9 Tháng Tư, 1975.


Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính thuộc Tiểu Đoàn 82/BĐQ/BP đã gian nan chiến đấu, mà cho đến giây phút cuối cùng, anh đã can đảm từ chối, không nhận di tản bằng trực thăng chinook CH-47 mặc dầu đang bị thương nặng, bởi vì anh cảm thấy rằng anh đã làm tròn nhiệm vụ của anh và hơn nữa cái chỗ của anh trên chiếc trực thăng ấy có thể dành di tản thêm một người dân vô tội.


Và người Chiến hữu đó cũng có thể là anh lính Pháo Binh thuộc TĐ3/PBD, mặc dầu Cộng quân đang trên đồi xung phong xuống tại gần Quân trường Long Giao cũ, và mặc dầu anh đang bị thương ôm mặt máu me tùm lum, anh vẫn can đảm và bình tĩnh hủy diệt ngòi cơ bẩm của khẩu 105 ly do anh trọng trách, bởi vì anh đã được huấn luyện như vậy.


Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính vì tuân lệnh của vị tân “tổng tư lệnh” QLVNCH, buông súng ống mà đã cùng theo anh chiến đấu nhiều năm trong khói lửa chiến tranh, chán chường dìu dắt đồng đội bị thương của anh từ cầu New Port, theo ngã ba Hàng Xanh, qua ngã tư Bình Hòa, ngã ba Cây Thị, chợ Gò Vấp, đến ngã năm Chuồng Chó, mệt mỏi và kiệt sức quẹo trái xuống Tổng Y Viện Cộng Hòa với hy vọng được điều trị vết thương một cách nhân đạo, để rồi đã bị xua đuổi đi một cách vô nhân đạo bởi những kẻ chiến thắng mà đối với họ chỉ có bác và Đảng là trên hết.


Và rồi người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính QLVNCH ngày đó, trên Quê hương lần thứ hai này, can đảm, mặc kệ những sự bất công, ngược đãi, và gièm pha như những cụm lục bình vô định hướng trong dòng sông nước chảy cuộn, đang cố gắng chiến đấu với những kẻ chiến thắng vô thần đó, tranh giành sự tự do thật sự, tìm mọi cách hữu hiệu xoa dịu vết thương lòng và vết thương thân thể của những đồng đội đã kém may mắn hơn anh còn đang kẹt lại trên Quê hương yêu dấu của anh…


Nguyễn Phú
(Trung Đội Trinh Sát/Tiểu Đoàn 2/43 - SĐ18BB




thanks 1 user thanked wild grass for this useful post.
NNT on 4/22/2019(UTC)
wild grass  
#145 Posted : Monday, April 1, 2019 2:07:38 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)


Chiến sĩ Vô Danh

Lê phi Ô




Trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam trước họa xâm lăng của Cộng-sản phương Bắc, Quân-Lực VNCH đã có biết bao Anh-Hùng, Liệt-Nữ vị quốc vong thân. Bên cạnh đó…có những sự hy sinh không kém hào hùng ít được nhắc tới, tôi muốn nói đến những người lính không có số quân:Vợ lính[/b]”!


*********



Đúng 02:00 giờ sáng ngày 09 tháng 12 năm 1974, Lính vừa đổi phiên gác thì một ánh chớp cùng tiếng nổ long trời phát ra tại hàng rào hướng tây của Chi-khu, nơi tuyến phòng thủ của một trung đội thuộc Đại-đội chỉ-huy, một trung đội của Đại-đội 3 và tiểu đội thám-báo Tiểu-đoàn. Khói lửa, cát bụi mịt mùng, đặc-công việt cộng đã chui vào hàng rào phòng thủ đặt chất nổ phá hủy nhiều lớp kẻm gai. Lập tức, tổ thám báo của tiểu-đoàn tung nhiều quả lựu đạn vào vùng khói lửa nơi vừa xảy ra tiếng nổ để ngăn chận bọn đặc-công cảm tử địch xông vào.

Trong ánh chớp kèm tiếng nổ của lựu đạn bóng vài tên VC chạy ngược trở ra nhưng đã bị khẩu đại-liên trên vọng gác đốn ngã. Những trái sáng tay và của súng cối 81 ly được phóng lên sáng rực bầu trời, tôi gọi Trung-úy Lưu-đức-Thắng (khóa 24/VBĐL) đại-đội trưởng ĐĐ3 cẩn thận mặt Bắc, nơi có một ngôi chùa nhỏ sát cạnh hàng rào phòng thủ…đây là đường tiến sát rất thuận lợi cho VC vì bọn chúng biết lính không bao giờ dám mang súng đạn vào gần chùa dù chỉ để phục kích đêm. Trung-úy Thắng báo đã bắn hạ hai 2 tên địch ngay khi chúng vào tới hàng rào phòng thủ trong cùng…mười phút sau, Thắng cho biết hàng rào đã bị cắt đứt nhiều chổ, lập tức tôi lịnh cho Trung-úy Thời đại- đội trưởng Đại-đội 2 đang bố trí quân tại trại cưa bên ngoài Chi-khu về hướng đông cách Chi-khu 500 thước đưa ngay một trung-đội vào chiếm giữ ngôi chùa nhỏ, trung-đội nầy chạm súng nhẹ và địch bỏ chạy, đây chỉ là tổ cảnh giới của địch.

Đây không phải là trận đánh đơn thuần của đơn vị đặc-công địch, vì đặc-công chỉ lẻn vào âm thầm chứ không phá hàng rào nhiều chổ như vậy, bọn chúng đang chuẩn bị chiến trường cho những đơn vị lớn hơn. Đúng như tin tức MẬT từ Bộ Tổng-tham-mưu cho biết trước: VC mở chiến-dịch “Tánh-Linh Hoài-Đức” để đánh chiếm hai Chi-khu nầy theo chiến thuật mà chúng gọi là “Bóc vỏ” trước khi tiến đánh Thị-xã Xuân-Lộc, nếu không thành công thì ít ra bọn chúng cũng cầm chân được một số lớn đơn vị của ta để dễ bề đánh chiếm Tỉnh Phước-Long.



UserPostedImage



Trước đây một tuần, vì áp lực địch quá nặng nên Quân-khu 3 đã tăng cường Liên-đoàn 7/ BĐQ cho Chi-khu Hoài-Đức, Đơn vị BĐQ nầy đóng quân tại khu vực Gia-Huynh nằm trên Tỉnh- lộ 333 về hướng nam và cách Bộ chỉ-huy Chi-khu 10 cây số. Đồng thời Bộ chỉ-huy Tiểu-khu ra lịnh cho Tiểu-đoàn 344/ĐP (344/Địa Phương) của tôi rút bỏ xã Võ-Xu và các ấp nằm dọc Tỉnh-lộ 335 về phòng thủ duy nhất cứ điểm Chi-khu và xã Võ-Đắt, tiểu đoàn được tăng cường thêm Đại-đội 512/TS (Trinh-sát).


Quận Hoài-Đức là quận xa nhất của Tỉnh Bình-Tuy, cách Tỉnh lỵ 80 cây số đường chim bay. Xung quanh quận lỵ là rừng cây bạt ngàn, phía đông bắc giáp với Tỉnh Lâm-Đồng toàn núi rừng của chặng cuối dãy Trường-Sơn thuận lợi cho việc che dấu và tiến sát các đơn vị lớn VC mà máy bay quan sát khó phát hiện…những cuộc hành quân lục soát đã khám phá nhiều dấu vết địch cấp trung- đoàn. Tôi cho vài người lính Thượng (sắc tộc Man) giả dạng dân làm rừng xâm nhập những vùng nghi ngờ có địch để thám sát nhưng những người lính nầy ra đi không về ! Những cuộc chuyển quân của Ta và Địch làm cho người dân đoán biết được tình hình rất nghiêm trọng nên gồng gánh ra đi bằng nhiều phương tiện khác nhau. Đêm 25 tháng 12 năm 1974, Chi-khu Tánh-Linh cách Hoài-Đức 15 cây số về hướng đông nam thất thủ sau hai tuần lễ kháng cự.


Chi-khu Hoài-Đức suốt tuần nay bị địch pháo bằng hỏa tiễn 107 ly và cối 82 ly trung bình 500 quả một ngày. Pháo binh của ta chỉ phản pháo cầm chừng vì đạn khan hiếm. Liên-đoàn 7 BĐQ ở phía nam cũng chạm nặng với khoảng 2 Trung-đoàn VC, pháo-đội 105 ly của Pháo-đội trưởng Nguyễn-hữu-Nhân thuộc TĐ181/PB-Sư-đoàn 18BB tăng cường cho LĐ 7/BĐQ đã phải dời vị trí nhiều lần, cứ mỗi lần qua vị-trí mới là vị trí cũ bị pháo tan nát, Pháo đội nầy đã bị mất 2 khẩu 105 ly vào tay VC. Thiết đoàn 5 Kỵ-binh vào tăng viện cho LĐ7/BĐQ cũng bị thiệt hại đáng kể (hai sĩ-quan cấp tá bị tử thương).


Ban ngày bị pháo, ban đêm địch liên tục tấn công, xin phi cơ C123 yểm trợ và soi sáng không có…tổn thất lên cao mỗi ngày. Đang cầm máy điều động các đại đội phản công địch thì 2 anh Cảnh-sát dã chiến hớt hãi chạy đến báo:

thưa thẩm quyền, ông trưởng chi của tụi tôi bị VC bắt rồi !”.

Tôi tái mặt, chi Cảnh-Sát nằm ngay trong Chi-khu và cách Bộ chỉ-huy tiểu-đoàn của tôi khoảng 30 thước với một tiểu-đội Cảnh-sát dã-chiến, gần mười Cảnh-sát viên và tổ Thám-báo của tiểu-đoàn 5 người…mà bị VC bắt ?! Tôi và thượng-sĩ Hường thường vụ tiểu-đoàn, 2 cận vệ cùng 2 CSDC vội vã băng qua Chi Cảnh-Sát. Việt cộng đã đột nhập định cắt Chi-khu ra làm hai vì hỏa lực tại nơi đây tương đối yếu, trước khi bị anh em Cảnh-sát và lính phản công VC khi rút lui đã bắt Đại-Úy Long trưởng chi và 2 cảnh-sát viên mang theo .Một số lính tiểu-đoàn và Cảnh-sát tử thương, Tôi tăng cường thêm 3 người lính của toán Hỏa-đầu vụ tiểu đoàn cho Chi Cảnh-sát (vì không còn quân). Trên đường trở lại BCH/tiểu-đoàn, thoáng thấy một bóng người nép vội vào gốc cây xoài bên hông văn phòng Quận cách tôi khoảng 10 thước, dáng dấp khả nghi không giống như lính. Tôi ra dấu cho Thượng-sĩ Hường cùng một anh lính nép vào tường sẳn sàng yểm trợ, tôi và anh cận vệ còn lại bò về hướng cây xoài sẳn sàng nhả đạn. Bóng người lạ xê dịch như muốn chạy, cả hai chúng tôi hướng súng sẳn sàng bóp cò. Bổng một quả chiếu sáng tay bừng sáng trên trời soi rõ bóng người lạ chỉ còn cách tôi khoảng 3 thước, không có súng và hình như đàn bà. “Nữ đặc-công VC”? vừa thoáng nghĩ trong đầu thì anh cận vệ của tôi đã nhảy chồm lên tên Đặc-công còn súng của tôi thì kê sát vào lưng hắn sẳn sàng bắn, anh cận vệ la lên: “mày hả ?”. Anh ta quay lại tôi nói nhỏ: “Con bé Hạ, ông thầy ơi !”,Tôi quát khẽ: “Mầy làm gì ở đây ?!”- Cô bé mặt còn nguyên nét sợ hãi: “Dạ em…dạ em…!”. Vài quả đạn pháo nổ quá gần chúng tôi chạy ùa vào lô-cốt kế cận, tôi hỏi lại: “Mầy làm gì ở đây ?”, Thượng-sĩ Hường nói:

Mấy bữa nay, nó thay thằng Xuân đi tiếp đạn cho anh em
”, tôi nói như trách cứ Th/sĩ Hường:

- Mấy bữa nay ?! thằng Xuân đâu mà nó phải đi tiếp đạn?”

- “Dạ, thằng Xuân anh của nó… chết rồi!”



Tôi hụt hẫng, cổ họng có cái gì nghèn nghẹn! Ông già Mai, ba của con bé Hạ một nông dân hiền lành sống với ruộng rẩy, Thằng Đông con lớn của ông đi lính rồi tử trận ngoài miền trung, từ đó mỗi khi đi làm rẩy nhận được tin tức gì của VC ông đều bí mật báo với chính quyền, bọn cơ sở nằm vùng của VC biết được đã chặt đầu ông ngoài rẫy với bản án để răn đe. Thằng Xuân là lính của tiểu-đoàn tôi… con bé không dám ở nhà một mình nên vào đồn sống với anh của nó… bây giờ thằng Xuân chết rồi, nó sẽ sống với ai ?!! - Tôi nói thật khẽ với Th/sĩ Hường như nói với chính tôi: “Bố Hường, tạm thời Bố nuôi con Hạ giùm tôi… để khi nào yên tôi sẽ tính sau!”. Tôi quay về hầm chỉ huy dưới làn mưa pháo của địch.

Sau khi Tánh-Linh thất thủ, bọn VC dồn cả lực lượng cấp Sư-đoàn tấn công LĐ7/BĐQ và Chi-khu Hoài-Đức do Tiểu đoàn tôi tử thủ với quân số còn lại khoảng hơn 200 người. Trước trận đánh, vì Bình-Tuy không đủ quân số nên xin tăng cường 2 tiểu-đoàn ĐPQ, Quân-đoàn 3 chỉ tăng cường một tiểu-đoàn ĐPQ cho Chi-khu Tánh-Linh từ Long-An đến (TĐ335/ĐP) còn tiểu đoàn của tôi thì bổ sung quân số lên đến hơn 500 người lấy từ các tiểu-đoàn khác trong Tiểu-khu. Xác chết VC vì không ai chôn nên đã bốc mùi, xác lính thì chôn tạm, phủ poncho. Thương binh còn kẹt lại khoảng 50 người vừa nặng vừa nhẹ vì trực thăng vào vùng không được do phòng không VC dày đặc và nhiều chuyến phải quay đầu lại vì phải ưu tiên cho mặt trận Phước-Long. Liên-đoàn 7/BĐQ triệt thoái khỏi Hoài-Đức…như thế với tiểu-đoàn ĐPQ của tôi còn lại hơn 200 người bị Sư-đoàn 6 tân lập VC, Trung-đoàn 812 Sông- Mao và 4 tiểu-đoàn Đặc-công 18, 19, 20 và 200C bao vây tấn công ngày đêm (VC từ 6 đến 8 ngàn quân, tham khảo tài liệu của Dr. Nguyễn-đức-Phương, tác giả “Chiến tranh VN toàn tập”). Thượng cấp cho tôi toàn quyền quyết định đi hay ở, tôi đã cho thăm dò nhiều lần con đường rút nhưng không thể thực hiện được. Nếu lính tráng thì được còn vợ con họ thì sao? và thương binh nữa? Chúng tôi quyết định tử thủ.


Tôi gọi 2 đại-đội của tôi bên ngoài thì Đại-đội 1 của Đại-úy Trương-Kiêm tan hàng trong đêm mất hẳn liên lạc, Đại-đội 2 của Trung-úy Thời thì còn lại hơn 40 người, Đại-đội 512 Trinh-sát của Trung-úy Đường vừa lui lại khu vực chợ cách BCH Chi-khu không xa vì áp lực địch quá mạnh, ngay trưa hôm đó Trung-úy Đường tử thương và Trinh-sát tan hàng. Bây giờ thì không riêng gì con bé Hạ mà cả các chị vợ và con lính cũng được cấp phát súng đạn. Vợ Trung-sĩ Hảo là cô đở (Bà Mụ ở nông thôn) trở thành y tá của tiểu-đoàn, hai tay chị đầy máu, một thương binh cánh tay trái chưa đứt lìa hẳn đã bốc mùi thối phải cắt bỏ, không còn thuốc Tê, với lưỡi dao cạo râu chị cố lấy bình tỉnh cắt bỏ cánh tay, anh thương binh cắn răng chịu với hai hàng nước mắt chảy liên tục vì quá đau đớn ! Tôi cố gắng an ủi từng người, anh tài xế của tôi bị gảy chân trái vì đạn pháo, thấy tôi anh ấy khóc. Tôi cố an ủi, bảo rằng vết thương của anh không đến đổi cưa chân đâu, anh ấy nói trong nước mắt:

không phải em sợ cưa chân đâu, nếu được tải thương coi như chắc chắn được sống … ông thầy còn kẹt lại, em thương cho ông thầy quá !”

anh ấy nghẹn lời không nói được, anh ấy đâu biết rằng tôi còn nghẹn hơn anh ấy nữa! Tình Huynh Đệ chi binh như thế đó, lúc nguy nan chỉ nghĩ đến người khác mà quên nghĩ đến chính mình, (sau ngày tôi ra tù, anh ấy hay tin, từ Saigon với đôi nạng gổ và một chân…lặn lội xuống Bà-rịa thăm tôi).


Con bé Hạ đầu quấn khăn tang cho anh nó bằng cuộn băng vải trắng, mặc áo trận, vai mang súng M16 người nó trông cứng cỏi như một người lính thực thụ, mới 16 tuổi mà trông như 30 – 40 tuổi. Một tiểu đội nữ binh mới được bổ sung đặt dưới quyền chỉ huy của Thượng-sĩ Hường, tiểu-đội trưởng là vợ của Trung-sĩ nhất Man-Ngui (người Thượng).


Các toán thám sát được tung ra ngoài nay đã trở về, họ báo là bọn VC dày đặc, tiểu đoàn không còn cách nào rút lui được, nếu cố mở đường máu thì sẽ sống sót may lắm là 1/3. Hôm đó bọn VC không tấn công ban ngày mà chỉ pháo. Tôi đoán là đêm nay bọn chúng sẽ làm thịt chúng tôi…các thương binh còn cầm súng được đều phải ra tuyến ngoài, các Sĩ-quan phải rời bỏ vị trí chỉ huy ra ngoài cùng anh em chiến đấu tới hơi thở cuối cùng kể cả tôi, nhưng đêm đó vẫn yên tỉnh đến lạ lùng và ngạt thở. Đúng 09:00 giờ sáng ngày 04 tháng 01 năm 1975, Với tất cả hỏa lực của đủ loại súng, bọn VC bắn như vãi đậu, tiếng hò hét xung phong man rợ. Anh em chúng tôi mắt mở trừng trừng, tay để sẳn cò súng nghiến răng… chờ giây phút sau cùng của đời mình sẽ đến ! Bọn việt-cộng vẫn chưa xung phong, Đại-úy Đinh-quang-Chính trưởng ban 3 tiểu-đoàn quay lại tôi hét lớn:

Trung-Hiếu…khoan cho lịnh bắn, tụi nó dụ cho mình hết đạn đó!”,

tôi gật đầu đáp nhận, không riêng gì Đại-úy trưởng ban 3 mà tất cả hình như cũng hiểu như vậy ! Vài lần hò hét xung phong không có kết quả, bọn VC nổi điên xung phong thật…Chiến trường bây giờ là địa ngục, là máu, là thịt xương vung vãi khắp nơi…lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy được địa ngục!!!


Trước đó chừng 20 phút, tôi đàm thoại với một giọng nói lạ trong máy truyền tin bảo tôi cho biết tọa độ chính xác để bắn yểm trợ, VC không thể gạt được tôi, tôi chửi trong máy:

Tiên sư các anh, muốn bắn thì bắn đi, cái Quận to tổ bố không nhìn thấy sao mà còn xin tọa độ !”, và mới đây thôi tiếng người lạ lại vang lên trong máy AN/PRC25:

Yêu cầu Bạch-Vân cho biết tọa độ chính xác của ta và địch !” (Bạch-Vân là danh hiệu của tiểu-đoàn tôi lúc đó), tôi đáp:

Tao ở bên trong, tụi bây ở bên ngoài… muốn chơi thì cứ chơi!

nói xong tôi cúp máy, bọn kiểm thính của tụi nó biết cả danh hiệu truyền tin tiểu-đoàn, biết thì biết… giờ phút nầy bọn chúng nó có muốn biết tên cha mẹ của tôi… tôi cũng cho luôn!


Tôi vừa buông ống liên hợp thì tiếng kèn, tiếng hô xung phong của việt cộng vang trời xen kẽ với tiếng đạn nổ chát chúa long trời lở đất. Tiếng đạn đại bác tung cát bụi mịt mù… hình như cả ngàn quả nổ cùng một lượt nhưng không có quả nào lọt bên trong mà nổ phía bên ngoài hàng rào, nổ ngay tên tuyến của việt cộng. Trong cát bụi mịt mờ từng thân xác của bọn sanh Bắc tử Nam bị hất tung lên cao từng đợt, từng đợt, tiếng đạn đại bác nổ liên tục vào bọn VC nghe ghê rợn hơn “ lịnh xé xác” trong chuyện kiếm hiệp Kim-Dung. Hơn trăm mạng người còn sống sót của chúng tôi ngẩn ngơ quên cả bóp cò súng, giương đôi mắt nhìn một màn xi-nê sống động và hay hơn tất cả phim chiến tranh mà chúng tôi đã từng xem trước đây. Vì đây là cảnh thật chứ không phải trong màn ảnh, tiếng đạn đại bác vẫn nổ liên tục cho đến trưa… và, trong tiếng đại bác reo hò là tiếng máy bay oanh-tạc phản-lực nghe càng lúc càng rõ. Trên bầu trời những chiếc F5 quen thuộc xuất hiện như những thiên thần. Tiếng đại bác vừa ngưng là những F5 nầy chúi xuống thả từng cặp bomb Napal trên đầu giặc biến Võ-Đắt thành biển lửa , quân tử thủ chợt tỉnh cơn mê… há hốc rồi bỗng nhiên vỡ òa tiếng reo hò ầm ĩ:

Quân tiếp viện đến…Quân tiếp viện đến !”. Đại-úy Chính trưởng ban 3 tiểu đoàn chạy lại phía tôi la lớn:

Sư-đoàn 18 vào tới rồi, mình sống rồi Trung hiếu ơi!”, nước mắt lưng tròng, tôi, Đại-úy Chính và hình như tất cả chúng tôi đều khóc ! Những giọt nước mắt sung sướng lăn dài trên gò má rồi chảy xuống chiến bào đã khô cứng vì cát, đất và máu của đồng đội. Võ-Đắt đã được hồi sinh sau 33 ngày sống trong địa ngục!!!


Tôi đi một vòng quanh tuyến phòng thủ, đứng nghiêm chào trên mỗi xác của đồng đội, ôm chặc hai vai hoặc nắm chặc bàn tay những anh em còn sống hoặc bị thương để nghe niềm xúc cảm dâng trào trong tim thay cho muôn vạn lời nói! Khi ngang qua một lô-cốt tôi thấy bé Hạ ngồi khóc, tôi hoảng hốt hỏi cô bé có bị thương không, nó không nói mà đưa tay chỉ xuống hầm. Tôi chui vào, xác của hai chị vợ lính nằm kề bên nhau tay vẫn còn giữ chặc súng, nhìn qua lỗ châu mai, khoảng cách gần, xác của 3 tên Việt cộng bị bắn bể toang đầu. Nhìn lại thân xác các chị nằm đó như người đang ngủ say! Tôi đứng nghiêm chào và thầm nói: “Thưa các chị, xin các chị hảy yên giấc ngàn thu…Tổ quốc muôn đời mãi ghi ơn các chị ! Trong trận chiến khốc liệt để bảo vệ sự an nguy, Tự do, Hạnh-phúc cho người dân miền nam nói chung, đồng bào Hoài-Đức Bình-Tuy nói riêng…sự hy sinh của các chị sẽ được ghi vào sử sách của những người lính không có số quân, và không có cả luôn 12 tháng lương tử tuất. Các chị đã nối bước tiền nhân, không hổ danh con cháu của Bà Trưng, Bà Triệu. Tôi xin đại diện cho những người còn sống hôm nay kính cẩn nghiêng mình trước vong linh của những Anh-Hùng Liệt-Nữ… vô danh, xin ngàn thu vĩnh biệt!” nước mắt của tôi tự dưng trào ra…


Tôi bước ra khỏi hầm với gương mặt trầm buồn, nhưng tâm tư chất chứa niềm kiêu hãnh cho một thế hệ, bất kỳ Nam hay Nữ, đã và đang cống hiến cuộc đời và thân xác cho cuộc chiến chính nghĩa, bảo vệ sự an bình và tự do cho đất nước VNCH ! Tôi ngước mặt lên nhìn trời, cảm ơn Thượng Đế đã cho tôi và các anh em binh sĩ được sống, chiến đấu và được biết thế nào là hai chử anh-hùng trong chiến trận…và, tôi may mắn được chiến đấu bên cạnh những anh-hùng đó, Những chiến-sĩ Anh- hùng vô danh mang tên “[b]Vợ Lính
”!

thanks 1 user thanked wild grass for this useful post.
NNT on 4/22/2019(UTC)
wild grass  
#146 Posted : Monday, April 8, 2019 2:00:01 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)


Tháng Tư ra Biển Đông ngồi khóc !
Quốc Hận! Trời ơi đến bao giờ ?!!!

Mường Giang




Sau khi Việt Nam Cộng Hòa bị sụp đổ, chẳng những tất cả “Quân, Công, Cán, Cảnh” của Miền Nam bị trả thù, cộng sản Hà Nội còn tận tuyệt hủy diệt các tầng lớp tư sản qua tội danh gán ghép, chụp mũ, bịa đặt cho mọi người là bóc lột, tư sản mại bản, ngụy dân… Tại Ðại Hội đảng lần thứ IV vào tháng 5-1975, Lê Duẩn đã vênh váo tuyên bố rằng “ từ nay người VN sẽ đi trên thảm vàng, đồng thời đuổi kịp rồi qua mặt Nhật Bản trong vòng 15 năm tới ”. Trên thực tế ai cũng biết trước tháng 4-1975, Bắc Việt chỉ có hai công trình vĩ đại nhất là Lăng Hồ Chí Minh tại Ba Ðình Hà Nội và Khách sạn quốc tế trên bờ Hồ Tây, do Fidel Castro của Cu Ba xây tặng. Trong lúc đó tại VNCH, đâu đâu cũng có những cơ sở kỹ nghệ nặng và nhẹ, đều được trang bị máy móc mới và tối tân, nhất là các ngành dệt, điện, lắp ráp các loại hàng sản xuất tiêu thụ. Khi VC vào Sài Gòn trưa ngày 30-4-1975, đã tận tình vơ vét máy móc đem về Bắc, ra lệnh cho nhiều nhà máy ngưng hoạt động hay biến thành quốc doanh, hữu danh vô thực.


Song song với kế hoạch trả thù và tận diệt các tầng lớp trên, VC còn bày thêm “quốc sách kinh tế mới vào cuối năm 1975”, để đuổi hết số gia đình có liên quan tới chế độ VNCH, đang sống tại Sài Gòn và các tỉnh thành, đi lao động canh tác tại rừng sâu, núi cao, ma thiêng nước độc. Kế hoạch thâm độc này, “vừa tống khứ được những thành phần còn lại mà VC đã xếp loại nguy hiểm”, sau khi chồng con thân nhân của họ đã bi đảng gạt vào tù. Có như vậy, VC mới chiếm được nhà cửa ruộng vườn và các tiện nghi của Miền Nam, để phân phối cho cán bộ miền Bắc, lúc đó chỉ có súng đạn, tăng pháo và mớ lý thuyết của Mác-Lê-Mao-Hồ mà thôi.


Ai đã từng là tù nhân của VC, dù có ở trong các trại tù tại miền Nam hay bị đầy ải ra vùng biên giới Việt Bắc, đã bị giặc cầm giam lâu hay mau, chắc hẳn sẽ chẳng bao giờ quên nổi những đau đớn về vật chất và nhất là sự tủi nhục tinh thần, khi bị bọn VC”gọi chúng ta là ngụy quân, ngụy quyền, là những đống rác bẩn thỉu, cặn bã của xã hội, đánh giặc thuê cho Mỹ, Pháp, Nhật..”!


Ai đã từng bị VC cướp của, cướp nhà, đày đoạ lên tận miền rừng núi để phát triển kinh tế mới. Ða số đã ngã quỵ vì không chịu nổi mưa nắng, cùng cảnh ma thiêng nước độc, bệnh sốt rét rừng, ghẻ lở, kiết lỵ... mà không có thuốc uống. Cuối cùng những người còn sống, kiệt sức vì đói bệnh, nên đã bỏ rừng chạy ngược về thành. Họ đã trở nên vô gia cư và ở bất cừ nơi nào, kể cả nghĩa địa, gầm cầu, chùa miễu.. ăn sống, phó mặc cho định mệnh và bọn công an, tới hốt bắt, đưa lên lại vùng kinh tế mới, rồi họ lại về.Rốt cục huề cả làng, và càng ngày càng có nhiều người vô gia cư sống khắp mọi nẻo đường đất nước, trong xã nghĩa thiên đường vì cảnh cướp ruộng đất nhà cửa của đồng bào qua chiêu bài “phát triển kinh tế, công nghiệp..”.



Chắn chắn những thành phần trên, nếu may mắn bằng mọi lý do gì, nay tới được bến bờ tự do và được sống tạm trên mọi nẽo đường thế giới, chẳng ai có thể vô tâm để quên kiếp đời “Tị Nạn Việt Cộng” trăm đắng ngàn cay, biển hờn trời hận, “chỉ có thể đầu thai lần khác” họa chăng mới xóa nổi vết nhơ của Dân Tộc VN trong giòng lịch sử cận đại. Bởi vậy VC đã dùng quyền lợi để yêu cầu chính quyền Mã Lai, Nam Dương.. phá bỏ các Tượng Ðài kỷ niệm Thuyền Nhân VN bỏ mình trên biển Ðông, khi trốn chạy khỏi thiên đàng xã nghĩa, tại các trại Tị nam Việt Cộng. Hành động dã man này của bọn đầu sõ Bắc Bộ Phủ, chẳng những không làm ai khiếp sợ, trái lại còn bị Cộng đồng Người Việt Tị Nạn Cọng Sản khắp thế giới thêm khinh ghét , khiến chúng đi tới đâu cũng bị mọi người tẩy chay và biểu tình đã đảo.


Ðầu tháng 4-1975, Người Mỷ khởi sự chạy khỏi Nam VN bằng chuyến bay định mệnh, đưa 250 trẻ mồ côi và 37 nhân viên của Dao đi theo săn sóc. Nhưng chiếc C5 đó đã bị tai nạn, chỉ còn 175 em sống sót với một số người lớn may mắn. Tai nạn này đã báo trước những thảm kịch sắp tới cho làn sóng người bỏ nước ra đi vì không muốn sống chung với rợ Hồ, giết người cướp của.


Ngày 15-4-1975, thượng viên Hoa Kỳ thông qua đạo luật, cho phép 200.000 dân tị nạn Ðông Dương được vào sống trên đất Mỹ. Song song, chính phủ Mỹ cũng mở chién dịch Frequent Wind tại Sài Gòn, để di tản các công dân Mỹ và 17.000 người Việt có liên hệ. Máu lệ và thảm kịch VN đã khơi nguồn từ đó, vào những ngày cuối tháng 4-1975, khi ngàn ngàn vạn vạn người với đủ mọi phương tiện, tiến ra biển Ðông để mong được Ðệ Thất Hạm Ðội cứu vớt những chỉ tới ngày 2-5-1975 thì chấm dứt. Tóm lại từ tháng 5-1975 tới bây giờ (2012), người Việt bỏ nước ra đi để tìm tự do và đất sống, hoàn toàn chấp nhận may rủi” một sống chín chết”, trong hoàn cảnh bơ vơ tự cứu. Do trên hầu hết những người đến được bờ đất hứa, đã phải trả một giá thật đắt. Nên mới có hằng trăm ngàn câu chuyện bi thảm não nùng của thuyền nhân VN, bị HẢI TẶC THÁI LAN cướp giết,hãm hiếp tập thể đến chết nếu còn sống thì bị bán vào ổ điếm. Số khác trôi giạt vào hoang đảo và đã ĂN THỊT NGƯỜI lẫn nhau để mà sống.


Sau khi cưỡng chiếm xong VN, đảng Hồ và đảng Mao trở mặt nên VC đã quy tội cho người Tàu sống tại VNCH ( Sài Gòn-Chợ Lớn và các tỉnh) là mối đe dọa, rồi đòi Trung Cộng phải qua hốt hết 1,2 triệu người Việt gốc Hoa về nước. Sự kiện được Tàu Cộng chấp nhận, phái hai chiến hạm tới các hải cảng VN để nhận người. Nhưng đến cho có mặt, chứ Tàu Cộng đâu có ngu, lãnh đám dân nghèo này (vì của cải đã bị hốt sạch) về nước đê nuôi ăn, vì vậy nửa đêm nhổ neo rút cầu, âm thầm về nước.


Sáng ngày 24-3-1978 trên khắp các nẻo đường Sai Gòn-Chợ Lớn, bổng xuất hiện rất nhiều xe vận tải chở công an, bộ đội và hằng ngàn thanh niên nam nữ đeo băng đỏ trên tay áo. Theo đài phát thanh của VC thông báo, thì đây là chiến dịch “Ðánh Tư Bản Mại Bản, Diệt Thương Gia”.Trước đó vào sáng ngày 20-3-1978 tại Chợ Lớn, cũng đã có một cuộc xô xát, giữa trăm người Hoa và công An VC ph3n đối bắt lính, bắt đi kinh tế mới và đòi được trở về Tàu sống với Trung Cộng. Nhưng lần này, cuộc bố ráp qui mô không phải để bắt người Hoa chống đối hôm trước, mà là xộc vào từng nhà cùng các cửa tiệm, để kiếm tiền đôla và vàng cất dấu, cũng như kiểm kê tất cả hàng hóa kể cả cây chổi, ngoại trừ hình” bác” và lá cờ”đảng”, máu đỏ sao vàng.


Theo báo chí ngoại quốc ghi nhận, thì lần đó đảng đã hốt của đồng bào (Việt lẫn Hoa) gần 7 tấn vàng và cả mấy chục bao bố tiền đô Mỹ, khiến cho mấy chục người uất hận phải tự tử chết. Vậy là đảng đã ba bước nhảy vọt, chiến thắng tư bản chủ nghĩa, bước lên thiên đàng xã nghĩa ưu việt. Cũng từ đó đã có trên 250.000 Hoa kiều phải bỏ nước ra đi và theo thống kê của Cao Ủy Tị Nạn năm 1983, trong số này có trên 50.000 đã chết trên biển vì sóng gío và hải tặc Thái Lan.


Sau ngày 30-4-1975 khi Miền Nam bị VC Hà Nội cưởng chiếm, thì Biển Ðông đã trở thành cửa ngỏ để đồng bào vượt thoát tìm tự do. Nhưng đồng thời biển cũng đã biến thành hỏa ngục và trên hết, đảng VC đã thưc hiện được công trình vĩ đại nhất trong Việt Sử. Ðó là KỸ NGHỆ XUẤT CẢNG NGƯỜI, từ cho thuyền nhân vượt biển chính thức, tới các chương trình ra đi có trật tự (ODP), hồi hương con Mỹ Lai và Mua Vợ Bán Chồng giả. Tất cả các nghiệp vụ trên, đều giúp cho tập thể lãnh đạo đảng giàu to nhờ thu vào được nhiều vàng, tính tới cuối năm 1989, đảng thu vào chừng 3.000 triệu mỹ kim, con số nhìn vào thấy rởn tóc gáy nhưng lại là sự thật. Bởi vậy đâu có ngạc nhiên, khi biết xã nghĩa VN, là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới, lại có nhiều tỷ phú đứng hàng đầu nhân loại.


Theo sử liệu thì năm 1978 là năm VC chính thức trục xuất người Hoa ra biển. Ðây cũng là thời gian đảng xuất cảng người nhiều nhất, mà theo thống kê của Cao Uỷ Tị Nạn, số người tạm trú tại các Trại khắp Ðông Nam Á, lên tới 292.315 người. Cũng theo tài liệu của Hồng Thập Tự Quốc Tế, thì từ năm 1977-1983 đã có khoảng 290.000 người đã chết hay mất tích trên biển Ðông.


Ngày 15-1-1990 khi mà Mỹ chuẩn bị bãi bỏ lệnh cấm vận và lập bang giao với VC, thì tại vùng biển Nakhon Si Thammarat, có 11 thi thể PHỤ NỮ VIỆT NAM, tất cả đều trần tuồng thê thảm, trôi tắp vào bờ. Theo Thiếu tá cảnh sát Thái Chumphol, người có trách nhiệm lập biên bản khám nghiệm, cho báo chí biết, thì tất cả các nạn nhân, có tuổi từ 18-20. Họ bị giết sau khi bị hải tặc Thái Lan hãm bức nhiều làn.


Ðây cũng chỉ là một trong ngàn muôn thảm kịch máu lệ của thân phận VN, từ khi VC cưỡng chiếm được đất nước. Ðã có hằng triệu người chết trong lòng biển, khi tìm tới những địa danh Songkhia, Pulau Tanga, Pulau Bidong, Galang.. Có nhiều cái chết của thuyền nhân thật tức tưởi và oan khiên, mà không bút mực nào viết cho nổi, chẳng hạn như Tàu của Chủ Khách Sạn “Lộc Hotel” ở An Ðông, chở trên 500 người, đi bán chính thức nhưng khi tới Gò Công thì bị gài bom nổ, chết sạch chỉ có tài công và 3 người may mắn sống sót. Tàu Lập Xương di bán chính thức ngày 22-1-1979, chở 200 người, cũng bị gài bom nổ ngoài biển, chỉ còn một vài người may mắn sống sót được Tàu Panama cứu đem vào trại Tị Nạn. Ðây cũng chỉ là một vài chuyện nhỏ trong ngàn muôn thảm kịch mà thuyền nhân, đã chịu từ khi phong trào vượt biển bùng nổ vào đầu năm 1977-1989.

Người vượt biển tìm tự do, ngoài sóng gió bão tố bất thường không biết trước, còn chịu thêm cảnh săn đuổi của công an, bộ đội biên phòng và ghe tàu đánh cá quốc doanh có trang bị súng máy và súng cá nhân. Nhưng hãi hùng nhất vẫn là Nạn Hải Tặc Thái Lan. Bọn này rất hung ác, tàn bạo, sau khi chận bắt thuyền vượt biển, chúng cướp giựt hết tất cả tài sản, đánh đập mọi người, hãm hiếp phụ nữ và bắn bỏ những ai muốn trốn hay chống lại. Sau đó để phi tang, chúng đốt thuyền cho chìm, giết hết đàn ông và bắt đem theo phụ nữ, hành lạc cho tàn tạ và đem về đất liền bán cho các động đĩ.


Câu chuyện của một chiếc tàu vượt biển lênh đênh sau 32 ngày bị hải tặc Thái Lan đánh cướp, chỉ còn có 52 người sống sót, thì gặp được Chiến Hạm USN.Dubuque do Ðại Tá Alexander chỉ huy nhưng bị từ chối không cứu vớt, khiến cho số người trên chết gần hết. Những người sống sót phải ăn thịt bạn bè để cầu sinh. Viên Ðại Tá Mỹ vô nhân đạo trên, bị Bộ Hải Quân Mỹ lột chức và truy tố ra Tòa Quân Sự.


Cũng do hằng ngàn câu chuyện đứt ruột của người vượt biển tìm tự do, mà nhân loại ngày nay có thêm một danh từ độc đáo “Boat People”, giống như trước kia người Do Thái, qua cuộc hành trình tìm đường về đất hứa, cũng đã làm nảy sinh danh từ “Holocaust”. Tuy nhiên, nếu đem so sánh, kể cả chuyện người Do Thái bị Ðức Quốc Xã tàn sát trong thế chiến 2, thì thảm kịch vượt biển của người VN trên biển Ðông, vẫn bi đát hơn nhiều.


Năm 1945 VC núp trong Mặt Trận Việt Minh, lợi dụng nạn đói năm Ất Dậu để tuyên truyền và cướp chính quyền từ trong tay người Quốc Gia, nhờ vào súng đạn của người Mỹ. Từ năm 1955-1975 VC gây nên cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai, và đã cưỡng chiếm được VNCH, nhờ Nixon-Kissinger dàn dựng lên Hiệp định ngưng bắn 1973, hợp thức hóa sự chiếm đóng của cọng sản Hà Nội trên lãnh thổ Miền Nam.


Ngày nay, VC lại đem tình thương nhớ quê hương VN ra khuyến dụ người tị nạn, mong mọi người hòa hợp hòa giải, xóa bỏ hận nước thù nhà. Nhưng VC đã lầm, cho dù đã có nhiều người tị nạn trở về VN nhưng thực tế hầu hết chỉ vì gia đình. Sau đó ai cũng quay lại miền đất tự do, để chờ một ngày chính thức được theo sau gót voi của Quang Trung Ðại Ðế về giải phóng Thủ Ðo Sài Gòn-Huế-Hà Nội. Ngày đó chắc không xa, vì hiện nay cả nước đều biết chế độ cọng sản đã sụp đổ toàn diện, từ ý thức hệ, lãnh đạo, kể cả huyền thoại Hồ Chí Minh, cho tới đời sống tinh thần, kinh tế, xã hôi. Chính sự xét lại của đảng, đã minh chứng sự sụp đổ trên.


Thân phận người Thuyền Nhân VN là thế đó ?!”, Tại sao ngày nay lại có một số người đòi bỏ danh từ “Tị Nạn Việt Cộng”? , để đồng hóa chúng ta thành kẻ di dân vì miếng cơm manh áo, trong lúc đó thật sự chúng ta chỉ bỏ nước ra đi để tị nạn chính trị, vì không thể nào sống nổi dưới chế độ cầm thú bất nhân vô tổ quốc của VC.


Bỗng thấy thấm thía vô cùng, khi nhớ lại câu nói của nhà cách mạng vĩ đại trong thế kỷ XX là Cụ Phan Bội Châu “Tòng Lai Quốc Dân Sở Dĩ Suy Ðồi, Chỉ vì Hai Nguyên Nhân: BỤNG ÐÓI VÀ ÓC ÐÓI”. Từ năm 1930-2012, cọng sản VN đã đấu tranh đẫm máu, giết hại triệu triệu người, cũng chỉ muốn đạt cho được mục đích là đưa Dân Tộc vào con đường cách mạng vô sản, bằng thống trị ngục tù, bằng gầy mòn đói khát, bằng áp chế dối gian. Nhưng tất cả ngày nay đã trở thành những chiếc đinh rỉ, đóng cứng chiếc quan tài đỏ, trong đó có chứa bao triệu oan hồn VN, kể cả những người đã chết đói năm Ất Dậu 1945, những người sinh bắc tử nam, những thuyền nhân chết trên biển. Và đau đớn nhất là NHỮNG NGƯ DÂN VN, ngày ngày bị Trung Cộng cướp giết trên Biển Đông, khi họ hành nghề chính trên lãnh hải của mình. Tất cả là những nhân chứng, bia miệng ngàn đời bôi đen VC trong dòng sử dân tộc.


Lúc nào cũng hô hào hòa hợp hòa giải dân tộc nhưng kể cả người chết cũng bị dầy mồ, bia kỷ niệm thuyền nhân cũng bị phá bỏ, thì thử hỏi người sống làm sao yên được khi phải đối mặt với VC ? -/-


thanks 1 user thanked wild grass for this useful post.
NNT on 4/22/2019(UTC)
wild grass  
#147 Posted : Thursday, April 11, 2019 12:01:12 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)



Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa

Phạm Bá Hoa
[/color]


Người Lính Việt Nam Cộng Hòa thi hành bổn phận công dân, từ vĩ tuyến 17 xuống tận Mũi Cà Mau, từ duyên hải quanh năm sóng vỗ đến rừng già heo hút đội sương, từ Cao Nguyên rậm rạp xuống đồng bằng sông rạch Cửu Long, mời quí bạn lần theo dấu chân để đến, và nhận ra Chân Dung Những Người Lính ấy, sau khi có khái niệm về Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.


Hơn 20 năm chiến đấu dũng cảm chống lại cuộc xâm lăng của nước cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã tạo nhiều chiến tích vẻ vang. Có thể nhận định mà không sợ sai lầm rằng, thế giới chỉ biết thành tích của chúng ta qua hai trận chiến điển hình, là cuộc phản công toàn diện trong cuộc “tổng công kích” của quân cộng sản hồi Tết Mậu Thân đầu năm 1968, và cuộc phản công đánh bại 3 trục tấn công do lãnh đạo nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ Hà Nội, xua quân chính qui vượt vĩ tuyến 17 trực diện tấn công Việt Nam Cộng Hòa vào mùa hè 1972, thường gọi là “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Chớ họ không thể hiểu được những chiến thắng với biết bao trận chiến đơn lẻ xảy ra hằng ngày hằng đêm, đánh nhau từng người, từng tổ, từng tiểu đội, trung đội, của Bộ Binh, của Địa Phương Quân Nghĩa Quân, trong nội địa lãnh thổ, những chiến thắng của “lực lượng Dân Sự Chiến Đấu”, của “Lực Lượng Đặc Biệt”, của những “Toán Lôi Hổ”, của “Liên Đoàn Biệt Cách Dù”, ..v..v.. trong những cánh rừng già hoang dã dọc biên giới Việt Nam-Cam Bốt. Nơi mà quân chính qui cộng sản từ miền bắc, theo hành lang biên giới mà chúng gọi là “đường Trường Sơn”, xâm nhập lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.


Họ cũng không thể hiểu chiều sâu những trận chiến thầm lặng với sắc thái du kích mà Người Lính Việt Nam Cộng Hòa phải đối phó. Phải rình mò tìm địch mà đánh. Bất ngờ gặp nhau là đánh. Đánh nhau bất luận bao nhiêu tay súng, bất kể ngày đêm, bất cứ nơi nào. Chiến trường không chỉ là trận tuyến trong chiến tranh qui ước, mà chiến trường diễn ra ngay trong nhà, ngoài ngõ, chiến trường là bụi chuối trong vườn, là đám bắp trong rẫy, là ruộng lúa đồng sâu. Chiến trường cũng là góc núi, bụi cây, là rừng rậm cao nguyên, là bãi lầy đất Mũi (Cà Mau), là “biển cạn” Tháp Mười. Từng góc phố, căn nhà, từng con đường trong thành phố, từng bến đậu phi cơ hay nơi tàu cặp bến, đâu đâu cũng là chiến trường của quân cộng sản trong mục đích xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa.


Nói chung là người ngoại quốc, cho dù là những phóng viên hay những nhà lãnh đạo chính trị, họ không thể nào hiểu được những chiến thuật trên chiến trường Việt Nam và cách vận dụng chiến thuật đó của “Người Lính Việt Nam Cộng Hòa”, trong khi 500.000 quân Đồng Minh rất khó thích ứng với cuộc chiến mà bản chất của nó là “chiến tranh tổng thể” trên chiến trường Việt Nam chúng ta, bởi họ không thấu đáo nền văn hoá Việt Nam nên chưa hiểu được Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.



Vậy, “Người Lính Việt Nam Cộng Hòa là ai?”


“Họ”, là những nông dân chất phác hiền hòa, là những ngư dân miền duyên hải quanh năm sóng vỗ, là những công nhân nơi thành phố, là những học sinh tốt nghiệp trung học, là những sinh viên hay đã tốt nghiệp đại học, là những viên chức cán bộ đam mê đời sống quân ngũ, là những người chuyên môn trong các ngành nghề tự do.


“Họ”, theo tiếng gọi quốc gia, tình nguyện vào các trường quân sự.

“Họ”, tuân lệnh chánh phủ, trình diện các trường quân sự.

“Họ”, là quân nhân hiện dịch, là quân nhân trừ bị, là quân nhân đồng hoá, là những nữ quân nhân. “Họ”, là những chuyên viên, những chiến binh, những hạ sĩ quan, sĩ quan, tướng lãnh.

“Họ” có mặt trong các quân chủng, binh chủng, binh sở, các cơ quan tham mưu, quân trường. Khi tổ quốc lâm nguy,

“Họ” phụng sự tổ quốc, phục vụ dân tộc. Tất cả được gọi một cách thân thương trìu mến là “Người Lính Việt Nam Cộng Hòa”, những người lính trong một hệ thống tổ chức chặt chẻ, kỷ luật nghiêm minh là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.



UserPostedImage



Người Lính Việt Nam Cộng Hòa:

Người Lính Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, ngày đêm quanh năm suốt tháng hơn 20 năm ròng rã, âm thầm, lặng lẽ, trấn giữ hệ thống giao thông và bảo vệ hạ tầng cơ sở.

Người Lính Lực Lượng Đặc Biệt (Lôi Hổ, Biệt Hải), Biệt Cách Dù, lặn lội vùng biên giới hoang vu để ngăn chận quân thù.

Người Lính Không Quân, từ trên không đánh xuống.

Là Người Lính Nhẩy Dù, từ trên không xuống đánh.

Người Lính Giang Lực, canh giữ trên khắp miền sông rạch.

Người Lính Hải Quân, từ ngoài biển đánh vào.

Người Lính Thủy Quân Lục Chiến, từ ngoài biển vào đánh.

Người Lính Bộ Binh, Người Lính Biệt Động Quân, đánh địch ngay trên bờ nam Bến Hải trong tầm đạn quân thù. Đánh địch dọc biên giới Tây Nguyên núi rừng rậm rạp. Đánh địch trên chót Mũi Cà Mau quanh năm ngập nước, trên biển cạn Tháp Mười, trong Rừng Sát sình lầy gai gốc, giữa đồng bằng trù phú Cửu Long. Đánh địch để giành lại từng góc phố của thủ đô, từng ngôi nhà giữa cố đô cổ kính, từng bờ tường của cổ thành Quảng Trị.

Là Người Lính Pháo Binh, Công Binh, Thiết Giáp, Truyền Tin, yểm trợ Đồng Đội trên khắp chiến trường.

Người Lính Tiếp Vận, Quân Trường, Chiến Tranh Chính Trị, Hành Chánh, Tham Mưu, yểm trợ Đồng Đội từ các hậu phương.



Người Lính” đó đã miệt mài với chiến trận, và mệt nhoài sau chiến trận. “Họ” đã đánh địch đến giây phút cuối cùng! “Họ”, xứng danh là “Người Lính Việt Nam Cộng Hòa”.


UserPostedImage



Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, đã anh dũng hi sinh nhưng không được yên bình vĩnh cữu trong các nghĩa trang mà tổ quốc ghi công, vì quân cộng sản đào mồ cuốc mả. Là những chiến sĩ đã để lại một phần thân thể góp phần gìn giữ giang sơn, nhưng bị kẻ thù nhục mạ đọa đày. Là những quân nhân có vầng trán nhăn nheo với mái tóc già nua trước tuổi. Là những người tù chính trị bị cộng sản lưu đày trong các trại tập trung nghiệt ngã trên khắp miền quê hương đất nước, gánh phân người làm phân bón rau xanh, khiêng nước tiểu tưới lên hoa màu, nhưng “Họ” chỉ được ăn những cọng rau do phân và nước tiểu của “Họ” mà vươn lên. Để rồi nhiều người trong số “Họ”, đã chết trong đau thương, đói khổ, nhọc nhằn!

Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, khi rời đất nước lưu vong với hai bàn tay trắng, chỉ còn lại tình thương của vợ của con, của đồng hương đồng đội, che chở cho nhau nơi xứ người xa lạ.


Đó, là “chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa”, mà người phương Tây chưa thể nào nhận ra được. Bởi, họ chưa hiểu được chiều sâu của lịch sử và văn hoá Việt Nam, họ chưa hiểu được chiều sâu tính chất tráo trở lật lọng với bản chất độc tài tàn bạo của cộng sản Việt Nam, họ cũng chưa hiểu được chiều sâu của cuộc chiến tranh tự vệ về phía chúng ta. Do vậy mà người phương Tây chưa thể đánh giá được chiều sâu của cuộc chiến trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Một cuộc chiến mà trong đó, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xua quân vượt biên giới xâm lăng nước Việt Nam Cộng Hòa. Không thể nói khác được, dù cùng chủng tộc, nhưng hai quốc gia đều được thế giới công nhận với những tòa đại sứ thiết lập trên lãnh thổ mỗi quốc gia. Quân của quốc gia này sang đánh chiếm quốc gia kia, ngoài chữ “xâm lăng” ra, không có chữ nào khác để chỉ hành động đó cả. Những ngôn từ mà cộng sản sử dụng để nói đến cuộc chiến này, đều là những dối trá đánh lừa dư luận quốc nội lẫn quốc tế, ngụy trang mục tiêu chiến lược của họ.


Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa”, hình thành “Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa”. Một quân lực hình thành trong chinh chiến, rèn luyện trong chiến chinh, nhanh chóng trưởng thành trong chiến trận. Và từ trong chiến trận, đã tạo nên những chiến tích vang danh, những anh hùng được toàn dân ngưỡng mộ. Vào giờ thứ 25 của một giai đoạn chiến đấu, vẫn tạo thêm những anh hùng cho lịch sử đương đại của tổ quốc, “thành mất chết theo thành”.



UserPostedImage



Vì vậy:


Người Lính Việt Nam Cộng Hòa rất xứng đáng được vinh danh, dù ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã bị bức tử sau hơn 20 năm dũng cảm chiến đấu tự vệ, nhưng đã thể hiện cao nhất về khả năng và tinh thần chiến đấu nối tiếp dòng lịch sử vẻ vang của tổ quốc, thể hiện vẹn tròn đạo nghĩa và truyền thống bất khuất kiêu hùng của dân tộc Việt Nam”.






thanks 1 user thanked wild grass for this useful post.
NNT on 4/22/2019(UTC)
wild grass  
#148 Posted : Monday, April 22, 2019 2:16:04 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)



Người Chiến Sĩ VNCH
trong ngày cuối cùng của cuộc chiến

Nguyên Huy





UserPostedImage




Vào ngày cuối cùng của cuộc chiến, khi mà mọi giới đều hiểu rằng không còn gì có thể cứu vãn được nữa thì người chiến sĩ VNCH vẫn chiến đấu dũng cảm. Một vài tài liệu sau đây cho chúng ta khẳng định như thế:

1/ Tài liệu của Không Lực Hoa Kỳ – chương trình di tản “Frequent Wind” có viết rằng: Trong khi phi trường bị tấn công thì 2 chiếc Al (Skyraider chiến đấu có cánh quạt của Không lực VNCH) đã bay lượn trên không phận Saigon để truy lùng các vị trí pháo kích của địch. Một trong hai chiếc bị hỏa tiễn SA-7 bắn hạ. Trong khi đó, nhiều người đã không e sợ, đổ xô ra ngoài để nhìn một chiếc phi cơ “Rồng lửa” AC-119 đang nhào lộn và xả súng (đại liên 6 nồng Gatling) bắn một vị trí của bộ đội Bắc Việt ở ngay gần cuối hướng đông Tân Sơn Nhất. Vào khoảng 7 giờ sáng 29/4, chiếc phi cơ anh dũng của VNCH đã bị trúng hỏa tiễn SA-7 của địch và bốc cháy rồi đâm nhào xuống mặt đất.

Trong một bức thư của một phi công VNCH gửi cho Clyde Bay ở Trung Tâm Di Tản Nha Trang, kể lại chuyện những phi công của Không Lực VNCH vào sáng ngày 29 tháng 4, vẫn tiếp tục thực hiện các phi vụ tấn công vào các đoàn xe tăng địch, khi chúng tiến về phía thủ đô Saigon. Theo lời của Trung Úy Coleman “ít nhất những người này đã là những chiến sĩ đã chiến đấu một cách anh dũng và hi sinh đến giọt máu cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp, trong một trận chiến biết chắc là thua, nhưng vẫn sẵn sàng hi sinh”.

2/ Tài liệu trích trong cuốn Việt Nam và Chiến Lược Domino của Bạch Long (từ trang 312 đến 314) Nhưng sự bất ngờ cho Cộng Sản đã xảy ra ngay tại cửa ngõ vào Saigon. Khoảng gần một ngàn chiến sĩ của Chiến đoàn 3 Biệt Kích Dù và một số biệt kích, Nhảy Dù và quân nhân khác, có nhiệm vụ bảo vệ bộ Tổng Tham Mưu từ ngày 26 tháng 4, đã sẵn sàng chờ “đón” quân Cộng Sản. Trong ngày 29 tháng 4, tướng Lâm Văn Phát đã có can đảm đứng ra nhận chức tư lệnh Biệt Khu Thủ Đô với mục đích cầm quân chiến đấu bảo vệ Saigon. Tướng Phát đã ra lệnh cho các cánh quân Nhảy dù, Biệt Cách, Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến… phải ngăn chận quân Cộng Sản kéo vào Saigon từ hai ngả tư Bảy Hiền và Hàng Xanh… Tướng Phát kể lại rằng ông chỉ còn vỏn vẹn 60 xe tăng M-41 và M-48 với những đơn vị lẻ tẻ để đối đầu với 16 sư đoàn Bắc Việt và 3 sư đoàn Việt Cộng với hàng ngàn xe tăng, đại pháo và tấn công từ hai ngả vào Saigon. Nhưng dù ở trong tình thế tuyệt vọng như vậy, tướng Phát và những người đầu hàng. Họ vẫn phải chiến đấu đến cùng! (Cần phải nói rằng các đơn vị lớn Thủy Quân Lục Chiến cực kỳ anh dũng và đã bị tan rã gần hết trước ngày 30 tháng, ở vùng Một và vùng Hai, và trong những trận rút bỏ khác.) Những người lính chiến đấu này không có…radio! Họ không cần biết rằng quân Cộng Sản đang thắng thế. Họ không cần biết tổng thống tạm thời Dương Văn Minh đang sửa soạn đầu hàng, dâng miền Nam cho Cộng Sản. Họ không cần biết rằng tình hình đã hoàn toàn tuyệt vọng, không còn một chút hi vọng ngăn chân quân đội Bắc Việt. Họ chỉ biết chiến đấu chống Cộng và tiêu diệt quân Cộng sản, và hình như họ chưa bao giờ có tư tưởng bỏ chạy hay đầu hàng! Họ hờm súng đợi quân thù Cộng Sản và sẵn sàng nhả đạn. Các xe tăng Cộng Sản hứng những loạt đạn đầu tiên và bất ngờ. Trong thành phố đang hỗn loạn tinh thần, tiếng đạn nổ như mưa bão xen lẫn với tiếng súng lớn, đã làm cho sự hỗn loạn gia tăng. Trong thời gian thật ngắn khoảng hơn 1 giờ đồng hồ, 17 xe tăng Cộng sản bị trúng đạn cháy đen nằm rải rác từ Ngả tư Bảy Hiền đến cổng trại Phi Long và đến đường Cách Mạng… Pháo tháp xe tăng T-55 bằng thép dầy 12inches (30 phân tây) bị bắn thủng như bằng…bột, chứ không phải bằng thép! Lỗ đạn không lớn lắm. Hình như vào giờ chót người Mỹ viện trợ cho một loại súng bắn xe tăng đặc biệt, loại 106 ly (?), để bắn xe tăng. Đạn xuyên phá qua thép dầy nhất và lực cản của thép đã làm cho nhiệt độ gia tăng tới gần 3000 độ C, nướng chín quân lính Cộng Sản ở trong xe tăng.



UserPostedImage




Cánh quân Cộng Sản từ Long Khánh kéo về Saigon qua Hàng Xanh, Thị Nghè bọc xuống trước Sở Thú để tiến vào dinh Độc Lập thì bị quân Nhẩy Dù án ngữ. Quân Nhẩy Dù bị dồn về bảo vệ vòng đai Saigon. Họ không còn việc gì khác hơn là chiến đấu đến cùng từ đường vòng đai xa lộ Đại Hàn đến ngã tư Hàng Sanh về đến đại lộ Thống Nhất, nhà thờ Đức Bà. Hầu như những cánh quân Cộng Sản đầu tiên tiến vào Saigon theo ngả này đều bị Nhảy Dù tiêu tiệt hết. Tổng cộng trong khoảng từ 7 giờ sáng đến 10 giờ 15 ngày 30 tháng 4, khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, hơn 20,000 quân Bắc Việt, 32 xe tăng và gần 30 quân xa (Molotova) chở đầy lính Cộng Sản bị bắn cháy, chết hết, trong phạm vi thành phố Saigon. Tất cả hai cánh quân Việt cộng đều khựng lại.

Bộ chỉ huy Cộng Sản cuống cuồng vội giục Dương Văn Minh phải đích thân ra lệnh cho tướng Lâm Văn Phát, thiếu tá Tài để ra lệnh cho Biệt Cách Dù và quân Nhảy Dù ngưng chiến đấu. Tất cả những người lính chiến đấu can trường nhất của VNCH lúc đó mới hiểu rằng miền Nam đã bị kẹt vào cái thế phải thua. Họ ném bỏ súng đạn trút bỏ quần áo trận và lẫn lộn vào dân chúng, tìm đường về nhà.

Một câu chuyện khác do tướng Lâm Văn Phát kể lại là sau khi Dương Văn Minh điện thoại cho ông phải ra lệnh ngưng bắn thì ông xuống dưới nhà. Dưới chân cầu thang, một người Quân Cảnh đã đứng nghiêm chào ông và nói: “Vĩnh biệt thiếu tướng”, rồi rút súng bắn vào đầu tự tử. Khi vị tư lệnh cuối cùng của Biệt Khu Thủ Đô đến Tổng Tham Mưu thì thấy chung quanh cột cờ lớn có khoảng hơn 300 binh sĩ Biệt Cách và sĩ quan chỉ huy họ đang đứng thành vòng tròn và hờm súng vào… lưng nhau, sẵn sàng nhả đạn tự tử tập thể. Tướng Phát phải nói với họ trong nước mắt rằng quân đội VNCH đứng vững cho đến giờ chót là nhờ tinh thần kỷ luật. Vậy lúc này đã có lệnh buông súng thì anh em ai về nhà nấy mà lo cho gia đình. Tự tử không có ích lợi gì cho mình cả. Các quân nhân nghe lời, chỉ có một vài sĩ quan trẻ tuổi đã tự tử. Đến 1 giờ trưa, tướng Phát bàn giao Biệt Khu Thủ Đô cho tướng Việt Cộng Ba Hồng. Sau đó tướng Ba Hồng mời tướng Phát đến Tổng Tham Mưu. Tại đây, khoảng 500 chiến xa T. 55 của Cộng quân nằm kín chung quanh cột cờ. Đáng lẽ những chiến xa này đã đi thẳng sang Tây Ninh theo đườngvòng đai Saigon. Nhưng sự đầu hàng của Dương Văn Minh đã thay đổi hết kế hoạch tiến đánh Thái Lan của Cộng Sản (tướng Lâm Văn Phát đã từ trần trong tuổi già tại Santa Ana, California ngày 30 tháng 10, 1998)

Nhưng hai trận đánh trên đây cũng chưa phải là trận đánh cuối cùng trong ngày 30 tháng 4. Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu đã chiến đấu mãnh liệt từ trong khuôn viên trường cho đến khoảng 2 giờ trưa. Lúc này, Cộng Sản đã cầm chắc cái thắng trong tay nên chúng không muốn chết thêm nữa. Chúng ngưng bắn và điều đình với các em. Các em đòi chúng phải ngưng bắn và rút ra xa để các em tự giải tán. Khoảng ba giờ chiều, các em hát bài quốc ca, làm lễ hạ cờ. Xong rồi bỏ đồng phục, mặc quần áo thường và từ từ ra khỏi trại, nước mắt ràn rụa trên má…

3/ Tài liệu: báo Wall Street Journal số ngày 2 tháng 5 năm 1975, bài bình luận của ký giả Peter Kahn, từng đoạt giải Pulitzer, có tựa đề “Truy Điệu Nam Việt Nam” “…Nam Việt Nam đã chống cự hữu hiệu trong 25 năm, và họ đã không phải luôn luôn được người Mỹ giúp. Tôi nghĩ ít có xã hội nào bền bỉ chịu đựng được một cuộc chiến đấu lâu dài như vậy… Quân lực VNCH đã chiến đấu can đảm và vững mạnh trong một số trận đánh mà chúng ta còn nhớ, thí dụ như trận An Lộc. Quân đội ấy đã chiến đấu giỏi và can đảm ở nhiều trận đánh khác mà chúng ta không còn nhớ địa danh. Quân lực ấy đã can đảm và chiến đấu trong hàng ngàn trận đánh nhỏ, và giữ vững hàng ngàn tiền đồn hẻo lánh ở những nơi mà cái tên nghe rất xa lạ với người Mỹ. Hàng trăm ngàn người của quân lực ấy đã tử trận. Hơn nửa triệu người của quân lực ấy đã bị thương. Và trong những tuần lễ chót, khi mà người Mỹ nào cũng biết là cuộc chiến đấu đã thua rồi thì vẫn còn những đơn vị của quân lực ấy tiếp tục chiến đấu, thí dụ tại Xuân Lộc. Nhờ có những sự chiến đấu ấy mà người Mỹ và một số người Việt lựa chọn mới an toàn thoát đi được. Rốt cuộc, quân lực ấy đã tài giỏi hơn sự ước lượng của người ta. Phía mạnh hơn chưa chắc đã là phía tốt hơn

4/ Tài liệu của ký giả người Pháp Jean Larteguy, đã chứng kiến những giờ phút cuối cùng ở Saigon ngày 29 và 30 tháng 4-75. Thứ Hai 28/4/75 Saigon sáng nay yên tĩnh. Các đơn vị của một lữ đoàn Dù chiếm đóng vị trí của họ trong thành phố, sau bức tường, trong những khu vườn. Họ không buồn rầu và không tuyệt vọng. Họ điều động như thể đang dự một một thao dượt. Đôi lúc họ còn cười với nhau và liệng cho nhau những chai Coca Cola. Họ không nuôi một ảo tưởng về số phận của họ, về kết quả của trận đánh tối hậu này. Nhưng tôi có cảm tưởng là họ nhất định chiến đấu tới cùng, và sẽ tự chôn mình trong những đổ nát của Saigon. “Và những binh sĩ tuyệt vời này vẫn còn có được các cấp chỉ huy ở bên họ. Một trong các cấp ấy là một đại tá. Tôi hỏi ông ta xem tình hình ra sao? Ông trả lời: “Chúng tôi sẽ chiến đấu, và chúng tôi sẽ là những người lính cuối cùng chiến đấu. Hãy nói cho mọi người biết rằng chúng tôi chết không phải vì Thiệu, vì Hương hay vì Minh.”



UserPostedImage




Sau khi Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng. Larteguy lại được chứng kiến tận mắt trận đánh cuối cùng của các đơn vị VNCH tại Saigon, và ghi lại như sau: “Gần Lăng Cha Cả, quân Dù đánh trận chót. Họ chiến đấu tới 11 giờ 30 trưa, cho tới khi các cấp chỉ huy của họ từ dinh Tổng Thống trở về sau cuộc gặp gỡ bi thảm với tướng Minh. Các sĩ quan này khuyên họ nên ngưng chiến đấu. Họ vừa hạ được 5 xe tăng T-54. Những xe ấy còn đang cháy ngùn ngụt. Một chiếc nổ tung vì đạn trong xe. Quân Dù không để lại trên trận địa một thứ gì, dầu là vũ khí, đồ trang bị, người bị thương hoặc người chết.” Larteguy cũng được thấy tận mắt các sinh viên trường Võ Bị Đà Lạt, lực lượng trừ bị chót của QLVNCH, tiến ra trận địa. “…Và trong những bộ đồng phục mới, giầy chùi xi bóng láng, các sinh viên anh dũng của Trường Võ Bị Đà Lạt đã đi vào chỗ chết. Họ ra đi thật hào hùng, đi như diễn binh, chỉ thiếu có cái mũ diễn hành và đôi bao tay trắng.

Một đồng nghiệp của Larteguy là Raoul Coutard đã thu được cảnh xuất quân bi tráng ngay vào máy quay phim và cố nén xúc động để hỏi các sinh viên sĩ quan:
“- Các anh có biết là sắp bị giết chết không?
Một thiếu úy trả lời:
- “Chúng tôi biết chứ!
- Vì sao?
- Tại vì chúng tôi không chấp nhận Chủ Nghĩa Cộng Sản!

…Các xe tăng đầu tiên của Cộng Sản vào Saigon từ phía đông, qua tỉnh lộ Thủ Đức và Biên Hòa…

Bộ Binh thì tiến từ phía Bến Cát và Tây Ninh. Tuy vậy, bọn này chỉ tới được trung tâm Saigon vào lúc 5 giờ chiều. Từ ngày hôm trước các đơn vị cộng quân này đã bị chận tại gần Hóc Môn, gần nơi có Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù do Lữ Đoàn 4 của Sư Đoàn Dù trấn giữ dưới sự chỉ huy của đại tá Vinh, sĩ quan to con, mặt phong trần, nhất định bất chấp lệnh ngưng bắn. Các đơn vị Cộng quân bị thiệt hại nhiều. Sau đó chúng còn phải giao tranh 2 lần trên đường phố Saigon. Một lần trước trụ sở Cảnh sát Công Lộ, nơi đây chừng 100 cảnh sát viên chiến đấu oanh liệt trong hơn một giờ, trước khi bị xe tăng Cộng Sản đề bẹp. Lần thứ hai ở ngã tư Hồng Thập Tự và Lê Văn Duyệt, là nơi chỉ có 4 người lính Dù võ trang đại liên và Bazzoka mà chiến đấu được trong 50 phút. Đến khi hết đạn, họ đi ra ngoài, nắm vai nhau, lập thành vòng tròn rồi cho nổ một tràng lựu đạn tự sát. “Đến chiều tối 400 chiến sĩ Mũ Đỏ (Dù) được gom từ trận Hốc Môn và từ phi trường, tụ lại quanh đại tá Vinh, và còn chiến đấu gần chợ chính và các nơi có ruộng lúa của tỉnh Chợ Lớn. Đến 10 giờ đêm, đại tá Vinh cho lệnh các binh sĩ chia thành toán nhỏ, lợi dụng bóng đem để rút về đồng bằng…”

Darcourt cho biết đại tá Vinh đã ở lại vị trí và tự sát.


thanks 1 user thanked wild grass for this useful post.
NNT on 4/22/2019(UTC)
wild grass  
#149 Posted : Friday, April 26, 2019 1:30:20 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)


Quốc Hận 30-4-1975:
Viết về Người Lính Bất Hạnh VNCH

Mường Giang




Hai mươi năm chinh chiến, QLVNCH đã có 250.000 người gục ngã trước đạn thù và nửa triệu thương binh chịu đời bất hạnh vì một phần cơ thể đã gửi lại sa trường. Tuy nay chính phủ cũng như QLVNCH không còn nữa, nhưng trong tâm tư của mọi người được sống sót qua cuộc đổi đời mạt kiếp, thì lý tưởng và danh dự của Người Lính càng được sáng tỏ, trong niềm hãnh diện chung của quân-dân Miền Nam.


UserPostedImage




Lịch sử của một quốc gia là những gì trung thực, mà người dân của nước đó đã ghi chép không hề thêm bớt. Nhờ vậy ta mới biết được về cuộc nội chiến của Hoa Kỳ xảy ra từ năm 1861-1865, cùng với thái độ của dân chúng và chính quyền nước Mỹ tại Miền Bắc là kẻ thắng trận, đã không hề lên án, bỏ tù hay trả thù những người Miền Nam bại trận. Ðã vậy, Hoa Kỳ còn ghi ơn tất cả những chiến sĩ của hai miền vừa nằm xuống trong cuộc chiến, vì lý tưởng riêng của họ.

Thế Chiến 2 kết thúc, Tòa Án Quốc Tế Nuremburg chỉ kết tội những đầu sỏ trong phe Trục mà không hề bắt bớ hay gây khó khăn cho quân nhân các nước Ðức-Ý-Nhật… Năm 1920, lãnh tụ kháng chiến quân Libya là Tướng Mukhta bị người Ý bắt và tử hình, nhưng chính tổng tư lệnh Ý tại Bắc Phi là người đã ở lại pháp trường để lo lắng hậu sự cho vị anh hùng dân tộc Libya, vốn là kẻ thù của người Ý lúc đó.

Tại VN, khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền tây Nam Phần năm 1867, sau đó là thành Hà Nội năm 1873. Các tướng lãnh thủ thành đương thời là Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu.. đã oanh liệt tử tiết theo thành mất và được kẻ thù là người Pháp tôn kính mặc niệm như chính các tướng lãnh của họ. Sau rốt là số phận của 500.000 quân nhân Mỹ đã tham chiến tại VN, trong số này hơn 50.000 người tử trận. Ngày nay các chiến sĩ trên đã được quốc dân Hoa Kỳ trả lại công lý và danh dự, để họ hiên ngang ưỡn ngực, cũng như an giấc nghìn thu bên cạnh ông cha, một đời liệt sĩ. Tất cả đã chết cho lý tưởng quốc gia, sống vinh quang và yên nghỉ trong danh dự.


Người lính VNCH trong suốt hai mươi năm binh lửa cũng vậy, đã phơi gan trải mật để bảo vệ cho đất nước và mạng sống của đồng bào, bị Cộng Sản quốc tế Bắc Việt xâm lăng giết hại. Tóm lại gần hết cuộc chiến, ở đâu có Cộng Sản khủng bố cướp bóc giết hại dân lành, là ở đó có sự hiện diện của người lính miền Nam. Ở đâu có bóng cờ vàng ba sọc đỏ, là ở đó người dân trong vùng chiến nạn, tìm đủ mọi cách trốn thoát sự kềm kẹp của giặc cộng, để trở về vùng quốc gia nhờ che chở đùm bọc. Ai có làm lính tác chiến hay người cán bộ áo đen Bình Ðịnh Nông Thôn, Cán Bộ Xã Hội.. mới biết được thế nào là nổi thống khổ, trên đe dưới búa, cá nằm giữa dao thớt, người dân tay không hứng hai lằn đạn bạn thù, của người VN trong thời ly loạn. Có là người dân bị kẹt trong vùng xôi đậu, lửa khói bom đạn, mới thấu hiểu đời người lính gian khổ chết chóc muôn trùng. Có là người dân quèn, nghèo sống đời cay cực, mới thương xót cho “ cảnh ba đồng, ba cộc “ của kiếp lính Miền Nam.



UserPostedImage




Nhức nhối và mai mĩa nhất, đó là hiện tượng ‘thuyền nhân tị nạn‘ sau ngày 30-4-1975. Ngoài tuyệt đại đa số nạn nhân đích thực của CSQT, trong số này không thiếu mặt “ những tên tuổi lớn “ một thời chạy theo VC đâm sau lưng người lính, những nhà văn, nhà báo, cha cố.. kể cả thành phần suốt đời chỉ biết sống ký sinh vào xã hội.. cũng lợi dụng “danh nghĩa người lính” để được tị nạn chính trị. Ứa gan hơn là những tên VC trà trộn trong hàng ngũ những người vượt biên, vượt biển, sau khi tới được bờ đất hứa, chúng trở mặt ngay, để lộ diện thành công an, cán bộ, đảng viên như ngày nào.. để nạt nộ, hăm dọa đồng hương, qua cái đòn “ nếu theo Ngụy”, sẽ không được về VN để thăm nhà, như đã thấy tới độ mù mắt khắp nơi tại hải ngoại.

Trong nổi chịu đựng hy sinh âm thầm nhưng thảm nhất là người lính đã không bao giờ được một lời an ủi tử tế của hậu phương, để yên tâm tiếp tục cầm súng giết giặc bảo vệ cho người dân. Trái lại họ còn bị muôn ngàn bất hạnh đeo đuổi suốt cuộc chiến. Thật vậy, khi cầm súng thì cô đơn, nửa đường bị hậu phương, đồng minh và lãnh đạo phản bội bán đứng. Ngày trở về thì bị giặc trả thù đầy đoạ, rồi chết thầm trong đói nghèo tủi nhục.

Tiếp tay với những tâm hồn thác loạn, ăn cơm quốc gia thờ ma cọng sản, là bọn báo chí quốc tế bất tài, a dua, xu thời. Nhờ vậy mà cọng sản Bắc Việt, mới có cơ hội tung hoành một mình một cõi, thao túng vẽ vời huyền thoại, bóp mép lịch sử, để đầu độc các thế hệ VN đang sống trong sự kềm kẹp của chế độ bạo tàn, độc đảng. Nhưng rồi gieo gió thì phải gặt bảo, chính sự khoắc lác dại khờ trên, đã đưa toàn bộ đảng cọng sản VN chìm trong cái vũng bùn ô nhục, khi bí mật lịch sử lần lượt được mọi phe phái bật mí và hồi tưởng.


Câu chuyện tướng Nguyễn Ngọc Loan trong trận Tết Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn,vì không thể chịu nổi hành động dã man, đẩy các trẻ em trong xóm ra làm lá chắn đở đạn cho đồng bọn tẩu thoát. Vì quá tức giận không kềm chế được, nên tướng Loan đã rút súng Rouleau ngắn nòng, bắn chết tên VC chỉ huy là Bảy Lốp, tại ngả ba Vườn Lài (góc đường Vạn Hạnh, Minh Mạng và Vĩnh Viễn), trước mặt phóng viên Mỹ là Eddie Asams, nên đã chụp được tấm hình này, đem bán rao khắp thế giới và nhận được giải thưởng quốc tế.

Sau ngày 30-4-1975 Tướng Loan tới tị nạn tại Hoa Kỳ, đã bị bọn phản chiến cùng với giới truyền thông Mỹ làm lớn chuyện. Thậm chí có Elizabeth Holtzman (nữ dân biểu DC bang New York) và Dân biểu Harold Sawyer (CH bang Michigan), đã kiện cáo, đòi Chính phủ Mỹ trục xuất tướng Loan ra khỏi Hoa Kỳ, vì tội vi phạm nhân quyền nhưng bị thất bại .

Trước và sau ngày tướng Loan từ trần 14-7-1998, người phóng viên chụp tấm hình năm xưa Eddic Adams, đã viết một bài báo xin lỗi tướng Loan vì sự ray rứt hối hận của mình, trong đó có đoạn “ Ông đã làm công việc của ông, còn tôi làm bổn phận của tôi “. Ngày tướng Loan qua đời, Eddic lại viết thêm môt bài báo khác đăng trên tờ Times, đồng thời gới tới một vòng hoa phúng điếu, trên đó có đính một danh thiếp viết tay “ General, I ‘am so,so,so.. sorry “. Bao nhiêu đó, chắc cũng đủ làm nhức óc những tên “ sống nhờ người tị nạn “ nhưng lúc nào cũng viết lách, làm báo ca tụng VC.


Ðau đớn nhất là trận Hạ Lào 1971, cho dù các đơn vị đã tham chiến như SD Dù, TQLC, Sư Ðoàn 1 BB, Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ và Liên Ðoàn 1 BDQ có bị tổn thất nặng nề. Nhưng cuối cùng QLVNCH cũng đã đạt được mục đích của cuộc hành quân, là phá hủy gần như toàn bộ các cơ sở hậu cần, tiếp liệu tại các mật khu, binh trạm tại đây. Lúc đó, chỉ có Ðại Úy Trương Duy Hy, pháo đội trưởng PDC/44, tham dự cuộc hành quân, tại căn cứ Hỏa lực 30, là tác giả quyển Hồi ký “ Tử thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30, Hạ Lào “ là viết sự thật. Ngoài ra tất cả bọn phóng viên Mỹ&Tây phương đều ở Khe Sanh, hằng ngày nhìn cảnh máy bay tải thương xác lính và thương binh về tới tắp. Từ đó chụp hình, diễn dịch rồi gửi về nước, nói là QLVNCH đã thảm bại tại Hạ Lào, giống như hồi Tết Mậu Thân (1968).



UserPostedImage




Riêng làng báo Sài Gòn cũng vậy, vì không có ai vào tận chiến trường để chứng kiện sự thật, nên chỉ đành “chôm chĩa tin từ báo Mỹ“ rồi “Mao Tôn Cương thành trận đánh cuối cùng không có đại bàng “ rằng “ VC đâu có quân số đông đảo để đánh QLVNCH, mà chỉ sử sụng hỏa pháo. Ở đây làm gì có kho tàng như tình báo đã báo cáo láo”. Tóm lại theo họ thì QLVNCH vì sợ hỏa lực của VC nên bỏ chạy. Có đọc những tin tức của báo chí Sài Gòn lúc đó, mới thấy máu của người Lính Miền Nam đã đổ suốt cuộc chiến để bảo vệ cho “đám này“, thật là uổng phí và tội nghiệp cho những kẻ đã nằm xuống truớc ngày 30-4-1975.

Nhưng người lính VNCH từ trước tới nay chỉ biết có cầm súng để chiến đấu giữ nước và bảo vệ sinh mạng cho người khác, chứ không quen viết lịch sử để ca tụng một chiều. Cho nên nếu có được một tiếng cảm ơn hay sự hồi phục danh dự, thì đó cũng chỉ là sự phản tỉnh của thế giới tự do khi đã biết được sự thật cùng ý nghĩa của cuộc chiến mà người Miền Nam phải bán mạng để chống ngăn giặc Bắc xâm lăng tới giờ phút cuối cùng. Ngoài ra còn có sự tưởng tiếc muộn màng của đồng bào hậu phương, đối với người chiến sĩ VNCH, khi chính bản thân và gia đình người dân qua cuộc đổi đời, cũng đã trở thành nạn nhân tận tuyệt, của một chế độ bạo tàn, của những con người không có nhân tính, mà hôm qua chính người dân coi như thần thành, nên đã công khai giúp và theo chúng, đâm sau lưng đồng đội, đồng bào mình.

Trong lúc đất nước đang lâm nguy vì giặc xâm lăng phương Bắc, trong lúc gần hết thanh niên nam nữ thuộc mọi tầng lớp của xã hội miền Nam, không phân biệt sang hèn, kinh thượng, bỏ nhà, bỏ lớp, bỏ hết tương lai của tuổi trẻ và đời người để lên đường ra biên cương chống giặc thù. Giữa lúc đất nước lầm than, muôn người khốn khổ vì chiến tranh do Hồ Chí Minh và cọng sản mang từ Liên Xô-Trung Cộng vào để dầy xéo non sông tổ quốc, thì tại hậu phương Miền Nam có một số người tự nhận mình là trí thức, giáo sư, tu sĩ, hầu hết đều đang độ xuân thì, mập mạnh nhưng lại tìm cách đứng bên lề cuộc chiến bằng đủ mọi lý do để được hoãn dịch, trốn nghĩa vụ làm trai trong thời tao loạn. Nếu vì sợ chết mà trốn đi lính, thì cũng còn có thể tha thứ nhưng những hạng người này, không bao giờ chịu để yên cho đồng bào và đất nước mình đang trăn trở trong cơn đau bom đạn, hận thù, đói nghèo và ly biệt. Họ hoàn toàn không thông cảm cho ai hết, ngoài cái lý tưởng đã thu lượm được, qua sách báo tây phương phản chiến và các kinh điển nhật tụng của thiên đàng xã hội chủ nghĩa, trong lúc được sống ở hậu phương, thừa mứa vật chất, đàn bà và thời gian để đâm thọt, phá hoại những người đang liều mạng xã thân bảo vệ mạng sống thừa thải ký sinh của mình.


Ngày nay ai cũng biết, cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1955-1975) rất đa dạng, phức tạp, khó có thể định nghĩa cho trọn vẹn. Nói chung tùy theo lý tưởng, ai muốn gọi thế nào cũng đều có ý nghĩa riêng với người trong cuộc. Cho nên với người Miền Nam VN, thì đây là một cuộc chiến đấu chống xâm lăng. Cuộc chiến này hoàn toàn khác biệt với cuộc phân tranh của hai họ Trịnh Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, lúc đó chỉ là cuộc tương tàn nồi da xáo thịt để tranh giành quyền lãnh đạo của đất nước. Trái lại cuộc chiến lần này, người Miền Nam chiến đấu, vừa để tự vệ, vừa bảo vệ phân nửa mảnh đất VN, để khỏi bị Bắc Việt nhuộm đỏ bằng chủ thuyết cọng sản. Nhưng với bọn trí thức thiên tả, phản chiến nằm vùng lúc đó, lại trắng trợn phỉ báng, gọi QLVNCH là lính đánh thuê cho Mỹ.


Chính bọn trí thức thiên tả này đã lợi dụng quyền tự do báo chí ngôn luận của VNCH, để viết lách, bôi nhọ, xuyên tạc, tuyên truyền phá nát hậu phương, đâm sau lưng chiến sĩ tiền tuyến, đang liều chết để bảo vệ đồng bào, trong đó có cả sinh mạng ký sinh của chúng.


Cuối cùng, VNCH đã sụp đổ, kéo theo sự mất mát toàn diện mà người Việt quốc gia đã tốn xương máu xây dựng. Người chạy thoát ra nước ngoài tuy không bị đau đớn thể xác nhưng tinh thần và sự dằn vặt, cũng đã làm cho họ điên đảo suốt quảng đời lưu vong nơi xứ người. Tội nghiệp nhất, cũng vẫn là Lính phải còng lưng cúi đầu gánh chịu những thảm tuyệt của kẻ thù man rợ, những điều mà chắc chắn thế giới tự do không hề nghĩ tới, vậy mà vẫn tới trong địa ngục trần gian của các nước Cộng Sản, trong đó có CSVN.



UserPostedImage




Ngoại trừ một số rất ít khôn ngoan hay có thân nhân VC bảo lãnh, hầu hết các cấp Quân, Công, Cán, Cảnh của Nam VN đều chịu sự hành hạ nơi chốn lao tù. Chúng bắt tất cả Sĩ quan và cán bộ, công chức, cảnh sát VNCH vào tù, qua cái gọi là “ Trại Cải Tạo “ để đánh lừa thế giới, về sự dã man tàn ác đối với tù nhân chiến tranh, trái với công pháp quốc tế đã qui định. Hầu hết các trại tù đều lập ở Miền Bắc và Bắc Trung Phần, phía bên kia vĩ tuyến 17. Tại Miền Nam, trại tù nằm trong rừng núi cheo leo, ma thiêng nước độc, để lao động khổ sai, chết dần mòn vì sự hành hạ của quản giáo và nổi cực khổ, đói lạnh nhưng ăn uống thì thiếu thốn với khẩu phần hằng ngày, chỉ lưng chén cơm gạo xấu, trộn với khoai bắp, còn những người bị biệt giam thì đói khát vì phần ăn phát rất ít. Nói chung là không còn bút mực nào để kể cho hết nổi hận hờn tủi nhục của người tù dưới chế độ CS. Ðói quá nên người tù phải ăn tất cả những gì có trước mặt như rắn, rít, ếch nhái, chuột, trùn đất, cào cào.. kể cả cỏ chai và cỏ diệu, thay cơm để đủ sức chống chọi với tử thần, lúc nào cũng như chực chờ sẳn bên cạnh :


Ngày hành xác giữa núi rừng hoang vắng,
đêm ôm đầu thương tiếc chuyện ngày xưa
bạn bè đến đây càng lúc càng thưa
thằng nằm xuống, thằng đày sang trại khác
thằng chống lại thì xác thân tan nát
thằng bệnh đau thân xác cũng không còn
đem xác người đi phá núi dời non
đem mạng sống để gở mìn tháo đạn
thay trời dẫn nước vào sông đã cạn
thay trâu kéo cầy phá vỡ ruộng hoang
buổi sáng gượng vui nhìn lúa trổ bông
nữa đêm khóc thầm đời lính bất hạnh
tôi đã sống qua những ngày đói lạnh
tôi đã nhét đầy tài liệu buồn nôn
kiểm điểm nghìn câu cho tốt tốt hơn
để theo đảng biến người thành khỉ vượn
“.

(thơ mường giang).


Lính sống bị trả thù đã đành, cho tới những người lính đã chết , CSQT cũng không tha, thì nói chi thành phần Thương Phế Binh, Cô Nhi Tư Sĩ của VNCH, lại càng bị đoạ đày thê thảm.Tất cả năm tháng dù nay đã đi vào quân sử nhưng sự thật vẵn còn nguyên trước mắt, với hai cảnh đời hiển hiện như một chứng tích nghìn đời không phai mờ : Ðó là địa ngục VN sau 38 năm bị giặc chiếm đóng và giá trị đích thực của QLVNCH từ 1960-1975, đã có rất nhiều cấp chỉ huy tài ba lẫn đạo đức, văn võ vẹn toàn, được đào tạo từ các quân trường nổi tiếng nhất vùng Ðông Nam Á thời đó gồm các Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, Bộ Binh Thủ Ðức, Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị, Các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và Cảnh Sát,Trường Ðại Học Quân Sự.. chứ đâu phải chỉ có những tướng tá từ thời Pháp thuộc ?!

Ngày xưa người Lính VN, chiến đấu trong vinh quang, khi trở về cũng thật hiên ngang, giữa cảnh phu phụ trùng phùng, nồng ấm kết lại mối tình xưa :

..xin vì chàng, xếp bào cởi giáp
xin vì chàng giũ lớp phong sương
vì chàng tay chuốc chén vàng
vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng..


(Chinh Phụ Ngâm Ðặng Trần Côn và Ðoàn Thị Ðiểm)


Ngày nay người chiến sĩ VNCH không có cái diễm phúc trên, vì suốt cuộc chiến hai mươi năm, ngoài mặt trận thì chống trả với kẻ thù trong nổi cô độc. Khi trở về lại bị kẻ thù đọa đầy, tù ngục và chết trong uất hận nghẹn ngào.

Thử hỏi giữa cõi đời này, có quân đội nào bất hạnh hơn QLVNCH ? Ngày nay, đã có không biết bao nhiêu người ,đang sống thản nhiên khắp các nẻo đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn sống nhờ sự bảo bọc của lính. Không biết trong tâm tư đó, có một giây phút nào do lương tâm xao động, khiến trái tim người, chợt nghĩ tới những kẻ bất hạnh đã VỊ QUỐC VONG THÂN ?



Xưa NGƯỜI LÍNH chiến đấu anh dũng trong khói lửa để bảo quốc an dân. Nay những người lính già còn sót lại sau cuộc chiến và lớp hậu duệ của lính năm nào, cũng đã và đang tiếp tục tranh đấu không ngừng, cho một ngày về QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG được sống thật với tự do và no ấm, như chúng ta hiện nay đang hưởng tại quê người.



...tội nghiệp, đời trai chưa thỏa chí
sa trường dung ruổi đã phơi thây
đoàn quân hùng liệt nay về đất
hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy
chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
mà khóc quê hương khuất bến bờ
nhớ lúc hát rừng nơi chiến địa
mộng hoàng hoa, khép giữa hư vô
'

(thơ Mường Giang)



Xin nghiêng mình trước đồng đội đồng bào đã hy sinh vì đại nghĩa Dân Tộc Việt. Cũng xin chân thành biết ơn Quý Ân nhân đồng hương khắp mọi nẻo đường viễn xứ, đã và đang hướng về những người lính cũ ngày xưa, giờ họ là Quả phụ, cô nhi và thương phế binh VNCH. đang kẹt ở quê nhà.

wild grass  
#150 Posted : Monday, April 29, 2019 1:55:46 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)



Trận chiến oai hùng và đẹp nhất trong cuộc chiến tranh bảo vệ tự do
của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa

Trần Đoan Hùng




1. Nhân sự kiện 40 năm “khép lại” cuộc chiến:

Trong những ngày nầy, những ngày kỷ niệm 40 năm biến cố khép lại cuộc huynh đệ tương tàn khốc liệt và đau thương nhất trong lịch sử Việt Nam: biến cố 30.4.1975, rất nhiều ký ức về cuộc chiến có dịp được phơi bày, tường thuật.

Bên thắng cuộc” thì khắp nơi tưng bừng mừng “kỷ niệm chiến thắng” bằng tuyên truyền rầm rộ và hoành tráng với tầng suất và đầu tư cao nhất. Trong khi “bên thua cuộc” thì đó đây vẫn tổ chức hồi niệm ngày “quốc hận” trong bầu khí của trầm mặc mang dấu ấn tiếc nhớ và ngậm ngùi.


Và cũng trong những ngày nầy, trên các phương tiện truyền thông gần như ngập tràn các tư liệu liên quan đến cuộc chiến tranh, cho dù đã 40 năm trôi vào dĩ vãng, nhưng những vết thương của cuộc tương tàn nồi da xáo thịt (mà các tài liệu nầy gợi nhớ) vẫn nhức nhối trong tâm hồn của hàng triệu con dân Việt Nam.

Bằng chủ trương và đường lối tuyên truyền cố hữu của hệ thống chính trị độc tài, độc đảng, chính quyền cộng sản Việt nam cố sức trình bày những chiến tích lừng danh của quân đội nhân dân miền Bắc qua toàn bộ hệ thống báo đài lề phải đang nắm trong tay. Và dĩ nhiên, đó chỉ là “sự thật cộng sản”, một sự thật mà chính một lãnh tụ tầm cở của đế quốc cọng sản Liên Sô - Tổng Bí Thư Mikhail Gorbachev: đã phải thốt lên: “Tôi đã bỏ nửa đời người phục vụ lý tưởng CS, nay tôi đau buồn nói rằng CS chỉ tuyên truyên Dối Trá và Bịp Bợm.”

Nói như thế, không phải hoàn toàn phủ nhận những chiến thắng mà quân đội cụ Hồ đã đạt được trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn mà họ “treo cái đầu dê” bằng những mỹ từ “giải phóng miền Nam khỏi ách xâm lược Mỹ”. Thôi thì cứ để cho “bên thắng cuộc” thoải mái tụng kinh bài ca chiến thắng vĩ đại vì họ đã trả giá quá đắt: hơn 3 triệu người chấp nhận “sinh Bắc tử Nam” kia mà!


Ở đây, trong bài nhận định giản đơn và khiêm tốn nầy, chỉ xin được góp một chút hương thơm để kính nhớ hương hồn các anh linh tử sĩ của quân đội Việt Nam Cọng Hòa đã hy sinh chiến đấu miệt mài suốt 20 năm để giữ gìn Đất Mẹ từ bờ sống Bến Hải cho đến mũi Cà Mau, cùng những vùng biến đảo xa xôi Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Sơn, Phú Quốc.


2. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa và giá trị chiến đấu


Trong đoạn kết của bài viết “CHÂN DUNG NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA” tác giả Sơn Tùng đã phần nào cay đắng thốt lên:


Cuộc chơi rõ rệt không công bằng, nhưng nguời lính Việt Nam Cộng Hòa vẫn miệt mài chiến đấu và hy sinh. Cho đến khi hoàn toàn bị trói taỵ Cuộc chơi tàn. Nhưng người lành lặn bị lùa vào các trại cải tạọ. Đui, què, mẻ sứt...không còn được ai nhắc tới, biết tớị những người chết không yên, mồ mả bị đào xới lăng nhục.

Bốn mươi cái 30/4 đã trôi qua, hào quang của những kẻ đã “chiến thắng” nhờ sức mạnh súng đạn ngoại bang đã tắt lịm trong cái xã hội cực kỳ thối nát. Bao giờ lương tâm mới thức tỉnh trong những con người vẫn còn muốn ném bùn vào nét chân dung của người lính Việt Nam Cộng Hòa?”

Nhưng lịch sử vẫn luôn công bằng. Những giá trị đích thực cho dù có bị vùi dập, loại trừ, chà đạp…thì rồi vẫn đến lúc được khám phá, trưng bày, đón nhận.

Chính tác giả Sơn Tùng trong bài viết trên, đã trích dẫn những tường thuật và nhận định của những nhà báo, phóng viên mang lập trường thiên cọng, bênh vực cho cuộc chiến tranh của Hà Nội, nhưng khi chứng kiến những trận đánh cuối cùng của Quân Đội Việt nam Cộng Hòa đã phải thay đổi cái nhìn:

Sự hèn nhát và vô đạo ấy đã làm thức tỉnh lương tâm một số người từng góp phần cổ võ cho Cộng sản Bắc Việt xâm chiếm miền Nam: VNCH, khi họ chứng kiến những trận đánh cuối cùng của một số đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Trong số nầy có 3 nhà báo Pháp Jean Larteguy, Jean Lacouture và Pierre Darcourt. Ba nhà báo nầy đã có mặt tại miền Nam Việt Nam trong cơn hấp hối của Saigon, có lẽ chờ đợi đón mừng "bộ đội giải phóng" để chứng kiến cái chết oan nghiệt của quân đội miền Nam mà họ đã phỉ báng trong suốt bao nhiêu năm. Nhưng sau khi chiến tranh chấm dứt, họ trở về Pháp, và đã làm cho cả thế giới ngạc nhiên với những gì họ viết ra về Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.

Jean Larteguy ghi lại như sau khi tới thăm một đơn vị Dù cố thủ tại Sài Gòn:



"Thứ Hai 28/4/75.

Saigon sáng nay yên tĩnh.

Các đơn vị của một lữ đoàn Dù chiếm đóng vị trí của họ trong thành phố, sau bức tường, trong các khu vườn. Họ không buồn rầu, và không tuyệt vọng. Họ điều động như thể đang dự một cuộc thao dượt. Đôi lúc họ còn cười với nhau, và liệng cho nhau những chai Coca-Colạ Họ không nuôi một ảo tưởng về số phận của họ, về kết quả của trận đánh tối hậu nầỵ Nhưng tôi có cảm tưởng là họ nhất định chiến đấu tới cùng, và sẽ tự chôn mình trong những đổ nát của Saigon.

Và những binh sĩ tuyệt vơì nầy vẫn còn có được các cấp chỉ huy ở bên họ. Một trong các cấp ấy là một đại tá. Tôi hỏi ông ta xem tình hình ra saọ

Ông trả lời:

- Chúng tôi sẽ chiến đấu, và chúng tôi sẽ là những người chót chiến đấụ Hãy nói cho mọi người biết rằng chúng tôi chết không phải vì Thiệu, vì Hương hay vì Minh.


Sau khi Dương văn Minh đã tuyên bố đã đầu hàng. Lartéguy lại được chứng kiến tận mắt trận đánh cuối cùng của các đơn vị QDVNCH tại Saigon, và ghi lại như sau:

"Gần Lăng Cha Cả, quân Dù đánh trận chót. Họ chiến đấu tới 11 giờ 30 trưa, cho tới khi các cấp chỉ huy của họ từ Dinh Tổng Thống trở về sau cuộc gặp gỡ bi thảm với tướng Minh. Các sĩ quan nầy khuyên họ nên ngưng chiến đấụ. Họ vừa hạ được 5 xe tăng T-54. Những xe ấy còn đang cháy ngùn ngụt. Một chiếc nổ tung vì đạn trong xe

Quân Dù không để lại trên trận địa một thứ gì, dầu là vũ khí, đồ trang bị, người bị thương hoặc người chết"


Lartéguy cũng được thấy tận mắt các sinh viên Trường Võ Bị Đà Lạt, lực lượng trừ bị chót của QLVNCH, tiến ra trận địạ


"Và trong những bộ đồng phục mới, giày chùi xi bóng láng, các sinh viên anh dũng của Trường Võ Bị Đà Lạt đã đi vào chỗ chết. Chỉ còn thiếu có cái mũ diễn hành và đôi bao tay trắng".

Một đồng nghiệp của Lartéguy là Raoul Coutard đã thu được cảnh xuất quân bi tráng ngay vào máy quay phim và cố nén xúc động để hỏi các sinh viên sĩ quan:

- Các anh có biết là sắp bị giết chết không?


Một thiếu úy trả lời:

- Chúng tôi biết chứ.

- Vì sao?

- Tại vì chúng tôi không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản…..


"...Các xe tăng đầu tiên của cộng sản vào Saigon từ phía Đông, qua tỉnh lộ Thủ Đức và Biên Hòạ.. Bộ binh thì tiến từ phía Bến cát và Tây Ninh. Tuy vậy, bọn nầy chỉ tới được trung tâm Saigon vào lúc 5 giờ chiềụ .Từ ngày hôm trước, các đơn vị cộng quân nầy dã bị chặn tại gần Hốc Môn, gần nơi có Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù do Lữ Đoàn 4 của sư đoàn Dù trấn giữ, dưới sự chỉ huy của đại tá Vinh, sĩ quan to con, mặt phong trần, nhất định bất chấp lệnh ngưng bắn. Các đơn vị cộng quân bị thiệt hại nhiềụ. Sau đó, chúng còn phải giao tranh 2 lần trên đường phố Saigon: một lần trước trụ sở Cảnh Sát Công Lộ; nơi đây chừng 100 cảnh sát viên chiến đấu oanh liệt trong hơn một giờ, trước khi bị xe tăng cộng sản đè bẹp;lần thứ hai ở ngã tư Hồng Thập Tự và Lê van Duyệt, là nơi chỉ có 4 người lính dù võ trang đại liên và bazooka mà chiến đấu được trong 50 phút. Đến khi hết đạn, họ đi ra ngoài, nắm vai nhau, lập thành vòng tròn rồi cho nổ một tràng lựu đạn tự sát.

Đến chiều tốị 400 chiến sĩ Mũ Đỏ (Dù) được gom từ trận Hốc Môn và từ phi trường, tụ lại quanh đại tá Vinh, và còn chiến đấu gần chợ chính và các nơi có ruộng lúa của tỉnh Chợ Lớn. Dến 10 giờ đêm, đại tá Vinh cho lệnh các binh sĩ chia thành toán nhỏ, lợi dụng bóng đêm để rút về đồng bằng."


Darcourt cho biết đại tá Vinh đã ở lại vị trí và tự sát.


Và có lẽ nhận định sớm nhất và công bằng nhất về giá trị đích thực của Quân Đội Việt nam Cọng Hòa và cuộc chiến đấu anh dũng của họ đó là nhận định của một nhà báo Mỹ mà Sơn Tùng đã ghi lại như sau:


Hai ngày sau khi Saigon sụp đổ, Peter Kanh, nhà báo Mỹ đoạt giải Pulitzer, đã viết một bài bình luận dài trên tờ Wall Street Journal (2/5/75) tựa đề "Truy điệu Nam Việt Nam", trong đó có đoạn viết về Quân Lực VNCH như sau:


"...Nam Việt Nam đã chống cự hữu hiệu trong 25 năm, và họ đã không phải luôn luôn được người Mỹ giúp. Tôi nghĩ ít có xã hội nào bền bỉ chịu đựng được một cuộc chiến đấu lâu dài như vậỵ… Quân lực VNCH đã chiến đấu can đảm và vững mạnh trong một số trận đánh mà chúng ta còn nhớ, thí dụ như trận An Lộc Quân đội ấy đã chiến đấu giỏi và can đảm ở nhiều trận đánh khác mà chúng ta không còn nhớ địa danh. Quân lực ấy đã can đảm và chiến đấu trong hàng ngàn trận đánh nhỏ, và giữ vững hàng ngàn tiền đồn hẻo lánh ở những nơi mà cái tên nghe rất xa lạ với người Mỹ...

Hàng trăm ngàn người của quân lực ấy đã tử trận. Hơn nửa triệu người của quân lực ấy đã bị thương...Và trong những tuần lễ chót, khi mà người Mỹ nào cũng biết là cuộc chiến đấu đã thua rồi thì vẫn còn những đơn vị của quân lực ấy tiếp tục chiến đấu, thí dụ tại Xuân Lộc. Nhờ có những sự chiến đấu ấy mà người Mỹ và một số người Việt lựa chọn mới an toàn thoát đi được. Rốt cuộc, quân lực ấy đã tài giỏi hơn sự ước lượng của người ta. Phía mạnh hơn chưa chắc đã là phía tốt hơn".



3. Trận chiến oai hùng và đẹp nhất


Sau khi điểm qua những ghi nhận đó, cùng với những tư liệu chiến tranh đã và đang hiện diện trên khắp các diễn đàn quốc tế cũng như quốc nội, người viết xin được phép chọn lựa một trận chiến tiêu biểu cuối cùng như là dấu ấn oai hùng nhất, đẹp nhất trong những trận chiến lừng danh của quân đội Việt nam Cọng Hòa. Đó là trận chiến bảo vệ ngôi trường thân yêu của các chiến sĩ THIẾU SINH QUÂN, thuộc trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu vào đêm 29 và trọn ngày 30/4/1975.

Và đây là những lý do để người viết chọn lựa trận đánh nầy như là biểu tượng đẹp nhất của những trang chiến sữ nội chiến Việt nam, xứng đáng là tấm gương soi chiếu cho mọi đạo quân trên thế giới.

Sau đây là những trích dịch từ các bài viết mà một trong số đó là chính chứng từ của những thiếu sinh quân đã từng tham dự trận đánh oai hùng nầy.


Một đạo quân trong lứa tuổi học trò


Đó là cuộc chống trả của các THIẾU SINH QUÂN ở Vũng Tàu trong đêm 29 và gần trọn ngày 30-4-75, khi cộng quân xâm nhập và chiếm đóng các vị trí trọng yếu trong Thị Xã. Vũng Tàu coi như bỏ ngỏ và rơi vào tay cộng quân. Ngoại trừ một cứ điểm duy nhất còn chống cự do những thiếu niên tuổi 12, 13 .... đến 17 tự lập phòng tuyến quyết tâm tử thủ. Cứ điểm đó là trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu và những chiến sỹ gan dạ anh hùng đó là những thiếu sinh măng trẻ của trường.” [1]


Một đạo quân thắm tình đồng đội

“Trong lúc mọi người đang chìm đắm trong những suy tư riêng, tôi bỗng nghe tiếng loa phóng thanh từ trong trường vọng lại:

- Các anh Thiếu Sinh Quân lớp lớn xin trở về trường! Chúng em cần các anh lắm.

Tiếng gọi của em nhỏ Thiếu Sinh Quân vang vọng trong màn đêm, thúc bách não nuột như tiếng kêu chim chíp của gà con mất mẹ, làm cho tôi vô cùng xốn xang, bức xúc. Các em chẳng có nơi nào dung thân, chỉ còn biết trông cậy vào các anh lớn đùm bọc. Là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn lớp lớn nhất, tôi nhận ra trách nhiệm của mình. Tôi không thể ngồi yên khi nghĩ đến bạn bè và đàn em đang ở trong trường. Có thể lúc này Bắc quân đã có mặt đâu đó gần Vũng Tàu hay quanh trường, nhưng tiếng gọi loa đã khiến tôi phải đứng lên và cương quyết trở lại trường với các em. Bố Mẹ Vần lo lắng khuyên chúng tôi đổi ý. Tôi cám ơn Bố Mẹ Vần và nói trước khi cùng Thịnh phóng vào đêm tối:

- Tụi con không thể bỏ các em được!

Về đến trường, các bạn cùng liên lớp với tôi như Lâm A Sáng, Phạm Ngọc Trình, Nguyễn Văn Minh cũng đã có mặt. Tôi nhận thấy các bạn đã phá cửa kho vũ khí của trường và đang hì hục khuân vác súng đạn ra các ổ canh gác. Một toán các Thiếu Sinh Quan khác thì đang xả thịt một con bò, lui cui nấu cơm và luộc thịt. Thế là tôi vớ lấy một cái nón sắt, chụp một khẩu carbine cùng với Thịnh, cũng trang bị y hệt, lúc nào cũng kè kè bên cạnh. Hai đứa chúng tôi tự xem trách nhiệm tổ chức canh gác như nhiệm vụ được anh em giao phó.

Nhìn lên bầu trời đen thẳm với nỗi cô đơn chợt đến, chợt đi, tôi suy nghĩ lan man với một bài toán không đáp số. Vì trách nhiệm của anh lớn bảo bọc đàn em, chúng tôi sẵn sàng cho một cuộc chiến. Cuộc chiến này sẽ đi về đâu? Chúng tôi không biết. Tương quan lực lượng nghiêng lệch ra sao? Chúng tôi chẳng cần bàn. Không ai trong chúng tôi tin là mình sẽ chiến thắng, nhưng chúng tôi vẫn sẽ chiến đấu, ít nhất chúng tôi cũng phải đánh trả đích đáng những ai muốn chiếm lấy ngôi trường này, nơi dung thân cuối cùng của chúng tôi.” [2]

Một đạo quân kỷ luật, quả cảm và vững vàng kỷ năng tác chiến

Mặc VC kêu gọi và đe doạ, Thiếu Sinh Quân vẫn kiên trì tử thủ, khiêng chướng ngại vật làm lũy phòng ngự, tổ chức giao liên, tiếp tế đạn dược, nước uống và lương khô, cứu thương và cứu hoả .... Anh lớn chỉ huy các em nhỏ, áp dụng tuyệt vời những bài học quân sự và kỹ thuật tác chiến đã được giảng dậy ở quân trường.


Đúng 9:30 sáng ngày 30-4. Cộng quân ra lệnh gọi đầu hàng lần chót nhưng các chiến sỹ tí hon vẫn kiên quyết kháng cự, trả lời chúng bằng những loạt đạn dữ dội hơn.

VC nổi cơn khát máu. Chúng khai hoả, mở cuộc tấn công ào ạt mong giải quyết chiến trường nhanh chóng. Nhưng chúng phải lập tức dội ngược lại, không ngờ sức chống cự quá mãnh liệt và hoả lực từ bên trong bắn ra vô cùng chính xác vào những bia sống, những cái bia người "SINH BẮC TỬ NAM". Các em chưa bao giờ được bắn, nay đã bắn với tất cả căm thù, mong dành lại những gì sắp bị cướp mất.

Thiếu Sinh Quân có đầy đủ vũ khí cá nhân và vũ khí cộng đồng. Ngoài ra còn có lợi điểm là các công sự trong trường, vừa đánh vừa di chuyển, ẩn núp, trong khi bộ đội VC lớ ngớ như bầy chuột chù ra ngoài ánh sáng. Lại có những thanh thiếu niên và Quân Nhân vỡ ngũ bên ngoài hào hứng và kích động, tìm cách lẻn vào tăng cường tay súng, nhập cuộc cùng các Thiếu Sinh Quân chiến đấu ngay trong sân trường, đột kích, đánh bọc hậu bọn bộ đội khiến chúng nao núng và hốt hoảng.

VC đã bắn sập một khoảng tường nhưng không thể nào vượt qua được lưới đạn của các chiến sỹ nhỏ tuổi nhưng can trường. Các em đã chiến đấu thật gan dạ, nhanh nhẹn, khôn ngoan, phối hợp nhịp nhàng và KỶ LUẬT như những đơn vị tinh nhuệ, thiện chiến nhà nghề.


Đây là trận đánh thực sự đầu tiên và cũng là trận đánh cuối cùng của các em còn đang giở khoá học. Trận đánh QUYẾT TỬ đã đi vào lịch sử.


Các Thiếu Sinh Quân đã chiến đấu không nao núng dù có nhiều em ngã gục. Những đứa con bé bỏng của quê hương đã chết trong giờ phút cuối cùng của miền Nam, khi tóc còn xanh, mộng đời chưa trọn. Đồng bào chứng kiến cảnh bi thương này đã oà lên khóc. Có những bà mẹ kêu gào, lăn xả vào cản ngăn họng súng bọn bộ đội để che chở cho những thiếu niên ở bên trong.

Tiếng nổ, tiếng hò hét, tiếng kêu khóc, tiếng loa uy hiếp của Việt cộng đã tạo nên một không khí chiến trường lạ lùng chưa từng thấy .... Các Thiếu Sinh Quân chiến đấu với tất cả nhiệt tình và sinh lực của tuổi trẻ hăng say hào hứng như đang tham dự một trò chơi lớn.[3]


Một đạo quân giữ vẹn châm ngôn của Quân Đội Việt Nam Cọng Hòa:

TỔ QUỐC – DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM.


“Cuộc chống cự kéo dài đến 3:00 chiều. Cho đến khi kho đạn dược đã cạn và kho lương thực bị bốc cháy, các Thiếu Sinh Quân mới bằng lòng cho Việt cộng thương thảo. Họ đòi hỏi Việt cộng chấp nhận một giờ ngưng bắn, sau đó sẽ buông súng và mở cổng ...


Và các em đã dùng một giờ ngưng bắn để thu dọn chiến trường, săn sóc đồng đội bị thương, gói liệm thi hài những vị tiểu anh hùng đã gục ngã, và chuẩn bị làm lễ hạ kỳ. Họ KHÔNG ĐỂ CHO BỌN CS làm nhục lá cờ VÀNG BA SỌC ĐỎ, lá cờ biểu tượng thiêng liêng gói ủ hồn dân tộc mà họ đã thề nguyền PHẢI THƯƠNG YÊU và BẢO VỆ.

Có chừng hơn một Trung Đội TSQ đã tập họp trước sân cờ, đứng trang nghiêm và thành kính nhìn lên lá Quốc Kỳ còn nguyên vẹn màu tươi thắm bay phất phới trên nền mây ngọc bích. Hai TSQ lớp 12 là Nguyễn Văn Minh và Nguyễn Văn Chung bước tới, đứng nghiêm trước kỳ đài theo lễ nghi quân cách, dơ tay chào.

Họ từ từ nắm từng nấc giây, cho lá cờ hạ xuống thật chậm và từ tốn như cố kéo dài giây phút thiêng liêng cảm động này, nước mắt đầm đìa.


Tất cả Thiếu Sinh Quân từ trong các tầng lầu, từ các hố cá nhân, các giao thông hào, sau những gốc cây, bờ tường, sau những mái nhà...., không ai bảo ai, đồng loạt đứng bật dậy đồng thanh cất tiếng hát bài quốc ca.


Gần 700 giọng hát hùng tráng cát lên, vang khắp sân trường. Bọn bộ đội nghe, ngơ ngác không phản ứng. Tiếng hát phủ tràn trên tuyến địch vang đến tận bến Dâu, bến Đình............ Mọi người dân Vũng Tàu đã đều nghe và rung động. Tiếng hát bay ra biển khơi, bay lên trời cao, âm thanh lồng lộng theo gió chiều, đất trời cùng ngẩn ngơ rớm lệ theo tiếng hát.


Các Thiếu Sinh Quân đã làm lễ mai táng đất nước, đã TRANG NGHIÊM RỬA SẠCH tấm bia DANH DỰ của Quân Đội VNCH, đã vuốt mắt cho Mẹ Việt Nam yên nghỉ qua lễ hạ kỳ lần cuối chỉ một không hai này. Họ hát bằng tiếng nấc thê lương và phẫn uất từ sâu thẳm trái tim, với những nghẹn ngào cùng dàn dụa của nước mắt. Đồng bào cùng thổn thức thương tủi và thổn thức hát theo.” [4]

Trong hồi ức của những người đã từng kinh qua cuộc chiến, đặc biệt trong những ngày tháng cuối cùng của chế độ Việt Nam Cọng Hòa, nhất là hồi ức của những người lính bảo vệ tự do, thì cho dù thời điểm 30.04.75 có là ngày “chiến bại”, có là thời điểm tan hàng, mất nước…thì với trận chiến đấu anh dũng và bi hùng của đoàn quân Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu, mãi mãi sẽ là trận chiến oai hùng nhất, đẹp nhất, xứng đáng được xếp đầu tiên trên mọi trang quân sử!



[1] CUỘC CHIẾN ĐẤU BI HÙNG của Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu (tác giả Đào Vũ Anh Hùng)

[2] Trận Chiến Ðấu Bi Hùng của Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu Tháng 4 1975 (Tác giả: CTSQ Nguyễn Anh Dũng và CTSQ Lâm A Sáng. Colorado, ngày 24 tháng 10 năm 2002 (Edited by Bắc Phong Sài Gòn/ K23 Thủ đức)

[3] CUỘC CHIẾN ĐẤU BI HÙNG của Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu (tác giả Đào Vũ Anh Hùng)

[4] SĐD



wild grass  
#151 Posted : Monday, April 29, 2019 11:45:41 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)


Vì đâu ta đã phải bỏ nước, bỏ nhà ra đi trong cái chết để tìm Lẽ Sống?
Ai còn nhớ, và ai đã quên?
[/color]




UserPostedImage



UserPostedImage UserPostedImage



UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage



UserPostedImage



UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage



UserPostedImage

wild grass  
#152 Posted : Monday, May 6, 2019 10:55:33 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)


Những Vị Tướng VNCH Tuẫn Tiết Ngày 30/04/1975

Thanh Nguyên



1 - Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ


Ông sinh ngày 22 tháng 8 năm 1933, trong một gia đình có truyền thống hiếu học tại Sơn Tây. Năm 1950, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Hà Nội với văn bằng Tú tài bán phần.

Nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ một trường Võ bị Địa phương do Chính phủ Quốc gia mở ra ở Trung phần. Ra trường được điều về đơn vị Bộ binh, sau chuyển qua phục vụ đơn vị Nhảy dù một thời gian ngắn. Sau đó lại trở về Bộ binh tuần tự giữ nhiều chức vụ cho đến năm 1973, ông được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy một Sư đoàn Bộ binh (cũng là Chỉ huy cuối cùng của đơn vị này).

Năm 1955, sau khi từ Quân đội Quốc gia chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông bị thương trong chiến trận đẩy lui lực lượng Bình Xuyên ra khỏi trường trung học Petrus Ký, Sài Gòn. Đến giữa năm 1956, ông được thăng cấp Đại úy và được theo học lớp Bộ binh cao cấp.

Giữa năm 1973, ông được chuyển về Quân khu 4 giữ chức Tư lệnh phó Sư đoàn 21 Bộ binh do Chuẩn tướng Lê Văn Hưng làm Tư lệnh. Thượng tuần tháng 11 cùng năm, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh[5] thay thế Chuẩn tướng Trần Quốc Lịch được cử đi làm Chánh thanh tra Quân đoàn III và Quân khu 3. Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1974, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.

Chuẩn Tướng Vỹ nghiến răng miễn cưỡng ra lệnh cho binh sĩ treo cờ trắng trước cổng căn cứ và cho thuộc cấp giải tán. Trước khi chia tay, Chuẩn Tướng Vỹ đã mời các sĩ quan cùng ăn một bữa cơm cuối cùng với ông. Nhìn khuôn mặt trầm buồn và ánh mắt u uất của vị Tư Lệnh, các sĩ quan đoán chắc thế nào ông cũng tử tiết để bảo toàn danh dự người làm Tướng, nên họ đã khéo léo giấu hết súng. Mọi người còn đang dùng cơm thì Chuẩn Tướng Vỹ bỗng bỏ ra ngoài đi nhanh về hướng chiếc trailer dùng làm văn phòng tạm cho Tư Lệnh. Các sĩ quan kinh hoàng nghe hai tiếng nổ đanh gọn phát ra từ chiếc trailer. Mọi người hối hả chạy ùa tới mở cửa thì thấy Chuẩn Tướng Vỹ nằm trên vũng máu và người đã thực sự ra đi, trên tay còn cầm khẩu Beretta 6.35 mà mọi người không nhớ là nó còn nằm trong chiếc trailer. Chuẩn Tướng Vỹ đã bắn vào phía dưới cằm, đạn đi trổ lên đầu.

Các chiến sĩ sư đoàn chuyển thi thể vị chủ tướng ra an táng trong rừng cao su gần doanh trại Bộ Tư Lệnh. Ít lâu sau, thi thể Chuẩn Tướng Vỹ lại được thân nhân bốc lên đem về cải táng ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, Sài Gòn. Năm 1987, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Vỹ lặn lội vào Nam hỏa thiêu hài cốt của người con anh hùng và đem về thờ ở từ đường họ Lê Nguyên tại quê nhà ở tỉnh Sơn Tây.


2 - Chuẩn tướng Lê Văn Hưng.

Ông sinh ngày 27 Tháng 3 năm 1933 tại Hóc Môn, Gia Định (nay thuộc Thành phố HCM). Ông mồ côi cha từ nhỏ, ở với Mẹ và Dưỡng phụ. Thời niên thiếu, ông học ở trường Trung học Huỳnh Khương Ninh, Sài Gòn. Năm 1952, ông tốt nghiệp với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Sau đó, ông được tuyển dụng làm việc cho một Công ty người Pháp tại Sài Gòn.

Giữa năm 1954, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 53/115.100. Theo học khóa 5 Vì Dân tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khai giảng ngày 16 tháng 6 năm 1954. Ngày 1 tháng 2 năm 1955 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường ông được cử đi làm Trung đội trưởng trong Tiểu đoàn 13 Việt Nam, đồn trú tại Bình Mỹ, Châu Đốc.

Đầu tháng 11 năm 1955, sau khi nền Đệ nhất Cộng hòa ra đời và Quân đội Quốc gia được đổi tên thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông đã cùng đơn vị trực tiếp tham dự chiến dịch Đinh Tiên Hoàng bình định miền Tây do Đại tá Dương Văn Đức chỉ huy, chiến dịch chấm dứt vào tháng 12 cùng năm.

Thượng tuần tháng 6 năm 1973, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh thay thế Đại tá Chương Dzềnh Quay được cử làm Tham mưu trưởng Quân đoàn IV. Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1974, ông được lệnh bàn giao Sư đoàn 21 lại cho Đại tá Mạch Văn Trường (nguyên Chánh thanh tra của Sư đoàn), để về lại Quân đoàn IV giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân đoàn do Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam làm Tư lệnh.

8 giờ 45 phút tối ngày 30/04/1975, Chuẩn Tướng Hưng vẫn với bộ quân phục tác chiến bộ binh trở lại văn phòng Tư Lệnh Phó gặp lại vợ con nói lời vĩnh biệt và khuyên nhủ vợ gắng cắn răng sống nuôi con, dạy dỗ con nên người. Ông cũng trân trọng từ biệt các chiến hữu:

Tôi không bỏ các anh để đưa vợ con ra ngoại quốc. Tôi cũng không thể chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi tôi có rầy la. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm nếu có.

Chuẩn Tướng Hưng cố xô đẩy đuổi mọi người ra ngoài, bình thản đóng kín cửa văn phòng lại. Tiếng súng nổ từ bên trong vọng ra. Bà Hưng và các chiến hữu phá cửa xông vào. Chuẩn Tướng Hưng đã bắn vào tim, nằm ngã người tựa vào giường.


3 - Chuẩn tướng Trần Văn Hai.

Ông sinh vào tháng Giêng năm 1925 trong một gia đình điền chủ tại Gò Công, miền Tây Nam phần Việt Nam. Năm 1945, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Mỹ Tho với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Sau đó, ông được tuyển dụng làm Công chức tại Mỹ Tho cho đến ngày gia nhập quân đội.

Nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Quốc gia Việt Nam. Trong suốt thời gian tại ngũ, ông đã giữ những chức vụ ở các lĩnh vực khác nhau như: Tỉnh trưởng, Chỉ huy Binh chủng, Tổng Giám đốc ngành An ninh Nội chính, Chỉ huy Huấn khu và sau cùng là Tư lệnh đơn vị Bộ binh cấp Sư đoàn.

Cuối tháng 4 năm 1952, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 45/102.692. Theo học khóa 7 Ngô Quyền tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 5 năm 1952. Ngày 25 tháng 2 năm 1953 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, ông được phân bổ chức vụ Trung đội trưởng tại Tiểu đoàn 4 Việt Nam do Thiếu tá Đặng Văn Sơn làm Tiểu đoàn trưởng.

Cuối tháng 10 năm 1955, sau khi nền Đệ nhất Cộng hòa ra đời, chuyên sang phục vụ cơ cấu mới là Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được cử làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 262 đóng tại Ninh Hòa, Khánh Hòa. Tháng 12 cuối năm ông được thăng cấp Đại úy giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 81 Địa phương đồn trú tại Phan Thiết.

Cuối tháng 10 năm 1974, ông được lệnh bàn giao Quân trường Lam Sơn và Huấn khu Dục Mỹ lại cho Đại tá Nguyễn Hữu Toán. Sau đó, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh thay thế Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn IV và Quân khu 4 thay Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi.

Trước sự kiện ngày 30 tháng 4 khoảng hơn một tuần, đích thân Tổng thống Thiệu cho máy bay riêng xuống đón ông di tản nhưng ông từ chối.

Chiều ngày 30 tháng 4, sau khi cho binh sĩ rời đơn vị theo lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh, nửa đêm về sáng ngày 1 tháng 5 ông đã dùng thuốc Optalidon (uống nguyên ống 20 viên) tự vẫn trong phòng làm việc tại căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho. Thi thể ông được Thân mẫu và em ruột đem về mai táng tại Nghĩa trang Chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn vào ngày 2 tháng 5 năm 1975.


4 - Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam.


Ông sinh ngày 23 tháng 9 năm 1927, trong một gia đình khoa bảng “Danh gia vọng tộc” tại Đà Nẵng, miền Trung Việt Nam, có nguyên quán ở làng An Cựu Tây, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên, Việt Nam. Thời niên thiếu, ông học Tiểu học tại trường Ècole des Garcons, Đà Nẵng. Lên Trung học theo chương trình Pháp, nội trú ở trường Quốc học Huế (Lycėe Khải Định). Năm 1946, ông tốt nghiệp với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Sau đó, thi vào trường Hành chánh ở Huế (hệ Cao đẳng). Năm 1951, ông tốt nghiệp và được bổ dụng làm công chức tại Sở Ngân sách Trung Việt, một năm sau giữ chức vụ Chủ sự phòng.

Nguyên là một tướng lĩnh gốc Nhảy dù của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Thiếu tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên ở trường Sĩ quan Trừ bị do Chính phủ Quốc gia Việt Nam, được sự hỗ trợ của Pháp mở ra ở Nam phần. Ra trường, ông gia nhập vào đơn vị Nhảy dù và đã phục vụ trong Binh chủng này một thời gian dài, tuần tự giữ những chức vụ từ Trung đội trưởng… đến Phó Tư lệnh Sư đoàn. Đầu năm 1970, ông chuyển nhiệm vụ sang Bộ binh và giữ chức Tư lệnh Sư đoàn. Sau cùng ông đảm trách chức vụ Tư lệnh một trong 4 Quân đoàn và Vùng chiến thuật của Quân lực Cộng hòa.

Cuối tháng 3 năm 1953, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia Việt Nam, mang số quân: 47/291.065. Theo học khóa 3 Đống Đa tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức thuộc Trung đội khóa sinh số 16, khai giảng ngày 1 tháng 4 năm 1953. Ngày 1 tháng 12 cùng năm mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường gia nhập đơn vị Nhảy dù, ông được cử làm Trung đội trưởng thuộc Đại đội 1 trong Tiểu đoàn 7 Nhảy dù. Sau đó, ông được theo học khóa Nhảy dù cấp tốc tại Bến phà Đen (gần Bệnh viện Đồn Thuỷ), Hà Nội. Đến tháng 3 năm 1954, ông được tăng phái cho Tiểu đoàn 3 Nhảy dù. Một tháng sau, ông được đi thụ huấn khóa Đại đội trưởng tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. Mãn khóa về lại đơn vị, ông được cử giữ chức Đại đội trưởng Đại đội 3 thuộc Tiểu đoàn 7 Nhảy dù. Tháng 8 cùng năm, ông theo đơn vị từ Hà Nội bằng đường Không vận di chuyển vào Nam đồn trú tại Đồng Đế, Nha Trang.

Năm 1955, sau khi Quân đội Quốc gia đổi tên sang tên mới là Quân đội Việt Nam Cộng hòa, Tiểu đoàn 7 giải tán để bổ sung quân số cho 2 Tiểu đoàn 3 và 5. Ông được cử đi du học lớp Huấn luyện viên Nhảy dù trong vòng 8 tháng tại Pau, Pháp. Mãn khóa, trở về phục vụ tại Tiểu đoàn Trợ chiến Nhảy dù do Đại úy Nguyễn Thọ Lập làm Tiểu đoàn trưởng. Tháng 12 cuối năm, ông được cử làm Đại đội trưởng Đai đội Kỹ thuật trong Tiểu đoàn Trợ chiến thay thế Trung úy Ngô Xuân Nghị.

wild grass  
#153 Posted : Tuesday, May 7, 2019 11:50:42 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)


Nguyễn Văn Long, trung tá Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà



UserPostedImage



Hình tuẫn tiết của anh hùng Nguyễn Văn Long, trung tá Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà trong ngày 30-4-1975 dưới chân tượng đài Thủy Quân Lục Chiến đối diện trụ sở Hạ Nghị Viên VNCH.

Dưới chân tượng đài của thủy quân lục chiến, xác một người cảnh sát nằm đó. Máu ở đầu ông ta chẩy ra tươi rói. Người sĩ quan cảnh sát đeo lon Trung tá. ông ta mặc đồng phục màu xanh. Nắp túi ngực in chữ Long. Trung tá cảnh sát Long đã tự sát ở đây Cộng sản để mặc ông ta nằm gối đầu trên vũng máu. Phóng viên truyền hình Pháp quay rất lâu cảnh này. Lúc tôi đến là 14 giờ 30. Dân chúng đứng mặc niệm trung tá Long, nước mắt đầm đìa. Những người không khóc thì mắt đỏ hoe, chớp nhanh.

Trung tá Long đã chọn đúng chỗ để tuẫn tiết.

wild grass  
#154 Posted : Wednesday, May 22, 2019 11:47:19 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)


Giờ phút cuối cùng
của một đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Sài Gòn

Chi Lan “Viết theo Hùng”




UserPostedImage

Những chiến sĩ Nhảy Dù vào giờ thứ 25 trên đường phố Sài gòn



Không bao giờ chúng ta có thể ngờ được có ngày 30/04/1975 và không bao giờ, trước đó, chúng ta nghĩ rằng ngày 30/04/1975 chính là ngày vành khăn tang phủ lên đầu Bà Mẹ Việt Nam.


Đơn vị chúng tôi đang đùa giỡn với địch quân tại vùng ngoại ô Sài Gòn, khu xa lộ Đại Hàn nối liền từ ngã tư Quân Vận (Trung tâm Huấn luyện Quang Trung) đến xa cảng Phú Lâm. Được lệnh nguyên Tiểu Đoàn phải về phòng thủ dọc theo Quốc lộ 1 từ ngã tư Quân Vận đến ngã ba Bà Quẹo trong đêm 27/4/1975.


Thưa quý vị độc giả vì vài lý do riêng mà lý do chính vẫn là anh em đồng ngũ của chúng tôi, một số đông vẫn còn trong vòng kềm tỏa của bọn Cộng sản khát máu, vậy những tên tuổi trong cốt truyện này chỉ là tên giả cũng như tên của đơn vị chúng tôi xin được tạm quên, trong câu chuyện đầy đau thương thống khổ, cười ra, mà nước mắt lại là máu huyết của chúng tôi, vì chúng tôi tan hàng trong lúc địch quân đang bạt vía kinh hồn không hiểu chúng tôi đang ở đâu, không hiểu chúng tôi còn hay rã, nên bước chân vào Sài Gòn mà vẫn còn run rẫy. Nếu không được bọn ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản chỉ lối đưa đường thì chúng cũng chưa có hoàn hồn khi bước chân vào Dinh Độc Lập.


Và sau đó nhân loại đâu có ngờ được những sự dã man, tắm máu khô, khủng khiếp đang bao trùm lên dân tộc tôi, những đơn vị Mũ Đỏ, những đứa con chỉ biết sống chết cho vinh quang của đất nước, chết để bảo vệ Quê hương “Quê Mẹ Việt Nam” đành phải gạt nước mắt tan hàng trong ngỡ ngàng, trong đau đớn tột cùng, trong tiếng cười khan pha lẫn máu bạn bè, đồng đội.


Với 15 Tiểu đoàn tác chiến (chắc có người lấy làm lạ): Vâng đúng như vậy, 15 Tiểu đoàn tác chiến, 4 Tiểu đoàn pháo binh, 4 Đại đội Trinh sát, 15 Đại đội đa năng với kỷ luật cao độ, tác phong đứng đắn, lúc nào cũng hiên ngang đùa giỡn với tử thần, và châm ngôn “Thân dân, bảo vệ dân và giúp đỡ dân” được chúng tôi ghi khắc trong tâm hòa khẩu hiệu “CỐ GẮNG” để hoàn thành mọi vấn đề khó khăn trầm trọng.


Chúng tôi không sao quên được những cánh tay gầy guộc của bà mẹ Trị Thiên đã ôm chúng tôi run run dâng lệ vì sung sướng khi thấy chúng tôi trở lại Trị Thiên năm 1972. Các bà mẹ, các em gái đón chúng tôi tại đầu đường, không do chính quyền tổ chức mà do tình cảm của con người đối với con người: của các bà mẹ, của các em gái đón những đứa con yêu, những người anh can trường mang thân mình để bảo vệ đồng bào, quê hương đọa đầy. Ôi những em bé Huế dưới làn mưa đạn của quân thù đã đem đến cho chúng tôi những nắm cơm sấy trong biến cố Mậu Thân. Những vòng hoa chiến thắng của nữ sinh Quảng Ngãi đã choàng cho chúng tôi trong dịp Xuân 1966 sau Liên Kết 81, miền Trung đậm đà, miền Nam thương yêu, ở bất cứ chiến trường nào chúng tôi cũng tôn trọng kỷ luật của Quân đội và kỷ luật sắt thép của Binh chủng là phải tôn trọng dân được dân mến, dân thương thì chiến thắng quân thù chỉ còn là bước chân nhẹ nhàng để đón nhận vinh quang. Tại những vùng tiền tuyến, đi đâu dân cũng mến, dân cũng thương đoàn quân Mũ Đỏ.

Tại chiến trường cam go Quy Nhơn, Bình Định đoàn quân nào ngoại quốc tới đó cũng khựng lại, nhưng đoàn quân Mũ Đỏ dễ dàng lấn chiếm các mật khu mà chúng tự cho là đời đời bền vững. Tại miền Đông chiến khu D, tam giác sắt trở thành những vùng quang đãng, thanh bình sau khi những cánh Thiên Thần lướt qua. Tại miền Tây Cầu Kè đến U Minh, Đông Tháp, nơi nào ngập lụt, nơi nào khó khăn nhất,chúng tôi ít nhất cũng qua đó một lần trong vinh quang.


Vậy mà năm 1975, chúng tôi phải tan hàng, phải tù tội phải chịu đựng mọi sự trả thù thấp hèn, đón mạt dã man mà loài người không tưởng tượng nổi. Chúng tôi không một oán hờn với những người lầm đường lạc lối, nhưng nay đã thức tỉnh. Chúng tôi không một ngạo mạn với những bạn bè cùng chung chí hướng, những ân tình của dân chúng đã vun đắp chúng tôi thành một ý chí sắt đá nguyện đem tấm thân còn lại trở về quê hương.

Xin hãy đừng vơ đũa cả nắm, xin hãy dành một ý niệm tốt cho những thanh niên miền Nam Việt Nam, những người đã dâng hiến cả cuộc đời thanh xuân của mình cho Quốc gia Dân tộc, quyết không bao giờ lừa dối, man trá được. Xin hãy dùng tất cả mánh lới thủ đoạn, dù lớn hay nhỏ, dù hời hợt hay sâu xa cho quân thù. Xin linh hồn bạn bè hãy soi sáng cho đường đi lối về của những người con yêu của đất nước, xin hãy bỏ bớt những trò múa may quay cuồng, để gồm thâu tình nghĩa gần lại với quê hương dân tộc, xin hãy lấy tâm gan cộng tác với nhau, xin đừng dèm pha xấu xa, con đường trở về Thiên nan, vạn nan, đầy dẫy những chướng ngại của quân thù. Xin đừng giúp quân thù cài thêm chướng ngại cho chiến hữu, bạn bè.

***


Đúng 10 giờ sáng ngày 30/04/1975, tôi nhận được lệnh rút lui, lúc đó Đại đội của tôi là tuyến đầu của Tiểu đoàn tại vùng ngã tư Quân vận đến cầu Tham Lương cách hãng dệt Vinatexco 300 mét về hướng Hóc Môn. Cùng lúc đó đứa con đầu đàn của tôi báo cáo đoàn xe địch đang di chuyển vào phòng tuyến xin lệnh tôi. Tôi xin lệnh trên, được lệnh vắn tắt (“Tiêu diệt xong rút về Lăng Cha Cả chờ lệnh kế tiếp. Không thu chiến lợi phẩm, bảo toàn lực lượng”). Tôi cũng xin một nói thêm Tiểu đoàn chúng tôi rải quân như sau: Đại đội thứ 4 của tôi từ ngã tư Quân Vận đến cầu Tham Lương, Đại đội thứ 3 khu Bình Thới đến ngã ba Bà Quẹo, Đại đội thứ 2 từ ngã ba Bà Quẹo đến ngã tư Bảy Hiền, Đại đội thứ 1 từ ngã tư Bảy Hiền đến Lăng Cha Cả và Trương Minh Ký.

Tôi cho lệnh chi tiết cho Chuẩn úy Nhiên, Trung đội Trưởng Trung đội 1 của tôi, Nhiên nhanh nhẹn trả lời “Hiểu và thi hành.”


Đoàn xe địch dẫn đầu bằng 3 chiếc PT 76 thư thả tiến vào Sài Gòn không gặp một sức kháng cự nào, qua ngã tư Quân Vận, qua Khu gia binh của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Tôi đưa ống nhòm theo dõi từng vết xích của Chiến xa dẫn đầu đang nghiền nát Quê hương tôi. Hai cột khói nâng bổng hai chiến xa dẫn đầu kèm theo tiếng nổ của mìn chống chiến xa, một loạt hỏa tiễn M72 phóng ra, 3 chiến xa dẫn đầu tan nát, kèm theo 10 xe vận tải chở đầy Bộ đội Bắc việt bị lật nghiêng. Đoàn xe sau đụng nhau dồn cục gây thêm một số thương vong cho chúng. Những Cán Ngố chỉa súng bắn loạn xạ, nhưng chúng không thấy chúng tôi. Chúng tôi rút về tới ngã ba Bà Quẹo, một giờ vất vả và vô sự. Đúng lúc đó địch quân cũng đã hoàn hồn và tiếp tục di chuyển, lần này chúng thận trọng di chuyển thật chậm, vừa đi vừa bắn những chỗ chúng khả nghi. Đơn vị chúng tôi tiếp tục di chuyển về ngã tư Bảy Hiền.


Một số phóng viên ngoại quốc bu lấy tôi hỏi đủ chuyện. Lúc đầu tôi trả lời bằng tiếng của họ “Tôi không biết”, nhưng sau đó một phóng viên ngoại quốc hỏi tôi bằng tiếng Việt:

- Anh thuộc đơn vị nào?

- Nhảy Dù

- Tôi muốn hỏi anh thuộc Tiểu Đoàn nào?

- Anh cứ biết một Tiểu Đoàn Nhảy Dù đủ rồi.

Thấy tôi không muốn trả lời họ không hỏi nữa. Họ thi nhau chụp hình đơn vị đang rút của tôi rồi bỏ đi về hướng tiền quân.


Nhảy Dù! Không hiểu ai đặt ra cái luật khắc khe, “Không được tự ý trả lời phóng viên dù là tên của mình”. Quý vị thấy những đơn vị bạn có những tên thật đẹp như Cọp Vằn, Hắc Báo, Kình Ngư... Nhưng Nhảy Dù có những tên vô cùng đẹp như: Con Gà tử mị, Sư Tử mắc nước, Con Cù lần v.v... Còn tên các Tiểu Đoàn Trưởng như: Trưởng ấp, Xã trưởng, Bồi bàn, Cao bồi v.v... Đại Đội Trưởng: T... sốt rét, N. Lai H... ghẻ v.v... Có một Đại Đội Trưởng may mắn hơn có cái tên đẹp Út Bạch Lan. Thường những tên như vậy cấp dưới biết nhưng không ai dám gọi cả.


Mặc dầu địch quân tiến thật chậm, và thận trọng nhưng chúng tôi nhất định không tha, nếu chúng nắm vững tình hình tiến chậm hai giờ nữa để đơn vị chúng tôi rút lui xong, thì chắc chắn chúng sẽ vào Dinh Độc Lập như vào chổ không người. Khi tới gần Vinatexco, 2 Thiết giáp đi đầu bắn xả vào những “Lô cốt” trong phi trường, nhưng các lô cốt này đã bỏ trống, đơn vị phòng thủ phi trường đã bỏ ngõ từ lúc trưa ngày 29/04/75. Các loại súng trên thiết giáp thi nhau nhả đạn vào những chỗ chúng nghi ngờ. Chúng đâu có ngờ một pháo đội ngụy trang kín đáo tại vị trí vãng lai của TĐ 1 PB đang sẵn sàng tiêu diệt chúng, 4 viên đạn chống chiến xa ra khỏi nòng súng 105 ly các pháo thủ đầy kinh nghiệm chiến trường rang muối thêm 2 con Cua sắt và 2 vận tải. Lần này chúng có kinh nghiệm, chúng không bị dồn cục, nên không bị tổn thất thêm, nhưng đau cho chúng là chúng không biết từ đâu để bắn lại trả thù. Xong nhiệm vụ các pháo thủ Mũ Đỏ cũng rút lui sau khi phá hủy súng.

Đối với chúng tôi, đánh giặc phải tiêu diệt chúng xong, chiếm mục tiêu, thu chiến lợi phẩm thì đơn vị mới có tổn thất, còn diễn trò như hôm nay, gây cho chúng tổn thất rồi mình chạy làng, thì không bao giờ anh em chúng tôi phải hy sinh. Nhưng trò đùa này của chúng tôi cũng làm chúng điên đầu nhức óc, mỗi lần như vậy, chúng lại phải điều quân lại, tổ chức lại đội hình thật lâu chúng mới dám dè dặt tiến quân tiếp. Chúng bắn tứ tung, mất tinh thần thấy rõ, chính vì vậy mà những đơn vị của chúng ta trước đây mỗi khi đi hành quân bảo vệ đồng bào, nếu không cẩn thận dễ bị tổn thất, vì địch không đương đầu chống lại, chúng vừa đánh vừa rút, hoặc phải đương đầu với ta là vì chúng không còn ngõ để chạy nữa. Nhất là những vùng rừng núi rộng rãi chỗ cho chúng chạy thì: Kỹ thuật tác chiến yếu, tinh thần suy sụp là đơn vị hành quân rất dễ bị nướng lắm.

Từ ngã 3 Bà Quẹo dân chúng còn lại, hối hả chạy dọc theo đường hướng về phía Sài Gòn, sự sợ hãi, hốt hoảng lộ ra trên nét mặt, không còn một nụ cười trên môi các thiếu nữ, không còn tiếng nô đùa trên miệng các em bé vui tươi. Nhìn những khuôn mặt ngây thơ đầy u uất, lòng tôi se lại trong đớn đau nát da, đứt ruột. Đồng bào tôi đây, đang cần sự che chở của Quân đội, của chúng tôi, nhưng chúng tôi lại “Khiếp nhược” rút lui! Không thể được, việc trước mắt như cứu lửa, phải bảo vệ đồng bào như một phản ứng tự nhiên. Có bao giờ chúng tôi phải rút lui cay đắng như thế này đâu? Có bao giờ đồng bào nhìn chúng tôi xong lặng lẽ chạy tiếp đâu? Bây giờ giặc đã đến ngõ cụt của Thủ Đô. Những giọt mồ hôi quái ác làm mắt tôi cay cứng lấy tay áo quệt mồ hôi; mặc dù chưa rõ tình hình chung, nhưng tôi biết đây là trận chiến cuối cùng để dân tộc này, quê hương này sẽ đi vào con đường u tối miên man, không một ánh sáng cuối đường hầm.


Chúng tôi cố tình trì hoãn rút lui để đồng bào chúng tôi đi được một khoảng cách xa an toàn, tôi cho lệnh rút lui tiếp tục, đứa con đầu của tôi, trước cổng Hoàng Hoa Thám chậm chạp di chuyển về phía sau đồng bào. Tôi đang từ Trung đội 4 trước Hội đồng xã Tân Sơn Hòa lướt qua Trung đội 3, những anh em chiến hữu của tôi đã xả thân tại khắp các chiến trường đất nước, từng làm quân thù bạt vía kính hồn từ trận nhỏ đến trận lớn. Tôi nhìn vào tận mắt của từng người như cầu van tha thứ cho tôi, “Vì đã cho lệnh họ rút lui trước quân thù”; nhưng những ánh mắt nhìn tôi như oán hờn, như trách móc. Tôi cúi mặt tránh những ánh mắt thân thương, lầm lũi bước đi trên đường Lê Văn Duyệt quen thuộc, trước cổng trại Thạch Văn Thịnh (TĐ II Nhảy Dù) con đường rộng thênh thang, không còn bóng người dân di chuyển, chỉ còn lại chúng tôi và một số phóng viên ngoại quốc. Tới cổng Hoàng Hoa Thám tự nhiên chân tôi chùn lại, tưởng như một khối chì nặng nề níu chân lại.


Đứng lại trong thế nghiêm tự nhiên, cay đắng nhìn cổng trại thân yêu, cách đây 10 năm tôi vui mừng rạng rỡ bước qua để chính thức trở thành một Quân nhân Mũ Đỏ, chiếc cổng vô tri này nhưng ma lực của nó đã có sức hút vô cùng mạnh mẽ đối với biết bao thanh niên anh hùng ở lứa tuổi đôi mươi. Hình ảnh chiếc cổng hoang tàn với hàng rào Concertina ngổn ngang như hoang phế lâu ngày, nhìn sâu vào trong trại, tôi thấy thấp thoáng những bạn bè, chiến hữu chúng tôi đang vội vã di chuyển trong đó. Tôi không hiểu tôi đang là một thứ người gì, nhưng tôi đang đứng sững nghiêm chỉnh trước chiếc cổng như đại diện cho đơn vị, đơn vị tôi tôn thờ như thánh thần trong tâm khảm. Những ngày tung hoành ngang dọc nào có mơ ước gì hơn là tiêu diệt kẻ thù để đồng bào được yên ổn làm ăn.

Tôi đưa tay chào chiếc cổng thân yêu, các phóng viên muốn thu hình này nhưng quá muộn, tôi lững thững bước đi như xác không hồn. Nước mắt tôi dàn dụa xen lẫn mồ hôi cay đắng, cơn nấc nghẹn ngào làm tôi nghẹt thở. Giã từ Hoàng Hoa Thám, giã từ đơn vị thân yêu, đơn vị đã được chúng tôi dâng trọn cuộc đời thanh niên cho Hoàng Hoa Thám, dâng trọn cho đoàn quân Mũ Đỏ.

Bây giờ với cái thân tàn tạ, hèn nhát này, dẫn đơn vị rút lui, dù theo lệnh trên, nhưng trước sức tấn công ào ạt của địch quân vào Thủ Đô. Ôi những chiến tích nức lòng dân như: A Châu, A Lưới, Tân Cảnh, Quảng Ngãi, Chương Thiện, Tây Ninh, Kiến Phong, Bình Long, Kom Tum, Quảng Trị v.v... có chăng chỉ còn là một cơn gió thoảng qua trong cơn nóng nung lửa của tâm hồn. Sự dằn vặt tột cùng của sự tháo lui. Ôi cấp Chỉ huy của tôi ơi! Ôi bạn bè của tôi ơi! Ôi những chiến hữu Mũ Đỏ kiêu hùng của tôi ơi! Chúng ta đã chạy thật hay sao đây? Đồng bào của chúng ta kia! Quê hương của chúng ta đó! Doanh trại của chúng ta đây! Hồn thiêng của bạn bè ẩn hiện đâu đây có ai cảm thông nỗi thống khổ này? Những khuôn mặt của Hiền, Được, Khiêm, Nhượng, Tống, Hùng, Hòa và hàng ngàn các Chiến hữu Mũ Đỏ đã ra đi giận dữ nhìn tôi.

Tôi nhắm mắt bước đi theo đoàn quân chậm chạp rút lui như tử tội nặng nề bước chân lên bực thang máy chém.

Tôi cố gắng im lặng để thanh thản bước đi nhưng hình ảnh anh em bạn bè, họ là những Chiến sĩ vô danh cứ soi mói nhìn tôi như oán trách, như căm hờn. Bảy điều tâm niệm khi mới bước chân vào quân ngũ tôi vẫn còn thuộc lòng từng câu từng chữ:

Luôn nêu cao danh dự của Quân Đội

Phải thân dân bảo vệ dân và giúp đỡ dân.

Nhưng giờ đây lúc này không phải một điều nào chúng tôi cũng giữ được, thế hệ sau sẽ nguyền rủa. Chúng tôi không phủ nhận, xin nhận tất cả tội lỗi nhưng phải làm gì khác hơn đây. Từ ngày bước chân vào Quân ngũ là đã sẵn sàng chấp nhận tấm Poncho gói ghém thân mình, hay vinh hạnh hơn nữa là “lá Quốc kỳ phủ lên thân”, sống chết chẳng qua là cuộc đổi đời, quan niệm như vậy nên sự sống, sự chết đối với những người Mũ Đỏ thật cụ thể và nhiệm vụ Quân đội, nhân dân giao phó mới đáng kể, nhưng bây giờ nhiệm vụ của Quân đội giao phó là rút lui hay sao đây? Lằn tên nào cản được bước chân chúng tôi, bom đạn nào làm chùn chân chúng tôi, quân thù nào ngang cấp số với đơn vị dám đương đầu. Thân xác chúng tôi ai mà chẳng có vết tích của chiến tranh để lại trên thân thể. Thương xót cho bạn bè, cho đồng bào, cho dân tộc không biết sẽ phải đi về đâu đây?

- Thưa Đích Thân “Ba” vừa đánh cháy thêm hai Chiến xa nữa. Tiếng của Hòa người mang máy cho tôi. (Hiện nay Hòa đang ở Úc Châu.)

- Ở đâu? Tôi hỏi vắn tắt.

- Ngã ba Bà Quẹo.

Tôi vừa băng qua Đại đội 1 của đơn vị, được lệnh trực chỉ theo đường Trương Minh Giảng về hướng Sài Gòn đến ngã 3 Trương Tấn Bửu chờ lệnh.

Dọc theo bên đường dân chúng ngơ ngác nhìn chúng tôi, người chạy theo lên hướng Sài Gòn, người ngơ ngác đứng nhìn. Tôi vừa dừng chân tại Trương Tấn Bửu, trước bót Cảnh sát.

- “Hai” đánh cháy 1 Chiến xa và 3 xe vận tải tại ngã tư Bảy Hiền, “Ba” đã qua Lăng Cha Cả, cùng Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn. “Một” còn nằm tại chỗ.

Tôi im lặng nghe Hòa báo cáo.

- Thưa Đích Thân, “Hai” đã qua Lăng Cha Cả.

Cùng lúc đó tôi nhận được lệnh kiếm chỗ trống trải để tập họp cả Tiểu Đoàn. Trung đội 4 của Hạnh cho biết có sân trường Đại Học Vạn Hạnh có thể tập họp được. Năm phút sau Hạnh báo cáo có một xe Jeep mang Huy hiệu Biệt Động Quân, nhưng do bọn mang băng đỏ bên tay trái lái. Tôi cho lệnh chận xe đó lại khai thác tin tức.


Trung đội 4 báo cáo xe đó là của một Trung tá BĐQ nhà gần đó bị bọn mang băng đỏ (Sau này đồng bào gọi là bọn 30-4 ) cướp xử dụng, trên xe có 6 tên đa số là Sinh viên của Đại học Vạn Hạnh. Chúng xử dụng súng của Nhân dân tự vệ.

Đồng bào thấy chúng tôi mồ hôi nhễ nhãi, người tiếp tế nước đá lạnh, người mang ra bình trà, có người mang cả đồ ăn. Lúc đó mặc dầu khát dữ dội nhưng cầm ly nước lạnh, không sao tôi có thể nuốt trôi được; Tôi đang căm tức bọn băng đỏ, bọn đê tiện phản bội. Ý tưởng thịt bọn chúng lẩn quẩn trong đầu tôi, nhưng tôi nghĩ sau này có thể bị xuyên tạc và dân chúng sẽ hiểu lầm đơn vị, hiểu lầm Binh chủng. Một điều chúng tôi tối kỵ, làm gì cũng được, nhưng nếu danh dự Binh chủng bị xúc phạm, dù có chiến thắng hay lợi lộc mấy đi chăng nữa, chúng tôi cũng phải suy xét lại. Tôi nhớ Tết Mậu Thân, đơn vị chúng tôi trên đường về giải cứu cố đô Huế, Tiểu Đoàn của tôi bị Tiểu đoàn VC bố trí trên Cổ Thành Huế chận lại; trong khi chúng tôi ở dưới thấp lại còn vướng một dẫy lạch sâu trồng sen chung quanh Cổ Thành này.

Thành cao không thể leo lên dễ dàng, khó khăn không thể nào vượt qua, nhưng vị Chỉ huy của chúng tôi cầm chiếc “nón đỏ” và nói: “Đây là lần đầu tiên nón đỏ này bị ô nhục.” Đơn vị nghe thấy máu nóng bừng bừng ai cũng tưởng như mình thêm cánh, thêm sức. Không đầy 30 phút sau sức lực huyền bí dũng mãnh của tinh thần bảo vệ danh dự đơn vị bùng lên, những Thiên Thần sát Sộng đã hiên ngang bay qua từng chốt của địch diệt trọn phòng tuyến chính để vào Thành nội Huế. Chính nhờ vậy chúng tôi tiếp cứu được Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn I BB trong trại Mang Cá Huế.


Cùng lúc đó Hòa báo cáo “1 vừa đánh cháy một chiến xa tại Lăng Cha Cả và 2 xe vận tải”. Vào khu Đại học Vạn Hạnh, tôi cho lệnh đứa con thứ tư của tôi đóng chốt giữ an ninh chung quanh khu Đại học và từng đơn vị vào sân Đại học Vạn Hạnh tập họp chờ lệnh. Tôi thấy bọn băng đỏ lố nhố trong khuôn viên ĐHVH, chúng có vũ khí nhưng không một tên nào dám nhố nhăng, vì sau chúng có anh em của tôi kềm súng sẵn sàng hỏi tội chúng. Ý tưởng phải thanh toán hết bọn này lại hiện ra trong trí. Nhưng vị anh cả của chúng tôi im lặng, lầm lì quan sát, tôi thấy môi anh mím chặt, cặp mắt giận dữ nhìn chúng nhưng chưa một phản ứng, thì một tên mặc áo tu hành Phật Giáo tay cầm loa đưa ngang miệng dõng dạc trong câu nói điên rồ: “Đất nước đã Thống nhất, yêu cầu các anh em Nhảy Dù hãy buông súng trở về với Cách mạng, cách mạng sẽ khoan hồng cho anh em”.

Phản ứng tự nhiên, tôi rút súng chĩa về phía hắn, hắn thụt lùi vào trong hành lang, và hàng trăm cây súng sẵn sàng nhả đạn. Nhìn lên những anh em trên cao ốc, tôi thấy anh em đều chĩa súng sẵn sàng chờ lệnh. Tôi biết rằng nếu tôi siết cò súng là súng nổ rền trời ngay lập tức, để đưa bọn Cộng con về với thiên đường Cộng sản. Nhưng thấy chúng cụp đuôi khiếp vía chạy trốn tôi cho súng vào bao, thầm nghĩ may mắn cho chúng gặp tôi, chứ gặp đơn vị khác thì hẳn là ĐHVH này chắc chắn phải trở thành ĐH “Bất Hạnh” ngay lập tức...

Anh cả của chúng tôi im lặng, đứng sững như trời trồng, sau đó anh cho lệnh Đại đội 1 tìm bãi đất trống trải để tập họp Tiểu Đoàn, và cả đơn vị rút ra khỏi khu ĐHVH. Đơn vị tôi là đơn vị sau cùng ra khỏi khu Vô hạnh này. Tôi không thể hiểu nổi ngay tại nơi huấn luyện đào tạo ra lớp người Tổ Quốc mong cho mai sau lại có đuôi chồn đỏ như thế này hay sao? Thua địch quân không đau, buông súng không tủi bằng phải thua ngay những người mình hằng quý mến. Người tình lang mất người yêu chắc cũng chỉ đau đớn thấm thía như chúng tôi lúc này.

Quê Hương ơi! Tổ Quốc ơi! Đồng bào ơi! Lỗi tại ai đây? Tại chúng tôi hèn nhát? Tại chỉ huy tồi? Tại vận nước suy đồi? Hay nó đã ruỗng ra từ bên trong...! Chúng tôi chỉ còn là cái vỏ mỏng bên ngoài làm sao chống đỡ nổi đây? Đại đội tôi đi sau cùng và vừa ra khỏi khu phản bội được 3 Trung đội, Trung đội sau cùng và tôi rút ra khỏi khu Vô Hạnh mà phải đi giật lùi như trong vùng địch, cẩn tắc biết đâu chúng giở trò cắn trộm. Tâm hồn tôi chùng xuống xen lẫn cơn giận vô bờ. Bọn chồn đỏ lại ló đầu ra, tôi định cho đơn vị khai hỏa, vì cơn giận trong tôi lại bừng lên, nhưng cùng lúc đó danh dự của đơn vị trồi lên lấn át, tôi cho súng vào bao cho lệnh đơn vị tiếp tục rút lui ra vùng tập trung mới.

May cho bọn chúng nếu không nghĩ đến danh dự có thể sẽ bị hiểu lầm, bị nguyền rủa thì chắc chắn chúng phải đền tội. Nếu không thì tôi, phải chính tôi, vì căm hận chắc chắn không thù hằn, nhưng vì uất ức trước sự phản bội phũ phàng, một phút không kềm hãm được sự nóng giận, tôi chỉ cần nhẹ nhàng vẫy tay thôi bọn chúng sẽ phải theo Cáo Hồ của chúng. Ôi danh dự của đơn vị sao cao siêu quá, sao dũng mãnh quá, chế ngự được tất cả. Tôi không hiểu bọn chúng có biết rằng chúng vừa thoát chết hay không? Chúng có hiểu rằng nếu danh dự của đơn vị không chế ngự được chúng tôi thì hậu quả sẽ đến với chúng như thế nào?! Những dòng chữ này chắc chắn sẽ được một hay nhiều tên trong bọn chúng tại chốn Vô Hạnh hôm đó đọc được, để chúng hiểu rằng hôm đó không may súng nổ: Chính là vì chúng đã không khôn ngoan, đã phản bội trắng trợn, đã ngoại tình đê tiện hèn hạ trước mặt người yêu thương quý mến mình.

Bước ra khỏi khu đê hèn, hai Trung đội Trưởng của tôi có ý trách móc tại sao tôi không giết bọn chúng. Tôi im lặng, tôi muốn anh em giải bày để vơi đi niềm uẩn ức của những anh em đang bị phản bội trắng trợn đê hèn. Bọn vô lương tâm đó ngày nay không hiểu chúng có còn được như Trịnh Công Sơn hay đang lần mò trong những trại giam cầm cho đáng đời bọn xảo trá gian manh.

Vùng tập họp mới của chúng tôi ngay tại ngã tư Yên Đổ và Trương Minh Giảng. Chúng tôi vừa vào hàng ngũ, đơn vị nghiêm chỉnh trình diện anh cả của đơn vị.

Huynh Trưởng của đơn vị gương mặt thểu não nói trong nghẹn ngào. Tôi có cảm tưởng như tiếng nói của anh bị đứt đoạn nhiều lần vì tiếng nấc đau thương:

- “Tôi xin chào tạm biệt các anh em. Xin báo cho các anh em biết chúng ta đã nhận được lệnh buông súng đầu hàng từ cấp chỉ huy tối cao của chúng ta. Cấp chỉ huy trực tiếp của chúng ta hoàn toàn mất l/l từ ngày hôm qua. Nhưng chúng ta không thể đầu hàng chúng được, vì danh dự của đơn vị tôi điều động anh em đến đây để bảo với anh em một lệnh cuối cùng: Chúng ta chào tạm biệt nhau tại đây ai về nhà nấy; tất cả Quân trang, Quân dụng tùy anh em định liệu; quyền Chỉ huy của tôi đến đây đã chấm dứt.”

Cả đơn vị im lặng không một tiếng xì xào bàn tán.

Chúng tôi lặng người trong ngỡ ngàng tột độ, những lời lẽ thiếu mạch lạc của vị huynh trưởng phát ra từ xúc động. Tiếng nói của anh chấm dứt sau 5 phút đơn vị vẫn đứng im, từ trên xuống dưới không ai muốn xa nhau, không ai muốn tan hàng. Cái im lặng xa vắng, cái im lặng khủng khiếp. Tôi cũng đã biết giờ phút này phải đến, nhưng không ngờ nó đến trong bẽ bàng thế này! Nhìn hàng quân oai hùng, súng đạn còn đủ dùng, mặt mũi âu sầu. Cặp mắt mọi người đỏ hoe, tất cả đều gục mặt như mặc niệm bạn bè, mặc niệm đơn vị. Cơn đau đớn ê chề xâm chiếm dần dần như làn hơi thổi vào chiếc bong bóng tới độ không chịu được phải phát nổ. Sự phản bội từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài như cơn lốc bạt ngàn tạt vào mặt chúng tôi, cả hàng quân đang im lặng; vị huynh trưởng vẫn còn đứng đó, anh đang cúi mặt chận cơn đau đại nạn.

Tôi biết hàng ngày anh ăn nói rất văn hoa, nhưng hôm nay làm sao lời anh cộc lốc. Anh còn muốn nói nhiều, có lẽ anh còn muốn nói thật to, gào thét thật lớn, để một lần, một lần thôi rồi không bao giờ được tâm sự nữa. Thình lình Trâm một Trung đội Trưởng của tôi, nước mắt dàn dụa nhảy ra ngoài hàng quân.

Trâm dơ cao trái lựu đạn quát to:

- “Xin các vị huynh trưởng kính mến của tôi hãy ra về. Các anh em của tôi hãy tan hàng, để một mình Trâm ở lại thôi. Tôi đã thề không đội trời chung với bọn vô thần, chúng vào đây thì tôi phải đi.”

Trâm vừa nói xong khoảng 10 anh em vừa bước tới chỗ Trâm vừa nói:

- “ Để tụi tao (tụi em) chơi chung với. Chúng ta không đầu hàng và cũng không tan hàng. Nhảy Dù chỉ có tiến không có lùi.”

Hoàng Đại đội Trưởng đại đội thứ nhất la lớn:

- Để tao chơi chung với tụi bay.

Vị huynh trưởng cũng chạy lại chỗ Trâm. Tiếng Trâm sang sảng nhưng nghẹn ngào đứt quãng:

- Không được Đích Thân còn nhiều việc phải lo, còn nhiều việc phải làm, nhất là gia đình của Đích Thân.

- Ai cũng có gia đình tao chỉ biết có Gia Đình Mũ Đỏ, Gia Đình của Mũ Đỏ là gia đình của chính tao.

Một số anh em khác từ từ rời bỏ hàng ngũ, súng đạn, Quân phục vứt ngổn ngang. Nhất là những anh em lớn tuổi, từ từ rời bỏ bãi tập họp mỗi người một phương, tôi không biết họ có mang theo vũ khí hay không, hay bỏ lại những gì? Còn lại từng tốp một ôm nhau nói chuyện. Tôi không biết họ đang nói gì nhưng nhìn khuôn mặt ai ai cũng chứa đựng đầy uất hận hiện rõ ràng trên khóe mắt đỏ ngầu rực lửa. Trên bãi súng đạn, ba lô, nón sắt nằm ngỗn ngang và trãi dọc theo bốn hướng ngả tư. Con phố hiền hòa của Đô thành nay lại chứng kiến cảnh tan hàng của một đơn vị. Tôi chắc rằng đây là một đơn vị lớn nhất và là đơn vị sau cùng của Biệt Khu Thủ Đô giã từ vũ khí, đi theo mệnh lệnh của dân tộc. Đơn vị đã tan hàng có trật tự và kỷ luật của đơn vị thực sự bãi bỏ sau tiếng nói nghẹn ngào của một Huynh trưởng đơn vị. Tôi quyết định phải khuyên Trâm và anh em chúng tôi đang bu lại quanh Trâm. Tôi linh cảm thấy, chậm trễ sẽ xảy ra hậu quả không lường được. Tôi chen vào đám đông và la lớn:

- Chúng ta đàng nào cũng chết, nhưng phải chết cho xứng đáng mới được. Chúng ta hãy l/l với nhau trở về Long Khánh. Lâm Đồng rồi cùng chiến đấu. Trâm đưa trái lựu đạn cho anh.

Trâm đưa trái lựu đạn cho tôi sau một hồi giằng co. Chúng tôi cùng thỏa thuận hãy tan hàng rồi kiếm kế sau. Bất chợt hai tiếng lựu đạn nổ chát chúa ở gần bức tường cuối bãi. Chúng tôi chạy vội lại quan sát. Tổng cộng 11 anh em đã ôm nhau từ giã, mắt người nào cũng mở như gửi lại những thông điệp bất khuất, không đội trời chung với Cộng sản. Trong số 11 anh em cấp bậc lớn nhất là Thiếu úy Trung đội Trưởng, người cấp bậc nhỏ nhất là Binh nhì khinh binh. Không có thì giờ cùng địa điểm để chôn cất họ, chúng tôi chỉ còn biết sắp xếp họ nằm ngay ngắn, cùng nhau nghiêm chỉnh chào họ. Anh em đã tự chọn con đường vinh quang cho mình, tôi thầm khấn nguyện trước mặt anh em: “Chúng tôi cần phải sống, vì chắc chắn chúng tôi vẫn còn phải tranh đấu với bọn quỷ hại nước hại dân”.

Sau này tôi được tin Trâm về Bảo Lộc hoạt động nhưng bị nội phản, bị xử tử tại đó. Hoàng về Xuân Lộc hoạt động cũng bị tử thương, còn tôi lưu lạc khắp nơi, nhất quyết không trình diện bọn chúng, tôi vượt biên bằng đường bộ qua Khe Sanh, Lao Bảo, Hạ Lào. Hỡi các bạn trong Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam; Thưa các bạn Quân Nhân QLVNCH; Bạn bè chúng ta đã chết, một số đang bị đầy đọa cực hình, Quê hương chúng ta còn trong tay bọn quỷ đỏ. Xin các bạn đừng vì xe hơi, nhà cao cửa rộng, ham chơi phù phiếm, mà quên đi những người thân yêu, những Vong Hồn bạn bè đã khuất, những cô nhi tử sĩ đang đón chờ từng giờ từng phút, mong mỏi bước chân nhịp nhàng của quý bạn tiến về Quê hương. Hỡi các bạn thanh niên, lịch sử 4.000 năm văn hiến không lúc nào, không thời đại nào dân tộc chúng ta khiếp vía trước móng vuốt tàn ác của quân thù, không khi nào thanh niên Việt Nam lại đê hèn, quên đi gông cùm đỏ dã man đang siết chặt dân tộc ta. Xin hãy cùng nhau bước lên tiến tới và đừng bao giờ quên bọn quỷ đỏ đang lẩn khuất đâu đây đang ra sức ngăn cản bước chân oanh liệt của chúng ta.


Nghiêm ơi, Trâm ơi, Hoàng ơi, linh hồn các bạn có linh thiêng hãy soi sáng bước chân chúng tôi, máu của các bạn đã chảy, thân xác của các bạn đã nằm xuống, nhưng tấm gương can đảm của các bạn sẽ còn mãi mãi. Trận chiến vừa qua chúng ta tạm lùi, tạm thua giặc. Nhưng chúng ta không đầu hàng giặc, đơn vị chúng ta không buông súng để qui hàng giặc. Tinh thần chúng ta còn đó, chúng ta bỏ nước ra đi bằng áp lực của ma quỷ. Xin hãy hứa cùng nhau “Chúng Ta Sẽ Trở Về.”







wild grass  
#155 Posted : Tuesday, May 28, 2019 12:32:32 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)

UserPostedImage



"Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong hay Ngày Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong) là một ngày Lễ Liên Bang (Federal Holiday) tại Hoa Kỳ - vào ngày Thứ Hai cuối cùng trong tháng 5 hằng năm.

Ngày lễ đầu tiên - 30 tháng 5, 1868 - có tên là Decoration Day được tổ chức để tưởng niệm những quân nhân cả hai miền Bắc (Union) và Nam (Confederate) đã tử trận trong Nội Chiến Hoa Kỳ (American Civil War). Sau Thế Chiến Thứ Nhất (World War I), ngày lễ này bắt đầu được mở rộng để tưởng niệm binh sĩ tử nạn trong các cuộc chiến khác.

Từ năm 1971, Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong chính thức trở thành ngày Lễ Liên Bang ở Hoa Kỳ. Vào ngày này, người Mỹ đi viếng thăm các nghĩa trang và các đài tưởng niệm; lá cờ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ được để rũ cho đến trưa theo giờ địa phương.

Người Mỹ xem mùa Hè bắt đầu từ Ngày Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong cho đến hết Ngày Lễ Lao Động (Labor Day) vào đầu tháng 9 "




God Bless the USA (sáng tác: Lee Greenwood) - tam ca: Texas Tenors



If tomorrow all the things were gone
I worked for all my life
And I'd had to start again
Just my children and my wife

I thank my lucky stars
To be living here today
'Cause the flag still stands for freedom
And they can't take that away

And I'm proud to be an American
Where at least I know I'm free
And I won't forget the ones who died
Who gave that right to me

And I gladly stand up next to you
And defend her still today
'Cause there ain't no doubt I love this land
God bless the U.S.A.

From the lakes of Minnesota
To the hills of Tennessee
Across the plains of Texas
From sea to shining to sea

From Detroit down to Houston
And New York to L.A.
Where there's pride in every American heart
And it's time we stand and say

And I'm proud to be an American
Where at least I know I'm free
And I won't forget the ones who died
Who gave that right to me

And I gladly stand up next to you
And defend her still today
'Cause there ain't no doubt I love this land
God bless the U.S.A.



Do not stand at my grave and weep

Do not stand at my grave and weep
I am not there. I do not sleep.
I am a thousand winds that blow.
I am the diamond glints on snow.
I am the sunlight on ripened grain.
I am the gentle autumn rain.
When you awaken in the morning's hush
I am the swift uplifting rush
Of quiet birds in circled flight.
I am the soft stars that shine at night.
Do not stand at my grave and cry;
I am not there. I did not die.
Mary Elizabeth Frye


Bên mộ tôi chớ khóc than
Bên mộ tôi chớ khóc than
Tôi đâu nằm đó, đâu an giấc nồng
Tôi là gió thổi bềnh bồng
Là kim cương sáng rực hong tuyết trời
Ánh dương phủ lúa rạng ngời
Là mưa thu giọt tuôn rơi nhẹ nhàng.
Sáng người tỉnh giấc mơ màng
Tôi hòa tiếng cánh chim ngàn tung bay
Quây quần êm lượn họp bầy
Tôi là sao chiếu sáng đầy đêm thâu
Bên mộ tôi chớ khóc sầu
Tôi đâu nằm đó, có đâu lìa trần.
Tâm Minh Ngô Tằng Giao, Chuyển Ngữ




wild grass  
#156 Posted : Thursday, May 30, 2019 12:57:05 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)


UserPostedImage



Anh Hùng Vô Danh

Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy
(Tặng những chiến sĩ vô danh tranh đấu cho tổ quốc)




Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mông mênh
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh,
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.

Họ là kẻ tự nghìn muôn thuở trước
Đã phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu
Và làm cho những đất cát hoang vu
Biến thành một giải san hà gấm vóc.

Họ là kẻ không nài đường hiểm hóc,
Không ngại xa, hăng hái vượt trùng sơn
Để âm thầm chuẩn bị giữa cô đơn
Cuộc Nam Tiến mở giang sơn lớn rộng

Họ là kẻ khi quê hương chuyển động
Dưới gót giày của những kẻ xâm lăng,
Đã xông vào khói lửa, quyết liều thân
Để bảo vệ Tự Do cho Tổ Quốc,

Trong chiến đấu, không nài muôn khó nhọc,
Cười hiểm nguy, bất chấp nỗi gian nan,
Người thất cơ đành thịt nát xương tan
Những kẻ sống lòng son không biến chuyển.

Và đến lúc nước nhà vui thoát hiểm,
Quyết khước từ lợi lộc với vinh hoa,
Họ buông gươm quay lại chốn quê nhà
Để sống lại cuộc đời trong bóng tối.

Họ là kẻ anh hùng không tên tuổi
Trong loạn ly như giữa lúc thanh bình
Bền một lòng dũng cảm, chí hy sinh
Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch.

Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách,
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên,
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật,

Nhưng máu họ đã len vào mạch đất,
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông.
Và anh hồn chung với tấm tinh trung
Đã hòa hợp làm linh hồn giống Việt.




wild grass  
#157 Posted : Monday, June 3, 2019 11:35:13 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)
Quốc … Có Hận ??

Hoàng Thanh Trúc



Năm 1285….Hoàng tử giặc “Tàu” Nguyên Mông, Thoát Hoan, có ý chiêu hàng nên dụ hỏi: “ Tướng quân có muốn làm Vương không ? ” Trần Bình Trọng hét lên : “ Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Nay ta đã bị bắt thì chỉ có chết là cùng, can gì phải hỏi lôi thôi …

Năm 1975 … Ngày 14/8 tại sân vận động Tỉnh cần Thơ, một tấm gương soi rọi như cháu con thừa tự dòng nhiệt huyết bất khuất của dũng tướng Trần Bình Trọng, hòa vào hồn thiêng sông núi là những lời nói dũng liệt trung kiên của Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, Tỉnh Trưởng Chương Thiện (Cần Thơ) trước mũi súng đạn đã lên nòng của cộng sản VN sắp hạ sát ông :

… Nếu tôi thắng trong cuộc chiến này, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không hạ nhục các anh như các anh bôi lọ tôi. Tôi cũng không hỏi các anh những lời các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của toàn dân. Tôi có công mà không có tội. Các Anh không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phán đoán các anh hay tôi ai là giặc. Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Không cần phải bịt mắt. ” Đả đảo cộng sản – Việt Nam Cộng Hòa muôn năm…” .

Như dũng tướng xông pha trận mạc, giữa sa trường, gặp lúc “mãnh hổ nan địch quần hồ” chấp nhận da ngựa bọc thây, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, ông không hề tham sống run sợ trước nòng súng của kẻ thù CS, không hèn nhát để cần bịt mặt, ông muốn mở to mắt nhìn cho thật rỏ những bộ mặt mang trong người dòng máu đỏ da vàng nói tiếng VN nhưng đầu óc bị “tẩy não” nêm chặt đầy một thứ chủ nghĩa lai căng, vong bản, cuồng tín, lấy máu xương đồng bào anh em nhân dân hai miền, làm nồi da sáo thịt, nhuộm đỏ một giãi giang sơn cơ đồ của cha ông để phục vụ cho một CNCS khát máu ngoại lai xa lạ với truyền thống Rồng Tiên Âu Lạc. Thời khắc ấy hàng vạn mái chèo khắp Cửu Long giang như ngưng khua nhịp, cho mặt nước sông hồ tĩnh lặng in đậm hình hài một mãnh hổ bất khuất “Vị Quốc Vong Thân



UserPostedImage
Đai tá Hồ Ngọc Cẩn (Nguyên Tỉnh trưởng-Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện – Cần Thơ)


Ông sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938, tại Cần Thơ. Thân phụ là quân nhân trong QL/VNCH. Ông được thu nhận vào trường thiếu sinh quân đệ nhất quân khu Đông Dương của quân đội Pháp ở Vũng Tàu niên khóa 1951-1952 . Năm 17 tuổi ông được cử lên học tại Liên trường võ khoa Thủ Đức, về kỹ thuật vũ khí, niên khóa 1955-1956. Sau ba tháng, ông đậu chứng chỉ chuyên môn về vũ khí bậc nhất với hạng ưu. Năm 1961 Ông được nhập học khoá Sĩ quan Thủ Đức và tốt nghiệp khoa sĩ quan đặc biệt với cấp bậc Chuẩn Úy .

Ông theo học khóa huấn luyện sĩ quan Biệt Động Quân, rồi về phục vụ tại khu 42 chiến thuật, với chức vụ trung đội trưởng Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân “Cọp ba đầu rằn”. Trách nhiệm Lãnh thổ khu này gồm các tỉnh Cần Thơ (Phong Dinh), Chương Thiện – Sóc trăng (Ba Xuyên), Bạc Liêu Cà Mau (An Xuyên). Nhờ tài chỉ huy thiên bẩm và chiến đấu gan dạ lập nhiều chiến công nên ông được thăng cấp đặc cách hai lần tại mặt trận lên Đại úy và được bổ nhiệm làm tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 42.Biệt động quân .

Cuối năm 1966, ông là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 33 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ binh. Suốt năm 1967, ông với Tiểu đoàn 1 tung hoành trên khắp lãnh thổ năm tỉnh vùng sông Hậu, góp phần đập tan kế hoạch tổng công kích Mậu Thân trên mặt trận đồng bằng vùng trách nhiệm, ông được thăng thiếu tá. Năm 1968, ông là người có nhiều huy chương nhất của cấp bậc này trong quân đội .

Năm 1970, ông được thăng trung tá và rời Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 33 về làm Trung Đoàn Trưởng Trung đoàn 15 thuộc Sư Đoàn 9 Bộ binh. Năm 1972, ông được lệnh mang Trung đoàn 15 từ miền Tây lên giải phóng An Lộc hoàn thành nhiệm vụ. Cuối năm 1973, ông được điều động trở về chiến trường sình lầy miền Nam nơi ông sinh ra với chức vụ Tỉnh trưởng, kiêm Tiểu Khu Trưởng tỉnh Chương Thiện.(Cần Thơ).


MÃNH HỔ NAN ĐỊCH QUẦN HỒ

30/4/1975- Sau khi có lệnh từ các “tướng nội thù” tại SàiGòn kêu gọi buông súng, ông cương quyết không nhận lệnh, cùng các binh sĩ tổ chức phòng thủ và chiến đấu cố bảo vệ tiểu khu. Các đơn vị Cộng Sản Bắc Việt tiến vào tiểu khu Chương Thiện, thì gặp sức kháng cự quyết liệt . Cuối cùng CS Bắc Việt huy động hàng Sư Đoàn quân chủ lực bao vây, ông bị bắt và mang ra xử bắn tại sân vận động Cần Thơ ngày 14 tháng 8 năm 1975. Trước lúc bị hành quyết , những người CS xử ông, hỏi ông có nhận tội mà họ vừa nêu ra không ? thì ông trả lời như sau:

Nếu tôi thắng trong cuộc chiến này , tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không hạ nhục các anh như các anh bôi lọ tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của toàn dân. Tôi có công mà không có tội. Các Anh không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phán đoán các anh hay tôi ai là giặc. Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Không cần phải bịt mắt và hô to Đả đảo cộng sản. Việt Nam Cộng Hòa muôn năm” .

Chú thích : Cuộc xử Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn do hai nhân chứng trực tiếp chứng kiến thuật lại. Một là Trung tá Bùi Văn Địch (hiện sống ở Berlin, Đức); hai là phu nhân của Trung tá bác sĩ Jean Marc Bodoret, nhũ danh Vũ Thị Quỳnh Chi (hiện sống ởMarseille), em ruột của cựu Thiếu sinh quân Vũ Tiến Quang. Vũ Tiến Quang là người nạp đạn cho Đại tá Hồ Ngọc Cẩn sử dụng khẩu đại liên 30, bắn đến viên đạn cuối cùng trong công sự chiến đấu tiểu khu Chương Thiện ,trước khi bị lính CS Bắc Việt tràn ngập.


Mỗi tháng 4 về, Việt Nam “…có triệu người vui,có triệu người buồn” ( cựu TT/Võ Văn Kiệt ) Triệu người buồn mà có lẽ cả nước hiện nay, đa phần, nếu hiểu cho thấu đáo tường tận trong quang minh chính trực đều phải buồn lây, chính xác hơn là có đến hai mươi triệu (20.000.000) nhân dân miền Nam đã từng có một quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. Một Quốc Gia có quốc tế công nhận với hàng trăm sứ quán, có Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, có Tổng Thống, có Hiến pháp, có Lưỡng viện Quốc Hội, có người cày đủ ruộng , có lúa gạo thừa để xuất khẩu, có đoàn máy bay hàng không dân dụng Air Việt Nam … mơ cất cánh đưa vị thế VNCH lên cao cùng các quốc gia láng giềng Thái lan, Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc…thì lại bị người anh em ruột thịt CS/XHCN/ miền Bắc nghèo khó không có gì hết ngoài “búa liềm và súng đạn” cùng một mẹ nhưng khác cha ( cha Quốc Tế CS ) súi bẩy “nhổ nước bọt” vào hai cái hiệp định quốc tế Genève 1954 và Paris 1973 vượt vĩ tuyến 17 mang súng đạn,chất nổ vào Nam gây cảnh cốt nhục tương tàn đau thương tang tóc cho nhân dân Miền Nam kéo dài hơn hai mươi năm, điển hình như các hình ảnh mà đồng bào miền Nam không thể nào quên dưới đây :



UserPostedImage UserPostedImage
Trẻ em, thường dân vô tội chết tức tưởi vì chất nổ VC mà không biết tại sao
Thịt nát xương tan vung vãi khắp nơi giữa lòng SaiGòn vì đặc công VC.


UserPostedImage UserPostedImage
Thanh niên học sinh nam nử, máu tắm sách vở học trò vì chất nổ VC.
Các vụ đặt chất nổ của CSVN tại Sài Gòn và các đô thị miền Nam 90% nạn nhân là thường dân vô tội
– Sự tàn bạo và dã man duy nhất trên thế giới ở thời điểm ấy chỉ có tại Việt Nam (1960-1975).(Ả nh Hulton-Deutsch / Corbi)



UserPostedImage



Và cuối cùng thì những người CSVN đã hy sinh đất đai núi rừng biển đảo của cha ông đổi lấy súng đạn Nga Tàu để ca khúc khải hoàn trên 5.000.000 (năm triệu) xác đồng bào của họ và tận diệt gần nữa triệu trí thức tinh hoa, sĩ quan, quân dân cán chính của miền Nam trong các trại lao tù CS mà không thèm đoái hoài đọc lấy một chử trong hiệp ước tù binh quốc tế,( phải xét xử tù binh chiến tranh tại toà án trước khi bỏ tù họ), bởi hơn ai hết, những người CSVN biết rất rỏ chính họ cố tình vi phạm các hiệp định quốc tế võ trang xâm lược VNCH ( dưới chiêu bài “giải phóng” ) –

Bảo vệ tổ quốc VNCH chống lại hành vi “xâm lược” từ CS bên kia vĩ tuyến 17 không thể là cái “tội” của quân dân, cán, chính Miền Nam – Hành vi cuồng tín của một đạo quân cộng sản đói nghèo cơm độn sắn khoai quanh năm thì không thể nào nhân danh cái gọi là “cách mạng ,giãi phóng” cho một quốc gia VNCH đang thừa mứa lương thực, đầy đủ các điều kiện trên đà phát triển phồn vinh ! Họ, những người CSVN, không muốn một VNCH lớn lên cùng thiên hạ và giàu mạnh vượt qua chính họ –

Hồ Chí Minh và CSVN đã lấy máu xương của cả dân tộc làm nhiên liệu đốt cháy quỹ thời gian to lớn “vàng ngọc” (67 năm kể từ 1945) để hôm nay 2012 bới trong đống tro tàn góp nhặt được : “ Thu nhập bình quân đầu người Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore ” (of Bank world 2012) . Lạm phát 19%/năm , nhất Châu Á – nhất ASEAN , tóp 4 thế giới . Thiên hạ không ai có thiện cãm đứng lại phụ kéo “cặp búa liềm” hoen rĩ, gớm giếc còn dấu tích xương máu nhân dân vô tội VN.


Một câu hỏi sẽ mãi là cái đinh đóng thẳng vào lương tri não bộ những người CSVN . Gần nữa triệu quân cán chính nhân sĩ miền Nam bị CS dồn vào lao tù và ngay như việc “hèn hạ” xử bắn Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn nói trên thì tất cả họ bị cho là có : TỘI GÌ ?? Họ đâu có cầm súng vượt vĩ tuyến ra phía Bắc phá hoại sự bình yên của đồng bào mình ? tất cả họ và CP/VNCH đâu có bỉ ổi,bịp bợm như đi “toilet” trên 2 hiệp định quốc tế Genève và Paris như CSVN ? Chính xác là họ, QL/VNCH những người chiến đấu vì chính nghĩa ngay trong “nhà mình” (một căn nhà mà quốc tế và LHQ công nhận đó là một quốc gia) để bảo vệ Miền Nam (VNCH) được tự do dân chủ phát triển cho dân giàu nước mạnh như Singapore,Thái Lan,Đài Loan hay Hàn Quốc…

HỌ CHIẾN ĐẤU KHÔNG VÌ MỘT THAM VỌNG CÁ NHÂN,ĐẢNG PHÁI hay CHỦ NGHĨA NÀO, NGOÀI SỰ TỰ DO DÂN CHỦ ĐỂ PHÁT TRIỂN CỦA TOÀN DÂN TỘC VN . Và vì vậy câu nói cuối cùng trước khi “vị quốc vong thân” của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn : “ Lịch sử sẽ phán đoán các anh hay tôi ai là giặc….” để lại cho Lịch sử và hồn thiêng sông núi sẽ phán quyết và trừng phạt trong một ngày không còn xa lắm dựa trên “sự thật là chân lý của mọi chân lý” đồng bào,nhân dân yêu nước chúng ta chắc chắn đều tin như vậy ! .


4000 năm lập Quốc . Chúng ta ,toàn dân, hơn tám mươi triệu trái tim Việt chung dòng máu Lạc Hồng hãy ghi nhận cùng với oan hồn hàng triệu lương dân, những “thành tích vô địch” của chế độ CSVN, chưa từng có trong lịch sử Cha Ông chúng ta và hiếm thấy trong các quốc gia trên thế giới hiện nay :


– Cộng Sản VN, một chế độ mà chính nó trực tiếp tự nguyện gây chảy máu cho dân tộc VN nhiều nhất từ trước đến nay gần 5.000.000.(khởi điểm 1945 + xác đồng bào trên Biển Đông ).


– CSVN, là chế độ duy nhất trong lịch sử ký văn bản xác nhận mất đất vĩnh viễn cho “Tàu Cộng” kẻ thù truyền kiếp của dân tộc ( bằng “tỉnh Thái Bình” khoảng 1.542 km²) mà vẫn ôm ấp kẻ thù thắm thiết như anh em một nhà !?

(triều Nguyễn chỉ ký cho Pháp “quyền đô hộ” 6 tỉnh miền Đông & Nam Kỳ trong nhất thời ) còn thời gian và cơ hội thu hồi lại.


– CSVN, chế độ duy nhất,trong lịch sử, nhận chỉ thị trực tiếp từ nước ngoài (Stalin, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai) giết hại 172.000 đồng bào vô tội “như vịt gà” cho đủ chỉ tiêu để đạt thành tích (CCRĐ) . Hồ Chí Minh còn nhiều lần tuyên bố: “Ai có thể sai, chứ đ/c Stalin và đ/c Mao Trạch Đông thì không thể sai được.” (Nguyễn Minh Cần)


– CSVN, chế độ duy nhất, dù VN còn rất nghèo vẫn bắt người dân vắt mồ, hôi nuôi một lúc 2 “Chính Phủ” trong một quốc gia , “Chính Phủ” Đảng CS cầm quyền và “Chính Phủ”nhà nước Quản Lý nhân dân !? mà ngân sách cho “Chính Phủ” Đảng chi tiêu là “Bí mật” quốc gia,không được phép công bố ?


– CSVN, là đảng phái “giang hồ” nhất tự điền tên mình vào Hiến Pháp cầm quyền độc tôn (điều 4 HP,XHCN/VN) mà không cần bất cứ ai chuẩn thuận trong một quốc gia “dân chủ gấp vạn lần phương Tây !? (Nguyễn thị Doan PCT/Nước) .


– CSVN, sắp đặt một Quốc Hội “Bịp Bợm” nhất trong số hơn 200 quốc gia tự do dân chủ Đại Nghị trên thế giới hiện nay với 92% trăm Đại Biểu (nghị sĩ) là đảng viên Công Sản chỉ có 8% Đại Biểu là người dân ngoài đảng vậy mà vẫn cứ gọi đó là Quốc Hội của Nhân Dân !?


Ngần đó thôi những cái “Vô Địch” của cộng sản VN để rất chính xác cho lời nhận định chỉ danh từ Đức Dalai Lama lãnh tụ tinh thần Phật giáo khả kính Tây Tạng :

“Cộng Sản là loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài vi trùng độc hại,sinh sôi, nẩy nở, trên rác rưởi của cuộc đời ”.

Edited by user Monday, June 3, 2019 11:41:50 PM(UTC)  | Reason: Not specified

wild grass  
#158 Posted : Monday, June 10, 2019 1:02:02 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)


Yểm Trợ Hạm Cần Thơ HQ 801: KHÔNG BỎ ANH EM
-
Trần Đỗ Cẩm



Yểm Trợ Hạm Cần Thơ HQ 801 nguyên là Dương Vận Hạm USS Garrett County (LST 786) của Hải Quân Hoa Kỳ. Trong chiến tranh Việt Nam, chiến hạm được biến cải thành Yểm Trợ Hạm (AGP – Auxiliary General Purpose) đặc biệt dùng cho chiến trường Việt Nam để sửa chữa và tu bổ các chiến đĩnh trong sông cũng như duyên hải. Chiến hạm được chuyển giao cho HQ/VNCH ngày 23 tháng 4 năm 1971. Cùng loại với HQ 801 còn có HQ 800 Mỹ-Tho (USS Harnett County – LST 821) chuyển giao ngày 12 tháng 10 năm 1970. Riêng Cơ Xưởng Hạm (ARL – Auxiliary Repair Ship Landing) HQ 802 Vĩnh-Long (USS Satyr – LST 852) chuyển giao ngày 15 tháng 10 năm 1971 thực sự là một cơ xưởng nổi với máy chánh mạnh hơn, thêm nhiều cần trục và máy móc kỹ nghệ thủ công như máy tiện, khoan, bào, cán, uốn, xưởng hàn, xưởng điện tử, xưởng mộc v.v… nên có khả năng sửa chữa cao nhưng lại nặng nề hơn loại Yểm Trợ Hạm.


Hạm Trưởng HQ 801 là HQ Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá xuất thân khóa 11 SQHQ/NT. Ông là một trong số rất ít sĩ quan Hải Quân xuất sắc với nhiều kinh nghiệm trong quân ngũ cũng như ngoài hàng hải thương thuyền. Ông đã chỉ huy 7 chiến hạm (HQ 607, HQ 470, HQ 473, HQ 406, HQ 14, HQ 09 và HQ 801) và 3 thương thuyền (Tiền Phong, Đại Hải và Thống Nhất). Hạm Phó của HQ 801 là HQ Thiếu Tá Nguyễn Lương Thuật (Khóa 16 SQHQ/NT) chưa tân đáo. Trong năm 1974, HQ 801 đã hoạt động liên tục và hữu hiệu, hoàn tất nhiều công tác khó khăn nên được chọn làm chiến hạm xuất sắc của Hải Đội Chuyển Vận do HQ Trung Tá Lê Thuần Phong (khóa 6 SQHQ/NT) làm Hải Đội Trưởng.
Vào những tháng 3 và 4 năm 1975, HQ 801 rất bận rộn và công tác liên miên trong các cuộc di tản Miền Trung. Tối 26-3, HQ 801 được lệnh ủi bãi, đón Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến gồm 3 tiểu đoàn 3, 4, 5, TĐ2/PB, đại đội viễn thám và Sư Đoàn 1 Bộ Binh tại cửa Thuận An. Nhưng vì mực nước không đủ sâu nên chiến hạm không vào sát được bãi ủi. Khoảng cách từ bờ ra tầu còn quá xa, quân trên bờ không lội ra được. HQ 801 cố vào sát bãi biển hơn để đón quân, có lúc đã hầu như bị mắc cạn nhưng quân bạn vẫn không sao lên được, vì vậy công tác đành bỏ dở. Kinh nghiệm gỡ cạn và thất bại cay đắng này sẽ giúp hạm trưởng Bá về sau.
Đêm 18-4, HQ 801 hoạt động sát bờ biển Phan Thiết tại Hòn Rơm gần Mũi Né đón được một số quân nhân thuộc Tiểu Khu Bình Thuận rồi về Vũng Tàu. Ngày 21-4, chiến hạm về Sài Gòn cặp cầu E trong Hải Quân Công Xưởng, vị trí 4 ngoài cùng. Trong lúc nghỉ bến, chiến hạm dự trữ lương thực và nước ngọt sẵn sàbng di chuyển về nơi an toàn hay Vùng 4 để tiếp tục chiến đấu khi có lệnh.
Khoảng 2 giờ chiều ngày 29-4, hạm trưởng Bá lên BTL/Hạm Đội họp khẩn cấp. Lúc trở về tầu, ông cho biết được lệnh ra khơi, sau đó dùng LCVP cơ hữu về cư xá Văn Thánh gần trại Cửu Long đón gia đình. Lúc này càng về chiều dân chúng và binh sĩ càng đổ dồn về bến Bạch Đằng. Cùng cập cầu E ở vị trí 1 là HQ 4 đang đại kỳ không đi được; vị trí 2 là HQ 402 hai máy chánh bị hư chưa sửa xong, vị trí 3 là HQ 15 cũng đang đại kỳ, chỉ còn HQ 801 còn khả năng lên đường. Vì vậy dân chúng ùa xuống HQ 801 mỗi lúc càng đông, lên tới cả ngàn người.


UserPostedImage
Yểm Trợ Hạm Cần Thơ HQ 801


Sau khi đón được gia đình, hạm trưởng Bá ra lệnh rời bến, trên tầu đã có HQ Trung Tá Lê Thuần Phong HĐT Hải Đội Chuyển Vận. HQ 801 chỉ còn một máy hữu khiển dụng, Máy tả chưa khởi động được vì bình điện chưa nạp đủ. Lúc này không còn sự trợ giúp của tầu giòng Ty Quân Cảng nên chiến hạm phải dùng LCVP cơ hữu để đẩy chiến hạm rời cầu. HQ Thiếu Úy Lê Thái Phúc khóa 25 SQHQ/NT ở nhiệm sở thả LCVP, các HQ Thiếu Úy Đặng Tiến, Nguyễn Đăng Phong và Lê Đắc Khánh cùng khóa 25 ở trên tiểu đĩnh. Khi ra được tới sông lớn, vì khó vận chuyển nên chiếc LCVP vẫn chạy theo để chuẩn bị phụ giúp nếu cần; qua khỏi Ngã Ba Đèn Đỏ (hải lý 6 tính từ Sài Gòn), chiến hạm mới kéo LCVP lên tầu.
HQ 801 tuy chỉ còn một máy hữu, lại chạy nước xuôi nên rất khó lái, nhưng với kinh nghiệm giang hành dồi dào, hạm trưởng Bá vẫn chỉ huy chiến hạm xuôi giòng không trở ngại. Khi gần tới Mũi Đông (Coude de l’Est – hải lý 20) là cua quẹo hình chữ V gắt nhất của sông Lòng Tào, trên máy truyền tin và cả loa phóng thanh, HQ 801 nhận được lời yêu cầu trợ giúp của HQ 1 đang bị mắc cạn bên hữu ngạn (bờ Tây) sông Lòng Tào, đối diện với Mũi Đông. Lúc đó là 1 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975.


Chỉ mấy tiếng đồng hồ trước đó, HQ 1 còn cập cầu B vị trí 1 nhưng hạm trưởng là HQ Trung Tá Nguyễn Địch Hùng (khóa 4 Trường Hải Quân Brest của Pháp) về nhà ở đường Trần Hoàng Quân đón gia đình chưa về kịp. Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh, cựu TL/HQ ra lệnh cho HQ Trung Tá Nguyễn Duy Long chỉ huy chiến hạm tách bến; trên tầu còn có Phó Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu. Trung Tá Long kể lại:” Các sĩ quan trên HQ 1 cho biết Hạm Trưởng HQ 1 đã rời tàu đi rước gia đình. Chờ mãi, hầu hết các chiến hạm đã rời bến mà ông HT vẫn chưa về tàu và chẳng có tin tức gì. Khi hầu hết các chiến hạm đã rời các cầu tàu mà HQ 1 vẫn còn nằm lẻ loi ở vị trí 1 cầu B. Thấy vậy, ĐĐ Tánh ra lệnh cho tôi vận chuyển chiến hạm ra đi, nếu chờ trễ nữa, tăng VC sẽ đến bến tàu ngăn cản việc di tản. Trên HQ 1 lúc nầy đầy người, chen chân không lọt, không biết bao nhiêu người, dưới phòng ngủ HSQ và thủy thủ cũng đầy người”.


Trung Tá Long cho biết trong lúc giang hành, chiến hạm không những chỉ còn một máy khiển dụng mà còn gặp thêm một số trở ngại kỹ thuật về máy điện khiến lái điện nhiều khi ngưng hoạt động phải đổi sang lái tay, Ông thuật lại:” Khi đi ngang thương cảng, phòng máy báo cáo máy điện bị xụp, tay lái không ăn, phải đổi sang lái tay. Sau đó máy điện chạy lại. Tàu ra đến Nhà Bè, máy điện lại xụp. Máy điện lại chạy.Tàu tiếp tục di chuyển”. Qua khỏi Nhà Bè (hải lý 11), tầu bắt đầu vào sông Lòng Tào. Từ đây cho tới Ngã Tư Bốn Tay (Les Quatre Bras – hải lý 28) là đoạn nguy hiểm nhất của sông Lòng Tào. Sông đã hẹp lại cạn khi nước ròng với nhiều khúc quanh gắt, các tầu lớn qua lại nhiều khi phải dùng cả máy chánh phụ giúp tay lái mới có thể qua được những cua quẹo khó khăn này. HQ 1 chỉ còn một máy, tay lái điện lúc có lúc không, lại chạy nước xuôi nên vận chuyển rất khó khăn.

Tuy với chiến hạm và thủy thủ đoàn xa lạ, lại phải giang hành ban đêm trong lúc tình hình gay go, nhưng dưới sự chỉ huy đầy kinh nghiệm và khéo léo của hạm trưởng Long, HQ 1 qua khỏi vùng nguy hiểm đầu tiên là Bãi Đá Hàn (Banc de Corail tại hải lý 16 an toàn. Nhưng không may chỉ 4 hải lý sau đó, HQ 1 bị mắc cạn tại khúc sông Coude de l’Est (hải lý 20). HQ lập tức dùng máy truyền tin và loa phóng thanh yêu cầu các chiến hạm bạn trợ giúp. Hạm trưởng Long cho biết:”Khi vừa qua khỏi “Coude de l’Est” thì máy điện lại xụp, chưa kịp đổi sang lái tay thì tàu từ từ lủi vào bờ phải rồi ủi vào bờ bên phải. Máy điện chạy lại, tôi cố gắng lùi tàu và làm vài vận chuyển nhưng tàu vẫn không nhúc nhích. Tôi kêu gọi các chiến hạm đi ngang nhờ phụ kéo HQ 1 ra nhưng họ không giúp, có lẽ vì tàu nào cũng chở đầy người …”. Một thường dân quá giang trên HQ 1 hồi tưởng tâm trạng lúc đó như sau: “Tôi nhớ giây phút dầu sôi lửa bỏng ấy tôi đi quá giang trên chiếc HQ-1 mà bụng đánh lô tô vái trời cao cho phép nhiệm màu ai nhảy ra cứu vớt chúng tôi, tôi ngồi trên boong tàu đếm từ con tàu đi qua số đếm của tôi, hơn 10 chiếc …”. Trường hợp HQ 1 liên tiếp bị mất điện có thể xảy ra, nhưng hơi hiếm vì mỗi khi hoạt động, bao giờ chiến hạm cũng ghép hai máy điện chạy song song. Nếu một máy bị xụp thì máy kia vẫn đủ sức cung cấp đủ điện lực cho những dụng cụ hải hành cần thiết như la bàn điện, tay lái, radar, hệ thống truyền tin v.v… Có thể HQ 1 không may cũng chỉ còn một máy điện khiển dụng.

Về phần HQ 801, sau nhiều lần tiếp xúc và phối kiểm, hạm trưởng Bá hiện sống ở Australia vẫn xác nhận ông rời cầu E trong Hải Quân Công Xưởng lúc 11 giờ 30 tối 29-4. Như vậy cho tới khi gặp HQ 1 mắc cạn tại hải lý 20 lúc 1 giờ 30 sáng hôm sau, HQ 801 loại Dương Vận Hạm cũng chỉ đi mất 2 tiếng đồng hồ, tức là vận tốc 10 gút (20/2=10) với 1 máy, nước xuôi. Một số sĩ quan cơ hữu trên HQ 801 nói đi lúc 9 giờ 30 tối “ngay sau khi hạm trưởng đón được gia đình lên tầu” tức là cho tới khi gặp HQ 1 mắc cạn tầu đã rời bến được 4 tiếng đồng hồ với vận tốc trung bình 5 gút. Trong bài phỏng vấn gần đây, một khách quá giang nói HQ 801 rời Sài Gòn lúc 8 giờ 30 tối. Tốc độ trung bình của loại Dương Vận Hạm với 2 máy chạy tốt là 10.5 gút (hải lý/giờ).

Khi đột nhiên nhận được tín hiệu S.O.S của HQ 1, chắc hạm trưởng Bá không khỏi phân vân, vì HQ 801 vẫn chỉ còn một máy, giang hành ban đêm, chở đầy ắp người, lại to lớn kềnh càng, sông hẹp, nước đang ròng thấp. Trong hòan cảnh dầu sôi lửa bỏng, tự giữ an toàn chính mình đã khó, tính gì đến chuyện giúp ai? Đây là phản ứng thông thường cũng như những chiến hạm khác lặng lẽ đã đi qua. Tuy nhiên chỉ thoáng sau phút suy tư ban đầu, Hạm Trưởng Bá đã tự mình quyết định quay tầu lại ngược giòng để trợ giúp, mặc dầu lúc đó HQ 801 đã đi quá HQ 1 khoảng 1.5 hải lý. HQ Thiếu Úy Đặng Tiến, một sĩ quan cơ hữu của HQ 801 thuật lại cảm nghĩ lúc bấy giờ: “Từng đoàn các chiến hạm lặng lẽ lướt qua một cách vô cảm. Tôi chợt nghĩ, mới hôm nào ở mặt trận Cà Ná các chiến hạm bạn liều chết tiến vào cứu HQ 503 dưới làn đạn pháo 100 ly trực xạ của Cộng quân hôm nay tại sao lại lạnh lùng? HQ 801 không vô cảm như vậy ,bởi vì trên đó còn có Hạm Trưởng Bá”. Quyết định không bỏ anh em này quả thật là một hành động can đảm chỉ có ở những Hạm Trưởng đề cao tinh thần Danh Dự và Trách Nhiệm, đồng thời tự tin vào khả năng của mình.


Quyết định quay tầu lại đã khó, thi hành cũng chẳng dễ dàng gì vì lòng sông hẹp, chiến hạm lớn. Chiều dài của HQ 1 và HQ 801 tương đương nhau, khoảng 100 m. Nhìn trên bản đồ, khoảng cách hai bên bờ sông tại Mũi Đông là 1369 ft hay 417 m, nhưng trừ đi bờ sông, mặt sông thực sự có nước chỉ rộng chừng 300 m. Với cao độ thủy triều trung bình 2 – 3 m, khi nước ròng, lạch sông để chiến hạm vận chuyển an toàn không bị cạn chỉ còn lại không quá 250 m hay 2.5 chiều dài của chiến hạm. Mũi Đông là cua quẹo gắt, chiến hạm lớn chỉ còn 1 máy, lại giang hành ban đêm nên HQ 1 bị mắc cạn không có gì lạ. Riêng đối với HQ 801 cũng chỉ còn 1 máy, phải vận chuyển quay mũi ngược lại thượng giòng 180 độ thật rất khó khăn. Không phải chỗ nào cũng quay tầu lại được mà thông thường phải chờ tới khúc sông rộng nước sâu mới có “điểm quay tầu”. Các hoa tiêu chuyên nghiệp lái thương thuyền một chân vịt nếu không có tầu giòng đẩy giúp thường phải dùng máy chánh phụ giúp tay lái khi qua lại trên sông Lòng Tào.

Vận chuyển trở ngược đầu đã rất gian nan, nhưng mới chỉ là giai đoạn đầu; lại gần được tầu bạn để trợ giúp còn gay cấn hơn. Thông thường chỉ cần chạy lại gần, quăng giây cột vào tầu bị nạn rồi kéo ra; nhưng vì lòng sông quá hẹp, nước đang ròng, HQ 1 bị bùn dẻo hút chặt nên phải tìm cách làm cho nhúc nhích mới kéo ra được. Như vậy, chỉ còn cách cập ngang hông theo thế ủi bãi song song, đòi hỏi chính xác vào đúng vị trí và nhẹ nhàng để đừng đụng bể hay xô lật tầu bạn. Đây là một vận chuyển không dễ làm đối với loại tầu đổ bộ mũi bằng, chỉ những hạm trưởng “sói biển” với nhiều kinh nghiệm xương máu mới đủ khả năng thi hành. Nhưng “trên HQ 801 có Hạm Trưởng Bá” như Thiếu Úy Đặng Tiến hãnh diện.


Trong các cuộc tiếp xúc mới đây nhất vào đầu năm 2019, hạm trưởng Nguyễn Phú Bá đã nhiều lần xác quyết chính ông là người duy nhất quyết định, chịu trách nhiệm và hoàn toàn chỉ huy HQ 801 cho tới khi tầu tới Côn Sơn. Ông cũng có nhã ý thuật lại chi tiết những vận chuyển khó khăn để “cập sát nách” HQ 1. Trước hết, khi chiến hạm quay lại vừa vượt qua khỏi lái HQ 1, ông cho thả neo lái rồi ra lệnh bẻ lái qua bên trái (tả hạm) để mũi tầu quay về hướng bờ Tây (hữu ngạn) nơi HQ 1 đang bị mắc cạn. Khi thấy mũi tàu cách bờ khoảng 200 yards, ông cho lệnh “thắng neo” để cuộn giây neo bằng xích sau lái không tuôn ra nữa và ngưng máy. Khi giây neo vừa căng, ông cho lệnh “khóa neo” để mũi tàu không tiến thêm vào bờ. Sau cùng HQ.801 ở vị trí nằm song song với HQ.1 phía trên nước và giòng nước thủy triều đang ròng đẩy con tầu từ từ trôi xuống tấp nhẹ vào hữu hạm HQ.1 với khoảng 2/3 chiều dài.



UserPostedImage

wild grass  
#159 Posted : Friday, June 14, 2019 12:50:14 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)



Nhớ đến anh, Người Lính VNCH

Nguyễn Phú

(Trung Đội Trinh Sát/Tiểu Đoàn 2/43 - SĐ18BB)


Kính tặng các anh chiến hữu yêu dấu QLVNCH tại chiến trường Long Khánh, 1975.


Người chiến sĩ QLVNCH với trọng trách mà Tổ quốc đã giao phó cho họ qua ba điều tâm niệm: Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm, như chiếc ghe nhỏ đang cố gắng đẩy chiếc sà lan nặng nề đầy cát giữa dòng sông nước chảy cuộn, tìm cách tránh né những cụm lục bình trôi theo dòng nước lũ, mà hầu như lúc nào những cụm lục bình trôi không định hướng ấy cũng muốn bám chặt vào cánh quạt máy chân vịt của chiếc ghe đó


UserPostedImage
Sư đoàn 21


Thế rồi dòng đời trôi qua, trong mọi bối cảnh, bất chấp gian nan, sự khổ cực, sự ngược đãi và bất công mà anh phải trải qua hằng ngày, người chiến sĩ QLVNCH đó vẫn kiên trì chiến đấu, bởi vì anh chỉ có biết thực thi những điều nhắn nhủ mà vị tổng tư lệnh QLVNCH đã nói với anh và các đồng đội: “Hãy kiên trì chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc chống lại cuộc xâm lăng trắng trợn của bè lũ Cộng Sản Bắc Việt.”

Người chiến sĩ QLVNCH đó có thể là người lính thuộc SĐ21BB đã phơi thây trên những tuyến đầu của Quốc Lộ 13 để mở đường cho cuộc phản công giải tỏa các đồng đội họ trong chiến trường An Lộc.

Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh cựu Biệt Kích Quân được đồng hóa ra phục vụ trong TĐ.92/ BĐQ/BP, mà dưới sự đàn áp tấn công liên tục của Cộng Quân thuộc Trung Đoàn 274 Bắc Việt, anh đã kiên trì giữ vững trại Tống Lê Chân đến hơi thở cuối cùng.

Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính thuộc Trung Đoàn 43/SĐ18BB, mặc dầu bị tràn ngập và áp đảo dưới hỏa lực dữ dội của Cộng Quân thuộc Công Trường 6 và Sư Đoàn 341 Bắc Việt, anh đã làm tròn nhiệm vụ mà Hằng Minh đã trong đợi nơi anh: ngăn trở và làm chậm lại những toán quân tiền phương của Cộng quân Bắc Việt, mua thêm thời gian cho sự bố trí chiến đấu của SĐ18BB và các đơn vị bạn trong cuộc phòng thủ tuyến thép Long Khánh.


UserPostedImage
Những nấm mồ tử sĩ sư đoàn 18 bị lãng quên ở An Lộc



Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính ĐPQ còn lại của Chi khu Định Quán, mặc dầu đơn vị anh đã tan rã đêm 16 Tháng Ba, 1975, anh và một vài đồng đội của anh đã hăng hái tình nguyện giúp đỡ chi đội thiết giáp M-113 võ trang và tái thiết bị để chống chọi lại với chiến xa T-54 của địch tại tuyến thép 2/52, để rồi ngày 12 Tháng Tư,1975, anh lại cùng toán quân đặc nhiệm của Trung Đoàn 43, phục kích và tảo thanh Cộng quân trong thị xã Xuân Lộc.

Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh chị Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn thuộc Tiểu Khu Long Khánh đã can đảm, kiên trì trong gian nan, hy sinh thân mình cùng với các anh lính của chiến hữu Vương Mộng Long, giữ vững phòng tuyến tại khách sạn Long Khánh cũ trong đợt tấn công ào ạt lần thứ hai của Cộng quân vào 5 giờ sáng ngày 9 Tháng Tư, 1975.


Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính thuộc Tiểu Đoàn 82/BĐQ/BP đã gian nan chiến đấu, mà cho đến giây phút cuối cùng, anh đã can đảm từ chối, không nhận di tản bằng trực thăng chinnook CH-47 mặc dầu đang bị thương nặng, bởi vì anh cảm thấy rằng anh đã làm tròn nhiệm vụ của anh và hơn nữa cái chỗ của anh trên chiếc trực thăng ấy có thể dành di tản thêm một người dân vô tội.


Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính Pháo Binh thuộc TĐ3/PBD, mặc dầu Cộng quân đang trên đồi xung phong xuống tại gần quân trường Long Giao cũ, và mặc dầu anh đang bị thương ôm mặt máu me tùm lum, anh vẫn can đảm và bình tĩnh hủy diệt ngòi cơ bẩm của khẩu 105 ly do anh trọng trách, bởi vì anh đã được huấn luyện như vậy.


Và người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính vì tuân lệnh của vị tân “tổng tư lệnh” QLVNCH, buông súng ống mà đã cùng theo anh chiến đấu nhiều năm trong khói lửa chiến tranh, chán chường dìu dắt đồng đội bị thương của anh từ cầu New Port, theo ngã ba Hàng Xanh, qua ngã tư Bình Hòa, ngã ba Cây Thị, chợ Gò Vấp, đến ngã năm Chuồng Chó, mệt mỏi và kiệt sức quẹo trái xuống Tổng Y Viện Cộng Hòa với hy vọng được điều trị vết thương một cách nhân đạo, để rồi đã bị xua đuổi đi một cách vô nhân đạo bởi những kẻ chiến thắng mà đối với họ chỉ có bác và đảng là trên hết.


Và rồi người chiến hữu đó cũng có thể là anh lính QLVNCH ngày đó, trên quê hương lần thứ hai này, can đảm, mặc kệ những sự bất công, ngược đãi, và gièm pha như những cụm lục bình vô định hướng trong dòng sông nước chảy cuộn, đang cố gắng chiến đấu với những kẻ chiến thắng vô thần đó, tranh giành sự tự do thật sự, tìm mọi cách hữu hiệu xoa dịu vết thương lòng và vết thương thân thể của những đồng đội đã kém may mắn hơn anh còn đang kẹt lại trên quê hương yêu dấu của anh…




Users browsing this topic
Guest (2)
8 Pages«<678
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.