Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

613 Pages«<611612613
Options
View
Go to last post Go to first unread
Bắc Kì Nho Nhỏ  
#12241 Posted : Tuesday, May 7, 2019 5:24:23 PM(UTC)
Bắc Kì Nho Nhỏ

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/23/2012(UTC)
Posts: 593
Location: Deutschland

Thanks: 195 times
Was thanked: 438 time(s) in 294 post(s)

UserPostedImage


𝓟𝓱𝓮́𝓹 𝓵𝓪̣ !

Như một phép lạ, đội tuyển Liverpool/ Anh đã thắng đội Barcelona/ Tây Ban Nha với tỉ số 4 - 0 trong trận bán kết vào tối hôm qua, 7. 5. 2019, và trở thành đội tuyển đầu tiên của trận chung kết giải Champions League 2019.

Cần nhắc lại trong trận đi (trận 1) của vòng bán kết vào ngày thứ Tư vừa qua, 1. 5. 2019, đội Liverpool đã thua đội Barcelona 3 - 0. Ngoài ra 2 tiền vệ xuất sắc nhất của Liverpool là Mo Salah và Roberto Firmino bị chấn thương nặng, không thể tham dự trận đấu tối qua, trong khi Messi, cầu thủ số 1 hiện nay của thế giới và đá cho Barcelona, lại đang sung sức. Do đó, trong buổi họp báo 2 ngày trước đây HLV Kloop (người Đức, hồi trước là HLV của đội Dortmund) cũng cho là, đội Liverpool ở thế bị dồn tới chân tường, nhưng ông Kloop cũng nói: `Một khi chúng tôi còn được ra sân, chúng tôi sẽ đấu hết sức ...´. Và sự cố gắng, quyết tâm đó đã được trọng thưởng !

Trong trận giao đấu tối nay giữa 2 đội Ajax Amsterdam / Hòa Lan và Tottenham / Anh sẽ quyết định đội tuyển thứ hai cho trận chung kết, vào ngày thứ Bảy 1. 6. 2019, tại sân vận động Wanda Metropolitano, Madrid, Tây Ban Nha.

TBích

thao ly  
#12242 Posted : Tuesday, May 7, 2019 11:29:37 PM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 4,465
Woman

Thanks: 482 times
Was thanked: 444 time(s) in 341 post(s)
Bắc Hàn lại bắn hỏa tiễn gây sức ép…


May 4, 2019

Bắc Hàn đã bắn một số “hỏa tiễn tầm ngắn không xác định” ra vùng biển ngoài khơi bờ biển phía đông của nước này vào ngày thứ Bảy, khiến Nam Hàn kêu gọi nước láng giềng cộng sản “ngưng các hành vi leo thang căng thẳng quân sự trên Bán đảo Triều Tiên.”

Một người đàn ông xem một bản tin trên tivi về việc Triều Tiên bắn tên lửa từ bờ biển phía đông của mình, trên đường phố ở Tokyo, Nhật Bản, ngày 4 tháng 5, 2019.

UserPostedImage

Quân đội ban đầu mô tả đây là một vụ phóng phi đạn, nhưng sau đó đưa ra một mô tả mơ hồ hơn. Vụ bắn mới nhất diễn ra sau khi Bắc Hàn nói họ đã thử nghiệm một hệ thống vũ khí điều hướng chiến thuật vào tháng 4.

Hoạt động quân sự dồn dập của Bình Nhưỡng có thể là một nỗ lực nhằm gây áp lực buộc Mỹ nhượng bộ trong các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt chương trình hạt nhân của Bắc Hàn sau khi hội nghị thượng đỉnh hồi tháng 2 kết thúc trong thất bại, theo các nhà phân tích.

Văn phòng tổng thống Nam Hàn kêu gọi Bắc Hàn kiềm chế hành động thêm nữa, một trong những tuyên bố cứng rắn nhất, kể từ khi hai miền BH khởi động các nỗ lực hòa giải vào đầu năm ngoái.

“Chúng tôi rất lo ngại về hành động mới nhất của Bắc Hàn,” nữ phát ngôn viên tổng thống của Nam Hàn nói trong một phát biểu, và nói thêm rằng, hành động này vi phạm thỏa thuận quân sự liên Triều.

“Chúng tôi kỳ vọng Bắc Hàn sẽ tích cực tham gia các nỗ lực hướng tới việc tái tục nhanh chóng các cuộc đàm phán giải trừ nguyên tử,” bà nói, sau cuộc họp có sự tham dự của bộ trưởng quốc phòng, các cố vấn an ninh của tổng thống và trưởng cơ quan phụ trách tình báo.

Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo và Ngoại trưởng Nam Hàn Kang Kyung-wha đồng thuận “phản hồi thận trọng” về vụ bắn hỏa tiễn mới nhất và tiếp tục trao đổi liên lạc trong một cuộc điện đàm vào ngày thứ Bảy, Bộ Ngoại giao Nam Hàn nói trong một thông cáo.

Phát ngôn viên Bạch Ốc Sarah Sanders nói, “Chúng tôi có biết về các hành động của Bắc Hàn tối nay. Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi nếu như cần thiết.”

Các hỏa tiễn, bắn từ phía đông thành phố biển Wonsan khoảng 9 giờ sáng (0000 GMT) bay khoảng 70 km đến 200 km theo hướng đông bắc, Văn phòng Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân của Nam Hàn cho biết trong một thông cáo.

Quân đội Nam Hàn nói họ đang tiến hành phân tích chung với Mỹ về các vụ phóng hỏa tiễn mới nhất. Các chuyên gia cho rằng các vật thể dường như là nhiều giàn phóng hỏa tiễn, không phải phi đạn đạn đạo, theo Reuters.

Lần phóng phi đạn cuối cùng của Bắc Hàn là tháng 11 năm 2017, khi nước này thử phi đạn đạn đạo xuyên lục địa. Ngay sau vụ thử đó, Bắc Hàn tuyên bố lực lượng nguyên tử của họ đã hoàn tất và sau đó Bình Nhưỡng chìa nhánh ô liu cầu hòa tới Nam Hàn và Mỹ.

Tuy nhiên, ngày thứ Ba, Phó Bộ trưởng Ngoại giao của Bắc Hàn lại cảnh báo rằng Mỹ sẽ phải đối mặt với “những hậu quả không mong muốn,” nếu không thể đưa ra một lập trường mới trong các cuộc đàm phán giải trừ nguyên tử đến cuối năm nay.

TT Trump nói vẫn tin Kim Jong Un ngay sau khi Bắc Hàn bắn hỏa tiễn

UserPostedImage

Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày thứ Bảy bày tỏ tin tưởng rằng lãnh tụ Bắc Hàn (BH) Kim Jong Un sẽ không “thất hứa,” ngay sau sự việc mà dường như là BH bắn hỏa tiễn tầm ngắn.

“Bất cứ điều gì trong thế giới rất thú vị này cũng đều có thể xảy ra,” ông Trump viết trên Twitter, sau khi Nam Hàn nói rằng Bình Nhưỡng đã bắn một số hỏa tiễn không xác định ra biển.

“Nhưng tôi tin rằng Kim Jong Un hoàn toàn nhận thức được tiềm năng kinh tế to lớn của họ và sẽ không làm gì để can thiệp hay chấm dứt nó,” ông nói thêm.

“Ông ấy cũng biết rằng tôi đứng về phía ông ấy & không muốn thất hứa với tôi. Thỏa thuận sẽ xảy ra!”

Kể từ hội nghị thượng đỉnh lịch sử của hai người tại Singapore vào năm 2018, ông Trump nói ông Kim vẫn cam kết “giải trừ hạt nhân hoàn toàn” bán đảo Triều Tiên.

Ông khẳng định hai nhà lãnh đạo vẫn thân thiết ngay cả sau khi hội nghị tiếp theo của họ tại Hà Nội sụp đổ vào tháng 2, và rằng ông Kim sẽ vẫn đình chỉ thử nghiệm hạt nhân và phi đạn tầm xa.

Nhưng với các cuộc đàm phán bị trì trệ, BH dường như đang thử Mỹ.

Hai bên vẫn xung khắc về đòi hỏi của BH giảm bớt đáng kể những chế tài kinh tế và Mỹ nhất quyết đòi BH phải đưa ra những nhượng bộ cụ thể để loại bỏ kho vũ khí nguyên tử của Kim.

Đầu tuần này, Phó Bộ trưởng Ngoại giao BH Choe Son Hui cảnh báo Washington về “những hệ quả không mong muốn” nếu Mỹ không điều chỉnh lập trường của mình về các chế tài kinh tế.

(Theo Reuters VOA)

Lời bàn: Thái độ và hành động của Bắc Hàn bắn hỏa tiễn ra biển nói là để thử vũ khí, hoặc với bất lý do gì, vẫn là hành động ngu xuẩn của một đứa con nít, vừa có tính vòi vĩnh, vừa cố ý thách thức người lớn chiều chuộng, năn nỉ nó… để đám ma đầu (Nga Tàu) đứng đàng sau Kim vẽ rắn thêm đầu. Trong khi Ô. Trump chẳng những đã không có tí quan tâm nào tới vụ bắn của phi tiễn của kim, mà còn cho rằng: “Ông Kim cũng biết rằng tôi đứng về phía ông & không muốn thất hứa với tôi.” Đúng là cú vuốt ve tuyệt vời! Thế nào đám “thổ tả” cũng đăng đàn chửi rũa Trump cho mà coi!

NTV

Edited by user Tuesday, May 7, 2019 11:30:43 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Bắc Kì Nho Nhỏ  
#12243 Posted : Tuesday, May 7, 2019 11:42:17 PM(UTC)
Bắc Kì Nho Nhỏ

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/23/2012(UTC)
Posts: 593
Location: Deutschland

Thanks: 195 times
Was thanked: 438 time(s) in 294 post(s)


𝓢𝓾̉𝓪 𝓫𝓪̣̂𝔂 & 𝓬𝓪̆́𝓷 𝓬𝓪̀𝓷 !


UserPostedImage


thanks 1 user thanked Bắc Kì Nho Nhỏ for this useful post.
thao ly on 5/8/2019(UTC)
Bắc Kì Nho Nhỏ  
#12244 Posted : Wednesday, May 8, 2019 6:25:13 AM(UTC)
Bắc Kì Nho Nhỏ

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/23/2012(UTC)
Posts: 593
Location: Deutschland

Thanks: 195 times
Was thanked: 438 time(s) in 294 post(s)


ℂℍ𝔸𝕄ℙ𝕀𝕆ℕ𝕊 𝕃𝔼𝔸𝔾𝕌𝔼 𝟚𝟘𝟙𝟡

𝐋𝐢𝐯𝐞𝐫𝐩𝐨𝐨𝐥 vs 𝐁𝐚𝐫𝐜𝐞𝐥𝐨𝐧𝐚


Mời `bấm chuột´ vào hình dưới đây, đễ coi những cao điểm (highlights)
trong trận đấu bán kết 2 (lần về), diễn ra ngày hôm qua 7. 5. 2019,
giữa 2 đội tuyển Liverpool và Barcelona:



UserPostedImage






thao ly  
#12245 Posted : Wednesday, May 8, 2019 7:44:17 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 4,465
Woman

Thanks: 482 times
Was thanked: 444 time(s) in 341 post(s)

VOICE: tiếng nói của lương tâm và trách nhiệm


07/05/201910:58:00(Xem: 866)
Nam Lộc

Sự thành công trong cuộc vận động và định cư khẩn cấp nhà hoạt động môi trường Bạch Hồng Quyền cùng gia đình của ông được đến bến bờ tự do của tổ chức VOICE và VOICE Canada vào ngày 3 tháng 5, 2019 vừa qua, đã là một câu trả lời mạnh mẽ cho những kẻ chuyên loan tin bịa đặt cùng những người thích chuyển tin thất thiệt mà họ đã tung ra, nhằm triệt hạ ý nghĩa của nỗ lực giúp đỡ các đồng bào tỵ nạn Việt Nam, đang sống vất vưởng ở Thái Lan hiện nay và đang mòn mỏi đợi chờ để được thế giới tự do đưa tay cứu vớt.

Inline image

Gia đình ông Bạch Hồng Quyền và thành viên của tổ chức VOICE tại phi trường Toronto, Canada

Trước đây tôi vẫn thường cho hành động phao tin thất thiệt trên các diễn đàn truyền thông, xã hội là việc làm của những kẻ “vô trách nhiệm”. Tuy nhiên, nếu thẩm định kỹ lưỡng qua trường hợp của ông Bạch Hồng Quyền, thì có thể nói rằng, đây là cả một âm mưu đánh phá thâm độc có chủ đích, có tổ chức và có sự liên kết giữa những thế lực ở trong nước cùng tay sai của họ tại hải ngoại. Bởi vì từ ngữ “vô trách nhiệm” là để ám chỉ sự loan tin bừa bãi, hoặc không đúng với sự thật. Nhưng cố ý dựng một câu chuyện hoang tưởng, với những tình tiết hoàn toàn bịa đặt và xảo trá để kết tội những người đã và đang tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền hay bảo vệ môi trường, nhất là đối với những cá nhân đang bị nhà cầm quyền CSVN truy nã, như trường hợp của các ông Trương Duy Nhất hay Bạch Hồng Quyền, thì rõ ràng đây là một kế hoạch có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và mưu mô.

Chuyện thất thiệt này bắt đầu xuất hiện trên các mạng truyền thông xã hội kể từ ngay sau khi nhà báo đối kháng Trương Duy Nhất đi lánh nạn ở Thái Lan, nhưng ông đã bị công an, bộ đội CSVN bắt cóc đem trở lại VN để giam giữ. Có lẽ để che giấu hoặc đánh lạc hướng sự kiện đó, nên những kẻ chủ mưu đã dùng tay sai hải ngoại tung ra bản tin hoàn toàn bịa đặt, với tựa đề là “Tổ chức VOICE, Nam Lộc và Trịnh Hội buôn người, đưa lậu Trương Duy Nhất vào Thái Lan”! Ngoài ra bọn họ còn dọa dẫm, nào là “đã trình báo cho các sở di trú cùng cảnh sát Thái Lan, Canada...”, nào là anh em chúng tôi đang bị “truy lùng, bắt bớ” v..v... Nhưng sự thật, thì chính lúc đó lại là lúc mà LS Trịnh Hội và các thành viên của VOICE cũng đang có mặt ở những cơ quan di trú, hay công lực của các quốc gia nói trên. Đang tiếp xúc, gặp gỡ với ông Bộ Trưởng Di Trú Canada cũng như Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải tại Otawa, thủ đô nước Canada, đồng thời cũng đang làm việc với các giới chức cao cấp của chính phủ Thái Lan cùng các tổ chức bảo vệ nhân quyền, Human Right Watch (HRW), cơ quan di dân quốc tế IOM, và văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ (UNHCR) tại quốc gia này, để can thiệp và vận động cho sự an toàn của ông Bạch Hồng Quyền cùng gia đình được đến bến bờ tự do, trong tiến trình định cư khẩn cấp, chứ không như bản tin “tưởng tượng” mà họ đã tung ra và gởi đi khắp mọi nơi!

Inline image

Nam Lộc, Trịnh Hội và VOICE Canada cùng ông Bộ Trưởng Bộ Di Trú Canada

Ngoài ra và lố bịch hơn nữa khi nhóm chủ mưu ở trong nước và tay sai Việt gian tại hải ngoại còn loan tin rằng “Luật sư Anna Nguyễn cùng các thành viên của VOICE đang tìm đường trốn ra khỏi Thái Lan?”. Họ đâu có biết rằng thời gian đó anh chị em chúng tôi đang đi vận động với chính phủ và quốc hội Liên Âu cho sự an toàn của những tù nhân lương tâm, đang bị giam giữ ở VN, đồng thời yêu cầu các quốc gia trong khối đặt trọng tâm vào vấn đề nhân quyền với chính phủ CSVN trước khi ký kết những thỏa hiệp hợp tác về thương mại!

Inline image

BS Mỹ Lâm, LS Anna Nguyễn, cô Vi Yên, LS Dương Nguyễn, và LS Trịnh Hội tại trụ sở Liên Minh Âu Châu

Thật ra thì trường hợp gia đình ông Bạch Hồng Quyền chỉ là một trong số vào khoảng hơn một ngàn người tỵ nạn đang sống ở Thái Lan và đang chờ đợi được tổ chức VOICE can thiệp đi định cư tại Canada như các trường hợp khác. Tuy nhiên vì âm mưu bắt cóc nhà đối kháng Trương Duy Nhất, và kế hoạch quy tội để lấy cớ thi hành lệnh truy nã nhà hoạt động môi trường Bạch Hồng Quyền hầu đưa về VN xét xử, (cùng tội danh tương tự như một người cùng nhóm, ông Hoàng Đức Bình với bản án 14 năm tù) đã là nguyên nhân chính tạo mối quan tâm cho các chính phủ nước ngoài. Với lương tâm và trách nhiệm, họ đã áp dụng những nguyên tắc tôn trọng nhân quyền căn bản để bảo vệ các nhà đối kháng tại các nước Cộng Sản hay độc tài, đảng trị. Và đó cũng chính là lý do mà trong thời gian gần đây, nước Đức đã nhận LS Nguyễn Văn Đài cùng cô Trần Thu Hà đến tỵ nạn, cũng như Hoa Kỳ đã cấp chiếu khán nhập cảnh cho Blogger Mẹ Nấm, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và nhạc sĩ Việt Khang v..v...

Inline image

Nam Lộc và NS Việt Khang cùng PT Việt Hưng tiếp xúc TNS Tim Kaine tại Thượng Viện HK trước khi phái đoàn quốc hội đi VN

Theo kinh nghiệm cá nhân của tôi, một người phục vụ hơn 40 năm trong lãnh vực định cư người tỵ nạn ở Hoa Kỳ, thì mỗi khi các quốc gia tự do đưa ra những quyết định cấp quy chế tỵ nạn trong trường hợp khẩn cấp cho một cá nhân nào, thì họ phải cứu xét thật kỹ lưỡng hồ sơ, chi tiết và hoàn cảnh cùng lý do nguy hiểm đến tính mạng cũng như nguy cơ bị ngược đãi của đương đơn, với các chứng cớ rõ ràng và thuyết phục. Cộng với uy tín cùng thành tích hoạt động của các tổ chức đứng ra can thiệp và vận động, trước khi họ cấp các loại chiếu khán nhập cảnh có tính cách nhậy cảm và tế nhị nói trên, nhất là trong lãnh vực ngoại giao. VOICE và VOICE Canada đã thành công trong việc định cư gia đình ông Bạch Hồng Quyền là một kết quả vô cùng quan trọng trong tiến trình tranh đấu cho quyền tỵ nạn của những người Việt đang còn kẹt lại tại Thái Lan và Indonesia.

Inline image

Đại diện VOICE và VOICE Canada cùng ông Bạch Hồng Quyền trong cuộc họp báo tại Toronto, Canada

Để cho rộng đường dư luận, hai ngày sau khi gia đình ông Bạch Hồng Quyền đặt chân đến Toronto, VOICE Canada đã tổ chức một cuộc họp báo công khai và mở rộng để trình bầy và trả lời tất cả mọi thắc mắc của truyền thông, báo chí, đại diện cơ quan, đoàn thể cùng quý vị đồng hương người Việt tại Canada liên quan đến cuộc vận động định cư cho gia đình ông Quyền cũng như các đồng bào khác còn lại. Chúng tôi hy vọng những thông tin đứng đắn nói trên sẽ xóa tan đi các bản tin bịa đặt với chủ trương nhằm triệt hạ uy tín và danh dự của tổ chức VOICE cùng những thiện nguyện viên có lòng, đống thời làm ảnh hưởng đến cơ hội định cư đồng bào tỵ nạn Việt Nam, đang sống vất vưởng ở các nước tạm dung và đang dựa vào niềm hy vọng nhỏ nhoi đó để sống còn.

(Nam Lộc)
Mắt Buồn  
#12246 Posted : Wednesday, May 8, 2019 9:25:49 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 4,697

Thanks: 663 times
Was thanked: 560 time(s) in 400 post(s)

Người xem bói cho Vua Bảo Đại
và các tướng lĩnh chính quyền Sài Gòn


Tác giả: Trần Quang Quyến Nguồn:
Kim Dung Kỳ Duyên
Ngày đăng: 2019-05-06

UserPostedImage

Cụ Ngô Hùng Diễn và Giáo sư Trần Quang Quyến.

Cụ Ngô Hùng Diễn, thường được gọi là “thầy bói Diễn”, là một nhà tướng mệnh học nổi tiếng từ cuối thập niên 1930 cho tới khi cụ qua đời, vào năm 1974.

Quan niệm về tướng số của cụ rất rõ rệt : “Xem tướng xem số là để làm điều lành, tránh điều dữ”. Cụ rất phiền hà khi có người muốn nhờ cụ đem phú quý vinh hoa tới cho mình, kiểu “muốn gỡ nhà người khác đem về làm chuồng heo !”. Theo cụ thì nghề thầy số là nghề… tổn âm đức, vì trong mọi tình huống khi đã xem cho ai, hướng dẫn người xem làm này tránh kia đều là “tiết lộ thiên cơ”. Có lẽ vì vậy nên cả đời cụ chẳng bao giờ dư dã, chỉ đủ ăn đủ mặc và không có con trai nối dõi (chỉ sinh duy nhất có một bà con gái, hiện vẫn còn ở Việt Nam).

Vì quan niệm trên (tổn âm đức) nên cụ không có học trò theo đúng nghĩa.

Đầu năm 1973, khi hiệp định Paris về chiến tranh Việt Nam được thi hành thì cụ đã tiên đoán rằng tương lai miền Nam Việt Nam sẽ rơi vào tay phe cộng sản. Về các chính khách đặc biệt cụ đề cập đến 3 nhân vật đóng vai trò then chốt trong ngày mất nước là Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền và Vũ Văn Mẫu. Cụ nói: “Khi Việt Nam Cộng hòa chỉ cần một trong ba bộ mặt sau đây lên nắm vận mệnh thì cầm chắc trong tay ngày mất nước đã tới. Đó là mặt ướt Dương Văn Minh, mặt sưng Vũ Văn Mẫu và mặt tuột Nguyễn Văn Huyền”. Vào ngày 28 tháng 4 năm 1975, đúng lúc trời đang sáng sủa bỗng tối xầm lại, đài phát thanh Sài Gòn loan tin chính phủ mới, một lúc xuất hiện chình ình ba bộ mặt định mệnh “Ướt, Sưng, Tuột” thì sự việc mất nước là điều dĩ nhiên đã được Thiên Cơ an bày rồi vậy. Nếu đài BBC hay ký giả Derek Wilson có nhận lệnh của ai đó để loan tin bậy về Việt Nam, tiếp tay cho việc cưỡng chiếm miền Nam thì cũng là chuyện đã nằm trong định liệu của Tạo Hóa (Thiên Cơ Định Mệnh)….

Trước khi qua đời, cụ được xem một số hình ảnh các nhân vật trong chính phủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Cụ cho biết: “đa số quyền cao, cằm đánh vào, là những người có danh mà không có lợi”. Quả nhiên sau khi chiếm được miền Nam không lâu, cả Mặt Trận Giải Phóng lẫn chính phủ do Mặt Trận lập ra đều bị giải thể không kèn không trống. Mặt Trận ra đời năm 1960 với trống rung cờ mở inh ỏi ở Hà Nội vang dội ra ngoài thế giới, khi giải thể chỉ được loan tin đúng 5 dòng chữ corp 6 nơi trang chót của báo Nhân Dân. Nhà viết tự điển Thanh Nghị theo Mặt Trận vừa được cấp cho ngôi nhà góc đường Thống Nhất/Hai Bà Trưng, trông sang trụ sở công ty xăng Esso (ngôi nhà sơn trắng, mái xanh), ở chưa nóng đít là đã bị…. đá đít ra ngoài.

Cụ được hầu hết các nhân vật chính trị lẫn quân sự thời đó mời tới hỏi ý kiến. Cụ nói tướng cách ông Nguyễn Văn Thiệu tai bạt hậu nên không chịu nghe ai, hạ đình bị phá cách nên hậu vận hư hết. Trong thời kỳ Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng Thống, cụ thường được mời vào dinh Độc Lập dùng cơm và nói chuyện thời thế, cụ chỉ yên lặng và nghe nhiều hơn là nói. Lần Nguyễn Văn Thiệu độc cử, cụ có tìm cách khuyên khéo, nhưng Nguyễn Văn Thiệu là người chỉ thích làm theo ý mình (duy ý chí). Về bà vợ thì cụ khen là người nhã nhặn, có giáo dục và vượng phu ích tử.

Tướng cụ cao lớn, dáng đi lắc lư, hai tay ve vẩy, là một trong các cách tướng rất xấu: cách tướng của người hành khất. Nhưng nhờ có những nét tướng khác bù đắp nên cuộc đời cụ tuy không giàu sang, nhưng lúc nào cũng phong lưu. Cụ không có con trai, nhưng khi qua đời cũng vẫn có người chống gậy, là đứa cháu trai gọi bằng chú được cụ “hành sao” cứu mạng năm xưa. Ngoài ra cụ còn có vô số người nhận làm cha nuôi. Đám tang cụ vào tháng 3 âm lịch năm Giáp Dần 1974 khăn trắng chít dài hàng mấy cây số, được coi là một trong số những đám tang lớn nhất trong lịch sử Hòn Ngọc Viễn Đông. Thành phần tham dự ngoài thân nhân họ hàng không quá 50 người, còn lại đều là bè bạn và những người đã từng chịu ơn cụ.

Cụ nói xem tướng không khó, sửa tướng mới khó. Đối với môn địa lý cũng vậy. Có những ngôi nhà người tới ở thường bị đau yếu, nhờ cụ giúp đỡ, cụ chỉ cần thay đổi giường nằm, bàn thờ, hoặc có khi là vị trí cầu tiêu thì tự nhiên đời sống phấn chấn hanh thông hẳn lên.

Hồi sinh thời, cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền, Hội trưởng Hội Phật Học Nam Việt, mời cụ xem vị thế chùa Xá Lợi. Cụ nói Chùa cần xây cổng về hướng con đường nhỏ, bên cạnh, nếu không sẽ có đổ máu. Cụ Mai Thọ Truyền và ban quản trị đều không tin. Khi có vụ Phật giáo tranh đấu đưa tới cuộc cách mạng 1/11/1963, Chùa Xá Lợi trở thành bãi chiến trường người ta mới tin lời cụ. Sau này Chùa được sửa sang lại, làm thêm chiếc cổng bên hông. Cổng chính chỉ mở vào dịp lễ lớn ở mặt đường bà Huyện Thanh Quan, còn hàng ngày ra vào đều dùng cổng bên hông.

Sau cách mạng 1/11/1963 các vị tăng ni muốn tìm một vùng đất rộng để xây dựng một Trung Tâm Phật Giáo. Thượng Tọa Thích Tâm Giác mời cụ đến hỏi ý kiến. Cụ, sau nhiều ngày đi trực thăng xem đất, chỉ vào một khu thuộc Thị Nghè. Lúc đó xa lộ Biên Hòa chưa làm xong, cầu bê-tông nối từ Văn Thánh sang phía ấp Thảo Điền và xã An Khánh Thủ Đức chưa có… Lúc đó, Phật giáo không biết nghe ai bàn, quyết tâm xin bằng được miếng đất ở số 16 đường Trần Quốc Toản. Cụ lại được mời tới coi. Cụ hoàn toàn không đồng ý, vì lẽ khu đất này “hăng tê” (hanté, có ma), vua chúa Triều Nguyễn khi xưa đã dùng nơi đây làm pháp trường. Thượng Tọa Tâm Giác một mực khăng khăng nói “Phật tới đâu, lành tới đó”. Khi ngôi Chùa Việt Nam Quốc Tự dựng xong với gỗ và tôn … thì nội bộ Phật giáo bắt đầu lủng củng rắc rối. Thật ra thì sự lủng củng này đã có từ trước, nhưng vào thời gian đó mới vỡ tung ra. Cụ thường nói nơi thờ cúng cần chỗ đất tốt, vì quy tụ nhiều người lễ bái. Thế đất 16 đường Trần Quốc Toản có một con lạch như mũi dao đâm sâu vào trong, nhất là tam quan Chùa Việt Nam Quốc Tự làm bằng gỗ và tôn có dáng dấp như cổng nghĩa trang thì dữ nhiều lành ít. Sau này Thượng Tọa Tâm Giác dù có quyết tâm xây ngôi bảo tháp nhưng vẫn không thể hoàn thành. Thời gian trước khi cụ Diễn qua đời, Thượng Tọa Tâm Giác tỏ ý hối tiếc về chuyện đã qua và ngỏ lời xin lỗi. Về miếng đất cụ Diễn “cắm” cho nhà Chùa, sau này trở thành khu Tân Cảng rộng lớn với sông nước hữu tình… thì ai nấy đều tiếc hùi hụi.

Năm 1945, Việt Minh nắm chính quyền, vua Bảo Đại thoái vị trở thành công dân Vĩnh Thụy, cụ tiên đoán thời của vua Bảo Đại hãy còn. Một hôm trong hàng chả cá Lã Vọng ở Hà Nội gặp vua Bảo Đại, cụ cúi mình chào “Hoàng Thượng”. Vua Bảo Đại rối rít đỡ cụ và nói ông không còn làm vua nữa, nhưng cụ một mực gọi “Hoàng Thượng” và mách cho vài điều về mệnh vận trong vài năm sắp tới… Quả nhiên sau đó vài năm (1949), vua Bảo Đại thành vị Quốc Trưởng của chế độ Quốc Gia đầu tiên đương đầu với chủ thuyết vô thần.

Gần dinh Độc Lập có một biệt thự của Pháp để lại, biệt thự khá lớn, nhưng không ai có thể ở lâu được, vì trước sau người ở cũng gặp chuyện bất hạnh. Cụ có tới coi và nói: “Nhà này chỉ có tướng tinh như Đức Thánh Trần Hưng Đạo mới ở được mà thôi”. Sau 1/11/1963, tướng Dương Văn Minh mời cụ lại và cười tự đắc hỏi: “Bây giờ cụ thấy sao? Tôi ở được chứ?”. Không muốn đẩy đưa với tướng Minh, cụ đáp cho xong chuyện: “Bây giờ ngài đã là Quốc Trưởng rồi mà !”. Câu nói bỏ lửng ở đấy. Nhưng về nhà cụ nói với con cháu: “Chết đến nơi rồi mà vẫn còn tự đắc!”. Quả nhiên sau đó không lâu có cuộc chỉnh lý và tướng Minh bị hạ bệ. Sau này biệt thự thuộc chủ quyền một nhà tỷ phú Việt Nam. Biết thân biết phận nhà tỷ phú này xin ý kiến cụ. Cụ bảo: “Có thể ở, nhưng không được ở phòng khách và toàn bộ ngôi nhà trên… Nơi đây chỉ có thể tiếp khách, làm văn phòng, còn ăn ngủ thì xuống nhà dành cho…. bồi bếp!” Nhà tỷ phú nghe lời cho sửa lại khu nhà phụ cận để ở và không gặp chuyện rủi ro nào, ngoài cái rủi ro mất nước mà toàn dân miền Nam Việt Nam đều phải gánh chịu, chứ không phải chỉ mình ông.

Về sinh hoạt thế giới khi đề cập tới nước Anh, cụ nói Thái Tử Charles, con của Nữ hoàng Elizabeth II, không có tướng làm Vua. Ngôi vua nước Anh rồi đây sẽ trở lại dòng vị cựu hoàng thoái vị. Cách đây trên nữa thế kỷ, vị cựu hoàng này đã từ bỏ ngai vàng cưới một phụ nữ Mỹ ly dị chồng, nhường ngôi cho người em, tức Vua George VI, thân phụ của nữ hoàng hiện nay. Tuy sự việc chưa xảy ra, nhưng dù sao cũng là một đề tài chiêm nghiệm. Một bài toán chưa có đáp số.

Cụ Ngô Hùng Diễn mất ngày 13 tháng 3 năm Giáp Dần (1974) tại Quân Y Viện Cộng Hòa, an táng tại nghĩa trang Phước Hòa, Gò Vấp Gia Định.

Một trường hợp khác

UserPostedImage

Bà Trần Lệ Xuân

Trần Lệ Xuân sinh ngày 22/8/1924, trong một gia đình quyền quý. Cha bà là luật sư Trần Văn Chương, con trai cả của Đông Các Đại học sĩ Trần Văn Thông. Mẹ bà là quận chúa Thân Thị Nam Trân, con gái của Đông Các Đại học sĩ Thân Trọng Huề. Ông Chương là đại địa chủ và là luật sư đầu tiên của Việt Nam có bằng tiến sĩ luật của Pháp. Cụ Ngô Hùng Diễn xem tướng cho Trần Lệ Xuân vào năm 1940, khi người con gái tài sắc này mới tròn 16 tuổi, xem ngay tại nhà riêng của luật sư Chương ở Hà Nội. Lời phán của thầy Diễn cho Trần Lệ Xuân như sau: “Cô là một người phụ nữ danh giá. Chồng cô chỉ đứng sau một người và trên cả triệu người. Nhưng trong cuộc đời, cô tuyệt đối không được rời xa nhà chồng. Nếu cô rời xa nhà chồng thì cả gia đình nhà chồng sẽ gặp đại họa”. Và cuộc đời của Trần Lệ Xuân đã diễn ra đúng như vậy. Mười tám tuổi, Trần Lệ Xuân lấy chồng và đó là Ngô Đình Nhu, em trai Ngô Đình Diệm. Sau này Ngô Đình Nhu trở thành cố vấn đặc biệt của Ngô Đình Diệm, đúng là dưới một người và trên cả triệu người.

Nhưng biến cố năm 1963 cũng xảy ra khi bà Trần Lệ Xuân rời gia đình sang Mỹ. Chồng cùng gia tộc họ Ngô gần như bị tận diệt. Rõ ứng với những gì cụ Diễn đã tiên đoán.

Trước đó các lần đảo chính của phe chống ông Ngô Đình Diệm thì đều được bà chuyển dữ thành lành. Thậm chí là lúc tổng thống bị ném bom tại dinh Nordom cũng chẳng làm gì được gia đình bà.

Biến cố năm 1963 âu cũng là một định mệnh không thay đổi được.

Sách TƯỚNG PHÁP NGÔ HÙNG DIỄN

Sau 9 năm theo học Cụ Ngô Hùng Diễn và 45 năm áp dụng những điều học được để giúp bạn hữu và những người quen biết khi cần một vài ý kiến thuộc lãnh vực “huyền bí”, tác giả, giáo sư Trần Quang Quyến đã có ý định viết quyển TƯỚNG PHÁP NGÔ HÙNG DIỄN.

Năm tháng qua đi, nay quyển sách đã được viết xong. Tác giả coi đây là một lễ vật để tạ ơn người Thày, đã như hình với bóng, như tấm gương để noi theo cho suốt cuộc đời. Tác giả cũng hy vọng tài liệu này được chấp nhận như một đóng góp khiêm tốn vào lãnh vực nhân tướng học, nói chung và như một viên gạch để xây nền móng cho khoa nhân tướng của Việt Nam, nói riêng.

---

Bình luận :

Kim Dung: Mình tin ở phong thủy, tin ở tướng số nhưng cũng tin ở sự lương thiện, tử tế của cái tâm con người theo tinh thần “Đức năng thắng số”. Điều lớn nhất, đầu tiên và cuối cùng của đời người vẫn là phải sống lương thiện, tử tế, và biết tự giáo dục bản thân. Đó cũng chính là Phong thủy tốt nhất cho số mệnh, cho gia đình, người ruột thịt thương yêu của mình. Cũng là nhân cách của đời người !

Xin đăng bài trên để bạn đọc chia sẻ. Có thể tin, có thể không, tùy nhận thức mỗi người.

Khi đưa bài viết này lên FB, chủ Blog nhận được cái còm đáng chú ý, mang tính phản biện của FBker Vinhhuy Le về những thông tin trong bài viết. Chủ Blog đã email cho Ban Biên tập trang trithucvn.net để làm sáng tỏ những nghi vấn mà bạn đọc Vinhhuy Le đã đưa ra. Trong khi chờ đợi hồi âm của Ban BT, xin đăng nguyên văn cái còm, để bạn đọc tham khảo:

Vinhhuy Le:“Trước hết, cựu hoàng Bảo Đại không phải người mê xem tướng số. Mà nếu ổng có mê, cũng đã có sẵn cơ quan Khâm Thiên giám để lấy tử vi, phong thủy cho, nên ông chẳng cần tìm tới thầy bói dạo.

Tổng thống Ngô Đình Diệm theo Thiên Chúa giáo, nên cũng không quan tâm tới bói toán.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu được cho là mê bói toán, nhưng thực ra đó là những đồn đại xung quanh Tổng thống Phu nhân (bà Mai Anh).

Và các thầy bói nổi danh nhất thời Việt Nam Cộng Hòa là các ông Khánh Sơn, Minh Nguyệt, Huỳnh Liên. Ba ông này viết nhiều sách, thậm chí được mời lên cả Đài truyền hình, để phổ biến bói toán.

Cũng nổi danh nhưng thuộc chiếu dưới là các thầy:

– Gia Cát Hồng, tên thật Phạm Bảo, Bắc di cư, mở văn phòng coi bói ở đường Trần Quốc Toản Quận 3. Ông này chuyên coi tử vi và chữ ký, ngoài ra còn kiêm nghề thầy lang chữa cả bệnh phong ngứa lẫn phong tình.

– Thầy bói mủ Nguyễn Huy Bích, cũng Bắc di cư. Tiếng là thầy bói nhưng ông chỉ xem cho thân hữu. Sở dĩ nổi tiếng là nhờ ông quen biết nhiều người trong làng văn làng báo.

– Có một ông tên Lê Văn Diễn, người miền Nam, công chức về hưu, coi bói tại gia, ở đường Hiền Vương quận 3. Thầy này chuyên về tướng số và bấm độn đoán việc lành dữ.

Tóm lại, trước 1975, không có nhân vật nào tên Ngô Hùng Diễn nổi tiếng về bói toán, cũng như có đủ điều kiện để coi bói cho cựu hoàng, tổng thống, đại tướng, v.v… Những thông tin trong bài viết này hoàn toàn hư cấu, chỉ cốt để quảng cáo cho cuốn sách “Tướng pháp Ngô Hùng Diễn” của quý ông Trần Quang Quyến mà thôi….”

Vậy đâu là thực, đâu là hư ???

Thế nhưng, có hai bạn đọc khác lại khẳng định, cụ Ngô Hùng Diễn cũng là một thầy tướng có tên tuổi. Xin trích đăng hai cái còm này của hai bạn đọc:

– Thanh Hằng Anh Thư: Mình cũng đã đọc rất kỹ nhiều tài liệu nói về Cụ Ngô Hùng Diễn, với thuật xem tướng Cụ là người vận dụng tuyệt vời văn hóa truyền thống mà cả Phật gia và Đạo gia đều đều khẳng định “Tâm sinh tướng hay tướng do tâm sinh”.

- Thắng Bùi: Trong hồi ký “Việt Nam máu lửa quê hương tôi” của tướng Đỗ Mậu giám đóc nha an ninh quân đội SG có nhắc tới ông thầy cao tay này.

Như vậy, chứng tỏ cụ Ngô Hùng Diễn cũng là một thầy tướng có “số má” trong làng bói toán. Không phải người “vô danh tiểu tốt”. Mình copy lên để thông tin sòng phẳng, cho bạn đọc hiểu thêm. Còn đánh giá trình độ, tay nghề của từng thầy, quả thật không đơn giản!

Edited by user Wednesday, May 8, 2019 9:29:44 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Bắc Kì Nho Nhỏ  
#12247 Posted : Thursday, May 9, 2019 12:37:28 PM(UTC)
Bắc Kì Nho Nhỏ

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/23/2012(UTC)
Posts: 593
Location: Deutschland

Thanks: 195 times
Was thanked: 438 time(s) in 294 post(s)


UserPostedImage



ℂℍ𝔸𝕄ℙ𝕀𝕆ℕ𝕊 𝕃𝔼𝔸𝔾𝕌𝔼 𝟚𝟘𝟙𝟡
𝓕𝓲𝓷𝓪𝓵



Trong trận bán kết tối qua, 8. 5. 19, đội 𝐓𝐨𝐭𝐭𝐞𝐧𝐡𝐚𝐦/ Anh đã 𝐭𝐡𝐚̆́𝐧𝐠 đội 𝐀𝐣𝐚𝐱 𝐀𝐦𝐬𝐭𝐞𝐫𝐝𝐚𝐦/ Hòa Lan với tỉ số 𝟑 - 𝟐.

Như thế giải Champions League năm nay trở thành Premier League (giữa 2 đội tuyển hạng 1 của Anh).

𝐓𝐫𝐚̣̂𝐧 𝐜𝐡𝐮𝐧𝐠 𝐤𝐞̂́𝐭 giữa đội 𝐋𝐢𝐯𝐞𝐫𝐩𝐨𝐨𝐥 và 𝐓𝐨𝐭𝐭𝐞𝐧𝐡𝐚𝐦 sẽ diễn ra vào ngày 𝟏. 𝟔. 𝟐𝟎𝟏𝟗, lúc 𝟐𝟏 giờ, tại sân vận động 𝐖𝐚𝐧𝐝𝐚 𝐌𝐞𝐭𝐫𝐨𝐩𝐨𝐥𝐢𝐭𝐚𝐧𝐨, Madrid, Tây Ban Nha.



UserPostedImage
Sân vận động 𝐖𝐚𝐧𝐝𝐚 𝐌𝐞𝐭𝐫𝐨𝐩𝐨𝐥𝐢𝐭𝐚𝐧𝐨 ...


UserPostedImage

... nơi sẽ diễn ra trận chung kết giải Champions League.

UserPostedImage



thao ly  
#12248 Posted : Friday, May 10, 2019 11:33:32 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 4,465
Woman

Thanks: 482 times
Was thanked: 444 time(s) in 341 post(s)

Những điều mẹ dạy


By Đinh Yên Thảo -

May 10, 2019

Mẹ! Không phải đến những ngày lễ mẹ ta mới nhớ về mẹ. Mà nó là những dịp nhắc nhở sự vô tình của ta về tình yêu thương bao la trời biển mà mẹ đã dành cho ta. Cùng những điều mà mẹ đã dạy để chúng ta trở thành ta của ngày hôm nay. Mời bạn cùng đọc dăm câu chuyện về mẹ mà ắt hẳn mỗi người luôn có một, hay nhiều câu chuyện để kể. Về mẹ kính yêu của mình.

nhung-dieu-me-day1
nguồn istock

Phần cơ thể quan trọng nhất

Amol Harrison, IL


Từ nhỏ, mẹ tôi đã thường hỏi tôi câu hỏi rằng, phần nào quan trọng nhất trong cơ thể. Tôi thường trả lời theo điều mình nghĩ và đoán. Lúc bé tôi trả lời “đôi tai”. Mẹ tôi lắc đầu và bảo có những người bị điếc. Lớn thêm tí nữa tôi trả lời “đôi mắt”. Mẹ vẫn lắc đầu, khen tôi đã lớn hơn nhưng còn có người mù. Tôi lần lượt trả lời theo năm tháng của mẹ và lần nào mẹ cũng lắc đầu, dù bảo rằng tôi đã thông minh và có nhiều nhận xét hơn. Ðến một ngày ông nội tôi qua đời. Cả nhà đều rất buồn, đến cả ba tôi cũng khóc. Và đó là lần thứ hai tôi thấy ông khóc kể từ khi bà nội tôi qua đời.

“Bây giờ con đã hiểu phần nào trong cơ thể quan trọng chưa?”. Tôi hết sức ngạc nhiên khi mẹ lại hỏi lúc này, cứ ngỡ đó là câu chuyện đùa vui giữa hai mẹ con từ nhỏ. Nhưng mẹ tôi bảo rằng, “đây là câu hỏi rất quan trọng bởi nó sẽ chỉ cho con cách sống như thế nào trong cuộc đời này. Hôm nay là ngày mẹ nói cho con biết”. Tôi hồi hộp, ngẩng đầu chờ đợi. “Ðó là đôi vai, con gái thương yêu của mẹ”, mẹ tôi nói trong nước mắt. “Con thấy ai cũng sẽ có lúc nào đó đau khổ trong cuộc đời và họ cần một bờ vai để dựa. Mẹ luôn mong con có đủ những yêu thương và những người bạn tốt quanh mình để con có thể dựa vào vai họ khi cần hay làm chỗ dựa cho khi họ cần đến”.

Ðó là bài học của mẹ mà tôi mang mãi trong lòng. Bộ phận quan trọng nhất cơ thể không phải cho riêng mình mà cho người khác, để thấu hiểu nỗi đau người khác. Như ai đó đã bảo, người ta rồi sẽ quên những điều bạn nói, rồi sẽ quên những điều bạn làm và chỉ còn nhớ những gì bạn đã chạm vào cảm xúc của họ – AH

Lòng mẹ âm thầm

Selina Chouhuri, Bangladesh


Nói thật là tôi thù ghét mẹ tôi, ngày nào tôi cũng nguyền rủa bà. Tôi không hiểu tại sao trên đời này lại có một người mẹ nhẫn tâm từ bỏ con mình lúc chỉ một tháng tuổi, khi mà tôi cần mẹ và giòng sữa mẹ ngọt ngào nhất. Tôi sống với bên nội, không có mẹ và cũng chưa bao giờ thấy tấm hình nào về bà. Nhưng không biết tại sao mà hình ảnh mơ hồ của bà cứ ám ảnh trong đầu tôi suốt cả thời niên thiếu. Ở đâu tôi cũng nghĩ đến bà với lòng giận dữ và đau khổ vì không có mẹ như bạn bè. Một ngày khi tôi bước qua tuổi 16 thì chú tôi đã chỉ tôi một người đàn bà gầy gò, đôi mắt đau khổ đứng phía xa nhìn tôi. Chú bảo đã đến lúc cho tôi biết đó là người mẹ đã sinh ra tôi. Lòng tôi chẳng có chút cảm xúc nào với bà. Hay đúng hơn là tôi đã nhìn bà với đôi mắt oán hờn, chẳng muốn bà đến gần và cũng chẳng muốn gặp lại bà thêm lần nào khác. Tôi thề với lòng mình vậy.

Vài chục năm sau, tôi đã có gia đình và quên bẵng đi chuyện cũ thì một ngày tôi nhận được lá thư. Ðó là thư của dì tôi, tức em gái của mẹ, báo tin bà vừa qua đời. Trong lá thư kể lại rằng, đã bao năm tháng nay mẹ tôi sống trong đau khổ, buồn tủi vì nhớ thương tôi. Bà sinh ra tôi là con gái và gia đình bên nội đã hăm dọa rằng, hoặc bà phải bỏ đi hoặc họ sẽ giết cả tôi. Bà âm thầm bỏ đi xa để tôi được an toàn, thỉnh thoảng tìm về nơi cũ để lặng lẽ ngắm nhìn tôi. Bây giờ tôi mới hiểu lòng mẹ trời biển thế nào, có khi chẳng thể nào nói ra nhưng nó vẫn luôn ở đó. Chỉ những đứa con như tôi mới không hiểu cho đến khi muộn màng – SC

Hãy là Thụy Sĩ

Abigial Woft, NJ


Tôi còn nhớ là ngày khai giảng lớp Một, mẹ dẫn tôi đến trường. Tâm trạng hồi hộp, bỡ ngỡ, lại vừa lo âu đủ thứ khi đến trước cổng trường. Tôi ngước nhìn mẹ và hỏi, “Con sẽ kết bạn mới làm sao hả mẹ”. Mẹ tôi âu yếm, vuốt tóc tôi mà trả lời câu hỏi tôi còn nhớ đến bây giờ, “Hãy là Thụy Sĩ” (“Be Switzerland” – thành ngữ chỉ sự ôn hòa, trung lập – ÐYT chú thích). Tôi hiểu là mẹ tôi đã dạy rằng hãy làm bạn với mọi người, đối xử với mọi người công bằng và bình đẳng. Tôi đã mang câu nói của mẹ suốt thời học sinh, sinh viên của mình. Rồi đến ngày đầu tiên nhận nhiệm sở, chuẩn bị bước vào một môi trường mới hoàn toàn khác biệt, tôi đã hít một hơi thở thật dài và nhủ thầm trong đầu, “Hãy là Thụy Sĩ” trước khi kéo cửa bước vào hãng – AW

Báu vật của mẹ

Wendy Pat, MN


Ðến một ngày tôi biết việc gì đến sẽ đến. Tôi biết và hiểu rằng nó đang đến từng ngày, từng giờ nhưng vẫn cố tình né tránh, chẳng nghĩ đến hay chẳng muốn nghĩ đến cho dù đó cũng là điều tự nhiên với bất cứ ai. Ðó là ngày mẹ tôi bắt đầu yếu và lẫn đi nhiều. Có là bao nhiêu tuổi, tôi vẫn cứ thầm mong mẹ sẽ mãi còn mạnh khoẻ, sẽ luôn là mẹ như từ bấy lâu nay. Tôi bắt đầu xem xét giấy tờ, coi lại những thứ mẹ tôi cất trong tủ, chuẩn bị hậu sự. Trong cái ngăn tủ ngay đầu giường mẹ tôi nằm là một hộp nhỏ chứa vài món đồ kỷ niệm của bà. Ðiều bất ngờ làm tôi xúc động đến chảy nước mắt là, những bài thơ nho nhỏ tôi viết cho mẹ từ hơn 50 năm trước được bà xếp cất ngay ngắn trong chiếc hộp. Tôi đọc lại những bài thơ, câu viết vụng dại, non nớt của mình mà thấy thương mẹ vô hạn. Bà nâng niu, cất giữ chúng như báu vật trong suốt vài chục năm qua. Có phải những đứa con là báu vật của những người mẹ, phải không mẹ ơi? – WP

Sự độc lập

Sonna Lawrence, OK


Từ nhỏ mẹ tôi đã tập cho tôi tính độc lập. Bà bắt tôi phải tự mình làm điều này, điều nọ, những điều mà có những người mẹ khác làm cho con mình. Thật tình lúc đầu tôi cũng không thích lắm vì chỉ muốn mẹ làm hết cho mình mọi chuyện, nhưng rồi tôi bỗng quen với việc tự mình xoay trở lúc nào không hay. Ðến trưởng thành tôi mới thấy mẹ là đúng và cảm ơn mẹ nhiều về điều này. Bà làm điều đó không phải cho bà mà cho chính tôi. Tôi mạnh mẽ hơn, biết tự mình quyết định nhiều việc dù tôi vẫn biết rằng mẹ tôi luôn bên cạnh để sẵn sàng đưa ra những lời khuyên mỗi khi tôi cần, điều tôi vẫn thường làm. Những lời yêu thương của mẹ giúp tôi thêm cơ hội suy nghĩ và quyết định những chọn lựa của mình được đúng đắn hơn – SL

Óc hài hước

Robet Hynes, NY

Thú thật mẹ tôi là người có óc hài hước và bà đùa giỡn với mọi việc. Phải là một người mạnh mẽ, thông minh lắm mới làm được điều đó. Ngay từ nhỏ tôi đã còn nhớ rằng mẹ tôi hay bông đùa, làm mọi chuyện trở nên nhẹ nhàng hơn và không khí gia đình lúc nào cũng vui vẻ. Tôi còn nhớ khi trả bill mà mẹ tôi cũng cười. Tôi cứ hỏi, trả bill thì có gì vui thú mà cười? Khi nhìn những hàng chữ bà viết phần dưới của tấm chi phiếu trả bill, quả thật cũng mắc cười. Ví dụ trả bill điện, bà ghi thêm bên dưới hàng chữ “Cảm ơn đã thắp sáng đời tôi”. Trả tiền nhà thì bà viết, “Ðã trả thêm được bốn cục gạch vào căn nhà”. Trả tiền điện thoại thì bà viết, “Dịch vụ rất tốt cho đến khi có người gọi đòi nợ”. Ðại loại là những câu dí dỏm như vậy.

Bây giờ khôn lớn tôi thấy quả thật là sự hài hước mà tôi học từ mẹ tôi là cần thiết. Nó giúp cho đời sống tôi được vui tươi, nhẹ nhàng đi rất nhiều, hóa giải được những việc tưởng đâu chừng ghê gớm. Nó cũng giúp tôi dễ dàng kết được bạn, hòa mình vào đám đông vì ai chẳng muốn mình có được sự vui vẻ và những nụ cười – RH

nhung-dieu-me-day
nguồn Parents Magazine
ĐYT chọn và dịch

Lời mẹ dặn

Nhà thơ Phùng Quán, Việt Nam

Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu.

PQ
thao ly  
#12249 Posted : Friday, May 10, 2019 11:38:18 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 4,465
Woman

Thanks: 482 times
Was thanked: 444 time(s) in 341 post(s)

Vấn Đề Hôm Nay

Bùi Chu – Phát Diệm, vì sao là lịch sử?


May 10, 2019
Từ Blog RFA, tác giả Tuấn Khanh

Câu chuyện nhà thờ Bùi Chu đang đứng trước các cuộc tranh cãi là có nên phá bỏ, xây mới, lại rơi vào một thời điểm rất thú vị: kỷ niệm 65 năm những người miền Bắc di cư vào Nam theo tiếng gọi tự do (1954 – 2019).

Trong những điều mà người ta bàn tán, và nói Nhà thờ Chánh tòa Bùi Chu, thuộc xã Xuân Ngọc (Xuân Trường, Nam Định) là di sản, là lịch sử bởi được xây vào năm 1884, bởi giám mục người Tây Ban Nha Wenceslao Onate Thuận, nhưng thật ra, ẩn sau đó, là một câu chuyện của niềm tin, máu, nước mắt, oan khiên… không chỉ riêng của người Công giáo, mà còn là cả một chặng dài lịch sử người Việt.

Người ta vẫn hay kể những câu chuyện kinh hoàng về người ở lại miền Bắc sau 1954, với Cải cách ruộng đất, với các vụ án xét lại chống Đảng, chiến dịch thanh trừng Nhân văn-Giai phẩm… nhưng rất ít có tài liệu nào nói lại rằng những người chọn ở lại, những linh mục, những giáo dân… đã sống thế nào trong những tháng ngày ấy, cho đến 1975.

Từ tháng 7-1954, dòng người ngược xuôi khi chia cắt đất nước, dù không thống kê được đầy đủ, nhưng theo sách Ramesh Thakur, Peacemaking in Vietnam, ước tính rằng có khoảng gần một triệu người từ miền Bắc Việt Nam chạy vào Nam vì từ chối sống dưới chế độ cộng sản. Trong khi đó, chỉ có gần 4.500 người từ Nam ra Bắc. Đa phần họ được gọi tên là dân tập kết đời đầu. Tuy nhiên, đó chỉ là con số thống kê cho đến hết tháng 7 năm 1955. Những cuộc đào thoát sau đó, từ Bắc vào Nam là còn chưa kể đến.

Trong số những giáo dân vào Nam, có không ít người từ Bùi Chu – Phát Diệm. Vì lẽ, hơn ai hết, từ năm 1945 họ đã hiểu cộng sản là gì. Đức giám mục Lê Hữu Từ (được tấn phong từ tháng 10/1945) đã nhận ra được ẩn đằng sau Mặt trận Việt Minh là bàn tay của Quốc tế Cộng sản. Chính vì vậy, ngài đã sớm hậu thuẫn cho tổ chức Việt Nam Công giáo Cứu Quốc, nhằm tách biệt với hàng ngũ người Cộng sản, đặc biệt trong bối cảnh mọi người Việt Nam đều quyết kháng Pháp để đòi độc lập dân tộc.

Đó không phải là suy đoán, vì tài liệu nghiên cứu (2009) nằm trong tàng thư của Tòa tổng giám mục Sài Gòn, được tổ chức bởi Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn từ năm 2007, có ghi lại rằng Đức cha Lê Hữu Từ đã công khai tách bạch giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản với người đứng đầu của chế độ miền Bắc là chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1946, khi về Phát Diệm để tạo hòa hoãn với Đức cha Lê Hữu Từ, trong vai trò là Giám mục cố vấn chính phủ, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghe trực tiếp lời tuyên bố của Đức cha rằng “Tôi và toàn dân Công giáo Phát Diệm đoàn kết và triệt để ủng hộ Cụ trong công cuộc chống thực dân Pháp, giành độc lập cho tổ quốc Việt Nam. Nhưng nếu Cụ là Cộng sản thì tôi chống Cụ, và chống Cụ từ phút này”. Nhưng vào lúc đó, ông Hồ Chí Minh vẫn không nhận mình là Cộng sản. Thậm chí ông còn nói với Đức cha Lê Hữu Từ rằng sẽ có một cuộc phổ thông đầu phiếu “toàn dân sẽ định đoạt, Cụ và tôi khỏi phải lo”.

Nhưng cuộc phổ thông đầu phiếu đúng nghĩa ấy, không bao giờ có với người miền Bắc sau 1954 và cả nước, sau 1975.

Nằm kề nhau, nên hai giáo phận Bùi Chu và và Phát Diệm có cùng một khuynh hướng về đạo và đời. Đó là chưa nói 2 nơi này có cùng một lãnh tụ tinh thần của người Công giáo miền Bắc từ năm 1954 đến 1967, là ngài Thaddeus Lê Hữu Từ, Giám quản Tông tòa hạt đại diện của cả hai nơi này qua từng thời kỳ.

Sự mâu thuẫn giữa tổ chức Việt Nam Công giáo Cứu Quốc và Việt Minh tăng dần, dẫn đến những va chạm bằng vũ khí. Theo tài liệu Gibbs, “Battle of Indo-China”, Đức cha Lê Hữu Từ đã có một đội dân quân kháng Pháp và cũng để bảo vệ giáo dân trước Việt Minh, con số được ước tính trong sách nói có lúc đã lên đến 6.000 người. Ủng hộ và yểm trợ cho ngài về mặt chiến sự, được biết có ông Ngô Cao Tùng, chức danh thiếu tá, có nguồn gốc là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Lực lượng vũ trang của ông Tùng được ước tính cũng có khoảng 1.700 người.

Đây là một tình cảnh không khác gì với Phật giáo Hòa Hảo ở miền Nam Việt Nam. Một mặt chống Pháp đòi độc lập, nhưng mặt khác người yêu nước phải luôn đề phòng Việt Minh tiêu diệt mình để gồm thâu về một mối cho chủ nghĩa cộng sản. Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, người sáng lập đạo Hòa Hảo, đã cho hình thành Lực lượng Vũ Trang Hòa Hảo (1945), mà tiền thân là Đội Bảo An, sau đó có thêm lực lượng Hòa Hảo Dân Xã của tướng Trần Văn Soái (tức Năm Lửa) sát nhập vào nhằm bảo vệ mình, cũng như cho cuộc kháng Pháp.

Tháng 10-1949, người Pháp bất ngờ nhảy dù đổ bộ xuống đồng Lưu Phương, sát cạnh khu an toàn Phát Diệm, không ai trở tay kịp vào lúc đó. Và cũng chính vì lý do này mà Việt Minh coi hai vùng Bùi Chu-Phát Diệm là ngầm theo Pháp chống lại Việt Minh. Dĩ nhiên đó là âm mưu chính trị, mà sau 1954, người công giáo ở Bùi Chu – Phát Diệm còn ở lại miền Bắc bị rơi vào hoàn cảnh khốn khó hơn hết dưới sự kiểm soát của chính quyền Bắc Việt cộng sản.

Theo tài liệu “Thái độ của các Giám Mục miền Bắc đối với Cộng sản từ 1945 đến 1954” do nhà chép sử Công giáo Vũ Sinh Hiên ghi lại cho thấy, dù ở trong vùng Pháp kiểm soát, nhưng suốt trong thời gian đó, Đức cha Lê Hữu Từ vẫn luôn bày tỏ sự bất mãn và chống đối công khai với người Pháp và vua Bảo Đại. Năm 1951, nhân kỷ niệm 300 năm ngày sinh thánh Jean Baptiste de la Salle, Đức cha Lê Hữu Từ đã lấy cớ đó, đọc bài diễn văn nảy lửa, tuyên bố rằng “Người Pháp hãy ở yên tại Paris và Bảo Đại nên về lại Sài Gòn”.

Nhưng dù vậy, đến 1954, khi người Pháp ra khỏi Bắc Việt, bắt đầu cuộc chia đôi đất nước, các giáo phận Bùi Chu-Phát Diệm vẫn nằm trong sự thù nghịch của chế độ mới. Tên gọi “những con quạ đen” được truyền thông Nhà nước Marxist đặt tên cho các linh mục và tuyên truyền từ đó. Và rồi, một chương khác đầy khổ nạn đã mở ra. Một chặng lịch sử vừa kiêu hãnh, vừa đau đớn của người Công giáo miền Bắc đã hằn nơi mảnh đất họ sinh sống, hằn nơi tiếng chuông nhà thờ và những phiến đá nham nhở, yếu ớt theo thời gian của các thánh đường, như thánh đường Bùi Chu vậy.

Và đó là một phần của câu chuyện dài, để giải thích thêm cho ý nghĩa Bùi Chu – Phát Diệm vì sao là lịch sử.
Bắc Kì Nho Nhỏ  
#12250 Posted : Tuesday, May 14, 2019 1:31:48 PM(UTC)
Bắc Kì Nho Nhỏ

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/23/2012(UTC)
Posts: 593
Location: Deutschland

Thanks: 195 times
Was thanked: 438 time(s) in 294 post(s)
𝓓𝔃𝓾𝓲 𝓵𝓪̀ 𝓭𝔃𝓾𝓲 𝓺𝓾́𝓪 𝓭𝔃𝓾𝓲 !

𝐂𝐡𝐮́𝐧𝐠 𝐧𝐨́ 𝐯𝐮̛̀𝐚 𝐧𝐠𝐡𝐞 𝐭𝐢𝐧 ...
LÚ bị đứt mạch máu não !



UserPostedImage


UserPostedImage


wild grass  
#12251 Posted : Thursday, May 23, 2019 1:02:54 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 312

Thanks: 47 times
Was thanked: 110 time(s) in 94 post(s)


Nhà thơ Tô Thùy Yên đã trở về cát bụi tai Houston, Hoa Kỳ

Đặng Tiến



NHÀ THƠ TÔ THÙY YÊN (1938 - 2019)

Một nén nhang lòng cho thi sĩ Tô Thùy Yên,một cội đề của thi ca miền nam trước 75.

Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1938 tại Gò Vấp. Cha là chuyên viên phòng thí nghiệm Viện Pasteur, Sài Gòn, sau về công tác ở Bệnh viện Chợ Rẫy. Thuở nhỏ học trung học Trường Petrus Trương Vĩnh Ký, có ghi danh theo học ở Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, ban văn chương Pháp, một thời gian rồi bỏ dở. Ông bắt đầu có thơ đăng trên báo Đời Mới (thập niên 1950) trước khi xuất hiện và nổi tiếng trên tạp chí Sáng Tạo. Tô Thùy Yên, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, cùng với các họa sĩ Duy Thanh, Ngọc Dũng là những người nòng cốt của nhóm Sáng tạo, một nhóm sáng tác đã từng được biết đến với phong trào khai sinh "Thơ Tự Do" trên văn đàn Miền Nam vào thập niên 1960. Ông là người miền Nam duy nhất trong nhóm Sáng tạo.




Cuối năm 1963 ông nhập ngũ, phục vụ ngành chiến tranh chính trị. Chức vụ cuối cùng là thiếu tá, trưởng phòng Tâm lý chiến.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông bị nhà cầm quyền cầm tù ba lần, tổng cộng gần 13 năm. Cuối năm 1993 cùng gia đình sang Hoa Kỳ định cư theo dạng tù nhân chính trị. Hiện nay ông đang ở Houston, tiểu bang Texas.

Một trong những bài thơ hay nhất,tiêu biểu nhất của ông là bài TA VỀ (Trường thi kinh điển của Tô Thùy Yên, từ tuyệt vọng trong tâm cảnh ngậm ngùi, khắp cùng đổ vỡ, tang thương. Nhưng không bi lụy, thề. Sự hào sảng của kẻ sĩ “Thơ chẳng ai đề vạt áo phai” không còn ý nghĩa của thắng-bại, tiếng cười sảng khoái cất lên ngay trên đầy đoạ, khổ đau của chính mình. Nỗi đau “mềm phế phủ” không phải ai cũng chịu nổi, càng không phải là những tháng năm tù đày. “Bỗng nghe/ đau/ mềm phế phủ” trước vật đổi sao dời sau mười năm xa vắng, mười năm lao cải, mười năm đá cũng ngậm ngùi thay… Không tố cáo, không luận tội bằng bằng trăm câu, ngàn chữ. Nhưng giá trị cáo trạng nằm trong chữ “thay”. Đá cũng ngậm ngùi thay, huống chi lòng người. Ai làm ra nông nổi này? Triều đại có hưng vong, chiến tranh có kết thúc. Lịch sử có sự công bằng cho con chữ thẳng ngay, không tố giác nhưng không khuất phục, bỏ qua… Thái độ bình tâm nhả chữ khi viết về lịch sử là khí độ của người cầm viết...

Tuyển tập thơ Tô Thùy Yên
https://www.nguoi-viet.c...yen-tap-tho-to-thuy-yen/


TA VỀ
Tô Thùy Yên

Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay

Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ

Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay

Chỉ có thế. Trời câm đất nín
Đời im lìm đóng váng xanh xao
Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi, đất bạc màu

Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió cuối mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ

Một đời được mấy điều mong ước
Núi lở sông bồi đã mấy khi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi

Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này

Ta khóc tạ ơn đời máu chảy
Ruột mềm như đá dưới chân ta
Mười năm chớp bể mưa nguồn đó
Người thức mong buồn tận cõi xa

Ta về như hạt sương trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời
Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt
Tội tình chi lắm nữa người ơi

Quán dốc hơi thu lùa nỗi nhớ
Mười năm người tỏ mặt nhau đây
Nước non ngàn dặm bèo mây hỡi
Đành uống lưng thôi bát nước mời

Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh
Ai gọi ai đi ngoài cõi vắng
Dừng chân nghe quặn thắt tâm can

Lời thề buổi ấy còn mang nặng
Nên mắc tình đời cởi chẳng ra
Ta nhớ người xa ngoài nỗi nhớ
Mười năm ta vẫn cứ là ta

Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên
Nhà cũ mừng còn nguyên mái, vách
Nhện giăng, khói ám, mối xông nền

Mọi thứ không còn ngăn nắp cũ
Nhà thương-khó quá sống thờ ơ
Giậu nghiêng cổng đổ, thềm um cỏ
Khách cũ không còn, khách mới thưa

Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi
Hãy kể lại mười năm chuyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi

Chiều nay ta sẽ đi thơ thẩn
Thăm hỏi từng cây, những nỗi nhà
Hoa bưởi, hoa tầm xuân có nở?
Mười năm, cây có nhớ người xa?

Ta về như đứa con phung phá
Khánh kiệt đời trong cuộc biển dâu
Mười năm, con đã già trông thấy
Huống mẹ cha đèn sắp cạn dầu

Con gẫm lại đời con thất bát
Hứa trăm điều một chẳng làm nên
Đời qua, lớp lớp tàn hư huyễn
Giọt lệ sương thầm khóc biến thiên

Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn chờ sông

Ta gọi thời gian sau cánh cửa
Nỗi mừng giàn giụa mắt ai sâu
Ta nghe như máu ân tình chảy
Tự kiếp xưa nào tưởng lạc nhau

Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát
Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm

Cây bưởi xưa còn nhớ, trắng hoa
Đêm chưa khuya quá hỡi trăng tà
Tình xưa như tuổi già không ngủ
Thức trọn, khua từng nỗi xót xa

Ta về như giấc mơ thần bí
Tuổi nhỏ đi tìm một tối vui
Trăng sáng soi hồn ta vết phỏng
Trọn đời nỗi nhớ sáng khôn nguôi

Bé ơi, này những vui buồn cũ
Hãy sống, đương đầu với lãng quên
Con dế vẫn là con dế ấy
Hát rong bờ cỏ giọng thân quen

Ta về như nước Tào Khê chảy
Tinh đẩu mười năm luống nhạt mờ
Thân thích những ai giờ đã khuất
Cõi đời nghe trống trải hơn xưa

Người chết đưa ta cùng xuống mộ
Đâu còn ai nữa đứng bờ ao
Khóc người ta khóc ta rơi rụng
Tuổi hạc ôi ngày một một hao

Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh

Ngồi đây nền cũ nhà hương hỏa
Đọc lại bài thơ thủa thiếu thời
Ai đó trong hồn ta thổn thức
Vầng trăng còn tiếc cuộc rong chơi

Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thủa trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta


TRƯỜNG SA HÀNH
Tô Thùy Yên

Trường Sa! Trường Sa! Đảo chuếnh choáng!
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề
Lính thú mươi người lạ sóng nước
Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi

Mùa Đông Bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa
Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ

Đảo hoang, vắng cả hồn ma quỉ
Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người mãi đứng yên

Bốn trăm hải lý nhớ không tới
Ta khóc cười như tự bạo hành
Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục
Đường thân thế lỡ, cố đi nhanh

Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời

Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt
Bãi Đông lở mất, bãi Tây bồi
Đám cây bật gốc chờ tan xác
Có hối ra đời chẳng chọn nơi?

Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần
Kinh động đất trời như cháy đảo...
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân

Ta ngồi bên đống lửa man rợ
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi

Chú em hãy hát, hát thật lớn
Những điệu vui, bất kể điệu nào
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu

Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya
Xé toang từng mảng đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê

Ta nói với từng tinh tú một
Hằng đêm, tất cả chuyện trong lòng
Bãi lân tinh thức âm u sáng
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng

Đất liền, ta gọi, nghe ta không?
Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc
Con chim động giấc gào cô đơn

Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa
Ánh sáng vang lừng điệu múa điên
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu dòn như tiếng nứt hoa niên

Ôi lũ cây gầy ven bãi sụp
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh

San hô mọc tủa thêm cành nhánh
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai
Thời gian kết đá mốc u tịch
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người


Chiều trên Phá Tam Giang - Thơ Tô Thùy Yên
Thanh Lan & Nhật Trường





Mặc Lâm - Tô Thùy Yên, gõ cửa thiên thu

Tôi biết làm thơ từ khi còn rất nhỏ nhưng mãi tới gần tuổi năm mươi mới thật sự đọc được thơ qua một người mà càng đọc tôi càng được mở ra những cánh cửa khác của sự mầu nhiệm từ thi ca. Người làm thơ ấy là Tô Thùy Yên, một ánh sáng khơi gợi niềm cảm hứng, một cành khô giữa rừng có khả năng giúp người đi lạc trong cơn mê muội thẳm sâu của hưng phấn tìm được lối ra, một lẻ loi của cây xương rồng giữa sa mạc có khả năng chống lại sự cô đơn mà thượng đế giao phó.
Thơ của Tô Thùy Yên được rất nhiều người yêu mến vì chất tĩnh trong cái động của nó. Nếu 10 năm tù là trạng thái “động” của những buốt nhức của cơn đau thể xác thì “thế giới vui từ nỗi lẻ loi” là cái tĩnh thiền đạo của một người đã hiểu tường tận nỗi lẻ loi có sinh lực như thế nào. Lẻ loi ấy chỉ có thể hiện hữu trong một tâm thế vị tha, tha thứ những hằn học, những miệt thị, những oán khí của người khác đã dành cho mình. Lẻ loi vì sẽ không có nhiều người làm được. Lẻ loi vì tuy cúi mái đầu sương đã điểm nhưng vẫn tin vào tâm lượng của đất trời vẫn nặng trĩu niềm vui.

Niềm vui ấy Tô Thùy Yên đã tìm thấy sau khi từ giã trại cải tạo về nhà sau hơn 10 năm biệt xứ:

Ta về cúi mái đầu sương điểm / Nghe nặng từ tâm lượng đất trời / Cảm ơn hoa đã vì ta nở / Thế giới vui từ mỗi lẻ loi.”

Chất thiền trong thơ Tô Thùy Yên có lẽ được hình thành từ những cơ cực mà cuộc đời ông chứng kiến. Những cái chết anh liệt nhưng thảm thương, những chia ly tràn khỏi bến bờ đau đớn, sự phân hủy cuộc sống đến vô tận đã đày ải tâm linh trước khi chính bản thân ông sụp đổ. Trong bài Qua sông ông viết:

Áo quan phong quốc kỳ anh liệt / Niềm thiên thu đầm cỗ xe tang / Quê xa không tiện đường đưa tiễn / Nghĩa tận sơ sài, đám lạnh tanh / Thêm một chút gì như hối hả / Người thân chưa khóc ráo thâm tình...”


Những câm nín ấy vẫn ám ảnh ông nhiều năm sau trong bài Ta về, nỗi ám ảnh chiến tranh và tình người, một “hội chứng nghiến răng” của nhân loại: xông vào cái chết để bảo vệ ảo tưởng. Tô Thùy Yên sống và gậm nhấm thời kỳ ấy nên biết từng mùi vị của những lần hành quân đầy máu, máu của bạn bè lẫn đối phương. Máu không những đổ ra từ súng đạn nó cũng đổ ra từ tàn khốc của trại giam. Ám ảnh trở thành thói quen và Tô Thùy Yên lẩm bẩm sợ cho cơn thất lạc của chính mình:

Ta về như bóng ma hờn tủi / Lục lại thời gian, kiếm chính mình / Ta nhặt mà thương từng phế liệu / Như từng hài cốt sắp vô danh

Trong những cuộc hành quân ấy Tô Thùy Yên không ít lần thấy vẻ đẹp tiềm ẩn phía sau những quả mìn tàn nhẫn, những bức tranh được ông phác thảo vội vã miêu tả cái mỏi mệt của thiên nhiên quyện lấy con người như một định mệnh khắc nghiệt. Con người thì rã rời trời thì thấp và ướt sũng, mây trên trời lục bình dưới sông tất cả như hòa nhịp cho một bản nhạc buồn chỉ có chiến tranh mới có thể tạo ra được:

Đây ngã ba sông, làng sát nước / Xuồng ba lá đậu kế chân bàn / Trời mới tạnh mưa còn thấp ướt / Lục bình, mây mỏi chuyến lang thang

Tô Thùy Yên là một nhà thơ, đã hẳn, tuy nhiên ông còn là một họa sĩ thiên tài. Thơ ông đầy màu sắc quyết liệt chói chang của mặt trời, lạnh lẽo cô đơn như nước biển, và hơn cả tranh, màu sắc trong thơ ông phảng phất hình bóng con người. Trong “Trường sa hành”, một bài thơ quan trọng trong sự nghiệp thi ca của ông chúng ta có thể đồng ý với nhau ở điểm: màu sắc đã tạo thơ ông khác biệt vượt qua rất nhiều tác giả khác củng thời. Chỉ có điều không như hội họa, chúng ta chỉ thấy hai màu xanh lơ và đen trong cả bài thơ nhưng trong lòng lại bùng vỡ hàng loạt những gam màu khác: Đỏ úa của mặt trời trong ánh chiều tà mà tác giả gọi là “chiều rã” Những thay đổi quang phổ của rong biển, những long lanh từ muôn vạn tầng màu làm hồn ta lay động, màu lửa cháy rực cả đào khiến chim cũng đen úa cả tiếng xao xác quần bay. Miếng mồi cháy một màu khét khói cũng không khỏi ngậm ngùi…


Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần
Kinh động đất trời như cháy đảo...
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân

Ta ngồi bên đống lửa man rợ
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi
….


Rồi nữa, kế sau màu sắc là âm thanh. Thứ âm thanh kinh khủng của tiếng gọi không thành lời. Âm thanh bị bóp nghẹt giữa hư vô. Âm thanh rơi vào một khoảng cách đặc sệt của không gian đóng kin:

“Đất liền, ta gọi, nghe ta không? / Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng / Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc / Con chim động giấc gào cô đơn

Viết về Tô Thùy Yên phải cần cả cuốn sách, một vài trang giấy không những bất toàn mà còn hời hợt. Nhưng sự ra đi của ông nếu không thể thắp bằng đuốc để tưởng nhớ thì đành dùng một nén nhang cũng đủ để tiển đưa ông. Trong tâm thế ấy cùng chia sẻ với những gì mà năm 1991 ông đã viết trong trại biệt giam 3C Tôn Đức Thắng:

Ta nằm xuống
Dỗ mình hãy cố ngủ
Tập quen dần với giấc thiên thu


Hãy ngủ, ông nhé và tôi tin rằng những gì ông để lại thế gian này cũng thiên thu không kém….



NGỰA PHI ĐƯỜNG XA
Đặng Tiến


Tô Thùy Yên đến với văn học trên “Cánh đồng Con ngựa Chuyến tàu”, bài thơ làm năm 1956, đăng trên báo Sáng Tạo thời đó và được độc giả hoan nghênh ngay, nhất là trong giới thanh niên, học sinh. Thời ấy sinh viên chưa nhiều, quần chúng văn chương còn thưa thớt, một thế hệ độc giả mới đang chớm thành hình. Với thời gian nhìn lại, bài thơ có thể xem là một sự kiện văn học vì lời thơ tân kỳ, ý thơ mới lạ, không giống một bài thơ nào khác trước kia mà đã được người đọc không chuyên môn văn học yêu thích ngay. Chuyện hiếm, vì công chúng Việt Nam nói chung là thủ cựu.

Chuyện đẹp, vì bài thơ của tác giả 18 tuổi đi thẳng đến độc giả 18 tuổi.
Ngày nay Tô Thùy Yên là tác giả danh tiếng. Bài thơ thanh xuân được những lớp phù sa bồi thêm nhiều ý nghĩa mới.

Trên cánh đồng hoang thuần một màu,
Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu.
Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau.
Ngựa rượt tàu rượt tàu rượt tàu.
(…) Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn.
Ngựa gục đầu, gục đầu, gục đầu.
(…) Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ,
Chấm giữa nền nhung một vết nâu.


(Tô Thùy Yên, Thơ Tuyển, tr 13)

Cánh đồng, con ngựa ở đây khác với những hình ảnh trong thơ cổ, tranh Đường, tranh Tống, ngược lại phần nào đó, gợi lên nền “văn hóa đồng hoang” của Nga La Tư thời cổ đại. Chuyến tàu – nôm na là xe lửa – là biểu tượng văn minh cơ khí và hiện đại. Cuộc va chạm lớn lao giữa hai nền văn minh đông phương thảo mộc và tây phương cơ giới đã được nhà văn Phạm Văn Ký, 1910- 1992, vẽ lại trong tiểu thuyết Mất nơi trú ẩn (Perdre la Demeure, Gallimard, 1961, giải thuởng Hàn Lâm Viện Pháp), mô tả cảnh xây dựng con đường sắt tại Nhật Bản vào thế kỷ XIX. Ngày nay, với tậpTHƠ TUYỂN (1) ghi tắt TT, của Tô Thùy Yên, con tàu còn mang nhiều ý nghĩa khác, như hình ảnh của lịch sử, dân tộc và loài người, tàn khốc và vô tâm:

Tàu đi, khoan xoáy sâu đêm thép,
Tiếng nghiến ghê người, thác lửa sa.
Lịch sử dường như rất vội vã,
Tàu không đỗ lại các ga qua
.
(Tàu Đêm, 1980 , TT, tr 122)

Bài thơ làm trong thời gian học tập cải tạo miệt Nghệ Tĩnh; con tàu chở những người tù lưu xứ (tr 121), từ một sự vật cụ thể, mang thêm nội hàm tượng trưng rộng lớn trong thế giới Tô Thùy Yên:

Thời đại đang đi từng mảng lớn
Rào rào những cụm khói miên man

(TT, tr 125)

"Trên đường lịch sử sắt tuôn mau” (tr 120) con tàu đối lập với ngựa; ngựa là hình ảnh loài người trong thân phận cá nhân, trong một thế hệ, một dân tộc hay thời đại trước tiến hóa. Sức người có hạn rượt theo bánh xe lịch sử, vô hạn và vô định, vì lý tưởng chính đáng, vì những say mê cuồng nhiệt và mù quáng, vì “duy ý chí”, vì hoang tưởng hay chỉ là nạn nhân trong một hoàn cảnh. Cho đến khi “ gục đầu, gục đầu’

Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ,
Chấm giữa nền nhung một vết nâu.


Ngựa nâu là màu ngựa thường, có khi là ngựa thồ, không phải là bạch câu, ô truy hay xích thố. Ngựa của Kim Trọng trắng tựa “tuyết in”, chấm trên nền cỏ thanh minh như một đóa hoa lê; ngựa của chinh phu cũng"tuyết in" nổi bật dưới chiến bào “đỏ tựa ráng pha”. Ngựa của Vân Tiên đen tuyền, lấp lánh dưới kim khôi và siêu bạc rạng ngời giữa trận tiền. Ngựa của Tô Lang chỉ có “lớp áo” nâu sòng, màu của số phận dân quê, nói được là màu “dân tộc” cày sâu cuốc bẫm, hay cửa chùa vắng lặng. Khi thua cuộc, con ngựa -con người- chỉ để lại một “vết nâu”.

Nâu như một giọt máu khô.

Thơ, và nghệ thuật nói rộng ra, là những giọt máu đang khô, hay đã khô, trên nền mãi mãi non xanh của ngôn ngữ loài người.

Cuộc đời như thế đấy.



THƠ TUYỂN của Tô Thùy Yên bắt đầu bằng một câu trần trụi, trong bài nhan đề Thi Sĩ làm năm 1960, có thể xem như là tuyên ngôn. Thơ, thơ ai cũng vậy, bao giờ cũng vậy, là Lời, lẫn với Đời. Khác nhau ở tỷ lệ: đời ít lời nhiều, hay ngược lại. Ở Tô Thùy Yên đời và lời cân phân.
Câu thơ dù bay bổng, nợ đời, tình đời vẫn nặng chĩu.
Thơ nhẹ cánh, mà đời nặng gánh. Nói “đời” là mơ hồ, thậm chí hàm hồ. Đời nào, đời ai, đời những ai? Đời tênh hênh thì thơ cũng tô hô. Ngày xưa Xuân Diệu tự xem như con chim “ngứa cổ hát chơi”, lại thêm “hát vô ích thế mà chim vỡ cổ”. Tô Thùy Yên không làm thơ để mà chơi.

Tôi giành giựt đổ máu với tôi
Từng chữ một

(Thi sĩ, TT, tr 9)

Người xưa kể lại giai thoại “thôi xao”, nhẹ nhàng như việc "đẩy cửa dưới trăng, tăng xao nguyệt hạ môn", ( chuyện nhà thơ Giả Đảo đời Đường ) không “đổ máu” như Tô Thùy Yên. Lê Đạt nói về nỗi vất vả trong lao động chữ nghĩa có dùng hình ảnh "phu chữ”; Tô Hoài, trong bài viết đùa thân mật, diễn nôm là “cu ly chữ”. Tôi có dịp hỏi ý kiến Lê Đạt, anh trả lời: hiểu như thế không sai, nhưng cục bộ, “phu” còn có nghĩa là "đại phu", hay "đại trượng phu" theo Mạnh Tử. Đây là lời nói riêng, không phải là ý kiến.

Tô Lang không chơi chữ nước đôi kiểu ấy: "đổ máu" là đổ máu, chỉ có một nghĩa, dĩ nhiên là nghĩa bóng. Đọc thơ Tô Thùy Yên, cũng không nên đọc để mà chơi. Tác giả kén chọn người đọc và cách đọc, có lẽ vì thế mà 40 năm sau khi có thơ thường xuyên đăng báo, anh mới cho xuất bản một tập THƠ TUYỂN. Viết về anh có phần khó; không phải ở khâu bình giải khen chê, mà ở mức độ đồng cảm. Tôi viết bài này là do yêu cầu của độc giả, chủ yếu vì lí do tâm cảm và đồng cảm, xem từng chữ của Tô Thùy Yên như những giọt máu. Ví dụ con ngựa nâu là giọt máu mới đông. Cũng trong bài tuyên ngôn Thi sĩ:

Bài thơ lọt vào người như kẻ trộm

Âm thầm
Vơ vét sạch vô tư

(TT, tr 10)

Như vậy đơn vị thơ Tô Thùy Yên không phải ở câu thơ, như thường lệ, mà là bài thơ có khi khá dài, thường trên một trăm câu, và từng bài thơ một, phải đặt lại vào toàn thể tập thơ mới đúng vị trí và ý nghĩa của nó. Trích dẫn từng câu, từng đoạn, dù tiêu biểu, là việc cực chẳng đã. Đọc toàn tập, chúng ta nhận thấy thơ của Tô Thùy Yên không có tuổi, cho dù mang nhiều âm vang của lịch sử, trong một giai đoạn chiến tranh, đổi đời và tù đày khốc liệt.

Bây giờ ta đã già như tuyết
Già vô âm vọng
Già thâm u
Bây giờ ta trẻ như hừng đông
Trẻ như tiếng reo
Trẻ bất tử.
Ta ca ngợi những điều vô ích nhất,
Như tình yêu, cuộc đời, sợi tóc cỏ.


(Chim Bay Biển Bắc, 1972, TT, tr 69)

Chàng thanh niên 18 tuổi, khi kể chuyện Con ngựa Chuyến tàu đã là một tâm hồn già; con người ngũ tuần vừa ra khỏi trại cải tạo sau nhiều năm lưu xứ với “mái đầu sương điểm”.

Ta về một bóng trên đường lớn,
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai

(Câu mở đầu bài Ta về, 1985, TT, tr 126)

Bài tuyên ngôn “Thi sĩ” làm 1960 đã có những câu:

Những tên cai ngục
Ngôn ngữ bất đồng.
Với thứ linh hồn quốc cấm,
Tôi tù tội chung thân

(TT, tr 9)

Trong một bài thơ đề tặng Thụy Vũ, ghi 7-1972 đăng báo Văn (Sài Gòn) số 208 ngày 15-8-1972:

Ôi những rặng cao su thẳng lối ngay hàng
Ôi những rặng cây mang án tử hình treo

(Bất tận nỗi đời hung hãn đó, tr 58)

Lại còn bài này nữa cùng thời 1972:

Sống trên đời chuyện ghê gớm quá,
Vậy mà ta sống, có kỳ không ?
Nước mắt ta tuôn khi nghĩ tới
Những người đã chết, chết như rơm..

Hề, ta trở lại gian nhà cỏ
Sống tàn đời kẻ sĩ tàn mùa
Trên dốc thời gian hòn đá tuột
Lăn dài kinh động cả hư vô

Hề, ta trở lại gian nhà cỏ
Tử tội mừng ơn lịch sử tha
Ba vách, ngọn đèn xanh, bóng lẻ
Ngày qua ngày, cho hết đời ta ...

(Bài: Hề, ta trở lại gian nhà cỏ, TT, tr 43- 45-46)

"Tử tội mừng ơn lịch sử tha"! Bài thơ ghi thời điểm sáng tác: tháng 7-1972. Tôi ngờ ngợ tác giả nhớ nhầm, thơ in nhầm ngày tháng chăng? Tôi (vớ vẩn) đi kiểm soát lại thì thấy đúng, bài thơ đăng trên báo Văn, Sài Gòn số 208 đã dẫn, thời đó, có ghi rõ: làm ngày 11-7-1972.

Cùng với bài Tưởng tượng ta về nơi bản trạch, lời thơ bi tráng tuyệt diễm:

Ta bằng lòng phận que diêm tắt,
Chỉ giận sao mồi lửa cháy suông.
Thôi nói, bởi còn chi để nói,
Núi xa, chim giục giã hoàng hôn.
Tưởng tượng ta về nơi bản trạch,
Áo phơi xanh phới nhánh đào hồng.
Mùa xuân bay múa trên trời biếc,
Ta búng văng tàn thuốc xuống sông


(Báo Văn, tr 61, Thơ Tuyển tr 51)

Que diêm tắt mà vẫn phơi phới đào hồng, trên cõi đời này, chỉ có Tô Thùy Yên! Niềm hạo nhiên đó, Tô Quân còn gọi là: “cái có nơi ta” trong bài Chim Bay Biển Bắc đã dẫn, làm ngày 4.8.1972.

Đừng loạn tâm, đừng loạn tâm
Cuối chặng hành trình quay đảo nhất
Cả thảy sẽ an nhiên
Trong trật tự hằng hằng của vũ trụ
A! Loài người thăng tiến được bao xa?
Trời đất phồng lên cơn giận dữ
Thổi trận mưa rơm, Cõi Tạm mù


(Văn số 208, tr 91, Thơ Tuyển tr 70)

Trước đó, bài Đãng Tử,1971 có ghi tiền đề: (epigraphe)

Ngày kia trở lại Ngôi Nhà Lớn
Lòng những bằng lòng một kiếp chơi.


(Báo Văn, số 190, TT, tr 23)

Mười năm lưu đày, thêm những lần bị bắt đi bắt lại, âu cũng chỉ là một kiếp chơi! Nắm bắt được điều đó, mới hiểu thấu bài Ta về (1985) nổi tiếng về sau, được nhiều người trích dẫn, không phải lúc nào cũng với hảo ý văn nghệ.

Gần đây và hiện nay, về mặt văn hóa, trong nước đang thảo luận dài dòng về đề tài: truyền thống và hiện đại; dân tộc và thế giới; cái riêng trong cõi chung… Ý hướng tốt: muốn liên minh cái nọ với cái kia, điều hòa cuộc sống dân tộc trong một thế giới đang bước đi những bước khổng lồ.

Thực tế văn hóa, nghệ thuật không rắc rối như vậy. Người nghệ sĩ làm thơ, vẽ tranh một cách hồn nhiên muốn sao làm vậy, rồi tác phẩm của họ nó ra sao còn tùy; dân tộc hay hiện đại là do người xem người đọc. Nếu rung cảm chân thành và sâu sắc thì phải mang đủ hai yếu tố, với phần liều lượng khác nhau.

Nói rằng điều hòa truyền thống với hịện đại, ngày nay trở thành một khẩu hiệu, một cách chào hàng trong thị trường văn hóa. Trong thâm tâm người sản xuất đã có hậu ý đối lập: làm sao cho có bản sắc dân tộc mà vẫn hiện đại; làm sao theo kịp các trào lưu của thế giới mà vẫn giữ truyền thống. Hai chữ “mà vẫn” có tính cách lãnh đạo và tham lam. Mà lãnh đạo và tham lam là phi văn hóa. Người nghệ sĩ chân chính, dù cho bề ngoài phải chịu ức thúc, nhưng trong đáy tâm hồn, trong cõi thâm sâu của sáng tạo, họ là những cá nhân tự do sống và sáng tác với "cái có trong ta" như chữ nghĩa Tô Thùy Yên.

Con người nô lệ, vụ lợi và xu thời, giỏi lắm là nghệ nhân hay văn công. Trong thực tế sáng tạo, dân tộc và hiện đại là một đơn vị bất khả phân. Nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân, trong một tác phẩm mới in, đã nói chí lí và dũng cảm: “cái khẩu hiệu Dân tộc Hiện đại của văn nghệ chúng ta trong nhiều năm nay là một mệnh đề thiếu chính xác và hoàn chỉnh ngay ở mặt tu từ (…) khẩu hiệu này thiếu cái hàm ý nhân loại trong truyền thống” (tr 58). Trong một bài khác, anh nói thêm “ Cũng vậy đối với nghệ thuật bản sắc dân tộc và tính toàn cầu phải được hiểu là một”.(tr 73).


Cần nêu lên tiền đề này trước khi đề cập đến đề tài cục bộ: Tô Thùy Yên, dân tộc và hiện đại, đặt một trường hợp riêng lẻ trong cuộc thảo luận chung của đất nước - dù rằng cuộc thảo luận khập khiểng. Nói khác đi, vấn đề không đặt ra với tôi; với tôi chỉ có thân xác những bài thơ ngoài thời gian và vô quốc tịch; nó là thơ Tô Thùy Yên thế thôi, không dân tộc hiện đại gì ráo. Nhưng với người đọc – người đọc báo chẳng hạn, người viết có nhiệm vụ (và hạnh phúc) phải cập nhật hóa bài viết, trong bối cảnh lý luận rộng lớn hơn, hiện hành trên đất nước.

Tô Thùy Yên đến với văn học Việt Nam ở một giai đọan mới, mở ra tại miền Nam khoảng 1955-1956. Anh là thanh niên trí thức, đọc nhiều sách báo nước ngoài, trên một mảnh đất mở vào “Thế giới tự do” thì dĩ nhiên tâm hồn và trước tác cũng phải hiện đại: câu thơ, nhịp thơ, hình ảnh, ý tứ trong thơ Tô Thùy Yên minh chứng điều đó, chúng ta không cần đồ họa lôi thôi. Cái chính là làm nổi bật tính dân tộc trong thơ Tô Thùy Yên, đã đưa thơ anh đến với một nhân loại muôn đời,vượt qua hàng rào “hiện đại”.

Trong số những nhà thơ đương thời, có lẽ Tô Thùy Yên là người sử dụng nhiều ca dao nhất. Lưu Trọng Lư, một trong những người phát động thơ mới, thuộc nhiều ca dao, hay nhắc đến những màu sắc dân tộc, nhưng ít khi đưa ca dao vào thơ. Thanh Thâm Tuyền sành ca dao, nhưng không sử dụng, thậm chí có thể nói thơ Thanh Thâm Tuyền là một thi loại phản-ca-dao. Tô Thùy Yên, ngược lại ưa dùng lời ăn tiếng nói dân gian; nếu không thuộc tục ngữ, ca dao, người đọc có khi không hiểu anh nói gì. Ví dụ bài thơ mới làm cuối 1993, để Giã Biệt, “từ bỏ căn nhà, từ bỏ quê hương” lên phi cơ biệt xứ:

Anh ra đi
Bứt ruột mà đi (a)
Như đã một lần cũng bứt ruột
Đi những mười năm tưởng chẳng còn về
Máu chảy không cầm như nước theo sông
Thành phố của anh
Nhục nhằn duyên cưỡng ép (b)
Cay đắng phận rau răm (c)
Tim lay lắt chập chờn nỗi đợi
Mòn mỏi nén nhang khuya (d)
Buổi trở lại, trèo lên cây bưởi cũ (e)
Trông thấy nhau, thương chỉ để mà thương (f)
Đôi bông đó thôi thì em hãy giữ (g)
Tưởng tình xưa
Xin bỏ lỗi cho anh
Anh ra đi
Một lần nữa ra đi
Một lần nữa bứt ruột
Thương người ở lại
Thương như mưa (h)

(TT, tr 203)

. Đưa tay mà bứt ngọn ngò
Thương em đứt ruột, giả đò ngó lơ

b. Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên

c. Cay đắng phận nghèo (mùi đời)

(thành ngữ).

Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay.

d. Anh buồn còn chỗ thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya

e. Trèo lên cây bưởi hái hoa

f. Cây cao bóng ngã qua rào
Trông cho thấy mặt không chào cũng thương.

g. Một mai thiếp có xa chàng
Đôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin.

h. Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.

Dĩ nhiên là còn nhiều câu khác mà tôi không biết, như “máu chảy không cầm” tôi nhớ mang máng đâu đó, không tường tận. Muốn tìm ra nhiều điển cố dân gian trong một bài thơ như vậy, phải lần lên đến Quốc âm Thi Tập của Nguyễn Trãi, thế kỷ thứ XV.

Có những giao hưởng tài hoa và thi vị, trong lời hẹn một ngày về Vườn hạ

Ăn trái chín cây mùa hạ trước
Thấy nhành ớt động bóng chim quen

(TT, tr 91)

Muốn đi vào tâm tư tác giả, ta cần biết:

- Chim chuyền bụi ớt líu lo
Tình thương quân tử ốm o gầy mòn

- Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi


Trong bài Ta về , 1985:
Đêm buồn, ai nữa đứng bờ ao
Khóc người, ta khóc ta rơi rụng


(TT, tr 135)

Câu trên gợi lên cảnh “ đêm khuya ra đứng bờ ao” mà ai cũng nhận ra, nhưng không gian bờ ao kết hợp với “rụng” nhắc lại một câu ca dao khác và gợi ra tâm trạng hờn tủi của người về

Thiếu chi cam rim hường rim anh không chuộng
Anh đi tìm trái khế rụng bờ ao.


Một bài khác còn nhắc tới cây khế dung dị nhưng tuyệt đẹp:

Ta nhớ lắm
Khu vườn xưa, cây khế tím mùa hoa


Có khi Tô Thùy Yên sử dụng nguyên si một câu ca dao:

Thôi, em tiếc thêm chi cái sợi dây dài
Để đến nỗi ngồi hoài bên giếng cạn?


(TT, tr 150)

Nguyên câu văn ca dao, hóm mà sâu :
Tưởng giếng sâu em(anh) nối sợi dây dài,
Ai ngờ giếng cạn em (anh) tiếc hoài sợi dây.

Bài Mùa Hạ làm trong trại học tập Nghệ Tĩnh, trực tiếp nhắc nhở nội dung dân gian của một hình ảnh.

Ngày nghỉ về vườn thăm họ ngoại
Lòng như con sáo trong ca dao

(TT, tr 108)

Con sáo là hình tượng tự do: "con sáo sổ lồng sáo bay”. Vương vấn đâu đó ít nhiều cay đắng, khi nhớ đến câu trước: "Ai đem con sáo sang sông," so với tình huống của người dân miền Nam đi học tập cải tạo “ bên kia sông”. Cùng trong trang đó:

Em mặc bà ba ra bến nước,
Đưa tay khỏa nhẹ nhớ thương nào,
Đến nay lòng ấy còn xao gợn…
Mùa trái cây nào hái tặng nhau .


(TT, tr 108)

Ngoài “mùa trái cây” gợi nhớ đời sống Miệt Vườn, chữ “bà ba” là đặc tính của Nam Bộ , nhưng không xuất hiện nhiều trong thơ. Thường thường ta chỉ thấy “áo lụa Hà Đông” hay là:

Yêu nhau gói trọn hồn trong áo
Nhớ nhau từ trong tà lụa bay

Đinh Hùng

Võ Phiến thời đó (1972) đã nhiều lần luận về cái áo dài tha thướt; sau này, ra nước ngoài, anh mới nhớ đến cái áo bà ba. Tô Thùy Yên trong những câu thơ uyên bác, không ngại dùng những từ dân dã, Nam Bộ như cười bung (tr 59), lá bung phơi (tr 111), bung nở (tr 212), tiếng hò mời dzô dzô (tr 47), quên ngang (tr 119). Những lời lẻ dân gian được sử dụng uyên bác:

Tôi gầy yên lặng với âm thanh (TT, tr 10)
Ngọn cây, ô, đã giát hoàng hôn ( TT,tr 43)

Ngoài ra còn có một số hình ảnh lấy từ ở đời sống hàng ngày, ở tuổi thơ nông thôn, từ tàu chuối lưa thưa đến hoa khế tím, con còng, con dế, đến chim bói cá, cá thia lia, những trò chơi trẻ con như cút bắt, "xu thảy hết... đồng cái thua buồn cũng liệng sông" (tr 95) ; với những kỷ niệm sắc bén:

Ai ngắt dùm anh cây cỏ sướt
Làm đôi gà đá, đá ăn cười

(TT, tr 92)

Gà đá, ở đây là những chùm cỏ cú, làm trò chơi của trẻ nghèo ở nông thôn.
Kỷ niệm thơ ngây, lần xen vào những câu thơ hào hoa

Con chim lạc bạn kêu trời rộng,
Hồn chết trôi miền dạ lý hương.

(TT, tr 94)

Trong từ vựng, đặc sắc trong ngôn ngữ thơ Việt là giá trị những hư từ, như liên từ, giới từ, những công cụ cú pháp không có nội dung riêng, trái với thơ chữ Hán nặng về thực tế và né tránh hư từ. Thơ Tô Thùy Yên cô đúc và có phong thái cổ thi nên cũng ưu đãi thực từ, nhưng hư từ trong thơ anh lại rất đắc vị:

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

(Ta Về, TT, tr128)

Đọan thơ này thường được trích dẫn vì nội dung lịch sử và nhân đạo, triết học. "Hoa đã vì ta nở" nhắc đến câu thơ vua Trần Thánh Tông,1240-1290, trong bài Vườn xuân nhớ người cũ:

Vạn tử thiên hồng không lạn mạn,
Xuân hoa như hứa, vị thùy khai ?.

ĐT tạm dịch :

Muôn hồng ngàn tía suông đua sắc,
Hoa nở, vì ai vẫn nở nhiều ?




Nhưng đừng quên giá trị của nó về mặt thi pháp, cách sử dụng các hư từ “vì”, “từ”, và cách ngắt nhịp huê dạng “ từ mỗi” trong câu thơ.

Nói chuyện thơ, chúng tôi nghĩ nên ưu tiên cho các vấn đề về thi pháp, từ pháp, âm pháp, nói chung là ngôn ngữ. Dĩ nhiên nội dung của tác phẩm là quan trọng. Trong thời Tô Thùy Yên, lịch sử dân tộc để lại nhiều hình ảnh sâu đậm, quá khuôn khổ của một bài báo.

Vậy xin khất độc giả đến một dịp khác.


Paris, 22.10.1998. Điều chỉnh, 6-12-2009.
Đặng Tiến




(1) Tô Thùy Yên, THƠ TUYỂN. Tác giả xuất bản, Minnesota, Hoa Kỳ 1995. Thơ trích từ đấy.
(2) Thái Bá Vân, TIẾP XÚC VỚI HỘI HỌA, nxb VIỆN MỸ THUẬT, Hà nội, 1998, chỉ in 400 cuốn, ai đọc ai không? Đến hôm nay, 2009, chưa thấy tái bản.


Users browsing this topic
Guest (15)
613 Pages«<611612613
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.