Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

15 Pages«<131415
Options
View
Go to last post Go to first unread
CNH  
#281 Posted : Wednesday, November 26, 2014 3:03:09 PM(UTC)
CNH

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 12/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: none

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Thử tìm 1 lối sống tốt nhất tối hậu.

Sau đây là những thiển ý cá nhân mà người viết cảm thấy rằng sẽ tạo được thứ nhân sinh quan có thể giúp cho cuộc sống tốt nhất, tối hậu cho bản thân, gia đình và xã hội.

Qua kinh nghiệm và suy nghĩ, tác giả sẽ cố gắng lần lượt nêu ra các ý kiến liên kết với nhau sao cho niềm tin được hợp lí và hiển nhiên theo kiến thức mới; với hi vọng giải tỏa được những khúc mắc thông thường về cuộc đời hoặc cuộc sống.

Phải chăng:

1- Sống trên đời, ai cũng mưu tìm hạnh phúc. Hạnh phúc cần được lựa chọn sao cho được tốt nhất, tối hậu. Đó là thứ hạnh phúc trọn vẹn, vĩnh viễn; hay là hạnh phúc viên mãn.

2- Một người sống bình thường gồm có 2 phần: thể xác và tinh thần. Thể xác là cơ thể, là phần vật chất. Tinh thần là giống thiêng liêng, gồm có kiến thức, trí khôn, trí nhớ, ý muốn, tình cảm, niềm tin... Đó là những yếu tố của tinh thần mà người viết nghĩ ra được. Nếu ai nghĩ ra thêm được yếu tố nào khác thì càng tốt.

3- Phần tinh thần quan trọng hơn phần thể xác, vật chất; bởi vì:
a- Tinh thần điều khiển đa phần hành động của thể xác.
b- Nhờ vào phần tinh thần cao cấp của loài người, người ta có thể làm cho cuộc sống được thăng tiến bằng sáng kiến như: phát minh, sáng tác, thiết kế...
c- Phần tinh thần thì trường tồn, bất diệt. Người viết không biết chắc và cũng không thể chứng minh được điều nầy, nhưng mà tin như thế, qua những chuyện ma và những người có kinh nghiệm cận tử (Near Death Experience- NDE) đã kể lại, trong rất nhiều tài liệu (với sự trùng hợp rất cao, mà các bác sĩ, các nhà khoa học có thể kiểm chứng dễ dàng).

4- Linh hồn là phần tinh thần của mỗi người, khi còn sống; vì nếu linh hồn mà không có những yếu tố của phần tinh thần, thì linh hồn là gì? Rất hợp lí để tin rằng linh hồn tinh anh, sáng suốt hơn tinh thần; bởi vì linh hồn không bị áp lực của thể xác - vật chất. Những áp lực đó là: đói, khát, mệt mỏi, buồn ngủ, đau, bệnh, trọng lượng, nhiệt độ, thiếu tiện nghi...

Thuyết luân hồi không giải thích được tại sao mỗi người không nhớ gì về kiếp trước của mình? Vì không giải thích được, nên người ta đặt ra chuyện ăn “cháo lú” để quên kiếp trước. Nếu quên thì ai nhớ được chuyện linh hồn “ăn cháo lú” để kể lại cho người trần thế biết?

Làm sao chứng minh được điều đó là thật? Tại sao phải ăn cháo lú để quên? Thể xác ở dạng vật chất, cháo cũng ở dạng vật chất. Thể xác ăn cháo để sống, thì hợp lí. Linh hồn thuộc dạng thiêng liêng, mà ăn cháo (là vật chất) thì không hợp lí.

Nếu có 1 vài trường hợp luân hồi lẻ tẻ, thì không đủ để lập thành 1 thuyết, khả dĩ giải quyết vấn đề, để cuộc sống được phúc lợi.

5- Vì lẽ tinh thần quan trọng hơn thể xác, cho nên hạnh phúc cho tinh thần cần thiết hơn hạnh phúc cho thể xác; bởi đó ta cần lựa chọn và lo tìm kiếm hạnh phúc cho tinh thần hơn.

Tinh thần thuộc dạng thiêng liêng, mơ hồ và trừu tượng. Do thiển cận, người ta thường tìm kiếm hạnh phúc cho thể xác vật chất hơn, vì vật chất thì cụ thể; ít ai nghĩ rằng: khi thể xác chết thì những hạnh phúc nầy bị tan biến. Khi chết, không ai mang theo được tài sản kếch xù của mình; bởi đó linh hồn của kẻ mê vật chất sẽ đau khổ khôn nguôi vì tiếc của.

Vả lại, việc tìm kiếm hạnh phúc cho thể xác, vật chất thường vấp phải nhiều tội ác vì phải vận dụng đến tính tham lam, ích kỉ, độc tài, gian ác, bất công... để đạt cho được; và thường đưa đến sân hận, căng thẳng, nhọc trí, khổ tâm, trầm cảm...; làm ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần bị mệt mỏi, chán chường. Khi chết, linh hồn họ bị cô đơn và bị khinh tởm, vì họ đã tạo nhiều đau khổ cho nhiều người; nhà Phật gọi là “tạo nghiệp”. Linh hồn họ ở trong tình trạng buồn khổ khôn nguôi. Kẻ duy vật vô thần chỉ biết tìm kiếm phúc lợi nơi vật chất; cho nên các xã hội đó rất xấu, dân khổ. “Bể khổ” lớn nhất ở nơi những xã hội duy vật, vô thần.

6- Chỉ có tình yêu vị tha mới tạo được hạnh phúc cho tinh thần; cho nên việc tìm kiếm hạnh phúc cho tinh thần sẽ giúp tạo phúc lợi chẳng những cho bản thân, mà còn chung cho cộng đồng xã hội; nhờ đó xã hội được lí tưởng, thế giới được hỏa bình. Cộng đoàn nào gồm những người vị tha, ắt xã hội phải tốt đẹp; bởi vì mỗi người dùng khả năng riêng để làm việc chung, với tâm tình tôn trọng quyền lợi của nhau, thì việc gì cũng rất dễ thành công mĩ mãn.

7- Theo kinh nghiệm, phải trải qua đau khổ, đến khi hết khổ, người ta mới thấy vui sướng. Bởi đó, sự đau khổ cũng rất cần thiết; cho nên ai càng chịu nhiều đau khổ ở đời nầy, thì linh hồn họ càng được hạnh phúc ở cõi vĩnh hằng. Quan niệm nầy giúp người ta chấp nhận đau khổ dễ dàng và sống lạc quan. Những kẻ nghèo khổ, bệnh tật mà có được quan niệm nầy, sẽ được an ủi nhiều lắm. Đây mới là phương thuốc kì diệu chữa bệnh căng thẳng, trầm cảm và giúp những ai kém may mắn bớt chán nản, hận đời, trách Trời...

8- Nguồn Tạo Hóa (NTH) có siêu tinh thần; mới tạo ra sự sống quá tài tình, mà thông minh như loài người không tạo được. Đố ai tạo được bất cứ hạt giống nào mà có mầm sống. Từ đó suy ra: luật của NTH thì công bình tuyệt đối; bởi vì, bất toàn như loài người mà còn biết tạo ra những máy tự động. NTH thì toàn tri, chẳng lẽ để cho có sự bất công? Mà nơi trần thế không hề có công bình. Vậy niềm tin vào cõi vĩnh hằng, là giải đáp hợp lí nhất cho luật công bằng tuyệt đối của NTH; mà thiết tưởng tận trong thâm tâm, ai cũng mong muốn sự công bằng.

9- Với niềm tin đó, thì luận cứ cho rằng: Chúa phải xét xử mỗi người rồi mới thưởng, phạt là không hợp lí. Giảng dạy như thế chỉ để phỉnh, với hậu ý.....

10- Từ những quan niệm trên đưa đến kết luận rằng: cuộc sống ở đời nầy chỉ là đời tạm; là 1 cuộc trắc nghiệm, sẽ tạo nên kết quả cho tình trạng của linh hồn ở cõi vĩnh hằng. Khôn ngoan thì tìm kiếm hạnh phúc viên mãn; còn ai chỉ mãi lo tìm kiếm hạnh phúc tạm bợ ở đời nầy thì sẽ mất hết ở cõi vĩnh hằng; họ buồn khổ khôn nguôi.

Đạo nào cũng có nhiều lí thuyết “cao siêu”; mà không nắm vững được vấn đề chính yếu; nên đã bị mê tín, cực đoan... do các giáo sĩ bịa đặt để phỉnh gạt đa số ít kinh nghiệm và thiếu suy nghĩ khi còn trẻ. Những sự mê tín bị phỉnh lúc trẻ sẽ trở thành định kiến, rồi đến già, người ta vẫn cứ tưởng đó là chân lí, rất khó thay đổi. Kết quả là kì thị và chiến tranh triền miên như đang thấy. Việc quyên góp để làm từ thiện, nếu không bị lạm dụng, thì cũng không hề giải quyết thỏa đáng vấn đề “bể khổ”.

Điều quá tệ hại của 1 số tôn giáo là họ phàm tục hóa, nhân cách hóa Thiên Chúa, (mà người viết gọi là NTH). Họ tưởng Chúa cũng thích nhận lễ vật, thích được ca ngợi, được tôn vinh; cũng kì thị, phe đảng; thích thưởng ai nịnh hót; đến nỗi câu “bình an dưới thế cho người thiện tâm”quá hay, mà họ không ý thức được cái cao quí của từ “thiện tâm”; nên họ đổi ra thành “Chúa thương”. Đó là dấu chỉ của não trạng phe đảng; thâm tâm như thế mà giảng dạy “bác ái” thì đểu quá. Tệ hại hơn nữa là họ thần thánh hóa loài người: họ truyền “chức thánh” cho nhau, họ cho họ thuộc vào “hàng tư tế vương giả”; họ có quyền buộc tội, tha tội thiên hạ...; ấp ủ óc tự tôn như thế mà lại giảng dạy đức khiêm hạ, thì quá đểu.

Thời đại văn minh nầy, nhân loại đã khá trưởng thành, thông tin quá dễ dàng; tin tức rất dồi dào để biết nơi nào tốt, xấu; do ảnh hưởng nền văn hóa nào, niềm tin nào; rồi mỗi người tự suy nghĩ để tin những gì hiển nhiên và hợp lí. Nhất là đừng để bị phỉnh do tuyên truyền láo phét của những kẻ ham mê quyền bính, và những vật chất hào nhoáng phàm tục. Khôn ngoan thì phải biết chọn điều tốt nhất tối hậu; đó là hạnh phúc trọn vẹn, vĩnh viễn, viên mãn; mà chỉ có linh hồn người tốt (lương thiện, vị tha) mới đáng được hưởng...

“Thiên đàng” của họ là vũ trụ mênh mông vô hạn, tráng lệ, hùng vĩ... được chăm sóc bởi 1 “Trời” yêu thương của NTH.

CNH
11-2014

Edited by user Friday, March 6, 2015 4:57:31 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked CNH for this useful post.
NNT on 11/26/2014(UTC)
CNH  
#282 Posted : Sunday, February 8, 2015 4:23:28 PM(UTC)
CNH

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 12/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: none

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Một bí quyết giúp cai nghiện chơi bạc


\Đánh bạc là 1 niềm đam mê rất tai hại. Người cao niên, hầu như ai cũng có kinh nghiệm nầy. Được biết không mấy ai làm giàu bằng đánh bạc, nhưng độ hấp dẫn của nó quá cao, khiến những người mê chơi bạc không thể bỏ được. Mãi mê đánh bạc đưa cuộc sống đi vào bế tắc.

Và sau đây, người viết góp một ý kiến nhỏ cho những ai muốn cai nghiện đánh bạc:
Lúc trẻ, bản thân người viết đã từng mê đánh bạc. Sau nhiều lần đau khổ vì thua bạc (Xì tố), tôi đã nghĩ ra 1 “bí quyết” để chừa tật xấu ấy.

Là người Công giáo, tôi được giáo dục rất trọng đức bác ái. Tôi đã tìm ra được 1 lí luận dựa trên đức ái; nhờ đó, tôi đã bỏ dễ dàng nết xấu mê bài bạc. Tôi lí luận rằng: bác ái là giúp ích và mang niềm vui đến với mọi người. Đánh bạc thì đàng nào cũng có người thua. Người thua thì đau khổ; mình lại không muốn bất cứ ai phải đau khổ, kể cả mình.

Ngay cả khi mình thắng, thì bạn bè mình (trong sòng bài) phải thua. Bạn mình đau khổ, thì niềm vui mình thắng bạc có trọn vẹn không? Thế là tôi bỏ hẳn đánh bạc từ khi tìm được lí luận trên. Nếu ý kiến nhỏ nhoi nầy có thể giúp 1 số rất ít được tỉnh ngộ, cũng rất là hữu ích.

CNH
1-2015

Edited by user Tuesday, February 17, 2015 1:56:37 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked CNH for this useful post.
ngoc tran on 2/9/2015(UTC)
ngoc tran  
#283 Posted : Monday, February 9, 2015 8:36:32 PM(UTC)
ngoc tran

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 4,793

Thanks: 3395 times
Was thanked: 4856 time(s) in 2305 post(s)
Originally Posted by: CNH Go to Quoted Post
Một bí quyết giúp cai nghiện chơi bạc


\Đánh bạc là 1 niềm đam mê rất tai hại. Người cao niên, hầu như ai cũng có kinh nghiệm nầy. Được biết không mấy ai làm giàu bằng đánh bạc, nhưng độ hấp dẫn của nó quá cao, khiến những người mê chơi bạc không thể bỏ được. Mãi mê đánh bạc đưa cuộc sống đi vào bế tắc.

Và sau đây, người viết góp một ý kiến nhỏ cho những ai muốn cai nghiện đánh bạc:
Lúc trẻ, bản thân người viết đã từng mê đánh bạc. Sau nhiều lần đau khổ vì thua bạc (Xì tố), tôi đã nghĩ ra 1 “bí quyết” để chừa tật xấu ấy.

Là người Công giáo, tôi được giáo dục rất trọng đức bác ái. Tôi đã tìm ra được 1 lí luận dựa trên đức ái; nhờ đó, tôi đã bỏ dễ dàng nết xấu mê bài bạc. Tôi lí luận rằng: bác ái là giúp ích và mang niềm vui đến với mọi người. Đánh bạc thì đàng nào cũng có người thua. Người thua thì đau khổ; mình lại không muốn bất cứ ai phải đau khổ, kể cả mình.

Ngay cả khi mình thắng, thì bạn bè mình (trong sòng bài) phải thua. Bạn mình đau khổ, thì niềm vui mình thắng bạc có trọn vẹn không? Thế là tôi bỏ hẳn đánh bạc từ khi tìm được lí luận trên.

CNH
1-2015


Lý luận cuả bạn cũng giống lý luận cuả NT.
NT cũng không thích cờ bạc vì nếu thấy bạn thua mình mất tiền thì NT cũng sẽ trả lại tiền cho bạn
BigGrin

DongA  
#284 Posted : Thursday, August 6, 2015 1:39:39 PM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Bài viết sau đây được sao lại từ diễn đàn Ba Cây Trúc

Kỳ thị
TRẦM THIÊN THU
Người chuyển bài: Trần Thanh Châu

Kỳ Thị

Kỳ thị có nhiều cấp độ, đôi khi rất khó có thể nhận ra vì quá tinh vi. Kỳ thị trong xã hội thì đã rõ, nhưng người ta còn kỳ thị vì khác tôn giáo, thậm chí người ta vẫn tỏ ra quan liêu và kỳ thị ngay trong những người cùng tôn giáo vì cho rằng chức vụ này “cao” hoặc “thấp” hơn chức vụ nọ. “Cao” hơn thì có “quyền” hơn. Việt ngữ gọi là “quyền hành”. Hay thật! Cũng chỉ vì có “quyền” nên người ta cậy “thế”, rồi ngang nhiên “hành” người khác!

Kỳ thị là gì?

Kỳ thị là phân biệt cái này với cái khác, nhưng “phân biệt” ở đây thường mang nghĩa tiêu cực, nghĩa xấu, nhất là khi nói về việc phân biệt giới tính, phân biệt người khuyết tật, phân biệt giai cấp, hoặc phân biệt chủng tộc.
Kỳ thị chủng tộc là phân biệt người miền này với người miền khác, dân tộc này với dân tộc khác. Kỳ thị chủng tộc là khi bạn bị coi thường hoặc khinh miệt vì bạn là người thuộc dân tộc nào đó. Đôi khi, sự đối xử bất công này có thể trái ngược với pháp luật, tức là phạm pháp.

Không ai có quyền khinh miệt ai vì ai cũng giống nhau về nhân vị,nhân phẩm, và nhân quyền – nghĩa là hoàn toàn bình đẳng. Vì vậy, trước mặt Thiên Chúa thì ai cũng như ai, mọi người đều là những tội nhân mà thôi, chẳng ai hơn hoặc kém ai, thế nên chẳng ai có lý do gì mà kỳ thị người khác!

Bạn có thể bị kỳ thị nếu bạn không được nhận vào làm việc ở một nơi nào đó vì người ta nói bạn “không thích hợp” chỉ vì lý do nào đó, thậm chí chỉ là lý do “ngoại hình”. Nếu bạn là nạn nhân của việc kỳ thị chủng tộc, bạn có thể đệ đơn lên Ủy ban Chống Kỳ thị Chủng tộc Queensland (Anti-Discrimination Commission Queensland, gọi tắt là ADCQ, đạo luật này có từ năm 1991, có các văn phòng tại Brisbane, Rockhampton, Townsville và Cairns).

Kỳ thị là phạm pháp

Luật ADCQ nói rằng đối xử bất công là phạm pháp. Đôi khi kỳ thị (nói chung) xảy ra không rõ ràng, nghĩa là chỉ gián tiếp. Đồng ý là có người “hợp” với mình, có người không “hợp”, nhưng “không hợp” không có nghĩa là chúng ta có thể đối xử bất công với người đó. Cùng làm một công việc, nếu bạn được trả lương ít hơn người khác, đó là bạn bị kỳ thị.

Gièm pha, nói xấu, nói hành người khác là ghét người khác, tức là kỳ thị. Kỳ thị có thể là lời nói, cử chỉ, thái độ, hành động, ánh mắt,… thậm chí có thể là “ngòi bút” khi viết ra những điều nguyền rủa hoặc phỉ báng để làm mất phẩm giá của người khác. Thiếu công tâm trong khi nhận xét người khác cũng là kỳ thị, quấy nhiễu người khác cũng là kỳ thị, coi thường người khác cũng là kỳ thị. Nói chung, kỳ thị có thiên hình vạn trạng.

Kỳ thị là phạm tội

Bất cứ ai cũng có thể là người kỳ thị hoặc bị kỳ thị. Muốn tránh kỳ thị thì phải có lòng yêu thương thực sự.
Trong Mười Điều Răn mà Thiên Chúa truyền tuân giữ, điều răn thứ Năm (chớ giết người) và điều răn thứ Tám (chớ làm chứng dối) có liên quan động thái kỳ thị: Vì thiếu lòng yêu thương nên người ta mới kỳ thị, và vì kỳ thị nên người ta mới “giết người” hoặc “làm chứng dối”. Đó là vi phạm Thánh Luật của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này; quả thật, Thầy nói cho anh em biết: các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 18:10).
Đức Giêsu còn kể một dụ ngôn rất điển hình và khá phổ biến trong chúng ta, nhất là với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác:

Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế. Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con” (Lc 18:11-12). Đó là lời cầu nguyện kiêu căng, ngạo mạn, và ích kỷ!

Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18:13). Đó là lời cầu nguyện khiêm nhường.

Hai con người với hai động thái trái ngược. Nhưng hai dạng này luôn tồn tại trong thế giới loài người xưa nay.
Chúa Giêsu quả quyết: “Tôi nói cho các ông biết: người này (người thu thuế), khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia (người Pharisêu, người giả hình) thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18:14).

Chúng ta đừng tưởng Chúa Giêsu nói tới người Pharisêu chứ không hề nói mình, vì chúng ta vẫn làm những việc đạo đức như đi đọc kinh, tham dự Thánh lễ, tham dự các giờ phụng vụ, đi làm từ thiện,… thế nhưng liệu những việc đó có thực sự vì mến Chúa và yêu người hay không mới là điều quan trọng. Hãy cảnh giác, vì đôi khi chúng ta có thể kỳ thị nhau ngay trong lời cầu nguyện hoặc trong những việc đạo đức!

Khiêm nhường là nền tảng của mọi nhân đức. Nhưng RẤT KHÓ SỐNG KHIÊM NHƯỜNG. Thế nên Thánh Giacôbê nhắc nhở: “Anh em hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa và Người sẽ cất nhắc anh em lên” (Gc 4:10). Thánh Phaolô xác định: “Chỉ có MỘT Chúa, MỘT niềm tin, MỘT phép rửa” (Ep 4:5), thế thì không ai có thể viện bất kỳ lý do nào để mà kỳ thị người khác.

Có gì sai trái khi người này không thích người khác?

Có thể bạn đã nghe câu châm ngôn này: “Tôi không phải ưa thích bạn, nhưng tôi phải yêu thương bạn”. Các Kitô hữu không có quyền chọn lựa trong hoạt động yêu thương. Chúng ta phải yêu thương mọi người, kể cả những người khác mình, thậm chí còn phải yêu thương kẻ thù.

“Ưa thích” phải xử lý với sự quý mến ưu tiên, chúng ta thu hút vào một điều, một hoạt động hoặc người này hơn người kia. Thân quen là điều bình thường và tự nhiên của con người. Tuy nhiên, hãy cẩn trọng khi chúng ta cảm thấy KHÔNG THÍCH một người nào đó.

Một người Mỹ gốc Phi đã nhận xét: “Nếu bạn không thích tôi vì tôi ngu dốt, cũng tốt thôi. Tôi có thể đi học. Nếu bạn không thích tôi vì tôi dơ bẩn, cũng chẳng sao. Tôi có thể tắm rửa cho sạch sẽ. Nhưng nếu bạn không thích tôi vì màu da của tôi, thế thì bạn có vấn đề. Vấn đề của bạn là đối với Thiên Chúa, vì Ngài dựng nên tôi như vậy”.

Bạn cần tự hỏi mình: “Tại sao tôi không thích những người khác tôi? Có phải vì tôi có thành kiến? Có phải vì tôi kỳ thị?”. Kỳ thị chủng tộc (racism) là tin tưởng sai lầm rằng một số người vốn dĩ cao cấp và một số người vốn dĩ hạ cấp chỉ vì dân tộc của họ. Đó là một dạng thành kiến (preduce, bias), còn gọi là định kiến hoặc thiên kiến, có tác dụng tiêu cực và nguy hiểm – dùng lời nói hoặc động thái nhằm hạ thấp hoặc kinh miệt người khác, hãy tránh xa những người có óc kỳ thị hoặc dính líu tới bạo lực. Phân biệt đối xử (discrimination) là không chấp nhận các quyền cơ bản của người khác, đó là một hệ lụy khủng khiếp khác của chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc. Tội diệt chủng (genocide) là dạng tồi tệ nhất của chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc. Từ thế kỷ XX, loại tội phạm này len lỏi vào cộng đồng một cách tinh vi hơn.

Kỳ thị chủng tộc là tội trọng. Đó là tội không yêu thương và bất công. Giáo Hội “mạnh mẽ lên án mọi dạng phân biệt đối xử đối với người khác vì sắc tộc, màu da, điều kiện sống hoặc tôn giáo” (Tuyên ngôn về Mối Quan Hệ của Giáo Hội đối với các Tôn Giáo khác, số 5).

Ambrose Bierce, văn sĩ Hoa Kỳ, định nghĩa thành kiến là “ý kiến vớ vẩn không có ý nghĩa rõ ràng về sự ủng hộ”. Hãy kiểm tra xem tại sao bạn không thích người nào đó. Nếu đó là vấn đề của óc thiển cận, bạn có thể thay đổi. Hãy nỗ lực tìm hiểu để nhận biết và hòa đồng với mọi người, nhất là những người không cùng chủng tộc, không cùng tôn giáo, không cùng quan điểm, không cùng trình độ,… Hãy nhớ rõ ràng rằng CHỈ CÓ MỘT CHỦNG TỘC, đó là NHÂN LOẠI, là LOÀI NGƯỜI, là con cái của Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con sống hòa đồng với nhau trong tình huynh đệ hiệp nhất với Chúa Ba Ngôi, như Chúa Giêsu mong ước cho mọi người hoàn toàn “nên một” (Ga 17:21-23). Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Edited by user Thursday, August 6, 2015 1:41:25 PM(UTC)  | Reason: Not specified

CNH  
#285 Posted : Friday, September 2, 2016 12:49:44 PM(UTC)
CNH

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 12/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: none

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Phạm tội vì vô ý thức

Ba định nghĩa sau đây sẽ giúp giải thích tựa đề của bài nầy:

1- “Phạm tội”, xét cho cùng, không có nghĩa nào khác hơn là làm bất cứ điều gì có hại cho bất cứ ai, ngay cả cho chính đương sự.

2- “Quỉ”, theo nghĩa thông thường, hầu như ai cũng nghĩ rằng: đó là những thần dữ, hoặc là những nhân vật vô hình, chuyên cám dỗ để hại loài người; thậm chí “quỉ” còn có tên riêng như Lu-Xi-Phe, Sa-Tăng...; nhưng định nghĩa theo thiển ý người viết thì: “Quỉ” chính là tính kiêu ngạo trong mỗi chúng ta; bởi vì tính kiêu ngạo tạo ra 2 đặc tính của “quỉ”; 2 đặc tính đó là: ưa làm hại và thường cám dỗ chúng ta.

3- “Kiêu ngạo”, nghĩa là nghĩ mình cao, trọng hơn kẻ khác. Thích được nổi, được kính trọng... Xin nhớ rằng: kiêu ngạo là nguyên nhân của mọi sự dữ, mọi sự bất an. Tội "tổ tông" chính là tội kiêu ngạo (Eva muốn được bằng Thiên Chúa).

Trong những hành động thông thường hằng ngày, nhiều khi ta phạm tội, nhưng vì vô ý thức (vô ý); nên ta không biết rằng ta phạm tội. Vài ví dụ sau đây sẽ giúp ta thấy rằng vì vô ý thức mà ta phạm tội quá nhiều.

Ít ai nghĩ rằng mình phạm tội khi gọi hàng giáo phẩm của đạo Công giáo là “Cha, đức ông, đức cha, đức thánh cha”, và xưng mình là con, khi họ chỉ đáng bậc con cháu; bởi vì khi ta gọi họ như vậy, họ sẽ cảm thấy họ quá cao trọng; có nghĩa là ta giúp cho họ tăng tính kiêu ngạo. Các đạo khác cũng đều hành xử tương tự. Ví dụ sau đây sẽ giúp ta thấy rất rõ:

Theo quyển “Bên giòng lịch sử” của LM Cao Văn Luận, thì giám mục Ngô Đình Thục muốn lễ “ngân khánh” của ông phải được tổ chức như là quốc lễ. Đúng ra, nếu mừng lễ ngân khánh hoặc kim khánh của các vị có giáo phẩm, chỉ nên tổ chức trong giáo phận mà họ đang cai quản mà thôi.

Trong Việt Nam có nhiều giáo phận. Nhưng việc làm của giám mục Ngô Đình Thục đã chứng tỏ ông tự coi mình quá cao trọng; rồi 1 số vị trong hàng giáo phẩm Công giáo VN ưa “dựa hơi” tổng thống Công giáo, đã có những thái độ hống hách; từ đó, phong trào kì thị tôn giáo đã xảy ra ở VN, đưa đến việc bàn thờ xuống đường; rồi “hội đồng nhân dân cứu quốc” được thành lập để trả thù người Công giáo ở Thanh Bồ- Đức Lợi và cuộc thảm sát trong kì tết Mâu Thân ở Huế...

Kết quả là 3 em trai của GM Ngô Đình Thục bị sát hại và nước VN bị khốn đốn mãi đến nay.

Đó là kết quả của những hành động vô ý thức, mà ít ai thấy. Người ta phạm tội vì vô ý thức nhiều quá nên thế giới khó được hòa bình, là vì vậy; chứ không phải vì thiếu cầu nguyện. Có nhiệt tâm mà vô ý thức, thường trở thành đại họa.

CNH
7-16



[/size]

Edited by user Friday, September 30, 2016 1:17:51 PM(UTC)  | Reason: Not specified

CNH  
#286 Posted : Tuesday, November 22, 2016 9:25:06 PM(UTC)
CNH

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 12/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: none

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Tin vui cho những ai quá sợ “hỏa ngục, luyện ngục”


Người Thiên Chúa giáo thường học và tin rằng “hỏa ngục” là nhà tù có đầy lửa, là nơi giam cầm vĩnh viễn (họ thường nói là “đời đời kiếp kiếp”) các linh hồn nào:

1- Không gia nhập đạo Thiên Chúa.
2- Đặc biệt người Công giáo được dạy rằng ai đã phạm nhiều tội, mà chưa được tha tội; tức là chưa xưng tội với “cha”, để “cha” ban phép giải tội trước khi chết.

“Luyện ngục” cũng là nhà tù đầy lửa, là nơi giam cầm các linh hồn người Công giáo nào chưa được sạch hết tội nhẹ, cho nên họ phải tạm thời ở đó cho đến khi đền (thanh luyện) hết tội nhẹ; và nếu có ai dùng tiền để xin các “cha” làm lễ, cầu nguyện cho linh hồn theo ý người xin lễ, thì linh hồn đó được sớm ra khỏi luyện ngục và được lên “thiên đàng” để hưởng “nhan Thánh Chúa”.

Họ cũng được dạy rằng: Thiên Chúa ở khắp mọi nơi. Câu hỏi được đặt ra là: Vậy Thiên Chúa có ở trong hỏa ngục không? Độc giả nghĩ sao về câu hỏi nầy? Nếu cả 2 ý đều đúng, đều là chân lí, thì vô lí quá, mâu thuẫn quá. Cho nên theo thiển ý người viết thì: thiên đàng, hỏa ngục, luyện ngục... chỉ là những hình ảnh, là biểu tượng, là nghĩa bóng...

Hầu hết Thánh kinh Cựu Ước lẫn Tân Ước thường dùng rất nhiều nghĩa bóng, biểu tượng, dụ ngôn, ẩn dụ... để dạy giáo lí.

Trên thực tế: hầu hết tín đồ hiểu theo nghĩa “đen”, ngay cả các “tiến sĩ” thần học. Vài ví dụ sau đây cho thấy: mấy ai hiểu rằng “tội Tổ Tông” chính là tội kiêu ngạo? Chỉ vì kiêu ngạo mà nhân loại cứ phải chiến tranh triền miên. Con rắn (trong Sáng Thế Kí) tượng trưng cho ma quỉ. Ma quỉ cũng chính là tính kiêu ngạo trong mỗi chúng ta, chứ không phải đó là những thần dữ. Đức Jesus đã dùng rất nhiều dụ ngôn để giảng dạy; như là Ngài nói: các người cứ phá hủy đền thờ nầy (Jerusalem), tôi sẽ xây lại xong trong 3 ngày; ai cũng thắc mắc. Đến khi Ngài phục sinh sau 3 ngày bị tử hình; người ta mới hiểu ra ẩn ý câu Ngài nói đó.

Giáo hội đã lạm dụng những hình ảnh ghê rợn của hỏa ngục, luyện ngục để răn đe hù dọa, để tín đồ sợ mà không dám phạm tội, đồng thời để làm tiền. Chắc là họ nghĩ giống như người cộng sản: “cứu cánh biện minh cho phương tiện”. Người viết nghĩ rằng: dạy đạo theo lối đó là chưa trưởng thành.

Những điều tượng trưng, biểu tượng... của Thánh kinh, hoặc những dụ ngôn, ẩn dụ của Jesus khi giảng đạo, hầu hết bị tín đồ tin và hiểu theo nghĩa đen; do đó NIỀM TIN TRỞ THÀNH MÊ TÍN. Khi mê tín trở thành phổ thông, khiến giới trẻ phải thắc mắc khi họ học về khoa học ở trường khác với những gì họ nghe ở nhà thờ; do đó có dư luận cho rằng đạo Thiên Chúa nghịch với khoa học. Cho nên nếu các ngài cứ dạy đạo theo lối mê tín, khác nào các ngài gián tiếp đuổi giới trẻ ra khỏi nhà thờ. Đó là trăn trở của người viết. Mong sao nhà thờ ngưng đọc Sáng Thế Kí trong lễ Phục Sinh hằng năm.

Vatican đã ý thức về sự hiểu lầm của tín đồ, nên đã cải chính và công bố rằng: Thiên đàng, hỏa ngục... không phải là nơi chốn nào cả, mà đó chỉ là tình trạng của tâm hồn: kẻ ác LUÔN bị khinh ghét, bị bứt rứt, bị khắc khoải... đó mới chính là “hỏa ngục”. Người thiện LUÔN cảm thấy vui thỏa trong tình thương yêu, quí mến của nhau; đó là phúc thật, là “thiên đàng”. Nhưng ít ai chịu thay đổi định kiến để hiểu theo nghĩa bóng. Các giáo sĩ vì lợi nhuận (bổng lễ) nên không dám cải chính theo công bố của Vatican; lại còn lập lờ, đặt ra nhiều chuyện các linh hồn hiện về báo mộng để thân nhân xin “cha” làm lễ cầu nguyện cho họ.

Làm tiền với phương tiện bất chính, phỉnh gạt... là không nên chút nào; mặc dầu với ý tốt là dùng tiền đó để “rao giảng tin mừng”, để “mở rộng nước Chúa”, để giảng đạo.... Nhưng giảng đạo theo lối mê tín thì ích gì? Chi bằng TIN NHỮNG ĐIỀU HỢP LÍ VÀ HIỂN NHIÊN THEO KIẾN THỨC MỚI. Đạo Chúa không dung nạp sự lập lờ, quanh co.

Giảng đạo, nên giúp tín đồ thấy điều ích lợi của các đức hạnh, để họ tự nguyện trau dồi, mới tạo nên xã hội lí tưởng, thế giới mới được hòa bình.

Vài gợi ý sau đây có thể giúp ta thực hành đức hạnh không khó khăn lắm:

a- Khiêm hạ: Con người là loài thọ tạo. Không ai tự sắm cho mình những tài năng Thiên phú. Nếu ai có được tài năng nào, thì chỉ nên cám tạ NTH; nhờ đó ta nhận được ân sủng dồi dào từ Nguồn, thay vì kiêu căng vênh váo; ta chia xẻ những gì mình có cho người lân cận; để đổi lấy tình nghĩa, là thứ hạnh phúc viên mãn, vĩnh viễn. Sự trao đổi như thế, sẽ giúp nhau cùng tiến, sẽ tạo nên xã hội an lành thịnh vượng trong tình thương.

b- Nhịn nhục: là cố kềm hãm sự nóng giận bất chợt và nghĩ cách giải thích sự việc cách thành thật và hợp lí để tránh sự hiểu lầm. Nếu xét thấy mình có lỗi, thì phải xin lỗi; đó là cách hòa giải hữu hiệu nhất, cũng là cách cảm hóa những kẻ dữ.

c- Bác ái: nếu tin rằng NTH cũng là Nguồn Sáng, vừa là Nguồn Tình Yêu. Mọi người đều từ cùng Nguồn đó mà ra; là bà con nhau; nên thương nhau là tốt nhất; vì tình thương cho ta hạnh phúc viên mãn.

d- Công bình: luật công bình của NTH thì tuyệt đối. Đừng ai muốn hà hiếp, đàn áp ai trong giai đoạn thử thách ở đời tạm nầy. Sự công bình giúp xã hội được trật tự, an lành.

e- Lương thiện: là trung thực, là chân thật. Tính nầy nằm trong luật công bằng. Kẻ bất lương, gian ác luôn đáng bị khinh tởm; nói dối là hèn hạ, lời nói dối thì vô giá trị; kẻ dối trá bị xa lánh.

f- Bao dung: là rộng lượng, là tha thứ...Để thực hành đức bao dung; thiết tưởng không gì hay hơn là cố thử đặt mình là đối phương; ở trong hoàn cảnh, trong môi trường, trong trình độ kiến thức... của đối phương; xem mình có lẽ cũng hành động, nói năng như đối phương không? Cần phải khách quan để được sáng suốt. Khi hiểu rõ bối cảmh của đối phương; việc tha thứ trở nên dễ dàng và giúp nhau hòa giải; tâm hồn ta được nhẹ hẳn lại và được thảnh thơi, sảng khoái.

g- Hiền lành: ai chế ngự được tính nóng nảy, tự cao...; thì tâm hồn lúc nào cũng được bình thản, thoải mái, tốt cho sức khỏe. Chịu chấp nhận thiệt thòi, thua lỗ... là lập công đức để được hạnh phúc viên mãn ở cõi vĩnh hằng.

Kinh nghiệm cho thấy nếu ai thực hiện được những đức hạnh trên đây, sẽ gặt hái được những ân huệ lớn lao thật bất ngờ. Đây mới chính là “vật liệu” cần thiết để xây nền hòa bình thế giới.

Sau đây là những nguyên tắc căn bản cần phổ biến, để giúp mọi người khỏi phân vân về mục đích của cuộc sống:
- Tinh thần quan trọng hơn thể xác.
- Tinh thần vẫn còn mãi sau khi xác đã chết, khi đó tinh thần được gọi là linh hồn. Nhiều tài liệu đã được kiểm chứng của những người có kinh nghiệm cận tử cho biết như thế.
- Tình thương tạo nên hạnh phúc viên mãn, vĩnh viễn cho tinh thần.
- Kinh nghiệm cho thấy: hạnh phúc chỉ được nhận biết sau khi đã trải qua đau khổ; vậy những ai chịu càng nhiều đau khổ, sẽ càng thấy hạnh phúc hơn, khi đã hết đau khổ.
- Mọi sinh vật đều phải chết.
- Thời gian cho đời người là có giới hạn.
- Chịu chấp nhận khó khăn, đau khổ, thiệt thòi ở đời này..., là lập công đức cho hạnh phúc viên mãn ở cõi vĩnh hằng.
- Mọi người đều cùng một NTH mà ra; cho nên mọi người đều là con cái của cùng 1 Nguồn gốc, là bà con nhau cả.
- Việc thâu tóm của cải, quyền lực...không bao giờ được thỏa mãn.
- Sự phú quí, sang trọng, danh, lợi, quyền lực...đều vô giá trị ở cõi vĩnh hằng.
- Đời sống ở trần thế chỉ là tạm bợ, là giai đoạn thử thách.
- Luật công bình của NTH thì tuyệt đối.
- Việc thiện hoặc ác ở đời tạm nầy là nguyên NHÂN cho hậu QUẢ ở cõi vĩnh hằng.
- Cầu nguyện bằng việc thiện, thì có hiệu quả hơn là chỉ xin Ơn Trên bằng lời nói, bằng công thức, thủ tục, nghi lễ...

Nếu ai cũng biết và thực hiện được những nguyên tắc căn bản trên đây thì xã hội tự khắc được trật tự, an lành, thịnh vượng...; thế giới sẽ được hòa bình.

CNH
11-2016

Edited by user Thursday, June 22, 2017 3:41:50 PM(UTC)  | Reason: Not specified

CNH  
#287 Posted : Wednesday, June 28, 2017 1:09:43 AM(UTC)
CNH

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 12/11/2013(UTC)
Posts: 23
Location: none

Was thanked: 2 time(s) in 2 post(s)
Tại sao có kẻ “gàn, ngông, lội ngược dòng, không giống ai...”?

Các triết thuyết, phong tục, tập quán, tục lệ, quan niệm, niềm tin tôn giáo... của nhân loại trên toàn cầu từ xưa đến nay đã tạo nên cục diện thế giới như hiện thời: một thế giới đầy tranh chấp, bất an, nhiểu nhương... khắp nơi. Tại sao vậy? Nếu không phải DO LOÀI NGƯỜI THƯỜNG CÓ KHUYNH HƯỚNG GIỮ NHỮNG TRUYỀN THỐNG CŨ ĐÓ VỚI NHIỀU KHUYẾT ĐIỂM, thì là gì? Chẳng phải đó là văn hóa “đàn cừu” theo kiểu: ai sao ta vậy, các “ngài” nói bậy, ta nói theo sao? Và nếu có kẻ tìm thấy và nêu ra những khuyết điểm của các truyền thống đó, thì có phải họ là kẻ “gàn, ngông...” không? Nếu không “gàn, ngông...” như vậy, thì làm sao người ta biết khuyết điểm do đâu, để tìm cách cải thiện xã hội?
Các tệ đoan xã hội hầu hết đều có nguyên nhân, cần phải tìm cho ra; bởi vì hầu như hậu quả nào cũng có nguyên nhân (nhân-quả). Cái nguyên nhân chính là: người ta ưa tìm kiếm giá trị (phúc lợi) vât chất TẠM BỢ nơi trần thế hơn là tìm phúc lợi VĨNH VIỄN cho tinh thần ở cõi vĩnh hằng. Mọi người cần phải được giáo dục để biết rằng:

Giá trị phàm tục chỉ cho người ta thỏa mãn TẠM BỢ ở trần thế nầy mà thôi. Đó là DANH, LỢI, QUYỀN LỰC, THÚ VUI, KHOÁI LẠC CHO THỂ XÁC... Việc tìm kiếm phúc lợi phàm tục rất là vất vả, và thường tạo ra nhiều tranh chấp, nhiều đau khổ; chiến tranh triền miên cũng do đó mà ra. Tình trạng nầy thường thấy ở các xã hội duy vật vô thần và mê tín; trong đó người ta chỉ lo tìm kiếm phúc lợi vật chất, phàm tục.

Giá trị tinh thần (GTTT) mới cho người ta hạnh phúc viên mãn chẳng những ngay ở trần thế nầy mà còn VĨNH VIỄN nơi cõi vĩnh hằng (CVH). GTTT không gì khác ngoài tình thương yêu, quí mến, nâng đỡ, đùm bọc nhau. Không ai coi ai là kẻ thù, mà chỉ nên hiểu rằng chúng ta chưa biết phân biệt 2 thứ giá trị kể trên. Mọi người cần được giáo dục để biết phân biệt giá trị nào là tạm bợ, và giá trị nào là vĩnh viễn. Cuộc sống ở đời nầy chỉ là ĐỜI TẠM, CUỘC TRẮC NGHIỆM, CUỘC THỬ THÁCH, CUỘC THI. VN có câu: “Sinh kí tử qui” (Sống gởi, thác về). Chỉ những kẻ lương thiện, vị tha mới có được GTTT cho hạnh phúc vĩnh viễn.

Cõi vĩnh hằng là có thật, đã được rất nhiều tài liệu cho biết, rất đáng tin vì có thể kiểm chứng, được viết bởi những người có kinh nghiệm cận tử (KNCT) (near dead experience-NDE); nhất là từ năm 1970 về sau nầy. Nhiều tài liệu cho biết rằng: không có gì tốt bằng cái chết (Nothing is better than the death). Đây là một THẮC MẮC LỚN; cho nên các dân tộc tiền tiến, văn minh rất quan tâm và tìm hiểu rất chu đáo. Riêng ở Mĩ có khoảng 8 triệu trường hợp có KNCT. Các tài liệu đó qui tụ khoảng chục điểm giống nhau. Tất cả những người sau khi có KNCT đều thay đổi cách sống: họ không thiết tha đến những phúc lợi vật chất ở trần thế nầy nữa. Điều nầy hợp với phát biểu của Đức Jesus rằng: “Nước Ta không thuộc về thế gian nầy...”. Người Do Thái rất thông minh, nhưng không khôn ngoan, nên họ thờ tiền, của; cho nên đức Jesus đã mắng kẻ thờ tiền của là đồ ngốc trong 1 dụ ngôn về người phú hộ, lo xây nhiều kho chứa của cải. Cũng vì thế mà Jesus bị dân Do Thái xử tử hình.

Kính thưa quí độc giả, về mặt tôn giáo và xã hội, ít lâu nay tôi thường tự nhận mình là kẻ như những ngôn từ trong ngoặc kép nơi tựa đề bài nầy, và suốt trong các bài tôi viết trước nay, có nhiều bài đã đưa ra những ý ngược đời, không giống ai. Quí vị có thể cho tôi là người lập dị; tôi hài lòng về điều đó; bởi vì tôi thấy những điều mà ít ai thấy; hoặc có ai thấy cũng không muốn phát biểu vì e ngại bị rắc rối. Tôi chủ trương TIN NHỮNG ĐIỀU HỢP LÍ VÀ HIỂN NHIÊN THEO KIẾN THỨC MỚI; và đừng tin những gì mơ hồ, vô căn cứ. Như thế mới đưa thế giới đến hòa bình, thịnh vượng được.

Niềm tin phải được giải thích hợp lí và rõ ràng, mới có giá trị; chứ tin theo kiểu mê tín, cuồng tín, dị đoan; hoặc theo lối tưởng tượng, suy đoán của loài người thời sơ khai; rồi bắt tín đồ phải tin vô điều kiện theo kiểu “đức vâng lời, vâng lời trọng hơn của lễ, ơn vô ngộ...”; rồi dùng chiêu bài “mặc khải, mầu nhiệm...” để không tín đồ nào có thể suy nghĩ khác; niềm tin như vậy là vô giá trị và có hại; bởi vì như thế sẽ tạo nên kì thị, xung đột, hiềm khích giữa các cách tin khác nhau nơi các tôn giáo; loài người theo những con đường khác nhau thì không bao giờ gặp nhau nơi 1 xã hội lí tưởng; bởi vì loài người không có được mẫu số chung. Mẫu số chung đó là giải tỏa được 3 câu hỏi lớn nhất mà ai cũng thường thắc mắc, phải chăng 3 câu hỏi lớn đó là:
1- Mục đích của cuộc sống là gỉ?
2- Sau khi chết, ta còn gì không?
3- Có Thượng Đế hay không?
Cả 3 đều được giải tỏa và dẫn chứng bằng tài liệu kiểm chứng được, bằng kinh nghiệm và bằng cách dùng phép so sánh; qua nhiều bài trước đây, được tóm lược và tổng hợp như sau:

I- MỤC ĐÍCH CỦA CUỘC SỐNG LÀ GÌ?
Phải chăng sống trên đời ai cũng mưu tìm hạnh phúc? Có 2 thứ hạnh phúc: hạnh phúc tạm bợ và hạnh phúc vĩnh viễn. Hạnh phúc tạm bợ chỉ có ở trần thế nầy mà thôi; đó là giàu sang, quyền lực, danh tiếng, sắc đẹp (giả tạo), sức khỏe... Sau cuộc sống nơi trần thế, những hạnh phúc tạm bợ trở thành vô giá trị vì không còn nữa. Tìm kiếm hạnh phúc tạm bợ thì rất là vất vả, và thường tạo cho xã hội bất an, nhiểu nhương... Người cộng sản duy vật vô thần, tôn giáo vô thần và tôn giáo phàm tục hoá thần thánh, hoặc “mua thần bán thánh”... chỉ, hoặc thường lo tìm kiếm hạnh phúc tạm bợ. Chúng ta nên ý thức rằng: Khi đã chết, các hạnh phúc tạm bợ chẳng những trở thành vô giá trị mà còn là cái “vạ”, cái “nghiệp” phải trả bằng sự nuối tiếc, ân hận, bất mãn... nếu những thứ tạm bợ đó bị chiếm đoạt bằng sự bất công, bằng tội ác... Cho nên người dân hèn mọn ở các xã hội đó rất là khốn khổ.

I I- SAU KHI CHẾT, TA CÒN GÌ KHÔNG?
Đây là 1 thắc mắc rất lớn, cần được giải tỏa; cho nên các dân văn minh rất quan tâm và tìm hiểu về vấn đề nầy. Hình như các khoa học gia chưa chứng minh được sự sống còn của linh hồn sau khi xác đã chết. Nhất là từ năm 1970 về sau, nhiều người có kinh nghiệm cận tử (KNCT) đã kể lại hoặc viết rất nhiều tài liệu về những gì họ cảm nhận trong lúc họ chết (tạm). Các bác sĩ, các khoa học gia trong cuộc có thể kiểm chứng được; như trường hợp của bà Houghton, khi tim bà đã ngừng đập, linh hồn bà đã thoát ra khỏi xác, bay lên cao, đã thấy chùm chìa khóa màu đỏ trên nóc tủ thuốc; nhờ đó vị bác sĩ trực hôm đó đã tìm lại được chùm chìa khóa đã bỏ quên trong lúc vội vã. Bà cũng đã thấy 2 người y tá ở tầng lầu trên đang xem TV và đánh cá trận đấu bóng rổ; người thua trả cho bạn đồng nghiệp 20 mĩ kim; và v. v....

I I I- CÓ THƯỢNG ĐẾ HAY KHÔNG?
Mục nầy đã được chứng minh trong bài “Có Thiên Chúa hay không?”. Xin được sao lại như sau:


Có Thiên Chúa hay không?

Đó là một thắc mắc lớn, rất thông thường. Trên “net”, thấy có câu hỏi “Có Thượng Đế không nhỉ?”. Rồi có ý kiến cho rằng: điều gì phải nghi ngờ thì không đáng tin. Người viết có ý kiến:

Ai chịu quan sát khá kĩ sự sống; sẽ nghiệm thấy dễ dàng là: CÓ THIÊN CHÚA:

Tiếp cận quanh ta có sự sống; sự sống là vật chứng của sự sáng tạo, hoặc thiết kế thông minh (intelligent design). Thử hỏi có vật gì do loài người sáng tạo mà tinh vi, kì diệu bằng sự sống không? Đố các nhà bác học, các khoa học gia... chế tạo được bất cứ loại hạt giống nào mà có mầm sống: hạt lúa, hạt đậu, hạt cải... chẳng hạn, hoặc cái trứng có cồ?

Loài người sáng tạo được vật dụng là nhờ loài người có lí trí. Lí trí là 1 yếu tố của phần tinh thần của con người. Tinh thần của con người được xếp vào hạng CAO cấp; cao cấp so với tinh thần HẠ cấp của các loài động vật khác. “Cao cấp”, vì loài người biết làm thăng tiến cuộc sống bằng sự sáng tạo, phát minh, sáng tác... lúc đang sống. Các động vật khác không biết làm cho cuộc sống của chúng được thăng tiến, nên tinh thần của chúng chỉ được xếp vào hạng HẠ cấp. Tinh thần của “cái” mà tạo được sự sống phải cao bội phần hơn tinh thần cao cấp của loài người; và được xếp vào hạng SIÊU tinh thần.

“Cái” mà tạo được sự sống chính là Nguồn Tạo Hóa (NTH). Siêu tinh thần của NTH hẳn phải có tính toàn tri, toàn năng và hằng sống, mới tạo được sự sống mà ta thấy quanh ta và trong ta. NTH mới chính là Thiên Chúa. Thiên Chúa không phải là ông thần (personal God), ông tiên... có phép mầu như người Thiên Chúa giáo tưởng tượng; cũng không phải ông Ngọc Hoàng Thượng Đế như người VN nghĩ.

Sự sống là vật chứng cho biết có Thiên Chúa, cũng giống như radio, TV … là vật chứng cho biết có những làn sóng điện quanh ta; nhưng ta không thể dùng giác quan để cảm nhận được sóng điện. Thời nay, được nghe radio, coi TV, cell phone... ai mà không biết có nhiều làn sóng điện trong không gian?

Ngoài sự sống còn có vũ trụ, mà theo tài liệu của các khoa học gia thì loài người chỉ biết chưa được 4% về vũ trụ. Sự tinh vi và trật tự của vũ trụ cũng cho ta thấy đặc tính toàn tri và toàn năng của NTH.

Những khám phá về sự trật tự cách tinh vi, kì diệu trong vũ trụ là kết quả do nghiên cứu cao siêu của các nhà bác học. Giới bình dân, ít học như người viết bài nầy, chỉ quan sát sự sống, đã đủ để thấy có sự sáng tạo. CÓ SÁNG TẠO, ẮT PHẢI CÓ TÁC GIẢ. Tác giả đó chính là NTH, là Thượng Đế, là Thiên Chúa. Xin vận dụng chút lí trí, sẽ thấy rất rõ các Bạn vô thần ơi.

CNH
11-2016

Giải tỏa được 3 câu hỏi lớn trên đời, chẳng phải ta đã biết rõ con đường đời trước mặt phải đi rồi sao? Biết được rõ ràng như thế thì ta cứ đường hoàng mà sống vị tha, lương thiện. Chỉ cần cậy xin Ơn Trên (kết nối với nguồn Sáng=NTH) giúp (gia tăng thần lực) để ta có đủ nghị lực, can đảm để dẹp đi “cái tôi rất đáng ghét”. Chính cái tôi đã cám dỗ ta thành ra ươn hèn, yếu đuối, mù quáng và dễ bị sa ngã, phạm tội... để rồi làm khổ cho chính bản thân, gia đình, cộng đoàn và xã hội.

CNH
6-2017

Edited by user Tuesday, July 4, 2017 12:10:17 AM(UTC)  | Reason: Not specified

DongA  
#288 Posted : Sunday, February 25, 2018 7:03:43 PM(UTC)
DongA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/28/2011(UTC)
Posts: 800

Was thanked: 27 time(s) in 17 post(s)
Thấy một bài viết ngắn và khá hay trên FB (ông CNH gởi), nên đăng lên để các bạn đọc cho "vui":


Phần “Con” và phần “Người”

Ngo Du Trung FB


Một cặp trai gái Việt du lịch ở Mỹ, đi thăm nhiều nơi. Một bữa đang ngồi uống cà phê trong một khu mua sắm nổi tiếng ở New York, trao đổi với nhau những nhận xét về nước Mỹ thì bất ngờ một người Mỹ ngồi bàn bên cạnh lên tiếng bằng tiếng Việt thật chuẩn:

“Chào mừng hai bạn đến thăm nước Mỹ!”

Cặp trai gái người Việt hơi bất ngờ, nhưng cùng đáp lại:

“Chào ông!…”

Người đàn ông Mỹ cười, nói tiếp:

“Tôi có thể ngồi chung bàn trò chuyện với hai bạn được không?”

Cặp trai gái Việt vẻ lúng túng, rồi gật đầu:

“Ok. Ông nói tiếng Việt giỏi quá!”

Người đàn ông Mỹ bưng tách cà phê của mình sang kéo ghế ngồi xong cười đáp:

“Cảm ơn hai bạn. Trước năm 75 tôi có ở miền Nam VN khoảng 10 năm. Tôi yêu đất nước và con người ở đó nên đã bỏ công ra học tiếng Việt! Cũng may là tôi không đến nỗi dốt lắm nên dù tiếng Việt rất khó cũng học nói được chút chút…“

Người đàn ông Mỹ nói xong cười lớn rất thoải mái. Còn cặp trai gái Việt thì có vẻ bẽn lẽn, chắc lo lắng không biết mình đã có nói gì không tốt trước đó. Người đàn ông Mỹ gợi chuyện:

“Hai bạn thấy nước Mỹ thế nào?”

Anh trai Việt đáp:

“Dĩ nhiên là giàu có rồi.”

Người đàn ông Mỹ quay sang nhìn cô gái:

“Còn cô?”

Cô gái Việt ngập ngừng:

“Tôi cũng thấy nước Mỹ thật là giàu!”

Người đàn ông Mỹ cười lớn rồi hỏi tiếp:

“So với nước bạn thì thế nào?”

Cô gái Việt nhanh nhẩu đáp:

“Dĩ nhiên đất nước chúng tôi không giàu bằng Mỹ, vì mới thoát ra khỏi chiến tranh. Chúng tôi đang phấn đấu để tiến lên. Và trên thực tế thì đất nước tôi cũng đã tiến bộ vượt bực. Thành phố, khu đô thị được xây dựng nguy nga; đường sá được mở rộng; nhiều khu nghỉ dưỡng, ăn chơi; nhiều người có xe hơi nhà lầu. Ở Việt Nam bây giờ không thiếu thứ gì… “

Cô gái vừa nói vừa quơ quơ cái điện thoại iphone x cố ý cho người đàn ông Mỹ nhìn thấy.

Người đàn ông Mỹ khen:

“Cái điện thoại của bạn… hiện đại thật! Mà công nhận hai bạn giàu thật. Trên người hai bạn toàn hàng hiệu. Chuyện đó cũng không có gì lạ. Theo tôi biết thì nhiều quốc gia trên thế giới, cộng với ngân hàng thế giới mấy chục năm nay, vừa cho không, vừa cho vay nhẹ lãi cho VN mấy trăm tỷ đô la; còn cộng đồng người Việt mỗi năm gởi về trên dưới chục tỷ đô la, và liên tục mấy chục năm như vậy rồi. Với số tiền khổng lồ đó, nếu phần lớn không chạy vào túi lãnh đạo của các vị thì chắc đủ để mua cho mỗi gia đình ở Việt Nam một chiếc xe hơi…”

Người đàn ông Mỹ ngừng lại nhìn hai người VN thăm dò, rồi tiếp:

“Nhưng thôi, vì cách nào mà đất nước bạn “giàu có” lên thì cũng không nên “moi móc” ra làm chi, đúng không?; miễn sự “giàu sang” đó làm cho các bạn hãnh diện là được rồi, đúng vậy không?…”

Người đàn ông Mỹ ngừng lại chờ đợi vì thấy anh thanh niên Việt mấp máy môi như định nói gì đó. Nhưng chờ một lúc không thấy gì nên người đàn ông Mỹ nói tiếp:

“Tiếng Việt thật thâm thuý. Cái chữ human being của chúng tôi thì tiếng Việt gọi là “con người”. Tức là trong cái “con người” có hai phần. Một phần “con” và một phần “người”. Một đất nước văn minh tốt đẹp, một thể chế văn minh tốt đẹp là một đất nước, một thể chế trong đó con người được phát triển cân bằng, đầy đủ về cả hai phần: phần “con” và phần “người”. Đất nước của các bạn hiện nay chỉ mới có phát triển phần “con”, dù vẫn còn nhiều người nghèo đói, nhưng có vẻ như các bạn đã cảm thẩy đầy đủ, thoả mãn rồi, tự thấy mình văn minh tiến bộ ngang ngang với thế giới rồi… Chính vì cái suy nghĩ đó mà khi các bạn đi du lịch sang nước tôi, các bạn chỉ trầm trồ sự giàu sang, sung túc, tức là các bạn chỉ thấy cái phần “con”….”

Người đàn ông Mỹ nhìn thấy vẻ ngượng ngùng trên hai khuôn mặt người Việt, mỉm cười tiếp:

“Vì tôi thích VN nên thích kết bạn với người Việt. Tôi có mấy người bạn là Người Việt tỵ nạn cs ở đây.

Các bạn ấy cho tôi xem nhiều cmts của người Việt trong nước trên các trang mạng facebook.

Người Việt trong nước bảo rằng họ không cần nhân quyền, không cần đa nguyên đa đảng; họ bảo mỗi ngày họ được ăn nhậu phủ phê; họ nói mỗi sớm mai thức dậy họ thấy mặt trời vẫn mọc trên quê hương… v.v… . Ha ha… thoả mãn được cái phần “con” là họ thấy thoả mãn rồi, thấy hạnh phúc rồi… Hai bạn có thấy như vậy không?”
Nói xong người đàn ông Mỹ đứng dậy đưa tay bắt tay hai người Việt Nam, cười cười nói:

“Tôi có việc không ngồi được lâu hơn. Chúc hai bạn một chuyến du lịch thật vui vẻ và học hỏi được nhiều điều mới mẻ. Hy vọng khi các bạn về nước sẽ nói cho bạn bè của bạn trong nước hiểu về cái phần “người” của nước Mỹ, chứ không phải chỉ cái phần “con”…”
Users browsing this topic
Guest (2)
15 Pages«<131415
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.