Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
lly (Lynn Ly)  
#1 Posted : Saturday, December 21, 2013 5:21:24 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,337

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
LÝ TƯỞNG BỒ-TÁT QUA HÌNH TƯỢNG NGÀI ĐỊA TẠNG
Tác giả ????
Đăng Bài trên web : Toan Nguyễn


Hồng chung sơ khấu
Bảo kệ cao âm
Thượng thông thiên đường
Hạ Triệt địa phủ
Nam-mô U minh giáo chủ, cứu khổ bổn tôn, cứu bạt minh đồ, Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ-tát ma-ha-tát.
[1]


Có lẽ suốt cuộc đời tôi sẽ không sao quên được bài kệ và danh hiệu của vị Bồ-tát ấy, bởi bài kệ và danh hiệu ấy đã đánh dấu một thời hành Điệu của tôi. Làm sao quên được những kỉ niệm và hình ảnh của một chú tiểu nhỏ bé với cái chỏm trên đầu, mới ba giờ rưỡi sáng, trong cái lạnh giá buốt của miền cao nguyên trung phần Pleiku, tay cầm chùy đại hồng chung, miệng đọc bài kệ và niệm danh hiệu của Bồ-tát Địa Tạng và đánh lên những tiếng chuông thanh thoát giữa đêm tàn cô tịch, nhất tâm cầu nguyện cho những chúng sanh đang chịu những cực hình khổ đau trong địa ngục và thức tỉnh cả nhân loại đang say giữa giấc mộng miên trường.

Tiếng chuông, danh hiệu của Bồ-tát và bài kệ ấy đã theo tôi từ thời hành Điệu như thế, và tôi cũng biết rằng đó là bài kệ nằm lòng của những người con Phật, bởi bài kệ niệm chung ấy ngày nào cũng được ngân vang trước hai thời công phu (công phu khuya và tối). Âm thanh, ý nghĩa bài kệ và danh hiệu Bồ-tát ấy cao huyền làm sao, và tôi chắc rằng không có một bài kệ nào hay hơn và ý nghĩa hơn có thể thay thế được.

Xem Hình vẽ Địa Tạng Bồ Tát ở Goryeo,Hàn quốc vào cuối thế kỉ 14

Chúng ta chưa bàn về ý nghĩa cao xa của kinh Địa Tạng hay hạnh nguyện, hình tượng của ngài Địa Tạng, chỉ cần qua bài kệ ngắn 16 chữ và danh hiệu ấy, cũng đủ cho chúng ta thấy được tầm quan trọng về lý tưởng Bồ-tát qua hình tượng ngài Địa Tạng trong lòng người con Phật rồi.

Tinh thần Đại thừa nói chung hay lý tưởng Bồ-tát nói riêng đã đưa Phật giáo vượt thoát những không gian hạn hẹp, vượt qua những giới hạn của nhà chùa hay tinh xá “cửa đóng then cài” hay “thiền môn u tịch”… để đưa Phật giáo đi vào cuộc đời, thể hiện lý tưởng độ sanh hay tinh thần cứu khổ của người con Phật. Đó chính là lý tưởng và tinh thần của các vị Bồ-tát.

Cho đến ngày nay, nói theo ngôn ngữ của người xưa “sáu mươi năm cuộc đời” thì tôi đã đi hơn một nửa rồi. Trong suốt những năm dài học Phật, tôi chợt giật mình nhìn lại tinh thần siêu việt của Đại thừa hay lý tưởng Bồ-tát mà chư Phật, chư Tổ đã dạy cho người xuất gia ngay từ lúc bước chân vào đạo. Tôi nhớ ngày ấy, ngày đầu tiên mới xuất gia vào cửa chùa, chưa thuộc một bài kinh cơ bản nào, ngay cả chú Đại Bi, Sư phụ tôi đã dạy tôi học sáu chữ “TỲ NI NHẬT DỤNG THIẾT YẾU” (Luật dùng cần thiết hằng ngày). Người còn dạy “NGHI TIÊN HỌC LUẬT, HẬU HỌC TU-ĐA-LA” (trước tiên phải học luật, sau đó mới học kinh). Giờ nghiệm lại những dòng kệ ấy, tôi chợt nhận ra lý tưởng siêu việt của Bồ-tát đã ẩn tàng bao la trong những dòng kệ Tỳ-Ni ban đầu ấy. Năm mươi mốt câu kệ trong bộ luật này [2] đã dạy cho người xuất gia sơ cơ mới vào cổng chùa, từ những lúc gà gáy canh khuya, khi vừa thức dậy bước chân xuống giường cho đến khi đi ngủ, phải thiết lập chánh niệm trong mỗi một việc làm của mình, và thực hiện lý tưởng Bồ-tát của người con Phật là phải cầu nguyện và hồi hướng công đức đến với tất cả chúng sanh “ĐƯƠNG NGUYỆN CHÚNG SANH”.

Phật giáo Đại thừa, hay lý tưởng Bồ-tát đã được thiết lập và truyền dạy cho những vị xuất gia sơ cơ, ngay khi phát nguyện ra khỏi nhà thế tục bước chân vào cửa đạo qua những bài kệ của Luật Tỳ-Ni hay bài kệ hô chung với hình ảnh của ngài Địa Tạng mà các chú tiểu đã đọc tụng và đánh lên những tiếng Đại Hồng Chung thức tỉnh cả Thiên Hà, U Cảnh “THƯỢNG THÔNG THIÊN ĐƯỜNG, HẠ TRIỆT ĐỊA PHỦ.”

Kinh Tạp A-hàm (Samyutta Nikaya) kể rằng: Có một hôm, tại xứ Kosambi, đức Phật từ trong rừng đi ra, trên tay Ngài cầm một nắm lá Simsapa và hỏi các vị Tỳ-kheo rằng lá trong rừng nhiều hay lá trên tay Ngài nhiều. Các Tỳ-kheo đều trả lời, lá trong rừng rất nhiều, lá trên tay rất ít. Đức Phật dạy, những gì Ngài dạy cho các Tỳ-kheo chỉ như lá trong tay của Ngài, còn những gì Ngài biết thì như lá trong rừng. Với tinh thần siêu việt của Đại thừa, chúng ta có thể hiểu rằng các vị Bồ-tát thuở xưa như ngài Mã Minh (Asvagosa), Long Thọ (Nagarjuna), Vô Trước (Asanga), Thế Thân (Vasubandhu), v.v… đã nương theo nắm lá Simsapa trong bàn tay của đức Phật và hướng đến rừng lá Simsapa vô tận trong rừng. Có lẽ trên tinh thần siêu việt ấy mà giáo lý Đại thừa đã được thành lập, lý tưởng Bồ-tát cao siêu đã xuất hiện ngay từ thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch, để thay thế cho chủ nghĩa bộ phái sắp suy tàn và đưa Phật giáo phát triển một cách rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới. Đó chính là sự xuất hiện những tư tưởng siêu việt qua các bộ kinh như Bát-nhã (Prajna Paramita sutra), Pháp Hoa (Saddharmapundarika), Hoa Nghiêm (Avatamsaka), Duy-ma-cật (Vimalakirtinidesa), kinh Địa Tạng, Vu Lan Báo Hiếu, v.v…

LÝ TƯỞNG ĐẠI THỪA CỦA PHẬT GIÁO ĐƯỢC THỂ HIỆN CỤ THỂ QUA NHỮNG LÝ TƯỞNG VÀ HẠNH NGUYỆN CỦA CÁC VỊ BỒ-TÁT.

Trong vô lượng Bồ-tát được đề cập trong các kinh điển Đại thừa, có bốn vị đại Bồ-tát nổi bật nhất: Văn Thù Sư Lợi (Manjuri), Phổ Hiền (Samantabhadra), Quán Âm (Avalokitesvara) và Địa Tạng (Kstigarbha).Ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu về Bồ-tát Địa Tạng. Công hạnh, hình tướng cũng như sự tu chứng của vị Bồ-tát này được đức Phật mô tả cụ thể trong KINH ĐỊA TẠNG. Có thể khẳng định rằng, kinh Địa Tạng là một trong những kinh nổi bật của kinh điển Đại Thừa và được người con Phật thọ trì đọc tụng rất nhiều tại các nước như Trung Hoa, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… Một số học giả cho rằng kinh này được biên soạn tại Trung Hoa. Tuy nhiên, theo lịch sử truyền bá và dịch thuật kinh điển, bộ kinh này có nguồn gốc từ Ấn Độ, nguyên bản tiếng Phạn của kinh này tên là: Ksitigarbhaprani Dhana Sutra.[3] Kinh này được ngài Thật-xoa-nan-đà (Siksanada) dịch đầu tiên sang tiếng Hán vào thời đại nhà Đường, bản tiếng Hán là: 地 藏 菩薩 本 願 經 (Địa Tạng Bồ-tát Bổn Nguyện kinh). Sau đó bản kinh này được dịch ra rất nhiều thứ tiếng khác như tiếng: Hàn, Nhật, Việt… Ngày nay bản kinh này cũng được lưu hành, nghiên cứu và thọ trì tại các nước phương Tây với tựa đề là “Sutra of the Past Vows of the Earth Store Bodhisattva), do hội nghiên cứu dịch thuật của Hòa Thượng Tuyên Hóa, Vạn Phật Thánh Thành, Mỹ quốc dịch và phổ biến. Bộ kinh này được đức Phật thuyết giảng tại cung trời Đao Lợi[4], nhân dịp Ngài lên cung trời này thuyết pháp độ thân mẫu của Ngài là hoàng hậu Maya, qua sự thưa thỉnh của đức Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi. Tông chỉ bộ kinh này được Hòa Thượng Tuyên Hóa tóm tắt trong tám chữ:[5]HIẾU ĐẠO, ÐỘ SANH, BẠT KHỔ, BÁO ÂN”, do vậy kinh này cũng được gọi là Hiếu kinh của Phật giáo. Nội dung bộ kinh này đức Phật thuyết giảng về công hạnh cao cả của ngài Địa Tạng qua những tiền kiếp của Ngài, đặc biệt là hiếu hạnh và sự độ sanh của Ngài.

Lý tưởng Bồ-tát và công hạnh của ngài Địa Tạng được đức Phật mô tả rất nhiều qua các kinh điển Đại thừa như:
  • Phật Thuyết Đại Phương Quảng Thập Luân kinh,
  • Ðại Thừa Ðại Tập Ðịa Tạng Thập Luân kinh,
  • Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo kinh,
  • Phật thuyết La Ma Già kinh,
  • Hoa Nghiêm kinh,
  • Hoa Nghiêm kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm,
  • Hoa Nghiêm Thập Ðịa kinh,
  • Ðại Thừa Bổn Sanh Tâm Ðịa Quán kinh,
  • Phật Thuyết Bát Ðại Bồ-tát kinh, v.v…[6]

Trong kinh Địa Tạng Bồ-tát Bổn Nguyện, đức Phật có dạy về bốn tiền thân, với bốn đại nguyện của ngài Địa Tạng:
  1. Trong vô lượng kiếp về trước, ngài Địa Tạng là một vị trưởng giả, nhờ phước duyên được chiêm ngưỡng, đảnh lễ và được sự chỉ dạy của đức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, vị trưởng giả này đã phát đại nguyện: “Từ nay đến tột số chẳng thể kể xiết ở đời sau, tôi vì những chúng sanh tội khổ trong sáu đường mà giảng bày nhiều phương tiện làm cho chúng nó được giải thoát hết cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật Ðạo.[7]

  2. Vào thời quá khứ vô số kiếp trước, thuở đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, tiền thân của Ngài là một người nữ dòng dõi Bà-la-môn có nhiều phước đức và oai lực; nhưng mẹ của cô không tin vào nhân quả tội phước, tạo rất nhiều ác nghiệp, sau khi chết bị đọa vào địa ngục. Là người con chí hiếu, cô rất thương nhớ mẹ, và đã làm vô lượng điều lành, đem công đức ấy hồi hướng cho mẹ, và cầu nguyện đức Phật cứu giúp. Nhờ các công đức chí thành ấy, đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại đã cho cô biết là mẹ của Cô đã được thoát khỏi cảnh địa ngục và vãng sanh về cõi trời. Vô cùng hoan hỉ trước tin ấy, cô đã đối trước đức Phật Giác Hoa phát nguyện:Tôi nguyện từ nay nhẫn đến đời vị lai những chúng sanh mắc phải tội khổ, thì tôi lập ra nhiều phương chước làm cho chúng đó được giải thoát.[ 8 ]

  3. Trong hằng hà sa số kiếp về trước, thuở đức Phật Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, ngài Địa Tạng là một vị vua rất đức độ, thương dân… nhưng chúng sanh lúc ấy tạo rất nhiều ác nghiệp, vị vua hiền đức này đã phát nguyện:Như tôi chẳng trước độ những kẻ tội khổ làm cho đều đặng an vui chứng quả Bồ Ðề, thời tôi nguyện chưa chịu thành Phật.[9]

  4. Vô lượng kiếp về thuở quá khứ, thời đức Phật Liên Hoa Mục Như Lai, ngài Địa Tạng là một hiếu nữ tên Quang Mục có nhiều phước đức. Nhưng mẹ của Quang Mục lại là người rất ác, tạo vô số ác nghiệp. Khi mạng chung, bà bị đọa vào địa ngục. Quang Mục tạo nhiều công đức hồi hướng cho mẹ, và nhờ phước duyên cúng dường một vị A-la-hán, vị Thánh này đã cho biết rằng, mẹ của cô đã thoát khỏi cảnh địa ngục sanh vào cõi người, nhưng vẫn còn chịu quả báo sinh vào nhà nghèo hèn, hạ tiện, lại bị chết yểu… vì lòng thương mẹ và chúng sanh, Quang Mục đã đối trước đức Phật Liên Hoa Mục Như Lai phát nguyện: Từ ngày nay nhẫn về sau đến trăm nghìn muôn ức kiếp, trong những thế giới nào mà các hàng chúng sanh bị tội khổ nơi địa ngục cùng ba ác đạo, tôi nguyện cứu vớt chúng sanh đó làm cho tất cả đều thoát khỏi chốn ác đạo: địa ngục, súc sanh và ngạ quỉ, v.v... Những kẻ mắc phải tội báo như thế thành Phật cả rồi, vậy sau tôi mới thành bậc Chánh Giác.[10]

Có lẽ chính nhờ những tư tưởng hiếu đạo cao cả của đức Thế Tôn lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp độ thân mẫu Maya, về quê hương hóa độ thân phụ Tịnh Phạn Vương, hay các hạnh hiếu cao cả của Tôn Giả Mục Kiền Liên qua kinh Vu Lan Bao Hiếu và những hạnh hiếu cao cả của ngài Địa Tạng qua kinh Địa Tạng này… mà Phật giáo đã cảm hóa được tính độc tôn của Nho giáo từng thống trị ở đại lục Trung Hoa, đồng thời góp phần to lớn vào việc xây dựng nền đạo đức Đông phương.

Tinh thần vô uý cao cả phát nguyện vào các địa ngục kinh khiếp để cứu độ những chúng sanh đầy tội lỗi ấy của đức Địa Tạng luôn là biểu tượng tôn quí để người con Phật hướng về đảnh lễ chí thành: “Chúng sanh độ tận Phương chứng Bồ-đề, địa ngục vị không thệ bất thành Phật, đại bi đại nguyện đại thánh, đại từ, bổn tôn địa tạng Bồ-tát Ma ha tát.” [11] Chính lý tưởng Bồ-tát siêu việt và cao cả ấy, hình tượng ngài Địa Tạng đã trở thành lý tưởng sống vị tha cao thượng qua một thành ngữ nổi danh: “NẾU TA KHÔNG VÀO ĐỊA NGỤC THÌ AI SẼ VÀO?” (If I do not go to hell, who else will go?)

ĐỊA LINH - THÁNH TÍCH

Nếu quê hương của Phật giáo có Tứ Động Tâm[12] hay Bốn Thánh Tích Thiêng Liêng của người con Phật, thì Phật giáo Trung Hoa có Tứ Đại Danh Sơn. Tứ Đại Danh Sơn là bốn thánh cảnh nổi danh, gắn liền với những huyền thoại nhiệm mầu về hóa thân tu tập của bốn vị Bồ-tát nổi danh trong Phật giáo, đó là:
  1. Bồ-tát Quán Thế Âm tại Phổ Đà Sơn còn gọi là Hải Thiên Phật Quốc ở tỉnh Triết Giang,
  2. Bồ-tát Phổ Hiền tại Nga Mi Sơn còn gọi là Tây Nam Phật Quốc ở tỉnh Tứ Xuyên,
  3. Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi tại Ngũ Đài Sơn còn gọi là Thanh Lương Thế Giới ở tỉnh Sơn Tây và
  4. Bồ-tát Địa Tạng tại Cửu Hoa Sơn còn gọi là Liên Hoa Phật Quốc ở tỉnh An Huy.[13]

Theo các sách như THẦN TĂNG TRUYỆN, CỬU HOA SƠN CHÍ… thì lịch sử của Cửu Hoa Sơn, thánh địa đạo tràng của ngài Địa Tạng được kể như sau: Vào năm 695 Tây lịch, vua nước Tân La (Hàn Quốc ngày nay) hạ sanh thái tử Kim Kiều Giác, lớn lên Thái tử có lòng mến mộ Phật pháp rất sâu. Năm 24 tuổi, ông từ bỏ hoàng cung quyết chí xuất gia, lấy hiệu là Địa Tạng. Lúc bấy giờ, Tỳ-kheo Địa Tạng nghe danh của ngài Huyền Trang sang Tây Trúc (Ấn Độ) thỉnh kinh và trở về Trung Hoa, giúp Phật giáo đời Đường phát triển đến đỉnh cao, hơn nữa Phật giáo Tân La được truyền từ Trung Hoa vào… Tỳ-kheo Địa Tạng phát nguyện vượt đại dương mênh mông đến Trung Hoa tu tập, hóa độ chúng sanh. Sau những năm vân du tham học nhiều nơi, cuối cùng Tỳ-kheo Địa Tạng đến núi Cửu Hoa, thấy cảnh núi non hùng vĩ, phong cảnh thanh nhàn thoát tục, Ngài dừng lại ở ngọn núi này lập một thảo am quyết tâm khổ hạnh tu đạo. Trong vùng lân cận của núi Cửu Hoa có một vị phú thương tên là Văn Các Lão, là một Phật tử có tâm hộ trì Phật pháp, từng phát tâm cúng dường và xây dựng rất nhiều chùa viện. Nhân một lần đi ngoạn cảnh tại núi Cửu Hoa, Văn Các Lão diện kiến được sự tinh tấn tu hành, cũng như đạo hạnh cao thâm của Tỳ-kheo Địa Tạng, ông liền thưa Tỳ-kheo Địa Tạng muốn dâng cúng Ngài một khu đất và lập một tự viện để Ngài tu hành. Tỳ-kheo Địa Tạng nói chỉ cần một khu đất che phủ bởi tấm áo Cà sa của Ngài, nhưng khi Ngài giũ áo lên thì tấm Cà sa phủ cả ngọn núi Cửu Hoa. Văn Các Lão vừa kính phục vừa vui mừng, liền mua cả ngọn núi Cửu Hoa cúng dường Ngài, ông còn phát tâm theo ủng hộ Ngài và cho người con trai của mình tên là Đạo Minh xuất gia theo Ngài học đạo. Từ ấy dân làng các vùng lân cận và các nơi đều kéo nhau về núi Cửu Hoa học Phật dưới sự hướng dẫn của Tỳ-kheo Địa Tạng, cũng trong thời gian ấy rất nhiều huyền thoại mầu nhiệm về sự cứu độ chúng sanh được kể về Ngài. Đến năm 99 tuổi, Tỳ-kheo Địa Tạng gọi đồ chúng đến dặn dò mọi việc rồi ngồi kiết già an nhiên thị tịch, lúc ấy là ngày 30 tháng 7 âm lịch. Theo lời dặn của Ngài các đệ tử đóng một cái quan bằng gỗ và tôn thờ tại núi Cửu Hoa, ba năm sau khai quan ra thì thấy nhục thân Ngài vẫn nguyên vẹn, sắc diện hồng hào, tỏa mùi thơm… các đệ tử liền xây một bảo tháp cao ba tầng trên núi Cửu Hoa để tôn thờ nhục thân Ngài, gọi là “Nhục thân bảo tháp”. Cũng trong năm ấy, năm 797, Hoàng đế nhà Đường lúc ấy là Đường Đức Tông nghe việc hy hữu nhiệm mầu, liền ban chiếu chỉ xây một bảo điện to lớn bao lên trên bảo tháp để bảo vệ nhục thân của ngài, gọi là “Nhục thân bảo điện” để tỏ lòng kính ngưỡng phụng thờ. Và nhục thân của Ngài đến nay vẫn còn nguyên vẹn.

Ngọn núi Cửu Hoa còn gắn liền với nhiều huyền thoại linh ứng về sự cứu độ chúng sanh của Bồ-tát Địa Tạng[14] và ngay từ thời ấy đến tận bây giờ, thánh địa Cửu Hoa Sơn trở thành một trong bốn thánh cảnh thiêng liêng nhất của Phật giáo Trung Hoa. Hàng năm, thánh địa Cửu Hoa sơn thu hút hàng vạn Phật tử và du khách tại Trung Hoa cũng như trên thế giới đến chiêm bái và viếng thăm.

Theo lịch sử của Cửu Hoa Sơn, Tỳ-kheo Địa Tạng thị tịch vào ngày 30 tháng 7 âm lịch, Phật giáo đã chọn ngày này làm ngày lễ vía hằng năm của Bồ-tát Địa Tạng. Cũng trên tinh thần ấy, sau lễ Vu Lan, các chùa thường khai kinh Địa Tạng và thọ trì, đọc tụng hết tháng này. Và các pháp hội về Bồ-tát Địa Tạng cũng thường được tổ chức trong những ngày này.

THỊ HIỆN HÌNH TƯỚNG , TƯƠNG ƯNG HÓA ĐỘ

UserPostedImage


Trong các tranh tượng của chư đại Bồ-tát, chúng ta có thể thấy rằng, hình tượng của Bồ-tát Địa Tạng là tiêu biểu cho hình dáng và lý tưởng của người xuất gia hơn là những hình tượng của các vị Bồ-tát khác. Nếu hình tượng của Bồ-tát Quán Thế Âm có hình dáng của người mẹ hiền, với bình cam lộ, giọt nước, cành dương xoa dịu những nỗi khổ đau nơi trần thế; hình tượng của Bồ-tát Văn Thù như một nhà thông thái tự tại trên lưng sư tử oai hùng, với thanh gươm trí tuệ chặt đứt những sợi dây phiền não vô minh; hình tượng của Bồ-tát Phổ Hiền an nhiên trên con bạch tượng với cành hoa sen trên tay, tiêu biểu cho thập hạnh chuyên cần tiến bước trên đường giác ngộ; thì hình tượng của Bồ-tát Địa Tạng với đầu tròn đội mũ Tỳ lư, mình đắp Cà sa, tay cầm tích trượng tiêu biểu cho hình tượng của chư Tăng, thực hiện lý tưởng cứu khổ độ sanh. Đó là hình tượng của ngài Địa Tạng mà chúng ta thường gặp nhất trong các chùa. Trong chánh điện các chùa, tôn tượng của Ngài thường được tôn thờ bên phải đức Thế Tôn hay đức Phật Di Đà, bên trái là Bồ-tát Quán Thế Âm.

Đôi khi hình tượng Ngài còn được mô tả bên phải có hộ pháp Văn Các Lão, bên trái là Tỳ-kheo Đạo Minh, dưới chân Ngài là con Linh khuyển.[15] Một hình tượng của Ngài mà chúng ta thường trông thấy trong các buổi đại trai đàn chẩn tế là, Ngài ngồi tự tại trên một con kì lân hung tợn một sừng, tay phải cầm tích trượng, tay trái cầm viên minh châu tỏa sáng quang minh để cứu độ chúng sanh trong cảnh giới địa ngục kinh hoàng. Dù là hình tượng nào thì ngài Địa Tạng vẫn là hình tượng trang nghiêm tiêu biểu cho ‘đầu tròn áo vuông’, đầu đội mũ Tỳ lư, tay cầm tích trượng, mình mặc áo Cà sa… đó chính là hình ảnh của một vị Tăng xuất thế.

Tuy nhiên, bước sang tinh thần của Phật giáo Nhật Bản thì lý tưởng, hạnh nguyện và hình tượng của ngài Địa Tạng rất đặc biệt, có đôi phần khác so với các nước Trung Hoa, Đài Loan, Việt Nam[16]… như đã miêu tả ở trên. Khi kinh Địa Tạng được truyền sang Nhật, người Phật tử Nhật có lẽ chú trọng và phát huy về sự cứu độ của ngài Địa Tạng qua hạnh nguyện cứu độ và bảo vệ những trẻ em bị yểu mạng, hay bất hạnh chết trong bào thai (sẩy thai) hay chết yểu lúc tuổi còn rất nhỏ; chính vì vậy mà hình tượng của Bồ-tát Địa Tạng thường được mô tả theo truyền thống Nhật là tay phải cầm tích trượng, tay trái bồng một em bé, đôi khi là hình tượng tay phải buông xuống cứu độ các trẻ em, tay trái bồng một em bé, dưới chân Ngài có 3 em bé đang vói tay đòi Ngài bồng, hay hình tượng của Ngài trong hình tượng là một em bé tay phải cầm gậy, tích trượng để đánh đuổi bọn quỷ hung ác, tay trái cầm một toà nhà, hay hình tháp nhỏ để hòa đồng và giúp những em bé bất hạnh, bơ vơ tích tạo công đức vượt qua dòng sông Nại Hà…[17]

Chúng sanh với đa căn, đa bệnh, để thích ứng từng căn cơ, từng hoàn cảnh, Bồ-tát Địa Tạng cũng tùy theo đó mà thị hiện những hình tướng tương ưng để hóa độ. Hình ảnh của đức Thế Tôn cũng tùy theo những quốc gia mà có những nét khác biệt, và giáo lý của Phật giáo cũng vậy, có Nam truyền, Bắc truyền, hay Nam tông, Bắc tông; có Nguyên thủy Phật giáo, Tiểu thừa Phật giáo và Đại thừa Phật giáo, v.v… tuy muôn màu muôn vẻ, đa dạng như thế nhưng đó chỉ là sự khác biệt trên hình tướng, danh tự… để thích hợp với từng thời đại, quốc độ, địa phương, hay từng căn cơ, lý tưởng của chúng sanh… còn về mặt bản thể, hay mục đích thì vẫn là một; đó là để tu tập giác ngộ, hoá độ chúng sanh và hướng đến sự toàn giác (tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn).

Lý tưởng Bồ-tát qua hình tượng của ngài Địa Tạng tuy được phác họa qua những nội dung đơn giản trên, nhưng đó cũng chính là lý tưởng cao đẹp của chư Bồ-tát nói riêng hay của những người con Phật nói chung. Lý tưởng và hình tướng cao cả của Bồ-tát Địa Tạng luôn đại diện cho hình ảnh của những bậc tu hành xuất thế; đó cũng chính là hình ảnh và ý nghĩa của một trong Ba ngôi báu, với tinh thần vô uý, với thần lực vô ngại, với lý tưởng vị tha luôn dấn thân để cứu độ chúng sanh thoát khỏi cảnh Nhà lửa tam giới, hay những khổ cảnh trong những địa ngục kinh hoàng.

Quote:

Chú Thích

[1]. Kệ hô chung, kinh Nhật Tụng, NXB TP. HCM, PL. 2544, Tr.457.
[2]. Sa-di Giới và Sa-di-ni Giới, Hòa thượng Thích Trí Quang dịch giải, 51 là tính đầy đủ, nếu tính các bài kệ bốn câu thì chỉ có 45 bài kệ.
[3]. Bản tiếng Phạn này ngày nay chưa tìm thấy.
[4]. Trời Đao Lợi, còn gọi là cõi trời Tam Thập Tam, đây là cõi trời thứ hai tính từ dưới lên trong 6 cõi trời dục giới: Tứ thiên vương, Đao-lợi, Dạ-ma, Đâu- suất- đà, Hoá lạc và Tha hoá tự tại
[5]. Hiếu Kinh của Phật giáo, theo Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện
[6]. Theo Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện
[7]. Theo Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện , Phẩm thứ nhất, Trưởng giả tử phát nguyện
[ 8 ]. Theo Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện , Phẩm thứ nhất, Bà-la-môn nữ cứu mẹ
[9]. Theo Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện , Phẩm thứ tư, Ông vua nước lân cận
[10]. Theo Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện , Phẩm thứ tư, Quang Mục Cứu Mẹ
[11]. Theo Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện , Phẩm thứ nhất, Thần thông trên cung trời Đao lợi
[12]. Nơi đức Phật Đản sanh ở Lumbini, nơi đức Phật thành đạo tại Bodhagaya, nơi đức Phật chuyển pháp luân đầu tiên ở vườn Lộc Uyển (Sanarth) và nơi đức Phật nhập Niết-bàn ở Kushinaga
[13]. Xem Tứ Đại Danh Sơn (Nguồn www.quangDuc.com)
[14]. Xem Tháng bảy với đức Bồ-tát Địa Tạng, http://daitangkinhvi...-tng-b-tat.html
[15]. Xem Linh khuyển Thiện thính, http://www.tuvienquangdu...nNgan/021linhkhuyen.html
[16]. Xem Bồ-tát Địa Tạng, vị Bồ-tát bảo vệ trẻ em, (Nguồn www.quangDuc.com)
[17]. Xem Earth Store Bodhisattva (or Jizo Bosatsu in Japanese), http://www.onmarkproductions.com/html/jizo1.shtml





Xem Thêm:


Edited by user Tuesday, December 31, 2013 6:09:33 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#2 Posted : Thursday, January 2, 2014 7:30:17 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,337

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)

UserPostedImage

Hình ảnh Ngài Địa Tạng với hạnh nguyện cứu độ và bảo vệ những trẻ em, thai nhi bị yểu mạng của Nhật Bản


UserPostedImage

Hình ảnh Ngài Địa Tạng với hạnh nguyện "độ Sinh, độ Tử" của Trung Hoa, Đài Loan, Đại Hàn, Việt Nam ...v..v...



Xem Thêm:

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#3 Posted : Monday, January 20, 2014 9:55:19 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,337

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
TỰ TÁNH TAM BẢO - Viên Ngọc Minh Châu
Thích Nữ Chân Liễu



Các vị Tổ khi xưa tu đắc đạo nhưng thân còn tại thế, vì muốn hóa độ dễ dàng hơn, các Ngài thường vẽ ra hình tượng các vị Bồ Tát, để diễn tả các pháp tu, để khuyên dạy và giáo hóa chúng sanh. Người thế gian nếu chấp những hình tượng Bồ Tát đều là linh tượng, thánh tượng theo thần quyền, có thể ban phước giáng họa, cầu nguyện van xin, thì không lợi ích gì cho con đường tu tập bản thân. Chẳng những vậy, điều cố chấp này còn làm cho con người yếu hèn, sanh tâm ỷ lại, thêm tâm ích kỷ, ham muốn lợi riêng cho bản thân mình, gia đình mình. Rồi từ đó, con người sống cuộc đời với tâm tranh chấp hơn thua, đấu tranh và đau khổ triền miên.

Khi vô thường đến cướp mất người thân yêu, hay là chính bản thân đứng trước cửa tử, lúc bấy giờ tâm con người bất an, đau đớn, hoảng loạn, kêu cứu, giờ phút đó không biết rơi vào cảnh giới xấu tốt nào, địa ngục hay thiên đàng, Phật ở đâu, Bồ Tát ở đâu, sao không thấy? Làm sao giữ được bình tĩnh để ra đi an lành trong giờ phút đó? Câu hỏi này chúng ta cần phải tìm cho được giải đáp ngay bây giờ, trong lúc thần thức còn sáng suốt, tâm trí còn ổn định. Sanh tử sự đại. Đó mới là sự cần thiết quan trọng bậc nhất.

Trong các chùa chiền, tự viện, tu viện, tôn tượng trang nghiêm được an trí bên cạnh Đức Phật Bổn Sư Thích Ca, vị Bồ Tát thân đắp cà sa, hình tướng một vị tăng xuất thế, tay phải cầm tích trượng, tay trái nâng viên ngọc minh châu tỏa sáng. Đó là hình ảnh tôn tượng đại bi, đại nguyện, đại thánh, đại từ, bổn tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát. Ngài phát đại nguyện: Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật. Tâm nguyện Bồ Tát không muốn an hưởng Niết Bàn khi thấy chúng sanh còn quá nhiều đau khổ.
  • Địa: sâu dầy, chắc cứng, kiên cố, sâu kín, tối tăm.
  • Tạng: chứa đầy đủ, không hạn định, không đo lường. Trong đạo Phật, Địa Tạng hàm ý đại địa bao la, tượng trưng cho tạng thức và căn tánh con người có thể dung chứa tất cả thiện ác, tốt xấu, có chân thật, có giả dối. Tâm con người có địa ngục và tâm con người cũng có niết bàn.

HÌNH TƯỚNG TRANG NGHIÊM VỊ TĂNG XUẤT THẾ (TỰ TÁNH TĂNG BẢO - THANH TỊNH)

Tinh thần mạnh mẽ vô úy, lý tưởng vị tha của một vị hình tướng xuất gia, luôn dấn thân để cứu độ chúng sanh đang chịu khổ cảnh địa ngục kinh hoàng bởi vô minh. Hình ảnh thân đắp cà sa, gương mặt đôn hậu từ ái, lòng đại từ đại bi cao cả, là tấm gương sáng cho tất cả chúng sanh, tượng trưng cho “Tăng Bảo”, một trong ba ngôi tam bảo quí hiếm. Tăng bảo là người tu xuất gia, là kho chứa châu báu diệu pháp, mồi ngọn đuốc từ bi trí tuệ nơi Đức Thế Tôn, đem lợi lạc cho chúng sinh, mở sáng trí tuệ cho người tu học Phật.

Mặc dù sống trong nhà phiền não, nhưng người xuất thế tục gia được người đời tin tưởng, là bậc thầy chỉ đường vượt qua rừng u minh tăm tối. Tâm từ bi độ lượng bao dung của người tu, như thửa ruộng hạnh phúc an vui cho cuộc đời. Những lời thuyết pháp của Tăng bảo có sức mãnh liệt phá tan những vọng tâm, vọng tưởng sâu kín tận trong tâm thức của những người đang mê ngủ với thú vui tạm bợ, làm cho họ thức tỉnh.
Thân đắp cà sa có ý nghĩa kham nhẫn, sống đời phạm hạnh thanh tịnh và còn là sức mạnh của giới pháp, ngăn ngừa những tội lỗi của ác pháp. Chiếc áo cà sa che chở cho người tu trong cuộc sống xã hội đầy tham vọng, sân hận và si mê. Người xuất thế tục gia có nghị lực mạnh mẽ phát triển các thiện pháp, tự giải thoát cho bản thân, phát tâm hạnh Bồ Tát vì người, không phải chuyện dễ dàng ai cũng làm được.

Trong 37 phẩm trợ đạo, đức Phật dạy người tu cần phải có sức mạnh của Ngũ Căn (Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ), gọi là “Ngũ Lực” gồm có:
  1. Tín Lực: Sức mạnh của sự tin tưởng vào chánh pháp không thối chuyển.
  2. Tấn Lực: Sức mạnh của sự tinh tấn, quyết tâm thành tựu phạm hạnh trên đường tu.
  3. Niệm Lực: Sức mạnh của tâm niệm, luôn ghi nhớ xa rời điều ác, giữ giới trong sạch.
  4. Định Lực: Sức mạnh của sự quán sát tâm và tập trung vào thiền định, an nhiên tự tại.
  5. Tuệ Lực: Sức mạnh của sự sáng suốt, trí tuệ mạnh mẽ đi đến bờ giác ngộ.

Tu là ở nơi nội tâm có chánh tín sáng suốt và tư duy thanh tịnh, không phải ở hình tướng bên ngoài. Con người dù thân còn tại gia nhưng tâm xuất gia đều có thể thực hành “Ngũ Lực” mạnh mẽ và phát hạnh nguyện Bồ Tát như người xuất gia đắp y giải thoát vậy.

Tu là noi theo hạnh nguyện Bồ Tát Địa Tạng, thấy được trong tâm địa con người có nghiệp lành, có nghiệp dữ, có tốt có xấu, có địa ngục, có niết bàn và có tự tâm tự tánh “Tăng Bảo” thanh tịnh. Từ đó có thể tự tu, tự giác ngộ giải thoát cho chính bản thân và mọi người hữu duyên, như hạnh nguyện của người xuất gia đắp y giải thoát vậy.

Người biết cách tu, phải tự lực, tự giác ngộ, tự chuyển đổi tâm địa của chính bản thân, đến khi hoàn toàn không một tạp niệm nào sinh khởi nữa, tức là địa ngục đã trống không, lúc đó được giải thoát. Đó chính là Tự Tánh “Tăng Bảo” thanh tịnh, mà ai ai cũng có.


TÍCH TRƯỢNG PHÁ CỬA ĐỊA NGỤC: CHÁNH PHÁP -(TỰ TÁNH PHÁP BẢO - CHÂN CHÁNH)

Địa ngục không nhất thiết khi con người chết đi mới thấy, địa ngục ở ngay cõi đời ngũ trược ác thế. Địa ngục sanh ly tử biệt, địa ngục tù giam cấm cố tra tấn, địa ngục bịnh hoạn, đau đớn, rên xiết. Thật là quá nhiều địa ngục ngay trước mắt, con người phải chịu đền trả quả báo gây tạo ra nhiều đời nhiều kiếp trong lục đạo luân hồi.

Bồ Tát Địa Tạng tay cầm Tích Trượng biểu dương sức mạnh của Chánh Pháp. Năng lực của Tích Trượng hay Thiền Trượng là tâm đại từ đại bi của Bồ Tát, dùng chánh pháp chuyển hóa tâm địa con người đầy tham lam, hận thù, đố kỵ, si mê mù quáng có thể thức tỉnh kịp thời. Như những cánh hoa sen nở thơm tho thanh khiết, kết tụ của sự giác ngộ giải thoát, hoa sen đều từ gốc bùn tanh. Mục đích của người tu là phải có chánh pháp, hiểu tận tường thấu đáo, thực hành đúng theo lời Phật dạy. Chánh pháp chính là hiệu quả của “Tích Trượng phá cửa địa ngục”, là gậy vàng đập tan gông cùm xiềng xích trói buộc của địa ngục phiền não đau khổ.

Xuất gia hay tại gia đều có thể tự tu theo pháp “LỤC ĐỘ BA LA MẬT”: trang nghiêm thân tướng với bố thí, trì giới, kham nhẫn, tinh tấn, thiền định và trí tuệ, để đạt tự tánh “Pháp Bảo” chân chánh. Từ đó phát sanh trí tuệ, phá vỡ cửa địa ngục vô minh nhiều kiếp luân hồi, tâm luôn hướng về Bồ Tát hạnh để cứu khổ chúng sinh. Người tu theo con đường chân chính của Đức Phật chỉ dạy, sống trong chánh pháp được an lạc hạnh phúc. Dù chưa thành Phật, chưa an hưởng niết bàn, nhưng ở mọi cảnh giới đều có thể tự độ và độ tha như hạnh nguyện Bồ Tát Địa Tạng. Còn sống trên đời, còn khỏe mạnh, con người nên dành nhiều thì giờ vào việc tu học, tự quán sát, tự soi vào tâm địa chính bản thân, bởi vì Phật dạy thân người khó được và được thân người là dễ tu nhất.

Quote:
Lynn Ly chú thích

LỤC ĐỘ BA LA MẬT là :
  1. Bố Thí tức là cho để trừ lòng tham.
  2. Trì Giới tức là giữ giới để trừ ô nhiễm.
  3. Nhẫn Nhục tức là nhường nhịn để trừ sân hận, thù oán.
  4. Tinh Tấn tức là chuyên cần chăm chỉ để trừ lười biếng.
  5. Thiền Định tức là chuyên chú để trừ loạn tâm.
  6. Trí Tuệ tức là sáng suốt để trừ si mê.

Tu hạnh Bố Thí, Trì GiớiNhẫn nhụcTu Phúc (tạo phúc) cũng là tạo được sự oai nghi, trang nhiêm và thanh tịnh ; và tiếp theo là phải Tinh Tấn, Thiền Định Trí TuệTu Huệ . Các Thầy Tổ ( Tổ Sư ) thường khuyên các phật tử, tăng, ni cần nên "Phúc - Huệ" song tu !!!


Trên đường tu học đạo, con người thường phải trải qua nhiều chông gai thử thách. Nào trùng độc, rắn dữ, cám dỗ của ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy), tiền của, sắc đẹp, danh lợi, ăn uống, ngủ nghỉ, ngày tháng rong chơi, ai nói gì cũng tin, ai bảo làm gì cũng nghe theo. Những thứ tà pháp đó dẫn dắt con người lạc vào con đường tà đạo đầy bóng tối tội lỗi. Chánh pháp là cứu cánh tận diệt tội lỗi, dứt trừ thói quen tạo nghiệp đua đòi và nhiều tật xấu tiềm ẩn trong kho tàng tâm thức con người. Khi hiểu tận tường giáo pháp trong kinh điển, thực hành và suy ngẫm thấu đáo lời Phật dạy, chuyển hóa tâm địa si mê sâu nặng trong tàng thức và tâm ích kỷ mù quáng, con người thức tỉnh kịp thời, đó là giải thoát.

Đức Phật dạy: "Phải luôn luôn quán chiếu nội tâm, thúc liễm vọng tâm vọng thức để tự giác ngộ. Tâm làm chủ mọi hành động, mọi nghiệp lực. Tâm là địa ngục, tâm cũng là niết bàn. Con người phải hứng chịu mọi quả báo an lạc hay đau khổ do chính mình tạo ra. Chính tự thân mới có đủ năng lực đưa mình ra khỏi địa ngục đau khổ mà thôi".


Địa Tạng là tâm địa sâu kín chân thật của con người, khi thức tỉnh biết tàm quí, sám hối tội lỗi, chấm dứt nghiệp dữ. Chuyển hóa, sửa đổi tâm niệm xấu ác thành thiện lành chính là con đường giải thoát ra khỏi luân hồi, tam đồ ác đạo: địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh. Hiểu được đạo lý như vậy thì rất có lợi lạc cho việc tu nhân, tích phước, kiệm đức, cứu người giúp đời. Người đời có thể che giấu được tâm tốt hay xấu với người xung quanh, nhưng không gạt được tâm địa của chính mình.

Nhận ra được chân lý sống, con người biết dùng chánh pháp làm phương tiện thanh lọc những tư tưởng ô nhiễm bám vào tâm thức nhiều đời nhiều kiếp. Thực hành lời Phật dạy, suy tư và tinh tấn phát huy định lực tự thân, vững bước tu tập cho đến khi đạt được Tự Tánh “Pháp Bảo” chân chánh, thân tâm được tự tại giải thoát khỏi cảnh giới địa ngục.

VIÊN NGỌC MINH CHÂU - TRÍ TUỆ (TỰ TÁNH PHẬT BẢO - SÁNG SUỐT)

Bồ Tát Địa Tạng tay nâng viên ngọc Minh Châu, tượng trưng cho vật thể vô cùng quí giá, ánh sáng của ngọc Minh Châu có thể soi sáng trong bóng tối vô minh. Hình tượng Phật và Bồ Tát thường được diễn tả những tia hào quang, chiếu sáng xung quanh đầu hay toàn thân, chính là nghĩa đó. Theo kinh sách, ánh sáng mang ý nghĩa là trí tuệ cao tột và sự sáng suốt thanh tịnh của những bậc giác ngộ siêu phàm, các vị chứng chánh đẳng chánh giác mới có được. Chư Phật, Chư Bồ Tát và Chư Tổ đắc đạo được người đời tin tưởng, là bậc thầy chỉ đường, cứu giúp con người vượt qua rừng u minh tăm tối. Con người nhờ được chỉ dẫn, cố gắng tìm cho ra viên ngọc Minh Châu tượng trưng cho trí tuệ sáng ngời của tự tâm.

Viên ngọc Minh Châu tiêu biểu cho Phật tánh sáng suốt bất sanh bất diệt của con người mà ai cũng có. Trí tuệ cũng do từ bản tâm tự lực con người thanh tịnh mà được. Muôn pháp đều ở tại tâm, tùy tâm biến hiện.
Viên ngọc Minh Châu là ý nghĩa sự tỉnh thức giác ngộ của Phật tánh có công năng chiếu rọi vào sâu tận tâm địa của con người, vượt lên trên tất cả sự thấy biết của phàm phu. Nhưng con người vì sống trong sáu cõi luân hồi nhiều đời nhiều kiếp mê mờ nên không thấy được cái quí giá của tự thân, cứ lo mãi tìm Phật, cầu Bồ Tát bên ngoài.

Người có được ý chí mạnh mẽ, phát huy tinh thần tự giác, sống không chọn ăn ngon mặc sang, không hơn thua tranh chấp, biết sợ nhân quả, hiểu rõ vô thường, thân này trăm năm rồi cũng tan rã. Nếu tất cả những đòi hỏi của con người biết tùy theo khả năng và chỉ là phương tiện cần thiết, biết đủ cho cuộc sống, thì đạt được sự tự do và giải thoát khỏi sự trói buộc ngục tù của lòng tham sân si.

“Phật Bảo” là một trong ba ngôi báu của Tự Tánh Tam Bảo sáng suốt nhất, là kho chứa đựng châu báu rạng ngời và cao cả nhất. Tinh thần của đạo Phật không chấp nhận sự dựa dẫm, ỷ lại vào các hiện tượng linh thiêng huyền bí hay cầu nguyện vì lòng tham lam và ích kỷ. Người tu theo Phật phải có ý chí cương quyết phá tan mọi cám dỗ của danh lợi, không bị sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) trói buộc, tìm cho được tự tánh “Phật Bảo” sáng suốt của tự tâm. Tâm mê là chúng sanh, tâm giác là Phật. Tâm mê ở địa ngục, tâm giác ở niết bàn.

Trong KINH KIM CANG, Lục Tổ Huệ Năng ngộ được Tự Tâm Tự Tánh Tam Bảo sẵn có nơi tự thân mỗi người:

Bất ưng trụ sắc sanh tâm.
Bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm,
Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.


Nghĩa là: Con người không chấp giữ bất cứ việc gì cho riêng mình, đừng thấy sắc sanh phân biệt thương ghét, đừng vì cao lương mỹ vị mất cảnh giác, đừng vì lợi dưỡng sung sướng sanh tâm tham đắm. Không có chỗ dính mắc thì không có địa ngục khổ đau phiền não, tâm được nhẹ nhàng an lành giải thoát. Tâm “vô sở trụ” là tâm bồ đề, là ngọc Minh Châu sáng ngời trí tuệ. Đó chính là Tự Tánh “Phật Bảo” sáng suốt, dù sống ở cảnh giới nào cũng được an vui tự tại.

Tóm lại, Bồ Tát Địa Tạng một tay nắm vững tích trượng (Từ Bi), một tay nắm chắc viên ngọc (Trí Tuệ), không phải là vị thần linh, và không có khả năng phá cửa địa ngục cứu chúng sanh theo nghĩa đen, bởi vì như vậy trái với luật nhân quả và hiểu như vậy kinh Bát Nhã gọi là vọng tưởng điên đảo.

Bồ Tát Địa Tạng biểu trưng Chánh Tín đủ hai yếu tố: Từ Bi và Trí Tuệ. Người tu theo lời Phật dạy cần có CHÁNH TÍN. Không có CHÁNH TÍN, con người sẽ dựa vào thần quyền, dựa vào tha lực, nghĩ rằng tiền của, tài sản có thể mua chuộc được thần linh, và cầu nguyện Bồ Tát Địa Tạng cứu vớt sau khi chết. Cho nên người mê tín không quan tâm đến chánh pháp, suốt đời chỉ lo hơn thua tranh đấu, tạo nghiệp, chứ không sớm biết tu tâm dưỡng tánh, dừng nghiệp và chuyển nghiệp. Từ đó, con người sẽ rơi vào trầm luân đau khổ của sanh tử không thoát ra được.

Người sáng suốt biết quan tâm đến chánh pháp, sớm thức tỉnh, rốt ráo thanh lọc thân tâm, vun bồi công đức, dụng công tu tập càng nhiều thì minh tâm kiến tánh càng sớm đạt thành. Thấy được Phật Pháp Tăng tự tâm tức là hằng sống trong “TỰ TÁNH TAM BẢO”.

  • TỰ TÁNH PHẬT BẢO: Viên ngọc Minh Châu quí hiếm, là trí tuệ viên mãn, là Phật tánh sáng suốt, có công năng phá trừ vô minh và đạt chánh đẳng chánh giác.
  • TỰ TÁNH PHÁP BẢO: Tích trượng Chánh Pháp nặng ngàn cân, là sức mạnh từ bi chân chánh vô úy của các pháp, có công năng tự giải thoát khỏi địa ngục đau khổ của thân tâm.
  • TỰ TÁNH TĂNG BẢO:Tướng xuất gia và Tâm thanh tịnh. Tuy sống tại thế gian, nhưng Tâm xuất gia, hành Bồ Tát đạo, tự độ độ tha, chính là các vị chân tu thật học, một lòng không thối chuyển.


Khi mê mờ: Chúng con khổ - nguyện xin cứu khổ.
Khi giác ngộ: Chúng con khổ - nguyện xin tự độ.

NAM MÔ U MINH GIÁO CHỦ BỔN TÔN ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT.


Thích Nữ Chân Liễu


Xem Thêm:

Edited by user Tuesday, January 21, 2014 6:19:06 AM(UTC)  | Reason: Chỉnh sửa layout

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#4 Posted : Sunday, August 16, 2015 3:40:27 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,337

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
PHẬT THUYẾT KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN


Diễn đọc ... Link trực tiếp: https://www.youtube.com/watch?v=sPJM7HhDzzM



--------------------
Xem Thêm:
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#5 Posted : Sunday, September 6, 2015 12:51:57 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,337

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
UserPostedImage


Lời Đại Nguyện của Địa Tạng Vương Bồ Tát : "Địa ngục bất không thệ bất thành Phật; Chúng sanh độ tận phương chứng bồ đề" ; Lời đại nguyện của ngài xuất phát từ tấm lòng "Hiếu Đạo, Độ Sanh, Bạt Khổ, Báo Ân";

Tôn tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát mà chúng ta thờ kính là hình ảnh "TAM BẢO", bởi vì Ngài thị hiện với hình ảnh:
  • 1 vị Tăng với tướng mạo trang nghiêm thanh tịnh (tự tánh TĂNG BẢO thanh tịnh),
  • 1 tay cầm tích trượng phá cửa địa ngục (tự tánh PHÁP BẢO chân chánh) ;
  • 1 tay cầm viên ngọc Minh Châu biểu thị trí tuệ Bát Nhã (tự tánh PHẬT BẢO sáng suốt),

Nam-Mô U Minh Giáo Chủ, Cứu Khổ Bổn Tôn, Cứu Bạt Minh Đồ, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ-Tát Ma-Ha-Tát.
Nam-Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ-Tát Ma-Ha-Tát
Nam-Mô Địa Tạng Vương Bồ-Tát Ma-Ha-Tát
Nam-Mô Địa Tạng Vương Bồ-Tát


Link trực tiếp: https://www.youtube.com/watch?v=Xu5LKFSclKs




Xem Thêm:

Edited by user Sunday, September 6, 2015 12:59:07 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#6 Posted : Thursday, September 17, 2015 12:13:31 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,337

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
KHAI KINH KỆ

Thăm thẳm cao siêu Pháp nhiệm mầu
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
Con nay nghe được xin trì niệm
Nguyện rõ Như Lai Pháp nhiệm mầu .

Nam Mô Khai Bảo Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ... Lạy Phật Tổ soi đường dẫn bước .



PHẬT THUYẾT KINH
DUYÊN-MỆNH ĐỊA TẠNG BỒ-TÁT

Cố Đại lão Hòa thượng Thích Tố Liên (1903 – 1977):
Sau khi đi Nhật Bản về Ngài đã dịch cuốn: “Duyên mệnh địa tạng”


Chính thật tôi nghe: Một thời Phật ở núi Gia-La-Đà, một vạn hai ngàn vị đại Tỳ-kheo và thêm ba vạn sáu ngàn Bồ-tát cũng đều ở đó.

Lại có đủ mặt Chư-Thiên, Bộ Long, các quỷ Dạ-Xoa, Nhân và Phi Nhân, thêm vua Kim-Luân và các vua Luân-Vương từ mười phương tới.

Bấy giờ Thế-Tôn cũng vừa nói xong Diệu-Pháp Đại-Thừa, Phép Vô-Y-Hành, có vua Đế-Thích tên Vô-Cấu-Sanh cung kính bạch Phật: "Lạy đức Thế-Tôn ! Khi Phật diệt độ, con muốn hộ đời, chúng-sinh về sau trong thời mạt pháp cứu giúp cách nào ?"

Phật dạy Đế-Thích : "Có một Bồ-tát, Duyên-Mệnh Địa-Tạng, mỗi ngày buổi sáng, vào các Thiền-Định, giáo hóa sáu ngã, cứu khổ ban vui.

Nếu có chúng-sinh ở ba đường Ác, thấy được hình tượng hoặc nghe danh hiệu Duyên-Mệnh Địa-Tạng thì liền được sanh lên cõi Trời, Người hoặc cũng được sanh về cõi Tịnh-Độ; Nếu lại có kẻ ở ba đường Thiện, nghe đọc danh hiệu Duyên-Mệnh Địa-Tạng thì trong hiện tại được quả báo lớn sau sanh cõi Phật. Nghe tên còn thế huống nữa chí tâm đem lòng nhớ tưởng, tâm liền tỏ sáng, chắc chắn thành tựu.

Bồ-Tát ấy ban cho mười phúc lành: một là đàn bà dễ sanh, hai là thân căn đầy đủ, ba là trừ hết thảy bệnh, bốn là được sống lâu, năm là hiểu biết sáng suốt, sáu là của cải dư dật, bảy là mọi người kính yêu, tám là thóc lúa được mùa, chín là Thần-linh gia hộ, mười là chứng thành Phật quả.

Lại diệt trừ được 8 điều lo sợ : một là mưa gió phải thời, hai là khỏi nạn ngoại xâm, ba là trong nước không loạn, bốn là không nhật-nguyệt thực, năm là sao xấu không hiện, sáu là quỹ thần không phá, bảy là không hề đói khát, tám là dân không bệnh tật.

Phật lại dạy thêm vua Đế-Thích rằng : "Về đời sau này, nếu có chúng-sinh thọ-trì kinh này và lại cung kính cúng dường Duyên-Mệnh Địa-Tạng, chỗ người ấy ở cách trăm do tuần không có tai họa, ác-mộng ác-tướng, mọi đều rủi ro, dù quỷ Võng-Lượng, quỷ Cưu-Bàn-Trà cũng không dám hại, Thiên-Cẩu, Thổ-Công, Thần-Quan Thái-Tuế, Thần-Núi, Thần-Cây, cả Thần-Sông-Biển, Thần-Nước, Thần-Lửa, Thần-Cận-Ngã, Thần-Tủng-Sà, Thần-Chú-Trớ, Thần-Nhà-Bếp, Thần-Linh, Thần-Đường … hết thảy thần đó nếu nghe kinh này và tên Bồ-tát, liền nhã tà khí, tự ngộ Bản Không, chứng đạo Bồ-Đề."

Bấy giờ Đế-Thích cung kính bạch Phật : "Lạy đức Thế-Tôn ! Như Ngài Duyên-Mệnh Địa-Tạng Bồ-tát ở trong sáu đường, giáo hóa chúng-sinh bằng cách thế nào mà đều được độ ?"

Phật dạy Đế-Thích : "Này Thiện Nam Tử! Hết thảy các pháp không tịch, không trụ là Tướng Sanh Diệt, tùy Duyên sanh ra, sắc thân không giống, tính dục vô-lượng, đều được độ cả.

Duyên-Mệnh Địa-Tạng, hoặc hiện thân Phật, hiện thân Bồ-tát, hiện thân Bích-Chi, hiện thân Thanh-Văn, hiện thân Phạm-Vương, hiện thân Tỳ-Sà-Môn, hiện thân Nhựt-Nguyệt, hoặc thân Ngũ-Tinh, Thất-Tinh, Cửu-Tinh, hoặc hiện thân Chuyển-Luân Thánh-Vương, thân Vua nước nhỏ, hiện thân Trưởng-Giả, hiện thân Cư-Sĩ, hiện thân Tể-Quan, hiện thân Phụ-Nữ, hoặc hiện thân Tỳ-Kheo, Tỳ-Kheo-Ni, Ưu-Bà-Tắc, Ưu-Bà-Di, hoặc hiện thân Trời, Rồng, Dạ-Xoa, Nhân (Người) và Phi Nhân (Không phải là Người), hiện thân Y-Vương, hiện thân Dược-Thảo, thân người đi-buôn, thân kẻ nông-dân, hiện thân Tượng-Vương, thân Sư-Tử-Vương, hoặc thân Ngưu-Vương, hoặc thân Mã-Hình, hiện hình Đại-Địa, hiện hình Sơn-Vương, hiện hình biển-lớn, cả bốn loại sinh và năm loại hình ở trong ba cõi, chẳng trừ loại nào là không phải thân Duyên-Mệnh Địa-Tạng từ thể Pháp thân hiện ra cứu độ.

Hiện vô số thân nhiều không kể xiết, dạo khắp sáu ngã độ thoát chúng-sinh, thường dùng thiện tâm phá cõi hữu-lậu. Chúng-sinh nếu thường không hay phát tâm tín hướng hãy dốc lòng thành lễ bái cúng dường Duyên-Mệnh Địa-Tạng thì dù dao gậy cho đến thuốc độc cũng không hại nổi, kẻ dùng tà thuật, bùa chú làm hại thì các thứ đó trở lại hại ngay, cũng ví như người ngữa mặt lên trời để nhổ nước bọt, hoặc giống như kẻ ngược gió tung tro chỉ bẩn thân mình."

Bấy giờ Đế-Thích lại quỳ bạch Phật : "Lạy đức Thế-Tôn tại sao lại gọi Duyên-Mệnh Địa-Tạng ? Hình tướng đó thế nào ?"

Phật dạy Đế-Thích : "Này Thiện Nam Tử, Chân Thiện Bồ-Tát, TÂM thường sáng tỏ viên mãn nên gọi là Như-Ý-Luân, TÂM không ngăn ngại gọi Quán Tự-Tại, TÂM không sanh diệt nên gọi là Duyên-Mệnh, TÂM không tồi phá nên gọi Địa-Tạng, TÂM không biên tế gọi Đại Bồ-Tát, TÂM không sắc tướng gọi Ma-Ha-Tát , các ông nên tin chớ đừng sanh tâm nghi ngờ phân biệt."

Bấy giờ đại địa sáu cách chấn động, Duyên-Mệnh Địa Tạng Bồ-Tát từ đất hiện lên, gối hữu quỳ thẳng, cánh tay, bàn tay để thẳng ngang vai, gối tả duổi xuống, tay cầm tích trượng, cung kính bạch Phật : "Con cứ mỗi ngày, vào buổi sáng sớm thì nhập Thiền-Định, vào các Địa-ngục, giúp cho chúng-sinh lìa hết khổ nạn. Đời này, đời sau hễ thế-giới nào mà không có Phật, con đều hóa hiện dẩn dắt chỉ đường tu hành giải-thoát. Nếu Phật diệt độ về đời sau này, tất cả nam nữ, muốn con ban phúc, không kể ngày xấu sạch hay không sạch, chỉ cần người ấy hiếu dưỡng cha mẹ, kính thờ sư trưởng, nói năng khí sắc thường được thuận hòa, không hại người dân, chẳng hề giết chóc hoặc phạm tà dâm. Nếu trong mười ngày hay sáu ngày chay, hoặc ngày 18, ngày 24, hãy tự chính mình chuyên đọc kinh này và xưng tên con, con dùng pháp nhãn và sức uy thần chuyển ngay nghiệp báo, khiến cho hiện tiền được nhiều phúc quả, trừ tội vô gián, đắc quả Bồ-đề. Từ đời xa xưa cho mãi đến nay đã vô số kiếp, con thấy tất cả chúng-sinh sáu ngã đồng thể Pháp-tánh, không trước không sau, chẳng sai chẳng khác, do nghiệp vô-minh mà thấy các tướng có bề sai khác, Sanh-Trụ-Dị-Diệt, lúc được lúc mất, nghĩ điều bất thiện, tạo nhiều ác nghiệp, lẩn quẩn sáu đường, kiếp kiếp cùng làm cha mẹ lẩn nhau, đời đời cùng làm anh em quyến thuộc, thảy đều thành Phật. Khi con thành Phật nếu sót một kẻ nào chưa được độ, con thề không thành Vô-thượng Chánh-giác. Nếu có chúng-sinh biết rõ nguyện con, đời này đời sau muốn cầu sự gì, mà không thõa mãn thì con xin nguyện không thành Chánh-giác."

Khi đó Phật khen Bồ-Tát Duyên-Mệnh Địa Tạng : "Hay thay ! Hay thay ! Chân thiện nam tử ! Khi ta diệt độ, đời ác mai sau, chúng-sinh tội khổ, giao ông tận độ. Đời này đời sau, dắt dẫn khéo léo, chớ để chúng-sinh sa vào ác thú, dù trong chớp nhoáng huống là đọa vào Vô-Gián Địa-Ngục."

Duyên-Mệnh Địa Tạng Bồ-tát cung kính bạch Phật : "Lạy đức Thế-Tôn ! Xin Ngài chớ lo, con sẽ cứu vớt chúng-sinh sáu ngã, nếu có chúng-sinh quá ư thống khổ, con sẽ chịu thay. Nếu không đúng thế con thề không ngồi vào ngôi Chánh-giác."

Lúc đó Thế-Tôn liền đọc bài kệ khen Ngài Duyên-mệnh :

Hay lắm ! Hay lắm !
Này ông Duyên-mệnh
Làm bạn hết thảy
Các loài hữu-tình
Chúng sanh lúc sống
Ông là Mệnh-Chung
Chúng-sanh chết thời
Ông làm Đạo-Sư
Chúng sanh ngu dốt
Vô phúc chết yểu
Đời này, đời sau
Khi ta diệt độ
Trong thời mạt pháp
Các nước tao loạn
Nhân-vương bất chính
Giặc phương khác lại
Chiến trận đao binh
Ai cung kính niệm
Duyên-Mệnh Địa-Tạng
Cầu gì không thỏa
Không đúng ta nói
Thực không có lý.


Bấy giờ ba ngàn đại thiên thế-giới sáu lần chấn động, Văn-Thù Sư-Lợi, Phổ-Hiền Bồ-Tát, Ngài Kim-Cương-Tạng, Ngài Hư-Không-Tạng, Thánh Quán-Tự-Tại Bồ-Tát Ma-Ha-Tát, các Ngài cùng tiếng khác miệng (dị khẩu đồng âm) bạch Phật : "Lạy đức Thế-Tôn chúng-sinh đời sau nếu nghe kinh này và danh hiệu Duyên-Mệnh tất cả chúng con sẽ tùy thuận người đó làm cho Tâm-Nhãn liền được sáng tỏ. Nếu cầu việc gì cũng được như ý, nếu không đúng thế con thề không thành Chánh-Giác."

Lúc đó Phạm-Vương, Đế-Thích, bốn vị Thiên Vương trên trời mưa hoa cúng dường Như-Lai và đồng bạch Phật : "Lạy đức Thế-Tôn ! Chúng-sinh đời sau, nếu tự tâm mình không tranh phải trái, chẳng nghĩ thưởng phạt, thường trì kinh này và niệm danh hiệu Duyên-Mệnh Địa-Tạng thì lũ chúng con và cả quyến thuộc hết lòng ủng hộ không rời ngày đêm, khiến cho nước đó cách trăm do tuần không hề tai nạn, nhân dân nước ấy đều được an ổn, thóc lúa được mùa, cầu gì cũng được. Nếu không như thế thì lũ chúng con không phải hộ đời và không trở lại được tánh bản giác."

Lúc đó có hai Đồng-tử đứng hầu hai bên Duyên-Mệnh Địa-Tạng:
  • Một vị Chưởng Thiện đứng hầu bên trái, mặc áo sắc trắng, cầm hoa sen trắng, điều-ngự Pháp-Tánh.
  • Một vị Chưởng Ác, đứng hầu bên phải, áo màu sắc đỏ, cầm chày Kim-cương, hàng phục Vô-Minh.


Phật dạy đại chúng : "Các ông nên biết, hai đồng tử này : Pháp Tánh - Vô-Minh, cũng như hai tay, hai chân Duyên-Mệnh, trong tâm thường hằng không động cũng như bản thể chữ A (唒).

Nếu có chúng-sinh biết rõ tâm ấy chắc chắn thành tựu, diệt ngay ba độc, được sức tự tại, muốn cõi Phật nào tùy duyên được sanh.

Nếu về đời sau, tất cả chúng-sinh cung kính cúng dường Duyên-Mệnh Địa-Tạng không sanh nghi hoặc thì đời hiện tại mong cầu sự gì cũng được đầy đủ, về sau lại sanh Tịnh-Độ và được Pháp-Nhẫn Vô-Sanh."
Sau khi Phật nói xong kinh này rồi tất cả đại hội lòng rất vui mừng, tin chịu vâng làm.

ĐỊA TẠNG BỒ TÁT DIỆT ĐỊNH NGHIỆP CHÂN-NGÔN

Om Para Mani Dani Xoa ha (Phiên âm tiếng Phạn)
( Om Pra Mani Dhani Svaha (Âm chữ Phạn) :
Án Bát Ra Mạt Lân Đà Nãnh Ta Bà Ha (Tiếng Việt) )

ĐỊA TẠNG BỒ TÁT CHÂN NGÔN

Um ha ha ha . Um sam mô ni xoa ha .

HỒI HƯỚNG – PHỤC NGUYỆN
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ Tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật Đạo


QUY Y TAM BẢO

Nam Mô Quy Y thập phương tận hư không khắp pháp giới nhất thiết Chư Phật, Tôn Pháp, Chư Hiền Thánh Tăng
Tự Quy Y Phật. Xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng
Tự Quy Y Pháp. Xin nguyện chúng sanh, thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển
Tự Quy Y Tăng. Xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, tất cả không ngại

Thệ Nguyện:
Quy Y Phật, không quy y Thiên, Thần, Quỷ, (Súc) Vật
Quy Y Pháp, không quy Y ngoại đạo, tà giáo
Quy Y Tăng, Không quy Y bạn dữ, ác đảng



Xem Thêm:


Edited by user Thursday, September 17, 2015 12:16:55 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#7 Posted : Friday, April 28, 2017 4:33:39 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,337

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT
Sự Tích và Đại Nguyện của Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát


Trong KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN, Đức Phật nói về BỐN TIỀN THÂN, với BỐN ĐẠI NGUYỆN của NGÀI ĐỊA TẠNG như sau :

1. Trong vô lượng kiếp về trước, ngài Địa Tạng là một vị Trưởng giả, nhờ phước duyên được chiêm ngưỡng, đảnh lễ và được sự chỉ dạy của Đức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, vị Trưởng giả này đã phát đại nguyện : “Từ nay đến tận đời vị lai, tôi vì những chúng sanh tội khổ trong sáu đường mà giảng bày nhiều phương tiện làm cho chúng nó được giải thoát hết cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật quả”.

2. Vào thời quá khứ vô số kiếp trước, thuở đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, tiền thân của Ngài là một người nữ dòng dõi Bà-la-môn có nhiều phước đức và oai lực; nhưng mẹ của cô không tin vào nhân quả tội phước, tạo rất nhiều ác nghiệp, sau khi chết bị đọa vào địa ngục. Là người con chí hiếu, cô rất thương nhớ mẹ, và đã làm vô lượng điều lành, đem công đức ấy hồi hướng cho mẹ, và cầu nguyện Đức Phật cứu giúp. Nhờ các công đức chí thành ấy, Đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại đã cho cô biết là mẹ của Cô đã được thoát khỏi cảnh địa ngục và vãng sanh về cõi trời. Vô cùng hoan hỉ trước tin ấy, cô đã đối trước Đức Phật Giác Hoa phát nguyện : “Tôi nguyện từ nay nhẫn đến đời vị lai những chúng sanh mắc phải tội khổ, thì tôi lập ra nhiều phương chước làm cho chúng đó được giải thoát”.

3. Trong hằng hà sa số kiếp về trước, thuở Đức Phật Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, ngài Địa Tạng là một vị vua rất Từ bi, thương dân như con … nhưng chúng sanh lúc ấy tạo rất nhiều ác nghiệp, vị vua hiền đức này đã phát nguyện : “Như tôi chẳng trước độ những kẻ tội khổ làm cho đều đặng an vui chứng quả Bồ-Ðề, thời tôi nguyện chưa chịu thành Phật”.

4. Vô lượng kiếp về thuở quá khứ, thời Đức Phật Liên Hoa Mục Như Lai, ngài Địa Tạng là một hiếu nữ tên Quang Mục có nhiều phước đức. Nhưng mẹ của Quang Mục lại là người rất ác, tạo vô số ác nghiệp. Khi mạng chung, bà bị đọa vào địa ngục. Quang Mục tạo nhiều công đức hồi hướng cho mẹ, và nhờ phước duyên cúng dường một vị A-La-Hán, vị Thánh này đã cho biết rằng, mẹ của cô đã thoát khỏi cảnh địa ngục sanh vào cõi người, nhưng vẫn còn chịu quả báo sinh vào nhà nghèo hèn, hạ tiện, lại bị chết yểu … Vì lòng thương mẹ và chúng sanh, Quang Mục đã đối trước Đức Phật Liên Hoa Mục Như Lai phát nguyện : “Từ ngày nay nhẫn về sau đến trăm nghìn muôn ức kiếp, trong những thế giới nào mà các hàng chúng sanh bị tội khổ nơi địa ngục cùng ba ác đạo, tôi nguyện cứu vớt chúng sanh đó làm cho tất cả đều thoát khỏi chốn ác đạo : địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh v.v... Những kẻ mắc phải tội báo như thế thành Phật cả rồi, vậy sau tôi mới thành bậc Chánh Giác”.

Ngoài những sự tích trong Kinh nêu trên lại còn một sự tích của Địa Tạng Bồ Tát được lưu truyền trong dân gian như sau:

Trong TRUYỆN THẦN TĂNG có nói rằng : Sau khi Phật Thích Ca nhập diệt 1.508 năm, nhằm đời nhà Tấn, niên hiệu Vĩnh Huy, năm thứ tư, thì Đức Địa Tạng Bồ Tát giáng sanh tại nhà vua nước Tân La. Ngài tục tánh là KIM, tên là KIỀU GIÁC.

Ngài vốn là một Hoàng tử, sống trong lầu son nhung lụa, ở cung vàng điện ngọc, thế nhưng tính Ngài lại thích đạm bạc, không bị ảnh hưởng bởi nếp sống vương giả phong lưu đài các, mà chỉ chăm lo học hỏi và ham đọc Thánh hiền. Đức tướng trang nghiêm, lòng Từ bi thuần hậu của Ngài thì khó có ai sánh kịp.

Sau khi tham khảo hết Tam Giáo, Cửu Lưu và Bách Gia Chư Tử thì Ngài bèn buông lời cảm thán :“So với Lục Kinh của Nho gia, Đạo thuật của Tiên gia, thì lý Đệ nhất Nghĩa đế của nhà Phật là thù thắng hơn hết, rất hợp với chí nguyện của ta”. Sau đó Ngài lập chí xuất gia vào lúc 24 tuổi.

Sau khi xuất gia, Ngài ưa đến chỗ vắng vẻ tu tập Tham thiền nhập định, nhân đây bèn nghĩ đến việc hành cước, tìm một nơi thanh vắng để tĩnh tu. Ngài chuẩn bị thuyền bè, đem theo một ít hành trang và lương thực, đồng thời dắt theo con Bạch Khuyển (chó trắng) tên Thiện Thính (Thiện Thính là con chó biết nghe tiếng người), Ngài trương buồm ra khơi, tùy theo hướng gió mà đi, sau nhiều ngày lênh đênh trên biển thì đến cửa sông Dương Tử (Trung Hoa). Thuyền bị mắc cạn trên bãi cát, Ngài bèn bỏ thuyền đi bộ lên bờ, tiếp tục cuộc hành trình. Sau nhiều ngày lang thang, Ngài đến chân núi Cửu Tử ở huyện Thanh Dương, tỉnh An Huy.

Thấy phong cảnh nơi đây hùng vĩ, sơn xuyên tú lệ, ngài bèn quyết định ở lại. Ngài đi dọc theo triền núi lên phía trên cao để khảo sát, phát giác khoảng giữa các ngọn núi là một vùng đất bằng phẳng, cảnh trí nên thơ vô cùng tịch mịch, bèn trèo lên mỏm đá bên cạnh một khe nước suối trong và thong dong tự tại với năm tháng mà ngồi tĩnh tọa.

Một hôm, đang lúc tĩnh tọa, bỗng có một con rắn độc nhỏ đến cắn vào đùi, nhưng Ngài vẫn an nhiên bất động. Giây lát sau, một người đàn bà tuyệt đẹp từ trên vách núi bay xuống, đến bên cúi lạy, đưa thuốc cho ngài và nói :“Đứa bé trong nhà rắn mắt, xúc phạm tôn nhan. Thiếp xin tạo một con suối mới để đền đáp lỗi lầm của cháu nhỏ”.

Nói xong biến mất. Chưa đầy một sát-na, trong vách núi phụt ra một dòng suối cuồn cuộn chảy xuống. Từ đó, Ngài không còn phải lao nhọc đi xa gánh nước về. (Đây là dòng Long Nữ Tuyền nổi danh ở Cửu Hoa Sơn).

Tương truyền, dưới chân núi có vị Trưởng giả tên Mẫn Công (Văn Các lão nhân), là người thích bố thí cúng dường chư tăng. Ông thường tổ chức cúng dường trai tăng hàng trăm vị. Thế nhưng, mỗi lần như thế, đều thiếu một vị Tăng. Vì vậy, mỗi lần tổ chức ông đều tự thân lên núi mời Ngài. Nếu không, công đức cúng dường không được viên thành.

Không bao lâu sau, vì muốn mở rộng đạo trường để quảng độ chúng sanh, ngài Địa Tạng bèn đến xin Mẫn Công (Văn Các lão nhân) cúng dường một mảnh đất. Mẫn Công nói :“Tùy ngài muốn bao nhiêu con xin cúng bấy nhiêu !”

Ngài Địa Tạng nghe thế, tung tấm Cà Sa lên không. Tấm Cà Sa tỏa rộng bao trùm toàn núi Cửu Hoa. Mẫn Công (Văn Các lão nhân) thấy thế bèn vô cùng hoan hỷ, đem toàn bộ núi Cửu Hoa cúng dường cho Ngài.

Mẫn Công (Văn Các lão nhân) có một người con trai, ngưỡng mộ đức hạnh của Ngài, bèn đến xuất gia, hiệu là Đạo Minh. Sau đó, Mẫn Công (Văn Các lão nhân), vì muốn thuận tiện trong việc nghe pháp, bèn lễ bái Đạo Minh làm thầy. Việc này trở thành một giai thoại nổi tiếng trong chốn Thiền môn.

Vì có sự tích của Ngài chuyển thế như vậy, nên người đời sau tạo tượng mà thờ Ngài, bên tả có Thầy Đạo Minh, còn bên hữu có tượng ông Mẫn Công đứng hầu, và mỗi năm đến ngày 30 tháng 7 Âm Lịch, ai cũng làm lễ kỷ niệm Ngài là do tích đó.

Ngài Địa Tạng thường Tham thiền nhập định. Ngoài việc giảng kinh thuyết pháp, ngài thường mướn người sao chép bốn bộ kinh lớn của Đại thừa Liễu nghĩa, đem đi bố thí khắp nơi.

Một hôm, có danh sĩ Gia Cát Tiết, ngụ tại một làng dưới chân núi, hướng dẫn các kỳ lão trong làng lên núi thưởng ngoạn. Đến vùng đất bằng trên núi, thấy những áng mây trôi lững lờ trên bầu trời xanh với ánh nắng chan hòa ấm áp, tiếng suối reo từ khe núi chảy ra nghe róc rách, tiếng chim hót líu lo khiến cho mọi người bị phong cảnh tú lệ làm mê hoặc, đi dần vào rừng sâu, chợt thấy có một vị Thiền sư tọa thiền trên mõm đá bên cạnh dòng suối, đang nhắm mắt nhập định. Bên cạnh là một cái đảnh cổ gãy một chân, trong đó có một ít gạo trộn lẫn đất trắng.

Một lát sau, vị Thiền sư xuất định, lấy gạo đất nấu chín rồi ăn. Ăn xong, Ngài lại tiếp tục tĩnh tọa Tham thiền. Những người trong nhóm thấy thế, vô cùng cảm động bèn đến thưa với ngài :“Thưa Ngài ! Ngài tu khổ hạnh như vầy, đây là lỗi của dân làng chúng con !”

Chẳng bao lâu, mọi người trong làng cùng nhau xây cất một ngôi Thiền đường rộng lớn hơn nữa, quanh năm đều cúng dường thực phẩm không hề gián đoạn.

Một ngày nọ, có vị Quận thú Trương Nghiêm, nhân vì kính ngưỡng đạo hạnh cao quý sùng kính công hạnh hoằng pháp của Ngài, bèn tâu lên Đức Tông Hoàng Đế, ban sắc dụ chính thức kiến tạo Tự viện. Bấy giờ Đạo tràng của Ngài Địa Tạng mới thực sự hùng vĩ trang nghiêm.

Lúc ấy, các vị tăng nước Tân La nghe danh, có đến vài trăm người tìm đến thân cận tu học với Ngài. Dần dần, số người càng lúc càng đông, thực phẩm trở nên thiếu thốn. Một hôm, ngài ra phía ngoài chùa, cho đào rất nhiều đất trắng nhuyễn như bột, dự định bổ túc vào phần ăn.

Mọi người trong chùa, cảm mến bởi đức hạnh của Ngài, đều cùng nhau lên tiếng :“Nguyện dùng pháp hỷ thực và Thiền duyệt thực nuôi sống tuệ mạng, không dùng vật thực nuôi sống thân mạng”. Điều này chứng tỏ mọi người trong chùa không lấy thân mạng làm trọng. Thời đó, mọi giới trong Phật giáo đều tỏ lời khen ngợi ...

Vào đời nhà Đường niên hiệu Khai Nguyên, năm thứ 16, Ngài chứng thành đạo quả. Lúc ấy Ngài đã được 99 tuổi, mà cũng còn ở trong động núi Cửu Hoa Sơn.

Một hôm vào ngày 30 tháng 7 Âm Lịch, niên hiệu Chí Đức thứ hai, đời nhà Đường, Ngài triệu tập Tăng chúng vào Chánh điện để từ giã. Mọi người cảm thấy hoang mang không rõ lý do gì. Lúc ấy, các ngọn núi phát ra tiếng khóc gào thét thảm thiết của muôn thú, những tảng đá lớn ầm ầm rơi xuống vực sâu, khắp rừng cây cỏ đều ngẩn ngơ sầu, mây che phủ kín, trời đất đều rung chuyển, mùi hương tỏa khắp núi rừng. Ngài an tọa kiết già Thị tịch. Hưởng thọ 99 Xuân.

Sau khi Viên tịch, nhục thân của Ngài được đặt trong một động đá. Ba năm sau, Tăng chúng mở động ra, thấy nhục thân vẫn còn nguyên vẹn, tướng mạo giống hệt như lúc sanh tiền.

Đại chúng đem nhục thân đến Bảo tháp trên ngọn Thần Quang Lãnh. Dọc đường, nghe văng vẳng như có tiếng tích trượng vàng khua động theo nhịp chân của mọi người. Kinh dạy :“Bồ-Tát bị nạn, hình hài vang động”. Đây là một dữ kiện chân chánh, không chút hoài nghi, chứng minh sự ứng hóa của ngài Bồ Tát Địa Tạng.

Hơn nữa, nếu như cung kính lễ bái nhục thân của ngài Kim Địa Tạng, thì sẽ được lợi ích giống như Kinh Địa Tạng đã nói.

Từ đó đến nay trải qua hàng thiên niên kỷ, Phật tử và mọi người khắp nơi trên thế giới đều không ngại gian lao, đều phát tâm đến Thánh tích Cửu Hoa Sơn, Trung Hoa để cùng chiêm bái nhục thân của ngài Địa Tạng Bồ Tát.

Đặc biệt, mỗi năm vào ngày vía của Ngài vào ba mươi tháng bảy âm lịch, tại Thánh địa Cửu Hoa Sơn, trong vòng mấy mươi dặm, dầy đặc những Phật giáo đồ, nam nữ lão ấu, đến tham dự nhất bộ nhất chiêm (một bước một xá) hoặc nhất bộ nhất bái (một bước một lạy), đủ chứng tỏ Bồ Tát đã kết duyên Bồ-đề rộng rãi, sức Từ-bi cảm hóa sâu dày !

Từ khi Bồ Tát Địa Tạng ứng hiện tại Cửu Hoa Sơn, niềm tin về sự cứu độ của Ngài trong lòng Phật tử ngày càng sâu rộng. Khách từ phương xa hành hương đến, chiêm bái và cầu nguyện tại Cửu Hoa Sơn ngày càng đông. Từ đó, Cửu Hoa Sơn trở thành đạo tràng của Bồ Tát Địa Tạng.

Rồi theo thời gian, vì nhu cầu tu tập của Tăng Ni cũng như Phật tử, hàng trăm Tự viện được xây dựng trên dãy núi kỳ vĩ này. Cửu Hoa Sơn hưng thịnh nhất vào đầu và giữa triều đại nhà Thanh.

Ngày nay, dù không còn hưng thịnh như xưa, nhưng Cửu Hoa Sơn vẫn là một trong Tứ đại Danh Sơn linh thiêng bậc nhất của Phật Giáo Trung Hoa, và là điểm thu hút du khách cả nước và du khách Quốc tế.

Từ Trung Hoa, Phật giáo truyền đến Triều Tiên. Qua ngõ Triều Tiên, Phật giáo truyền vào Nhật Bản đầu thế kỷ thứ 6 (TL). Trước khi Phật giáo truyền đến Nhật Bản, người dân nơi đây phần lớn tin theo Thần đạo. Họ tôn thờ nhiều vị thần linh.

Khi Phật giáo du nhập và phát triển, dân chúng Nhật Bản đã lưu truyền nhiều câu chuyện về Bồ Tát Địa Tạng như là hiện thân của vị Bồ Tát chăm lo và cứu giúp những người bất hạnh và khổ đau. Họ tin rằng, Ngài luôn bảo hộ những lữ khách đi đường, phụ nữ có thai, người lính cứu hỏa … đặc biệt trẻ em bất hạnh.

Ngài luôn hiện thân để bảo vệ trẻ em bị ngược đãi, bạo hành trong gia đình và xã hội. Với những trẻ thơ bất hạnh yểu mạng, Ngài thường đến bên bờ sông Nại Hà, dòng sông mà tín ngưỡng dân gian Á-Đông tin là linh hồn phải đi qua trước khi vào điện Diêm-La nghe Diêm-Vương phán xét tội hình, an ủi và che chở các em.

Nhiều người tin rằng, những trẻ em yểu mạng, vì thương nhớ cha mẹ và người thân, linh hồn các em thường ở lại bên bờ Nại Hà nhặt những viên đá cuội xây lâu đài và thành quách để tưởng đến người thân. Các em rất khổ sở vì nhớ cha, nhớ mẹ và nhớ anh chị, Bồ-Tát Địa Tạng thường đến bên các em vỗ về, an ủi và cùng các em nhặt đá xây thành, giúp các em tích tạo công đức, và đưa các em qua sông Nại Hà.

Nhiều người khác lại tin rằng, các em có tội bất hiếu vì khiến cha mẹ và người thân đau buồn, nên các em bị hình phạt bên bờ Nại Hà, bị quỷ dữ hiếp đáp, và Bồ-Tát Địa Tạng thường hiện thân cứu giúp các em, đưa các em qua dòng sông Nại Hà.

Vì tôn thờ Bồ-Tát Địa Tạng là vị Bồ Tát bảo vệ trẻ em, nên phần lớn tranh tượng của Ngài thường biểu hiện giống và liên quan đến trẻ thơ. Có tranh tượng, khuôn mặt Ngài trông giống trẻ em, rất ngây thơ, hồn nhiên. Có tranh tượng, trên tay Ngài bồng một em bé, dưới chân lại có vài ba em bé khác đang níu kéo Tăng bào và thiền trượng của Ngài. Và tượng Ngài thường được tôn thờ bên những dòng sông, con suối.

Hằng năm, người dân Nhật Bản thường tổ chức lễ tưởng nhớ công ơn của Ngài dành cho trẻ thơ vào ngày 24/7.

Ngày nay, tín ngưỡng Bồ-Tát Địa Tạng đã trở thành tín ngưỡng chung của Phật Giáo và dân gian. Và sau Lễ Vu Lan (rằm tháng 7 Âm Lịch hằng năm) thì các Chùa thường khai Kinh Địa Tạng tụng cho đến ngày cúng vía Ngài vào cuối tháng 7 (tức ngày 30 Âm Lịch).

Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ-Tát Ma-Ha-Tát !




Kiến thức là từ học tập mà có,
Năng lực từ tôi luyện mà thành,
Phẩm hạnh, nhân phẩm là từ tu dưỡng mà xuất sanh.

Mưa lớn không gột rửa được rễ sâu trong lòng đất;
Đạo pháp rộng lớn cũng chỉ độ được người hữu duyên.




Xem Thêm:

Edited by user Friday, April 28, 2017 4:34:50 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#8 Posted : Wednesday, November 1, 2017 6:22:15 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,337

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
Tất cả chư vị Phật, Bồ Tát và các bậc Thánh Tăng ( 4 bậc Thanh Văn, và Duyên Giác hay Bích Chi Phật) thường phát lời ước nguyện (Phát Bồ Đề Tâm) và rồi thì Tu Hành (tu rèn và thực hành Phương Pháp chỉ bày của đức Phật) để biến lời phát nguyện của bản thân thành hiện thực . Mỗi 1 vị Phật, 1 vị Bồ Tát và Thánh Tăng đều có những lời phát nguyện tràn đầy lòng Từ Bi ( Ban vui và cứu khổ) đối với muôn loài vạn vật bao gồm tất cả lòai "Hữu Tình" ( tất cả chủng loại / loài vật có thể nhúc động và di chuyển, loại có tri có giác) và loài "Vô Tình" (loại vô tri vô giác như cỏ cây, đất đá v...v...) ; So với hằng hà sa số chư Phật, bồ Tát và Thánh Tăng hay Bích Chi Phật thì Bồ Tát Địa Tạng Vương đã phát nguyện rất tóm tắt, nhưng lời nguyện của ngài lại vượt qua mọi giới hạn các lời nguyện khác... bởi vì lời nguyện của ngài xuất phát từ lòng hiếu hạnh của 1 người con ... đó là lời nguyện: "Nơi nào khổ đau nhất, thì nơi đó ngài đi đến; Và nếu còn sót lại 1 chúng sanh đang bị khổ nạn thì nhất quyết ngài không chấp nhận là ngài đã chứng đắc vào ngôi vị Phật

"Địa Ngục bất không thệ bất thành Phật;
Chúng Sanh độ tận, phương chứng Bồ Đề"


Chính vì Đại Nguyện này mà những nơi nào các vị Phật không thể thuyết pháp , không thể khuyên dạy và cảm hóa chúng sanh thì ngài Địa Tạng Vương lại làm được !!! Lý do là hằng hà sa số chư vị Phật hay Bồ Tát trước khi đắc đạo, đã từng là chúng sanh bị khổ nạn, bị đọa đày được Địa Tạng Vương cứu giúp và chỉ dạy tu hành . Cho nên Địa Tạng Vương là "bậc thầy" của hằng hà sa số Chư Vị Phật, Bồ Tát và thánh tăng ... mà khi "bậc Thầy" đi đâu thì "các đệ tử" đồng đi theo hỗ trợ !!! Nói khác đi, Bồ Tát Địa Tạng như 1 ngọn đèn sáng phá tan màn đêm u ám và các chư Phật cùng bồ tát cũng là những ngọn đèn ... tất cả đã cùng Ngài "hòa quang đồng chiếu" phá bỏ mọi u ám . Chính vì vậy, pháp lực phát ra tự nguyện lực của Đại Tạng Vương được xem là cực kỳ mãnh liệt, không thể nghĩ bàn ... không có 1 vị Phật nào có thể phá bỏ được "Định Nghiệp" nhưng Bồ Tát Địa Tạng Vương có thể "xóa bỏ tận gốc" những trọng tội, và Giải Trừ Định Nghiệp cho những ai phát lòng Sám Hối ... Mgài có thể hoán chuyển họ từ địa ngục vào cõi an lạc hơn để họ tu hành .

Kinh Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn Nguyện là bộ kinh mà Bổn Sư Thích Ca thuyết giảng ở Cung Trời Đao Lợi là 1 trong những cõi Thiên (cõi trời= cung trời), là nơi mà các thánh thần, Thần Tiên và Thượng Đế cư ngụ ... Thông thường những ai trong hoàn cảnh sung sướng, an lạc thì rất khó tu hành , bởI vì họ không tin luân hồi nhân quả báo ứng!!! Bộ Kinh Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn Nguyện nói rõ quả báo thảm khốc và thống khổ ra sao do kết quả của việc tạo tác bất thiện , do hành vi và suy nghĩ bất thiện . Khi Bổn Sư Thích Ca Thuyết giảng Kinh này thì Địa Tạng Vương Bô Tát xuất hiện để minh chứng và cũng để giải bày thắc mắc cho các chư Thiên (các vị Thần Thánh, Thần Tiên, và Thượng Đế)

Đoạn video sau đây tóm tắt chi tiết Bộ Kinh gồm 3 cuốn (Thượng-Trung-Hạ) qua 1 số họa hình minh họa ... rút ngắn thời gian cho người nghe nhưng không mất đi những chi tiết chính trong bộ Kinh.

Nam Mô Đại Hiếu , Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát .
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.


Nhớ lời Bổn Sư dạy: "Ta là Phật đã thành; Chúng Sanh là Phật sẽ thành" hay "Chúng Sanh thành Phật, Phật độ Chúng Sanh; Không có Chúng Sanh thì không có Phật; Không có chúng sanh thì không có Phật Giáo; Phật Giáo là lời chỉ dạy của Đức Phật cho chúng sanh tu hành thế nào thì được thành "bậc Chánh Đảnh Chánh Giác" = thành Phật"

Nguyện những ai thấy nghe đều phát Bồ Đề Tâm, đồng hành Phật Đạo và đồng chứng đắc quả vị Phật = bậc Chánh Giác !!!

PHẬT THUYẾT KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN


Link trực tiếp https://www.youtube.com/watch?v=3cNDosfCPZ0








Kiến thức là từ học tập mà có,
Năng lực từ tôi luyện mà thành,
Phẩm hạnh, nhân phẩm là từ tu dưỡng mà xuất sanh.

Mưa lớn không gột rửa được rễ sâu trong lòng đất;
Đạo pháp rộng lớn cũng chỉ độ được người hữu duyên.




Xem Thêm:

Edited by user Saturday, November 4, 2017 12:58:34 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.