Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
UyenVy  
#1 Posted : Friday, September 28, 2012 7:17:37 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
1/ Có thể tạm hiểu tiếng" văn" dùng làm chữ lót trong tên của phái nam đại khái là “nho nhã, thanh tao”.
Nhưng tiếng "thị" dùng làm chữ lót trong tên của nhiều người thuộc phái nữ thì xin giải thích


Về vấn đề này, Lê Trung Hoa có cho biết như sau: “Chúng tôi đọc thấy một điểm đáng chú ý trong cuốn Les langages (sic) de l’humanité của Michel Malherbe (…):
có lẽ tên đệm Văn có nguồn gốc từ tiếng Ả Rập ben (con trai) và tên đệm Thị cũng có từ tiếng Ả Rập binti (con gái) do các thương nhân Ả Rập vào buôn bán ở bờ biển Việt Nam.
Tuy tác giả không nêu cứ liệu, chúng tôi thấy có khả năng đúng, vì: về ngữ âm ben cho ra văn, binti cho ra thị là có thể chấp nhận; - Việt Nam chịu ảnh hưởng “họ” của người Trung Hoa.

Nhưng người Trung Hoa trước đây và hiện nay không dùng từ đệm văn và thị phổ biến như người Việt Nam (Họ và tên người Việt Nam, 1992, tr.62, chth.1).

Theo chúng tôi thì nói ben có thể cho ra văn còn binti có thể cho ra thị chẳng khác nào nói rằng tiếng Pháp petit đã cho ra tiếng Việt bé tí còn colosse thì đã cho ra khổng lồ, chẳng khác nào nói tiếng Ý ciao đã cho ra tiếng Việt chào còn tiếng Tây Ban Nha niño thì đã cho ra nhỏ nhí.

Thật ra thị là một từ Việt gốc Hán, chữ Hán viết là 氏. Đây là tiếng dùng để chỉ phụ nữ.
Nghĩa này của nó được Từ nguyên và Từ hải ghi là “phụ nhân xưng thị” (đàn bà gọi là thị) còn Vương Vân Ngũ đại từ điển thì ghi là “phụ nhân” (đàn bà) và Mathews’ Chinese English Dictionary thì ghi “a female”
(người thuộc giới tính nữ).
Từ nguyên còn cho biết rõ thêm rằng ngày nay thị cũng là một từ mà phụ nữ dùng để tự xưng (Kim dịch vi phụ nhân tự xưng chi từ).

Trong tiếng Việt, nó còn có một công dụng mà Từ điển tiếng Việt 1992 đã ghi như sau: “Từ dùng để chỉ người phụ nữ ở ngôi thứ ba với ý coi khinh”. Vậy rõ ràng thị có nghĩa là đàn bà.
Nhưng do đâu mà nó trở nên tiêng lót, tức tên đệm của phụ nữ?
Tất nhiên là từ công dụng của nó trong tiếng Hán mà ra, sau một quá trình chuyển biến ngữ nghĩa.
Công dụng này đã được Hiện đại Hán ngữ từ điển (Bắc Kinh, 1992) chỉ ra như sau: “Đặt sau họ của người phụ nữ đã có chồng, thường thêm họ chồng vào trước họ cha để xưng hô”
(Phóng tại dĩ hôn phụ nữ đích tính hậu, thông thường tại phụ tính tiền gia phu tính, tác vi xưng hô). Thí dụ: Triệu Vương thị là người đàn bà mà họ cha là Vương còn họ chồng là Triệu.

Người Việt Nam ngày xưa đã không làm y hệt theo cách trên đây của người Trung Hoa mà chỉ đặt thị sau họ cha rồi liền theo đó là tên riêng của đương sự theo kiểu cấu trúc “X thị Y”, hiểu là người đàn bà họ X tên Y.
Cấu trúc này giống như cấu trúc có yếu tố công (= ông) mà dân Nam bộ đã dùng để gọi nhà yêu nước Trương Định một cách tôn kính: Trương Công Định, có nghĩa là ông (được tôn kính) họ Trương tên Định.

Hoặc như chính của người Trung Hoa khi họ khắc trên mộ chí của Trương Khiên mấy chữ Trương Công Khiên (chi mộ), có nghĩa là (mộ của) ông (được tôn kính) họ Trương tên Khiên. Vậy cứ như đã phân tích, Nguyễn thị A là người đàn bà họ Nguyễn tên A, Trần thị B là người đàn bà họ Trần tên B, còn Phạm thị C là người đàn bà họ Phạm tên C, v.v…

Cách hiểu nguyên thủy này đã phai mờ dần theo thời gian, làm cho về sau người ta tưởng rằng thị chỉ là yếu tố có tính chất “trang trí” cho tên của phái nữ mà thôi.
Chính vì không còn hiểu được công dụng ban đầu của thị nữa nên người ta mới dùng nó làm tiếng lót, nghĩa là tên đệm, cho các bé gái khi chúng vừa mới lọt lòng mẹ.

Người ta đã làm như thế mà không ngờ rằng ngày xửa ngày xưa, các cụ bà của chúng chỉ được dùng tiếng thị để chỉ định sau khi họ đã trưởng thành, và rằng thị chỉ được dùng chủ yếu là trong lời nói, đặc biệt là trong ngôn ngữ hành chính, chứ không phải là cho việc đặt tên.
Ý nghĩa và xuất xứ của thị theo chúng tôi đại khái là như thế.

2/Chứ tiếng binti của các chú lái buôn người Ả Rập thì chẳng có liên quan gì với nó cả.Nga my vốn được dịch là mày ngài, tại sao Nguyễn Du viết mày ngài để tả Từ Hải mà nhiều học giả lại giảng rằng đó là ngọa my tàm, nghĩa là “mày tằm nằm” chứ không phải là Nga my?

Các học giả và các nhà nghiên cứu đó giảng như thế là vì họ cho rằng nga my là lông mày dài, cong và đẹp, không thích hợp với tướng mạo của con nhà võ như Từ Hải, nhưng nhất là vì họ đã hiểu sai nghĩa của ba tiếng ngọa tàm my.

T/g Đào Duy Anh giảng rằng mày ngài là “lông mày rậm, tướng mạo của người trượng phu. Có lẽ theo câu “my nhược ngọa tàm” của sách tướng, có nghĩa là “lông mày giống như con tằm nằm”
(Từ điển Truyện Kiều, 1974, tr. 236-237).
Nguyễn Thạch Giang chú thích như sau: “Mày ngài do các chữ ngọa tàm my: lông mày to đậm cong như con tằm, là tướng người anh hùng”
(Nguyễn Du, Truyện Kiều, , 1972, tr.450, c.2167).
Nguyễn Vinh Phúc viết: “
Tất nhiên mày của Từ Hải không thể nào lại mảnh dẻ, cong, dài như nga my của các cô gái đẹp được.

Và do đó mày ngài của Từ Hải phải hiểu là ngọa tàm my là mày như con tằm, chứ không phải nga my” (Quanh đôi lông mày, Ngôn ngữ, số 2, 1970, tr. 60). Còn Kiều Thu Hoạch thì viết:
“ Trong Truyện Kiều có hai chỗ nói về Từ Hải mà cũng dùng chữ mày ngài.
Nhưng chớ lầm! Đây là cái mày ngài “sâu róm” chớ không phải cái mày ngài của nàng Trang Khương (…) đó là tác giả muốn nói mày tằm, mày tằm nằm” (Góp bàn về một bản Kiều mới, Tạp chí Văn học, số 2 (146), 1974, tr. 68).

Tiếc rằng các tác giả trên đây vì chỉ hiểu từ ngữ theo lối dịch từng tiếng một (ngọa = nằm, tàm = tằm, my = mày) nên đã giảng sai hình ảnh người Trung Hoa muốn gửi gắm trong 3 tiếng ngọa tàm my.
Ở đây, hai tiếng ngọa tàm không hề có nghĩa là “(con) tằm nằm”, mà lại là lối nói của tướng thuật, được
Từ nguyên giảng như sau: “Nhà tướng thuật gọi nếp nhăn dưới vành mắt là ngọa tàm. Lại nữa, lông mày cong mà đường nét thanh đẹp cũng được gọi là ngọa tàm my”

(Tướng thuật gia dĩ nhãn khuông hạ văn vi ngọa tàm. Hựu my loan nhi đái tú giả dịch xưng ngọa tàm my). Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ đã giảng đúng hai tiếng ngọa tàm là “lằn xếp dưới mí mắt”, kèm theo ví dụ trích từ Truyện Trinh thử:

To đầu vú, cả dái tai,
Dày nơi ngư vĩ, cao nơi ngọa tàm.
Nếu đối dịch từng tiếng một thì ngư vĩ sẽ là “đuôi cá”.
Nhưng đây cũng lại là một lối nói của tướng thuật mà Từ nguyên giảng như sau:
“Nhà tướng thuật gọi nếp nhăn ở khóe mắt là ngư vĩ” (Tướng thuật gia dĩ nhãn giác chi văn vi ngư vĩ).
Xem thế đủ thấy lối đối dịch từng tiếng một nhiều khi tai hại biết chứng nào.
Vậy ngọa tàm my không hề có nghĩa là “mày tằm nằm” mà lại là lông mày cong và có đường nét thanh đẹp.
Vương Vân Ngũ đại từ điển cũng giảng như thế, rằng đó là “lông mày cong mà đẹp” (my loan nhi tú – X. ở chữ 7370).
Các tác giả trên đây muốn gạt bỏ hai tiếng nga my nhưng ngọa tàm my lại đồng nghĩa với nga my vì cả hai cấu trúc có chung một nét nghĩa là “cong và đẹp”.
Vậy mày ngài vẫn là nga my và đây chính là cái nét nho nhã duy nhất trong tướng mạo của Từ Hải râu hùm hàm én, đường đường một đấng anh hào, vai năm tấc rộng thân mười thước cao.

An Chi
UserPostedImage
UyenVy  
#2 Posted : Friday, September 28, 2012 7:24:10 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Nghe kể rằng Nguyễn An, người Việt Nam có công lớn trong việc xây dựng Bắc Kinh?

Cố Cung còn gọi là Tử Cấm Thành, là một công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới, tọa lạc tại thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc.
Khách du lịch quốc tế không ngớt tới đó thăm viếng, trầm trồ khen ngợi, nhưng ít ai biết rằng công trình đó có sự đóng góp quan trọng của một người Việt Nam vào thời nhà Minh, đó là Nguyễn An.

Một số bài báo và sách vở của Trung Quốc và Đài Loan cung cấp tư liệu cho chúng ta về Nguyễn An như: “Dân chúng Bắc Bình nên kỷ niệm thái giám Nguyễn An, người An Nam” đăng trên tuần san sử địa Cái Thế, xuất bản ngày 11-11-1947 tại Thiên Tân.
“Nguyễn An, nhà kiến trúc thiên tài xây dựng Đại Bắc Kinh” đăng trên nhật báo Tiến Bộ ngày 2-2-1950 tại Thiên Tân. “Sự đóng góp cho Trung Quốc của người Giao Chỉ đời Minh” trích trong tạp chí Học Nguyên của Hồng Công và sau này được đưa vào sách “Minh sử luận tùng” xuất bản tại Đài Loan.

Năm 1407, Trương Phụ, tướng của nhà Minh đem quân sang nước ta, lúc đó gọi là An Nam, với danh nghĩa giúp nhà Trần đánh nhà Hồ, bắt được cha con Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương giải về Trung Quốc (Hồ Quý Ly bị an trí ở Quảng Tây, còn Hồ Hán Thương nhờ giỏi về binh khí, được cho làm quan, năm 1445 thăng đến chức Công Bộ thị lang, tương đương Thứ trưởng Bộ Công nghiệp ngày nay).

Theo lệnh của Minh Thành Tổ, Trương Phụ khôi phục lại tên Giao Chỉ của nước ta như đời Hán, và tuyển chọn nhân tài có học vấn 9.000 người, cùng với 7.700 nghệ nhân đưa về Trung Quốc để xây dựng kinh đô.
Ngoài ra, ông ta còn chọn một số thanh thiếu niên thông minh, tuấn tú, đưa về Nam Kinh đào tạo thành thái giám để phục vụ trong cung.
Trong số đó có một vài người tài giỏi, nổi bật là : Phạm Hoành, Vương Cẩn và Nguyễn An.
Đó là duyên cớ khiến Nguyễn An đến triều đình nhà Minh, thân cận với hoàng đế Minh triều và được tin dùng nhờ kiến thức và tài năng siêu việt. Thái giám người Giao Chỉ là một thế lực đáng kể tại triều đình nhà Minh.

Phạm Hoành là người chủ trì việc xây dựng ngôi chùa lớn Vĩnh An Tự ở tây nam Bắc Kinh với kinh phí 70 vạn lạng bạc.
Vương Cẩn (còn có tên Trần Vũ) là thái giám giả bị phát hiện nhưng vua miễn tội chết, còn ban cho cung nữ và nhiều vàng bạc.

Nguyễn An được các vua Thành Tổ, Anh Tông tin dùng, giao cho trọng trách tiếp nối các công trình xây dựng Bắc Kinh.

-Để hiểu hơn về công việc của Nguyễn An, ta điểm qua một chút về sử đời Minh.
Năm 1368 Chu Nguyên Chương diệt nhà Nguyên, lên ngôi hiệu là Minh Thái Tổ, đóng đô ở Kim Lăng (nay là Nam Kinh).
Minh Thái Tổ băng hà, thái tử mất sớm, thái tôn (cháu đích tôn) lên ngôi hiệu là Huệ Đế, năm 1399 bị Yên Vương Chu Lệ là con thứ của Chu Nguyên Chương cướp ngôi.
Chu Lệ lấy hiệu là Minh Thành Tổ, năm 1421 dời đô về Bắc Bình là kinh đô cũ của nhà Nguyên, đổi tên là Bắc Kinh, rồi giao Nguyễn An trông coi việc kiến thiết đô thành.
Sách “Kỷ niên lịch sử Bắc Kinh” chép rằng đời vua Minh Anh Tông có hạ lệnh cho thái giám Nguyễn An xây dựng chín cửa thành lầu Bắc Kinh và làm đốc công xây dựng tường thành Bắc Kinh.

Sách “Thủy Đông nhật ký” của Diệp Thịnh đời Minh ghi rằng: “Nguyễn An, cũng gọi là Á Lưu, người Giao Chỉ, thanh khiết, giỏi tính toán, có biệt tài về kiến trúc.
Trong các công trình xây dựng thành trì Bắc Kinh và chín cửa thành lầu, hai cung, ba điện, năm phủ, sáu bộ ở Bắc Kinh và nạo vét sông Trạch Chư ở thôn Dương, đều có nhiều công lao to lớn.
Các nhân viên thuộc hạ của Nguyễn An ở Bộ Công chẳng qua chỉ là những người thừa hành phận sự, thực hiện những công trình do Nguyễn An quy hoạch, thiết kế ra đó thôi”.

Trong 9 cửa thành lầu nói trên, ngày nay còn tồn tại cửa Chính Dương còn gọi là Tiền Môn ở phía nam quảng trường Thiên An Môn.
Còn 2 cung, 3 điện là một quần thể kiến trúc to lớn của Cố Cung Bắc Kinh. Hai cung là Càn Thanh Cung và Khôn Ninh Cung.
Ba điện là Phụng Thiên, Hoa Cái và Cẩn Thân xây lần đầu hoàn thành năm 1420 (đời Minh Thành Tổ) nhưng qua năm sau bị sét đánh cháy rụi.
Mãi 20 năm sau, đến đời vua Anh Tông (niên hiệu Chính Thống) mới sai Nguyễn An thiết kế xây dựng lại. Sách “Chính Thống thực lục” ghi:
“Ngày 10 tháng 2 năm Chính Thống thứ 6 (1441), hai cung, ba điện xây dựng hoàn thành, nhà vua ban thưởng cho Thái giám Nguyễn An và Tăng Bảo mỗi người 50 lạng vàng, 100 lạng bạc, 8 tấm lụa, 1 vạn quan tiền”.
(Ba điện này đến năm 1557 bị cháy một lần nữa, thiệt hại nặng nề, đời Gia Tĩnh thứ 38 (1559) được khởi công xây dựng lại, 3 năm sau hoàn thành, đến 1645 - đời Thuận Trị năm thứ 2 nhà Thanh - được đổi tên thành điện Thái Hòa, Trung Hòa và Bảo Hòa như ngày nay).
Tháng 4 năm sau (1442), vua Anh Tông ra lệnh cho đội quân xây dựng của Nguyễn An gồm 7 vạn quan binh, thợ thủ công tiếp tục xây phủ Tôn Nhân, Bộ Lại, Bộ Lễ, Bộ Hộ, Bộ Binh, Bộ Hình, Bộ Công, Hồng Lô Tự, Khâm Thiên Giám, Viện Thái Y, Viện Hàn Lâm và Quốc Học (Quốc Tử Giám)...
Trong các công trình này, nay còn lại Quốc Học tức là Thư viện Thủ đô Bắc Kinh ngày nay.
Năm Cảnh Thái thứ 7 (1456) đời Cảnh Đế, sông Hoàng Hà tại vùng Trương Thu, Sơn Đông, bị vỡ đê, triều đình lại cử Nguyễn An đi trị thủy, không may ông bị bệnh mất trên đường công tác.

Mặc dù giữ cương vị quan trọng, công lao to lớn, nhưng ông sống thanh bạch, khi mất trong nhà không có tới 10 lạng bạc, tài năng và phẩm hạnh thanh cao của ông khiến người đương thời rất khâm phục và cảm mến.

THIẾU BÌNH (Theo Minh sử, Trung Hoa sử lược)

2/Nguyễn Huệ và Hồ Xuân Hương có quan hệ họ hàng thế nào?

Theo sử cũ, ông tổ đầu tiên của họ Hồ ở nước ta là trạng nguyên Hồ Hưng Dật sống vào thế kỷ thứ 10.
Tộc phả bị thất truyền 11 đời (khoảng 300 năm). Đến đời 12 (ông Hồ Liêm) dời ra Thanh Hóa và đời 13 (ông Hồ Kha) ở Nghệ An, tộc phả mới liên tục.
-Năm 1314, ông Hồ Kha từ Quỳ Trạch (Yên Thành) về Quỳnh Đôi xem địa thế và giao cho con cả là Hồ Hồng ở lại cùng 2 người họ Nguyễn, họ Hoàng khai cơ lập nên làng Quỳnh Đôi còn mình trở lại Quỳ Trạch.
Sau này ông Hồ Hồng cùng với 2 ông thủy tổ họ Nguyễn, họ Hoàng được dân suy tôn là Thành Hoàng, rước vào thờ ở đền làng.
Ông Hồ Kha và ông Hồ Hồng được coi là thủy tổ họ Hồ ở Quỳnh Đôi, thờ ở nhà thờ lớn họ Hồ.
Thế thứ (còn gọi là đời, vai) trong họ được tính từ ông Hồ Hân (con ông Hồ Hồng) trở đi, nghĩa là: ông Hồ Hân là đời thứ nhất.
Nếu tính từ đời ông Hồ Hưng Dật thì phải cộng thêm 14 đời nữa.
Ông tổ trung chi II là Hồ Khắc Kiệm (đời 3) con Hồ Ước Lễ, cháu Hồ Hân.
Cháu đời 8 là Hồ Sĩ Anh (còn gọi là Hồ Thế Anh) sinh năm 1618, mất năm 1684, thi hội trúng tam trường, làm tri huyện Hà Hoa (vùng Kỳ Anh, Hà Tĩnh) tước Diễn Trạch hầu.
Hồ Thế Anh sinh Hồ Thế Viêm (đậu Sinh đồ), Hồ Phi Cơ (thi hội đậu tam trường), Hồ Danh Lưu, Hồ Phi Tích (đậu Hoàng giáp, tước quận công), Hồ Phi Đoan.

Hồ Thế Viêm sinh Hồ Phi Khang (đời 10). Phi Khang sinh 5 con trai: Hồ Phi Phú, Hồ Phi Thọ, Hồ Phi Trù, Hồ Phi Phúc, Hồ Phi Huống.
Hồ Phi Phúc sinh 3 con trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ (đời 12)
Nguyễn Nhạc (1743-1793) sinh các con trong đó có Nguyễn Bảo, con Bảo là Nguyễn Đâu.
Nguyễn Huệ (1753-1792) sinh các con trai trong đó có Quang Thiệu (Khang công tiết chế); Quang Bàn (Tuyên công, đốc trấn Thanh Hóa); Quang Toản (vua Cảnh Thịnh 1783-1802).
Hồ Phi Cơ (đời 9) sinh Hồ Phi Gia (thi hội đậu tam trường). Hồ Phi Gia sinh Hồ Phi Diễn (đậu sinh đồ) và Hồ Phi Lãng (cũng đậu sinh đồ).
Hồ Phi Diễn (1703-1786) sinh Hồ Xuân Hương (đời 12, 1772-1822).

theolichsuvietnam
Tài liệu tham khảo:

- Hồ Tông thế phả“ (Hồ Sĩ Dương soạn, các hậu duệ chép bổ sung). Tiến sĩ Hồ Sĩ Dương (1621-1681) sống cùng thời với Hồ Thế Anh (1618-1684)
.Trong số các hậu duệ có Hoàng giáp Hồ Sĩ Đống (1738-1785) sống cùng thời với Hồ Phi Phúc và cùng thế hệ với 3 anh em nhà Tây Sơn
-„Hồ gia thực lục, bản chi thế thứ tục biên“ của tú tài Hồ Phi Hội (1802-1875), cháu 5 đời của Hồ Sĩ Anh và cùng thế hệ với Hồ Xuân Hương – Nguyễn Huệ
- Ghi chép của Án sát Hồ Trọng Toàn (1801-1864)
- Hồ Quỳnh gia phổ của chi Hồ Phi Tích, Thư viện Hoàng Xuân Hãn, Paris
Ghi chú:
Thế thứ ghi ở trên là thế thứ họ Hồ ở Quỳnh Đôi. Đời 1 nếu tính từ Nguyên tổ (Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, thế kỷ thứ 10) là đời 15.
Theo „Hồ Tông thế phả“: Con của Phi Khang là Phi Phú, Phi Thọ, Phi Trù, Phi Phúc, Phi Huống từ Quỳnh Đôi di cư lên Nhân Lý (Nhân Sơn, Quỳnh Hồng ngày nay) rồi một chi chuyển cư vào Thái Lão – Hưng Nguyên, tiếp theo một chi vào trại Tây Sơn – Qui Nhơn.
Trần Thanh Mai (tạp chí Văn học số 10-1964) cho rằng Hồ Xuân Hương là con ông Hồ Sĩ Danh (1706-1783), em cùng cha khác mẹ với Hồ Sĩ Đống (1738-1786).

Thế nhưng „Hồ Tông thế phả“ chép: „Phi Diễn sinh nữ Xuân Hương ư Khán Xuân phường“ (Phi Diễn sinh con gái Hồ Xuân Hương ở phường Khán Xuân).

Edited by user Friday, September 28, 2012 7:24:43 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
UyenVy  
#3 Posted : Friday, September 28, 2012 7:42:54 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
1/"Ba hồn bảy vía" là những hồn nào, vía nào? Tại sao có người còn cho rằng đàn ông có bảy vía mà đàn bà lại có tới chín vía?

Ba hồn bảy vía là một quan niệm xuất phát từ Trung Hoa. Đây là một quan niệm của Đạo giáo. Tiếng Hán là tam hồn thất phách.
-Sách Bảo Phác Tử của Cát Hồng đời Tấn có viết: "Muốn trở nên thần thông thì phải luyện phép chia mình bằng nước, lửa.
Chia mình được thì thấy được ba hồn bảy vía của bản thân".
Sách Vân cập thất tiêm của Trương Quân Phòng đời Tống nói rõ ba hồn là: thai quang, sàng linh và u tinh còn bảy vía là: thi cẩu, phục thỉ, tước âm, thôn tặc, phi độc, trừ uế và xú phế.
Sự phân biệt bảy vía của đàn ông với chín vía của đàn bà có thể chỉ là do một số người Việt Nam đặt ra.
-Họ giải thích rằng sở dĩ như thế là vì đàn ông có bảy lỗ mà đàn bà thì có tới chín lỗ.
Bảy lỗ thì bảy vía còn chín lỗ thì chín vía.
- Bảy lỗ ứng với bảy vía thì đúng với quan niệm của dân gian cho rằng đó là bảy hồn bóng: bóng nhìn, bóng nghe, bóng thở và bóng nói.
Hai lỗ mắt để nhìn, hai lỗ tai để nghe, hai lỗ mũi để thở và lỗ miệng để nói thì đúng là bảy lỗ.
-Bảy lỗ này thì đàn ông và đàn bà đều có. Còn chín lỗ là những lỗ nào?
Là bảy lỗ trên cộng với lỗ tiểu tiện và lỗ đại tiện.
Vậy chẳng có lẽ đàn ông thì không có hai lỗ sau này chăng?
Rõ ràng cách phân biệt đàn ông bảy lỗ với đàn bà chín lỗ là điều vô lý:
về phương diện này thì nam nữ "tuyệt đối bình đẳng".
Nhưng do đâu mà lại có quan niệm trên đây?
Có thể là do một sự hiểu nhầm.
- Tiếng Hán gọi bảy lỗ là thất khiếu và chín lỗ là cửu khiếu.
Trong cửu khiếu thì bảy lỗ trên gọi là thượng khiếu còn hai lỗ dưới gọi là hạ khiếu.
Thượng khiếu cũng gọi là dương khiếu còn hạ khiếu cũng gọi là âm khiếu
Chúng tôi ngờ rằng người ta đã hiểu nhầm âm khiếu là lỗ... riêng của phụ nữ, nên mới cho rằng đàn bà hơn đàn ông hai lỗ.Có lẽ vì thế mà sinh ra chuyện "nam thất nữ cửu” chăng?
theo Sách của Đào Duy Anh ("Việt Nam văn hóa sử cương", (1938), NXB Đồng Tháp (tái bản), 1998), thiên thứ ba, chương VI "Tín ngưỡng và tế tự" ghi rằng:

-Hồn là cái linh phụ vào phần khí của người, là phần khinh thanh, người ta chết thì bay lên không; còn phách là cái linh phụ vào phần hình của người, là phần trọng trọc, khi người ta chết thì tiêu xuống đất.
-Đàn ông có ba hồn phụ vào tam tiêu và bảy phách (vía) phụ vào thất khiếu, đàn bà thì có chín phách (vía) phụ vào cửu khiếu.
An Chi

2/Xin hỏi tại sao người Việt mình lại nói "chết một cửa tứ" (dấu sắc) mà không nói "chết một cửa tử".

Tử mới là chết chứ.
Mong được chỉ dẫn.

Thành ngữ "chết một cửa tứ" có nghĩa bóng là sắp bị thua lỗ, sắp gặp việc không may mắn
Theo hiểu biết của tôi, thành ngữ này bắt nguồn từ môn chơi xăm hường (có người gọi trại ra là tam hường).
Tôi không rõ ngày nay ở Việt nam người ta có còn chơi môn này hay không.
Trước hết xin nói về cái tên, xăm là thẻ (như xin xăm), hường là màu hường.
Nguyên thuỷ trò chơi này có tên là xăm hồng, nhưng vì Hồng-Nhậm là tên của vua Tự-Đức,
dân gian sợ phạm huý nên phải gọi là xăm hường.
Một bộ săm hường gồm có 63 chiếc thẻ (làm bằng ngà hay bằng xương thú, bằng cật tre), 6 con súc sắc (hột xí ngầu) và một cái tô.
Mỗi thẻ săm có khắc một chữ, hoặc là Trạng nguyên (học vị cao nhất), hay Bảng nhản, Thám hoa . cho đến Tú tài (học vị thấp nhất).
Còn con súc sắc (xí ngầu) thì ai cũng biết có sáu mặt, mỗi mặt là một số. Số 1 và 4 màu đỏ, hai - ba - năm - sáu màu đen.
Người chơi đổ 6 hột súc sắc trong cái tô và thang điểm cơ bản dựa trên mặt tứ (màu đỏ) gồm: nhất hường (có 1 mặt tứ), nhị hường (2 mặt tứ) v.v. cho đến lục phú hường (được 6 mặt tứ của 6 hột súc sắc).
Người đổ được 6 mặt tứ sẽ đoạt tất cả các thẻ có trong cuộc chơi, kể cả thẻ đã thuộc về tay người khác và được thắng gấp đôi số điểm quy định.
Đây là trường hợp hiếm hoi, được coi là tột đỉnh của vận may.
Nhưng người Việt lại có niềm tin dị đoan rằng khi đạt được lục phú hường, thì mừng ít mà lo nhiều, vì họ nghĩ rằng sau vận may mắn trong cờ bạc tất sẽ gặp nhiều xui xẻo bất hạnh trong các công việc khác, nhất là những ai chơi xăm hường trong ngày đầu năm để đoán vận hên xui của mình.
Tóm lại, trong môn chơi xăm hường vào những ngày Tết, ai gặp toàn cửa tứ (bốn nút màu đỏ của hột súc sắc) thì sau đó cứ lo ngay ngáy sợ gặp những việc xui xẻo trong suốt cả năm.
Do đó mà có thành ngữ “chết một cửa tứ”.

NGUYỄN ĐỒNG DANH

3/Tại Sgon , có một số nơi thờ cúng gọi là Chùa Ông, Chùa Bà. Nghe nói Chùa Ông thờ Quan Công còn Chùa Bà thì thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu. Vậy Thiên Hậu Thánh Mẫu là ai ?

Chùa Ông mà người Quảng Đông gọi là Quán Tây miễu (Quan Đế miếu) thì thờ Quan Công, còn Chùa Bà mà họ gọi là Phò miễu (Bà miếu) thì thờ bà Thiên Hậu Thánh Mẫu.
Tuy nhiên, theo lời học giả Vương Hồng Sển cũng có nơi gọi là Phò miễu (= miếu Bà) nhưng không thờ bà Thiên Hậu Thánh Mẫu, mà lại thờ bà Chúa Thai sanh, coi về sinh đẻ.
(X. Sài Gòn năm xưa- 1991, tr. 199).
Tương truyền bà Thiên Hậu là người huyện Bồ Điền, tỉnh Phước Kiến bên Trung Quốc.
Bà sinh vào đời Tống, là con gái thứ sáu của Lâm Nguyện. Mới lọt lòng, bà đã phát hào quang rực rỡ và tỏa huơng thơm kỳ lạ.
Ngay khi bà hãy còn nhỏ, anh bà đi buôn đường biển, gặp gió to sóng cả nguy hiểm đến tính mạng, bà nhắm mắt định thần mà biết được rồi xuất thần đi cứu anh thoát nạn.
Lúc lớn lên, bà có thể cỡi chiếu bay trên biển hoặc đằng vân mà đi ra các đảo xa.
Sau khi thăng, bà thường khoác áo bào màu đỏ bay lượn trên biển.
Tương truyền bà đã thăng vào năm tròn hai mươi tuổi.
Vào các đời Tống, Nguyên, Minh bà đều có nhiều lần hiển hiện rất là linh thiêng. Người đi biển thường thờ bà và khấn bà để được độ cho thuận buồm xuôi gió.
Theo Từ nguyên thì bà được phong là Thiên Phi vào đời Vĩnh Lạc nhà Minh, sau lại được phong Thiên Hậu, được lập đền thờ tại kinh đô. Còn Từ hải thì lại chép rằng bà được phong Thiên Phi, sau gia phong Thiên Hậu vào đời Khang Hy nhà Thanh.
-Học giả Vương Hồng Sển lại chép rằng bà húy là Mi Châu, người Bồ Dương, sinh nhằm ngày 23 tháng 3 năm Giáp Thân (1044) đời Tống Nhân Tông, là con của ông Lâm Tích Khánh. Tám tuổi biết đọc.
Mười một tuổi tu Phật.
Mười ba tuổi thọ lãnh thiên thơ: thần Võ Y xuống cho một bộ Nguyên vi bí quyết. Ngoài ra, bà còn tìm được dưới giếng cạn một xấp cổ thư khác.
Bà coi theo đó mà luyện tập rồi đắc đạo. Được phong Thiên Hâụ Thánh Mẫu năm Canh Dần niên hiệu Đại Quan đời Tống tức năm 1110 (X.sđd, tr. 201-203).
Có thể là trong lời kể của nhiều người khác sẽ còn có những chỗ dị đồng khác nữa. Đây không phải là chuyện lạ: khi mà cuộc đời của một nhân vật đã đi vào truyền thuyết, nó có thể có những dị bản.

An Chi (KTNN)

4/Tình cờ nghe kể chuyện vẽ rồng bằng chân thời vua Khải Định ,xin cho biết đúng hay không ?

-Đúng .Rồng là môtíp trang trí phổ biến ở kinh đô Huế.
Trong các kiến trúc triều Nguyễn, nếu phụng tượng trưng cho phái nữ, các bà Thái Hậu, các công chúa, thì rồng là biểu tượng cho phái nam, của Vua chúa.
Nhưng muốn phân biệt con rồng của Vua và con rồng của phái nam thì phải cấu tạo con rồng của vua có 5 móng, không phải vua thì chỉ có 4 móng mà thôi.
Vì thế khi muốn vẽ rồng 5 móng, triều đình phải rất cẩn thận, phải tìm cho được hoạ sĩ giỏi nhất và phải dùng những chất liệu, những phương tiện tốt nhất để thể hiện.

Trong suốt thời gian trị vì, vua Khải Định đã cho xây dựng nhiều công trình, mà đến hôm nay phải làm cho mọi người kinh ngạc.
Vì khi xây dựng các công trình, ông đều sử dụng chất liệu hiện đại của Tây phương, nhưng trong lúc xây dựng ông cố giữ cho được đường nét dân tộc.
Vì thế, để xây dựng cung An Định, Ứng Lăng, Điện Kiến Trung, vua Khải Định đã sử dụng nhiều hoạ sĩ, điêu khắc gia danh tiếng trong nước.
Một trong những người nghệ sĩ danh tiếng đương thời tham gia xây dựng các công trình kiến trúc, đó là hoạ sĩ Cửu Tánh.

Một hôm, vua Khải Định lên xem thợ xây lăng, thì thấy Cửu Tánh đang nằm ngửa trên một giàn tre, trên thân hình chỉ mặt độc nhất một chiếc quần đùi, hai chân cắp hai bút vẽ nhúng vào phẩm vẽ rồng 5 móng ẩn mây trang trí trên trần điện Khải Thành.
Thấy vua mà không chịu ăn mặc đàng hoàng đến phụ phục chào vua đã là mắc tội khi quân, huống hồ lại còn dùng 2 chân để vẽ rồng 5 móng nữa, quả thật Cửu Tánh quá to gan, khó mà tránh được tội chết!
Vua Khải Định đứng dưới nhìn lên nói như quát vào mặt Cửu Tánh:
Vì răng mi dám dùng chân mà vẽ rồng 5 móng? Mi không biết khi quân rứa là chết à?

Cửu Tánh vẫn nằm ngửa, mắt nhìn lên trần điện Khải Thành hai chân vẫn nguý ngoáy bột phẩm vẽ lia lịa, miệng nói xuống với vua Khải Định:
- Dạ bẩm Hoàng thượng mô dám!
Vì vẽ bức rồng ẩn mây ni lớn, mà khoảng cách giữa tay và mắt quá gần nên không thể điều chỉnh xa, gần, đậm, lạt được cho nên phải dùng chân!
Vua Khải Định nghe có lý đành dịu giọng nói:
- Mày chỉ có một Cửu Tánh, chứ có đến hai đứa Cửu Tánh thì tau phải lấy đầu mi!
Cửu Tánh tủm tỉm cười, và hình như cái đầu rồng vừa vẽ xong dưới cái trần nhà cũng đang nhìn vua Khải Định và nhe răng cười...

Nguyễn Đình Hiếu

5/Trung Quốc xưa có dùng vỏ ốc làm tiền hay không?

Người Trung Hoa thời xưa vẫn có dùng vỏ ốc để làm tiền (dụng bối xác tác hóa tệ). Sò, ốc tiếng Hán gọi là bối, chữ Hán viết là 貝.
Các nhà khảo cổ học về Trung Hoa đã thống kê được trên 100 loại sò, ốc từng được dùng làm tiền nhưng chính con ốc tiền mới là phổ biến và thông dụng hơn hết.
Con ốc này, tiếng Hán gọi là mã não bối. Vì nó được dùng làm tiền nên người ta gọi nó là hóa bối (ốc tiền).
Do công dụng đặc biệt này mà người ta còn gọi nó là bửu bối (ốc quý).
Lối nói này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay và được dùng theo phép ẩn dụ để chỉ vật quý hiếm, vật hàm chứa phép lạ hoặc điều mầu nhiệm.
Tiếng Pháp gọi ốc tiền là cauris, tiếng Anh là cowrie hoặc cowry, tiếng Nhật gọi là tử an bối (koyasugai); tên khoa học là Cypreae moneta.
Bản thân chữ bối 貝 khi nó còn ở giai đoạn thực sự tượng hình, chính là hình một con ốc thò râu (xúc tu) ra khỏi vỏ.
Hai nét làm thành chữ bát 八 ở phía dưới của chữ bối chính là hai cái râu đó.
Quách Mạt Nhược còn khẳng định dứt khoát rằng chữ bối đích thị là tượng hình con ốc tiền nữa (X. Nô lệ chế thời đại, Bắc Kinh, 1973, tr. 280).
Chính vì con “bối” đã từng được dùng làm tiền cho nên trong chữ Hán, những chữ ghi lại các khái niệm có liên quan đến tiền đều thuộc bộ bối, như bần (nghèo), tiện (hèn), quý (sang), trữ (chứa), tham (ham tiền), mãi (mua), mại (bán), đổ (đánh bạc), .
.. Vì nhu cầu trao đổi càng ngày càng phát triển mà ốc tiền lại càng ngày càng khó tìm nên về sau người ta phải nung ốc bằng gốm (đào bối), gọt ốc bằng xương (cốt bối), mài ốc bằng đá (thạch bối) thậm chí bằng ngọc (dao bối) mà làm tiền để đáp ứng nhu cầu đó.
Cuối cùng người ta đã đúc ốc bằng đồng (đồng bối). Việc này đánh dấu sự ra đời của tiền bằng kim loại trong lịch sử tiền tệ Trung Hoa.
Tiền đồng bắt đầu có từ đời Chu nhưng thời đó vỏ ốc vẫn còn tiếp tục được dùng để làm tiền.
Chỉ đến đời Tần Thủy Hoàng thì việc này mới bị cấm hẳn.

An Chi-KTNN
UserPostedImage
UyenVy  
#4 Posted : Friday, September 28, 2012 7:49:51 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Xin hỏi về cuộc sống của các Thái giám dưới thời Minh Mạng ?

Vua Minh Mạng ban dụ cấm thái giám can dự triều chính. "Về dụ này, chuẩn cho Quốc tử giám khắc vào đá, lại sao lục giao Sử quán kính cẩn tàng trữ, truyền lại cho con cháu ta muôn vàn năm, đời đời kính giữ mà không thay đổi”.
Làng có “giám sinh” là đại phúc!
Như những triều đại phong kiến khác, triều Nguyễn ở Việt Nam cũng tuyển chọn thái giám để giám sát đội ngũ phi tần, cung nữ, hoàng hậu, công chúa.
Những người nam giới phục vụ trong cung phải chấp nhận thân phận “không đàn ông cũng chẳng đàn bà”.
Tuy nhiên, đến thời nhà Nguyễn trị vì đất nước, những quy định cho thái giám đã có nhiều thay đổi so với các triều đại trước.
Điểm nổi bật nhất ở đây chính là việc thái giám triều Nguyễn không được tham gia vào việc triều chính, đặc biệt là từ thời vua Minh Mạng trở về sau.
Có hai loại thái giám là giám sinh và giám lặt. Giám lặt là những người bình thường, chấp nhận bị thiến để được vào cung sống bên cạnh hầu hạ các bà.
- Giám sinh là những người bẩm sinh ngay từ khi mới chào đời đã không có sinh thực khí dù của đàn ông hay của đàn bà.
Luật triều Nguyễn năm Minh Mạng thứ 16 (1836) quy định khi có giám sinh chào đời, cha mẹ đứa trẻ phải báo ngay cho làng, xã để lập danh sách báo lên cho Bộ Lễ nắm.

Khi đứa trẻ lên 10, Bộ Lễ sẽ đưa nó vào cung, dạy dỗ đứa trẻ đầy đủ những lễ nghi phức tạp về kiến thức, cách xử sự trong hoàng cung để khi nó lớn lên thì tuyển vào đội quân thái giám. Làng nào giấu giếm “giám sinh" sẽ bị phạt nặng.
Làng nào có giám sinh nghiễm nhiên sẽ được miễn thuế 3 năm, xem như có đại phúc.
Vì thế những đứa trẻ giám sinh bị khiếm khuyết không những không bị coi thường mà còn được dân làng cung kính gọi là "ông Bộ".
Tuyên án thái giám Lê Văn Duyệt, người đã nằm dưới mồ
Có thể nói việc vua Minh Mạng bắt đầu không cho những thái giám không tham gia triều chính từ sau cuộc đàn áp xong cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi (con nuôi của Lê Văn Duyệt) tại Gia Định vào năm 1835.
Lê Văn Duyệt là một thái giám được coi là vị khai quốc công thần của triều Nguyễn.
Ông đã bôn ba theo vua Gia Long từ những ngày khó khăn nhất cho đến khi nhà Nguyễn thống nhất được đất nước để lập ra một vương triều độc lập.
Lê Văn Duyệt là người có quyền uy trong triều đình, ông từng giữ chức Tổng trấn Gia Định Thành 2 lần: từ 1812 đến 1815 (triều vua Gia Long) và từ 1820 đến 1832 (đời vua Minh Mạng).

Trong các vị khai quốc công thần thì Lê Văn Duyệt được tiên triều cho quyền “nhập triều bất bái” (tức vào triều không phải lậy) nên sau này khi vua Gia Long mất Lê Văn Duyệt không chịu lạy vua Minh Mạng.
Khi Lê Văn Duyệt còn sống, giữa ông và vua Minh Mạng đã có những mâu thuẫn nhưng do Lê Văn Duyệt có quyền uy lớn trong triều đình nên vua Minh Mạng không làm gì được.
Khi vua Minh mạng trị vì đất nước, mối quan hệ giữa nhà vua và Lê Văn Duyệt bề ngoài thì vẫn êm đẹp nhưng bên trong đã cho thấy có sóng ngầm triều chính.
UserPostedImage
Các thái giám phục vụ trong Đại nội. Ảnh chụp lại từ ảnh sưu tập của nhà nghiên cứu Phan Thuận An.

Đến lúc Tả quân Lê Văn Duyệt mất đi, vua Minh Mạng mới tuyên án tội của Lê Văn Duyệt trên ngôi mộ của ông.
Mãi mãi không được tham dự triều chính, phẩm chức
Có lẽ sau khi một thái giám có quyền uy như Lê Văn Duyệt mất đi rồi, vua Minh mạng bắt đầu nghiêm ngặt hơn đối với các thái giám.
Bên cạnh đó, vua Minh Mạng cũng đã thấy tai họa của một số thái giám thao túng triều chính từ các vương triều ngoại quốc, và từ những tiên triều tại xứ mà ông đang trị vì.
Chính vì vậy, cấm thái giám tham gia triều chính là việc làm cho thấy nhà vua thực sự lo lắng đến việc bảo vệ sự tồn tại lâu dài của vương triều.
Sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 166, Minh Mạng năm thứ 17 (1836) có chép:Nay chuẩn định, chia các thái giám làm 5 đẳng:
Quản vụ thái giám, điển sự thái giám đều là thủ đẳng; kiểm sự thái giám, phụng nghi thái giám đều là thứ đẳng, thừa phụng thái giám, điển thảng thái giám đều là trung đẳng, cung sự thái giám, hộ thảng thái giám đều là á đẳng, cung phụng thái giám, thừa biện thái giám đều là hạ đẳng.
Cho họ, người nào việc ấy, để sai khiến hầu hạ, nhưng mãi mãi không cho dự vào giai và phẩm quan chức triều đình. Vả lại, vì chức vụ của họ chỉ để nội đình sai khiến và truyền đạt mệnh lệnh mà thôi.
Tất cả triều chính và việc ngoài đều không được can thiệp tham dự tí nào, nếu kẻ nào vi phạm quyết phải trừng trị nặng, không chút khoan tha.
-Trẫm đã ân cần tha thiết dặn dò, hết sức mưu tính sâu xa cho đời sau. Về dụ này, chuẩn cho Quốc tử giám khắc vào đá, lại sao lục giao Sử quán kính cẩn tàng trữ, truyền lại cho con cháu ta muôn vàn năm, đời đời kính giữ mà không thay đổi”.
Thái giám về già sống trong hiu quạnh
Cũng từ đó, những thái giám dưới triều Nguyễn phải sống phải sống trong cung cấm với một cuộc đời hiu quạnh. Khi về già hoặc đau ốm, các thái giám không được ở trong nội cung.
Hết thời gian phục vụ, họ nhận lương của triều đình và chuyển ra ngoài hoàng thành, cư trú tại một căn nhà gọi là Cung giám viện.Để chống chọi lại sự cô quạnh, nhiều thái giám đã kết nghĩa anh em hoặc nhận con nuôi.
Số khác chọn cách lấy vợ, do mất khả năng sinh con, họ lấy phụ nữ già để bầu bạn những tháng ngày cuối đời.
Số ít thái giám may mắn hơn thì về quê sống với họ hàng.

Những gì của thái giám triều Nguyễn còn lại cho đến ngày nay chỉ là nghĩa trang tại chùa Từ Hiếu (xã Thủy Xuân, thành phố Huế).
Trong cuốn sách giới thiệu về chùa Từ Hiếu ghi rất rõ nguồn gốc việc thái giám được chôn cất tại đây.
Lo lắng sự cô đơn nơi mộ phần khi nằm xuống, các thái giám triều Nguyễn đã chọn chùa Từ Hiếu, ngôi chùa cổ cách thành phố Huế chừng 6 cây số, làm nơi yên nghỉ.
Từ đó, các thái giám đã công đức tại chùa, sau khi chết được nhà chùa mai táng và cúng giỗ.
Trong khuôn viên nhà chùa, nghĩa trang thái giám nằm ở phía bên trái, cách chùa khoảng 30 m với diện tích gần 1.000 m2 có 25 ngôi mộ được chôn theo 3 hàng, ở giữa có tấm bia khắc ghi công lao đóng góp của các thái giám.
Ngoài ngày giỗ chung do chùa Từ Hiếu tổ chức vào rằm tháng 11 hàng năm, khu nghĩa trang này vắng lặng không một bóng người qua lại.

Lê Khắc Niên

Edited by user Friday, September 28, 2012 11:02:22 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
UyenVy  
#5 Posted : Friday, September 28, 2012 11:01:16 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Xin hỏi giai thoại về Tô Đông Pha - "Bát phong xuy bất động” thì chưa được tỏ tường, nhất là bài thơ của Tô Đông Pha.
Trong cuộc sống hàng ngày, con người luôn đối diện với "Bát phong”, tức tám ngọn gió đời.
Có cách nào để có thể đứng vững trước tám ngọn gió ấy không?

“Bát phong xuy bất động” (8 gió thổi không động) là một giai thoại vui, thâm thúy và tràn đầy thiền vị về mối thâm giao giữa thi hào Tô Đông Pha (1037-1101) và Thiền sư Phật Ấn (1032-1098).
Chuyện kể rằng, một hôm Tô Đông Pha sáng tác được một bài thơ và ông rất hài lòng, bèn cho người đem tặng Thiền sư Phật Ấn lúc bấy giờ đang ở chùa Kim Sơn.

Nguyên văn bài thơ của Tô Đông Pha như sau: Khể thủ thiên trung thiên/Hào quang chiếu đại thiên/Bát phong xuy bất động/Đoan tọa tử kim liên.
Tạm dịch là: Đảnh lễ Bậc Giác ngộ (thiên trung thiên tức là Phật, Bậc Giác ngộ)/Hào quang chiếu vũ trụ/Tám gió thổi chẳng động/Ngồi vững tòa sen vàng.
Phật Ấn xem qua bài thơ xưng tán cảnh giới giải thoát của Bậc Giác ngộ, thấy chữ nghĩa và ý tứ rất hay nhưng biết quá rõ bạn mình nhờ văn hay, chữ tốt, dùng tâm thức bén nhạy để làm thơ chứ không phải là bậc thượng sĩ thâm nhập nghĩa lý sâu xa của Phật pháp, đạt đến Thượng thừa “Tám gió thổi không động”

Nên thay vì khen ngợi ngài liền cầm bút phê vào hai chữ “phóng thí” (đánh rắm- hạ phong) và bảo gia nhân đem về trình lại cho Đông Pha.
Quả như điều mà Phật Ấn đã dự đoán.
Đông Pha sau khi xem lời nhận xét của Phật Ấn xong liền đùng đùng nổi giận, lập lức bươn bả vượt sông sang chùa Kim Sơn để bắt tội Phật Ấn.
Gặp nhau ở bến sông, Đông Pha liền lớn tiếng trách:
Bài thơ của tôi sai sót ở chỗ nào mà ngài lại phê vào hai chữ “đánh rắm” kia.
Thiền sư Phật Ấn liền cười xuề: Ông nói “Tám gió thổi không động” mà chỉ một cái “đánh rắm” thôi đã bay sang sông rồi.
Đến đây, Đông Pha mới chợt hiểu ra mình chưa bất động.

Về bát phong hay bát thế phong, nghĩa là tám ngọn gió đời, tám pháp ở thế gian hay làm loạn động, mê hoặc lòng người.
Theo Từ điển Phật học , tập I, tr.414, tám ngọn gió ấy gồm:
1-Lợi (lợi lộc),
2-Suy (hao tổn),
3-Hủy (chê bai chỉ trích),
4-Dự (gián tiếp khen ngợi người),
5-Xưng (trực tiếp ca tụng người),
6-Cơ (dựng sự việc giả để nói xấu người),
7-Khổ (gặp chướng duyên nghịch cảnh, thân tâm bị bức bách, khổ não)

, 8-Lạc (gặp được duyên tốt, thuận cảnh, thân tâm vui vẻ, hân hoan).Khi những điều không như ý ập đến (khổ) thì đau khổ, thở than và ngược lại khi mọi việc đều thuận lợi như ý (lạc) thì mừng rỡ, vui vẻ.
Cuộc sống của con người chẳng mấy khi được bình an, vì luôn bị tám ngọn gió này chi phối.
Do vậy, muốn thiết lập hạnh phúc và an vui trong đời sống chúng ta phải giữ vững tâm ý khi tiếp xúc, đối điện với tám ngọn gió này.
Đại thừa vô sanh phương tiện môn
(Đại chính 85, 1247 hạ) chỉ rõ:
“Nếu thân tâm vắng lặng an ổn thì tám gió thổi không động”.
Cũng như chuyện “gió động hay phướn động”, thì ra tâm người động chứ gió và phướn chỉ là chuyện bên ngoài.
Những giao động của tâm thức như là sóng nhưng bên dưới sự ầm ào đó là yên lặng.
Phải quán sát liên tục để thấy rõ bản chất của tám ngọn gió đời ấy tuy thường xuyên thổi đến nhưng thực chất chỉ là ở bên ngoài, bởi vì mình đeo bám, bị dính mắc nên mới bị chúng chi phối.

Mặt khác, bát phong vốn vô thường nên có đó rồi lại không đó.
Vì thế, được hay mất, khen hay chê, đau khổ hay vui sướng cũng đều tương đối, không có gì trường cữu.
Nhờ thường xuyên quán sát với trí tuệ như thế nên khi được cũng không quá mừng, lúc mất cũng không quá buồn, được khen không kiêu, bị chê không giận
… thì có thể chế ngự được bát phong.
Sống vững chãi và thảnh thơi trong vô vàn biến động thuận nghịch của cuộc đời là điều có thể thực hiện được nhờ thực tập và thành tựu tuệ quán về ba sự thật
Vô thường- Khổ-Vô ngã của vạn pháp.

Con người thường giao động, thể hiện cảm xúc vui buồn rõ rệt trước những hoàn cảnh thuận nghịch của cuộc sống.
Khi được lợi (lợi) thì vui mừng, hớn hở ngược lại khi bị mất mát, tổn hại (suy) thì buồn bã, tiếc nuối.
Khi bị chê bai, chỉ trích (hủy) cảm thấy rất khó chịu nhưng khi được khen ngợi (dự) thì vui thích, hài lòng.
Khi được mọi người xưng tán, tung hô (xưng) thì hả hê, ngất ngây hạnh phúc ngược lại khi bị chế diễu, vu khống (cơ) thì hậm hực, bức xúc không yên.

thvienhoasen
UserPostedImage
UyenVy  
#6 Posted : Friday, September 28, 2012 11:11:20 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Xin hỏi về xuất xứ của ghe bầu Duy Xuyên ?

Ghe bầu Duy Xuyên cùng với các vùng Hội An, Tam Kỳ… đã góp phần tạo nên danh xưng ghe bầu Quảng Nam nổi tiếng một thời trong lịch sử thương mại Việt Nam.
Trong đó, nhờ vị trí thuận lợi, ghe bầu Duy Xuyên đã tung hoành khắp trong Nam ngoài Bắc.
Ở Duy Xuyên, nói đến ghe bầu phải nói đến ghe bầu Bàn Thạch, sau đó là Hồng Triều. Bến sông Bàn Thạch sâu, ghe thuyền có trọng tải lớn dễ dàng cập bến.
Hơn thế nữa, sát bên sông là chợ Bàn Thạch, với vị trí địa lý thuận lợi, trở thành chợ lớn của Quảng Nam, nên cũng thu hút khá đông khách buôn nội, ngoại tỉnh.
Theo ký ức của các cụ cao tuổi thì vẫn có ghe buôn ở Thanh Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên, Bình Định, Quảng Ngã. và có cả ghe bầu tận Sài Gòn ra Bàn Thạch theo mùa ghé vào bỏ hàng, mua hàng.
Là chợ lớn nên ngay từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Bàn Thạch đã xuất hiện nhiều hộ giàu có, dư của ăn của để như các ông Trưởng Sử, Chánh Hàn, Viên Nhiễu, Thông Năm, bà Hai Hoanh

Họ đều sắm ghe bầu riêng, sẵn sàng chở hàng đi các nơi khi cần thiết. Riêng ông Trưởng Sử, người họ Võ, có bài vè mô tả về sự giàu có rằng:
“Tiếng đồn Trưởng Sử ở tại Thạch Bàn
Ruộng dư trăm mẫu bạc vàng đầy kho
Ghe bầu năm chiếc thật to
Nhà ngói năm bảy dãy, trâu bò chín mười đôi...”.
Tuy cùng có ghe bầu, nhưng mỗi người có thế mạnh riêng, kinh doanh trên một số lĩnh vực nhất định.

Như bà Hai Hoanh mạnh về kinh doanh nước mắm; ông Viên Nhiễu chủ yếu mặt hàng chiếu cói; ông Chánh Hàn buôn nhiều thứ, từ nước mắm đến bán gạo bắp, chiếu lác, vải vóc và một số mặt hàng khác.
Ở Hồng Triều, có ghe bầu của các ông Cửu Lực, Lê Khanh, Lê Hiên, Nguyễn Hoàng…
Trong đó, người nhiều ghe bầu nhất là ông Cửu Lực với hai chiếc. Tương truyền, ông vừa làm nông vừa buôn bán, đầu tiên sắm ghe nhỏ, sau sắm ghe lớn hơn.
Ghe bầu, ngoài 6 chiếc của người địa phương, còn có nhiều chiếc từ các nơi khác, nhất là các tỉnh miền trong như Bình Định, Phan Thiết... đậu chật cả bến sông.
Ghe bầu Duy Xuyên xưa tung hoành khắp trong Nam ngoài Bắc. Ghe bầu buôn bán tuyến Bắc có ghe của ông Cửu Cử, người Duy Hải, rất giàu, có đến ba chiếc ghe bầu.
Sinh thời, ông bỏ tiền ra mua chức cửu phẩm nên mọi người gọi ông là Cửu Cử.

Nhiều người còn nhớ, hồi cuối thập kỷ 1930, trong một chuyến chở gạo ra bán ở thị trường Nam Định, thật xui xẻo khi ghe ông bị bão đánh chìm.
Bấy giờ, ghe ông Cửu Cử vào mua gạo ở Sài Gòn, rồi chở ra bán ở Quảng Nam có, các tỉnh phía Bắc có. Phần đông ghe bầu Duy Xuyên buôn bán phía Nam, mỗi năm “hành phương Nam” một chuyến, kéo dài đến bảy, tám tháng. Thường thì ghe bắt đầu xuất phát từ tháng 11 âm lịch và đến tháng 7 sang năm mới trở lại Quảng Nam.

Về mặt hàng mua bán cũng khá đa dạng. Mặt hàng đi, chủ yếu là đường bát, khi vào các tỉnh miền trong bán rất chạy. Ngoài đường bát, còn có mê ghe (đan bằng tre, người ta mua về lận thêm vành thành chiếc ghe), được sản xuất chủ yếu ở vùng Trà Nhiêu, nay thuộc xã Duy Vinh.
Rồi đến mặt hàng đá giã, tức loại đá làm chì lưới, có lỗ ở giữa để cột vào lưới khi đi đánh cá. Kế đến là đá làm mỏ neo, cối giã tiêu… Đây là những mặt hàng chủ ghe lấy ở làng đá nổi tiếng Non Nước.

Hàng về phổ biến nhất là gạo, mắm cái... Trong đó, mặt hàng mắm cái không dễ mua, phải chờ lúc có cá mới muối. Ngày trước, người ta mua cá ở Phan Rí, Phan Thiết, muối trong những thùng gỗ.
Cá nhiều, muối chủ yếu là cá nục, cá cơm than, vừa rẻ, vừa tươi. Giá muối cũng không đắt. Cho nên, muối cá xong, chở về Quảng Nam bán rất có lời.
Có như thế, chủ ghe mới có đủ chi phí trả cho thủy thủ, ông biện (người có trách nhiệm quản lý, chi tiền trong suốt quãng đường đi về), và có tiền lời, tiền khấu hao tài sản này nọ.
Trong ký ức của lớp người cao tuổi thì ngày trước các bến sông Hồng Triều, Bàn Thạch rất náo nhiệt, nhất là khi có các đoàn ghe bầu Quảng Nam và các tỉnh cập bến bán hàng, ăn hàng.

Vì thế, ngay bến sông đều có chợ. Trong đó chợ Hồng Triều chủ yếu bán thức ăn, đồ uống như mì Quảng, bún, cơm, thịt…
Thủy thủ ghe bầu và thương lái khi ghé bến Hồng Triều mua gạo, muối, mắm đều lên chợ ăn cho no để lại sức trước khi chèo ghe về. Bên cạnh đó, khách của những quán ăn bến Hồng Triều còn là cư dân làng vạn Nồi Rang ở Duy Nghĩa.
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, ghe bầu Quảng Nam không còn hoạt động. Chợ Hồng Triều cũng theo đó tan rã.

PHẠM TIẾN MINH ĐẠT

UserPostedImage
UyenVy  
#7 Posted : Friday, September 28, 2012 11:23:08 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
UserPostedImage

Chùa Cầu biểu tượng của Phố cổ Hội An

Xin hỏi có phải người ngoại quốc tới Hội An từ thế kỷ 17 đến 19 ?

Hội An thật sự được thành lập vào sơ niên thế kỷ XVII. Ngay từ những năm đầu, nó đã trực thuộc vào dinh trấn Thanh Chiêm ở cách đó chừng 10 cây số. Trấn này gọi là Quảng Nam, trước kia gồm các phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhơn; về sau, kết hợp phủ Điện Bàn thành ra bốn phủ. Vị đứng đầu dinh trấn trong nhiều năm, bao giờ cũng là các con Chúa và sau đều trở thành nguyên thủ tức là Chúa Nguyễn như Nguyễn Phước Nguyên, Phước Lan, Phước Tần...
Do lẽ trấn quan trọng, giàu có (hồi đó rất nhiều vàng trên mặt đất, rừng có nhiều trầm hương quế, thú lạ) nên được thiên hạ ở tứ xứ đổ về buôn bán: Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Hòa Lan, Anh, Pháp... Khách đến, ngoài việc mậu dịch còn có nhiều người chuyên về tôn giáo, du lịch, lánh nạn, mở đường thông thương.

Hội An được ưa chuộng còn vì một lẽ khá mới lạ đối với thời ấy nay còn được nhiều quốc gia ở Đông và Đông Nam Á tiếp diễn: Chúa Nguyễn xem nó như một đặc khu kinh tế, đặc khu thương mãi.
Việc tổ chức ngoại kiều dành cho chính các người đứng đầu nhóm thương nhân theo qui hoạch được Chúa qui định. Do đó, chúng ta thấy phố người Hoa đều lấy trưởng phố là ngoại kiều.
Giai đoạn này có mấy sự việc lớn của xã hội Nhật Bản và Trung Quốc ảnh hưởng sâu rộng đến các giới người Hoa và Nhật Bản.
Người Nhật thì bị Mạc phủ cấm đạo Thiên Chúa phải lánh sang Hội An, Đà Nẵng hành đạo. Người Hoa vì tổ quốc bị quân Mãn Thanh chiếm cứ, những người yêu nhà Minh, tổ chức công cuộc "Phản Thanh phục Minh" phải vượt biển để tiếp tục kháng chiến hoặc để làm dân nhà Minh, phụng thờ nhà Minh.

Người Nhật làm ăn phồn thịnh. Có nhiều nhân vật tiếng tăm của các đại tộc Chaya, Sotarô... tới lui và xây dựng sự nghiệp. Một người trong họ Sotarô đã cưới một công nữ của Chúa Nguyễn về sau đưa về Nhật trước khi chính quyền ra lệnh cấm tuyệt người Nhật xuất ngoại, sợ mang theo đạo Thiên Chúa về. Nhiều khách thương Nhật có vợ Việt cũng đưa vợ về ở Nhật, có lẽ tiêu biểu nhất là Ngụy Cửu Sử và Võ Thị Nghị.

UserPostedImage
quang cảnh phố cổ Hội An
UserPostedImage

Người Hoa thì thượng vàng hạ cám đều từng bước lấn chiếm Hội An, nhất là sau thập niên 30 thế kỷ XVII khi người Nhật rút lui. Ta có thể đoán từ thời quân Thanh đánh xuống Hoa Nam, có rất nhiều nhân vật tiếng tăm đã chạy ra ngoài và một số đáng kể theo Trịnh Thành Công khi viên tướng này đuổi người Hòa Lan và lập căn cứ địa ở Đài Loan.

Cuộc kháng chiến kiên trì đòi hỏi quân nhu, quân dụng, cả lương thực nên tất nhiên Hội An có cơ hội phát đạt. Trong những người theo họ Trịnh ở Đài Loan về sau chỉ còn thấy lưu lại một người, có tên là Lưu Thanh. Ông này cũng là thương gia lớn. Về sau, ông có nhờ Sư Thích Đại Sán xin với Chúa Nguyễn chức cai phủ quản lý hàng hóa ngoại quốc thu thuế hàng hóa nhập xuất Hội An nhưng bất thành.

Còn một nhân vật khác là Châu Thuấn Thủy cũng đến Hội An nhân dịp này. Ông thuộc môn phái Vương Dương Minh, chủ trương Tri Hành Hợp Nhất rất nổi tiếng.
Ông cũng thuộc "Phản Thanh phục Minh" nhưng ở địa vị cao (cao tới đâu không ai biết được) và lẫn tránh ở Hội An để thực hiện các chủ trương bí mật.

Ông muốn đóng góp vào việc giảng dạy nho giáo mới theo môn phái ông, nhưng ít được trí thức ta hâm mộ. Về sau, các thương gia Nhật biết ông có đại tài liền tìm cách đưa ông về Nhật.
Mạc phủ rất trọng dụng, xem ông như quốc sư. Ông có viết rất nhiều sách để truyền vương học cho người Nhật, đến nay môn phái ấy vẫn còn với tên Nhật là Yômeiganu. Trong các tác phẩm của ông có tập "Annam cung dịch kỷ sự." Chúng ta đọc qua tập này có thể biết thêm về xã hội Việt Nam và cả Hội An đầu thế kỷ XVII.

Lừng lẫy nhất là năm 1695 khi nhà sư Thích Đại Sán sang "Quảng Nam quốc" để nhận một vị Chúa Nguyễn -- Nguyễn Phước Châu -- làm đệ tử.
Nhân công cuộc hành đạo, Đại Sán đã kết hợp với việc thương mãi lớn lao như chưa từng thấy và ông đã giàu có nay càng thêm giàu có lớn khiến trăm mắt cũng nhìn vào: kẻ bợ đỡ, người ganh ghét.
Người ta gán cho ông hai chữ "yêu tăng" vì hành vi kỳ quái của một bậc đại sư tài trí và có trình độ văn học đáng kể. Ông có viết sách "Hải ngoại kỷ sự" nổi tiếng được dịch và ấn hành năm 1965.
Sách có giá trị sử liệu tốt. Cũng rất tốt là phần phụ lục của giáo sư Trần Kinh Hòa, cho biết rất nhiều chi tiết quái lạ về một cuộc đời và hành vi của nhà sư trong đó tất nhiên không thiếu công việc ông đã giúp Chúa Nguyễn cũng như đã thu thập quá nhiều lợi tức trong chuyến buôn không thuế năm 1895 và sẽ còn tiếp tục bởi các đồ đệ về sau.
Để rồi cuối cuộc buôn bán với phủ chúa đã khiến ông kết thúc cuộc đời bi thảm: bị chính quyền đuổi ra khỏi Quảng Đông rồi Giang Tây hai lần vào năm 1702 và 1704. Lần sau chết trên đường lưu đày.
Cũng cần nói thêm, cho tới nay, biết và viết về Hội An, dù người Âu Mỹ hay Việt, không ai so được với giáo sư Trần Kinh Hòa mà chúng ta hân hạnh được xem ông như vị khách bậc nhất về Sử học của Hội An đã từng đi qua Hội An vào đầu thế kỷ XX. (Ngoài những sách đã được dịch ra tiếng Việt còn các tư liệu quan trọng khác chưa công bố ở Việt Nam).

Người ngoại quốc Âu, Mỹ đến Hội An cũng rất nhiều, nhất là các giáo sĩ vào đầu thế kỷ XVII, nổi tiếng như Buzomi, A de Rhodes... Các ông này đều ít nhiều có đóng góp vào việc tạo ra chữ quốc ngữ hay ngôn ngữ Việt Nam. Sự tích các ông, nhất là Rhodes chúng ta đã biết. Nổi tiếng nhất là Pierre Poivre người Pháp (nửa sau thế kỷ XVII). Ông này là một nhà học giả, triết gia, thương gia vào hạng cừ khôi. Ông lưu lại một xì căng đan (tai tiếng) cực lớn trong lịch sử bang giao Pháp - Việt, do sự tham nhũng của các quan thâu thuế và cả sự tham lam khủng khiếp của Hoàng gia và cả của Chúa.
Về người Việt thì ngoài các nhân vật nổi tiếng của phe chúa Nguyễn tới lui gần suốt cả hai thế kỷ, còn một phe Hội An nổi lên rực rỡ như chưa bao giờ xảy ra. Ấy là cuối thế kỷ XVIII khi Tây Sơn nổi dậy phá dinh trấn Thanh Chiêm rồi quân Trịnh vào phá phủ Chúa Phú Xuân, Chúa Nguyễn phải chạy vào Quảng Nam. Trấn lỵ bấy giờ đặt ở Hội An.
Anh em Nguyễn Nhạc bắt được Hoàng Tôn Dương đưa về Hội An để chuẩn bị lập Chúa thay Nguyễn Phúc Thuần bị Trương Phúc Loan chèn ép. Quân Trịnh vào đánh nhau với Tây Sơn ở Cẩm Sa rồi kéo về đuổi Nhạc ra khỏi Hội An, nơi được xem như kinh đô lâm thời của họ Nguyễn dưới ảnh hưởng Tây Sơn.
Cũng từng đến Hội An là những tướng tá tiến sĩ phe chúa Trịnh ở Đàng Ngoài do một vị tiến sĩ danh vọng là Xuân quận công Nguyễn Nghiễm cầm đầu.
(Nguyễn Nghiễm là cha thi hào Nguyễn Du), tên tuổi các vị nầy còn uy nghiêm đề trên một bài thơ dài (do Nguyễn Nghiễm sáng tác) được khắc trên một bức hoành lớn treo trước chùa Quan Công - Hội An.
Tuy sử không ghi, nhưng chắc chắn Hoàng tử Cảnh đã vào Hội An khi đưa quân về đánh Quảng Nam. Vì tại đó phải lập chỗ hành tại thay cho dinh trấn Thanh Chiêm. Ông về thăm quê mẹ, nơi sau này có đền thờ và được mệnh danh "Đền thờ bà mẹ Gia Long.
" Ông có mang về hài cốt (chắc của vợ chồng Tống Phước Khuông) và chôn gần đền thờ ở làng An Quán. Nay đền bị lở xuống sông, cả hai ngôi mộ cũng biến mất.
Sau khi Gia Long lên ngôi, tiếp tục có nhiều thương khách hoàng gia đến Hội An. Nổi tiếng nhất là sự kiện Minh Mạng ngự giá Hội An vào thập niên 20 thế kỷ XIX.

Nhà vua có cho đền thờ Quan Công ba trăm lạng bạc để sửa chữa do bị chiến tranh làm sụp đổ. Các thương gia Trung Hoa, Minh Hương có tổ chức hát bội để vua Ngự Lãm. Không rõ hát bội Ta hay Tàu (tuồng Tiều). Có lẽ của ta vì vào thời ấy, hát tuồng ta đã khá thịnh và có nhiều đào kép nổi tiếng.
Về Đại Sán (Hải ngoại kỷ sự) xin xem trong bài Khảo cứu ở cuốn sách của giáo sư Trần Kinh Hòa: Sư Đại Sán, nhân phẩm và việc làm. Sư Đại Sán du hành đến Quảng Nam, từ trang 244 đến 275.

Nguyễn văn Xuân
UserPostedImage
UyenVy  
#8 Posted : Sunday, September 30, 2012 2:15:46 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Thứ 6 ngày 13 có phải là ngày xui xẻo ?

Hải quân Anh từng đóng một con tàu mang tên Thứ sáu ngày 13 và nó mất tích ngay sau lần ra khơi đầu tiên.
Nếu bạn e ngại thứ sáu ngày 13 , vì năm 2009 có tới ba ngày như vậy.
Ngày tiếp theo sẽ rơi vào tháng 3 và ngày cuối cùng rơi vào tháng 11
Hiện tượng ba thứ sáu ngày 13 trong một năm chỉ xuất hiện 11 năm một lần.

Đó là tuyên bố của nhà toán học Thomas Fernsler của Đại học Delaware (Mỹ), người đã nghiên cứu con số 13 trong hơn 20 năm.
Một trong những nguyên nhân khiến 13 phải chịu tai tiếng chính là vì nó đứng sau số 12.
Các chuyên gia về toán luôn coi 12 là con số trọn vẹn: 12 tháng trong năm, 12 vị thần trên đỉnh Olympus, 12 cung hoàng đạo, 12 con giáp, 12 tông đồ của Chúa Jesus.

Dưới đây là một số câu chuyện liên quan tới “ngày nổi tiếng” này.

Hải quân hoàng gia Anh từng đóng một con tàu có tên Friday the 13 (thứ sáu ngày 13). Con tàu ra khơi lần đầu vào một thứ sáu ngày 13, và không bao giờ quay trở về nữa.
Con tàu Apollo 13 được phóng vào 13h13 ngày 11/4/1970 để thực hiện sứ mệnh đổ bộ lên Mặt trăng lần thứ ba.
Tổng của hai số cuối trong ngày, tháng, năm khởi hành của nó (4-11-70) là 13 (4+1+1+7+0 = 13).

Tàu hứng chịu một vụ nổ vào ngày 13/4/1970 (không phải thứ sáu) và phi hành đoàn buộc phải quay trở về Trái đất.

Butch Cassidy, một trong những tên cướp nhà băng và tàu hỏa khét tiếng nhất nước Mỹ, chào đời vào thứ sáu ngày 13/4/1866.
Tổng thống Franklin D. Roosevelt của Mỹ không bao giờ đi đâu vào ngày 13 của mọi tháng và cũng chẳng bao giờ tiếp 13 khách trong một bữa tiệc.
Thiên tài quân sự Napoleon Bonaparte và tổng thống Herbert Hoover (Mỹ) cũng sợ con số 13.
Mark Twain từng là vị khách thứ 13 trong một bữa tiệc. Một người bạn khuyên ông không nên đi. Mark Twain làm theo và sau đó giải thích với bạn bè như sau:
“Thật không may, họ chỉ có đủ thức ăn cho 12 người”.
Woodrow Wilson, vị tổng thống lãnh đạo nước Mỹ trong Thế chiến thứ nhất, coi 13 là con số may mắn của ông dù thực tế chứng minh điều ngược lại.
Ông tới Normandy (Pháp) vào ngày 13/12/1918 để đàm phán hòa bình để rồi trở về với một bản hiệp ước mà quốc hội không thông qua.
Trước đó thủy thủ đoàn khuyên ông lùi ngày cập bến nước Pháp nhưng ông không đồng ý.
Sau đó Woodrow Wilson đi khắp nước Mỹ để kêu gọi người dân ủng hộ hiệp ước, nhưng suýt mất mạng vì đột quỵ trên đường đi.
-Những hình ảnh trên tờ 1 USD bao gồm 13 bậc thang trên kim tự tháp, 13 ngôi sao trên đầu con đại bàng, 13 lá trên cành ô liu.
Nhưng chưa có bằng chứng khoa học nào cho thấy những hình ảnh này gây nên tình trạng suy thoái kinh tế hiện nay.

Minh Long
UserPostedImage
UyenVy  
#9 Posted : Sunday, September 30, 2012 2:17:58 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
UserPostedImage

Xin cho hỏi về kênh đào Suez và vị trí quan trọng của nó ?

Những năm 1878 -1839 trước Công Nguyên vào triều đại vua Senusret III đã có một kênh đào đông tây nối sông Nin với Biển Đỏ phục vụ giao thông bằng những con thuyền đáy bằng đẩy sào và cho phép việc giao thương giữa Biển Đỏ và Địa Trung Hải.
Có nhiều dấu vết cho thấy con kênh này đã tồn tại vào thế kỷ 13 trước Công Nguyên vào thời kỳ vua Ramesses II.
Con kênh này đã không đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Ai Cập lúc bấy giờ và nhanh chóng bị lãng quên.
Theo sử sách Hy Lạp, vào khoảng những năm 600 trước Công Nguyên, vua Necho II đã nhận thấy tầm quan trọng của kênh này và cho tu sửa lại nó.
Tuy nhiên con kênh chính thức được hoàn thành bởi vua Darius I của Ba Tư.
Ông đã hoàn thành con kênh sau khi chiếm Ai Cập và đã mở rộng nó đủ để cho phép hai tàu chiến trieme tránh nhau trong kênh và hành trình trong kênh mất 4 ngày.
Vào cuối thế kỉ 18 Napoléon Bonaparte, trong khi ở Ai Cập, đã có ý định xây dựng một kênh đào nối giữa Biển Đỏ và Địa Trung Hải.
Nhưng kế hoạch này của ông đã bị bỏ ngay sau những cuộc khảo sát đầu tiên bởi theo những tính toán sai lầm của các kỹ sư thời bấy giờ thì mực nước Biển Đỏ cao hơn Địa Trung Hải tới 10 m.
Vào khoảng năm 1854 và 1856 Ferdinand de Lesseps, phó vương Ai Cập đã mở một công ty kênh đào nhằm xây dựng kênh đào phục vụ cho đội thương thuyền dựa theo thiết kế của một kiến trúc sư người Úc Alois Negrelli.
Sau đó với sự hậu thuẫn của người Pháp công ty này được phát triển trở thành công ty kênh đào Suez vào năm 1858.

Công việc sửa chữa và xây mới kênh được tiến hành trong gần 11 năm.
Hầu hết công việc được tiến hành bởi những lao động khổ sai người Ai Cập. Người ta ước tính luôn có một lực lượng 30.000 người lao động trên công trường và cho đến khi hoàn thành, gần 120.000 người đã bỏ mạng tại đây.

Người Anh đã ngay lập tức nhận ra kênh đào này là một tuyến buôn bán quan trọng và việc người Pháp nắm quyền chi phối con kênh này sẽ là mối đe doạ cho những lợi ích kinh tế, chính trị của Anh
Trrong khi đó lực lượng hải quân của Anh lúc bấy giờ là lực lượng mạnh nhất trên thế giới.
Vì vậy chính phủ Anh đã chính thức chỉ trích việc sử dụng lao động khổ sai trên công trường và gửi một lực lượng người Ai Cập có vũ trang kích động nổi loạn trong công nhân khiến công việc bị đình trệ.
Tức giận trước thái độ tham lam của Anh, phó vương de Lesseps đã gửi một bức thư tới chính phủ Anh chỉ trích sự bất nhân của nước Anh khi một vài năm trước đó trong công trình xây dựng đường sắt xuyên Ai Cập đã làm thuyệt mạng 80.000 lao động khổ sai Ai Cập.
Lần đầu tiên dư luận thế giới lênh tiếng hoài nghi về việc cổ phiếu của công tuy kênh đào Suez đã không được bán công khai. Anh, Mỹ, Úc, Nga đều không có cổ phần trong công ty này.
Tất cả đều được bán cho người Pháp.
Kênh đào ngay lập tức làm ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc đến ngành vận tải thế giới. Kết hợp với đường sắt xuyên Mỹ hoàn thành 6 tháng trước đó, nó cho phép hàng hoá đi vòng quanh thế giới trong một thời gian kỷ lục
Nó cũng góp phần quan trọng trong việc mở rộng thuộc địa của Châu Âu tại Châu Phi.
Những khoản nợ khổng lồ đã buộc người kế nhiệm Phó vương Ai Cập bán lại cổ phần trị giá 4 triệu bảng của mình cho người Anh.
Tuy nhiên người Pháp vẫn nắm giữ phần lớn cổ phần chi phối.
Vào năm 1888 một hội nghị ở Constantinople đã tuyên bố kênh đào là một khu vực trung lập và yêu cầu quân đội Anh bảo vệ kênh đào trong suốt cuộc nội chiến ở Ai Cập.
Sau đó căn cứ vào hiệp ước với Ai Cập năm 1936 Anh đã đòi quyền kiểm soát kênh đào.
Hành động này của Ai Cập được hậu thuẫn bởi Liên Xô và đã gây lo ngại cho Mỹ, Anh, Pháp và Israel.
Vào năm 1957, Liên Hợp Quốc đã cử lực lượng gìn giữ hòa bình tới đây để bảo đảm tính trung lập của kênh.
Kênh đào cuối cùng cũng được hoàn thành vào ngày 17 tháng 11 năm 1869 mặc dù đã rất nhiều xung đột chính trị và sự cố kỹ thuật xung quanh công trình.
Tổng chi phí đã đội hơn 2 lần so với dự tính ban đầu của các kỹ sư.
Cuối cùng vào năm 1954 Chính quyền Ai Cập đã phủ nhận hiệp ước 1936 và nước Anh buộc phải từ bỏ quyền kiểm soát kênh.
Kênh bị đóng cửa một lần duy nhất từ 1967 tới 1975 trong cuộc Chiến tranh Ả Rập - Israel.
Năm 1967, năm xảy ra chiến tranh giữa Israel và Ai Cập, gần 15% các luồng hàng viễn dương và trên 20% các luồng hàng vận chuyển dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ thế giới đã được vận chuyển qua kênh đào.
Năm 1956 tổng thống Ai Cập tuyên bố quốc hữu hoá kênh và ý định xây dựng một căn cứ quân sự ở dọc kênh.

KTNN-

UserPostedImage
UyenVy  
#10 Posted : Sunday, September 30, 2012 2:20:41 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Lý do đeo nhẫn cưới ở ngón áp út ?

Nhẫn cưới thường đeo ở ngón áp út bởi vì có một cách giải thích về cách đeo nhẩn ở từng ngón tay như sau:
- Ngón áp út biểu tượng đã lập gia đình.
- Ngón trỏ biểu tượng đang đi tìm người yêu.
- Ngòn giữa biểu tượng đang yêu đơn phương.
- Ngón cái biểu tượng yêu say đắm.
- Ngón út biểu tượng chán ghét tình yêu, thề sống độc thân.

- Một giả thuyết romantic khác nữa của việc đeo nhẫn cưới ở ngón áp út bàn tay trái là: có 1 dây thần kinh (chắc là duy nhất trong 10 ngón) chạy thẳng từ ngón tay này lên trái tim, mà trái tim lại là biểu tượng của tình yêu. Vì thế nên nhẫn tình yêu phải đeo ở ngón áp út bàn tay trái .
-Bạn để hai bàn tay đối diện, gập ngón giữa lại và áp sát vào nhau rồi cho hai bàn tay mở ra nhưng các ngón còn lại chống vào nhau ở đầu mút ngón.
-Bạn sẽ thấy các ngón cái, trỏ, út đều dễ dàng tách ra nhưng riêng hai ngón áp út lại không thể rời.
-Và đây cơ sở để người Trung Quốc đưa ra một cách giải thích rất thú vị và thuyết phục về lý do đeo nhẫn cưới ở ngón áp út.
Theo họ, ngón tay cái tượng trưng cho cha mẹ, ngón tay trỏ tượng trưng cho anh em, ngón giữa là chính bạn, ngón áp út tượng trưng cho người bạn đời, và ngón út tượng trưng cho con cái của bạn.
Khi thử úp hai bàn tay theo kiểu đã nói ở trên, bạn sẽ thấy chỉ có ngón áp út là không thể tách nhau ra được. Đó là bởi cha mẹ bạn không thể sống suốt đời với bạn.
-Anh em cũng sẽ có gia đình riêng và sẽ rời xa bạn. Cuối cùng con cái bạn cũng vậy, chúng sẽ tạo dựng cuộc sống của riêng mình chứ không thể sống cùng bạn mãi mãi.

Còn với ngón áp út, bạn sẽ thấy ngạc nhiên khi không thể tách rời chúng ra khỏi nhau.
Đó là vì bạn cùng người bạn đời được số phận mang đến với nhau để hòa quyện, gắn bó không thể tách rời suốt cả cuộc đời, cho dù tất cả thế giới này bỏ hai bạn ra đi và cuộc sống của hai người có trải qua bao thăng trầm, ngọt đắng đến thế nào đi nữa.
Thêm ý nghĩa các ngón tay
Ngón cái :
-Là ngón tay bạn dùng nhiều nhất và dường như nó ở gấn bạn nhất. Hãy dành những mong muốn tốt đẹp đầu tiên cho những người thân thương, gần gũi nhất với bạn.
-Ngón trỏ :
-Hãy mong ước những điều tốt lành cho những người chỉ dạy , hướng dẫn cho bạn .
Đó là thầy cô , bạn bè hay bất kỳ ai đó cho bạn dù chỉ là một lời khuyên chân thành.
Ngón giữa :
- Là ngón dài nhất. Hãy mong những điều tốt lành cho những người mà bạn thấy kính phục.
Đó có thể là một nhà từ thiện, một nhà vô địch ..
. Họ xác lập những đỉnh cao để chúng ta biết là lúc nào cũng có thể cố gắng.
-Ngón đeo nhẫn :
Các thầy cô giáo dạy piano nói rằng: đây là ngón yếu nhất trong cả bàn tay. Nó nhắc chúng ta mong ước những điều tốt lành cho những người yếu đuối , kém may mắn.
-Ngón út :
Đây là ngón tay nhỏ nhất.-Nó nhắc bạn về sự khiêm tốn của bản thân bạn và nó nhắc nhở bạn ước mong điều tốt lành cho chính bạn
.Riêng ngón út bàn tay trái: đó là ngón tay dành cho tình bạn , cho những người bạn xung quanh chúng ta
Thực ra ngón tay áp út là ngón biểu thị cho những mong ước sẽ trở thành hiện thực.
Việc đeo nhẫn loại gì ở ngón tay này nó sẽ ảnh hưởng ra như thế .
-Ngón áp út bên bàn tay phải biểu hiện cho quyền lực, sức mạnh, khả năng thực hiện, ý nguyện đối với người khác còn ngón này bên bàn tay trái lại thể hiện sự tin tưởng, phục tùng, khả năng tưởng tượng, ý nguyện đối với bản thân.
St
UserPostedImage
UyenVy  
#11 Posted : Sunday, September 30, 2012 2:22:24 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Tìm hiểu nguồn gốc câu sư tử Hà đông ?

Trần Tạo tự Quý Thường, người đời nhà Tống, quê ở Vĩnh Gia. Vợ của Trần họ Liễu vốn có tính ghen dữ ghê gớm.
Quý Thường rất sợ vợ nhưng rất có lòng tôn sùng đạo Phật. Hằng ngày ngồi đọc kinh, vợ lấy làm bực, la hét om sòm, nhưng Trần vẫn điềm nhiên, không dám cự một tiếng.
Tính của Trần cũng hào hoa, bằng hữu nhiều, nên ở nhà thường có yến tiệc.
Để tăng phần hứng thú, long trọng của buổi tiệc, Trần chiều khách, mời kỹ nữ xướng ca.
Liễu Thị trong phòng mượn điều này, điều nọ, quát tháo om sòm. Trần có lúc hốt hoảng, cầm gậy nơi tay bỏ rơi mất gậy.
Bạn thân của Trần là Tô Đông Pha, nhân đó làm một bài thơ đùa cợt:

Thùy tự Long Khâu cư sĩ hiền,
Đàm không thuyết pháp dạ bất miên.
Hốt văn Hà Đông sư tử hống,
Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên.
Tạm dịch:

Ai hiền bằng thầy đồ Long Khâu,
Đọc kinh thuyết pháp suốt đêm thâu,
Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống,
Kinh hoàng bỏ gậy rớt nơi đâu.

"Hà Đông sư tử" chỉ người đàn bà ghen dữ tợn.

Tô Đông Pha dùng hai tiếng "Hà Đông" là mượn câu thơ của Đỗ Phủ: "Hà Đông nữ nhi thân tính Liễu" (cô gái Hà Đông người họ Liễu) vì vợ của Quý Thường cũng họ Liễu.
Và tiếng "Sư tử" do lời trong kinh Phật: sư tử là chúa loài thú, mỗi khi rống lên thì các thú vật đều khiếp đảm để vừa chỉ tính ghen dữ của Liễu Thị, vừa chỉ Quý Thường là một tín đồ đạo Phật.
Tú Xương trong bài thơ vịnh cảnh lấy lẽ, có câu:

Hậu hạ đã cam phiền cát lũy,
Nhặt khoan còn ỏi tiếng Hà Đông.

theo Nguyễn Tử Quang
UserPostedImage
UyenVy  
#12 Posted : Sunday, September 30, 2012 2:58:43 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Tại sao mỗi ngày chùa Thiên Mụ người ta gõ 108 tiếng chuông ?


Chùa Thiên Mụ hiện có 2 quả chuông. Một quả chuông được đúc vào năm Canh Dần (1710) đặt trong một ngôi nhà bát giác phía bên trái tháp Phước Duyên nhìn từ ngoài cổng vào.
Chuông cao 2,50m, đường kính miệng 1,40m, cân nặng 3.285kg.
Trên chuông có khắc bài minh của chúa Nguyễn Phúc Chu chú nguyện mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an.

Chuông này hiện nay chỉ được đặt như một pháp khí của chùa mà không đánh. Còn tiếng chuông Thiên Mụ từng được nhắc đến trong ca dao, là từ chiếc chuông được đúc vào năm Gia Long thứ 14 (1815), đặt trên lầu chuông bên trái cổng chùa dẫn vào điện Đại Hùng.

Chuông Thiên Mụ cấu thành từ một hàm lượng hợp kim đặc biệt, lại mang trong mình giá trị tâm linh nên tạo nên âm sắc vang xa, bay vút lên trời cao thấu đến lòng người, khiến tâm thanh thản, giũ sạch bụi trần.
Nhà vua cũng cho xây dựng hai tiểu đình trước Nghi môn để dựng bia đá khắc bài minh Thiên Mụ chung thanh.
Bài minh có đoạn: "Bách bát hồng thanh tiêu bách kết. Tam thiên thế giới tỉnh tam duyên". Nghĩa là: "Một trăm lẻ tám tiếng chuông tiêu tan trăm nỗi oan kết muộn phiền. Ba ngàn thế giới tỉnh ba duyên".
Thượng tọa Thích Trí Tựu, trụ trì hiện nay của chùa cho biết: "Từ xưa đến nay, chuông chùa vẫn đánh mỗi ngày hai lần, lúc 19h30 và 3h30 sáng. Mỗi lần đánh trong thời gian 60 phút, bằng 108 tiếng chuông để xóa đi 108 nỗi phiền muộn trong thế gian.

Khi được hỏi về con số 108, vị hòa thượng điềm đạm cho biết: Theo giáo lý nhà Phật, chúng sinh trong tam giới (gồm dục giới, sắc giới và vô sắc giới) đều có chung bát khổ (sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ, oán tằn hội, ái biệt ly khổ và cầu bất đắc khổ).
Từ căn bản của 8 điều khổ sẽ dẫn đến 108 nỗi phiền não được chia nhỏ theo trạng thái tâm lý tình cảm.
Và trong mỗi tiếng chuông đều mang theo tâm nguyện từ bi gửi gắm đến chúng sinh, giải tỏa những nỗi oan khiên, chán chường.

theo chuaphuclam
UserPostedImage
UyenVy  
#13 Posted : Sunday, September 30, 2012 3:03:10 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Dịch The White House là Toà Bạch Ốc , Toà Bạch Cung hay Nhà Trắng là cùng nghĩa chăng ?

Sĩ tử / Tử sĩ

Chắc chẳng ai lộn hai từ này với nhau. Việc liệt kê ra đây chỉ để thấy tầm quan trọng của vấn đề từ pháp mà thôi.
Từ thứ nhất là “học sinh đi thi thời khoa cử”; từ thứ hai là “người lính chết trận”
.Hai từ “sĩ” viết giống nhau, nhưng một đằng là “học trò, người có học”; một đằng là “người binh sĩ” hay “người sĩ quan”.
Hai từ “tử” khác nhau. Một đằng là “người” và một đằng là “chết”.

Tình nhân / Nhân tình

Theo từ pháp của từ Hán Việt, “nhân” trong ”tình nhân” là từ chính. Như thế, “tình nhân” là “người tình” (the lover).
Ngược lại, “tình” trong “nhân tình” lại là từ chính, nên “nhân tình” là “tình người”.
Từ đó, có “bất cận nhân tình” là “không gần với tình người”, “nhân tình thế thái” là “lòng người và thói đời”.
Nhiều người Việt đã dùng lẫn lộn hai từ “tình nhân” và “nhân tình” này.
Trước 1975, cũng có một quyển sách mang tựa đề là Nuôi con nhơn tình.
Sau 1975, một bản dịch khá tốt tại Việt Nam của quyển L’Amant của Marguerite Duras cũng mang tựa đề Gã nhân tình.

Theo Hán-Việt Từ-điển của Nguyễn Văn Khôn, “nhân tình” là “tình của người”, hay “tình riêng đối với nhau”.
“Tình (của) người” thì đã rõ, còn “tình riêng đối với nhau” thì, trên căn bản, đó vẫn là một thứ tình, chứ không thể là một con người.
Bởi thế, không thể đánh đồng “nhân tình” với “tình nhân” để cho rằng cả hai có nghĩa giống nhau.
Hai từ này là những danh từ ghép có quan hệ chính phụ, chứ không phải có quan hệ đồng đẳng như hai từ “đảm bảo” và “bảo đảm” để có thể có những kết hợp chồng chéo, qua lại.

Có người còn cho rằng “nhân tình” là một từ đã được Việt hoá, nên nó có thể có nghĩa là “người tình”, giống như từ Hán Việt “tình nhân”.
Lập luận này hoàn toàn không quan tâm hay không cần biết gì đến kết cấu Hán Việt rõ ràng của từ “nhân tình”.
Nếu “nhân” và “tình” đã được Việt hoá, chúng phải biết thu xếp với nhau để sống êm ấm trong một ngôi nhà Việt (tức phải mang kết cấu của từ pháp Việt).
“Nhân” phải trở thành “người” và đi trước “tình”.
Chúng ta lại trở về khởi điểm để thấy là hoặc phải dùng từ Hán Việt “tình nhân”, hoặc dùng từ Việt “người tình”, chứ không thể để chỉ cùng khái niệm mà lúc thì dùng “tình nhân” lúc thì dùng “nhân tình”, trong khi hai từ này đã được xác nhận là từ Hán Việt trong các từ điển Hán Việt.

Ngoài ra, “nhân” theo nghĩa là “người” chưa được Việt hoá như mức độ của “tình”.
Trong kết cấu Việt, “tình” có thể đứng một mình để kết hợp với các từ khác, còn “nhân” (với nghĩa là “người”) thì chưa.
Không thể nói: “Tôi gặp một nhân đi tung tăng ngoài phố trông giống cô ta lắm” (!);

Nhưng hoàn toàn có thể nói: “Qua có tình với em, mà sao em không ngó ngàng chi tới qua hết trơn vậy!”.
“Nhân tình” bị hiểu lộn là “người tình” có thể là vì nó còn mang nghĩa là “tình riêng đối với nhau” như đã nói ở trên.
Có thể lúc đầu người ta nói, “A có/bắt nhân tình với B” (tức “A có tình với B”.

Tình đây, nhiều phần, là một thứ tình vụng trộm, không chính đáng).
Dùng mãi một thời gian, “nhân tình” đang là “tình” trở thành “người” lúc nào không biết.
Người ta không để ý, và từ đó có sự lẫn lộn giữa “nhân tình” và “tình nhân”.
Trong ngôn ngữ dân gian, người ta có thể lẫn lộn trong cách dùng và cách hiểu hai từ này, và chúng ta có thể bỏ qua.
Dù sao, trong sách vở và trên các văn bản, ta nên dùng cho đúng.
Thân nhân / Nhân thân
“Thân nhân” là “người thân thích”; còn “nhân thân”—từ đúng ra thì đáng yêu nhưng lại có vẻ gây phiền toái cho tác giả Bùi Việt Bắc—là “thân thế, lý lịch của một người” (?), theo tôi hiểu.

Trong Hán-Việt Từ-điển của Nguyễn Văn Khôn cũng như trong Hán-Việt từ-điển của Ðào Duy Anh, chỉ có một từ “nhân thân” là “bà con bên ngoại” với “nhân” ở đây tự nó đã có nghĩa là “bà con bên ngoại” rồi; còn từ “thân” thì có nghĩa là “bà con, họ hàng”.
Cả hai quyển từ điển vừa nói không có từ “nhân thân” nào theo nghĩa “thân thế, lý lịch của một người” như tôi hiểu về cách dùng bây giờ ở trong nước.
Còn cụm thành ngữ “nhân thân tiểu thiên địa” (trong đó “nhân thân” là thân thể con người) thì lại có nghĩa là “thân thể của người là trời đất nhỏ (người và trời đất có quan hệ mật thiết với nhau)”.
Một thứ quan niệm “thiên địa dữ ngã tịnh sinh” đây chăng?
-Đúng ,chỉ bổ túc thêm chi tiết dưới đây

(The) White House
(La) Maison-Blanche (người Pháp cho một cái gạch nối vào giữa hai từ này)
(Toà) Bạch Cung / (Toà) Bạch Ốc (nhưng nếu “bạch ốc” mà viết chữ thường chứ không phải chữ hoa thì lại để chỉ một cảnh (ngôi) nhà nghèo, thanh bạch!)--Nhà Trắng

Bùi Vĩnh Phúc
UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (2)
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.