Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

2 Pages<12
Options
View
Go to last post Go to first unread
UyenVy  
#21 Posted : Thursday, March 1, 2012 5:06:26 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Vua Trần Anh Tông: Từ Vua nát rượu trở thành Vị Vua Anh minh

Sau khi uống rượu xương bồ, vì say quá, vua Trần Anh Tông nằm ngủ luôn ở chính điện; lúc Thượng hoàng ngự giá, ông vẫn không thể nào tỉnh dậy.
Vua Trần Anh Tông (1276 – 1320)
Vua tên thật là Trần Thuyên, con trưởng của Thượng hoàng Trần Nhân Tông và Khâm từ Bảo Thánh Hoàng Thái hậu.
Vào thời điểm mới lên nối ngôi, Hoàng đế Trần Anh Tông hay uống rượu và đêm thường lén ra ngoài đi chơi, có lần bị ném vỡ đầu
Sử sách chép, tuy nhường ngôi cho Anh Tông nhưng Thượng hoàng Trần Nhân Tông không phải phó mặc tất cả cho Vua. Ông vẫn để tâm xem xét mọi triều chính.
Lúc bấy giờ, vào tháng 4 năm 1299, Thượng hoàng bất ngờ ở Thiên Trường về kinh đô, các quan đều ra đón rước cả, nhưng vua vẫn nằm ngủ.
Thượng hoàng không nói gì, vẫn thong thả đi xem xét khắp các cung điện từ giờ Thìn đến giờ Tị (khoảng 9 đến 11 giờ sáng); đồng thời không cho ai làm kinh động vua.
Theo sách Hồn sử Việt, đến lúc dùng bữa, người trong cung dâng cơm, lúc này vẫn không thấy Vua Anh Tông đâu, Thượng hoàng mới ngạc nhiên hỏi: "Quan gia đâu?".
Cung nhân không dám giấu, phải thưa thực tình, rồi vào trong cung đánh thức vua dậy.
Nhưng nhà vua quá say, không thể nào tỉnh được.
Thượng hoàng rất giận, lập tức trở về Thiên Trường, sau khi xuống chiếu cho các quan ngày mai phải đến họ ở phủ Thiên Trường, ai trái thì xử tội.
Tới giờ Mùi (2 giờ chiều), Vua Trần Anh Tông mới tỉnh giấc. Cung nhân đem chuyện tâu lên, khiến nhà vua hoảng sợ…
Rập đầu hối lỗi… "cai" rượu
Trong lúc chưa biết ứng đối thế nào với Thượng hoàng, Vua Anh Tông rảo bước đến chùa Từ Phúc.
Tại đây, nhà vua gặp người học trò Đoàn Nhữ Hải. Thấy vậy, Vua hỏi: "Sao ngươi lại ở đây?".
Nhữ Hải rạp người tâu: "Thần vì mãi học lỡ ra đến đây"…
Lúc đó, nhà vua nghe tới từ "học tập" thì "ngộ" ra ngôi vị đế vương của mình, không thể vì ham vui của cá nhân mà bỏ bê triều chính.
Anh Tông đã sai người học trò này soạn một bài biểu dâng lên Thượng hoàng để tạ tội.
Trước hành động thành khẩn, rập đầu hối lỗi của Anh Tông, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã tha tội cho nhà vua, nhưng vẫn mắng: "Trẫm còn có con khác cũng có thể nối ngôi được.
Trẫm còn sống mà ngươi còn dám như thế, huống hồ sau này thì sao?".Một vị Vua anh minh
Cũng như Vua cha, Trần Anh Tông là một vị Vua anh minh.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: Trần Anh Tông là vị vua thứ 4 của nhà Trần, được đánh giá là "khéo nối chí giữ nghiệp, cho nên đất nước được thái bình, chính trị tốt đẹp, văn vật, chế độ dần thịnh lên, cũng là bậc vua tốt của triều Trần".
Cũng theo sử liệu, trong triều đình, Vua Trần Anh Tông có nhiều người hết lòng giúp việc nước, như: Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão. Việc học hành mở mang rộng rãi, nên chọn được nhiều người tài giup việc, như:
Đoàn Nhữ Hải (sau khi giúp nhà vua, được phong làm Ngự sử trung tán), Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn.
Về đối ngoại, sau khi dẹp được quân Nguyên Mông, phía Bắc được yên nhưng phía Tây Nam, quân Ai Lao thường sang quấy nhiễu mạn Thanh Hóa, Nghệ An.
Vua Trần Anh Tông sai tướng quân Phạm Ngũ Lão đi đánh ba bốn lần cho bên phía vùng đất này mới được yên.
Đối với Chiêm Thành, năm 1301, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông nhận lời mời, du ngoạn vào Chiêm Thành, được vua Chế Mân tiếp đãi nồng hậu, có ở lại trong cung điện Chiêm Thành gần 9 tháng.
Khi ra về, Trần Nhân Tông có hứa gả con gái là Huyền Trân cho Chế Mân, mặc dù khi đó Chế Mân đã có chính thất là hoàng hậu Tapasi, người Java (Nam Dương ngày nay).
Sau đó, nhiều lần Chế Mân sai sứ sang hỏi về việc hôn lễ, nhưng triều thần nhà Trần phản đối, chỉ có Văn Túc Vương Đạo Tái và Nhập nội hành khiển Trần Khắc Chung chủ trương tán thành.
Năm 1306, Vua Trần Anh Tông đồng ý gả em gái – Công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân.
Chế Mân dâng châu Ô và châu Lư làm của hồi môn.
Như vậy, trong thời gian trị vì, Vua Trần Anh Tông rất được lòng các quan trong triều và thần dân của mình.
Ông ở ngôi được 21 năm, thọ 45 tuổi.

theolichsuVN
UserPostedImage
UyenVy  
#22 Posted : Thursday, March 1, 2012 5:08:35 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
UserPostedImage

Bí Mật 'Đội Nữ Binh' của Vua Thành Thái

Ngấm ngầm chống Pháp, Vua Thành Thái giả điên, bỏ tiền ra tuyển mộ một đoàn lính nhưng toàn là nữ, trên 200 người. Mỗi đêm, nhà vua đích thân ra thao trường luyện tập, rèn quân.
Triều Nguyễn, đến đời Vua Thành Thái, mọi việc đều do Pháp thao túng gần hết. Khi đưa ông lên ngôi, Pháp hy vọng nắm trong tay một vua bù nhìn.
Thế nhưng, vốn là người rất thông minh, lại chịu ảnh hưởng của phong trào Duy Tân từ Trung Hoa và Nhật Bản, nhà vua rất thức thời, luôn mong muốn tìm cách đánh đuổi Pháp, giành độc lập tự do cho Tổ quốc.
Sử sách chép rằng, chẳng hiểu đoàn nữ binh này tài giỏi hơn nam binh ở điểm nào, nhưng có lẽ Vua Thành Thái muốn che mắt người Pháp, nên mới có sáng kiến trên.
Nhà vua tự bỏ tiền ra lo chi phí, ăn ở cho đội nữ binh; cho ăn mặc áo quần theo kiểu riêng và hằng ngày chăm lo luyện tập võ nghệ. Vì thế, việc tuyển mộ và huấn luyện được tổ chức hết sức bí mật.
Nhà vua cho lính cận vệ thân tín đến tiếp xúc với họ và gia đình. Nếu được chấp thuận, vua cho "dàn cảnh" bắt cóc, bằng cách hẹn ngày giờ và địa điểm gặp gỡ, rồi lính cận vệ, hoặc chính nhà vua đem xe song mã đến đón họ và đưa vào cung cấm.
Để bảo mật, các cô gái bị "bắt cóc" thường được đưa vào Tử Cấm Thành bằng cửa Hữu của Thành nội, gần làng Kim Long, vì con đường chạy dọc theo bên ngoài Hoàng thành dẫn đến cửa Hữu rất vắng vẻ vào ban đêm, hai bên đường lại không có nhà cửa của dân chúng.
Cũng vì vậy, các cô gái Kim Long được tuyển mộ ưu tiên nhiều hơn cả.
Bên cạnh đó, nhà vua còn tuyển các cô gái làng An Ninh (giáp Kim Long).
Do hầu hết là thợ dệt vải (vải An Ninh rất nổi tiếng),
Vua Thành Thái đã ngụy trang cho tổ chức ở Đại nội các chợ bán vải do các nữ binh ấy dệt trong cung.
Một mặt, nhà vua dễ dàng lừa thực dân, còn mặt khác để cho nữ binh có công việc mà trang trải chi phí.
Theo một số tài liệu, Vua Thành Thái chiêu nạp được 4 đội nữ binh. Mỗi đội gồm 50 người.
Sau khi luyện tập quân sự thành thục, 50 nữ binh ấy được giao trả về gia đình, đợi khi cần thì nhập ngũ chống Pháp, sau đó tuyển thêm 50 nữ binh mới. Nhưng về sau, việc này cũng bị lộ.
Thượng thư Bộ lại và các quan đại thần trong Cơ mật viện đã báo sự việc cho viên Khâm sứ Pháp Levécque.
Từ đó, quyền hành của Vua Thành Thái ngày càng thu hẹp, nhà vua bị cô lập dần, nên u uất đến cao độ. Ông trút sự phẫn nộ của mình lên các công văn bằng những lời phê gay gắt, kể cả những giấy tờ trao đổi với tòa Khâm sứ.
Ngày 12/7/1907, sau khi nhà vua không chịu phê chuẩn việc thăng chức, cũng như bỏ một số quan lại đã được Khâm sứ bàn và thỏa thuận với Hội đồng Thượng thư, Levécque tuyên bố: "Nhà vua không thành thật cộng tác với Chính phủ bảo hộ thì từ nay mọi việc Hội đồng Thượng thư cứ tùy nghi mà làm".
Rồi Levécque thông báo cho vua biết: "Từ nay, nhà vua không còn quyền hành gì nữa và không được ra khỏi nơi ở đã dành cho mình trong Đại nội".
Ngày 3/9/1907, các đại thần trình lên Vua Thành Thái bản dự thảo "Chiếu Thoái vị".
Sau khi đọc xong, nhà vua cười nhếch mép, rồi phê vẻn vẹn hai chữ "Phê chuẩn".
Con trai ông là Hoàng tử Vĩnh San được đưa lên nối ngôi. Chín ngày sau, Pháp cho áp giải Vua Thành Thái vào Sài Gòn, rồi đưa ra quản thúc ở Cap Saint Jacque; đến năm 1919 thì bị đày ra đảo Réunion (châu Phi).
Sau 31 năm sống lưu đày, năm 1947, nhà vua mới được phép trở về quê hương, nhưng bắt buộc phải ở Sài Gòn.
Đến tháng 3/1953, nhà vua mới được về Huế thăm lăng tẩm tổ tiên.
Ngày 20/3/1954, vua Thành Thái mất, thọ 75 tuổi. Con cháu đã đưa ông về táng ở Huế, nhưng không có miếu hiệu.

Vĩnh Khang
LichsuVN
UserPostedImage
UyenVy  
#23 Posted : Tuesday, March 13, 2012 8:14:08 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
UserPostedImage

Tìm Hiểu Về Cảnh Lều Chõng đi Thi ở Việt Nam thời Nguyễn

Nho sinh phải mất rất nhiều công phu học và vất vả gian nan.
Cực khổ nhất là phải chờ hai ba năm mới có kỳ thi.
Khi đi thi thí sinh lại phải mang theo lều, chõng, thức ăn, lặn lội xa xôi lên kinh thành.
Giáo dục khoa cử ở Việt Nam có từ thời nhà Lý, kì thi đầu tiên vào năm 1075 dưới thời vua Lý Nhân Tông.
Đến năm 1802, sau khi Nguyễn Ánh lật đổ triều Tây Sơn và lập nên triều Nguyễn, dù là một triều đại trong thời kì cận đại nhưng nhà Nguyễn vẫn duy trì Nho học bởi tư tưởng Nho giáo vẫn còn là công cụ cai trị hữu hiệu cho một triều đình phong kiến.
Trường học thời nhà Nguyễn là nơi học sinh đến để học chữ Nho và Nho giáo. Ở nông thôn cũng như thành thị trước khi khoa cử bị bãi bỏ vào đầu thế kỷ 20 đều có những thầy đồ mở trường tư tại gia dạy học.
Thầy đồ đa số là những vị quan về hưu hoặc những người chỉ đỗ tú tài tự ý mở lớp chứ không có sự giám sát của chính quyền.
Một người thầy hay chữ có thể có đến hàng nghìn học sinh theo học.
Với số đông như vậy thầy giáo thường chọn lấy một người học trò giỏi giang hơn cả mà giao phó trách nhiệm làm trưởng tràng, giúp thầy trông coi các môn đệ.
Ngoài ra lại có cán tràng và giám tràng hiệp lực.
Trẻ con muốn nhập học thì thường mang xôi, gà đến biếu thầy và làm lễ khai tâm, cúng Khổng Tử để xin làm đệ tử.
Ở những làng giàu có thì một phần công điền gọi là "học điền" có thể được dùng để lấy tiền gạo nuôi thầy đồ trong làng, còn ở những làng không có phương tiện thì chỉ nhà giàu mới có tiền cho con theo học mà thôi.Ngoài ra còn có một số cơ sở giáo dục thuộc nhà chùa, tuy không với mục đích dạy học trò để thi đỗ nhưng cũng góp phần vào việc đào tạo một số người.
Triều đình thì ở cấp huyện trở lên mới tham gia trong việc giáo dục. Thấp nhất là trường huyện có quan huấn đạo (hàng thất phẩm) dạy. Lên tới phủ thì quan Giáo thụ (hàng lục phẩm) rồi Đốc học (hàng tứ phẩm) ở trường tỉnh trông coi.
Kể từ năm 1803 thì ở Huế mở trường Quốc Tử Giám để các con quan và những người trúng tuyển ở các tỉnh vào thụ giáo các quan tế tửu và tư nghiệp.

UserPostedImage

Về tổ chức khoa thi, đời vua Gia Long chỉ tổ chức thi Hương, nhưng đến đời vua Minh Mạng khoa cử được chỉnh đốn lại và năm 1828 mở thi Hội, rồi thi Đình để chọn tiến sĩ.
Vua Minh Mạng cũng ra thêm học vị Phó bảng năm 1829 để chọn đỗ thêm người.
Đặc biệt, việc thay đổi thời này là việc bỏ Đệ nhất giáp, học vị Trạng Nguyên, Bảng nhãn không còn trên khoa bảng nữa. Những thay đổi ở đời Minh Mạng kéo dài mãi đến năm 1919, thể chế khoa bảng chính thức bị bãi bỏ.
Năm 1887, thực dân Pháp xâm lược ở nước ta, người Pháp đã tổ chức ra một bộ máy cai trị khá hoàn chỉnh từ trung ương cho đến địa phương, cách tổ chức thi cử,giáo dục từ đó cũng thay đổi theo.
Trong giai đoạn đầu (1862-1917) ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ có sự tồn tại song song giữa một chế độ khoa cử kiểu Nho giáo, và chế độ giáo dục của Pháp ở Nam Kỳ.
Như vậy, nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng áp dụng hình thức thi cử theo lối nho giáo tồn tại cả ngàn năm. Cùng nhìn lại khoa cử, giáo dục thời Nguyễn:
UserPostedImage

Bảng vàng.& Sĩ tử và thân nhân nghe xướng danh.

theo líchuvietnam
2009

Edited by user Tuesday, March 13, 2012 8:14:57 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
UyenVy  
#24 Posted : Tuesday, March 13, 2012 8:20:56 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
UserPostedImage

Việt Sử Bằng Tranh-Trần Việt Nam

Sách tóm lược lịch sử VN từ thời Lạc Long Quân đến thời kỳ sau 1975.
Lời văn trong sáng, dữ liệu dồi dào và được minh hoạ bởi hoạ sĩ kỳ tài Vy Vy, người đã từng rất nổi tiếng tại miền Nam trước 1975 với những tranh bìa cho các sách, nguyệt san như Tuổi Hoa, Thiếu Nhi...Sách được trình bày bằng 3 sinh ngữ : Việt, Anh, Pháp rất tiện lợi cho các cháu sinh trưởng ở hải ngoại ,muốn tìm hiểu về lịch sử của quê cha đất tổ.
. Con Rồng Cháu Tiên: Theo truyền thuyết, người Việt xuất hiện khoảng 5000 năm trước.
Ông Lạc Long Quân, thuộc dòng dõi Rồng, lấy bà Âu Cơ, thuộc dòng dõi Tiên, đẻ được 100 người con trong cùng một bọc. Khi họ trưởng thành, 50 người con theo mẹ lên núi và 50 người con theo cha xuống vùng đồng bằng gần biển sinh sống.
Mổi năm họ đoàn tụ với nhau một lần. Vì sự tích đó, người Việt được gọi là dòng giống Tiên Rồng.
Sách sử cũng chép rằng ông Lạc Long Quân thuộc dòng họ Hồng Bàng, là dòng họ đầu tiên ngự trị nước Việt Nam.
English
-Dragon and Fairy Legend: According to legend, the first Vietnamese existed about 5000 years ago.
Lac Long Quan, a man descended from dragons, married Au Co, a woman whose ancestors were fairies. Au Co gave birth to 100 children in one pouch.
When the children grew up, 50 of them followed their mother to settle in the mountains, and the other 50 children followed their father to lowlands near the sea. Every year they see each other once.
For that story, the Vietnamese called themselves the Dragon-Fairy.
History books tell us that the first Vietnamese family to dominate the country was the Hong Bang.
French :
-Dragon et Légende féerique: Selon la légende, les premiers Vietnamiens sont apparus il y a environ 5000 ans. Lac Long Quan, un homme descendant de dragons, se maria à Au Co, une femme dont les ancêtres étaient des fées.
Au Co donna naissance à 100 enfants en une seule fois.
Quand les enfants eurent grandi, 50 d'entre eux suivirent leur mère pour s'installer dans les montagnes, et les 50 autres suivirent leur père dans les basses terres près de la mer.
Ils ne se virent qu’une fois l’an.
Pour cette histoire, les Vietnamiens s’appellent le Dragon-Fée.
Les livres d'histoire nous apprennent que la famille Vietnamienne Hông Bang fut la première à dominer le pays.

UserPostedImage

Phù Đổng Thiên Vương: Đời vua Hùng Vương thứ 6, giặc Ân bên Tàu hung bạo đem quân sang chiếm nước ta .
Vua cho tìm người tài giỏi ra đánh giặc giúp nước.
Làng Phù Đổng, Bắc Ninh có một đứa trẻ xin vua một con ngựa sắt và một cây roi sắt để đi đánh giặc.
Khi ngựa và roi đem đến, đứa trẻ vươn vai trở thành một thiếu niên cao lớn lạ thường.
Sau khi ăn thật nhiều cơm của dân làng đem đến, chàng thiếu niên nhảy lên lưng ngựa, cầm roi sắt đánh giặc Ân.
Engl:
-Phu Dong Thien Vuong: During the reign of Hung Vuong the 6th, the Ân from China invaded the country.
The King looked for a brave, heroic person to fight the enemy and save the country.
In Phu Dong village, Bac Ninh, a little boy who had never talked suddenly asked the King for a big iron horse and an iron stick. When the horse and the stick came, the boy stretched out his body to become a young man who was extraordinarily tall.
After eating a huge meal offered by the whole village, the youth jumped onto the iron horse, and using the iron stick as a club, he started to beat the Ân enemy.
French:
-Phu Dong Thien Vuong:
Pendant le règne de Hung Vuong le 6ième, les Ân de Chine envahirent le pays.
Le roi rechercha un brave, une personne héroïque pour combattre l'ennemi et sauver le pays.
Dans le village de Phu Dông, Bac Ninh, un petit garçon qui n'avait jamais parlé tout à coup demanda au Roi un grand cheval de fer et un bâton de fer.
Quand le cheval et le bâton arrivèrent, le garçon étira son corps pour devenir un jeune homme extraordinairement grand.
Après avoir mangé un énorme repas offert par le village tout entier, le jeune homme sauta sur le cheval de fer et, en utilisant le bâton de fer comme d’un club, il commença à combattre l'ennemi Ân.
UserPostedImage
UyenVy  
#25 Posted : Tuesday, March 13, 2012 8:23:14 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
UserPostedImage

Hai Bà Trưng: Năm 40, Thái thú Tô Định tàn ác, lòng dân Giao Chỉ oán hận. Tô Định giết Thi Sách là chồng bà Trưng Trắc. Bà Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị mộ quân đánh đuổi Tô Định chạy về Tàu .
Hai Bà tự xưng là vua đóng đô ở Mê Linh.
English
Hai Ba Trung: In 40, the people of Giao Chi began to rebel against To Dinh, a very cruel Chinese governor.
They felt great animosity towards him. Among those killed by To Dinh was Thi Sach.
Trung Trac, his widow, and Trung Nhi, her sister, raised troops and chased To Dinh all the way back to China. The two women proclaimed themselves the new kings of Giao Chi and built their capitol at Me Linh.
French
Hai Bà Trung:
En l’an 40, le peuple de Giao Chi commença à se rebeller contre Tô Dinh, un gouverneur Chinois très cruel. Ils ressentaient beaucoup d'animosité à son égard.
Parmi les personnes tuées par Tô Dinh figure Thi Sach. Trung Trac, sa veuve, et Trung Nhi, sa sœur, levèrent des troupes et poursuivirent Tô Dinh tout le long du chemin menant à la Chine. Les deux femmes se proclamèrent les nouveaux rois de Giao Chi et construisirent leur capitale à Mê Linh.
UserPostedImage

Đức Thánh Trần Hưng Đạo: Năm 1283, quân Nguyên hùng mạnh kéo sang. Vua Nhân Tông sai Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Trần Quang Khải, Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão ra chống giặc.
Lúc đầu quân ta thua to rút lui khỏi thành Thăng Long. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn soạn quyển Binh Thư Yếu Lược và bài Hịch Tướng Sĩ để huấn luyện và khuyến khích ba quân.
Hưng Đạo Vương là một vị tướng tài ba được dân ta tôn làm Đức Thánh Trần Hưng Đạo.
English:
Saint Tran Hung Dao: In 1283, the Mongolian Nguyen army advanced vigorously towards our country. The king Nhan Tong ordered Tran Hung Dao, Tran Binh Trong, Tran Quang Khai, Yet Kieu, Da Tuong and Pham Ngu Lao to fight the enemy.
In the beginning, our army was defeated and had to withdraw from Thang Long capitol. Hung Dao Vuong wrote Binh Thu Yeu Luoc (the Resume of Military Tactics) and Bai Hich Tuong Si (The Officers Edit) to train and encourage the army. He was a genius general who was called Saint Tran Hung Dao by our people.
French :
Saint Trân Hung Dao:
- En 1283, l'armée mongole Nguyên avança vigoureusement vers notre pays. Le roi Nhân Tông ordonna à Trân Hung Dao, Trân Binh Trong, Trân Quang Khai, Yêt Kiêu, Da Tuong et Pham Ngu Lao de combattre l'ennemi.
Au début, notre armée fut vaincue et dût se retirer de la Capitale Thang Long.
- Hung Dao Vuong écrivit Binh Thu Yêu Luoc (le résumé des tactiques militaires) et Hich Tuong Si (l’édit des officiers) pour former et encourager l'armée. C'était un général génial que notre peuple appelait Saint Trân Hung Dao

Trần Việt Nam
UserPostedImage
UyenVy  
#26 Posted : Wednesday, March 14, 2012 11:35:06 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Lịch Sử Ra Đời Của Chợ Lớn

Đúng là luôn luôn trong óc tôi thưở ấu thơ, Chợ Lớn là một phố khách. Người Tầu sống trong đó là những người khách, nhiều người Việt thích gọi họ là “khách trú” hơn “các chú”. Gần sát nách đó, nhưng vẫn là khách.
Một thế giới hoàn toàn khác biệt. Những bảng hiệu người Việt đọc không hiểu, cách ăn mặc (áo xẩm, áo xường xám …) khác biệt. Ngôn ngữ khác biệt, nếu họ muốn nói tiếng Tầu với nhau, người Việt không hiểu, nhưng người Việt nói gì, phần đông họ hiểu.
Những ngõ ngách trong Sàigòn thân quen với tôi bao nhiêu, thì trong Chợ Lớn lại kỳ bí, đáng ngại bấy nhiêu.
Có lần đi xe Honda tìm nhà trong vài xóm tại Chợ Lớn, tôi có cảm giác có hàng chục con mắt theo dõi mình ngay từ đầu xóm, dù rằng phần đông đều là những ánh mắt hiền lành, nhưng cảm giác mình là kẻ xa lạ rất rõ rệt. Cảm giác thực của sư “tha hương trên chính quê hương”.
Ngay cả cách thờ phượng cũng khác người Việt. Những bức tượng Quan Công, Châu Xương, Quan Bình đặt ở đâu là tờ giấy khai nguyên quán của chủ nhà gần như trúng trên 90%.
Người Việt ít ai thờ Quan Công lắm, có thể nói là người Việt gốc thì hoàn toàn không .
Kiến trúc nhà cửa tại Chợ Lớn giống những Phố Tầu trên khắp thế giới nhiều hơn là giống kiến trúc người Việt.
Nhất là từ sau khi người Pháp đặt sự cai trị tại Miền Nam, thì Sài Gòn có nhiều khu nhà kiến trúc theo kiểu thực dân Pháp, dần dần được Việt Nam hóa, phân biệt rạch ròi hai lối ở khác hẳn nhau.
“Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”. Giới anh chị Chợ Lớn cũng có trùm riêng cai trị, tên là Mã Thầu Dậu
Chợ Lớn đã có những trường Tầu, mà vài người bạn Tầu hồi nhỏ trong xóm tôi, phải về đó “du học”. Trường nổi tiếng nhất là trường Bác Ái.
Với nhiều tiệm ăn Trung Hoa, Chợ Lớn đương nhiên là nơi ăn uống rất ngon, và với tài năng buôn bán của cộng đồng Hoa Kiều, cộng với hệ thống mạng lưới kinh doanh chằng chịt trong nước, lẫn Đông Nam Á. Chợ Lớn đương nhiên có những chi phối nhất định trên nền kinh tế cả nước Việt Nam.
Trên lãnh vực chính trị, Chợ Lớn hồi đó, nghiễm nhiên được đa số người dân Việt Nam, hiểu ngầm là có những quan hệ sâu xa với Hồng Kông, Đài Loan và Trung Hoa Lục Địa.
Không rõ 10 bang người Hoa sinh sống tại Chợ Lớn vào giai đoạn ông Mã Tuyên làm tổng bang trưởng, là gì, nhưng 5 bang chính gọi là “ngũ bang” gồm Quảng Đông, Tiều (Triều Châu), Hẹ, Hải Nam, và Phước Kiến.
Nhiều người Hoa (Tầu) đến từ những tỉnh miền duyên hải phía Nam Trung Hoa (từ sông Dương Tử trở xuống) định cư tại Chợ Lớn. Họ họp nhau, sống chung với nhiều phân khu từng bang hội, tùy theo gốc tích cố hương, vừa vui sống mà vừa dễ sống.
Trong giai đoạn phát triển Chợ Lớn, dưới thời Pháp thuộc, họ được người Pháp cho nhiều dễ dãi, thoải mái, điển hình là việc xây dựng nhà cửa, phố xá, quy hoạch những khu dân cư, cho phù hợp với lối sống truyền thống của họ, miễn là hòa nhập vào môi trường địa lý, sinh hoạt mới .
Do đó, những tên hẻm được đặt với những từ cuối như Lý, Hạng, Phường đã được thấy, như hẻm Tuệ Huê Lý (làng Tuệ Huê) ở bên hông hội quán Tuệ Thành của bang Quảng Đông, còn sót lại cho đến năm nay (2012), sau nhiều biến cố đổi thay “thương hải biến vi tang điền”.
Lý như trong “lý trưởng” có nghĩa tương đương với làng, hoặc thôn. Đó là một quần thể tập hợp khoảng vài chục nóc nhà, họp thành một đơn vị cư trú.
Hạng như trong câu thơ “Từ Ô Y Hạng rủ rê sang” của nhà thơ Quách Tấn, có thể dịch là xóm, qui tụ khoảng mươi nóc nhà cận kề nhau. Thường ra, một ông đại gia nào đó, mua một khoảng đất lớn sát một con lộ lớn.
Trên miếng đất đó ông cho xây ngoài mặt tiền những cửa hàng xoay cửa chính ra ngoài lộ.
Giữa những cửa hàng đó, có một con hẻm dẫn vào một khu xóm nhỏ, được lập ở phần sau khu đất, khoảng 7-8 căn nhà, cho họ hàng, con cháu của chủ nhân ở.
Đầu con hẻm thường đắp chữ nổi, hay có bảng gỗ nói lên nơi chốn cố hương của chủ nhân, chẳng hạn “Thái Hồ Hạng”, “Xóm Thái Hồ” vì quê cũ của ông ta ở Hàng Châu.
Còn Phường lại là nơi qui tụ những người cùng chung một nghề với nhau. Thường là một hẻm cụt, gồm vài chục căn nhà mà những người làm cùng nghề, hoặc chung một ông chủ, chung tiền ra mua, hoặc được chủ cho ở.
Thí dụ như hẻm “Hào Sỹ Phường” là nơi có 34 căn nhà của những công nhân làm nghề chế tạo xà phòng (xà bông) , chà gạo cho một ông tên là Hào Sỹ.
Phố Tầu tại Nhật không nằm ngay thủ đô Edo (Tokyo), mà nằm tại thị trấn cảng Yokohama. Phố Tàu tại Pháp nằm tại quận số 13, bao bởi 3 con đường rue de Tolbiac, avenue de Choisy và boulevard Masséna.
Cả hai khu Phố Tầu này không lớn, không được nằm ở khu trung tâm thành phố, nhưng cũng như hầu hết mọi khu Phố Tầu nào khác trên thế giới, đều phải có một cái đền, mà nhiều người gọi là chùa Tầu. Thiếu đền Tầu, chùa Tầu thì không thể gọi là Phố Tầu.
Đương nhiên là Phố Tầu lớn hạng nhất trên thế giới như tầm cỡ Chợ Lớn phải có một cái đền, đó là Đình Minh Hương. Chữ “hương” mới đầu viết Hán tự theo nghĩa là “hương hỏa” tức “cúng kiếng”, sau viết theo nghĩa “làng” từ năm 1827. (1).
Đền này với cái tên không, cũng đủ cho thấy sự khác biệt với các đền Phố Tầu khác.
Đình chứ không phải là đền. Đình trong văn hóa Việt Nam là đơn vị quan trọng dính liền với làng.
Đình Minh Hương được dựng cho làng Minh Hương, chứ không phải cho một phố buôn bán, như những Phố Tầu mà ta thấy tại khắp nơi trên thế giới.
Người Tầu qua Chợ Lớn (Việt Nam) sinh sống không phải vì sinh kế như tại Úc, hoặc Mỹ (phong trào đổ xô kiếm vàng), hay vì lý do thương mại như tại Nhật…
Họ qua vì lý do chính trị (như họ đến Canada, Vancouver sau này, khi Hương Cảng phải trả lại cho Trung Hoa Lục Địa).
Chợ Lớn dã được xây dựng bởi những con người tỵ nạn chính trị. Minh Hương có nghĩa là những người dân Tầu đi theo những di thần-di tướng, dưới triều Minh (1368-1644), vì không chấp nhận nhà Thanh toàn chiếm nước họ (1662), nên đã phải bỏ qua Việt Nam, sau cái chết của vua Vĩnh Lịch Chu Do Lang.
Qua tới Việt Nam, bất kể nguồn gốc cố hương, Quảng Đông, Hải Nam, Triều Châu, Hẹ, hay Phước Kiến…, nói phương ngữ khác nhau, các di dân nhà Minh cũng quây quần sống chung với nhau, tổ chức thành làng xã, theo kiểu Việt Nam, và cũng xây cái đình như người Việt Nam.
Trong đình, thay vì họ thờ Phật, Thánh hay Quan Công như mọi Đền Tầu nơi khác, mà thờ Thành Hoàng, các bậc tiên hiền, hậu chủ, và các danh nhân gốc Minh Hương, như vị võ tướng Trần Thượng Xuyên, một trong những di tướng nhà Minh, sau thành doanh nhân, khai phá Cù Lao Phố.
Hay một ông tướng học trò của Võ Trường Toản, mà ông nội đã có mặt trong nhóm 3000 người tỵ nạn tại Đàng Trong, tên là Trịnh Hoài Đức (1765-1825), người đã có công lớn phò tá vua Gia Long,
Trịnh Hoài Đức lại là tác giả những bộ sách địa dư chí nói về vùng đất Gia Định (sáng tác bộ Gia Định Thành Thông Chí, đồng sáng tác Gia định Tam Thi - đồng sáng tác Nguyễn Hữu Cảnh


UserPostedImageUserPostedImage
UserPostedImage
UyenVy  
#27 Posted : Wednesday, March 14, 2012 11:36:35 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Tóm lại, vào mùa xuân năm 1679, tức là năm mà các tướng quân thuộc lực lượng “Kháng Thanh Phục Minh” của Trịnh Thành Công (Hán tự Giản thể:郑成功, Phồn thể: 鄭成功, bính âm: Zhèng Chénggōng) trước đây, từ Trung Hoa mang 3000 di thần, di dân nhà Minh di tản trên 50-60 chiến thuyền tới các cửa tại Thuận An, Đà Nẵng xin tị nạn, thì ông phó vương Miên trấn thủ vùng Thủy Chân Lạp là Nặc Ông Nộn, đang có kinh thành tại Prei Nokor (Sài Gòn), lại là con ruột của công chúa Ngọc Vạn, và là anh em họ với Chúa Hiền (cháu gọi Sải Vương là ông nội).
Chúa Hiền liền viết thư cho Nặc Ông Nộn, yêu cầu Nặc Ông Nộn chia cấp đất cho 3000 di dân Minh Hương làm ăn sinh sống quanh vùng Prei Nokor, nhân thể trở thành lực lượng bảo vệ cho triều đình phó vương Chân Lạp lai Việt này. Phó vương Nặc Ông Nộn đồng ý.
Có lẽ, Chúa Hiền lúc đó đang ngần ngại về việc phải đưa quân đi xa mang tiếng. “Ngặt cái, nếu không đỡ đần người anh em họ, thì chắc Nặc Ông Nộn sẽ khó mà trụ lâu.
Nay nhân gặp chuyện khó xử, chuyển xui thành hên, phân nhóm 3000 người tỵ nạn ra làm hai, cho họ tới khai khẩn đất, tự sống, không tốn tiền ai cả”.
Hơn nữa, với võ công đã có, hai nhóm người này dư sức tự bảo vệ, và bảo vệ cho cả triều đình phó vương Nặc Ông Nộn.
Nhưng, Chúa Hiền cũng ngại, nếu cho họp hết 3000 người vào một nơi, họ có thể tạo thành thế lực lớn, gây nguy hiểm cho phó vương.
Do đó, giải pháp tốt đẹp nhất là phân ra làm hai nhóm, cho người hướng dẫn đưa họ tới hai miền đã có người Việt sinh sống, hơi xa khu triều đình tại Prei Nokor, tránh được nguy cơ chính trị, nhưng lại là hai cửa chắn tầm mức chiến lược quân sự quan trọng để bảo vệ Đàng Thổ.
Còn những toan tính “xâm thực” dần dần, có thể có hay không, trong lòng Chúa Hiền, và các đại quan người Việt…, lại là một chuyện khác, thật khó có bằng cớ để luận bàn những “toan tính lịch sử”.
Như vậy, coi như đã sáng tỏ việc tại sao, viên cựu tổng binh nhà Minh ở thành Long Môn, Quảng Tây, Dương Ngạn Địch (楊彥迪,-1688), đã được phép triều đình Huế đem thuyền chở người đến vùng đất Peam Mesar (Mỹ Tho) tiến vào cửa Lồi Lạp, theo cửa Đại, cửa Tiểu, qua Xoài Rạp để khai khẩn, sinh sống. và viên cựu tổng binh ba châu Cao, Lôi, Liêm, Quảng Đông, Trần Thượng Xuyên ((陳上川, 1655–1720)) đem thuyền chở người vào cửa Cần Giờ, đến ở vùng Kâmpéâp Srêkatrey (Biên Hòa) định cư tại Bàn Lân.
Ba ngàn người Minh Hương, coi như những người “Việt vừa nhập tịch”, đã được triều đình Chân Lạp, đại diện là một vị Phó Vương, đầu tiên chính thức cấp đất, làm chủ tại Miền Nam.
Khác với đoàn thuyền của cựu tổng binh Zhèng Chénggong (hay Yang Andi hay Dương Ngạn Địch) đi tới một nơi không có đồn lũy của nhà Nguyễn được ghi rõ lại trong sử (dù rằng người Việt đã tới sinh sống tại đây từ trước, do đó triều đình Huế mới chỉ định chỗ đến).
Đoàn thuyền của cựu tổng binh Chen Shang Chuan (Trần Thượng Xuyên) đi qua cửa Cần Giờ, vào đến Bến Nghé, không thể nào không tiếp xúc với người Việt đang sinh sống ở đó, nơi có hai cơ sở hành chánh là hai trạm thu thuế đã được Chúa Sải lập từ năm 1623, một ở Bến Nghé
(Quận I vào năm 2012, hồi đó có tên là Kas Krabei, sau là Bến Nghé), và một ở Phiên Trấn (Quận 5 vào năm 2012 hồi đó có tên là Prei Nokor, sau là Sài Gòn rồi Chợ Lớn).
Người Việt sống tại đây được một đồn dinh bảo vệ, được lập cùng năm, tên là đồn binh Tân Mỹ, gần chợ Thái Bình ngày nay.
Khu vực giữa Kas Krobei và Prei Nokor là nơi các thương nhân Việt Nam sinh sống, khi họ đi làm ăn với các nước Xiêm, Chân Lạp…
Mười chín năm sau đó, tức vào năm 1698, ngay tại vùng Phiên Trấn này, đã thấy hình thành làng Minh Hương đầu tiên tại Việt Nam.
Đến đây, ta có thể đặt ra câu hỏi: “Tại sao làng Minh Hương đầu tiên không được thành lập tại Cù Lao Phố (Biên Hòa), một nơi cưc kỳ phồn hoa đô hội, hay vùng Mỹ Tho là nơi dân Minh Hương đang canh tác, và phát triển nông- công-ngư nghiệp ?”.
Câu trả lời có thể, đây là đầu cầu liên lạc chính thức giữa những người Minh Hương và người Việt.
Đó là nơi mà người Minh Hương đã gặp quan Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700) vào Nam lập phủ Gia Định (1698), xác nhận quyền sở hữu chính trị của người Việt, để xin thành lập làng Minh Hương ngay trên vùng lãnh thổ mới khai sinh.
Những nhân vật đại diện người Minh Hương tại đây phải là những người cự phách, được sự tin cẩn của mọi bang hội người Minh Hương, không những từ trong hai nhóm của hai cựu tổng binh, mà còn từ nhóm ông Mạc Cửu (鄚玖,hay Mạc Kính Cửu (鄚敬玖): 1655 - 1735), đã đến Hà Tiên từ năm 1671 nữa.
Những người dân tại đây khá giả, phong lưu, như câu ca dao nói về phong hóa làng Minh Hương:

Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng
Đố ai lịch sự cho bằng làng Minh Hương.
Đó là đất Phiên Trấn (tạm gọi khu đất nằm trong vùng đất tên Prei Nokor, dân Việt gọi là Sài Gòn, rồi đổi tên thành Chợ Lớn) nằm gần ngay một con rạch rất thuận tiện (không rõ tên gọi lúc đó, nhưng vào thời vua Gia Long trị vì, đã có tên là rạch An Thông,
Sau đó được vét lại rồi mang tên Kinh Tàu Hũ, Pháp gọi là Arroyo Chinois).
Diện tích vùng đất, vào lúc phát triển sau này, để trở thành khu phố chợ cho người Hoa vào khoảng hơn 1 cây số vuông.
Mới đầu, người ta đặt tên hành chánh vùng đất đó là Phiên Trấn, sau người Tầu gọi là, Tài-Ngọn (Đề Ngạn),
Thầy-Ngọn, Xi Coón, Sài-Côn, Tây-Cống (nhưng người Việt luôn gọi là Sài-Gòn), để phân biệt với khu người Việt sinh sống là Bến-Nghé.
Có rất nhiều xác suất, chính nhóm của ông Trần Thượng Xuyên đã nhìn ra địa lợi đầu tiên của vùng đất mang tên Chợ Lớn sau này (sau khi tên Sài-Gòn được đem đặt cho Bến Nghé)
Tương tự như lý do tại Biên Hòa, nhóm này đã chuyển từ Bàn Lân lên Cù Lao Phố, để lập nghiệp.
Lý do chính là Bàn Lân là nơi rừng rú, lúc đó còn nhiều hươu nai ở, người Việt sống tại đây săn bắn với làm nông, rẫy là chính (Lộc Dã chính là chữ Hán để dịch nghĩa cánh đồng có nhiều nai,
Đồng Nai tiếng Việt, người Tầu đọc ngọng thành Nông Nại).
Ở chung với người Việt một thời gian, những người Tầu gốc Đông Nam Trung Quốc, thạo nghề công nghiệp, và nhất là mua bán, phát hiện ra một nơi mà người Việt gọi là phố cù lao, sau này họ gọi là Cù Lao Phố.
Đó là một bãi cát do sông Hương Phước (một đoạn sông Đồng Nai) bồi lên. Chiều dài khoảng 3 cây số, chiều ngang khoảng 2 cây số.
Tuy Cù Lao Phố khá xa biển, nhưng nhờ đường sông sâu, rộng, nước chẩy hiền hòa có thể đi ra biển qua nẻo Cần Giờ, hoặc bắt đường bộ sang Miên, hay lên miền Bắc khai thác lâm sản.
Không mấy lâu sau, đại đa số người Hoa dời ra sống trên Cù Lao Phố, làm ăn buôn bán phát đạt. Khu này mau chóng biến thành một trung tâm kinh tế đầu não cho cả vùng Đông Nam Bộ, lên đến Miên. (5)
Nhưng Cù Lao Phố không thể thành một trung tâm hành chánh, hay kinh tế cho cả Miền Nam.
Vị trí của nơi này phải là nơi giao điểm của những giao thương quốc nội, và quốc tế. Bến Nghé đã là nơi của Chúa Nguyễn giành cho người Việt, nhưng Phiên Trấn lại nhờ con rạch nhỏ (có thể sau này có tên là An Thông, rồi đào lớn thành Kinh Tàu Hủ, có người gọi là Kênh Cổ Hủ.
Và cho là vì hình dạng như cổ cái hũ, to rồi thắt lại), mà có thể là nơi giao lưu đi khắp nơi, tầu từ Trung Hoa, Mã Lai, Ấn Độ, Hòa Lan … ghé cảng Bến Nghé, xuống hàng hay nhận hàng tại đó.
Rồi theo những đường sông rạch mà qua các tỉnh miền đông và miền tây.
Lý luận trên chỉ có lý khi lúc đó có một con rạch nối từ sông Sài Gòn (tức khu Bến Nghé) đến Prei Neikor, mà sau này được đào rộng ra thành con Kinh Tàu Hủ.
Theo như tác giả Vương Hồng Sển, thì trong địa đồ của ông Trần Văn Học vẽ về tỉnh Gia Định (trước năm 1815) thì không thấy con rạch đó.
Theo thiển ý, tác giả Lê Ngọc Trụ đã không sai khi cho rằng có một con lạch nhỏ, đúng như Trịnh Hoài Đức đã ghi lại trong bộ Gia Định Thông Chí.
Nhưng có lẽ đến lúc ông Trần Văn Học vẽ địa đồ, nó đã gần như bị lấp, nên sau đó vua Gia Long cho lệnh phải đào rộng ra thành con Kênh Tàu Hủ.
Đừng quên rằng hệ thống kinh rạch đã biến đổi rất nhiều với thời gian.
Nhiều con rạch đã bị lấp như con rạch Chợ Lớn, ngày xưa từng là đường giao thông thịnh vượng.
Những thức ăn, mỹ phẩm, đồ cúng kiếng, vật liệu xây cất … từ bên Tầu có thể dễ dàng theo đường biển vào tới sông Sài Gòn, mượn cảng Bến Nghé xuống con lạch nào đó, chẳng hạn rạch Bến Nghé , rồi được chuyển tới những kho chứa hàng để sau đó tản đi mọi nơi
UserPostedImage
UyenVy  
#28 Posted : Wednesday, March 14, 2012 11:40:13 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Tuy nhiên, để cho khu Phiên Trấn (Sài Gòn) trở thành một khu chợ khổng lồ của người Minh Hương và Hoa Kiều, còn cần phải thêm nhiều máu và nước mắt.
Vào năm 1747, tức 68 năm sau khi hai ông cựu tổng binh họ Dương và họ Trần cùng 3000 di thần, di dân nhà Minh, quyết để tóc dài, không chịu thắt bím, thà làm người dân thường đất Nam (An Nam Dzành), chứ không hàng nhà Thanh.
Có một nhóm khách thương người Phúc Kiến, đã muốn “tạo riêng một góc triều đình Trung Quốc” tại Cù Lao Phố.
Họ thường đi đi về về qua khu phố sầm uất này buôn bán, bàn luận với nhau, bỗng nổi lòng tham, một phần thấy tài sản đâm mù lý trí, một phần coi thường triều đình Huế ở quá xa.
Lý Văn Quang họp trên dưới cả trăm người gốc Hoa, đánh úp dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa sau này), giết chết Cẩn Thành Hầu (Nguyễn Cư Cẩn), là viên quan người Việt cai quản dinh.
Sau đó Lý Văn Quang tự xưng vua, lấy tên là Giản Phố Đại Vương. Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát nghe tin báo, ra lệnh cho Cai Cơ Tống Phước Đại (tước Đại Thắng Hầu) đem quân đi dẹp. Từ Mô Xoài, quân nhà Nguyễn kéo vào Trấn Biên, phá tan và bắt giam Lý Văn Quang, cùng đồng bọn 57 người.
Cù Lao Phố chịu nhiều thiệt hại, nhưng tai hại nhất là lộ ra tính bất an ninh của vị trí.
Dân chúng tại đây, có thể tin vào phong thủy không tốt của vùng đất bồi, thu góp tài sản đi tìm một nơi an ninh, văn minh hơn để sống.
Họ thấy, không đâu bằng khu Phiên Trấn gần Bến Nghé, nơi có đồn binh Chúa Nguyễn đóng kề.
Hơn nữa, rất có thể, bây giờ đã có tiền, có của, họ chọn nếp sống thị thành, chuyên thương mãi, làm tiểu công nghiệp, dễ sống, đỡ mệt thân hơn.
Vào thời Cù Lao Phố bị loạn, chính sự của triều đình Huế cũng đã không còn tốt đẹp như trước.
Vũ Vương tham lam, đánh thuế dân với một hệ thống nhiêu khê, phức tạp.
Thuế thổ sản đánh trên hàng ngàn thứ, chi li bần tiện. Quan lại cấp dưới, nhân vào đó, mà tham nhũng, ức hiếp dân nhiều hơn. Thượng Bất Chính Hạ Tắc Loạn là câu người Tầu thường dùng để nói về việc “dột từ nóc dột xuống” của một cơ cấu chính trị, hành chánh, rất ứng vào giai đoạn này.
Cho đến khi Vũ Vương chết (1765), tức thì xẩy ra vụ Trương Phúc Loan chuyên quyền, giết cha của Nguyễn Ánh, triều chính rối ren, quân Trịnh từ Bắc đánh vào, lại đến chiến tranh giữa Tây Sơn và nhà Nguyễn (bắt đầu vào năm 1771), làm đời sống người dân Miền Nam rối bù.
Lúc đầu, đa số người Hoa Kiều hầu như đứng ngoài mọi biến cố chiến tranh và chính trị của người Việt. Cho đến lúc có lực lượng người gốc Hoa như đạo quân của Lý Tài, Tập Đình tham gia lực lượng Tây Sơn.
Đặc biệt là đội Hòa Nghĩa Quân (Harmony Army) do Lý Tài chiêu mộ, trong những người Hoa miền Nam Trung Bộ, được thành lập từ năm 1773, từ đó mới bắt đầu lộ sự khác biệt giữa những người Việt “thuần”, với người gốc Hoa.
Trong khi đó, tướng Đông Sơn Đỗ Thanh Nhân, gốc Minh Hương (Hương Trà, Thừa Thiên), lại phò quân nhà Nguyễn.
Tập Đình bỏ cuộc rất mau, chỉ thất bại có một trận dưới tay quân Trịnh, đã tìm đường chạy về Tàu.
Lý Tài cũng bị đánh bại liên tiếp, cho đến khi chịu làm phó tướng, nhường chức đại tướng chỉ huy cho Nguyễn Huệ, mới thắng được trận Phú Yên.
Tuy nhiên, Lý Tài đâm ra bất mãn, thù hận và nghe theo lời chiêu dụ, về đầu hàng tướng nhà Nguyễn là Tống Phước Hiệp.
Vì cùng ham mê quyền hành tối cao, hai ông tướng gốc Hoa là Đỗ Thanh Nhân và Lý Tài tranh chấp, đem quân tàn sát nhau ngay sau khi Tống Phước Hiệp chết.
Mới đầu Đỗ Thanh Nhân yếu thế hơn, phải về trấn giữ Bến Nghé, Lý Tài đóng ở núi Châu Thới.
Nhưng sau đó, Lý Tài, đánh thua quân Nguyễn Huệ, chạy về ngang Ba Giồng, bị quân của Đỗ Thanh Nhân đón đường giết chết (1777). Tuy vậy, một số tàn quân Nghĩa Hòa của Lý Tài vẫn tiếp tục ủng hộ ngầm Nguyễn Ánh.
Năm 1778, sau khi bị Tây Sơn phá hủy Cù Lao Phố (Biên Hòa), người Hoa đành chạy về vùng Phiên Trấn (tức Prei Nokor hay Sài Gòn), tức khu đã có làng Minh Hương, để sống gần đồng hương.
Ngờ đâu, vụ Lý Tài phản Tây Sơn và các tướng Minh Hương như Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đều là tướng nhà Nguyễn, lại trở thành tai họa cho người Việt gốc Hoa, thật ra, vào lúc đầu, đa số muốn đứng ngoài cuộc chiến tranh.
Trong khoảng những năm 1776-1779, trong mấy lượt quân Tây Sơn vào đánh Miền Nam, Cù Lao Phố nhiều lần bị tàn phá trong các cuộc giao tranh. Một số tác giả sau này, dựa vào sách của Trịnh Hoài Đức, cùng lời kể từ ông cha họ, cho biết nhà cửa dân chúng, tiệm buôn, phố xá, kho chứa hang bị thiêu đốt nhiều không thể kể.
Các cơ sở thủ công bị gỡ phá, vật liệu quí báu cũng bị cướp. Dân chúng bị ức hiếp, thậm chí tàn sát.
Trịnh Hoài Đức mô tả: “Nơi đây biến thành gò hoang, sau khi trung hưng người ta tuy có trở về nhưng dân số không được một phần trăm lúc trước'' ( theo Gia Định thành thông chí)
Những người Minh Hương còn sống sót bồng bế nhau lánh nạn về Bến Nghé, và Phiên Trấn.
Họ hợp với nhóm người Hoa Kiều tỵ nạn họa Tây Sơn từ Mỹ Tho, và những vùng khác, thành đợt di cư lớn năm 1788, tới vùng mà sau này gọi là Chợ Lớn (trước 30/04/1975; quận 5, quận 6 sau 1975).
Họ lập chợ, biến vùng này thành trung tâm thương mại lớn nhất Miền Nam sau này, khi Cù Lao Phố tàn tạ, còn Mỹ Tho dần bị Việt hóa, dù nền sản xuất nông - ngư sản và kinh doanh hàng hóa địa phương ở thời điểm đó đã có những bước phát triển ngoạn mục, đặc biệt là ngành buôn bán, giao thông đường thủy.
Người Việt đánh nhau là một chuyện, việc mua bán với nước ngoài, và bên trong nước vẫn tiếp diễn.
Chu'thich'
Về chuyện Chợ Quách Đàm( theo lời kể Vương Hồng Sển ) ngày 12-4-1961, ông Bác sĩ Diên Hương, về ẩn trên Đà Lạt (nay đã từ trần), có viết cho tác giả một bức thơ, nay xin đăng nguyên văn để công lãm: "
... Lúc đó Chánh Tham Biện Chợ Lớn thấy Chợ Cũ (ở chỗ nền nhà Bưu Điện Chợ Lớn hiện thời) nhỏ hẹp, không đủ cho bạn hàng nhóm chợ, và cũng muốn mở mang châu thành, mới kiếm đất xa Chợ Cũ cất một cái chợ mới cho rộng cho lớn.
Ông biết có một ông điền chủ ở châu thành, người Việt Nam dân Pháp, có đất rộng lớn, mới mời đến hỏi mua.
Ông điền chủ nầy không thấy rộng nghe xa, tưởng là gặp cơ hội, liền ưng thuận mà với một giá mắc quá tưởng tượng.
Ông Quách Đàm nghe chuyện đó, liền cho người đến dâng một miếng đất rộng hơn (chỗ chợ ngày nay) không đòi tiền, chỉ đòi được phép cất phố và sập chung quanh chợ, để sau này cho mướn... ông Chánh lẽ tất nhiên chịu liền..."
Chợ Bình Tây được khởi công từ năm 1928 và hoàn thành năm 1930, do ông Quách Đàm - quê quán ở Triều Châu, Trung Quốc - bỏ tiền xây dựng.
Chợ được xây cất bằng xi-măng cốt thép theo kỹ thuật phương Tây nhưng lại mang đậm nét kiến trúc Trung Quốc.
Tháp giữa vươn cao có 4 mặt đồng hồ, có “lưỡng long chầu châu”, 4 góc có 4 chòi nhỏ, toàn bộ mái chợ lợp bằng ngói âm dương theo kiểu chồng lớp để tạo sự thông thoáng. Riêng mái ở các góc có nét uốn lượn theo kiểu chùa chiền phương Đông.
Chính giữa chợ có khoảng sân trời rộng rãi, thoáng mát.
Tại đây ông Quách Đàm cho đặt một bệ đá ghi ngày xây chợ cùng bức tượng đồng đen của mình.
Bốn xung quanh bệ đá có 4 con sư tử ngậm châu và 4 con rồng (đều bằng đồng) đang phun nước, hai phía có hồ nước nuôi cá, thả sen…
Lúc sinh thời ông là một doanh nhân làm ăn phát đạt.
Ông đã từng được chính phủ Pháp tặng Bắc đẩu bội tinh vì đã mua đứt một nhà máy đường của Pháp đang làm ăn thua lỗ.
Chợ hoạt động suốt từ 2 - 3 giờ sáng đến 9-10 giờ đêm

Bùi Thụy Đào Nguyên, tổng hợp tư liệu
UserPostedImage
UyenVy  
#29 Posted : Monday, April 9, 2012 1:22:07 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Trở lại vụ mất tích bí ẩn của ông Hoàng Vĩnh San

ÁI CHẾT ĐẦY BÍ ẨN CỦA CỰU HOÀNG DUY TÂN NĂM 1945, LÂU NAY VẪN ĐƯỢC ĐĂNG TẢI NHIỀU TRÊN CÁC BÁO, NHƯNG VẪN CHƯA CÓ LỜI GIẢI. ĐỂ CUNG CẤP CHO ĐỘC GIẢ THÊM CHI TIẾT VỀ SỰ CỐ NÀY, CHÚNG TỒI XIN GIỚI THIỆU ĐOẠN MỞ ĐẦU CUỐN SÁCH CỦA P. JOURNOUD NHAN ĐỀ DE GAULLE VÀ VIỆT NAM (1945-1969 ) ĐẦU ĐỀ LÀ CỦA CHÚNG TỒI.

Ngày 26-12-1945, một chiếc Lockheed Lodestar trên đường bay đến đảo Reunion đã bị rơi xuống đất gần M’Baiki, giữa rừng sâu nhiệt đới của nước Cộng hòa Trung Phi ngày nay. Không một người nào trên máy bay sống sót. Vì không có gì để giải thích “tai nạn” mới này, khiến cho cho những lời bàn tán về bí ẩn của một loạt tai nạn đã xảy ra thêm rôm rả, đường hàng không giữa Paris và Ấn Độ Dương bị coi là con đường ma ám. Nhưng lần này, bi kịch lại có một tầm vóc hoàn toàn khác.
Trong 6 hành khách trên máy bay, có một ông hoàng Việt Nam 45 tuổi, mà quá khứ nổi tiếng và óc thông minh chính trị đã đưa ông trở lại Việt Nam, qua một hiệp nghị bí mật với tướng de Gaulle, để liên kết người Việt Nam thực hiện một cuộc giải chủ nghĩa thực dân một cách hòa bình dưới sự chủ trì của ông Tướng này.
Làm vua An Nam từ năm 1907 đến 1916, dưới niên hiệu Duy Tân, ông hoàng Vĩnh San đã bị nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương đày sang đảo Reunion, cùng với một phần gia đình, sau khi ông đã tham gia chỉ đạo một cuộc nổi dậy nhằm giành lại độc lập cho đất nước.
Ông chấp nhận sự hy sinh đó, khi vừa ra khỏi tuổi vị thành niên, để tránh cho những người tham gia âm mưu khỏi một cuộc đàn áp đẫm máu, trong khi mưu đồ đó đã tỏ ra sẽ thất bại ngay từ khi khởi sự. Trong gần 30 năm, ông đã trưởng thành trong chịu đựng và sống kín đáo ở nơi lưu đày xa xăm, sống nhờ một khoản trợ cấp khiêm tôn của chính phủ Pháp, với vài niềm say mê, như trò chơi vô tuyến điện. Khác với vua cha, cựu hoàng Thành Thái (1889-1907), cũng bị người Pháp hạ bệ và lưu đày đổng thời với con, Vĩnh San không khước từ văn hóa của kẻ thực dân trong quá trình lưu đày.
Ồng cũng không từ bỏ ngai vàng, vẫn tự coi là vị hoàng đế hợp thức cuối cùng của nước Nam, từ chối một ngày kia sẽ giữ vai trò có ích cho đất nước làm mồi cho một nền đô hộ nước ngoài mà ông không thừa nhận trên nguyên tắc, nhưng cũng không sa vào những cuộc tranh chấp nội bộ ngày càng trầm trọng.
Cho nên, trước mối đe dọa gia tăng của chủ nghĩa Quốc xã từ năm 1936, ông đã liên tiếp yêu cầu được tham gia quân đội Pháp, trong khi từ chối một số đề nghị bí mật thoát khỏi sự giam cầm để hoạt động cho Việt Nam, mà ông chủ trương phải trở về một cách xứng đáng.
Nhờ chiếc máy thu thanh khỏe của mình, ông nghe được lời kêu gọi của de Gaulle trên sóng BBC ngày 18 tháng 6-1940, và lập tức tham gia một hình thức kháng chiến bí mật, khiến ông bị giam giữ hành chính một thời gian ngắn theo lệnh của nhà chức trách thuộc phái Vichy ở đảo Reunion.
Khi đảo này gia nhập phong trào kháng chiến của nước Pháp tự do năm 1942, ông làm việc hợp đồng trên chiếc tàu chống ngư lôi Léopard, treo cờ mang chữ thập Lorraine(1), với tư cách là phụ tá rồi phụ trách vô tuyến điện. Mặc dầu đã gửi nhiều yêu cầu xin ra mặt trận, nhà cầm quyền quân sự Pháp, từ lâu đã nghi kỵ ông hoàng dân tộc chủ nghĩa có quá khứ nổi loạn này, nên mãi đến tháng 1-1944 mới chấp nhận đưa ông vào quân đội Pháp với quân hàm chuẩn úy.
Đặc biệt dư luận mạnh mẽ trong quân đội cũng như trong Bộ thuộc địa, khiến cho ông bộ trưởng phải phản đối sự có mặt của ông hoàng ở Paris, thái độ ngập ngừng đó từng bước được vượt qua vào năm 1945, nhờ sự can thiệp cá nhân của tướng de Gaulle.
Được cử làm cao ủy Đông Dương và tổng chỉ huy quân đội ngày 15-8-1945, với sứ mệnh “khôi phục chủ quyền của Pháp trên lãnh thổ Liên bang Đông Dương”, đô đốc d’Argenlieu – một trong những người trung thành với Tướng de Gaulle – được yêu cầu lấy ông hoàng vào trong những người thân cận của mình nhằm sử dụng khi người Pháp quay trở lại Đông Dương. Từ tháng 4-1945, nổi tiếng với những thắng lợi của sư đoản thiết giáp số 2 trong chiến dịch Alsace, đại úy Boissieu được bộ trưởng Chiến tranh André Diethelm giao nhiệm vụ giới thiệu ông hoàng với quân đội(2).
Thay vì giành được các danh hiệu quân đội ở mặt trận chống Quốc xã Đức và Phát xít Nhật mà ông muốn có trước khi trở về nước, ông hoàng Vĩnh San đã nhiều lần chứng tỏ quyết tâm và hiệu quả của mình trong những nhiệm vụ tế nhị. Kết thúc chiến tranh tháng 9-1945, ông làm tiểu đoàn trưởng trong đội quân chiếm đóng nước Đức, được thưởng huân chương Kháng chiến.
Bộ chỉ huy dự tính sau đó sẽ đưa ông về ban tham mưu Sư đoàn 9 bộ binh thuộc địa, lên đường sang Viễn Đông… Trong thời gian đó, ông đã đăng trên báo Combat (Chiến đâu) ngày 16-7, một di chúc chính trị trong đó ông chủ trương Việt Nam phải được độc lập.
Nhưng ông không từ chối một liên minh chặt chẽ với nước Pháp, mà ông nghĩ rằng trong thời kỳ chuyển tiếp có thể ủy thác nhiệm vụ quốc phòng và ngoại giao. Nổi lên hàng đầu các nghĩa vụ mà ông phải gánh vác, ông đặt vấn đề thống nhất đất nước đã bị chính quyền thuộc địa Pháp chia thành Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ. Vì Paris vẫn tiếp tục chống đối, ông đã viết những lời tiên đoán như sau:
“Tôi nghĩ trong tương lai trực tiếp Đông Dương phải được đặt trên cơ sở của tình hữu nghị và cộng đồng các lợi ích chứ không phải trên tư tưởng đô hộ. Tôi sợ những kẻ nóng vội lại kêu gọi vai trò trọng tài của Trung Quốc và Hoa Kỳ. Để làm dịu sự sốt ruột đó, tôi nghĩ rằng nước Pháp phải bày tỏ bằng chứng của ý đồ thực sự giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong sự phát triển và cũng là giành được lòng tin và sự gắn bó của người Việt. Bằng chứng đó là sự xóa bỏ hàng rào ngăn cách Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ…”
Và để chứng tỏ tính thực tế chính trị của mình, ông viết thêm: “Tôi tin rằng mình đã làm hết phận sự của người Nam, khi tôi đem lại cho người nông dân ở Lạng Sơn, ở Huế và ở Cà Mau ý nghĩa của tình huynh đệ. Dù tình đoàn kết đó được thực hiện dưới sự chỉ đạo của một chế độ cộng sản, xã hội chủ nghĩa, quân chủ hay bảo hoàng. Điều chủ yếu là cứu nhân dân thoát khỏi tình trạng Balkan hóa”(3).
Tên của ông bắt đầu lan truyền trong giới cầm đầu quyền lực ở Pháp, một nhúm sĩ quan và người thuộc phái de Gaulle tự gánh trách nhiệm phổ biến chương trình của ông và chuẩn bị mảnh đất cho cuộc trở về ngai vàng nếu có thể.
UserPostedImage
UyenVy  
#30 Posted : Monday, April 9, 2012 1:27:16 PM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Ngày 14-12, ở Paris đã có cuộc gặp gỡ mà ông mong đợi từ lâu: thiếu tá Vĩnh San được de Gaulle tiếp, người mà ông ngưỡng mộ một cách chân tình và trình bày ý tưởng của mình.

Tướng de Gaulle, rõ ràng đã bị con người này thu hút, có vẻ như đã chấp nhận trên những nét lớn. Không thừa nhận về hình thức việc thống nhất đất nước, ông để cho ông hoàng thấy ý tưởng rằng điều đó có thể được chấp nhận trong một thời hạn nào đó.

Trong Hồi ký chiến tranh của de Gaulle cũng như trong thư cá nhân gửi cho một người con của ông hoàng năm 1969, de Gaulle thừa nhận đã “đánh giá cao nhân cách mạnh mẽ của ông hoàng và đặt niềm hy vọng quan trọng vào ông ta”. Về phía Vĩnh San, sau cuộc tiếp xúc, ông xác nhận với người bạn Eugène Thébault, chánh văn phòng chính phủ đảo Reunion, rằng cuốỉ cùng chính phủ Pháp cũng quyết định đưa ông trở lại ngai vàng nước Nam và de Gaulle dự định sẽ đích thân đi cùng ông trong những ngày đầu tháng 3-1946, dành thời gian chuẩn bị dư luận và soạn thảo một loạt hiệp định cần phải ký giữa hai chính phủ. Chuyến đi đó phải trịnh trọng xác nhận việc lập lại hiệp ước Pháp – Việt mà cựu hoàng từng mong ước.
Đối với ông hoàng, độc lập chưa bao giờ có thể cảm thấy sờ mó được như lúc này, dù ông biết rằng nó chưa được thể hiện cụ thể trong lĩnh vực quân sự và ngoại giao, mà phải chờ một thời hạn do nước Pháp định trước. Ý thức được tình hình đói nghèo và hỗn loạn của đất nước khi ông trở về, ông cũng biết rằng các lực lượng Việt Nam và nhiều cường quốc nước ngoài chống lại sự trở về của ông.

Vài ngày sau cuộc gặp gỡ với de Gaulle, ông đâ tiết lộ với một người thân cận rằng người Anh – mà những ý đồ đến ngày nay vẫn chưa được làm sáng tỏ đã đề nghị đưa cho ông một khoản tiền lớn để ông từ bỏ kế hoạch trở lại Việt Nam. Mặc dầu có thiện chí và có trí thông minh chính trị, Vĩnh San có vượt lên trên sự thách thức kinh khủng đó không? Trái với những điều de Gaulle phải viết sau này trong Hồi ký, 30 năm lưu đày có xóa nhòa kỷ niệm về ông vua đó trong tâm hồn người Việt không?
Trong một báo cáo gửi chính phủ đề ngày 28 tháng 12- 1945, Đô đôc d’Argenlieu đánh giá rằng Vĩnh San tiếp tục có nhiều người hâm mộ trong các “giới chức An Nam”(4).

Nhưng ngài cao ủy biết gì về thực tế đất nước này?
Quyết tâm và tính năng động của phong trào cách mạng Việt Nam dưới sự chỉ đạo của “Việt Minh” (một mặt trận chính trị – quân sự do cộng sản cầm đầu, được Hồ Chí Minh và những người phụ tá trung kiên thành lập từ 1941), sự bắt rễ trong quần chúng và ảnh hưởng của nó đến tận những xóm làng xa xăm, chỉ có thể đưa đến một sự hoài nghi sâu sắc về thành công của việc thử nghiệm đó nếu nó được đưa ra ứng dụng, trong khi dân chúng còn chịu hậu quả của nạn đói khủng khiếp mùa đông – xuân 1944-1945, gây nên do mất mùa và vì sự thúc bách của kinh tế chiến tranh do Nhật và Pháp áp đặt.

Chỉ huy tối cao quân đội Madagascar, tướng Henry Casseville tự mình đã gửi lên chính phủ lời cảnh báo này ngày 11-7-1945:
“Người Bắc kỳ và Nam kỳ đều biết gia đình hoàng tộc; họ biết rằng Vĩnh San đã bị truất ngôi, thay thế bằng Khải Định rồi Bảo Đại kế tục.
Nhưng họ không quan tâm đến vận mệnh hoàng gia, từ lâu, mọi ảnh hưởng của triều đình Huế đã mất hẳn ở Nam kỳ và cả ở Bắc kỳ, chỉ còn vài ông quan già là có một vài sự kính trọng đối với gia đình hoàng tộc ở Trung kỳ.
Ông hoàng Vĩnh San có lẽ hy vọng có thể đóng một vai trò trong tương lai ở đất nước mình.
Quả thật ông ta có thể phát động những vụ tranh châp, nhưng tôi không tin rằng nó sẽ đem lại lợi thế cho chúng ta. Vai trò của ông ta đã hết khi bị lưu đày.
Ớ Viễn Đông, người ta không leo lại lên bệ thờ khi đã bị rơi xuống”(5)

Được sự bảo trợ của người chủ Pháp, lại bị cô lập với đất nước mình, phải chăng Vĩnh San không phải chịu số phận như người anh em họ Bảo Đại mấy tháng trước, bị Việt Minh buộc phải thoái vị ngày 25-8 sau khi đã thỏa hiệp với kẻ chiếm đóng Nhật Bản, nay trở thành người công dân bình thường với cương vị hoàn toàn danh nghĩa là cố vấn tối cao của Hồ Chí Minh?
Đối với ông Bảo Đại, với tính tình nhu nhược và mong manh, vị vua cuối cùng (1926-1945) của triều Nguyễn (1802-1945), thì cái thời của một vị hoàng đế được tôn kính và sợ hãi của triều đại xưa, được coi như Thiên tử, đồng thời là “cha mẹ dân”, tồn tại do ý Trời và các tín điều của Khổng giáo… đã xa rồi(6).

Phải chăng cả cựu hoàng Duy Tân cũng sẽ có một số phận không vẻ vang gì như Bảo Đại: có thể do ở quá xa sự năng động của đất nước nên ông không thể đánh giá được sự bắt rễ và lan tỏa của sức mạnh đó, nên ông đã phác họa phong trào cách mạng Việt Nam dưới hình ảnh của “một cuộc nổi loạn mà những kẻ vô trách nhiệm đã dẫn dắt người dân đến chỗ chết, vì biết rõ rằng nếu tình thế không có lợi, họ sẽ tìm được chỗ trú ngụ ở những nước đã mua chuộc họ?”(7)

Nói như vậy là đã coi rẻ ý thức trách nhiệm, khả năng tổ chức và thuyết phục của nhóm người lãnh đạo Việt Minh, cũng như ý chí không khoan nhượng của họ.
Đúng là năm 1945, những người quôc gia Việt Nam tự xâu xé giành giật chính quyền, và Việt Minh cũng như những nhóm không cộng sản khác, không phải là không áp dụng việc ám sát chính trị.
Một hôm ông Vĩnh San đã thổ lộ linh cảm của mình rằng, ông có thể là nạn nhân của một con dao đâm lén, của một viên đạn hay một quả bom như nhiều ông hoàng trước ông, ông coi thời đại trị vì của ông đã hoàn toàn qua hẳn. Có bao câu hỏi không trả lời được, sau vụ mất tích trên con đường đưa trở về đảo Reunion, mà ông muốn gặp lại gia đình và nhìn mặt đứa con thứ năm.
Không bao giờ ông được gánh lại vận mệnh hoàng gia ở đất nước nơi ông đã ra đời và lần lượt đóng vai trò giữ mệnh trời, phản kháng nền đô hộ thuộc địa và trở thành kẻ bị lưu đày bất công.

Nếu tin vào một số nhân chứng ít ỏi, thì cái chết đột ngột của ông hoảng đã khiến de Gaulle rất bàng hoàng, đánh mất “ý đồ bí mật” để giải quyết vấn đề Đông Dương, trong bối cảnh chính trị đang mỗi ngày thêm khó khăn. Như sau này tướng Boissieu đã viết trong hồi ký, có phải sự mất tích đó là một trong những nguyên nhân khiến de Gaulle rút khỏi công việc ngày 20 tháng 1-1946?(8) Nó có thể góp phần, một cách khiêm tốn hơn để thuyết phục rằng ông không còn phương tiện thực thi đường lối của mình, ông bị đối mặt trước ngõ cụt

Trong các chuyên gia phê phán mạnh nhất đường lối Đông Dương của de Gaulle, nhiều người cũng thừa nhận rằng mặc dầu có khả năng làm nên điều kỳ diệu và tính thực dụng của mình, người đứng đầu chính phủ lâm thời Pháp lúc đó, cho dù đã xóa bỏ những đánh giá sai lầm của mình lúc đầu, cũng không thể đưa ra một đường lôi mạnh bạo mà ông nghĩ có thể áp dụng cho Đông Dương, vượt lên trên các tính toán cá nhân của cánh nhà binh và các chính khách.
Tất yếu ông sẽ vấp phải sức ỳ của chính phủ Pháp, quá ngập ngừng với những đổi thay quá đột ngột.

Pierre Journoud
Đào Hùng dịch


Chú thích :
Pierre Joumoud, De Gaulle et le Vietnam (1945-1969), Ed. Tallandier, 2011, 544 trang.
1. Croix de Lorraine, chữ thập có hai ngang, biểu trưng trên cờquân đội kháng chiên của de Gaulle, đôì lập với chữ thập ngoặc của Đức, và cũng để khác với cờ Pháp của chính phủ bù nhìn Pétain ở Vichy (chú thích của ND.)
.
2. Viện lịch sử Quốc phòng (SHD), hồ sơ cá nhân các sĩ quan, số 8Ye81561, thư của tướng Boissieu gửi bộ trưởng chiến tranh ngày 28 tháng 4-1978; thư từ trao đổi giữa Bộ Thuộc địa với Bộ trưởng Chiến tranh, từ tháng 1 đến tháng 12-1945.

3. Duy Tân, Hoàng đế An Nam 1900- 1945 bị lưu đày ở đảo Reunion hay là số phận bi thảm của ông hoàng Vĩnh San, tiểu sử ghi lại của Nguyễn Phưóc Bảo Vang, Sainte-Marie, Nxb Azalees, 2001, tr. 153-155.
“Balkan hóa” là thuật ngữ xuất hiện sau Thê chiến 1, chỉ sự chia cắt lãnh thổ và chính trị vùng Balkan nhằm tránh sự tranh giành giữa các cường quốc.
4. Thierry d’Argenlieu, Biên niên Đông Dương 1945-1947, Paris, Albin Michel, 1985, tr.112-113,436-437.

5. Trung tâm lưu trữ Hải ngoại (CAOM). INF, bìa số 122, hồ sơ số 1105, thư của tướng CasseviUe gửi bộ trưởng Thuộc địa, số 291/CAB, ngày 11-7-1945.
6. Philippe Devillers, Lịch sử Việt Nam 1940-1952, Paris, Seuil, 1952, tr.20- 21; Le Monde ngày 25-6-1975.
7. Thư của Vĩnh San gửi ông Văn Sa, 17 tháng 11-1945, dẫn trong tiểu sử của Nguyễn Phước Bảo Vang ghi (Sđd, tr.205).
8. Tướng Alain de Boissieu, Để phụng sự Tướng de Gaulle, 1946- 1970, tập 2, Paris, Plon, 1982, tr.75-76.

Edited by user Friday, September 28, 2012 6:44:51 AM(UTC)  | Reason: Not specified

UserPostedImage
UyenVy  
#31 Posted : Friday, September 28, 2012 6:43:14 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Việt Sử: Tống Thị Quyên,Một Bi Kịch Chốn Vương Triều Nhà Nguyễn

Mở đầu bi kịch :

-Nguyễn Phúc Cảnh(NPC),4 tuổi phải rời mẹ cha, rời quê hương,theo Giám mục Bá -đa -lộc sang Pháp.Rồi Cảnh ăn ở chung với Đức Cha này & được giáo dục y như một chủng sinh thì bảo sao hoàng tử trẻ kia không mê đạo Chúa, không tiêm nhiễm tư tưởng,lối sống của người phươngTây cho được..
Còn nói về người thầy của NPhucChu & cũng là vị Giám mục trên, ông là người quá sốt sắng, quá hăm hở trong việc rao truyền, phát triển đạo Thiên Chúa tại xứ sở mà đạo Nho còn đang chiếm ưu thế . Cho nên đôi lúc ông chưa thật khôn khéo, còn lắm sơ hở, để ý đồ lộ liễu quá .

Như có lần ông khuyến dụ cả Nguyễn Phúc Ánh (NPA) theo đạo (Sử triều Nguyễn chép : năm 1787, Bá-đa-lộc thuyết phục vương theo đạo, trước là để làm gương cho sĩ phu noi theo, thứ đến là nhân dân trong nước. Nhưng vương không nghe…);
như ông ra sức uốn nắn vị hoàng tử vừa kể trên, mà ông tin là sẽ người kế vị, sẽ giúp ông sớm đạt được mục đích …(xin xem chú thích 1.Nội dung trong lá thư này là một trong những nguyên do chính khiến NPC mất ngai vàng, vợ cùng con cháu nhiều đời bị đại
họa)
Còn NPA (Sau này là vua Gia Long .Sinh năm 1762, mất 1820 ), từ nhỏ đến khi lên ngôi báu năm 40 tuổi (1802), ông đã trải qua bao lần “cái chết trước mắt” và không biết bao nhiêu nỗi khổ nhọc khôn lường .Vừa 4 tuổi, cha mất .16 tuổi chỉ riêng mình ông chạy thoát rồi được tướng sĩ tôn làm chúa soái, thay thế Duệ tông &Mục tông bị Nguyễn Huệ (Nhà Tây Sơn )bắt rồi giết chết năm 1776.Những dịa danh như Phú Quốc, Xiêm La & nhiều tỉnh thuộc Miền Tây VN đều có in sâu dấu chân bôn ba của ông .
Ngai vàng giành lại quá khó nhọc, nên NPA luôn lo sợ , luôn dè chừng , luôn nghi kỵ kẻ khác dòm ngó, sanh tâm cũng là điều dễ hiểu ( việc giết Đỗ Thanh Nhơn , việc gián tiếp bức tử Nguyễn Văn Thành , việc giết chết Đặng Trần Thường , việc không đặt ngôi Tể tướng vì sợ bị chuyênquyền vv…Sợ sa đà vào việc khác nên tôi mong quí đọc giả tự tìm hiểu trong các sách viết về triều Nguyễn ).

Còn việc NPA với giám mục Bá-đa-lộc ,những viên sĩ quan người Pháp như Chaigneau & Vannier cùng một số lính đánh thuê khác mà Bá-đa-lộc tuyển mộ được , là mối tình “ có qua có lại” ,“bằng mặt chứ không hẳn bằng lòng” .Cho nên nhà vua cố che giấu ý nghĩ không ưa đạo Thiên Chúa cùng những người phương Tây,để họ dốc hết tâm sức xây dựng thành lũy, bày vẽ & huấn luyện quân sự vv…phục vụ cho công cuộc phục quốc !

Bởi vậy, Nguyễn vương vừa thất vọng vừa chua xót vì không nhận được chút gì từ chính phủ Pháp mà con trưởng của mình thì bị “Tây hóa” qua hành động như không chịu lạy nơi Thế miếu ,theo đạo Thiên Chúa , quá thân thiện với người phương Tây …(2)
Phải chăng vì thế , dù đã lập ngôi thái tử cho NPC , là dòng chính thống , để tạm yên lòng tướng sĩ, thần dân trong buổi đầu của một đế chế non trẻ ; nhưng vua vẫn ra lệnh mẹ Cảnh nhận hoàng tử Đảm làm con thứ tư của mình vào năm 1793( Nguyễn Phúc Đảm lúc ấy, mới lên 3 tuổi,con bà Thuận Thiên , vợ thứ . Ở đây ta đã thấy ý đồ của vua lộ rõ .Nhưng giả sử,Cảnh không mất sớm thì sao nhỉ ? sẽ có một bi kịch khác chăng?)

Thế rồi y như trời xui khiến, NPC chết vì bệnh “đậu mùa” lúc 22 tuổi sau khi Bá-đa-lộc mất được 18 tháng (Mẹ Cảnh sinh 3 con trai là Nguyễn phúc Cảnh ,Nguyễn Phúc Hy, Nguyễn Phúc Noãn .Và tất cả đều mất sớm) .Thái tử bỏ lại người vợ trẻ đẹp tên Tống thị Quyên và 2 con trai là Mỹ Đường ( còn có tên là Đán ) & Mỹ Thùy( còn có tên là Kính ) .
Sau khi NPC, chết Gia Long cứ dần dừ việc lập ngôi thái tử dù tuổi đã khá cao .

Theo tôi nghĩ thì lúc bấy giờ, nước nhà vừa mới tạm yên binh lửa nhưng lòng dân đã yên đâu , binh mã vẫn còn ở trong tay các đại thần muốn tôn lập dòng đích .
Nên lúc bấy giờ vua bận rộn lo củng cố vương quyền,lo truy diệt tàn dư của nhà Tây Sơn ( Những bản án vua dành cho vua quan nhà Tây sơn rất tàn khốc,cũng chính là để răn đe cho bất kỳ những ai, kể cả những tâm phúc, rằng chớ có manh tâm chống lại ông ),…
Do vậy,nhà vua đâu vội gì gây mích lòng các tướng lãnh cùng vào sinh ra tử với mình .Cả về sau này, ta thấy trước khi quyết định người kế vị , nhà vua cũng đã dè dặt hỏi ý kiến để thăm dò bụng dạ họ( chứ lòng vua đã chọn rồi ) .Cơ khổ cho mấy ông quan võ ít học, trực tính như :
Nguyễn Văn Thành , Lê văn Duyệt trả lời thẳng là : Phải lập hoàng tôn( ám chỉ Đán ), không được bỏ dòng đích ( Chính vì vô tình hay cố ý ? không hiểu thâm ý vua nên sau này 2 ông đều gặp họa lớn ) .

Chỉ có Trịnh Hoài Đức , là văn thần nên trả lời một câu vừa mát bụng cha , vừa mát bụng con : “Hiểu con không ai hơn cha . Đèn nhà ai nấy biết .
Xin Bệ hạ cao minh tự định đoạt lấy !”Xét khi ấy , hai con của NPC là Đán & Kính , tức cháu nội vua Nguyễn , đã hai mươi ngoài tuổi , đủ sức nối ngôi ; lại được trong triều ngoài dân ủng hộ vì đấy là con của người ít nhiều cũng có công gầy dựng vương triều , lại là dòng đích rất phù hợp thông lệ truyền ngôi từ xưa ở chốn cung đình .
Vậy mà NPA vẫn không chọn một trong hai cháu
.Gia Long giận ghét con rồi ghét giận luôn các cháu sao ? Điều này, cũng có thể vì nhà vua vốn là “Khi công việc xong rồi,…ngài lấy những chuyện nhỏ nhặt , đem giết hại những người có công với mình …”

(Việt Nam sử lược .tr424.Trần Trọng Kim ) .Và sâu xa hơn, chính là vì “sợ rằng tư tưởng của Bá-đa-lộc …cũng sẽ ảnh hưởng đến những đứa con của Hoàng tử Cảnh”

( A. Schreiner trong Abre’ge’de l’histoire d’ Annam.Saigon , 1906 )
Còn hoàng tử Đảm ,vốn là người hay bài xích đạo Thiên Chúa gay gắt và không có chút cảm tình nào với người Pháp .Điều này rất hạp thâm ý muốn rủ bỏ món nợ ân tình của những người khác nòi giống đã đến giúp , nên Đảm rất được vua yêu thương .Ta thấy điều này thể hiện rõ trong bản di chúc : “... hãy đối xử tử tế với người Âu , nhưng hết sức cảnh giác trước các tham vọng của họ ”...
Nào ngờ đứa con “ngoan” này, không hoàn toàn theo đúng tinh thần của cha trăn trối “Minh Mạng nhanh chóng tuyệt giao với người Pháp & các thừa sai; lãnh sự Pháp không được thừa nhận, đặc sứ Pháp không được tiếp kiến , thuyền trưởng Pháp không được lên bờ...và các chỉ dụ cấm đạo Thiên Chúa liên tiếp được ban hành ...
”(Việt Nam thế kỷXIX. Nguyễn Phan Quang .Nxb T.p .) mở màn cho một chính sách “bế môn tỏa cảng” rất tai hại cho đất nước về sau ...
II. Màn chánh bi kịch :
Tống thị Quyên, chồng là Hoàng tử NPC vừa kể .Bà những tưởng con sẽ thay cha kế vị ngai vàng , nào ngờ chỉ trong phút chốc , tai họa ầm ầm giáng xuống trên đầu .Sách Đại Nam chính biên liệt truyện ghi chép sự kiện thê thảm này như sau Năm Minh Mạng thứ năm (1824),có người bí mật tố cáo rằng Mỹ Đường thông dâm với mẹ ruột là Tống thị .
Tống thị vì thế bị dìm nước cho chết , còn Mỹ Đường thì phải giao trả hết ấn tín & dây thao , đồng thời bị giáng xuống làm thứ dân , con trai con gái chỉ được biên chép phụ ở phía sau sổ tôn thất

.Năm Minh Mạng thứ bảy (1826) , Mỹ Thùy lại bị quân lính ở đạo Dực Chẩn kiện , sắp bị đưa cho đình thần nghị tội thì Mỹ Thùy bị bệnh mà mất , lúc ấy chưa có con cái gì .Vua cho lấy con trưởng của Mỹ Đường là Lệ Chung
, tập phong làm Ứng Hòa Hầu để lo việc phụng thờ Anh Duệ Hoàng Thái Tử (tức Hoàng tử Cảnh )

Tưởng bi kịch đến đó là hết, nào dè đến năm Minh Mạng thứ mười bảy (1836) , vì sợ con cái của Lệ Chung nhờ cha mà hưởng phúc ấm , nên triều thần lại tiếp tục nghị tội , buộc con trai con gái của Lệ Chung là Lệ Ngân , Thị Văn , Thị Dao đều phải giáng làm thứ nhân . Mãi đến năm Tự Đức thứ hai (1848), khi Mỹ Đường bị bệnh mất, dòng dõi của Hoàng tử Cảnh mới tạm yên ở phận dân thường !
UserPostedImage
UyenVy  
#32 Posted : Friday, September 28, 2012 6:51:38 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Vài bình phẩm về bi kịch :

Trong Việt Sử Giai Thoại tập 8 , tr.12, nxb Giáo Dục .
-Tác giả Nguyễn Khắc Thuần có lời bình đáng suy gẫm như sau :

-...Thời ấy , có 2 tội thuộc hàng đại ác không thể tha , ấy là bất trung & thất đức . Bất trung thì con trai trưởng của Hoàng tử Cảnh (tức Đán ) chẳng có biểu hiện gì , vậy thì Minh Mạng muốn được yên vị trên ngai , ắt phải khép Mỹ Đường vào tột thất đức là thông dâm với mẹ !...
Theo Nguyễn thị Chân Quỳnh chép từ ĐẠI NAM VIỆT QUẤC TRIỀU SỬKÝ, không rõ tác giả , ấn bản 1879 ,cũng đã nhận định như sau :
Minh-Mệnh lên ngôi là do sự quyết định của Gia-Long, không phải do mưu mô, giành giật mà chiếm được ngai vàng .

Nhưng đối trước những phản ứng bất thuận lợi của một số triều thần mà sau 5 năm trị vì nhà vua vẫn không dẹp nổi , có thể Minh-Mệnh đã ra tay "trừ hậu hoạn". Nếu các con Đông Cung chết, hoặc không còn hi vọng lên nối ngôi thì bọn phản thần , bọn làm giặc … sẽ như rắn không đầu, còn dựa vào đâu mà mưu mô mà chống đối ? …

Và cũng có thể vì vụ này mà lệ "Tứ bất lập" (26) của nhà Nguyễn ra đời. "Tứ bất lập" là không lập Chánh Cung, không lập Đông Cung, không lập Tể tướng và không lấy ai đỗ Trạng-nguyên…để ngăn ngừa mầm họa .
Riêng Võ Hương Giang viết ngày 16/2/ 2006 thì có ý khác :
-Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt là 2 gương mặt lớn lúc bấy giờ .

Sau khi ông Thành chết,Gia Long mới ra quyết định tối hậu chọn Hoàng tử Đảm kế vị ; đồng thời gửi gắm vị vua trẻ này cho một văn, một võ là Phạm Đăng Hưng & Lê Văn Duyệt
. Trong bối cảnh như thế, thử hỏi Mỹ Đường cùng dòng đích có đủ can đảm chống lại không ?
Liệu có đại thần nào dám ủng hộ, dẫu là ngấm ngầm không ?…
Tác giả nói thêm : đây là vụ án không có bản án .

Nó có tính cách “thanh lý nội bộ” hơn là công khai .Vì nội dung vụ án là chuyện thương luân bại lý , làm điếm nhục gia phong , chẳng tốt đẹp gì để làm to chuyện , phơi bày ra cho bàn dân thiên hạ đàm tiếu !…
Người viết còn dẫn giải rộng & xa hơn :
“Xin nhớ rằng vu án Mỹ Đường xãy ra năm 1824 , nghĩa là 5 năm sau Mimh Mạng lên ngôi ( ngày nay 5 năm là thời gian để hoàn thành 1 kế hoạch lớn ) .

Vậy thì thời xưa , 5 năm cũng đủ để vua củng cố địa vị một cách vững vàng tuyệt đối .
Lẽ thường tình , khi không có dấu hiệu đe dọa , không ai xuống tay nặng nề trong hoàn cảnh tương quan lực lượng như thế , thử hỏi vua Minh Mạng có cần phải làm cái trò nhổ tận gốc không ?…
Sau khi phân tích , tác giả kết luận : Vụ Mỹ Đường không phải là 1 vụ án chính trị !
Và ý của người soạn bài này :

Triều Minh Mạng cầm quyền có 3 vụ án lớn xảy ra : vụ Mỹ Đường (1824) , vụ Lê Văn Duyệt (1835) và vụ Lê Chất (1835) . Nhưng 2 vụ sau , sử sách nhà Nguyễn ghi khá rõ ; chỉ riêng vụ đầu tiên thì sử quan viết rất ít & rất mù mờ như đã ghi trên , khiến tôi nảy ra nhiều nghi vấn :
1/ Người tố cáo là ai , cớ gì không thể nêu tên đối với việc hệ trọng liên quan đến danh dự & quyền lợi của cả một dòng họ ? Mỹ Đường , ví dụ có là người nghiện dâm dục đi nữa , là công hầu , thiếu gì thị nữ bên cạnh , đứa con này có cần thiết phải thông dâm với mẹ ruột không ?

Còn Tống thị , là người nữ có chức phận , ít nhiều cũng được giáo dục theo khuông phép và phải sống trong một cung đình xem trọng đạo Nho ở vào thế kỷ XIX , thử hỏi có người mẹ nào đi ăn ở với chính con ruột của mình không ? …
2/Vì sao Lê văn Duyệt tâu kín rồi cũng chính ông thi hành án?
Võ Hương Giang viết bên trên : đây là vụ án không có bản án .Nó có tính cách “thanh lý nội bộ” hơn là công khai .Vì nội dung vụ án là chuyện thương luân bại lý …

Tôi thử hỏi nếu cần che giấu, nhà vua thiếu gì cách giết rồi đổ cho một lý do hay một bệnh nào đó, có phải dễ nghe hơn không.Nếu cần ém nhẹm vì việc đáng xấu hổ, những dòng chép trong chính sử kia làm gì có để người đời sau thêm thắc mắc
.Và cần chi đến ông Tả quân đứng ra xử lý nhanh 1 phụ nữ tay yếu chân mềm .Vậy phải chăng đấy là một ý đồ đen tối , dùng thủ đoạn dàn dựng , gán cho một tội danh “đại ác",rồi nhanh chóng giết người bịt khẩu, nhầm hạ uy tín và triệt hạ vĩnh viễn dòng đích , nhầm ly gián Lê văn Duyệt với dòng này mà từ lâu vị tổng trấn Gia định là đại diện cho một thế lực đang ủng hộ …
3/Tác giả Võ hương Giang còn hỏi :… Minh Mạng có cần phải làm cái trò nhổ tận gốc không ?
Tôi xin thưa ngay là cần lắm đấy .

Vì Minh Mạng, tuy là người có công rất lớn về nhiều mặt cho vương triều nhà Nguyễn, cho đất nước nhưng qua những hành động như ra lệnh truy tội của Lê văn Duyệt, ra lệnh giết gần 2000 người rồi vùi xác chung mồ (Mả Ngụy – cuộc khởi nghĩa của Lê văn Khôi ) , vụ án Thoại Ngọc Hầu (tôi đã có bài viết riêng ),vụ án Lê Chất ( xin bạn đọc xem sách ) vv
…Đến nhiều năm sau , Trần Trọng Kim còn bình phẩm nhà vua trong sách Việt Nam sử lược như thế này :
Chính trị của vua Minh Mạng tuy có nhiều điều hay , nhưng cũng có nhiều điều dở .
Ngài biết cương mà không biết nhu , biết có uy quyền mà ít độ lượng …
Và theo ý tôi, Minh Mạng cần làm điều này vì các con cháu dòng thứ của ông . Giả dụ có người mưu phản, đưa chiêu bài ủng hộ con cháu Hoàng tử Cảnh thì sao?
-Việc ông áp dụng “tứ bất lập”, “rất hạn chế & rất thận trọng trong việc cắt đặt người trong hoàng tộc tham chính & nắm giữ binh quyền”, bỏ chức danh Tổng trấn , chia cắt Bắc thành & Gia Định thành , thành nhiều tỉnh … chính là để tóm thâu quyền lực , thiết lập vai trò thống trị cho dòng tộc mình bám chắc ngôi báu dài lâu .

Tuy rằng Minh Mạng không giết các con của anh , nhưng ta thấy nhà vua luôn để mắt & xiết chặt họ , dù họ đã cam phận sống cuộc đời thứ dân .
Xin trích vài dòng cũng trong sách Đại Nam chính biên liệt truyện :

Mỹ Đường có tội phải ở nhà riêng, thường đến thăm con ở xã An Hòa, có người (lại có người ? ý của người soạn ) cho là trốn, tâu lên . Nhà vua bảo rằng : Hành vi của nó hơn là chó lợn, trẫm nghĩ cái tình của Anh Duệ Hoàng thái tử nên không nở làm tội.Nay lại nghe kẻ bậy bạ xui khiến, muốn làm gì chăng ? vua liền sai thị vệ đi bắt về, phái binh canh giữ …
IV. Tạm khép lại bi kịch :
Tất cả những vai chính phụ trong vở bi kịch trên , giờ đây đều đã nằm sâu dưới đáy mồ .Ở bài viết này tôi không hề có ý luận công hay tội của ai , vì qua sách vỡ tôi được biết ở bất cứ chốn cung đình nào , phía sau những vàng son rực rỡ , cũng đều đầy dẫy những tham vọng , những mưu mô đen tối , thấp hèn …

Mấy hôm rày , lúc tra tài liệu để viết về Tả Quân Lê Văn Duyệt , vô tình tôi bắt gặp vai chánh nữ của bi kịch ấy .
Đọc những chữ dòng biên chép ít ỏi trong chính sử , lòng càng thêm buồn .Vì đâu , chỉ vì một lời cáo buộc của một người vô danh rồi không cần xét xử , vội vã ra lệnh dìm nước giết chết một con người . Và , dẫu gì bà cũng là một vương phi , bởi đâu sử sách chẳng thể ghi lại một dòng tiểu sử , để giờ đây ta chỉ biết người góa bụa bạc phận ấy chết năm 1824 cùng một tội danh đau lòng trên !

Ghi chú:

1/Trong một lá thư gửi từ Pondichéry (20-3-1785) cho Giám đốc Hộii Truyền giáo nước ngoài, Ba-đa-lộc viết :"Tôi cần sự giúp đỡ của quý vị trong việc giáo dục vị Hoàng tử bé nhỏ do tôi phụ trách .Tôi muốn dậy theo truyền thống đạo Thiên Chúa
. Hoàng tử mới lên 6 tuổi mà đã biết đọc kinh và hết lòng mộ đạo và rất mến tôi chứ không nhớ gì đến cha mẹ hay các bà nhũ mẫu .
Nếu sau này cha của Hoàng tử (chỉ Gia Long ) có xoay ra thân thiện với người Anh hay người Hòa-lan thì hẳn quý vị cũng thấy việc dậy dỗ, uốn nắn ông Hoàng nhỏ bé này hữu ích biết chừng nào…(2) Một tư liệu nữa là ,trong một lá thư đề ngày 11/4/1801 gửi cho Letondal . L. Barisy viết rằng :…Đông Cung là người đã ra mặt che chở cho tất cả những người Âu, đã bảo vệ cho đạo Thiên
Chúa... đích thực là một người bạn thành thật …
Thêm vài tư liệu có liên quan
: A/ Quan Khâm Sai Lê Văn Duyệt bài của Hoa Hạ trên net :Ngoài ra khi vua Minh Mạng, vì tư thù và vì sợ bị mất ngôi, đem xử tội Tống Thị Quyên, vợ của Hoàng Tử Cảnh, một cách oan uổng, thì chỉ một mình Lê Văn Duyệt can đảm dâng sớ lên vua xin tha tội cho người này.
Việc làm của ngài khôngĐông Cung nhật trình
(.Bài của Nguyễn thị Chân Quỳnh )…

Và cũng có thể vì vụ này mà lệ "Tứ bất lập" của nhà Nguyễn ra đời. "Tứ bất lập" là không lập Chánh Cung, không lập Đông Cung, không lập Tể tướng và không lấy ai đỗ Trạng-nguyên.

Không lấy ai đỗ Trạng, không lập Tể tướng là để giữ vững chủ quyền của Hoàng đế.Kkhông lập Chánh Cung và Đông Cung phải chăng vì mẹ của Minh-Mệnh chỉ là Thứ Phi chứ không phải là Chánh Cung, do đó Minh-Mệnh không thể đương nhiên lên ngôi Đông Cung vốn dành cho dòng chính ?
Có người cho rằng "Tứ bất lập" do Gia-Long đặt ra nhưng Hoàng tử Cảnh đã lên ngôi Đông Cung năm 1794, mẹ là Vương Hậu Tống thị thì được lập làm Hoàng Hậu năm 1806, rõ ràng dưới thời Gia-Long lệ "Tứ bất lập" chưa có. Lệ này do Minh-Mệnh đặt ra hợp lý hơn bởi Minh-Mệnh mới phải đương đầu với những khó khăn do dòng chính thống gây ra.

Đọc Đại Nam Thực Lục Chính Biên, chỉ thấy Minh Mệnh có "Phi" mà không thấy có "Hoàng Hậu", có "Hoàng Trưởng Tử" mà không thấy có "Đông Cung".
Sau khi bài này đăng trên Hợp Lưu tôi mới được đọc Delvaux R.P. trong "L'Ambassade de Minh Mạng à Louis Philippe", BAVH, Oct. Déc. 1928.
Không rõ lấy tài liệu ở đâu hay cũng chỉ do suy luận, Delvaux viết rằng chính Minh-Mệnh -vì sợ bị đối nghịch, tranh cướp ngôi- đã giết các con của Đông Cung…
C/ Việt sử giai thoại tập 8 .Nguyễn Khắc Thuần .
Trích một đoạn ở tr.45nói về vụ án của Tiền Quân Nguyễn Văn Thành , một công thần vào hàng bậc nhất , để hiểu thêm về vua Gia Long & Minh Mạng
Thương hại thay !Vua Gia long lúc đầu tha con cho con của Nguyễn văn Thành , nhưng sau đó lại bắt giết Nguyễn văn Thuyên ,( vì hai câu thơ nghĩa ý thật mơ hồ
“Thử hồi nhược đắc sơn trung đế , Tá ngã kinh luân chuyển hóa cơ ”.
Tạm dịch :Sơn tể phen này mong gặp gỡ, giúp nhau xoay đổi hội cơ này
.Người soạn viết thêm ) .
Vậy mà về sau , vua Minh Mạng còn bắt giết hết 4 người con còn lại cùng với gia thuộc của họ !
Lời người soạn :
-Với số tư liệu không nhiều nên trong bài viết đôi khi khó tránh khỏi ý chủ quan , võ đoán của tôi .
Điều mà người viết về đề tài lịch sử nên tránh .

Cho nên qua bài viết chỉ có tính cách gợi mở này , tôi mong những nhà nghiên cứu về triều Nguyễn, những bạn đọc quan tâm … bổ sung thêm về người phụ nữ cùng dòng tộc không may này.
Nếu bà có tội thì cần nêu thêm chứng lý, còn nếu không đủ bằng chứng, sử sách hôm nay cũng nên nói kỹ càng hơn, để trả lại thanh danh cho một con người, dù thân xác ấy từ lâu đã hòa cùng cát bụi…

Bùi T Đào Nguyên
UserPostedImage
UyenVy  
#33 Posted : Friday, September 28, 2012 6:57:55 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,510
Location: Somewhere

Thanks: 1504 times
Was thanked: 542 time(s) in 370 post(s)
Làm Vua Như Lê Thái Tổ

Có nhiều yếu tố đã giúp Lê Lợi trở thành vua Lê Thái Tổ. Một trong những yếu tố hàng đầu là hơn ai hết, ngay từ lúc còn "nương thân nơi hoang dã" đợi thiên thời, ông đã hiểu rằng, "một cây làm chẳng nên non". Và ngay sau khi lên ngôi năm Mậu Thân (1428), ông cũng đã nghĩ ngay tới việc chiêu hiền đãi sĩ.

Theo sách "Đại Việt sử ký toàn thư" (ĐVSKTT), Thái Tổ Cao Hoàng đế (1385 - 1433) “họ Lê, tên húy là Lợi, người hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, trấn Thanh Hóa. Vua hăng hái dấy nghĩa binh đánh dẹp giặc Minh.

Đến khi lên ngôi, đã ấn định luật lệ, chế tác lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện, thu thập sách vở, mở mang trường học, có thể gọi là có mưu kế xa rộng mở mang cơ nghiệp". Sự nghiệp cứu nước của vua Lê Thái Tổ vô cùng oanh liệt và sự nghiệp dựng nước của ông cũng rất to lớn, mặc dầu ông chỉ ở ngôi có 5 năm, khi còn đang trong tuổi tứ thập.
Sự nghiệp hiển hách
Không rõ các tác giả của ĐVSKTT có quá lời không nhưng rõ ràng là ngay từ thuở nhỏ, Lê Lợi đã bộc lộ rõ những biểu hiện đế vương: "Vua sinh ra, thiên tư tuấn tú khác thường, thần sắc tinh anh kỳ vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai có một nốt ruồi, tiếng nói như chuông, dáng đi tựa rồng, nhịp bước tựa hổ, kẻ thức giả đều biết vua là bậc phi thường...".
Lúc Lê Lợi lớn lên, đất nước đang trong vòng cương tỏa của giặc Minh, nhân dân bị bắt làm tôi tớ, "luật pháp hình hà khắc nghiệt, thuế má lao dịch nặng nề...".
Ngay cả các đại diện tinh hoa của con cháu Lạc Hồng, nếu ngoan ngoãn chấp nhận thân phận tôi đòi phương Bắc cũng bị đưa đi xa và chỉ được bày đặt làm những quan nhân hữu danh vô thực ở nơi đất khách quê người. Cũng có kẻ cứ tưởng thế là "vinh thân" và cam phận trâu ngựa trong nhung lụa.

Cá nhân Lê Lợi nhờ "hiểu biết hơn hẳn mọi người, sáng suốt và kiên quyết" nên "không bị quan tước dụ dỗ, không bị uy thế khuất phục" (ĐVSKTT).
Bởi vậy, ông vua đệ nhất tương lai của triều đại nhà Hậu Lê không hề bị lóa mắt bởi bả vinh hoa nhất thời mà quân xâm lược cố công bày đặt trước mình.
Người Minh đã không chỉ một lần mang đủ thứ xông xênh đến để dụ dỗ Lê Lợi, nhưng ông vẫn lắc đầu. Ông từng nói: "Bậc trượng phu sinh ở đời phải cứu nạn lớn, lập công to, lưu tiếng thơm ngàn năm sau, sao lại chịu hèn nhát để cho người sai khiến?".
Trong lòng Lê Lợi đã không nguôi cháy bỏng ngọn lửa ái quốc nhằm khôi phục lại chủ quyền đã mất. Theo đúng phong độ hào trưởng, ngay từ khi còn âm thầm nuôi chí,Lê Lợi đã không chỉ "dụng tâm nghiền ngẫm thao lược" mà còn cố gắng "tìm mời những người mưu trí, chiêu tập dân chúng lưu ly, hăng hái dấy nghĩa binh, mong trừ loạn lớn.
Vua từng bảo mọi người:
Ta cất quân đánh giặc, không phải là có lòng ham muốn phú quý, mà chính vì muốn để ngàn năm về sau, người đời biết ta không chịu làm tôi tớ cho bọn giặc tàn ngược..." (ĐVSKTT).

Lê Lợi dấy binh dựng cờ nghĩa ở Lam Sơn vào mùa xuân, tháng giêng năm Bính Thân (1416), thề diệt giặc Minh giải phóng giang san. Phải mất tới 10 năm gian khó trôi qua thì mới giành lại được non sông khỏi tay quân xâm lược.
Bắt đầu một triều đại ghi nhiều dấu ấn tốt đẹp vào lịch sử Việt Nam. Dẫu không phải lúc nào cũng mười phân vẹn mười trong "trị quốc, bình thiên hạ", có lúc đã "đa nghi, hiếu sát" (ĐVSKTT) làm hại tới một số công thần, nhưng vua Lê Thái Tổ đã thực sự hoàn thành được sứ mệnh đế vương vĩ đại của mình.

Có nhiều yếu tố đã giúp Lê Lợi trở thành vua Lê Thái Tổ. Một trong những yếu tố hàng đầu là hơn ai hết, ngay từ lúc còn "nương thân nơi hoang dã" đợi thiên thời, ông đã hiểu rằng, "một cây làm chẳng nên non". Hội thề Lũng Nhai mùa xuân năm Bính Thân bên cạnh Lê Lợi đã là 18 người bạn thân tín, trong đó có Nguyễn Trãi..

. Càng chiến đấu, đội quân khởi nghĩa từ đất Lam Sơn càng thu hút được nhiều tinh binh và anh tướng "đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo" (Bình Ngô Đại cáo, văn thần Nguyễn Trãi chắp bút, Bùi Kỷ dịch).
Lên ngôi năm Mậu Thân (1428), vua Lê Thái Tổ cũng đã nghĩ ngay tới việc chiêu hiền đãi sĩ.

Tháng 5 năm Kỷ Dậu (1429), vua Lê Thái Tổ ban biển ngạch công thần cho 93 người có công lớn trong kháng chiến. Rồi nhà vua đã ra lệnh chỉ rằng "những văn võ hào kiệt nào còn bị bỏ sót, hoặc bị chìm đắm chưa có chức tước gì, hoặc không được ai tiến cử, hoặc vì thù hằn mà bị đè nén, vùi dập, thì đến ngay chỗ Thiếu phó Lê Văn Linh mà tự tiến, nếu xét thực có tài đức thì tâu trình để cất nhắc sử dụng, không cứ là ngụy quân hay sĩ thứ, cốt lấy tài đức là hơn" (ĐVSKTT). Nhà vua còn ra thêm lệnh chỉ:
"Quân nhân các phủ lộ và những người ẩn dật ở núi rừng, nếu ai quả thực thông kinh sử, giỏi văn nghệ thì đến ngày 28 tới sảnh đường trình diện, chờ đến ngày cho vào trường thi hội, người nào đỗ sẽ được tuyển dùng" (ĐVSKTT).

Tới tháng 6 năm đó, nhà vua còn sai văn thần Nguyễn Trãi viết "Chiếu cầu hiền tài", nội dung có đoạn (bản dịch của học giả Đào Duy Anh):
"Trẫm nghĩ: Việc thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử.
Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên.
Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, mà thành đời thịnh trị vui tươi...
Nay trẫm vâng chịu trách nhiệm nặng nề, sớm khuya lo sợ, như gần vực sâu, chính vì cầu người hiền giúp việc mà chưa được người.Vậy hạ lệnh cho các văn võ đại thần, công hầu, đại phu, từ tam phẩm trở lên, mỗi người đều cử một người, hoặc ở triều đình, hoặc ở thôn dã, bất cứ là đã xuất sĩ hay chưa, nếu có tài văn võ, có thể trị dân coi quân, thì trẫm sẽ tùy tài trao chức.
Vả lại tiến hiền thì được thưởng, ngày xưa vẫn thế. Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng.
Tuy nhiên, người tài ở đời vốn không ít, mà cầu tài không phải chỉ một đường, hoặc người nào có tài kinh luân mà bị khuất ở hàng quan nhỏ, không ai tiến cử, cùng người hào kiệt náu ở đồng nội, lẩn ở hàng binh lính, nếu không tự mình đề đạt thì trẫm bởi đâu mà biết được!..".
Có nhiều yếu tố đã giúp Lê Lợi trở thành vua Lê Thái Tổ. Một trong những yếu tố hàng đầu là hơn ai hết, ngay từ lúc còn "nương thân nơi hoang dã" đợi thiên thời, ông đã hiểu rằng, "một cây làm chẳng nên non". Và ngay sau khi lên ngôi năm Mậu Thân (1428), ông cũng đã nghĩ ngay tới việc chiêu hiền đãi sĩ.

Trọng dụng người tài nhưng vua Lê Thái Tổ cũng hiểu rất rõ rằng, không thể làm quan nếu không thường xuyên tu thân. "Chiếu cấm các đại thần, tổng quản cùng các quan ở viện, sảnh, cục tham lam lười biếng" đã chỉ rõ: "Làm việc theo lối trị, thế nào cũng nên; làm việc theo lối loạn, thế nào cũng hỏng.

Vì thế người trị nước giỏi lấy cái giỏi mà theo.
Sách Truyện có nói: "Người giỏi là thầy dạy người không giỏi, người không giỏi là bạn giúp người giỏi"... Trẫm đêm ngày lo nghĩ... Rất sợ xe trước đã đổ, mà xe sau cũng lại đổ theo.
Cho nên phàm răn bảo các khanh, ta đều thành khẩn đinh ninh, nói đi nói lại không chỉ nghìn lời muôn lời chín bảo mười bảo.
Thế mà các khanh xem là hư văn, không từng đổi lầm lỗi trước, không từng theo lời khuyên răn, thường làm trái phép, nhờn trên ngược dưới...

Ngày nay từ các đại thần tổng quản, cho đến đội trưởng cùng các quan ở viện, sảnh, cục, phàm người có chức vụ coi quân trị dân, đều phải theo phép công bằng, làm việc cần mẫn, đối vua thì hết trung, đối dân thì hết hòa, đổi bỏ thói tham ô, sửa trừ tệ lười biếng.
Bè đảng riêng tây phải dứt; thái độ cố phạm phải chừa. Coi công việc của quốc gia làm công việc của mình; lấy điều lo của sinh dân làm điều lo thiết kỷ. Hết lòng hết sức giúp đỡ nhà vua.
Khiến cho xã tắc yên như Thái Sơn, cơ đồ vững như bàn thạch, để cùng trẫm hưởng lộc vị trong ngày nay, truyền thanh danh về hậu thế.
Vua tôi nghĩa lớn, trọn vẹn trước sau, như thế chẳng phải hay lắm sao! Ôi! cầm sắt không hòa; phải đổi điệu thay dây tìm tiếng đúng; xe trước đã đổ, nên đổi đường tránh vết theo lối ngay...".
(Nguyễn Trãi chắp bút, ban hành vào tháng 7 năm Canh Tuất 1430, bản dịch của Đào Duy Anh).
Trị gia để tề quốc
Nghiêm ngắn trong ứng xử với quần thần, vua Lê Thái Tổ cũng rất nghiêm khắc và công minh trong quan hệ gia đình, với các con cái và người thân.

Người con trưởng của nhà vua là Tư Tề, được phong làm Quốc vương từ tháng 1 năm Kỷ Dậu (1429), lại dần dà tự mãn sinh hư "không trung hiếu với cha mẹ, ngược đãi quần thần, khinh nhờn đối với trời, không theo đạo của các đấng tiên vương" (ĐVSKTT).
Thấy vậy, tới tháng 8 năm Quý Sửu (1433), vua Lê Thái Tổ đã xuống chiếu giáng Tư Tề xuống thành quân vương và đưa người con thứ Nguyên Long lên làm Hoàng Thái tử.
Và nhà vua căn dặn:
"Truyền ngôi là việc lớn của quốc gia; dạy con là chí tình trong thiên hạ. Nghĩ việc quốc gia là lớn, lúc giao nhận không thể không tỏ lời; mà tình phụ tử thật sâu, lời răn bảo không thể không cặn kẽ. Xưa kia ta gặp thời tán loạn, dựng nghiệp khó khăn, hơn hai chục năm, mới nên nghiệp lớn. Tình dân đau khổ đều được tỏ tường, đường đời gian nan cũng đã từng trải.
Thế mà đến lúc trị dân, tình ngay dối còn có điều khó rõ, việc nghi nan còn có chỗ chưa phân, đạo làm vua há chẳng khó lắm sao! Phương chi con lấy tư chất non dại, nối cơ nghiệp gian nan, kiến văn còn cạn nông, tư lự chưa chu đáo, phải hết lòng kính cẩn, để bụng sợ lo. Thờ trời đất phải nghĩ hết thành, thờ tôn miếu phải nghĩ hết hiếu. Cùng anh em phải thân mến, đối tôn tộc phải thuận hòa.

Cả đến coi trăm quan, trị muôn dân, không việc gì không lo hết đạo. Chớ biến đổi thành pháp của tiên vương; đừng lãng quên cách ngôn của tiền triết.
Chớ gần thanh sắc và tham của tiền; chớ ham chơi và thích dâm dật; chớ nghe sàm nịnh mà bỏ lời trung trực; chớ dùng tân tiến mà bỏ cựu thần. Bảo rằng trời khó tin, mệnh không thường, nghĩ sửa trị ở khi chưa loạn; bảo rằng công không thành, việc dễ hỏng, nghĩ giữ nước từ lúc chưa nguy.

Ở cảnh yên vui, nghĩ đến việc gian nan từ ngày trước; hưởng điều sung sướng, nghĩ đến công tích lũy của tổ tông. Phải cẩn thận lúc trước để tính lúc sau; phải làm nên việc lớn từ việc nhỏ; phải hiểu chí trước mới giữ được nghiệp trước; phải thuận lòng trời mới hợp được lòng người. Theo thời thế mà thuận cơ vi, đừng thờ ơ cũng đừng bỏ việc..." (Nguyễn Trãi chắp bút, bản dịch của Đào Duy Anh).

Thái tử Nguyên Long lên ngôi, lấy hiệu là Lê Thái Tông, ở ngôi được 9 năm, từ khi 11 tuổi tới khi 20 tuổi. Không phụ lòng tin cậy của cha, vua Lê Thái Tông đã được sử sách ghi nhận như sau: "Ngài thông minh dũng cảm, còn vượt lên trên cả những vua anh minh đời xưa. Huống chi, ngài lại thể theo lòng trời đất nuôi sống muôn loài, ban hành chính sách xót thương bát nhẫn của bậc đế vương, xử kiện xét tù phần nhiều khoan thứ. Đức hiếu sinh của ngài là cái đức của vua Thuấn xưa. Ôi! những người như vua có thể gọi là hết lòng với việc trị nước vậy". Có lẽ dưới suối vàng, Đức Thái Tổ họ Lê cũng đã có thể ngậm cười

trích trong Đại Việt sử ký toàn thư
UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (2)
2 Pages<12
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.