Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
lly (Lynn Ly)  
#1 Posted : Saturday, August 25, 2012 3:28:53 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,341

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
BERLIN (1)

Đại Linh


Berlin là thủ đô và là thành phố lớn nhất của nước Đức, với một diện tích 890 km2 (khoảng 8 lần nước Pháp). Những nơi tham quan khác nhau được nối bởi một mạng vận tải công cộng rất tuyệt vời, cho phép làm quen mau chóng với hình thế của thành phố.

Cái điều lôi kéo nhiều người Đức gốc từ những vùng khác đến Berlin, đó là cái tính chất ít Đức của thủ đô. Đối với nhiều người Đức, Berlin là một thành phố Đông âu phần nào bí hiểm, có nhiều điểm chung với Varsovie hay Moscou hơn là với thủ đô cũ, Bonn, hay thành phố ngân hàng Francfort. Số dân ngoại quốc ở Berlin gần 500.000 người trong số 3,45 triệu dân mà Berlin có. Các người Thổ tạo thành một cộng đồng quan trọng nhất (118.000), tiếp theo là Balan (38.500) và các người Áo (1.100).

Là thành phố đại học đầu tiên của nước Đức, Berlin có 3 đại học và nhiều trường cao đẳng, và tiếp đón hơn 130.000 sinh viên.

Berlin là một thành phố không bao giờ tồn tại, một thành phố tiến triển thường trực. Tư tưởng này được đưa ra năm 1910 bởi nhà sử học Karl Sceffler (1869-1951), dường như vẫn luôn luôn có tính thời sự. Không một thành phố châu Âu nào đã chịu nhiều lần thay hình đổi dạng như thế, đã bị biến hóa như thế theo những thảm cảnh và những giờ phút vinh quang. Được mang lại sức mạnh do sự thống nhất đất nước, không bao giờ cần những ý tưởng mới, người dân Berlin đã thổi vào thành phố của họ một cuộc sống văn hóa về đêm, xứng đáng với những năm tháng phi thường (les années folles). Là nơi của những nghịch lý, thủ đô nước Đức có một vẻ quyến rủ không thể nào cưỡng nổi.

Munich, mặc dầu giàu sang hơn, và Hambourg, mặc dầu giỏi hơn về thương mãi, vẫn không gây được nhiều lý thú như Berlin. Mỗi năm, rất nhiều những người mới đến (Zuzugler) định cư ở Berlin từ khắp 4 phương trời, ngành du lịch phát triển mau chóng từ năm 2000 : Berlin trở nên điểm du lịch đứng thứ ba ở Châu Âu, sau Paris và Londres. Năm 2005, các khách sạn ở Berlin đã đăng ký gần 6,5 triệu réservations.

Ở Berlin khó mà buồn chán được : phong cảnh đô thị, chan hòa mật thiết với các thảm kịch của thế kỷ XX, các viện bảo tàng tuyệt vời, nổi tiếng thế giới, và lịch văn hóa phong phú của nó sẽ thỏa mãn các du khách. 3 nhà hát nhạc kịch , Philharmonie Berline và các nhà trưng bày nghệ thuật cũng mang lại những giải trí đa dạng quanh năm.

Bị san bằng bởi bom đạn của Đệ Nhị Thế Chiến, rồi bị chia đôi trong 40 năm chiến tranh lạnh, Berlin, như một con phượng hoàng, tái sinh mỗi lần từ đống tro tàn của nó. Những vết thương gây nên bởi các cuộc chiến đã không hoàn toàn lành sẹo, nhưng những tiến bộ diễn ra như luồng chớp. Vì thiếu tiền thiếu bạc và do chểnh mãn lơ là, một đại bộ phận của Đông Berlin, trước khi tái thống nhất, nằm trong một tình trạng đỗ nát : những kiến trúc hạ tầng thiếu hụt và no mand’s land kéo dài hai bên Bức Tường đã dẫn đến sự bỏ bê của những vùng rộng lớn của trung tâm.

Bắt đầu từ khi tái thống nhất, năm 1990, Berlin được biến hóa thành một công trường khổng lồ. Một nhóm các nhà kiến trúc sư đến từ khắp nơi trên toàn thế giới, tha hồ biểu lộ óc tưởng tượng của mình để thành hình một đô thị của thế kỷ thứ XXI. Potsdamer Platz, một trong những quảng trường nhộn nhịp nhất trước chiến tranh, bị bỏ hoang vắng từ năm 1945 đến 1900, đã trở nên, sau khi tái thống nhất, một trung tâm thần kinh.

UserPostedImage


Toàn bộ nhiều khu phố đã biến mất dưới bom đạn rồi trong các đợt phá hủy sau chiến tranh. Một số lớn những dinh thự đẹp nhất tuy nhiên đã thoát khỏi những phá hủy này và ngày nay đã phục hồi lại vẻ huy hoàng năm xưa, và đôi khi pha trộn một cách hài hoà cái mới và cái cũ. Reichstag, lại tiếp đón trụ sở của Quốc Hội từ năm 1999, có lẽ là biểu tượng kiến trúc táo bạo nhất và mạnh mẽ nhất của cái ý chí muốn kết hợp quá khứ (vinh quang hay không) với một tương lai đầy hứa hẹn nhất.

Những sự biến đổi này không diễn ra một cách thông suốt. Từ nhiều thập niên, những đợt trùng tu, phá hủy và tái tạo khác nhau gây nhiều bàn cãi sôi nổi. Một vài biểu hiện của Tây Berlin, như Schloss Charlottenburg và nhà thờ tưởng niệm đổ nát Kaiser-Wilhelm-Gedachtniskirche, được dự định phải san bằng trong những năm 1950, cuối cùng đã được cứu thoát. Về phía Đông Berlin, lâu dài cổ của các hoàng đế Đức, Berliner Schloss, ít bị thiệt hại bởi bom đạn, đã bị phá hủy bởi chính phủ của Cộng Hòa Dân Chủ Đức, trong một hành động trung thành với ý thức hệ. Chiến dịch tái tạo lâu đài từ nay đã thắng thế : theo nguyên tắc, lâu đài sẽ được tái xây dựng ở vị trí nguyên thủy của nó, là nơi tòa nhà quốc hội Đông Đức được dựng lên (Palast der Republik), mà sự phá hủy theo kế hoạch phải được hoàn thành vào năm 2007.

Tòa nhà Quốc Hội là một biểu hiện của chế độ độc tài đối với phần lớn người Đức, nhưng những người khác lại thấy ở đó là chứng nhân của lịch sử, cũng có quyền tồn tại như những đền đài khác được dựng lên dưới thời Hitler (như các Bộ Hàng không và Tuyên truyền cũ hay phi trường Tempelhof) và vẫn còn tồn tại. Tại sao sân vận động thế vận hội nazi được xếp loại công trình lịch sử còn Tòa quốc hội cộng sản lại bị phá hủy ? Các cuộc bàn cãi này còn lâu mới chấm dứt.

Schloss Charlottenburg, Cathédrale Berliner Dom, Porte de Brandebourg và Gendarmenmarkt, tất cá đều được trùng tu, là những chứng nhân của các triều đại cua các vua Phổ và của các hoàng đế của Reich kể từ năm 1871. Đại lộ đồ sộ Unter den Linden, cũng như Postsdamer Platz và Alexandetplatz, mặc dầu những biến đổi liên tiếp, vẫn gợi lên những năm tháng trước cơn ác mộng nazi.

FREDERIC LE GRAND


Dân Berlin không luyến tiếc Frédéric-Guillaume và mong muốn có một cuộc sống ít khắc khổ hơn trong thời kỳ con của ông ta trị vì, Frédéric II, tức Frédéric le Grand tương lai (Friedrich der Grosse), cầm quyền từ 1740 đến 1786.

UserPostedImage


Là vị vua anh minh thật sự, Frédéric II ban hành các luật khoan dung tôn giáo và lôi kéo về triều đình của mình các triết gia người Pháp, như Voltaire (1694-1778), cũng như các nghệ nhân. Ông ngăn cấm những hình thức tra tấn tàn bạo nhất và đình chỉ chế độ kiểm duyệt một thời gian.

Được dân Berlin gán cho biệt danh là Der Alte (le Vieux Fritz), Frédéric II cũng là vị vua có quả đấm sắt, đặt thần dân của vương quốc Phổ (bao gồm Berlin) vào nguyên tắc quyền lực theo thứ bậc. Trong quân đội, binh sĩ sợ các hạ sĩ quan của họ (thường thô bạo) hơn cả quân thù. Frédéric II biến nước Phổ thành một trong những quốc gia hiếu chiến đầu tiên của châu Âu. Ông tham gia vào một loạt các cuộc xung đột, mà cao điểm là cuộc chiến 7 năm mà suýt nữa ông phải thua trận.

Frédéric tìm cách hiện đại hóa đất nước và làm gia tăng dân số bằng cách nhận các dân nhập cư đến từ khắp châu Âu. Khi cuộc chiến 7 năm chấm dứt, ông đã thốt lên : “ Người Pháp và người Thổ hãy đến định cư ở Berlin ”. Lúc ông mất năm 1786, thành phố có 150.000 dân. Được đặt tên là “ Athènes de la Spree ”, Berlin có được một nền công nghiệp vũ khí và một đời sống văn hóa thịnh đạt nhất.

Để mang lại cho thủ đô một phản ảnh của sự vĩ đại của Rome cổ đại, Frédéric Le Grand, năm 1740, đã thực hiện việc xây dựng những dinh thự néo-classique tuyệt vời xung quanh cái mà ngày nay trở thành quảng trường Babel (Babelplatz). Ông đích thân tham gia vào việc xây dừng những bình đồ của Deutsche Staatsoper, một nhà hát nhạc kịch, được hoàn thành năm 1741. St-Hedwigs-Kathedrale, Alte Bibliothek và Prinz-Heinrich-Palais (ngày nay là đại học Humboldt) thuộc vào những công trình được dựng lên vào thời kỳ này. Vào thế kỷ XIX, những người kế nghiệp Frédéric Le Grand cho dựng lên giữa các dinh thự bức tượng cỡi ngựa của ông, đầu đội mũ vành ba mũi.

CÁC CUỘC CHIẾN TRANH CỦA NAPOLÉON


Ba năm sau khi Frédéric II mất, cuộc cách mạng Pháp làm rung chuyển châu Âu.Vào lúc được tấn phong năm 1804, Napoléon (1769-1821) đang chinh chiến chống lại một phần lớn của lục địa. Có một thời, Phổ theo liên minh toàn châu Âu chống lại Pháp, rồi sau đó theo đường lối trung lập. Sau chiến thắng ở Austerlitz của Napoléon trước quân đội Nga và Áo vào tháng 12 năm 1805, các ông hoàng Đức kết hợp lại trong Hợp Bang sông Rhin (Confédération du Rhin), chấm dứt Saint Empire romain germanique. Dưới sự thúc đẩy của Napoléon, các ông hoàng này hiện đại hóa các tiểu quốc chư hầu.

Vào tháng 10 năm 1806, được các sĩ quan dưới quyền khuyến khích, Frédéric-Guillaume III, làm vua từ 1797 đến 1840, đã truyền lệnh cho Napoléon phải triệt thoái khỏi miền nam nước Đức. Hoàng đế Pháp chụp lấy cơ hội và đánh bại quân Phổ ở Iéna, rồi tiến vào Berlin ngày 27 tháng 10 qua cổng Brandebourg. Trước hết dân Berlin tiếp đón quân Pháp nồng hậu, trước khi khám phá cái giá phải trả của sự chiếm đóng : họ sẽ phải cần 55 năm để trả món nợ bị thua trận.

UserPostedImage


Napoléon chấp nhận sự hiện diện của một quốc gia Phổ bị thu nhỏ, nhưng ông buộc vua Phổ phải thực hiện những cải cách theo mô hình của Pháp : bãi bỏ (trên lý thuyết) chế độ nông nô, thành lập các hội đồng thị xã, kể cả ở Berlin, và hiện đại hóa quân đội (với số binh sĩ bị giới hạn). Những dân biểu Berlin được bầu bằng bỏ phiếu vào năm 1809.

Vào năm 1810, anh em Wilhelm và Alexander von Humboldt, hai nhà thông thái thuộc một gia đình theo giáo phái Tin Lành, đã xây dựng trong đại lộ Unter Den Linden, đại học sẽ mang tên họ.

Những năm Pháp chiếm đóng đã khơi dậy một cách nhanh chóng tinh thần dân tộc mạnh mẽ. Giới trí thức và giai cấp trưởng giả bắt đầu mơ tưởng một đại quốc Đức được thống nhất và thoát khỏi sự thống trị của ngoại bang. Nhưng họ đã phải chờ đợi. Sau khi liên minh với Napoléon trong chiến dịch nước Nga tháng hai năm 1812, nước Phổ thay đổi đồng minh và bắt đầu một cuộc chiến tranh giải phóng với kết quả là sự ra đi khỏi Berlin của quân Pháp vào năm 1813. Sau khi Napoléon thất trận, bản đồ châu Âu được vẽ lại ở hội nghị Vienne năm 1815 : một phần lớn các nền quân chủ ở châu Âu được khôi phục và nước Phổ thu được những vùng lãnh thổ quan trọng ở miền tây nước Đức.

ĐẠI LINH (23/02/2010)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#2 Posted : Saturday, August 25, 2012 3:29:16 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,341

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
BERLIN (2)

Đại Linh


POTSDAMER PLATZ


Là một trong những quảng trường nhộn nhịp nhất của Berlin trước Đệ Nhị Thế Chiến, Potsdamer Platz bị tàn phá trong chiến tranh và sau chiến tranh bị cắt thành hai bởi Bức Tường Bá Linh. Chính ở đây, ngày 10 tháng 11 năm 1989, đã vang lên những nhát búa đầu tiên làm rung chuyển Bức Tường. Ngày nay, trên quảng trường, các tháp sáng rực và cực kỳ hiện đại vươn lên cao vút, nằm kế cận với những vết tích của Bức Tường.

UserPostedImage
UserPostedImage


Nếu Bahntower, trụ sở mới của Deustch Bahn, công ty đường sắt của Đức, chế ngự Potsdamer Platz từ trên đỉnh cao của 26 tầng lầu, thì Sony Center, tác phẩm của nhà kiến trúc sư Đức-Mỹ Helmut Jahn, là tòa nhà hùng tráng. Được hoàn thành năm 2000, tám tòa nhà của Sony Center, được chói sáng về đêm với những màu sắc thay đổi, từ nay là biểu tượng của “ Berlin Mới ” (Nouveau Berlin).

UserPostedImage


UNTER DEN LINDEN


Unter den Linden là con đường phố lớn nổi tiếng của Berlin. Với hơn 3 thế kỷ lịch sử, đại lộ “ dưới cây Tilleuls ” đã từng là nơi của các giai đoạn vinh quang cũng như những thảm kịch đen tối nhất của thủ đô. Ở vùng phụ cận, các kỷ niệm của quá khứ xen kẻ với những sáng tạo hiện đại của Berlin Mới (Nouveau Berlin). Một phần lớn của đại lộ Unter Den Linden và vùng phụ cận đã bị phá hủy trong Đệ Nhị Thế Chiến.Việc xây Bức Tường Bá Linh từ năm 1961, đã biến đại lộ thành một ngõ cụt, một đại lộ bị phế truất với đầu phía Tây bị khép lại bởi Porte de Brandebourg (Brandenburger Tor). Sau khi thống nhất, thành phố không ngừng lấy lại thế quân bình. Phần này của trung tâm Berlin, được gọi rất hợp thời là Mitte (milieu : điểm giữa) đã được hưởng những dự án đô thị hóa đầu tiên. Ngày nay, khó có thể tưởng tượng được sự suy tàn trong những năm tháng phân chia. Một số lớn các dinh thự lộng lẫy ngày xưa đã được trùng tu, hoặc được xây dựng lại hoàn toàn. Khách sạn sang trọng và huyền thoại Adlon, được xây dựng năm 1907, đã từng tiếp đón Charlie Chaplin, Thomas Mann, Greta Garbo và Caruso trong những năm 1920, đã được tái xây dựng y hệt như trước.Tòa Đại Sứ Nga là dinh thự đầu tiên được tái xây dựng vào năm 1945 bởi Liên Xô. Unter Den Linden của những ngày huy hoàng đã được hồi sinh.

UserPostedImage


Chừng nào các cây Tilleul còn nở hoa trên Unter den Linden, thì Berlin sẽ vẫn luôn luôn là Berlin ”. Marlène Dietrich đã hát như thế về đại lộ lộng lẫy này. Tuy nhiên, đến mãi giữa thế kỷ thứ XVII, đó chỉ là một con đường dẫn đến một khu bảo tồn săn bắn. Tên của con đường “ Dưới cây Tilleuls ” (Sous les Tilleuls) là phát xuất từ các cây che bóng đại lộ. Con đường mòn thôn dã, dành cho ngựa chạy qua ngày trước, đã trở thành, dưới thời Frédéric II (1740-1786) con đường phố lớn thanh lịch nhất của thủ đô nước Phổ, nhưng sau Đệ Nhị Thế Chiến đã mất đi uy thế khi con đường nằm trong vùng Đông Berlin. Các tòa nhà lịch sử được tu bổ cẩn thận, ở gần những công trình hiện đại, đã cho phép đại lộ Unter den Linden tìm lại được cương vị của mình.

Tương đương với đại lộ Champs-Elysées của Paris, đại lộ Unter den Linden của Berlin nối Museuminsel với Porte de Brandebourg và tạo nên trung tâm của khu phố lịch sử Mitte. Các tòa nhà ngự trị đại lộ cũng như Quảng trường Babel (Babelplatz), phô bày một hình ảnh biểu hiện cho sự phát triển phồn vinh của nước Phổ, rồi của nước Đức, bắt đầu từ đầu thế kỷ XVIII. Ở phía nam đại lộ Unter den Linden, các dinh thự uy nghi kiểu néo-classique tạo nên một tổng thể hài hòa trên Gendarmenmarkt. Quảng trường này đã tìm lại một cuộc sống mới từ khi thống nhất và từ khi mở các hiệu ăn và các quán cafés thanh lịch. Không xa đó là các tiệm bán hàng xa xỉ, các cửa hàng lớn và các tòa nhà hiện đại nằm dọc theo con đường thanh lịch này.

UserPostedImage


HUMBOLDT- UNIVERSITAT


Đại học Berlin tọa lạc trong cung điện được xây năm 1753 cho ông hoàng Henri de Prusse. Mặc dầu được mở rộng ra nhiều lần, nhưng tòa nhà hiện nay vẫn giữ cách tổ chức chung. Ở lối vào, hai bức tượng bằng cẩm thạch biểu hiện Wilhelm và Alexander Humboldt.

UserPostedImage


Đại học Humboldt dược thành lập năm 1890 theo sáng kiến của nhà ngôn ngữ học Wilhelm von Humboldt. Wilhelm (1767-1835) là luật sư và chính trị gia. Wilhelm giữ nhiều chức vụ trong chính phủ nhưng ông được biết nhất về những nghiên cứu của ông về ngôn ngữ. Em ông Alexander (1769-1859) là nhà du lịch lớn và là nhà khoa học nổi tiếng (luồng nước lạnh chạy từ Nam Cực lên Californie phía Thái Bình Dương mang tên ông). Alexandre đã viếng thăm 3 lục địa và mang lại một sự cống hiến quý báu trong lãnh vực địa chất, khoa học tự nhiên và dân tộc học .

UserPostedImage

UserPostedImage


Đây là đại học xưa nhất và có uy tín nhất của Berlin. 29 sinh viên được đào tạo bởi đại học này đã nhận giải Nobel, trong đó có nhà vật lý Albert Einstein. Heinrich Heine, Karl Marx, và Friedrich Engels đã theo học ở đây. Fichte và Hegel, Rudolf Virchow, Robert Koch cũng như Max Planck và Albert Einstein đã từng giảng dạy tại đây.

Sau khi Berlin bị phân chia năm 1945, đại học nằm trong khu vực xô viết, vì vậy vào năm 1948, Đại học Tự do (Freie Universitat) được mở ở Tây Berlin.

BERLINER DOM


Toà nhà oai nghiêm để vinh quang nhà thờ Luther và nước Phổ, được xây dựng từ 1894 đến 1905, theo sáng kiến của hoàng đế Guillaume II và Augusta, vị hôn thê của ông.

Là nơi sùng kính của hoàng tộc, Berliner Dom suýt nữa bị phá hủy sau Đệ Nhị Thế Chiến. Là biểu tượng của thế lực hoàng đế vào đầu thế kỷ XX, Berliner Dom đã tìm lại được vẻ huy hoàng sau hai thập niên bị quên lãng. Thế chiến thứ hai đã phá toan nhà thờ, và chế dò Đông-Berlin đã có dự định san bằng trong những năm 1950.

UserPostedImage


URFURSTENDAMN


Đường phố thương mãi lớn của Tây Berlin vào thời Berlin bị chia đôi, Kurfurstendamm, hay Ku’damm, đã tìm lại được vẻ rạng rỡ của mình sau vài năm suy tàn. Những tòa nhà hiện đại với cấu trúc táo bạo, các cửa tiệm lịch sự và sự hiện diện của các nghệ nhân trình diễn trên đường phố, đã làm đại lộ này trở nên đại lộ dài nhất của Berlin (3,8 km), là nơi đi dạo hay bát phố xem hàng thoải mái.

BRANDENBURGER TOR


Ngày nay hướng về thành phố để tỏ dấu hòa bình, la Porte de Brandebourg trước đây từng là khải hoàn môn, dưới đó Napoléon đã duyệt binh vào năm 1806 hay các đảng viên quốc xã đã diễn hành vào buổi chiều hôm đề cử Hitler vào dinh quốc trưởng năm 1933, trước khi bị đóng lại bởi Bức Tường Bá Linh và trở nên biểu tượng của sự phân chia thành phố. Được xây dựng vào cuối thế kỷ thứ XVIII bởi Carl Langhans theo mô hình của các cổng đền (propylées) của Acropole (Athènes). Trên nóc cổng là một xe tứ mã (quadrige). Nằm vươn cao trên Porte de Brandebourg, chiếc xe tứ mã do nữ thần Hòa Bình lại được dựng lên vào năm 1793 để cử hành chiến thắng của Phổ lúc chiến tranh 7 năm (1763).

UserPostedImage


Với nhóm các hình điêu khắc cao 6m, được thực hiện năm 1794, Johann Gottfried Schadow nguyên thủy muốn biểu hiện Hoà Bình.Ông lấy cháu gái của mình làm mẫu cho nữ thần đứng trên chiếc xe tứ mã, như thế làm cho người phụ nữ trẻ này nổi tiếng khắp Berlin. Con đại bàng và chiếc thập tự sắt có từ năm 1814. Vào năm 1806, lúc quân Napoléon chiếm thành phố, chiếc xe tứ mã này đã được đem về Paris. Nhưng cổ xe nữ thần Hòa Bình đã được trả về lại vị trí sau chiến dịch 1814.

UserPostedImage


PARISER PLATZ


“ Quarré ”, được họa hình năm 1734, đã được đổi tên là Place de Paris vào năm 1819, không phải để chào mừng Thành phố ánh sáng mà để cử hành hiệp ước Paris lưu đày Napoléon ra đảo Elbe năm 1814. Bị phá hủy sau chiến tranh, quảng trường đã trở nên một khu đất hoang được xuyên qua bởi Bức Tường Bá Linh ngăn cách trước khi được xây dựng lại theo các tiêu chuẩn rất nghiêm ngặt. Trong khi khách sạn Adlon và các tòa nhà ở hai bên cổng Brandebourg được tái xây dựng y hệt, thì quảng trường được bao quanh bởi các dinh thự hiện đại như tòa đại sứ Pháp hoặc DG Bank.

UserPostedImage


REICHSTAG


Không có cơ quan nào biểu tượng hơn Nghị Viện Liên bang (Parlement Fédéral) cũng như không có dẫn nhập nào để khám phá Berlin tốt hơn Reichstag. Được sử dụng bởi Hitler lúc lên cầm quyền, Reichstag bị dội bom trong Đệ Nhị Thế Chiến. Rồi sau đó trong suốt 29 năm, nằm kề Bức Tường Bá Linh được dựng lên cách đó không xa. Bị đốt cháy bởi các đảng viên Đức Quốc Xã năm 1933, rồi bị dội bom trong Đệ Nhị Thế Chiến, phải cần chờ đợi đến lúc thống nhất, Reichstag mới tìm lại được cương vị của mình. Từ năm 1999, đây là trụ sở của Nghị Viện Liên Bang ( Deutscher Bundestag, Parlement Fédéral).

Reichstag (dịch ra từng chữ là Parlement impérial : Nghị Viện đế chế).

Hoàng Đế Guillaume II đặt biệt danh “ cages aux singes impériaux ” cho cái tòa nhà được xây dựng từ năm 1884 đến 1894 này, để tiếp đón Nghị Viện của đế chế được xây dựng năm 1871. Reichstag là biểu tượng cho những nỗi thăng trầm của Berlin. Là cái bóng ma thầm lặng trong gần 60 năm, Reichstag đã tìm lại cái vai trò Nghị Viện ban đầu của mình từ khi tái thiết lập, vào năm 1999, các cơ quan chính phủ của Đức ở Berlin, đã trở nên thủ đô vào năm 1990.

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage


Là trụ sở của Nghị viện đế chế (Parlement impérial). Chính từ tầng thứ nhất của tòa nhà này mà Philipp Scheidemann đã tuyên bố nền cộng hòa vào ngày 9 tháng 11 năm 1919. Vào đầu những năm 1930, Hitler lợi dụng tính mỏng manh của hệ thống nghị viện để chiếm chính quyền. Hitler đã chẳng bao giờ đặt chân đến Reichstag cả. Vào ngày 27 tháng 2 năm 1933, một tháng sau khi cuộc bầu cử dành cho đảng của Hitler 1/3 số phiếu, tòa nhà bị hư hại nặng bởi một đám cháy được phát sinh trong những trường hợp vẫn còn u tối. Một người cọng sản người Hòa Lan,Van der Lubbe, mắc bệnh tâm thần, bị xét xử là thủ phạm và bị kết án tử hình. Thật ra, những tác giả thật sự có thể là những đảng viên Quốc Xã. Dầu thế nào đi nữa, việc đốt cháy Reichstag được Hitler dùng làm cái cớ để khủng bố và bắt giam những người chống đối, trong số đó có nhiều nghị viên. Các đảng viên quốc xã đã không bỏ công tu sửa lại tòa nhà, và tòa nhà còn bị suy sụp trong những tháng cuối cùng của Đệ Nhị Thế chiến. Khi Hồng quân vào Berlin tháng 4 năm 1945, những đơn vị cuối cùng của Đức vẫn núp trong Reichstag với các bức tường có khả năng chống lại các loạt đại pháo. Pháo đài bị tấn công ngày 30/ 4/1945, và bức ảnh những người lính Nga kéo cờ đỏ lên mái vòm há miệng là một trong những bức ảnh nổi tiếng nhất của Đệ Nhị Thế Chiến.Trong những năm sau chiến tranh, sân trước của Reichstag đổ nát dùng làm nơi tập hợp của nhiều cuộc biểu tình. Vào năm 1948, khi những người xô viết tuyên bố phong tỏa Berlin, thì chính ở đó đám đông tụ tập để nghe ông thị trưởng Ernst Reuter đưa ra lời kêu gọi rung cảm với thế giới tự do : “ Các bạn hãy nhìn thành phố này và hãy hiểu rằng các bạn không thể và không được bỏ rơi nó ! ”. Berlin đã không bị bỏ rơi, nhưng sự xây dựng Bức tường năm 1961 đã cắt Reichstag khỏi những khu phố trung tâm.

Sau khi thống nhất đất nước, nhiều tiếng nói được cất lên chống lại việc chuyển trụ sở chính phủ từ Bonn về Berlin.Trong tâm trí của nhiều người Đức, tòa nhà Reichstag nhắc nhở một cách quá mãnh liệt những khía cạnh đen tối nhất của lịch sử đất nước. Năm 1991, Nghị viện liên bang bỏ phiếu tán đồng trở lại Berlin và nhà kiến trúc sư người Anh Sir Norman Foster thắng cuộc thi tuyển được tổ chức để trùng tu lại tòa nhà. Ngay năm 1999, Quốc Hội từ giã Bonn để về tọa vị trong một Reichstag đã được trùng tu.

ĐẠI LINH (23/02/2010)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#3 Posted : Saturday, August 25, 2012 3:29:36 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,341

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
BERLIN (3)

Đại Linh


BỨC TƯỜNG BÁ LINH, HÔM QUA VÀ HÔM NAY

UserPostedImage


Việc sinh ra đời của nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức vào năm 1949 đã dẫn đến sự bỏ trốn liên tục của các công dân Đông Đức về phía Tây Đức. Cuộc bỏ trốn này gia tăng vào cuối những năm 1950. Chỉ trong tam cá nguyệt đầu tiên của năm 1961, gần 200.000 người Đông Đức đã bỏ trốn qua Tây Đức. Cuộc di tản này làm lâm nguy nền kinh tế của đất nước ; Berlin tạo nên một trong những mắc xích yếu của bức màn sắt được dựng lên giữa hai nước Đức. Khi Walter Ulbricht, bí thư thứ nhất của SED, tuyên bố vào tháng sáu rằng “ không ai có ý định xây dựng một bức tường ”, thì ông ta đã nói dối : với sự đồng ý của các nước hội viên khác của Minh Uớc Varsovie, nước Cọng Hòa Dân Chủ Đức đã quyết định “ giải quyết vấn đề Berlin ” bằng cách thiết đặt ở đó một chướng ngại vật lý chống lại sự trốn thoát của các kiều dân Đông Đức, đó là “ Bức Tường Ô Nhục ” (“ Mur de la honte ”) tương lai.

Ngày 12 tháng 8 năm 1961, vào khoảng nửa đêm, các đơn vị của quân đội nhân dân đồn trú ở Đông Berlin, khi đó bị chiếm đóng bởi quân Xô Viết, được đặt trong tình trạng báo động. Ngay sáng hôm sau, các đơn vị quân đội đã thiết đặt một hàng rào dây kẽm gai và đào hố chống chiến xa dọc theo biên giới dài 155 km với Tây Berlin. Những đường giao thông liên lạc bằng métro và xe hỏa giữa hai nửa của thành phố bị gián đoạn.

Sáng 13 tháng 8, hàng trăm người dân Đông Berlin chụp lấy cơ hội cuối cùng để vượt qua Tây Berlin. Nhưng cuối ngày, quân đội đã dựng lên những bức tường bằng gạch, đào các hố mới và dùng vũ lực buộc dân chúng trong những ngôi nhà nằm nơi vùng biên giới phải dọn đi.Trên tổng số 81 trạm kiểm soát hiện hữu, 69 trạm bị đóng cửa. Cho mãi đến năm 1963, hầu như không có ai có quyền đi từ Tây sang Đông hay ngược lại.

UserPostedImage


“ Bức tường bảo vệ chống phát xít ” (Mur de protection antifascite) được củng cố theo năm tháng. Vào năm 1975, đó là một bức bình phong thật sự, bằng béton, 43 km chiều dài, ngăn cách hai nửa của thành phố Berlin. Được cấu tạo bởi các tấm béton tiền chế, mỗi tấm nặng 2,75 tấn, bức tường đạt từ 3,5 m đến 4 m chiều cao, đi xuyên qua các toà nhà, cắt ngang các con đường thành hai. Một “ no man’s land ”, “ Dải băng Tử Thần ” ( “ le ruban de la Mort ” ) chạy dọc theo bức tường, và được bọc bởi một hào rãnh và một lối đi nhỏ dành cho quân xa. 112 km biên giới còn lại với Tiểu bang Brandebourg và Tây Berlin được đóng lại bằng những hàng rào công sự, và nước Cọng Hòa Dân Chủ Đức đã thiết đặt ở đó 300 tháp canh được trang bị bởi những chòi canh và súng máy. Sự bố trí lực lượng này sau đó được tăng cường bởi những đường mòn cho các con chó canh, những máy phát hiện và về sau bởi những hệ thống bán tự động.

Bức tường Bá linh đã gây ra nạn nhân đầu tiên ngày 24 tháng 8 năm 1961: Gunter Litfin. Nạn nhân cuối cùng, Chris Gueffroy, chết ngày 5 tháng 2 năm 1989.Trong số 5.000 người cố vượt qua Bức tường, hơn 3.000 đã bị bắt. 80 người bị chết và 115 người bị thương.

Hiện nay những vạt của Bức tường vẫn còn đứng đó. Vạt dài nhất, gọi là East Side , chạy dọc theo sông Spree. Những dấu tích khác, ít quan trọng hơn, vươn cao lên ở ngã tư của Niederkirchnerstrasse và của Wilhelmstrasse và ở Gedenkstatte Berliner Mauer, trong Kielerstrasse, ở phía bắc của Hamburger Bahnhof. Nhũng tháp canh vẫn còn. Nhiều công trình kỷ niệm để tưởng nhớ các nạn nhân, gần Porte de Brandebourg, Tiergarten, và trên sông Spree, ở phía bắc Reichstag.

CHECKPOINT CHARLIE


UserPostedImage


Từ năm 1961 đến 1990, phần lớn các du khách Tây Phương muốn trải qua một ngày ở Đông Berlin, đều phải trình diện ở Checkpoint Charlie, trạm kiểm soát của Hoa Kỳ. Vào năm 2001, một bản sao của trạm kiểm soát này đã được dựng lên cũng chính vào nơi được tọa vị trước đây của Checkpoint Charlie, kèm theo tấm biển nổi tiếng : “ Các bạn đang rời khỏi khu vực của Hoa Kỳ ”. Đài kỷ niệm chiến tranh lạnh này là do Rainer Hildebrandt (1914-2004), đã xây dựng và điều khiển viện bảo tàng Tây Đức kế cận, Haus am Checkpoint Charlie Museum.

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage


Được xây dựng vào năm 1963, gần Checkpoint Charlie, trong một toà nhà kế cận Bức Tường Bá linh, Haus am Checkpoint Charlie Museum tiếp tục gìn giữ những kỹ niệm về những thảm kịch liên kết với sự hiện hữu của Bức Tường.

Bằng các đồ vật, các tấm hình, các vidéo và các bản kiểu (maquette), Viện bảo tàng kể lại các mưu toan trốn qua Tây Berlin của các công nhân của Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Quý vị sẽ khám phá ở đó những chiếc xe hơi đã được sử dụng để bí mật vượt qua biên giới và những mưu mẹo ít điển hình hơn. Như là trường hợp một phụ nữ trốn khỏi Đông Berlin, nằm dấu mình trong một cái loa to tướng, một phụ nữ khác nằm giữa hai tấm ván trượt sóng được khoét rỗng. Vào năm 1979, hai gia đình gồm 4 người đã vượt qua biên giới bằng chiếc khinh khí cầu, đây là chiếc khinh khí cầu lớn nhất đã từng được thực hiện bằng tay ở Châu Âu. Viện bảo tàng còn giữ các thùng chứa nhiên liệu và chiếc máy may dùng để lắp ráp 1.250 m2 đồ vải.

Một căn phòng trưng bày các vật lưu niệm của thời kỳ cộng sản, như là một cây nến đỏ có hình Staline. Căn phòng cũng thu thập các đồ vật hỗn tạp đã từng thuộc về Erich Mielke (1907-2000), cựu chủ tịch của Stasi (mật vụ của Đông Đức), trong đó có một cuốn sổ nhỏ ghi các địa chỉ, gồm tên của các chức sắc của chế độ, trong đó có Erich Honecker, chủ tịch của nước Cọng Hòa Dân Chủ Đức. Các bạn có thể thấy ở đó các số điện thoại của viên chủ tịch này, điện thoại tại gia cũng như điện thoại của các văn phòng của Ủy Ban Trung Ương của SED và của Hội Đồng Nhà Nước (Staatsrat).

ALEXANDERPLATZ

UserPostedImage


Các độc giả của “ Berlin Alexanderplatz ”, của Alfred Doblin, cảm thấy một ước muốn không thể cưỡng lại, là được khám phá cái quảng trường mà trong những năm 1920 đã trở thành một trong những nơi nhộn nhịp nhất của Berlin. Tiếc thay, cái quảng trường được nhà văn từng mô tả, đã bị biến dạng bởi các trận giao tranh năm 1945, rồi, từ năm 1950, bởi chính quyền cộng sản, muốn biến quảng trường này thành tủ kính của thủ đô. Tuy nhiên quảng trường Alexandre cũng đáng được tham quan, dầu là chỉ để xem tháp Truyền hình (Tour de la Télévision).

Cái chợ cổ bán súc vật này lấy tên của Nga Hoàng Alexandre đệ nhất (1777- 1825) để đặt tên cho quảng trường (Alexanderplatz), nhân vị hoàng đế nước Nga xa hoàng đến viếng thăm chính thức Berlin năm 1805.Vào lúc xảy ra các cuộc nổi dậy năm 1848, các công nhân đã xây các chiến lũy trên quảng trường và đương đầu ác liệt với cảnh sát. Năm 1882, một nhà gare được xây dựng ở trung tâm của quảng trường, sau đó, vào năm 1913, là một trạm métro.

UserPostedImage

UserPostedImage


Alexanderplatz của Alfred Doblin đã là chứng nhân của một quá khứ đầy sôi động.Tương đương với Potsdamerplatz, “Alex ” vào đầu thế kỷ XX là cái đầu mối giao thông lớn nhất của thành phố. Bị phá hủy trong thời kỳ chiến tranh, quảng trường được mở rộng và được khuôn mẫu lại dưới chế độ Đông Đức để trở thành cái tủ kính của Đông Berlin. Vào tháng 11 năm 1989, Alexanderplatz là nơi diễn ra một cuộc biểu tình khổng lồ chống lại chế độ cộng sản đang lung lay. Sau khi tái thống nhất, người ta quyết định sửa chữa trong chừng mực có thể được các sai lầm đô thị hóa của nước Cọng Hòa Dân Chủ Đức.

UserPostedImage

UserPostedImage


FERNSEHTURM (1969)

UserPostedImage


Biểu tượng của xu hướng tân thời được phô bày bởi nhà cầm quyền Đông Berlin, tháp truyền hình, được dựng lên năm 1969, chế ngự quảng trường Alexandre và chân trời Berlin với 365 m chiều cao.Tháp truyền hình là tòa nhà cao nhất của Berlin. Được xây dựng từ năm 1966 và 1969, tháp truyền hình đã nhận biệt danh là “ Grande Asperge ”. Từ mái bằng nhìn toàn cảnh của tháp cách mặt đất 203 m, du khách có thể có một tầm nhìn, vào lúc trời quang đãng, xa đến 40km.Telecafé trên đỉnh tháp, cứ mỗi nửa giờ, thực hiện một vòng quay tròn : người ta có cảm tưởng là đang ở giữa trời mây.

UserPostedImage


Tòa nhà đặc sắc này, cao 365 m : một thân cột bằng béton 26.000 tấn chống đỡ một viên cầu giống trái banh golf, nơi đây, ở độ cao 203 m là một tầng bằng quan sát (une plate-forme d’observation) và một tiệm café toàn cảnh (café panoramique). Vào thời kỳ Đông Berlin, trung tâm thông tin của tháp chiếu những phim tuyên truyền ca ngợi những niềm vui của cuộc sống trong “ thủ đô của nước Cọng Hòa Dân Chủ Đức ”

ĐÀI TƯỞNG NIỆM NHỮNG NGƯỜI DO THÁI Ở CHÂU ÂU BỊ SÁT HẠI
( DENKMAL FUR DIE ERMORDETEN JUDEN EUROPAS)


UserPostedImage


Ở trung tâm khu chính phủ, đài tưởng niệm này được khánh thành tháng 5 năm 2005 để tưởng nhớ các người Do Thái, nạn nhân của sự ngược đãi và của chính sách diệt chủng, được tiến hành từ năm 1933 đến 1945 bởi các đang viên quốc xã, ở Đức cũng như trong phần còn lại của châu Âu.

Năm 1999, Quốc Hội Đức quyết định nhìn nhận việc tiêu diệt những người Do Thái ở châu Âu và tính chất tuyệt đối độc nhất của nó. Qua quyết định này, cũng chính sự trách nhiệm hoàn toàn của nhà nước Đức đã được công nhận. Chính trong khu phố lịch sử, chính trị và dân chính, được thường xuyên lui tới nhất, sự xây dựng Đài kỷ niệm bởi kiến trúc sư Peter Eisermann đã được quyết định.

Trên bề mặt, chỉ xuất hiện một cánh đồng gồm 2.711 tấm bia bằng béton, nằm nghiêng, chiều dài và bề rộng bằng nhau, nhưng chiều cao khác nhau. “ Cánh đồng ” rộng lớn này (khoảng 19.000 m2) là một nơi đi dạo (hay đi lạc) đối với du khách.

UserPostedImage


Vào năm 1919, Hiến Pháp của Cọng Hòa Weimar bảo đảm cho những người Do thái có cùng quyền lợi như những người Đức. Ngày 30 tháng 8 năm 1929, Central Verein Zeitung công bố một số đặc biệt để kỹ niệm lần thứ 200 ngày sinh ra đời của Moses Mendelssohn, triết gia Ánh sáng người gốc Berlin, “ người Đức gốc Do thái đầu tiên ” và là “ cha đẻ của sự bình đẳng về những quyền lợi của chúng ta ”. Năm 1933, việc lên cầm quyền của Hitler đã chấm dứt những tự do này và đã đưa cộng đồng Do thái vào trong một ác mộng vô tiền khoáng hậu.

Những cộng đồng Do thái đầu tiên của nước Đức có từ thế kỷ thứ VIII và, ở Berlin, vào thế kỷ XIII. Ở đây cũng như ở những nơi khác, các người Do thái chịu đủ mọi loại ức hiếp. Vào bất cứ lúc nào họ đều có thể bị xua đuổi và thường bị cấm làm phần lớn những nghề nghiệp. Những nghề hiếm hoi mà họ được phep làm là tín dụng, nghề bán rong, y khoa và ngân hàng.

Những người Do thái bị trục xuất khỏi Brandebourg vào năm 1573, nhưng trở lại nằm 1671 khi họ bị buộc phải rời khỏi nước Ao. Vào thế kỷ XVII, Berlin là một thành phố tương đối khoan dung, như là các đạo luật và chỉ dụ chứng tỏ điều đó, khi thì khoan dung khi thì có tính cách hạn chế.

Trong thế kỷ XVIII, phong trào Ánh sáng làm nảy sinh một niềm hy vọng bình đẳng ; về sau, mặc dầu chủ nghĩa bài Do thái ngấm ngầm, nhiều người Do thái đã hy sinh cuộc đời họ trong Đệ nhất thế chiến. Những người khác tranh đấu trong phong trào tả khuynh.

Những người Do thái gốc Berlin gồm nhiều đại biểu nổi tiếng, trong số đó có nhạc sĩ Felix Mendelssohn- Bartholdy, cháu trai của Mendelssohn, triết gia. Một vài là những nhà kinh doanh ngoại hạng. Adolf Jandorf (1870-1932) đã thành lập cửa hàng nổi tiếng KaDeWe năm 1907.Wertheim và Tietz nằm trong số những biển hiệu uy tín nhất trước Đệ Nhị Thế Chiến.

Chủ nghĩa quốc xã đẩy cộng đồng Do thái vào cơn ác mộng. Khi Hitler lên cầm quyền vào năm 1933, có khoảng 170.000 người Do Thái sống ở Berlin. Một số lớn sống trong ghetto de Scheunenviertel, ở phía Bắc của Alexanderplatz. Trong khu phố này và ở những con đường kế cận, ít an ninh, đĩ điếm và tội phạm phát triển.

Hơn 100.000 người Do Thái sống lưu vong trước Đệ Nhị Thế Chiến và hơn 50.500 người đã chết trong các trại tử thần của Auschwitz và Theresienstadt.

Ngày nay, cộng đồng Do Thái của thủ đô Đức đếm được khoảng 11.500 người, trong đó 2/3 có nguồn gốc từ Liên Xô cũ. Đó là cộng đồng quan trọng nhất của cả nước Đức (khoảng 100.000 người Do Thái trong cả nước).

Đại Linh (26/02/2010)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.