Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
lly (Lynn Ly)  
#1 Posted : Saturday, August 25, 2012 3:21:13 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,341

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
BARCELONE (1A)

ĐẠI LINH

Diện Tích : 101 km2
Dân Số : 1.578.000 dân với Barcelone nói riêng . 4.400.000 dân với Grand Barcelone
Mật độ dân số : 15.635 người dân/km2
Tiền tệ : Euro
Tỷ lệ thất nghiệp : 6,1%
Quy chế : Thủ phủ của vùng tự trị Catalogne Ngôn ngữ : Catalan, Castillan.


UserPostedImage


Barcelone là một thủ phủ, một cảng hoạt động của Địa Trung Hải, là một thành phố của những thiết kế cổ xưa do nét kiến trúc đặc biệt và mỹ lệ của nó, cụ thể như Cathedrale de Barcelone với một công trình xây dựng trên 150 năm. Barcelone là nơi của những tên tuổi lớn, những thiên tài nghệ thuật của thế giới loài người chúng ta như Picasso, Salvadore Dali, thiên tài kiến trúc Gaudi... Antoni Gaudi, nhà nghệ thuật đầy sáng tạo đã phối hợp ngành kiến trúc và triết học và 3 trong những công trình của ông là Palau Guell, Parc Guell và Casa Mila được Unesco liệt vào hàng di sản thế giới. Và Christophe Colomb, nhà thám hiểm tài danh sống cho đam mê thám hiểm không mệt mỏi...

UserPostedImage


Barcelone còn là trung tâm lịch sử thời trung cổ, là nơi lôi kéo hằng ngàn du khách mỗi ngày đến thăm viếng vì những danh lam thắng cảnh và tính cách lịch sử của nó với những kiến trúc vĩ đại. Những bãi cát mịn màn dài hằng mấy cây số. Còn đại lộ La Ramblas trước đây là lòng của một dòng sông giờ đây là con phố chính của Barcelone luôn luôn nhộn nhịp và huyên náo ngày đêm.

UserPostedImage


UserPostedImage


Catalan là tiếng nói phát xuất từ latin, cũng giống như tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha (cũng được gọi là castillan ở Catalogne), tiếng Ý và tiếng Bồ Đào Nha. Tổng cộng có hơn 10 triệu người nói tiếng Catalan. Dân Catalan rất gắn bó với tiếng nói của mình và Catalan đã trở thành tiếng nói chính thức của Catalogne sau những cuộc tranh đấu kéo dài và dai dẳng. Dưới chế độ độc tài Franco, tiếng Catalan bị cấm nói, điều này giải thích tại sao dân Catalan đã kịch liệt và cuồng nhiệt tranh đấu cho quyền được phát biểu bằng tiếng nói của dân tộc mình sau khi Franco mất. Ở trường học, các bài giảng được giảng dạy bằng tiếng Catalan và tiếng Espagnol (Castillan) được xem là sinh ngữ hai. Ở đại học cũng giảng dạy bằng tiếng Catalan, điều này giới hạn việc ghi danh của các sinh viên nói tiếng Espagnol và tạo sự phẫn nộ cho các sinh viên này.

Các thắng cảnh được liệt kê là di sản của Unesco :
  • Parc Guell
  • Palau Guell
  • Casa Mila (La Pedrera) : là toà nhà tiền chế sớm nhất (avant-gardiste) của Antoni Gaudi.
  • Palau de la Musica
  • Hospital de Sant
  • Casa Vicens
  • Sagrada Familia : kiệt tác còn đang dang dở của Gaudi
  • Casa Batillo
  • Colonia Guell

UserPostedImage


UserPostedImage


BARCELONE nằm tiếp cận giữa các ngọn đồi La Serra de Collserola ở phía tây (trên một độ cao 500m), và đồi Montjuic ở phía nam. Thành phố đuợc thành lập bởi người La Mã năm 218 trước Thiên Chúa Giáng sinh, ở vùng gần Montjuic và được đặt tên là Barcino. Barcelone không những là thủ phủ của vùng Catalonie, mà còn là một cảng hoạt động của Địa trung Hải, một đối thủ kinh tế lớn của Madrid, một cực văn hóa (pôle culturel) có tính sáng tạo sôi sục và là một đô thị hướng về châu Âu để khẳng định và bảo vệ bản sắc catalan của mình. Sự thành công của Thế Vận Hội Olympic năm 1992 trong Parc de Montjuic đã chứng tỏ tính năng động và hiệu quả của dân chúng Barcelone. Bức tường thành đầu tiên được xây dựng bởi người La Mã vào thế kỷ thứ 4 và bao quanh khu phố, tương ứng với Barri Gotic ngày nay, bao gồm La Cathédrale, Plaça de San Jaume và Plaça del Pi.

Vào thời trung cổ, 2 bức tường khác được dựng lên quanh Phố Cổ hiện nay. Đến mãi cuối thế kỷ thứ XVIII, dân chúng Barcelone vẫn sinh sống bên trong tường thành, trong lúc nhiều làng mạc phát triển chung quanh. Các làng mạc này ngày nay trở thành những khu phố riêng biệt (Garcia, Sants, Sarria.). Sau này khi mật độ dân số tăng cao đã phải phá hủy tường thành để mở rộng thành phố.

UserPostedImage


Barcelone ngày này gồm 3 vùng phân biệt rõ :
  • Ciutat Vella (Vieille ville) là vùng thương mãi và dân cư (La Rambla, Barri Gotic, El Raval, La Ribera-Born)
  • Các làng cổ vùng ngoại biên trở nên những khu phố thương mãi và nhà ở : Eixample, Sants, Gracia, Port Vell, Barceloneta.
  • Những khu phố mới hiện đại, chủ yếu là những khu nhà ở (Poble Nou, Villa Olympica). Dưới sự thúc đấy của trào lưu tân thời (mouvement moderniste), hậu bán thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 đánh dấu một bước ngoặc quyết định trong lãnh vực văn hoá và kinh tế của thành phố. Đó là Barcelone của Gaudi, của Picasso, của nhà văn Josep, và của nhà thơ Maragall.

TỪ AEROPORT DEL PRAT ĐẾN BARCELONE


UserPostedImage


Phi trường nằm ở Prat de Llobregat, cách trung tâm thành phố 12 km. Barcelone có phi trường quốc tế và quốc nội to lớn, với những chuyến bay trực tiếp từ Bắc Mỹ cũng như từ nhiều thành phố của châu Âu.

UserPostedImage


Từ phi trường để về trung tâm thành phố, dùng Navette Aerobus, khởi hành mỗi 12 phút, terminus ở Plaça de Catalunya. Vé mua trực tiếp trên xe bus (khoảng 3,60Euro). Thời gian từ phi trường đến trung tâm thành phố là 30-40 phút.


PLAÇA DE CATALUNYA


UserPostedImage


Plaça Catalunya là trung tâm thần kinh của thành phố và là biên giới giữa khu phố cổ (Ciutat Vella) và Eixample. Plaça Catalunya lớn bằng Place d'Etoile của Paris hay Place de Saint-Pierre của Rome. Quảng trường được bao quanh bởi các tòa nhà ngân hàng đồ sộ, có quy hoạch espace vert và được trang trí bởi 28 bức tượng và hai đài phun nước chiếu sáng.

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage


Quảng trường rất nhộn nhịp khách vãng lai và xe cộ. Bến xe bus nằm ở đây khi bạn đến từ phi trường quốc tế Barcelone El Prat và cũng từ đây bạn có thể dùng bus để trở lại phi trường.

UserPostedImage


Để tham quan thành phố cũng có thể dùng bus touristique mà bến xe cũng nằm ở đây. Với nhịp độ xuất hành 5-20 phút một chuyến, giá vé 17 Euro một ngày và 21 Euro 2 ngày. Có 3 lộ trình khác nhau cho phép tham quan các điểm khác nhau của thành phố.

UserPostedImage


Quảng trường Catalunya là giới hạn phía bắc của Las Ramblas (con đường nổi tiếng nhất của Barcelone). Đại lộ Las Ramblas dành cho người đi bộ này chạy dài từ quảng trường Catalunya, xuyên qua thành phố cổ (Barri Gotic), đến tận cảng cổ Port Vell, nơi đây có tượng dài Christophe Colomb đang chỉ tay về hướng biển.

Từ quảng trường khách du lịch có thể đi vào con đường rất nhộn nhịp dành cho khách đi bộ Portal del Angel.

Cũng từ quảng trường là nơi xuất phát của Passeig de Gracia, một đại lộ nổi tiếng bởi các toà nhà thiết kế theo phong cách moderniste (Manzana de La Discordia).

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#2 Posted : Saturday, August 25, 2012 3:21:29 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,341

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
BARCELONE (1B)

ĐẠI LINH


LAS RAMBLAS


UserPostedImage


Las Ramblas là đại lộ được biết đến nhiều nhất ở Barcelone. Trước đây đại lộ này là lòng của một con sông (lit de rivière) và bây giờ là con đường rợp bóng hai bên bởi những hàng cây với vòm lá um tùm. Ramblas là tiếng Ả rập để chỉ một dòng thác ngừng chảy vào mùa khô. Dọc theo đại lộ lịch sử này là các tòa nhà đẹp như Opera du Gran Teatre del Liceu và Mercat de la Boqueria rộng lớn.

UserPostedImage


Las Ramblas gồm một lối đi giữa dành cho người đi bộ và 2 con đường hai bên dành cho xe cộ tấp nập không ngừng.

UserPostedImage


Dọc hai bên lối đi bộ là các quán café, các sạp bán báo, các quầy bán hoa, bán chim, các họa sĩ vẽ chân dung, những người hát dạo, các diễn viên kịch câm. Chính sự nhộn nhịp liên tục này, nhất là vào đêm hay những ngày cuối tuần là mối thích thú chính đối với khách du lịch.

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage


Las Ramblas chạy dài từ Plaça de Catalunya, xuyên qua Ciutat Vella(Phố Cổ), đến tận Port Vell (Vieux Port).

UserPostedImage


Las Ramblas là giới hạn phía tây của Barri Gotic. Phía tây Las Ramblas là Barri Xinès (El Raval), là đia phận của gái mãi dâm, các tay ma cô.

Những địa điểm cần tham quan :
  • GRAN TEATRE DEL LICEU
  • MUSEU DE L' EROTICA
  • MERCAT DE LÀ BOQUERIA : khu chợ rộng lớn,đầy màu sắc
  • PALAU GUELL : kiệt tác của GAUDI
  • Plaça Reial : quảng trường sinh động nhất của Barcelone


TUỔI TRẺ PICASSO


Sinh ở Malaga, miền nam Tây Ban Nha, Pablo Ruiz Picasso (1881-1973) là một đứa trẻ phát triển sớm. Ông bố, Jose Ruiz Blasco (1838-1913), là giáo sư dạy vẽ trong thành phố, rồi sau đó năm 1891 được thuyên chuyển đến La Corogne, ở miền tây bắc của đất nước. Picasso sống 4 năm ở La Corogne và những năm tháng ở đây rất có lợi trong sự hình thành năng lực nghệ thuật của ông sau này. José Ruiz sớm phát hiện tài năng của con mình và nhận Picasso vào trường nơi ông đang dạy.Vào năm 10 tuổi Picasso đã tỏ ra có năng khiếu nghệ thuật đặc biệt.

Khi bố ông đổi về Barcelone để dạy vẽ ở Viện Hàn Lâm Mỹ Thuật Sant Jordi thì cậu thiếu niên 14 tuổi theo cha cùng gia đình đến lập nghiệp ở đây và đã ghi tên vào học nơi trường cha ông đang dạy. Gia đình đổi về ở tại căn hộ số 36 Nou de La Rambla, ngày nay là Carrer de la Reina Christina, gần Port Vell (Vieux Port), rồi sau đó định cư ở số 13 Carrer de La Mercé. Picasso đã tỏ ra rất khéo léo, ông vẽ chân dung các thành viên của gia đình rất tài tình và sản xuất hàng loạt các bức chân dung khỏa thân. Năm 1896, bố ông thuê cho ông một studio ở đường Carrer de La Plata (ngày nay là trụ sở của một restaurant). Ở viện bảo tàng mang tên ông trong khu phố Ribera, ta còn có thể thấy những tác phẩm thời trẻ của ông, những cảnh đường phố, những ký họa các chim bồ câu của cậu học trò Picasso. Mặc dầu phong cách của ông chỉ được khẳng định ở Paris, nhưng Picasso luôn luôn yêu mến Barcelone. Thành phố này với những con đường náo nhiệt, cảng, các chiếc xe bò và các chú ngựa đã là nguồn cảm hứng đầu tiên của ông.

Năm 1897, ông được gởi đi Madrid để học ở Viện Hàn Lâm Mỹ Thuật San Fernando, nhưng chàng thiếu niên nhanh chóng chán ngấy lối dạy kinh viện. Giờ đây không còn dưới uy quyền của ông bố nữa, cậu thiếu niên tha hồ buông thả theo bản tính của mình. Picasso tự đào tạo bằng cách lưu lại ở Prado nhiều giờ, bị cuốn hút bởi sự khéo léo của các họa sĩ Velasquez hay Greco. Ông lấy nguồn cảm hứng ở các quang cảnh đường phố để vẽ các gương mặt mà ông đã gặp. Ông thích lui tới ở các quán rượu để tìm lạc thú đồng thời tìm chất liệu để vẽ. Suốt trong sáu tháng sau đó (1898), Picasso cùng với một người bạn cư trú trong làng Horta de San Juan ở miền nam Catalogne. Ông sống theo nhịp điệu của đất đai và mùa màng. Ông vẽ những quang cảnh của nông thôn và thoát hẳn những gò bó kinh viện.

Trở lại Barcelone năm 1899, Picasso thuê một xưởng vẽ ở một con đường nằm sau Plaça Reial. Sau đó ông thường thay đổi chỗ ở. Ông thích cuộc sống phóng đãng và thường lang thang vào trong các nhà chứa ở Barri Xinès. Ông đã lấy cảm hứng từ đó để vẽ bức tranh nổi tiếng Les Demoiselles d 'Avignon (1907). Cũng như các nghệ nhân đương thời, sau đó Picasso hướng về Paris, thủ đô của nghệ thuật thời đó. Năm 1904 ông đến định cư hẳn ở Paris. Sau đó ông còn trở lại nhiều lần ở Barcelone, lần cuối cùng năm 1934. Cuộc nội chiến và việc Franco nắm chính quyền sau đó làm ông không bao giờ còn có ý định trở lại để sống ở Tây Ban Nha nữa.

BARRI GOTIC


UserPostedImage


Barcino hay Barcelone thời La mã được che chở bởi một bức tường thành bằng đá. Suốt trong nhiều thế kỷ đô thị lớn dần ra. Các thế kỷ XIV và XV là thời kỳ thịnh vượng và bành trướng của đô thị. Barri Gotic, được bảo quản tốt một cách đặc biệt, có từ thời đại này.

Barri Gotic nằm trong Phố Cổ (Ciutat Vella) và được giới hạn bởi Avenida de la Cathedrale, Plaça Berenguer, Plaça de Sant Just và Carrer de Sant Honorat. Phố Cổ (Ciutat Vella) kéo dài từ Đại Lộ Ramblas ở phía tây đến Via Laietana ở phía đông. Về phía nam, phố cổ kéo dài ra biến. Phía bắc được giới hạn bởi Plaça De Catalunya.

Được chạy xuyên qua bởi đại lộ Ramblas, đại lộ nổi tiếng nhất của Barcelone, Phố cổ là một trong những trung tâm lịch sử thời trung cổ rộng lớn nhất châu Âu. Trong Barri Gotic là một mang lưới các con đường quanh co và các quảng trường bao quanh Cathédrale de Barcelone. Một cách để khám phá khu phố trung cổ quyến rũ và đông dân này là đi lẩn vào các con đường nhỏ hẹp với các dinh thự gothique và các quảng trường bé nhỏ. Ở trung tâm Barri Gotic vươn cao Nhà Thờ Barcelone lộng lẫy của thế kỷ XIII, trung tâm đời sống tinh thần và xã hội của khu phố. Xung quanh nhà thờ là các toà nhà đẹp được xây dựng từ thời trung cổ. Không xa nhà thờ là Plaça del Rei (Place Royale) với một tổng thể công trình kiến trúc tuyệt đẹp, cũng được xây dựng vào thời trung cổ và còn ở trong tình trạng được bảo quản tuyệt vời.

UserPostedImage


Barri Gotic không những là mạch đập của thành phố Barcelone (dân chúng sống và làm việc ở đây) mà còn là trung tâm lịch sử (Barri Gotic là khu vực cổ nhất của Barcelone và lôi kéo hàng ngàn du khách mỗi ngày).

.Barri Gotic trước hết được phát họa bởi người Hy lạp và sau đó chính người La mã đã xây dựng những khu kiều dân đầu tiên trên núi Taber. Chính duới triều đại Auguste (27 trước Thiên Chúa Giáng sinh đến 14 sau Thiên Chúa Giáng sinh) khu phố cổ gothique này đã được chọn để xây dựng các dinh thự hành chánh của thành phố. Những vết tích của Barcelone thời trung cổ được xây dựng trên những nền tảng của Barcelone thời La Mã. Nhưng rất tiếc là ngày nay còn rất ít những dấu vết thời La mã vì các nhà cầm quyền trong các thời kỳ khác nhau sau đó do sự cần thiết, đã phải phá bỏ nhiều toà nhà thời La mã để xây dựng các cung điện đồ sộ và các nhà thờ gotic, điều này nói lên sự thịnh vượng ngày càng gia tăng của thành phố Barcelone. Nhưng từ thế kỷ XV, do sự suy thoái kinh tế nên các quá trình hủy hoại bị chậm lại, nhờ vậy đã cứu vãng được khu phố cổ, được công nhận là một trong những danh lam thắng cảnh đẹp nhất châu Âu.

Những địa điểm cần tham quan :

  • Plaça R. Berenguer
  • La Cathedrale ( La Seu) : với Plaça Nova và Plaça de La Seu.
  • Plaça del Rei (Place Royale) với Museu d’Historia de La Ciutat
  • Plaça de Sant Jaume với Ajuntament (Hotel de Ville) và Generalitat


PLAÇA DEL REI (BARRI GOTIC)


UserPostedImage


Còn gọi là Place Royale (Hoàng Cung), nằm cách Cathedrale vài bước đi bộ. Nằm ở trung tâm Barri Gotic, tòa Hoàng Cung (Palau Real hay Palais Royal) uy nghi đã có từ thế kỷ XIII và XIV và nằm chế ngự Quảng Trường Hoàng Đế (Plaça del Rei hay Place Royale). Vào thời trung cổ đây là nơi cư trú chính của các Bá tước Barcelone và các vua Aragon. Trong Hoàng Cung có Salo del Tinell, một căn phòng to lớn được bao bọc bởi những vòm gothique. Chính trong phòng này Ferdinand d’Aragon và Isabelle de Castille (các vua người Thiên chúa giáo) đã tiếp kiến Christophe Colomb khi ông này trở về từ Châu Mỹ năm 1493.

Plaça del Rei là một trong những quảng trường đẹp nhất của Barcelone. Ngự trị quảng trường là một tháp canh (Mirador del Mar), " nhà lầu chọc trời " của thế kỷ XVI, cao năm tầng với những vòm cung (arcades).

UserPostedImage


Ở đây còn có toà nhà tuyệt đẹp Maison Padellas, style gothique catalan, giờ đây trở thành Bảo Tàng Lịch Sử của Thành Phố (Museu d’Historia de la Ciutat). Tham quan viện bảo tàng này cho phép khám phá những di tích thời La Mã của Barcelone. Phần hấp dẫn nhất của cuộc tham quan là đường hầm khai quật (galerie des fouilles) ở dưới đất. Ở đây du khách sẽ đi ngược thời gian để xem những vết tích của Barcelone thời La Mã.

LA CATHEDRALE DE BARCELONE


UserPostedImage


Nhà Thờ Barcelone được xây dựng vào thế kỷ XIII ở vị trí của một nhà thờ romano-wisigothique trước đây. Đây là nhà thờ thứ 3 được xây dựng ở cùng một địa điểm. Công cuộc xây dựng nhà thờ kéo dài hơn 150 năm và các công trình được theo đuổi cho mãi đến năm 1460 mới hoàn thành.

UserPostedImage


Nhà thờ dài 93m, rộng 40m, cao 28m. Tháp chuông (Tours-Clochers) cao 5m, còn Tour Lanterne trung tâm cao đến 70m. Hai tháp chuông hình bát giác (tours-clochers octogonales) có từ thế kỷ XIV. Nội thất nhà thờ là một thí dụ hoàn hảo của kiến trúc gothique catalan.

Đối diện ngay nhà thờ là Plaça de La Seu. Kế bên có Plaça Nova (Place Neuve) : vào thế kỷ XIII, đây là một khu chợ to lớn và các người nô lệ được đem đến bán ở đây. Còn bây giờ quảng trường khi nào cũng tấp nập khách du lịch.

UserPostedImage


Đối diện Plaça Nova là Carrer del Brisber, một con đường nhỏ giữa 2 tháp tròn và to lớn, vết tích của cổ thành La Mã.

UserPostedImage


UserPostedImage


PLAÇA DE SANT JAUME


UserPostedImage


Quảng trường này ngày xưa nằm ở trung tâm của vòng tường thành Barcelone. Đây không những là trung tâm lịch sử mà có lúc (từ thế kỷ xv) đã là trung tâm chính trị của thành phố. Thật vậy nằm đối diện trên quảng trường có Palau de La Generalitat, trụ sở của chính phủ catalan ở phía Bắc và Ajuntament (toà thị sảnh) ở phía Nam. Nội thất của 2 dinh thự này có kiến trúc gothic rất đẹp, dân chúng có thể vào xem vào một số giờ quy định nào đó.

UserPostedImage


Palau de La Generalitat là trụ sở của Hội Đồng Tỉnh và Chính Phủ. Catalogne (mà Barcelone là thủ phủ) là một tỉnh được cai trị bởi một tổng thống, các bộ trưởng, có cảnh sát, ngân sách và tiếng nói riêng .

UserPostedImage


Ajuntament (Hotel de ville) được xây dựng vào thế kỷ XIV nhưng có mặt tiền néoclassique thế kỷ XI.

SALVADOR DALI ( 1904-1989)


Dali sinh ở Figueres, thuộc tỉnh Gérone. Ông có một món nợ đặc biệt đối với Barcelone : chính ở đây ông triển lãm lần đầu tiên tranh vẽ của mình. Tính nết kỳ quặc, hay hài hước, thiên tài, hay khiêu khích. Không thiếu gì tính từ để chỉ cá tính của nhà họa sĩ thuộc phái siêu thực này.

Mặc dầu vì nghề nghiệp phải đi đó đây (Madrid, Barcelone, Paris và USA), ông vẫn trung thành với nguồn gốc của mình và đã sống trên nửa cuộc đời ở Port Lligat (ở phía đông Figueres). Sau khi đã giành được thành công to lớn ở Hoa Kỳ năm 1940, Dali trở về lại quê quán. Năm 1948, ông cùng với Gala, người yêu mà ông rất quyến luyến và là đề tài của nhiều bức họa của ông, đến sống ở Port Lligat, gần Cadaques. Năm 1958, Dali và Gala cử hành đám cưới bí mật theo lễ nghi Thiên Chúa giáo.

Từ năm 1961-1974, Dali cải tạo Nhà hát Thành Phố ở đây (bị cháy rụi vào cuối thời kỳ nội chiến 1939) thành Teatre-Museu Dali.

Vào những năm cuối 60, cặp vợ chồng Dali có cả một " triều đình " những người giúp việc, những kẻ ăn bám, những nhà cố vấn, các thư ký và những người trình diễn tình dục. Dali mua một lâu đài ở Pubol gần Girona và tặng cho Gala năm 1971. Còn Gala thì sau đó vui thú với nhiều tình nhân trẻ tuổi và rất hiếm khi mời Dali đến thăm lại lâu đài. Sau khi Gala mất năm 1982, Dali dời về ở tại Pubol nhưng ông qua đời 2 năm sau đó trong một tai nạn hỏa hoạn. Mộ của ông là một bộ phận của Nhà Hát-Viện Bảo Tàng Dali.

ĐẠI LINH

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#3 Posted : Saturday, August 25, 2012 3:21:56 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,341

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
BARCELONE (1B)

ĐẠI LINH


PORT VELL


UserPostedImage

Trong những năm 60, Port Vell (Vieux Port) chỉ là nơi chứa những sắt vụn phế thải của thành phố, những container trống rỗng, là nơi tọa vị những kho chứa hàng, là nghĩa địa của những tàu hoả chở hàng cũ kỹ. Thế Vận Hội 1992 là biến cố khởi mào cho những biến đổi cải tạo sâu rộng của bờ duyên hải này.

UserPostedImage

Ngày nay sau Forum 2004, các bãi tắm kéo dài từ Port Olympique đến Marina du Forum và Playa de Nova. Barcelone hãnh diện có một bãi cát mịn và dài 4 km.

UserPostedImage

Port Vell chủ yếu là port de plaisance của Barcelone.

UserPostedImage

UserPostedImage

Trước Port là Plaça Portal de La Pau. Ở giữa quảng trường nhộn nhịp xe cộ này là cột trụ tưởng niệm Christophe Colomb, cao 60 m, được xây dựng cuối thế kỷ thứ 19 nhằm vinh danh nhà phát minh Châu Mỹ này. Từ trên đỉnh cao, Christophe Colomb ngón tay trỏ ra biển, không phải về hướng Châu Mỹ mà là Biển Địa Trung Hải, nguồn của cải của thành phố.

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage UserPostedImage

Từ bờ cảng, một passerelle bằng kim loại gọi là Rambla del Mar dẫn đến Marenmagnum, một trung tâm thương mại nhộn nhịp với rất nhiều bar, restaurant, rạp chiếu bóng. Ở đây có Aquarium khổng lồ. Aquarium này lớn nhất châu Âu với chiều dài 80 m và 21 bassin chứa 8000 con cá đủ loại và 11 con cá mập lấy từ Biển Địa Trung Hải, Biển Đỏ, Caraibes.

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

Ở bến cảng có công ty Las Golondrinas tổ chức những chuyến tham quan cảng bằng thuyền máy, mỗi ngày 6 chuyến (mỗi chuyến kéo dài 1h30 giá 9,20 Euro)

UserPostedImage

UserPostedImage

Để đến Port Vell, từ Plaça de Catalunya, theo hướng Ramblas. Đi hết đại lộ này là đến cảng.

CHRISTOPHE COLOMB


UserPostedImage

Tháng giêng năm 1492, Christophe Colomb hẳn là vui sướng khi ông hay tin rằng Les Rois Catholiques sẽ dành cho ông cuộc hội kiến. Ferdinand d’Aragon và Isabelle de Castille vừa giành lại được Vương Quốc Grenade từ tay người Ả rập, điều này rất được dân chúng đánh giá cao. Christophe Colomb cũng từng đã tham gia vào cuộc vây thành Grenade và giờ đây là ngày mong đợi vì nhà vua sẽ lắng nghe ý kiến mà ông sẽ trình bày. Thật vậy Les Rois Catholiques đã tuyên bố sẽ đóng góp tài chánh cho các cuộc thám hiểm bằng đường biển nhằm tìm ra một con đường Phuơng đông, về hướng Ấn Độ và Trung Hoa. Christophe Colomb sinh ra ở Genes thuộc miền bắc nước Ý. Là người rất hâm mộ Marco Polo, ông đã đi Portugal và trở thành nhà hàng hải ưu tú.

Từ năm 1486, ông định cư ở Tây Ban Nha và tháng 8 năm 1492, ông rời PALOS với hạm đội nhỏ bé gồm các con tàu Santa Maria, Pinta và Nina. Ngay chuyến đi đầu tiên, ông đã là đối tượng gây nhiều tranh cãi. Vả lại nhà hàng hải xuất sắc này lại là một nhà chỉ huy rất độc đoán, tàn nhẫn, bất khuất và có lòng sùng đạo quá mức. Ông có rất ít bạn bè. Lúc ông khám phá ra Cuba và quần đảo Caraibes, ông cứ tin chắc là đã đến Trung Hoa. Ông không thể nào chấp nhận là đã đặt chân đến những bến bờ xa lạ.

Ngày 12 tháng 10 năm 1492, vào khoảng 2 giờ sáng, mặt trăng chiếu sáng và thủy thủ của chòi gác trên con tàu Pinta đang chăm chú nhìn đại dương với sự chú ý đặc biệt hơn lệ thường. Anh ta biết rằng không những số phận của đoàn thám hiểm mà có lẽ cả tính mạng của các bạn đồng đội sẽ tùy thuộc vào sự chính xác của thị giác của anh ta. Trên tàu Pinta, cũng như trên Nina và Santa Maria, hầu như chẳng ai có thể ngủ được. Chưa có thủy thủ nào đã từng trải qua hơn 50 ngày trên biển cả mà chẳng thấy một bến bờ nào ở chân trời như vậy cả. Chẳng có thủy thủ nào đã từng gặp một trận gió mạnh mẽ và đều đặn như trận gió này mà đã từ một tháng nay vẫn luôn luôn hướng các con tàu về phía tây. Thế thì làm sao không khỏi sợ hãi là rồi sẽ không còn có thể quay trở lại được ? Làm sao không cảm thấy đói khát sẽ đe dọa ? Trên tàu các thủy thủ gần như muốn nổi loạn. Cần phải có tài thuyết phục của thuyền trưởng là Christophe Colomb để đuợc mọi người chấp thuận tiếp tục hành trình thêm 2 ngày nữa trước khi quay đầu trở lại. Trời gần sáng báo hiệu ngày thứ hai sắp đến. Và đột nhiên, giọng nói của Rodrigo làm vang dội lên chữ mà các thủy thủ tưởng như không bao giờ còn hy vọng được nghe nói đến nữa : « Đất liền ! » Trên cầu của tàu Santa Maria, Christophe Colomb không kềm hãm được nỗi vui sướng của mình. Tay phiêu lưu mạo hiểm này, có lẽ gốc Do thái, con của một người thợ dệt thành phố Genes, tin rằng giấc mơ của đời mình sau cùng đã trở thành hiện thực. Ông không ngờ rằng đối với ông lại sẽ bắt đầu một chuỗi dài nỗi thất vọng não nề và những thất bại chua cay đang đón chờ.

Vài giờ sau khi đặt chân lên đất liền ( một đảo nhỏ của quần đảo Bahamas), Christophe Colomb đã không biết rằng ông vừa khám phá một tân lục địa. Mãi cho đến cuối đời mình ông vẫn bướng bỉnh bảo vệ một ý nghĩ sai lạc. Ông tin tưởng là đã đến được vùng Viễn Đông, và những thổ dân niềm nở mà ông đã gặp đối với ông chỉ là những người « Ấn Độ (Indien) mà thôi.

Trong năm 1493 ông trở lại Barcelone để tường trình với Les Rois Catholiques công cuộc khám phá đã được thực hiện. Ông mô tả với các nhà vua những kỳ quan của Tân Thế Giới với các của cải giàu có của vùng đất hoang dã này : vàng, hương liệu, các loài chim hiếm, người nô lệ. Những vòng vàng thu được từ những tù nhân mà ông đã phô bày lúc trở về sau 8 tháng viễn du đủ giúp ông thuyết phục các vị vua Tây Ban Nha ra lệnh thực hiện một cuộc thám hiểm khác trong những tháng sau đó.

Tháng 9 năm đó, 17 chiếc tàu rời bến ra khơi. Trên tàu không những có 1500 thủy thủ và hành khách mà còn có các nhà tu sĩ và các nhà đầu tư. Cuộc thám hiểm kéo dài trong suốt gần 3 năm ở vùng Antilles và rồi cũng mang lại thất vọng. Colomb lần này tin là đã đặt chân đến bán đảo Mã Lai, và ông phải mất 2 năm gắng sức để được tài trợ một chuyến thám hiểm thứ 3 vào năm 1500. Ông thám hiểm tất cả vùng Caraibes và cập bến Nam Mỹ (Venezuela).

Quân Tây Ban Nha sau khi chinh phục Hispaniola (Haiti và Cộng Hoà Dominique) thì nhanh chóng bị mất lòng dân địa phương. Họ khai thác vàng và bắt dân bản xứ làm nô lệ. Họ sử dụng các phương pháp tồi tệ đến độ một cuộc điều tra đã được tiến hành. Colomb bị quy trách nhiệm về những hành động sai trái của quân sĩ dưới quyền. Ông bị lên án và bị đuổi về nước Tây ban Nha. Sau khi được ân xá ông còn được giao phó một chuyến thám hiếm thứ 4. Trong cuộc thám hiểm thứ 4 này (1502-1504), ông đã đi dọc theo bờ biển Trung Mỹ nhưng mà ông lại không hay biết chút nào. Ông đã ở ngoài khơi Vương quốc Aztèque mà sự giàu có về mọi mặt vượt lên tất cả những gì mà dân Âu Châu có thể tưởng tượng. Bởi vì một lần nữa ông trở về tay trắng nên sau đó ông không còn được phép thám hiểm thêm lần nữa.

Và rồi giờ phút của ông đã điểm và ông đã phải trải qua những năm tháng cuối cuộc đời trong nỗi cô đơn hiu quạnh, kiệt quệ, bị gièm pha nhưng luôn luôn giữ ý nghĩ sai lầm của mình. Và chưa hết, ông lại còn chịu một điều sỉ nhục cuối cùng : Chính Florentin Amerigo Vespucci đã chứng minh không thể chối cải rằng đó là một tân thế giới do vậy tên của ông ta (Amerigo) được dùng để đặt tên cho « khám phá » (America) của Christophe Colomb. Ông mất ở Valladolid năm 1506 và được mai táng ở Séville. Ở Nhà Thờ Seville có mộ của Christophe Colomb nhưng di hài bên trong có lẽ không phải của nhà thám hiểm vĩ đại này. Năm 2003, trước những khiếu nại cho rằng chính nước Cộng Hoà Dominique ở Caraibes mới là nơi mà di hài của Christophe Colomb đã an nghỉ, các nhà điều tra đã bắt đầu trắc nghiệm lên di hài ở Nhà Thờ Séville. Năm 2004, báo chí quốc tế báo cáo rằng di hài trong Nhà Thờ Séville là di hài của một người đã chết 15 năm trước khi Colomb qua đời và có lẽ đó là di hài của một trong những người con của ông tên là Hernando. Còn ông thì nằm xuống ở Cọng Hoà Dominique.

Năm 1888, trước sự hiện diện của chính quyền Barcelone và Genes, một cột trụ cao 60 m để vinh danh Colomb được dựng lên ở Plaça Portal de La Pau.

UserPostedImage

UserPostedImage

Ở độ cao 60 , Colomb có một tấm nhìn hướng ra Port (Vieux Port) mà không thể bị che khuất. Với thời gian, một huyền thoại cho rằng Colomb gốc nguời catalan. Ngay cả vài nhà sử học vẫn còn ủng hộ giả thuyết này cho đến ngày nay.

PORT OLIMPIC và VILA OLYMPICA


Port Olimpic và Vila Olympica là công trình quy hoạch ngoạn mục nhất được thực hiện lúc Barcelone được chọn làm thành phố tổ chức olympiade 1992. Khu phố kỹ nghệ cũ của Poble Nou được cải tạo thành Vila Olympica.

UserPostedImage

Các bến tàu cũ kỹ được thay thế bởi 4km bãi biển với một lối đi dạo dọc theo bờ.

UserPostedImage

.ila Olympica trở nên khu nhà ở với 2000 hộ được thoáng mát bởi nhiều công viên. Port Olympic ngày nay trở nên port de plaisance với nhiều du thuyền và dọc theo bến có nhiều quán café, restaurant thanh lịch. Cảng đươc chế ngự bởi 2 nhà lầu chọc trời cao 44 tầng.

UserPostedImage

UserPostedImage

Từ Port Olympic theo lối đi dạo dọc bờ biển (Passeig Maritim de la Barceloneta) để đến La Barceloneta, khu phố bình dân của Barcelone.



-----------------------------------------------
EIXAMPLE


Vào giữa thế kỷ XIX, Barcelone trở nên ngột ngạt trong những bức tường được dựng lên từ thời trung cổ. Năm 1854, các bức tường này bị phá bỏ và thành phố được mở rộng ra (Eixample tiếng catalan có nghĩa là mở rộng : élargissement). Công trình này được giao phó cho kỹ sư Lldefons Cerda có nhãn quan futuriste về đô thị. Các đường phố và đại lộ được kẽ ô vuông thành những khối nhà giống nhau, nhằm nối Barcelone với các làng lân cận như Gracia, Sarria, Les Corts.. Eixample là một mô hình quy hoạch đô thị, cho phép Barcelone phân bố đồng nhất dân cư, làm cho lưu thông xe cộ thông suốt hơn và gia tăng diện tích gấp 15 lần chỉ trong vòng 50 năm. Sự xây dựng Eixample trùng hợp với một thời kỳ rất sáng lạng của dân Barcelone. Giới trưởng giả địa phương, nảy sinh từ sự phát triển kinh tế và kỹ nghệ, muốn Barcelone trở nên một thủ phủ lớn, do đó đã tài trợ rất nhiều dự án kiến trúc.

Ngoài ra, sự tăng trưởng xã hội kèm theo một khuynh hướng nghệ thuật mới, đặc biệt cho vùng Catalogne : đó là trào lưu tân thời (modernisme). Ta có thể tìm thấy nhiều thí dụ về style này trong các khu phố của Eixample.

Cột sống của tổng thể Eixample là 4 đại lộ chính :
- La Gran Via De Les Cortes Catalanes
- Passeig de Gracia : nơi đi dạo ưa thích của dân tư sản đầu thế kỷ 20
- La Rambla de Catalunya
- La Diagonal

Eixample được chia thành 2 phần : Eixample Izquierdo (trái) và Eixample Derecho (phải). Ngoài La Sagrada Familia, cợn có nhiều danh lam thắng cảnh để tham quan, tập trung gần hoặc tren đại lộ chính của Eixample là Passeig để Gracia.

PASSEIG DE GRACIA


Passeig Gracia nối Plaça de Catalunya với Gracia. Đây là đại lộ nổi tiếng, là một trong những địa điểm mà du khách thường lui tới nhất. Passeig Gracia là lối đi dạo được ưa thích của giới tư sản đầu thế kỷ 20.

Dọc theo đại lộ là những toà nhà giàu có, các ngân hàng, các toà đại sứ và những dinh thự được kiến trúc theo trào lưu tân thời (moderniste) :
  • La Casa Amatller
  • La Casa Batllo :
  • La Casa Lleo Morera

Cả 3 toà nhà này có biệt danh là Manzana de la Discordia ( Pomme de la Discorde : nguyên nhân bất hòa) de nói lên những khác nhau về kiến trúc của 3 toà nhà. Cần nên biết rằng manzana tiếng castillan nghĩa là trái táo nhưng đồng thời cũng có nghĩa là khu nhà. Dĩ nhiên cũng có ám chỉ đến huyền thoại Hy Lạp: nữ thần gây bất hòa Eris hiện diện trong buổi lễ cưới của Pélée và Thétis mặc dầu nàng không được mời đến. Tức giận nàng ném vào giữa các vị khách mời một trái táo vàng có ghi chữ «cho người đẹp nhất ». Héra, Aphrodite và Athéna giành nhau quả táo. Cuối cùng Paris, hoàng tử thành Troie trao quả táo cho Aphrodite. 3 toà nhà tráng lệ này được bố trí như những con cờ trên một bàn cờ và sự kình địch giữa các gia đình cai trị được diễn ra qua đó.
- La Casa Mila : hay La Pedrera

CASA MILA (LA PEDRERA)

Tọa vị ở số 62 đại lộ Passeig de Gracia.
Được dân Barcelone gọi là La Pedrera (carrière de pierre: hầm đá), toà nhà Casa Mila là một trong những công trình được thực hiện nổi tiếng nhất của Gaudi. Được xây dựng từ năm 1906 đến năm 1910, đây là một công trình dân chính cuối cùng trước khi Gaudi cống hiến hết mình cho Sagrada Familia. Mặt ngoài của Pedrera được cấu tạo bởi các bức tường- màn che (murs-rideaux) được xây dựng bằng đá vôi trên đó nổi bật lên những khung cửa sổ và balcons bằng sắt được tái chế. Phía trên toà nhà là một terrasse không bằng phẳng từ đó phát xuất những ống khói được lợp bởi những "trencadis" (mosaiques được cấu tạo bởi những mảnh sành đánh vernis). Casa Mila được mô tả như là một pháo đài kỳ lạ, một chiếc máy bay, một vách đá dọc bờ biển. Các nhà phê bình văn học gọi đây là một tác phẩm trừu tượng, một điên rồ về kiến trúc.


CASA BATLLO

Casa Batllo tọa vị số 43 đại lộ Passeig De Gracia.
Đây là tác phẩm độc đáo nhất của Gaudi và là biểu tượng của Barcelone.

Được xếp hạng là di sản văn hóa của nhân loại bởi UNESCO, toà nhà này được xây dựng từ năm 1904 đến 1906 bởi Gaudi theo đơn đặt hàng của nhà kỹ nghệ Josep Batllo, mặc dầu có sự chống đối của nhà cầm quyền thời đó. Sự mê sảng và thiên tài của Gaudi được thể hiện tự do trong việc thực hiện dinh thự này. Gaudi đã trùng tu hoàn toàn ngôi dinh thự. Ông bảo tồn kiến trúc nguyên thủy (1877) nhưng vẽ lại mặt tiền và bài trí nội thất. Mặt tiền nhiều màu sắc (polychrome), balcon có hình mặt nạ với mái nhà hình uốn sóng tạo cho ngôi nhà một dáng vẻ đáng ngạc nhiên. Mặt tiền của Casa Batllo có dáng con quái vật biển (monstre marin). Chắc chắn đây là sáng tạo độc đáo nhất của Gaudi. Ở tầng nhất các lỗ trông giống như lối vào động, một công trình bằng đá và thủy tinh lạ kỳ. Các tầng lầu được trang trí bởi các balcon, các mặt nạ hé miệng, đem lại cho mặt tiền một dáng vẻ carnaval. Toà nhà 6 tầng này được chế ngự bởi một mái nhà rất kỳ lạ thể hiện Thánh Georges và con rồng.

LA SAGRADA FAMILIA

Nhà thờ La Sagrada Familia nằm ở phía đông Eixample và đã trở thành biểu tượng của Barcelone, một thành phố luôn luôn bảo vệ tính đặc thù của mình.

Nhìn từ xa, các tháp dong dỏng cao của La Sagrada Familia có dáng vẻ như con tàu ma đang lênh đênh trong sương mù của cái thành phố của tất cả các điều kỳ diệu ( la ville de tous les prodiges) này. Đối với nhiều du khách khám phá Barcelone lần đầu thì sự tiếp xúc đầu tiên này đã gây cho họ cảm giác choáng váng.
Toà nhà xây cất còn đang dang dở này là một kỳ công tuyệt vời, là một công trình mà Antoni Gaudi đã cống hiến hết mình trong suốt phần cuối của cuộc đời. Suốt trong 16 năm ông sống như nhà ẩn dật trên công trường và lúc qua đời đã an nghỉ nơi hầm mộ của chính nhà thờ mà ông đã bỏ công sức xây dựng.
Ý nghĩ xây dựng nhà thờ La Sagrada Familia xuất phát từ Josep Maria Bocabella, một nhà xuất bản giàu có và vì lo lắng về sự phát triển các tư tưởng cách mạng trong thành phố Barcelone nên đã thành lập một hội tôn giáo cung hiến cho Thành Josep, là thánh bảo trợ cho công nhân và gia đình.Việc xây dựng nhà thờ của hội bắt đầu năm 1882 dưới sự chỉ đạo của Francesco de Villar. Ông này đã thực hiện việc xây cất một điện thờ có cấu trúc néo-gothic tương đối cổ điển. Sau đó do Villar vì bất hòa với Bocabella nên đã bị thay thế vào năm 1884 bởi Antoni Gaudi lúc đó mới 31 tuổi.

GAUDI và GUELL

Barcelone không có Gaudi thì cũng giống như Paris không có Gustave Eiffel. Gaudi Antonio là một kiến trúc sư, sinh ngày 25 tháng 6 năm 1852 ở Reus (làng kế cận Barcelone). Xuất thân từ một gia đình bình dân, cả thời thơ ấu của ông bị mang dấu ấn bởi những vấn đề sức khỏe. Bệnh đau khớp đeo đuổi ông suốt cả cuộc đời. Ông đến ở Barcelone vào năm 17 tuổi để học ngành kiến trúc. Ông không phải là sinh viên xuất sắc nhưng ông đã thành công tạo phong cách riêng của mình và chứng tỏ cho các đồng nghiệp rằng ông là một kiến trúc sư « ngoại hạng ». Cũng như tất cả các thiên tài, ông đi trước các người đương thời một bước dài, vì vậy các công trình của ông vẫn luôn luôn không được thông hiểu. Bằng chứng là ông chỉ nhận một giải thưởng danh dự duy nhất trong suốt cuộc đời ông : giải thưởng thành phố cho dinh thự đẹp nhất dành cho Casa Calvet năm 1900. Cá tính của nhà kiến trúc cũng độc đáo : bị thu hút bởi xã hội thượng lưu, ông tham gia vào phong trào dân tộc. Ông luôn luôn từ chối nói tiếng espagnol và đã có lần bị cảnh sát bắt vì ông nói tiếng catalan. Lúc còn trẻ ông chống lại Giáo hội, nhưng vài năm sau đó ông trở thành người sùng đạo, không ngừng theo đuổi tìm kiếm giá trị tinh thần, sống một lối sống đạm bạc không xa hoa phù phiếm. Chính vào thời kỳ này ông bắt đầu thực hiện công trường của nhà thờ La Sagrada Familia. Nói về phong cách thì những tác phẩm đầu tiên của ông lấy nguồn cảm hứng từ nghệ thuật kiến trúc Ả rập, nhưng ông chủ yếu lấy nguồn cảm hứng từ thiên nhiên và không làm việc theo một kế hoạch nào đã được định trước.
Vào năm 1878, nhà kỹ nghệ giàu có Eusebi Guell i Bacigalupi (1846-1918) tham dự Hội Chợ Triển Lãm Hoàn Vũ được tổ chức ở Paris và đã đến gian hàng triển lãm Tây Ban Nha. Ngày đó là ngày quyết định cho sự nghiệp của Gaudi. Nhà kiến trúc sư trẻ tuổi vừa phát họa họa đồ một tủ kính cho một cửa hàng bán lẻ bao tay (gant) và ông trình bày sáng tạo của mình ở một gian triển lãm. Guell rất cảm kích bởi tính sống động và độc đáo của dự án, vì vậy vừa mới trở về Barcelone, ông vội tìm cách liên lạc với tác giả. Guell bị chính phục bởi cá tính con người Gaudi cũng như bởi quy mô công việc của ông ta, nên chẳng bao lâu sau đó ông đã gởi cho Gaudi rất nhiều đơn đặt hàng và từ đó khởi đầu cho một tình bạn lâu dài và có hiệu quả. Guell đã tiên đoán được khả năng hai mặt của Gaudi : không những Gaudi biết xây dựng những ngôi nhà chắc chắn và độc đáo mà con biết thể hiện qua chúng một tinh thần dân tộc catalan triệt để. Chính vì lẽ đó mà Guell đã giao phó cho Gaudi vẽ họa đồ cho Palau Guell.
Vào đầu thế kỷ 20, Gaudi dấn thân vào 2 dự án đầy tham vọng theo đơn đặt hàng của Guell, vị mạnh thường quân của mình. Dự án thứ nhất là một nhà thờ cho Colonia Guell o Santa Colona de Cervello nằm ngoài thành phố. Nhưng ông chỉ hoàn thành phần hầm mộ (crypte) rồi bỏ dở dang vì thiếu tiền. Đồng thời ông cố gắng quy hoạch Parc Guell mà ông phải mất 14 năm để làm việc cho công trình này. Vài kiến trúc sư ca ngợi ông nhưng cũng có kẻ dèm pha ông. Họ xem ông là nhà mơ mộng món trứng rán (reveur d'omelette). Trong một tạp chí thời đó, một phóng viên đã bình luận như sau :" Người ta nói rằng ở Parc Guell, tất cả những gì ông ta làm là tiêu xài tiền bạc cho món trứng rán to lớn đồ sộ. Nhưng chính Guell đã phải trả tiền cho các món trứng đó". Gaudi thường nói rằng cách tốt nhất để biết một người nào đó là tiêu xài tiền của ông ta.
Sự qua đời của Guell (1918) làm cho Gaudi hết sức sầu muộn bởi vì một tình bạn lâu dài đã chấm dứt từ đây. Vào thời kỳ đó ông tập trung sức vào La Sagrada Familia. Antoni Gaudi (1852-1926) mà các công trình đã trở nên những biểu tượng của Barcelone, đã từng theo học kiến trúc và triết học, điều này giải thích sự kết hợp giữa kỹ thuật và tinh thần trong các công trình nghệ thuật của ông. Ông lao mình vào các công trình của “người mơ mộng hão huyền” (visionnaire) và đã làm những người đương thời phải ít nhiều lo lắng. Ông lấy nguồn cảm hứng từ các kiến trúc của thời quá khứ, từ các phương thức kỹ thuật, ông sử dụng các vật liệu và khai thác tất cả các khả năng của thực vật để tạo nên những hình dáng sinh động và độc đáo, điều này khiến ông trở thành một trong những kiến trúc sư lớn nhất của mọi thời đại. Há chẳng phải tình cờ khi 3 trong những công trình của ông ( Palau Guell, Parc Guell và Casa Mila) được xếp hạng là di sản văn hóa của nhân loại ? Gaudi đã phải chết dưới bánh xe của tramway năm 1926, đã cống hiến những năm tháng cuối cùng của đời mình cho kiệt tác còn đang dở La Sagrada Familia và đã từng phải ngủ ở ngay nơi công trường vì công việc !

POBLE NOU

Khu phố này đã bị dội bom nặng nề trong thời kỳ nội chiến bởi vì đây là khu vực kỹ nghệ.
Poble Nou ra đời trong một vùng đầm lầy Sant Marti de Provençals vào cuối thế kỷ XIX. Rất nhanh chóng các nhà máy mọc lên khắp nơi nên khu vực này lúc đó được mệnh danh là Manchester Catalan.
Vào năm 1950, ở đây có hơn 5000 nhà máy, tạo nên sự tập trung kỹ nghệ lớn nhất của bán đảo. Chính vào lúc này xuất hiện trung tâm đô thị đầu tiên của Poblenou, ngột ngạt giữa các khu nhà ở mới xây cho dân nhập cư trong những năm 1950-60. Việc xây dựng không theo một kế hoạch đô thị nào và thiếu những dịch vụ cơ bản nhất.
Trong thời kỳ nội chiến Poblenou tích cực theo phe Cộng Hoà nên bị nhiều trận dội bom. Thời hậu chiến lại khó khăn do cuộc khủng hoảng kỹ nghệ của những năm 1970. Khu phố bị rơi vào quên lãng. Chỉ mới cách nay 15 năm, nói đến khu vực này dân Barcelone chỉ biết đó hoặc là một nghĩa địa, một nhà ga, một góc phố ám khói và xám xịt, đầy những tòa nhà kỹ nghệ. Bãi biển thì đầy đồ phế thải không dễ lui tới. Và khi trời mưa cả vùng chỉ là một vũng bùn to lớn. Chính nhờ Jeu Olympique 1992 khu phố được biến đổi sâu rộng. Hiện nay Poblenou là khu phố trẻ với nhiều đại lộ rộng rãi, các toà nhà, khách sạn cao tầng. Ở đây có Trung tâm Hội Nghị Quốc Tế Barcelona.

ĐẠI LINH
(2/8/2007)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#4 Posted : Saturday, August 25, 2012 3:22:19 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,341

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
BARCELONE (2A)

ĐẠI LINH


PORT VELL


UserPostedImage


Trong những năm 60, Port Vell (Vieux Port) chỉ là nơi chứa những sắt vụn phế thải của thành phố, những container trống rỗng, là nơi tọa vị những kho chứa hàng, là nghĩa địa của những tàu hoả chở hàng cũ kỹ. Thế Vận Hội 1992 là biến cố khởi mào cho những biến đổi cải tạo sâu rộng của bờ duyên hải này.

UserPostedImage


Ngày nay sau Forum 2004, các bãi tắm kéo dài từ Port Olympique đến Marina du Forum và Playa de Nova. Barcelone hãnh diện có một bãi cát mịn và dài 4 km.

UserPostedImage


Port Vell chủ yếu là port de plaisance của Barcelone.

UserPostedImage


UserPostedImage


Trước Port là Plaça Portal de La Pau.

UserPostedImage


UserPostedImage


Ở giữa quảng trường nhộn nhịp xe cộ này là cột trụ tưởng niệm Christophe Colomb, cao 60 m, được xây dựng cuối thế kỷ thứ 19 nhằm vinh danh nhà phát minh Châu Mỹ này. Từ trên đỉnh cao, Christophe Colomb ngón tay trỏ ra biển, không phải về hướng Châu Mỹ mà là Biển Địa Trung Hải, nguồn của cải của thành phố.

UserPostedImage


UserPostedImage UserPostedImage


Từ bờ cảng, một passerelle bằng kim loại gọi là Rambla del Mar dẫn đến Marenmagnum, một trung tâm thương mại nhộn nhịp với rất nhiều bar, restaurant, rạp chiếu bóng. Ở đây có Aquarium khổng lồ. Aquarium này lớn nhất châu Âu với chiều dài 80 m và 21 bassin chứa 8000 con cá đủ loại và 11 con cá mập lấy từ Biển Địa Trung Hải, Biển Đỏ, Caraibes.

UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


Ở bến cảng có công ty Las Golondrinas tổ chức những chuyến tham quan cảng bằng thuyền máy, mỗi ngày 6 chuyến (mỗi chuyến kéo dài 1h30 giá 9,20 Euro)

UserPostedImage


UserPostedImage


Để đến Port Vell, từ Plaça de Catalunya, theo hướng Ramblas. Đi hết đại lộ này là đến cảng.

CHRISTOPHE COLOMB


UserPostedImage


Tháng giêng năm 1492, Christophe Colomb hẳn là vui sướng khi ông hay tin rằng Les Rois Catholiques sẽ dành cho ông cuộc hội kiến. Ferdinand d’Aragon và Isabelle de Castille vừa giành lại được Vương Quốc Grenade từ tay người Ả rập, điều này rất được dân chúng đánh giá cao. Christophe Colomb cũng từng đã tham gia vào cuộc vây thành Grenade và giờ đây là ngày mong đợi vì nhà vua sẽ lắng nghe ý kiến mà ông sẽ trình bày. Thật vậy Les Rois Catholiques đã tuyên bố sẽ đóng góp tài chánh cho các cuộc thám hiểm bằng đường biển nhằm tìm ra một con đường Phuơng đông, về hướng Ấn Độ và Trung Hoa. Christophe Colomb sinh ra ở Genes thuộc miền bắc nước Ý. Là người rất hâm mộ Marco Polo, ông đã đi Portugal và trở thành nhà hàng hải ưu tú.

Từ năm 1486, ông định cư ở Tây Ban Nha và tháng 8 năm 1492, ông rời PALOS với hạm đội nhỏ bé gồm các con tàu Santa Maria, Pinta và Nina. Ngay chuyến đi đầu tiên, ông đã là đối tượng gây nhiều tranh cãi. Vả lại nhà hàng hải xuất sắc này lại là một nhà chỉ huy rất độc đoán, tàn nhẫn, bất khuất và có lòng sùng đạo quá mức. Ông có rất ít bạn bè. Lúc ông khám phá ra Cuba và quần đảo Caraibes, ông cứ tin chắc là đã đến Trung Hoa. Ông không thể nào chấp nhận là đã đặt chân đến những bến bờ xa lạ.

Ngày 12 tháng 10 năm 1492, vào khoảng 2 giờ sáng, mặt trăng chiếu sáng và thủy thủ của chòi gác trên con tàu Pinta đang chăm chú nhìn đại dương với sự chú ý đặc biệt hơn lệ thường. Anh ta biết rằng không những số phận của đoàn thám hiểm mà có lẽ cả tính mạng của các bạn đồng đội sẽ tùy thuộc vào sự chính xác của thị giác của anh ta. Trên tàu Pinta, cũng như trên Nina và Santa Maria, hầu như chẳng ai có thể ngủ được. Chưa có thủy thủ nào đã từng trải qua hơn 50 ngày trên biển cả mà chẳng thấy một bến bờ nào ở chân trời như vậy cả. Chẳng có thủy thủ nào đã từng gặp một trận gió mạnh mẽ và đều đặn như trận gió này mà đã từ một tháng nay vẫn luôn luôn hướng các con tàu về phía tây. Thế thì làm sao không khỏi sợ hãi là rồi sẽ không còn có thể quay trở lại được ? Làm sao không cảm thấy đói khát sẽ đe dọa ? Trên tàu các thủy thủ gần như muốn nổi loạn. Cần phải có tài thuyết phục của thuyền trưởng là Christophe Colomb để đuợc mọi người chấp thuận tiếp tục hành trình thêm 2 ngày nữa trước khi quay đầu trở lại. Trời gần sáng báo hiệu ngày thứ hai sắp đến. Và đột nhiên, giọng nói của Rodrigo làm vang dội lên chữ mà các thủy thủ tưởng như không bao giờ còn hy vọng được nghe nói đến nữa : « Đất liền ! » Trên cầu của tàu Santa Maria, Christophe Colomb không kềm hãm được nỗi vui sướng của mình. Tay phiêu lưu mạo hiểm này, có lẽ gốc Do thái, con của một người thợ dệt thành phố Genes, tin rằng giấc mơ của đời mình sau cùng đã trở thành hiện thực. Ông không ngờ rằng đối với ông lại sẽ bắt đầu một chuỗi dài nỗi thất vọng não nề và những thất bại chua cay đang đón chờ.

Vài giờ sau khi đặt chân lên đất liền ( một đảo nhỏ của quần đảo Bahamas), Christophe Colomb đã không biết rằng ông vừa khám phá một tân lục địa. Mãi cho đến cuối đời mình ông vẫn bướng bỉnh bảo vệ một ý nghĩ sai lạc. Ông tin tưởng là đã đến được vùng Viễn Đông, và những thổ dân niềm nở mà ông đã gặp đối với ông chỉ là những người « Ấn Độ (Indien) mà thôi.

Trong năm 1493 ông trở lại Barcelone để tường trình với Les Rois Catholiques công cuộc khám phá đã được thực hiện. Ông mô tả với các nhà vua những kỳ quan của Tân Thế Giới với các của cải giàu có của vùng đất hoang dã này : vàng, hương liệu, các loài chim hiếm, người nô lệ. Những vòng vàng thu được từ những tù nhân mà ông đã phô bày lúc trở về sau 8 tháng viễn du đủ giúp ông thuyết phục các vị vua Tây Ban Nha ra lệnh thực hiện một cuộc thám hiểm khác trong những tháng sau đó.

Tháng 9 năm đó, 17 chiếc tàu rời bến ra khơi. Trên tàu không những có 1500 thủy thủ và hành khách mà còn có các nhà tu sĩ và các nhà đầu tư. Cuộc thám hiểm kéo dài trong suốt gần 3 năm ở vùng Antilles và rồi cũng mang lại thất vọng. Colomb lần này tin là đã đặt chân đến bán đảo Mã Lai, và ông phải mất 2 năm gắng sức để được tài trợ một chuyến thám hiểm thứ 3 vào năm 1500. Ông thám hiểm tất cả vùng Caraibes và cập bến Nam Mỹ (Venezuela).

Quân Tây Ban Nha sau khi chinh phục Hispaniola (Haiti và Cộng Hoà Dominique) thì nhanh chóng bị mất lòng dân địa phương. Họ khai thác vàng và bắt dân bản xứ làm nô lệ. Họ sử dụng các phương pháp tồi tệ đến độ một cuộc điều tra đã được tiến hành. Colomb bị quy trách nhiệm về những hành động sai trái của quân sĩ dưới quyền. Ông bị lên án và bị đuổi về nước Tây ban Nha. Sau khi được ân xá ông còn được giao phó một chuyến thám hiếm thứ 4. Trong cuộc thám hiểm thứ 4 này (1502-1504), ông đã đi dọc theo bờ biển Trung Mỹ nhưng mà ông lại không hay biết chút nào. Ông đã ở ngoài khơi Vương quốc Aztèque mà sự giàu có về mọi mặt vượt lên tất cả những gì mà dân Âu Châu có thể tưởng tượng. Bởi vì một lần nữa ông trở về tay trắng nên sau đó ông không còn được phép thám hiểm thêm lần nữa.

Và rồi giờ phút của ông đã điểm và ông đã phải trải qua những năm tháng cuối cuộc đời trong nỗi cô đơn hiu quạnh, kiệt quệ, bị gièm pha nhưng luôn luôn giữ ý nghĩ sai lầm của mình. Và chưa hết, ông lại còn chịu một điều sỉ nhục cuối cùng : Chính Florentin Amerigo Vespucci đã chứng minh không thể chối cải rằng đó là một tân thế giới do vậy tên của ông ta (Amerigo) được dùng để đặt tên cho « khám phá » (America) của Christophe Colomb. Ông mất ở Valladolid năm 1506 và được mai táng ở Séville. Ở Nhà Thờ Seville có mộ của Christophe Colomb nhưng di hài bên trong có lẽ không phải của nhà thám hiểm vĩ đại này. Năm 2003, trước những khiếu nại cho rằng chính nước Cộng Hoà Dominique ở Caraibes mới là nơi mà di hài của Christophe Colomb đã an nghỉ, các nhà điều tra đã bắt đầu trắc nghiệm lên di hài ở Nhà Thờ Séville. Năm 2004, báo chí quốc tế báo cáo rằng di hài trong Nhà Thờ Séville là di hài của một người đã chết 15 năm trước khi Colomb qua đời và có lẽ đó là di hài của một trong những người con của ông tên là Hernando. Còn ông thì nằm xuống ở Cọng Hoà Dominique.

Năm 1888, trước sự hiện diện của chính quyền Barcelone và Genes, một cột trụ cao 60 m để vinh danh Colomb được dựng lên ở Plaça Portal de La Pau.

UserPostedImage


UserPostedImage


Ở độ cao 60 , Colomb có một tấm nhìn hướng ra Port (Vieux Port) mà không thể bị che khuất. Với thời gian, một huyền thoại cho rằng Colomb gốc nguời catalan. Ngay cả vài nhà sử học vẫn còn ủng hộ giả thuyết này cho đến ngày nay.

PORT OLIMPIC và VILA OLYMPICA


Port Olimpic và Vila Olympica là công trình quy hoạch ngoạn mục nhất được thực hiện lúc Barcelone được chọn làm thành phố tổ chức olympiade 1992. Khu phố kỹ nghệ cũ của Poble Nou được cải tạo thành Vila Olympica.

UserPostedImage


Các bến tàu cũ kỹ được thay thế bởi 4km bãi biển với một lối đi dạo dọc theo bờ.

UserPostedImage


Vila Olympica trở nên khu nhà ở với 2000 hộ được thoáng mát bởi nhiều công viên. Port Olympic ngày nay trở nên port de plaisance với nhiều du thuyền và dọc theo bến có nhiều quán café, restaurant thanh lịch. Cảng đươc chế ngự bởi 2 nhà lầu chọc trời cao 44 tầng.

UserPostedImage


UserPostedImage


Từ Port Olympic theo lối đi dạo dọc bờ biển (Passeig Maritim de la Barceloneta) để đến La Barceloneta, khu phố bình dân của Barcelone.

Đại Linh
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#5 Posted : Saturday, August 25, 2012 3:22:37 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,341

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2381 time(s) in 1228 post(s)
BARCELONE (2B)

ĐẠI LINH


EIXAMPLE


Vào giữa thế kỷ XIX, Barcelone trở nên ngột ngạt trong những bức tường được dựng lên từ thời trung cổ. Năm 1854, các bức tường này bị phá bỏ và thành phố được mở rộng ra (Eixample tiếng catalan có nghĩa là mở rộng : élargissement). Công trình này được giao phó cho kỹ sư Lldefons Cerda có nhãn quan futuriste về đô thị. Các đường phố và đại lộ được kẽ ô vuông thành những khối nhà giống nhau, nhằm nối Barcelone với các làng lân cận như Gracia, Sarria, Les Corts.. Eixample là một mô hình quy hoạch đô thị, cho phép Barcelone phân bố đồng nhất dân cư, làm cho lưu thông xe cộ thông suốt hơn và gia tăng diện tích gấp 15 lần chỉ trong vòng 50 năm. Sự xây dựng Eixample trùng hợp với một thời kỳ rất sáng lạng của dân Barcelone. Giới trưởng giả địa phương, nảy sinh từ sự phát triển kinh tế và kỹ nghệ, muốn Barcelone trở nên một thủ phủ lớn, do đó đã tài trợ rất nhiều dự án kiến trúc.

Ngoài ra, sự tăng trưởng xã hội kèm theo một khuynh hướng nghệ thuật mới, đặc biệt cho vùng Catalogne : đó là trào lưu tân thời (modernisme). Ta có thể tìm thấy nhiều thí dụ về style này trong các khu phố của Eixample.

Cột sống của tổng thể Eixample là 4 đại lộ chính :
  • La Gran Via De Les Cortes Catalanes
  • Passeig de Gracia : nơi đi dạo ưa thích của dân tư sản đầu thế kỷ 20
  • La Rambla de Catalunya
  • La Diagonal

Eixample được chia thành 2 phần : Eixample Izquierdo (trái) và Eixample Derecho (phải). Ngoài La Sagrada Familia, cợn có nhiều danh lam thắng cảnh để tham quan, tập trung gần hoặc tren đại lộ chính của Eixample là Passeig để Gracia.

PASSEIG DE GRACIA


UserPostedImage


Passeig Gracia nối Plaça de Catalunya với Gracia. Đây là đại lộ nổi tiếng, là một trong những địa điểm mà du khách thường lui tới nhất. Passeig Gracia là lối đi dạo được ưa thích của giới tư sản đầu thế kỷ 20.

UserPostedImage


Dọc theo đại lộ là những toà nhà giàu có, các ngân hàng, các toà đại sứ và những dinh thự được kiến trúc theo trào lưu tân thời (moderniste) :
  • La Casa Amatller
  • La Casa Batllo :
  • La Casa Lleo Morera

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage


Cả 3 toà nhà này có biệt danh là Manzana de la Discordia ( Pomme de la Discorde : nguyên nhân bất hòa) để nói lên những khác nhau về kiến trúc của 3 toà nhà. Cần nên biết rằng manzana tiếng castillan nghĩa là trái táo nhưng đồng thời cũng có nghĩa là khu nhà. Dĩ nhiên cũng có ám chỉ đến huyền thoại Hy Lạp: nữ thần gây bất hòa Eris hiện diện trong buổi lễ cưới của Pélée và Thétis mặc dầu nàng không được mời đến. Tức giận nàng ném vào giữa các vị khách mời một trái táo vàng có ghi chữ «cho người đẹp nhất ». Héra, Aphrodite và Athéna giành nhau quả táo. Cuối cùng Paris, hoàng tử thành Troie trao quả táo cho Aphrodite. 3 toà nhà tráng lệ này được bố trí như những con cờ trên một bàn cờ và sự kình địch giữa các gia đình cai trị được diễn ra qua đó.
- La Casa Mila : hay La Pedrera

CASA MILA (LA PEDRERA)

UserPostedImage


Tọa vị ở số 62 đại lộ Passeig de Gracia.

Được dân Barcelone gọi là La Pedrera (carrière de pierre: hầm đá), toà nhà Casa Mila là một trong những công trình được thực hiện nổi tiếng nhất của Gaudi. Được xây dựng từ năm 1906 đến năm 1910, đây là một công trình dân chính cuối cùng trước khi Gaudi cống hiến hết mình cho Sagrada Familia. Mặt ngoài của Pedrera được cấu tạo bởi các bức tường- màn che (murs-rideaux) được xây dựng bằng đá vôi trên đó nổi bật lên những khung cửa sổ và balcons bằng sắt được tái chế. Phía trên toà nhà là một terrasse không bằng phẳng từ đó phát xuất những ống khói được lợp bởi những "trencadis" (mosaiques được cấu tạo bởi những mảnh sành đánh vernis). Casa Mila được mô tả như là một pháo đài kỳ lạ, một chiếc máy bay, một vách đá dọc bờ biển. Các nhà phê bình văn học gọi đây là một tác phẩm trừu tượng, một điên rồ về kiến trúc.

CASA BATLLO

UserPostedImage


Casa Batllo tọa vị số 43 đại lộ Passeig De Gracia.

Đây là tác phẩm độc đáo nhất của Gaudi và là biểu tượng của Barcelone.

Được xếp hạng là di sản văn hóa của nhân loại bởi UNESCO, toà nhà này được xây dựng từ năm 1904 đến 1906 bởi Gaudi theo đơn đặt hàng của nhà kỹ nghệ Josep Batllo, mặc dầu có sự chống đối của nhà cầm quyền thời đó. Sự mê sảng và thiên tài của Gaudi được thể hiện tự do trong việc thực hiện dinh thự này. Gaudi đã trùng tu hoàn toàn ngôi dinh thự. Ông bảo tồn kiến trúc nguyên thủy (1877) nhưng vẽ lại mặt tiền và bài trí nội thất. Mặt tiền nhiều màu sắc (polychrome), balcon có hình mặt nạ với mái nhà hình uốn sóng tạo cho ngôi nhà một dáng vẻ đáng ngạc nhiên. Mặt tiền của Casa Batllo có dáng con quái vật biển (monstre marin). Chắc chắn đây là sáng tạo độc đáo nhất của Gaudi. Ở tầng nhất các lỗ trông giống như lối vào động, một công trình bằng đá và thủy tinh lạ kỳ. Các tầng lầu được trang trí bởi các balcon, các mặt nạ hé miệng, đem lại cho mặt tiền một dáng vẻ carnaval. Toà nhà 6 tầng này được chế ngự bởi một mái nhà rất kỳ lạ thể hiện Thánh Georges và con rồng.

LA SAGRADA FAMILIA

UserPostedImage


Nhà thờ La Sagrada Familia nằm ở phía đông Eixample và đã trở thành biểu tượng của Barcelone, một thành phố luôn luôn bảo vệ tính đặc thù của mình.

Nhìn từ xa, các tháp dong dỏng cao của La Sagrada Familia có dáng vẻ như con tàu ma đang lênh đênh trong sương mù của cái thành phố của tất cả các điều kỳ diệu ( la ville de tous les prodiges) này. Đối với nhiều du khách khám phá Barcelone lần đầu thì sự tiếp xúc đầu tiên này đã gây cho họ cảm giác choáng váng.

Toà nhà xây cất còn đang dang dở này là một kỳ công tuyệt vời, là một công trình mà Antoni Gaudi đã cống hiến hết mình trong suốt phần cuối của cuộc đời. Suốt trong 16 năm ông sống như nhà ẩn dật trên công trường và lúc qua đời đã an nghỉ nơi hầm mộ của chính nhà thờ mà ông đã bỏ công sức xây dựng.

Ý nghĩ xây dựng nhà thờ La Sagrada Familia xuất phát từ Josep Maria Bocabella, một nhà xuất bản giàu có và vì lo lắng về sự phát triển các tư tưởng cách mạng trong thành phố Barcelone nên đã thành lập một hội tôn giáo cung hiến cho Thành Josep, là thánh bảo trợ cho công nhân và gia đình.Việc xây dựng nhà thờ của hội bắt đầu năm 1882 dưới sự chỉ đạo của Francesco de Villar. Ông này đã thực hiện việc xây cất một điện thờ có cấu trúc néo-gothic tương đối cổ điển. Sau đó do Villar vì bất hòa với Bocabella nên đã bị thay thế vào năm 1884 bởi Antoni Gaudi lúc đó mới 31 tuổi.

GAUDI và GUELL


Barcelone không có Gaudi thì cũng giống như Paris không có Gustave Eiffel. Gaudi Antonio là một kiến trúc sư, sinh ngày 25 tháng 6 năm 1852 ở Reus (làng kế cận Barcelone). Xuất thân từ một gia đình bình dân, cả thời thơ ấu của ông bị mang dấu ấn bởi những vấn đề sức khỏe. Bệnh đau khớp đeo đuổi ông suốt cả cuộc đời. Ông đến ở Barcelone vào năm 17 tuổi để học ngành kiến trúc. Ông không phải là sinh viên xuất sắc nhưng ông đã thành công tạo phong cách riêng của mình và chứng tỏ cho các đồng nghiệp rằng ông là một kiến trúc sư « ngoại hạng ». Cũng như tất cả các thiên tài, ông đi trước các người đương thời một bước dài, vì vậy các công trình của ông vẫn luôn luôn không được thông hiểu. Bằng chứng là ông chỉ nhận một giải thưởng danh dự duy nhất trong suốt cuộc đời ông : giải thưởng thành phố cho dinh thự đẹp nhất dành cho Casa Calvet năm 1900. Cá tính của nhà kiến trúc cũng độc đáo : bị thu hút bởi xã hội thượng lưu, ông tham gia vào phong trào dân tộc. Ông luôn luôn từ chối nói tiếng espagnol và đã có lần bị cảnh sát bắt vì ông nói tiếng catalan. Lúc còn trẻ ông chống lại Giáo hội, nhưng vài năm sau đó ông trở thành người sùng đạo, không ngừng theo đuổi tìm kiếm giá trị tinh thần, sống một lối sống đạm bạc không xa hoa phù phiếm. Chính vào thời kỳ này ông bắt đầu thực hiện công trường của nhà thờ La Sagrada Familia. Nói về phong cách thì những tác phẩm đầu tiên của ông lấy nguồn cảm hứng từ nghệ thuật kiến trúc Ả rập, nhưng ông chủ yếu lấy nguồn cảm hứng từ thiên nhiên và không làm việc theo một kế hoạch nào đã được định trước.

Vào năm 1878, nhà kỹ nghệ giàu có Eusebi Guell i Bacigalupi (1846-1918) tham dự Hội Chợ Triển Lãm Hoàn Vũ được tổ chức ở Paris và đã đến gian hàng triển lãm Tây Ban Nha. Ngày đó là ngày quyết định cho sự nghiệp của Gaudi. Nhà kiến trúc sư trẻ tuổi vừa phát họa họa đồ một tủ kính cho một cửa hàng bán lẻ bao tay (gant) và ông trình bày sáng tạo của mình ở một gian triển lãm. Guell rất cảm kích bởi tính sống động và độc đáo của dự án, vì vậy vừa mới trở về Barcelone, ông vội tìm cách liên lạc với tác giả. Guell bị chính phục bởi cá tính con người Gaudi cũng như bởi quy mô công việc của ông ta, nên chẳng bao lâu sau đó ông đã gởi cho Gaudi rất nhiều đơn đặt hàng và từ đó khởi đầu cho một tình bạn lâu dài và có hiệu quả. Guell đã tiên đoán được khả năng hai mặt của Gaudi : không những Gaudi biết xây dựng những ngôi nhà chắc chắn và độc đáo mà con biết thể hiện qua chúng một tinh thần dân tộc catalan triệt để. Chính vì lẽ đó mà Guell đã giao phó cho Gaudi vẽ họa đồ cho Palau Guell.

Vào đầu thế kỷ 20, Gaudi dấn thân vào 2 dự án đầy tham vọng theo đơn đặt hàng của Guell, vị mạnh thường quân của mình. Dự án thứ nhất là một nhà thờ cho Colonia Guell o Santa Colona de Cervello nằm ngoài thành phố. Nhưng ông chỉ hoàn thành phần hầm mộ (crypte) rồi bỏ dở dang vì thiếu tiền. Đồng thời ông cố gắng quy hoạch Parc Guell mà ông phải mất 14 năm để làm việc cho công trình này. Vài kiến trúc sư ca ngợi ông nhưng cũng có kẻ dèm pha ông. Họ xem ông là nhà mơ mộng món trứng rán (reveur d'omelette). Trong một tạp chí thời đó, một phóng viên đã bình luận như sau :" Người ta nói rằng ở Parc Guell, tất cả những gì ông ta làm là tiêu xài tiền bạc cho món trứng rán to lớn đồ sộ. Nhưng chính Guell đã phải trả tiền cho các món trứng đó". Gaudi thường nói rằng cách tốt nhất để biết một người nào đó là tiêu xài tiền của ông ta.

Sự qua đời của Guell (1918) làm cho Gaudi hết sức sầu muộn bởi vì một tình bạn lâu dài đã chấm dứt từ đây. Vào thời kỳ đó ông tập trung sức vào La Sagrada Familia. Antoni Gaudi (1852-1926) mà các công trình đã trở nên những biểu tượng của Barcelone, đã từng theo học kiến trúc và triết học, điều này giải thích sự kết hợp giữa kỹ thuật và tinh thần trong các công trình nghệ thuật của ông. Ông lao mình vào các công trình của “người mơ mộng hão huyền” (visionnaire) và đã làm những người đương thời phải ít nhiều lo lắng. Ông lấy nguồn cảm hứng từ các kiến trúc của thời quá khứ, từ các phương thức kỹ thuật, ông sử dụng các vật liệu và khai thác tất cả các khả năng của thực vật để tạo nên những hình dáng sinh động và độc đáo, điều này khiến ông trở thành một trong những kiến trúc sư lớn nhất của mọi thời đại. Há chẳng phải tình cờ khi 3 trong những công trình của ông ( Palau Guell, Parc Guell và Casa Mila) được xếp hạng là di sản văn hóa của nhân loại ? Gaudi đã phải chết dưới bánh xe của tramway năm 1926, đã cống hiến những năm tháng cuối cùng của đời mình cho kiệt tác còn đang dở La Sagrada Familia và đã từng phải ngủ ở ngay nơi công trường vì công việc !

POBLE NOU

UserPostedImage


Khu phố này đã bị dội bom nặng nề trong thời kỳ nội chiến bởi vì đây là khu vực kỹ nghệ.

Poble Nou ra đời trong một vùng đầm lầy Sant Marti de Provençals vào cuối thế kỷ XIX. Rất nhanh chóng các nhà máy mọc lên khắp nơi nên khu vực này lúc đó được mệnh danh là Manchester Catalan.

Vào năm 1950, ở đây có hơn 5000 nhà máy, tạo nên sự tập trung kỹ nghệ lớn nhất của bán đảo. Chính vào lúc này xuất hiện trung tâm đô thị đầu tiên của Poblenou, ngột ngạt giữa các khu nhà ở mới xây cho dân nhập cư trong những năm 1950-60. Việc xây dựng không theo một kế hoạch đô thị nào và thiếu những dịch vụ cơ bản nhất.

Trong thời kỳ nội chiến Poblenou tích cực theo phe Cộng Hoà nên bị nhiều trận dội bom. Thời hậu chiến lại khó khăn do cuộc khủng hoảng kỹ nghệ của những năm 1970. Khu phố bị rơi vào quên lãng. Chỉ mới cách nay 15 năm, nói đến khu vực này dân Barcelone chỉ biết đó hoặc là một nghĩa địa, một nhà ga, một góc phố ám khói và xám xịt, đầy những tòa nhà kỹ nghệ. Bãi biển thì đầy đồ phế thải không dễ lui tới. Và khi trời mưa cả vùng chỉ là một vũng bùn to lớn. Chính nhờ Jeu Olympique 1992 khu phố được biến đổi sâu rộng. Hiện nay Poblenou là khu phố trẻ với nhiều đại lộ rộng rãi, các toà nhà, khách sạn cao tầng. Ở đây có Trung Tâm Hội Nghị Quốc Tế Barcelona.

UserPostedImage

UserPostedImage


ĐẠI LINH (2/8/2007)
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.