Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

88 Pages«<6263646566>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Tu Bich  
#1261 Posted : Friday, September 10, 2010 12:27:41 AM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Bà Sakineh Ashtiani bị tử hình

Tuesday, September 07, 2010
Ngô Nhân Dụng

Một gia đình thuê căn lầu có lối đi riêng trong ngôi nhà cháu tôi ở Montréal, Canada. Bữa đầu tháng 7 khi tôi đang ở đây, ông thuê nhà xuống gõ cửa, lễ phép nói: “Thưa bà, chúng tôi sắp về Tunisie nghỉ hè, thăm gia đình. Xin nhờ bà đưa cho chồng bà hai ngân phiếu này, chúng tôi trả tiền nhà tháng 7 và tháng 8 luôn.”

Cô cháu tôi kể lại chuyện, lắc đầu: Tháng nào ông ấy cũng nói như vậy. Không bao giờ ông ta trả tiền nhà trực tiếp cho mình mà luôn luôn nhờ đưa tiền nhà “cho chồng bà!” Hai vợ chồng họ còn trẻ, ăn ở rất lịch sự, tử tế; họ giữ nhà cửa sạch sẽ, gọn gàng hơn nhà mình nữa, không thể chê vào đâu được. Cả hai đều đi làm, ông ấy làm nghề kế toán, đã tốt nghiệp đại học ở đây, nói tiếng Anh, tiếng Pháp trôi chảy; đứa con trai thì đi học, rất ngoan ngoãn, lễ phép. Nhưng hình như họ không thể nào chấp nhận được rằng một người đàn bà cũng là một chủ nhà, như người chồng!

Nhiều người gốc từ các xứ Hồi Giáo đã trở thành công dân Canada nhưng vẫn giữ phong tục, văn hóa cổ truyền. Một câu chuyện bi thương mới xẩy ra năm qua khi một gia đình người gốc Afghanistan đã giết đứa con gái 16 tuổi, vì cô gái đã đi chơi với bạn trai, dù bố mẹ cấm. Người mẹ cũng tham dự vào vụ giết con này với chồng và con trai. Sau khi giết con gái, người cha điện thoại báo cho cảnh sát biết để đến bắt ông ta đưa ra tòa. Là công dân Canada, họ muốn tỏ ra biết bảo vệ danh dự, ăn ở lương thiện, có trách nhiệm, tôn trọng luật lệ của xứ sở này. Nhưng mặt khác họ vẫn thấy bổn phận phải “bảo vệ danh dự gia đình” theo truyền thống quê hương họ. Họ coi truyền thống đó có tính chất thiêng liêng, vượt lên trên luật lệ của thế gian. Ông Jose Manuel Barroso, chủ tịch Ủy Hội Cộng Ðồng Aạu Châu có thể kết án những hành động như vậy là “dã man không thể tả được,” như ông đã kết án chính quyền Iran trong vụ xử tử một phụ nữ về tội ngoại tình bằng cách ném đá. Nhưng những người tin tưởng và thực hành các truyền thống lâu đời đó lại coi chính họ mới thực sự sống văn minh, những người khác họ mới là dã man, mọi rợ.

Cả thế giới đang chăm chú nhìn về nước Iran, chờ đợi quyết định của tòa án tối cao của các giáo sĩ. Từ mấy năm nay nhiều người đã ký kiến nghị gửi chính quyền và giáo quyền ở đó xin đừng giết bà Sakineh Mohammad Ashtiani. Bà Sakineh đã bị kết tội “ngoại tình.” Bà có thể bị xử tử bằng cách ném đá cho tới chết theo phong tục cổ. Bà bị truy tố vì, sau khi chồng đã chết vào năm 2006, bà ăn nằm với người đàn ông khác. Ðối với họ, đó là tội ngoại tình. Bà bị kết án phạt đánh đòn 99 roi. Người con trai lớn, lúc đó 17 tuổi, đã yêu cầu có mặt lúc mẹ bị hành hạ, vì anh “không muốn bỏ rơi mẹ tôi phải chịu bao đau đớn, sỉ nhục trong cảnh cô đơn.”

Chính quyền Iran từng tố cáo bà Sakineh Ashtiani đồng lõa trong vụ giết chồng bà. Họ còn nói rằng bà đã thú nhận tội giết chồng - chắc cũng như Bukharin ra tòa đã thú tội phản bội đảng cộng sản sau khi được công an của Stalin hỏi cung! Khi ra tòa bà đã phủ nhận lời thú tội đó. Sau khi được tòa án ở thành phố Tabriz tha bổng vì thiếu bằng cớ, bà Sakineh bị đem ra xử lại về tội ngoại tình, với bản án tử hình sau được đổi cho chết bằng cách treo cổ thay vì bị ném đá. Hai người con của bà Sakineh đã vận động khắp nơi với sự hỗ trợ của các tổ chức nhân quyền trong nước Iran, để cứu mẹ. Các nhân vật nổi danh và nhiều tổ chức trên trên thế giới lên tiếng can thiệp; cho nên bản án tử hình đáng lẽ thi hành vào tháng 7 vừa qua, đã được hoãn lại, cho Tòa án Tối Cao phúc thẩm.

Người con trai lớn Sajad, 22 tuổi, lại báo tin mẹ anh còn bị kết thêm tội về hành vi phản đạo đức, sau khi tờ Thời Báo ở Teheran đăng bức hình bà không quàng khăn trùm đầu. Bà bị kết án đánh roi 99 lần, vì chụp hình để đầu trần, trái pháp lệnh của các giáo sĩ. Tờ báo này sau đó đã đính chính, giải thích đó là hình một phụ nữ Iran khác, nay đã sống tị nạn ở Thụy Ðiển. Nhưng người con trai không biết bà Sakineh Ashtiani đã bị đánh hay chưa.

Cả thế giới bày tỏ lòng phẫn nộ trước cách đối xử của chính quyền Iran đối với một góa phụ 43 tuổi. Nhiều cuộc biểu tình ở London, Paris, Washington. Thành phố Roma treo một chân dung lớn của bà (đội khăn kín đầu) trước cửa tòa đô chính. Tòa Thánh Vatican, với chủ trương bác bỏ án tử hình ở mọi nơi, đã can thiệp một cách tín đáo để xin hội đồng giáo sĩ tối cao ở Iran trả tự do cho bà. Tổng Thống Brazil Luiz Inácio Lula da Silva nói ông đã ra lệnh đại sứ nước ông trực tiếp can thiệp với Tổng Thống IranMahmoud Ahmadinejad xin ân xá, và hứa sẽ cho bà Sakineh được sang Brazin tị nạn. Bà Carla Bruni, vợ Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy viết cho bà một lá thư ngỏ, nói: “Sakineh, bà nên biết tên của bà đang là một biểu tượng của cả thế giới. Chồng tôi sẽ lên tiếng bênh vực bà, nước Pháp sẽ không bỏ rơi bà.”

Sau khi bức thư được công bố, các tờ “báo đảng” ở Teheran chửi tác giả bằng những từ thô lỗ. Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton cũng can thiệp, yêu cầu chính phủ Iran tôn trọng quyền tự do làm người của dân, đặc biệt là các phụ nữ.

Chính quyền Iran đã tự bào chữa hệ thống pháp luật của họ bằng cách chỉ trích lại các nước Tây Phương. Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Iran nói các nếu chính phủ Âu Châu coi việc xử tử hình một người đàn bà ngoại tình và giết chồng là vi phạm nhân quyền, thì hãy thả tất cả các tên sát nhân trong nhà tù của họ đi! Họ còn lên giọng dạy bảo các nước Âu Mỹ hãy coi lại hệ thống xã hội của mình xem có tốt hay không trước khi phản đối Iran. Họ hỏi tại sao các nước Âu Châu lại ủng hộ Israel khi nước này đối xử bất công với người Palestine?

Những phản ứng trên có thể cho thấy quan niệm về công lý và nhân quyền của chế độ thần quyền ở Iran khác hẳn thế giới bên ngoài. Nhưng việc tự bào chữa mình bằng cách kể những lỗi lầm của người khác, như chính quyền Iran hay làm, không phải là phương cách hợp lý nhất để chối bỏ tội lỗi. Không phải vì có nhiều người đã vi phạm nhân quyền mà hành động vi phạm của mình được coi là hữu lý. Một người ăn cắp trong một cửa hàng không thể tự biện hộ bằng cách tố cáo lại rằng chủ hàng đã bán giá đắt để kiếm lợi quá nhiều. Những chính quyền độc tài ở Miến Ðiện, Bắc Hàn,Việt Nam, Sudan, thường chỉ trích các cảnh bất công trong xã hội Tây phương để biện hộ cho các chính sách khinh thường quyền tự do của người dân trong nước họ.

Trên thế giới đã có nhiều nơi xử tử các phụ nữ ngoại tình bằng cách ném đá tới chết. Luật cổ truyền của Do Thái Giáo nói đến 18 trường hợp có thể xử tử bằng cách ném đá. Có chứng tích cho thấy lối hành hình này cũng đã phổ biến ở Hy Lạp thời cổ đại. Trước đây 2000 năm có thể đó là một phương pháp xử án bình thường ở vùng Trung Ðông; vì vậy mới có câu chuyện chúa Giê Su hỏi, “Ai thấy mình không có tội thì ném hòn đá đầu tiên đi!” Phong tục ném đá chắc rất phổ biến trong thời đó, không ai muốn đi ngược lại. Cho nên những tác giả Tân Ước cũng không ghi lại ý kiến của Chúa Giê Su, ngài có thể phản đối ngay việc giết người, dù người đó bị coi là có tội trong cõi nhân gian này. Nhiều tác giả công nhận một Hội Ðồng Phán Quan (Sanhedrin) của Do Thái Giáo đã bãi bỏ hẳn án tử hình từ năm 30, Tây lịch, vì tin con người không thể cướp quyền sống chết do Thượng Ðế ban cho người khác.

Các học giả cho biết trong Kinh Kuran của Hồi Giáo không hề có một chữ nào viết về “rajm” tức là Ném Ðá hay ném đá cho đến chết. Một số quốc gia Hồi Giáo đã áp dụng cách xử tội này dựa trên những luật lệ được phát triển sau này, nhân danh Kinh Kuran. Hiện nay một số quốc gia Hồi Giáo còn áp dụng hình phạt ném đá như Afghanistan, Iran, Saudi Arabia, Somalia, Sudan, và Nigeria. Nhưng hiện có nhiều phong trào phụ nữ tại các nước Iran hoặc Afghanistan đang công khai vận động bãi bỏ phong tục này.

Phong tục hành hình bằng cách ném đá hầu như chỉ áp cho các phụ nữ ngoại tình, ít khi dùng cho các tội khác. Ðúng ra, đó không phải chỉ là việc xử tử hình mà còn là tra tấn, hành hạ nữa. Ðiều đó cho thấy tinh thần trọng nam khinh nữ cũng là một phong tục phổ biến từ mấy ngàn năm trước còn lưu cữu tới giờ.

Loài người được coi là càng ngày càng văn minh hơn vì đã biết thay đổi các phong tục, trong đó có việc bác bỏ thái độ trọng nam khinh nữ. Phụ nữ có thể đã bị kỳ thị từ khi có sự phân công, phái nam đi săn bắn, đàn bà phải cho con bú nên chỉ đi hái lượm ở gần. Nhưng nhân loại đã tiến bộ từ tình trạng săn bắn du mục sang công việc chăn nuôi, trồng trọt là nhờ phụ nữ. Chỉ có những người đàn bà sống ở gần hang ổ, nhà cửa, mới có cơ hội và đủ tính kiên nhẫn để thí nghiệm các việc trồng trọt và chăn nuôi. Loài người thực sự văn minh, một số ít người sản xuất đủ thực phẩm cho nhiều người, nhờ phát minh vĩ đại đó. Nhờ phát minh căn bản đó mà mỗi xã hội cổ sơ mới có thể nuôi những người không cần làm ra thực phẩm, nhưng các nghệ sĩ, những nhà phát minh, các thợ khéo, giúp tiến tới những hoạt động thương mại, công nghệ, vân vân sau này. Không phải vì biết ơn phụ nữ đã sáng tạo ra nền văn minh nhân loại, mà vì tôn trọng quyền của tất cả mọi người được quyền sống như nhau, mà loài người đã đề cao quyền bình đẳng giữa nam và nữ.

Một cổ tục khác rất phổ biến trong lịch sử là tội tử hình, theo một điều luật cổ của Hoàng Ðế Hammurabi, ban hành 17 thế kỷ trước Công nguyên, đưa tới câu tục ngữ nổi tiếng: “Mắt trả bằng mắt, răng trả bằng răng.” Nhưng loài người văn minh cũng nhận thấy việc giết chết một phạm nhân không giúp cho tội ác giảm bớt, mà có thể vì muốn tập thể trả thù một cá nhân.

Hiện nay có 95 quốc gia trên thế giới đã bãi bỏ án tử hình. Những nước còn giữ, chiếm kỷ lục là Trung Quốc, năm 2009 đã giết 1700 người (nghi có thể trên 10,000 người nhưng không được báo cáo), rồi đến Iran, giết 388 người, sau tới Iraq (120), Á Rập Saudi (69), nước Mỹ đứng hàng thứ 5 với 52 vụ hành hình vào năm đó. Ở những nước còn giữ án tử hình, người ta cũng tìm cách làm cho việc nhân danh xã hội, nhân danh công lý mà giết người có thể nhân đạo hơn. Dân chúng Mỹ hiện còn đang tranh luận về phương pháp xử tử bằng ghế điện hay chích thuốc, cách nào nhanh hơn và bớt gây đau đớn hơn.

Tiến từ tình trạng dã man sang văn minh, người ta cũng không muốn để cho việc xử tử hình mang tính chất trả thù, và nhất là không khích động thú tính trong con người. Những vụ hành hình công khai, nhất là những vụ treo cổ, ném đá, đều là những dịp để nhiều người thỏa mãn khuynh hướng giết chóc của họ. Ở các nước, kể cả ở Việt Nam, khi còn những vụ hành hình trước công chúng, nói là để răn đe người khác, thực sự có nhiều người đã kéo nhau đi xem, như một cuộc giải trí. Các bạo chúa thường lợi dụng thú tính tiềm tàng trong mọi người dân để biện hộ cho những cuộc hành hình công khai đó. Những vụ đấu tố bằng “tòa án nhân dân” do cộng sản Trung Hoa tổ chức thời cải cách ruộng đất cũng vậy. Những “phiên tòa” đó vừa kích thích óc trả thù, máu giết người của đám bần cố nông, vừa là cơ hội để bọn cướp được chính quyền tiêu diệt những người bất đồng ý kiến. Cộng sản Việt Nam đã học được phương pháp đó của các đồng chí Trung Quốc, đem áp dụng ở nước ta, dưới sự chỉ đạo của các “cố vấn.” Trong lịch sử dân tộc Việt Nam chưa bao giờ người Việt lại đối xử với nhau một cách tàn bạo, như đem chôn sống người, chôn đứng người còn sống chỉ để hở cái đầu rồi cho cầy bừa đi qua. Phương pháp đó chắc phải là sáng kiến của các đồng chí “cố vấn Trung Quốc vĩ đại,” đem sang nước ta từ một quốc gia đã sáng chế ra những phương pháp giết người tinh vi mô tả trong Ðàn Hương Hình của Mặc Ngôn. Hoàn toàn do thú tính thúc đẩy. Nghĩ lại, chúng còn thấy chia sẻ nỗi nhục, khi người Việt Nam lại giết nhau như vậy.
Chúng ta cùng góp lời cầu nguyện cho bà Sakineh Mohammad Ashtiani. Bà hiện là biểu tượng cho cả thế giới nhìn vào, như Carla Bruni viết. Chúng ta thẩm lượng trình độ văn minh của nước Iran qua vụ này. Việc họ có làm bom nguyên tử hay không cũng không quan trọng cho danh dự quốc gia của họ bằng cách họ đối xử với bà Ashtiani. Hy vọng các giáo sĩ ở Iran sẽ không giết bà chỉ vì muốn chứng tỏ họ coi thường các lời nói của bà Hillary Clinton ở Mỹ hay ông Jose Manuel Barroso ở Âu Châu. Một dân tộc đã sản xuất ra những bậc Thánh như Zaratgustra, Mani, các triết gia như Jalaleddin Ashtiani, Kazem Assar, Ibrahim Ashtyani (không biết có họ với bà Ashtiani ngày nay hay không), những thi sĩ như Omar Khayyam, Rubi, Sadi, vân vân, chắc sẽ cố sống xứng đáng với tiền nhân của họ. Cũng như người Việt Nam mình sẽ cố sống xứng đáng là con cháu của Lý Nhân Tông, Trần Thái Tông, Nguyễn Trãi. Phải sống hòa vào chiều tiến hóa của nền văn minh nhân loại



hongvulannhi  
#1262 Posted : Friday, September 10, 2010 12:54:16 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,309

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)
ÚC CHÂU : VINH DANH CỜ VÀNG, LÊN ÁN VIỆT GIAN

UserPostedImage
Nguyễn Quang Duy


Ngày 25 tháng 9 năm 2010 tại Little Sài Gòn – Footscray – Victoria – Úc Châu sẽ phát động một cao trào Vinh Danh Cờ Vàng bằng một cuộc diễn hành theo sau lá Đại Hòang Kỳ dài 6 thước với 6 thanh niên thiếu nữ rước hàng đầu. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Victoria chúng ta sẽ rước và vinh danh lá cờ Vàng lá cờ của Việt Nam Tự Do.

Trong lịch sử cận đại Việt Nam , nơi nào lá cờ vàng tung bay, nơi đó có an cư lạc nghiệp. Ngược lại lá cờ đỏ gắn liền với tiêu diệt giai cấp, tiêu diệt đối lập, chiến tranh tang thương chết chóc đói nghèo ...

Cũng vì vậy mà khi Việt cộng chiếm đựơc miền Nam , chúng ta đã phải bỏ nước ra đi, nhưng đi đến đâu thì cộng sản lại theo gót chúng ta đến đó. Thậm chí Việt cộng còn xem thường và thách thức phản ứng của chúng ta, như đã cho trực tiếp truyền hình VTV4 hay gởi đòan văn công “Duyên Dáng Việt Nam” tuyên truyền cho chế độ bạo quyền luôn đàn áp người dân.

Nhờ đòan kết chúng ta mới xây dựng được một cộng đồng luôn gắn bó dưới lá cờ vàng trong tinh thần “Úc châu phải là vùng cấm Việt cộng”. Những cuộc biểu tình ôn hòa do Cộng Đồng đứng ra tổ chức đã nói lên một điều cộng đồng chúng ta không bao giờ chấp nhận cộng sản. Khi chúng ta cùng lên tiếng SBS đã phải chấm dứt phát hình tuyên truyền cho Việt cộng, còn “Duyên Dáng Vịêt Nam ” phải cuốn gói rời Úc không kèn không trống.

Nhưng gần đây “Hiệp Hội Doanh nhân Việt Nam – Australia ” một cánh tay nối dài của đảng cộng sản đã vươn đến tận Úc châu. Các cán bộ Việt cộng thường xuyên lui tới khu vực Footscray vì Trung Ương của Hội được đặt tại nơi đây. Thế rồi đầu tháng bảy vừa qua dư luận rất xôn xao khi nghe tin Đại sứ Việt cộng Hoàng Vĩnh Thành đã công khai xuất hiện tại Melbourne chính thức cho ra mắt Hội này.

Theo yêu cầu của nhiều đồng hương và hội đòan, ông Nguyễn văn Bon chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Victoria đã ra Thông Báo kêu gọi chúng ta hãy tích cực tham gia cuộc biểu tình và diễn hành 25/9/2010 sắp tới.

UserPostedImage

Vậy mà vẫn có người cho rằng Hội này chỉ là Hội dỏm, cho đến cái tên tiếng Việt của nó vẫn chưa được đảng đặt cho đâu cần phải biểu tình. Quả thật báo Lao Động trong nước kêu nó là “Hội Doanh Nhân Việt Nam – Australia ”, còn báo khác gọi kêu nó là “Hội Doanh Nhân Việt Kiều – Australia ”. Chúng ta có ngừơi đặt tên nó là “Hội Doanh Nhân Việt Cộng” hay “Hội Doanh Nhân Việt Gian” hay "“Hội Gia Nhân Việt Cộng” để phân biệt với các Hội Thương gia của người Việt tự do. Cũng có người còn cho rằng một cái Hội “thổ tả” chưa biết kêu là gì này với chỉ một vài cá nhân như Trần Bá Phúc, Phan văn Danh, ... đâu cần phải tổ chức biểu tình.

Đúng ra cuộc biểu tình và diễn hành trước tiên là để Vinh Danh Cờ Vàng. Kế đến không phải để chống Trần Bá Phúc hay Phan văn Danh mà để chống lại sự xâm nhập của cộng sản dứơi hình thức Hội Đòan do Việt cộng lập ra. Nếu không có phản ứng mạnh như biểu tình một ngày không lâu Việt cộng sẽ công khai xuất hiện cắm cờ đỏ sao vàng trên các khu vực thuộc người Việt Tự Do như Footscray, Springvale, Richmond , Marickville, Cabramatta, ... hay bất cứ nơi nào mà bọn chúng muốn cắm.

Gọi là đại diện cho Việt Nam thế mà lá cờ Việt cộng lại không được treo trong các khu vực đông dân cư gốc Việt là một điều nhà cầm quyền Hà Nội cay cú nhất. Thế nhưng xin đừng xem thường chuyện này vì cộng sản cũng tìm những nơi vắng người Việt để treo. Như trong trong dịp gọi là “Quốc Khánh” vừa qua, ngày 28-8 tại thành phố Kiama, phía nam Wollongong, cách Wollongong khoảng 30 cây số đường chim bay, (vùng này chắc không có người Việt sinh sống) và ngày 4-9 cờ đỏ được treo lên tại Paramatta, khoảng 10 cây số bắc của Cabramatta, New South Wales.

Cũng không gì khó hiểu khi đảng cộng sản lấy Hội Doanh Nhân làm thí điểm. Những thương gia thường rất bận công việc làm ăn nên ít quan tâm đến các họat động nằm vùng của Việt cộng và tay sai. Khi các thương gia Việt Nam không biết cái Hội do cộng sản lập ra này, họ có thể sẽ vô tình chấp nhận hay gia nhập. Khi ấy chúng ta không biết ai theo Việt cộng ai là người Việt Tự Do. Tham dự biểu tình chính là để báo cho các thương gia biết bọn Việt gian để họ có thể tránh xa bọn này.

Nếu việc lập Hội Doanh Nhân thành công, Việt cộng sẽ lập ra các Hội khác như Hội Cao Niên, Hội Phụ Nữ, Hội Cựu Chiến Binh Việt cộng ... Các Hội này sẽ được tài trợ trực tiếp từ đảng Cộng sản. Vì hám danh vì hám lợi sẽ có những người sẵn sàng làm tay sai cho Việt cộng. Các Hội Đòan Cộng Sản này sẽ lôi cuốn con cháu chúng ta tạo ra những chia rẽ ngay trong gia đình của chúng ta. Tham dự biểu tình là để sớm phân định lằn danh giữa người Việt yêu chuộng tự do và bọn tay sai Việt cộng hay ngăn chận từ trong trứng nước họat động của bọn cộng sản nằm vùng.

Chúng ta hay gia đình đã từng chiến đấu dưới lá cờ vàng cho tự do dân tộc. Chúng ta hay gia đình đã phải đánh đổi mạng sống để thóat ngục tù cộng sản đi tìm tự do. Chúng ta luôn hãnh diện vì đặc thù tỵ nạn chính trị của cộng đồng chúng ta. Tham dự biểu tình là xác minh nguồn gốc tỵ nạn cộng sản và vinh danh lý tưởng tự do mà người Việt chúng ta đã chịu hy sinh và vẫn hằng quyết tâm theo đuổi.

Tham dự biểu tình cũng là để nói với người Việt trên tòan thế giới rằng Úc châu là vùng cấm “Việt cộng” và chúng ta luôn hổ trợ công cuộc đấu tranh chống bạo quyền Việt cộng tại quê nhà. Tin tức sẽ được truyền về Quốc Nội sẽ hổ trợ tinh thần đồng bào Quốc Nội đứng lên giành lại quyền tự do đã bị Việt cộng cướp mất từ những ngày tháng 8 năm 1945.

Khi Việt Nam được Tự Do, các sinh họat Hội Đòan sẽ độc lập với chính phủ cả Úc lẫn Việt Nam . Sinh họat Hội thuần túy trong vòng pháp luật của 2 quốc gia. Không phải như các Hiệp Hội do đảng cộng sản dựng lên phải chịu họat động dưới cái dù của “Mặt Trận Tổ Quốc”, trực tiếp lãnh đạo của đảng Cộng sản và chịu sự kiểm sóat của Bộ Nội Vụ, Ngọai Giao, Quốc Phòng, Công An Việt cộng. Xin xem bài “Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Nam – Một Sản Phẩm Của Nghị Quyết 36” trên Việt Luận số thứ sáu 13/8/2010 để xem 2 Quyết Định thành lập Hội và biết chi tiết.

Là chiến sỹ Việt Nam Cộng Hòa đã từng xông pha hạ cờ đỏ dựng cờ vàng. Tham dự cuộc biểu tình để tiếp tục cuộc đấu tranh cho tự do dân tộc.

Là người dân đã bao năm yên ổn làm ăn dưới bóng cờ tự do – vàng ba sọc đỏ. Hãy cùng tham dự biểu tình để tri ân những người đã hy sinh lá cờ cho tự do bảo vệ an ninh cho chúng ta.

Là những người có nhiều kinh nghiệm đau thương với chế độ cộng sản Việt Nam bạn có các lý do khác để tham dự cuộc biểu tình.

Là thế hệ hậu duệ hãy tham dự cuộc biểu tình để tiếp tục gìn giữ lá cờ Tổ Quốc do ông cha để lại và không để Việt cộng công khai xuất hiện trên vùng đất tự do chúng ta đang sống.

Hãy rủ nhau đi và hẹn nhau tại Little Sài Gòn – Footscray ngày 25 tháng 9 năm 2010 để cùng rước lá Đại Hòang Kỳ từ Little Sài Gòn Footscray về lại quê hương Việt Nam yêu dấu của chúng ta. Hẹn gặp bạn trong cuộc biểu tình.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi 08/09/2010

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1263 Posted : Friday, September 10, 2010 6:34:24 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,309

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)
ƯỚC MƠ

Tôi không ao ước nhà to lớn
Mà vẫn thầm mơ mảnh vườn thơ
Có cây to lớn, cành che mát
Có nắng lung linh chiếu mặt hồ.

Cuối vườn ngát hương mùi thiên lý
Đỏ màu hoa lựu gió đong đưa
Quít vàng sai trái đang vờn nắng
Cây cam hoa nở đủ bốn mùa.

Có ước gì cao sang nữa đâu
Mà sao trời vẫn chẳng chiều nhau
Một ngôi nhà nhỏ xinh như mộng
Quanh co liễu rủ, cỏ xanh màu.

Men lối mòn ra tận hồ bơi
Khi nắng chiều loang nhạt ánh trời
Nhìn theo cánh bướm đang vờn gió
Bóng tối dần che khuất mặt người.

Thoang thoảng tai nghe điệu nhạc buồn
Lâng lâng mây gió, ý tơ vương
Trăng soi mờ ảo hồn nhân thế
Thấy kiếp phong sương cảnh đoạn trường.

Thấy cả cô đơn một cõi đời
Buồn như khối nặng lấp niềm vui
Ngàn tạ sầu vay sao trả hết
Thôi đành xin khất kiếp sau thôi...
HONG VU LAN NHI 9/10/10
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1264 Posted : Friday, September 10, 2010 6:59:02 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,309

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)
Trào Lưu Lãng Mạn Trong Văn Học Việt Nam
Tran Bich San

March 7, 20100

[img=left]http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2010/03/VTROMANTICISM-1.jpg[/img=left]
Bình Luận.Chủ nghĩa văn học lãng mạn (romanticism) phát xuất đầu tiên ở Anh và Đức vào cuối thế kỷ thứ 18, sau đó lan sang Pháp và những nước khác. Tuy nhiên, trào lưu văn học nghệ thuật lãng mạn đã được phát triển trước nhất ở Anh quốc.

Trong văn chương Anh, chủ nghĩa lãng mạn được thể hiện qua thi ca của William Blake (1), William Wordsworth (2), Samuel Taylor Coleridge (3), Lord Byron (4), Percy Bysshe Shelley (5) và John Keats (6). Những vần thi ca mơ mộng của Blake không phải lúc nào cũng dễ hiểu vì nhà thơ sáng tạo ra những huyền thoại riêng để diễn tả tư tưởng của mình. Thơ ông biểu lộ sự tưởng tượng đầy nghệ thuật dạt dào sức sống. Byron là thi sĩ nhiều màu sắc nhất của trào lưu văn chương lãng mạn Anh. Thơ Byron có lúc dữ dội, có khi lại mềm mại nhưng luôn luôn nhấn mạnh đến chủ điểm là con người phải được tư do lựa chọn lối sống của mình. Shelley không chỉ là một thi sĩ lãng mạn mà còn là nhà thơ tình vĩ đại của văn học Anh. Keats, với nhiều lối thi ca khác nhau, hướng vào sự vui thích, sung sướng trước cái đẹp của nhân loại, buồn rầu với những đau khổ không thể tránh được xảy đến cho con người. Thơ ông là nhịp cầu giữa thế giới sụp đổ với thế giới vĩnh cửu. Coleridge cùng Wordsworth mở đầu trào lưu văn chương lãng mạn ở Anh và cũng là của thế giới bằng thi tập Lyrical Ballads xuất bản năm 1798. Thi phẩm này gồm đa số thơ của Wordsworth nhưng trong đó có bài thơ bất hủ The Rime of the Ancient Mariner của Coleridge là một thành tựu lớn nhất của nền văn chương Anh.

Chủ nghĩa lãng mạn đòi hỏi tự do cá nhân triệt để, nhờ thế từ lúc khởi hứng tới khi sáng tác người làm văn học nghệ thuật có những say sưa, thích thú, tâm hồn với lửa đam mê bay bổng nảy sinh ra từ và ý đột khởi độc đáo tạo nên những tác phẩm bất hủ để đời.

[img=right]http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2010/03/VTROMANTICISM-2.jpg[/img=right] CHỦ NGHĨA VĂN HỌC LÃNG MẠN

Chủ nghĩa văn học lãng mạn (romanticism) đề cao cá nhân, tự do sáng tạo, chủ trương phóng túng, không để tâm hồn bị ràng buộc vào khuôn khổ cũ. Trong tiến trình sáng tác thơ văn, sự tưởng tượng và tri giác được đề cao và ngự trị bởi cá thể. Tác gia văn học trở thành trung tâm điểm trong việc sáng tác. Các nguyên tắc về khuôn mẫu và kiến trúc đã có từ trước của thi ca bị vất bỏ để thỏa mãn nhu cầu cần thiết của bản năng tự nhiên. Ngôn ngữ thơ được viết tự do và tự nhiên không còn bị gò bó trong thể luật. Chủ nghĩa duy lý (rationalism) bị chán ghét, trong khi ngữ căn và khát vọng tiềm thức được thăng tiến trong văn chương lãng mạn. Tác phẩm là tiếng lòng được thể hiện toàn vẹn, triệt để và vô hạn bằng sự tưởng tượng và xúc động không che dấu, không bị trói buộc bởi những ước lệ luân lý của xã hội.

[img=left] http://www.vietthuc.org/...0/03/VTROMANTICISM-5.jpg [/img=left] SỰ HÌNH THÀNH TRÀO LƯU LÃNG MẠN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM

Năm 1932 đánh dấu sự thay đổi đột biến của nền văn học Việt Nam, thi văn chưa bao giờ có một thời kỳ phong phú như giai đoạn 1932-1945. Chỉ trong thời gian hơn một thập niên văn học Việt Nam nhảy vọt từ tình trạng ấu trĩ sang phát triển bằng đôi hia bảy dậm, không thua sút những nền văn học Tây phương. Trước đó tuy có một số nhỏ sáng tác mang tính lãng mạn nhưng còn tản mác, rời rạc chưa tạo được một phong trào. Từ 1931 đã có sự xuất hiện vài bài thơ lãng mạn của Lan Sơn (7), Lưu Trọng Lư (8), Thế Lữ (9). Tác phẩm lãng mạn xuất bản trước 1932 có tập thơ Khối Tình Con của Tản Đà (10), Linh Phượng Ký của Đông Hồ (11) và hai quyển gây được ảnh hưởng một thời gian là Tố Tâm của Song An Hoàng Ngọc Phách (12) và Giọt Lệ Thu của Tương Phố (13), nhưng phải chờ tới khi Nhất Linh (14) du học ở Pháp về chủ trương tuần báo Phong Hóa, thành lập Tự Lực Văn Đoàn (15) hô hào thay cũ đổi mới, và dấy lên phong trào thơ mới thì trào lưu văn chương lãng mạn mới thực sự có mặt trong dòng văn học Việt Nam. Cùng lúc với Phong Hóa, phải kể đến Phụ Nữ Tân Văn là tờ báo đã góp công vào việc giúp cho phong trào thơ mới nở rộ bằng những bài thơ lãng mạn của các nhà thơ không cộng tác với nhóm Tự Lực Văn Đoàn.
NGUYÊN NHÂN ĐƯA ĐẾN TRÀO LƯU VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT NAM

Sau ngày17/06/1930, Nguyễn Thái Học (16) và12 yếu nhân của Việt Nam Quốc Dân Đảng (17) lên đoạn đầu đài ở Yên Bái, Pháp đẩy mạnh việc đàn áp, khủng bố, bắt bớ, tù đày các nhà ái quốc nhằm dập tắt các cuộc khởi nghĩa từ trong trứng nước để củng cố nền đô hộ. Các phong trào tạm thời lắng xuống, các tổ chức ái quốc bị dao động mạnh buộc phải tạm ngưng các hoạt động rút vào bóng tối nhằm bảo toàn tổ chức và nhân sự. Cuộc khủng bố qui mô toàn quốc những năm 1930 đã gây một không khí hoang mang, lo sợ trong tầng lớp thanh niên và trí thức. Chỉ trong hai năm 1930 và 1931 riêng ở Bắc Kỳ, chính phủ bảo hộ Pháp đã mở 21 phiên tòa đặc biệt gọi là Hội Đồng Đề Hình xét xử tất cả 1094 vụ án chính trị, trong đó có 164 bản án tử hình, 114 khổ sai chung thân, 420 lưu đày biệt xứ. Đây là thời kỳ thoái trào của các hoạt động cách mạng chống Pháp dành độc lập cho đất nước.

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 từ Pháp tràn về Đông Dương thuộc địa như một thiên tai khiến cuộc sống xã hội trở nên khó khăn. Hàng hoá rẻ mạt nhưng lại không kiếm ra tiền, các xí nghiệp kinh doanh thi nhau phá sản, sa thải nhân công. Ngân quĩ nhà nước bảo hộ thất thâu không đủ khả năng tuyển dụng thêm công chức, nạn trí thức thất nghiệp là mối lo âu chung của những người được Pháp đào tạo. Trộm cướp, thuốc phiện, bài bạc, đĩ điếm trở thành những vấn đề nan giải. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới càng tăng thêm bi quan cho bàu không khí u ám, buồn thảm vốn đang căng thẳng, ngột ngạt.

Trong khung cảnh đó những người trí thức ấp ủ tinh thần dân tộc mang tâm trạng tiêu cực muốn thoát ly khỏi những vấn đề bức xúc của cuộc tranh đấu dành độc lập. Họ có thái độ chán nản, xa lánh chính trị. Thái độ này được củng cố trên cơ sở mối bất hòa tuyệt vọng giữa họ và hoàn cảnh xã hội đương thời. Sự ra đời của trào lưu văn chương lãng mạn giải quyết được bế tắc, đáp ứng được nhu cầu cho giới trí thức trong bối cảnh xã hội bi quan đó. Con đường làm văn học nghệ thuật bằng chủ nghĩa lãng mạn là lốt thoát trong sạch, nơi trú ẩn tinh thần tương đối an toàn có thể gửi gấm tâm sự, và cũng là phương cách bày tỏ lòng yêu nước (18).

Chủ nghĩa lãng mạn đề cao tự do cá nhân đã đáp ứng được khát vọng giải phóng bản ngã, khát vọng tự do yêu đương cho hạnh phúc cá nhân, cho quyền sống cá nhân. Điều này giải thích được quan điểm mỹ học “nghệ thuật vị nghệ thuật” của những người trong trào lưu văn chương lãng mạn thuộc giai đoạn 1932-1945 của văn học Việt Nam.

[img=left]http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2010/03/VTROMANTICISM-7.jpg[/img=left] SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRÀO LƯU VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT NAM

Tất nhiên để có một trào lưu văn học thì bao giờ cũng cần có một hay nhiều người khởi xướng với sự tham gia tích cực của văn giới, và được đón nhận đông đảo của độc giả. Từ 1932 đến 1935 đã nổ ra hàng loạt các cuộc tranh luận văn học sôi nổi được tham gia của nhiều tờ báo và các nhà văn, nhà thơ: tranh luận về thơ mới thơ cũ, tranh luận về bỏ cũ theo mới, tranh luận về hôn nhân và gia đình, tranh luận về nghệ thuật phục vụ cái gì. Các cuộc tranh luận này phản ảnh cuộc đấu tranh giữa lễ giáo phong kiến với tự do cá nhân, giữa khuôn sáo và tư tưởng gò bó với cảm xúc cá nhân được tự do bày tỏ. Hai tờ Phong Hóa và Ngày Nay do Nhất Linh và nhóm Tự Lực Văn Đoàn chủ trương là cơ quan ngôn luận cổ võ mạnh mẽ cho sự thay cũ đổi mới, và là nơi qui tụ văn chương của các nhà văn, nhà thơ trong trào lưu văn học lãng mạn gồm có Nhất Linh, Khái Hưng (19), Thế Lữ, Huy Cận (20), Thạch Lam (21), Xuân Diệu (22), Thanh Tịnh (23), Vũ Đình Liên (24), Đoàn Phú Tứ (25).

Sự thành công của trào lưu văn chương lãng mạn cũng phải kể đến các tờ Hà Nội Báo, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Tao Đàn, Thanh Nghị với sự tham gia của các tác giả như Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên (26), Hàn Mặc Tử (27), Phạm Huy Thông (28), Bích Khê (29), Nguyễn Tuân (30), Vũ Hoàng Chương (31), Nguyễn Xuân Sanh, v.v. Sự toàn thắng của phong trào thơ mới cũng là tiếng trống khải hoàn cho trào lưu văn học lãng mạn, chấm dứt hoàn toàn lối thơ văn cũ từ thời Nam Phong và Đông Dương Tạp Chí trở về trước.

[img=right]http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2010/03/VTROMANTICISM-6.jpg[/img=right] ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN CHUƠNG LÃNG MẠN THỜI KỲ 1932-1945

Văn chương lãng mạn đánh dấu một cuộc cách mạng trong văn học Việt Nam đã thay đổi hệ thống tư tưởng thời phong kiến bằng cách thay thế “cái ta” trong văn chương lịch triều sang “cái tôi” của văn học hiện đại. Cái tôi không còn là cái đáng ghét nữa (32). Trước kia, cái tôi cá nhân không có địa vị trong văn học và xã hội. Cá nhân được sử dụng như một hình ảnh tượng trưng và bị hòa tan trong cái chung. Trong nền văn chương lịch triều tính cách “phi ngã” ngự trị hầu hết tác phẩm văn học Việt Nam. Ngay cả những nhà thơ lớn như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến cũng chỉ nói đến cái tôi một cách sơ sài, mờ nhạt, ước lệ.

Chủ nghĩa lãng mạn thực sự đã thỏa mãn được nhu cầu tự do sáng tác và phát huy bản ngã của người làm văn học nghệ thuật. “Sự xuất hiện ý thức về cái tôi cá nhân là một bước tiến quan trọng trong hành trình tư tưởng và nghệ thuật của nhân loại. Bởi vì sáng tạo nghệ thuật mang tính đặc thù, đó là sự sáng tạo của một cá nhân… Cho nên sự giải phóng bản ngã, giải phóng cái tôi của chủ thể sáng tạo sẽ phát huy khả năng sáng tạo của nghệ sĩ, làm xuất hiện nhiều phong cách cá nhân” (33). Nhờ thế, trong giai đoạn văn chương lãng mạn 1932-1945 với 13 năm ngắn ngủi, văn học Việt Nam đã sản xuất được nhiều phong cách cá nhân độc đáo (34). Về thi ca có Thế Lữ với hồn thơ rộng mở, Lưu Trọng Lư mơ màng, Huy Thông hùng tráng, Nguyễn Nhược Pháp trong sáng, Huy Cận ảo não, Nguyễn Bính quê mùa, Chế Lan Viên huyền bí, và một Xuân Diệu tha thiết, rạo rực, băn khoăn. Trong văn xuôi, cái tôi khinh bạc, giang hồ lãng tử thể hiện trong Tùy Bút của Nguyễn Tuân, cái tôi người hùng có mặt trong hầu hết các tiểu thuyết của Lê Văn Trương như Một Người, Tôi Là Mẹ, Chồng Chúng Ta. Đòi hỏi giải phóng cá nhân ra khỏi những ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến được phản ảnh qua tác phẩm Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng, Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng, Đôi Bạn của Nhất Linh, Làm Lẽ của Mạnh Phú Tứ.
KẾT LUẬN VỀ TRÀO LƯU VĂN HỌC LÃNG MẠN THỜI KỲ 1932-1945

[img=left]http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2010/03/VTROMANTICISM-4.jpg[/img=left]
Chỉ trong thời gian 13 năm 1932-1945, văn học Việt Nam đã tiếp thu và chịu ảnh hưởng của tổng hợp hơn 100 năm văn học Pháp từ trường phái lãng mạn hồi đầu thế kỷ thứ 19 như Hugo (35), Lamartine (36), Chateaubriand (37), Musset (38), Vigny (39), đến nhóm thi sơn (Parnasse) (40) với Gautier (41), Leconte de Lisle, Sully Prud’homme, qua trường phái tượng trưng (symbolism) với Rimbaud (42), Verlaine (43), Mallarmé (44).

Victor Hugo là người dẫn đạo trào lưu văn học lãng mạn ở Pháp. Thơ cũng như văn của ông biểu lộ tình yêu tự do, công lý và lòng thương người. Cái chết của người yêu đã là nguồn cảm hứng bất tận cho Lamartine qua những vần thơ muôn thuở trong thi tập Poetic Meditations xuất bản năm 1820. Chính thi phẩm này đã đóng vai trò chính yếu cho sự phát triển trào lưu văn chương lãng mạn Pháp. Musset cho rằng người làm văn chương phải thực sự trải qua khổ đau thì mới sáng tạo được những áng thơ văn tuyệt tác, làm rung động lòng người. Đề tài chính trong thơ văn của Vigny là sự cô đơn của con người. Còn Gautier thì lại nhấn mạnh, qua thi phẩm Enamels and Cameos, thơ văn muốn hay thì phải cảm nhận qua sự nhìn thấy, không thể chỉ thuần túy có trong ý tưởng hoặc cảm giác. Trong tác phẩm Art (Nghệ Thuật) xuất bản năm 1857 Gautier khai triển lý thuyết nghệ thuật là sáng tạo cái đẹp theo đúng tiêu chuẩn mà không lệ thuộc vào luân lý, trí thức, hay những giá trị tình cảm. Những bài thơ giàu tưởng tượng tạo nên tên tuổi của Rimbaud chính là những bài được sáng tác trong thời niên thiếu xáo trộn khi ông mất niềm tin vào cuộc sống. Mallarmé, người dẫn đạo trường phái tượng trưng, cho rằng nhà thơ không được quyền mô tả sự vật mà phải dẫn ý. Thi sĩ phải dụng tâm tạo những hình ảnh thơ thật mơ hồ, thực tế chói gắt phải trình bày trong bàu không khí huyền bí.

Chúng ta không thể nào phủ nhận được sự kiện văn chương Việt Nam giai đoạn 1932-1945 chịu ảnh hưởng nặng nề văn chương thế kỷ thứ 19 của Pháp, nhưng thơ văn Việt đã không có tính cách ngoại lai, vẫn mang bản sắc riêng chứa đựng hồn Việt. Tuy nhiên, vì tiếp thu quá nhanh trong gian đoạn quá ngắn ngủi nên trào lưu lãng mạn văn học Việt Nam chưa đủ thời gian, cơ hội để phát triển bề sâu như Anh, Pháp, và tất nhiên, đặc tính dễ chuyển biến là điều tất nhiên phải xảy ra trong tiến trình phát triển thuộc mọi lãnh vực, văn học cũng không phải là một biệt lệ.

Trên bình diện tư tưởng, những sáng tác vào thời gian đầu của trào lưu văn chương lãng mạn đã đáp ứng được khát vọng đương thời về nhu cầu giải phóng tư tưởng, giải phóng cá nhân. Tiếc thay, vào cuối trào lưu một số tác gia đã rơi vào chủ nghĩa cá nhân cực đoan ca ngợi tình yêu xác thịt, đề cao khoái lạc, triết lý sức mạnh nông nổi, trụy lạc và trác táng, điển hình là tác phẩm Thanh Đức của Khái Hưng, Trường Đời, Tôi Thầu Khoán của Lê Văn Trương, Tàn Đèn Dầu Lạc của Nguyễn Tuân, Thơ Say, Mây của Vũ Hoàng Chương.

Với những thành tựu văn học to lớn của thời kỳ 1932-1945, Tự Lực Văn Đoàn và những người làm văn học nghệ thuật cùng thời đã tạo được trào lưu văn chương lãng mạn có một không hai trong lịch sử văn học Việt Nam. Việc thay đổi quan niệm phong kiến cũ, điển hình là mối quan hệ giữa cá nhân và đại gia đình, đã hẳn là một thành công về phương diện xã hội, nhưng đối với lịch sử văn học Việt Nam thì trào lưu văn chương lãng mạn đã có công đem lại sự thay đổi bộ mặt của các thể loại văn học, làm cho ngôn ngữ Việt gọn gàng, trong sáng và phong phú hơn rất nhiều.
TRẦN BÍCH SAN
CHÚ THÍCH
1. William Blake (1757-1827): sinh tại Luân Đôn, nhà thơ và họa sĩ sáng chói. Hai bài thơ nổi tiếng của Blake, The Lamb (Con Cừu) và The Tiger (Con Hổ), được ông gọi là ‘’hai trạng thái đối nghịch của tâm hồn con người’’ (the two contrary states of the human soul). Tác phẩm: Songs of Innocence (1789), Songs of Experience (1794).
2. William Wordsworth (1770-1850): sinh tại Cockemouth (bây giờ là quận Cumbria), mẹ chết khi lên 8, năm 13 tuổi cha chết, họ hàng giúp cho học. 1787 vào đại học Cambridge và bắt đầu làm thơ. Hè 1790 sang chơi Pháp nhưng gặp sự xáo trộn gây ra bởi cuộc cách mạng Pháp. 1791: sau khi tốt nghiệp Cambridge, trở lại Pháp và trở thành người hổ trợ cho cách mạng. Tháng 12, 1792: trở về Anh. 1795: gặp Coleridge, 3 năm sau 1798 tập Lyrical Ballads ra đời trong có bài thơ nổi tiếng “Tintern Abbey”. Những bài thơ nổi tiếng khác: Michael, Lucy, The Solitary Reaper, Resolution and Independence. Tác phẩm: Lyrical Ballads (1798, viết chung với Coleridge), The Prelude: Growth of a Poet’s Mind (viết giữa 1798 và 1805, in năm 1850), The Excursion (1814).
3. Samuel Taylor Coleridge (1772-1834): thi sĩ và nhà phê bình triết học của trào lưu văn chương lãng mạn Anh. Những bài phê bình văn học của ông hầu như ảnh hưởng đến tất cả các nhà phê bình sau này. Sinh tại Devonshire, con út trong gia đình có 14 người con mà cha là thư ký. Học đại học Cambridge, tại đây năm 1794 gặp Robert Southey, cả hai nhà thơ đều thích các nguyên tắc của cuộc cách mạng Pháp và hợp soạn môt bi kịch chống lại chế độ phong kiến. 1795: gặp Wordsworth và trở thành bạn tâm giao. 1798: cùng Wordsworth xuất bản tập Lyrical Ballads, trong đó có bài thơ nổi tiếng “The Rime of the Ancient Mariner”. Cùng năm sang chơi Đức, sự thấm nhuần tư tưởng các triết gia Đức đã ảnh hưởng đến lý thuyết văn chương của ông. Trở về Anh, dịch 2 kịch bản của tác gia Đức Friedrich Schiller. 1800: sức khỏe suy sụp, bắt đầu dùng nha phiến để làm dịu cơn đau của bệnh phong thấp. Không được hạnh phúc trong hôn nhân, Coleridge càng thêm đau buồn khi yêu nàng Sara Hutchinson, em họ Wordsworth. Ông diễn thuyết ở Luân Đôn một loạt bài về nguyên tắc thi ca, đến 1813 lại diễn thuyết một loạt bài khác và đưa ra kịch bản Remorse với sự trợ giúp của Lord Byron. Ông sống những năm cuối cùng dưới sự chăm sóc của bác sĩ, phần lớn nhằm kiểm soát bệnh nghện thuốc phiện của ông. Tác phẩm: Lyrical Ballads (1798, chung với William Wordsworth), Biographia Literaria (1817, phê bình văn học).
4. Lord Byron (1788-1824): tên thật George Gordon Byron, có cuộc sống đầy phiêu lưu mạo hiểm. Thơ Byron thú vị như cuộc đời giang hồ của tác giả, phản ảnh cuộc sống và niềm tin của ông. Sinh ở Luân Đôn nhưng sống với mẹ gần 10 năm ở Tô Cách Lan. Cha Byron bỏa rơi vợ và chết lúc Byron mới 3 tuổi. Sau khi người chú họ từ trần, Byron được thừa kế danh hiệu Lord Byron lúc 10 tuổi. Sau đó Byron trở về Anh theo học trường Harrow và đại học Cambridge. Tập thơ đầu Hours of Idleness (1807) bị Edinbugh Review, một tạp chí văn học ở Anh chỉ trích nặng nề. Byron trả lời bằng một bài thơ châm biếm trên English Bards and Scotch Reviewers (1809) tấn công hầu hết các bộ mặt văn chương sáng giá hồi đó. Từ 1809 đến 1811: Byron chu du các nước miền nam châu Âu và gần phương Đông. 1812: xuất bản 2 phần (cantos/sections) đầu của Childe Harold’s Pilgrimage và tạo được tên tuổi ngay. Hai tập thơ về viễn Đông The Bride of Abydos (1813) và The Corsair (1814) được quần chúng chú ý. 1815: cưới Isabella Milbanke. Cuộc sống lứa đôi ngắn ngủi, không hạnh phúc chấm dứt vì lời đồn Byron đã loạn luân với cô Augusta Leigh, người em cùng mẹ khác cha. 1816: Byron rời Anh và không bao giờ trở lại. Nhà thơ định cư tại Ý và có mối tình thật lâu dài với Bá Tước phu nhân Teresa Guiccioli, đưa đến tham gia vào cuộc cách mạng chính trị ở Ý. Byron tiếp tục viết và xuất bản các thi phẩn Manfred (1817), Cain (1821). Tác phẩm cuối cùng rất dài, chưa hoàn tất là Don Juan. 1823: trong khi đang viết dở Don Juan, Byron quyết định tham gia vào cuộc chiến dành độc lập ở Hy Lạp, nhưng ông không sống để thấy sự thành công của cuộc cách mạng, Byron mất sau một cơn bệnh ngắn tai Greece ngày 19 tháng 4, 1824. Tác phẩm: Hours of Idleness (1807), Childe Harold’s Pilgrimage (1812), The Bride of Abydos (1813), The Corsair (1814), Manfred (1817), Cain (1821).
5. Percy Bysshe Shelly (1792-1822): thử nghiệm nhiều văn phong và đã ảnh hưởng lâu dài đến những nhà văn sau này, đặc biệt là với Robert Browning, Algernon Charles Swinburne, William Butler Yeats, George Bernard Shaw, và Thomas Hardy. Sinh ngày 04 tháng 08, 1792 ở Sussex trong một gia đình giàu có và quyền thế. Ông có một đời sống sóng gió tại Đại Học Eton và Oxford, và bị đuổi khỏi Oxford năm 1811 vì viết bài luận ngắn The Necessity of Atheism. Tháng 8, 1811 Shelly với Harriet Westbrook, con gái một chủ tiệm cà phê mới 16 tuổi, rủ nhau đi trốn. 1814: Shelly bỏ rơi cô bé chạy theo Mary Wollstonecraft Godwin. Tuy cả hai cùng tuyên bố không tin vào hôn nhân, nhưng họ đã lấy nhau năm 1816 sau khi Harriet tự dìm mình cho chết đuối. Shelly tin rằng Ái Nhĩ Lan bị người Anh áp chế, ông kích thích họ nổi dậy chống Anh quốc. Ông viết Queen Mab (1812-1813) tập thơ cách mạng tấn công chính thể bạo quyền chuyên chế. 1816: Shelly và vợ làm bạn thân với thi sĩ Lord Byron ở Geneva, Thụy Sĩ. Sau tháng 3, 1818, Shelly lưu xứ vĩnh viễn ở Ý, tại đây ông sáng tác nhiều thơ quan trọng gồm các tập Prometheus Unbound (1818-1819), The Witch of Atlas (1820), Epipsychidion (1821), Hellas (1821). Cái chết của người quen, nhà thơ Anh John Keats, đã gợi hứng cho Shelly tạo nên tác phẩm quan trọng Adonais (1821). Ngày 08 tháng 07, 1822, nhà thơ chết chìm trong cơn bão tố khi thuyền của ông gần Leghorn, Ý. Tác phẩm: Mont Blanc (1816), Ode to the West Wind (1819), Prometheus Unbound (trường thơ, 1818-1819), The Witch of Atlas (1920), Epipsychidion (1921), Hellas (1921), Adonnais (1821)
6. John Keats (1795-1821): Bằng nhiều lối thi ca khác nhau, thơ ông là thể hiện sự vui sướng trong cái đẹp của thế giới, nỗi thống khổ không thể tránh được trước mặt, và sự cố gắng tìm nhịp cầu giữa thế giới có thể bị diệt vong với thế giới vĩnh cửu. Keats đã sử dụng những hình ảnh chói sáng diễn tả những cảm giác sâu đậm của ông. Sinh ở Luân Đôn ngày 31 tháng 10, 1795, học trường Clark ở Enfield, ngoài Luân Đôn, sau học y khoa, tốt nghiệp nhưng không hành nghề y sĩ vì quyết định trở thành nhà thơ.1817: xuất bản tập thơ Poems. 1818: xuất bản Endymion (phần 2 của Poems) bị báo Tory rất có thế lực chế diễu. Ông đã bị tờ Tory hủy diệt tên tuổi, không có cơ may sống như một nhà thơ và không thể cưới được Fanny Brawne, người mà ông yêu say đắm. Nhưng Keats vẫn tiếp tục sáng tác. 1820: những bài thơ cuối và hay nhất của ông xuất hiện, nhưng đồng thời nhà thơ mắc bệnh lao phổi. Ông sang Ý với hy vọng thời tiết ấm áp có thể phục hồi sức khỏe. Nhưng đã quá trễ, ông mất ở Rome chưa một lần kết hôn. Tác phẩm: Poems (1817), Endymion (1818).
7. Lan Sơn (1912-1954): tên thật Nguyễn Đức Phong, sinh quán Hải Phòng, chánh quán phủ Anh Sơn, Nghệ An. Học trường Hải Phòng, Tourane và trường Bưởi Hà Nội. Công chức sở Công Chánh, Hải Phòng. Viết cho các báo Phong Hóa, Ngày Nay, Tinh Hoa. Tác phẩm: Anh với Em (1934).
8. Lưu Trọng Lư (1911-1991): kiện tướng của phong trào thơ mới, quê làng Cao Lao Hạ, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, sau cư ngụ ở Huế và Hà Nội, thuộc gia đình Nho học. Học trường Quốc Học Huế sau bỏ dở học, cộng tác với các báo Phụ Nữ Tân Văn (Sài Gòn), Sông Hương (Huế), Phụ Nữ Thời Đàm, Tiến Hóa, Tân Thiếu Niên, Tao Đàn, Hà Nội Báo (Hà Nội). 1933 chủ trương Ngân Sơn Tùng Thư ở Huế. Từ 1955 làm việc ở Bộ Văn Hóa Hà Nội, từng giữ chức Tổng Thư Ký Hội Nghệ Sĩ Sân Khấu VN, Ủy Viên Ban Chấp Hành Hội Nhà Văn VN. Tác phẩm: Tiếng Thu (1939), Khói Lam Chiều (1941), Chiếc Cáng Xanh (1941), Tỏa Sáng Đôi Bờ (1959), Mùa Thu Lớn (1978), Nửa Đêm Sực Tỉnh (1989).
9. Thế Lữ (1907-1989): thành viên TLVĐ, cây bút cột trụ của Phong Hoá và Ngày Nay, tên thật Nguyễn Thứ Lễ, sinh tại Thái Hà Ấp, Hà Nội, nguyên quán làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Học ở Hải Phòng, bỏ học năm thứ 3 trung học, lên Hà Nội dự thính trường Cao Đẳng Mỹ Thuật một năm. Từng giữ các chức vụ: Ủy Viên Thường Vụ Hội Văn Nghệ VN, Chủ Tịch Hội Nghệ Sĩ Sân Khấu VN. Tác phẩm: Mấy Vần Thơ (1935), Vàng và Máu (1934), Ba Hồi Kinh Dị (1936), Bên Đường Thiên Lôi (1936), Đòn Hẹn (1939), Gói Thuốc Lá (1940), Gió Trăng Ngàn (1941), Trại Bồ Tùng Linh (1941), Mấy Vần Thơ, tập mới (1941), Dương Quí Phi (1942), Thoa (1942).
10. Tản Đà (1888-1939): tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, quê làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Ba Vì ngoại thành Hà Nội), con Án Sát Nguyễn Danh Kế. Thi mãi không đỗ, hướng về làm báo, sáng tác văn chương. Tác giả bài “Tình già”, bài thơ mới đầu tiên ở VN, Chủ bút báo Hữu Thanh, chủ nhiệm An Nam Tạp Chí, viết cho Tiểu Thuyết Tuần San, Đông Pháp Thời Báo ở trong Nam. Tác phẩm: Khối Tình Con I & II (1916, 1918), Giấc Mộng Con I & II (1916, 1917), Thề Non Nước, Tản Đà Tùng Văn (1922), Trần Ai Tri Kỷ (1924), Tản Đà Xuân Sắc (1934),
11. Đông Hồ (1906-1969): tên thật Lâm Tấn Phác, quê làng Mĩ Đức, tỉnh Hà Tiên (nay thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang), xuất thân là nhà giáo, sau bỏ dạy viết cho Nam Phong Tạp Chí, Phụ Nữ Tân Văn, Đông Pháp Thời Báo, Việt Dân, Mai, Tri Tân, Bách Khoa, Tân Văn, Tin Văn, Văn Hóa Nguyệt San. 1950 lập nhà xuất bản Bốn Phương. 1953 chủ trương tạp chí Nhân Loại. Tác phẩm: Thơ Đông Hồ (1932), Lời Hoa (1934), Linh Phượng (1934), Cô Gái Xuân (1934), Bội Lan Hành (1969).
12. Song An (1896-1973): nhà văn lãng mạn tiên phong, tên thật Hoàng Ngọc Phách, quê làng Đức Phong, xã Đông Thái, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, tốt nghiệp trường Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương, viết văn và dạy học nhiều nơi. Nổi tiếng ngay sau tác phẩm Tố Tâm. 1945-1951 giám đốc học khu Bắc Ninh. 1947-1948 giám đốc giáo dục khu XII. 1951 giám đốc trường Cao Đẳng Sư Phạm Trung Ương. Từ 1952 làm tại Ban Tu Thư Bộ Giáo Dục. Tác phẩm: Tố Tâm (1925), Thời Thế với Văn Chương (1941), Đâu là Chân Lý (1941), Chuyện Trường Bưởi (1989).
13. Tương Phố (1898 – 1973): nhà thơ lãng mạn tiên phong, tên thật Đỗ Thị Đàm, quê làng Bối Khê, tổng Cẩm Khê, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, học trường Nữ Hộ Sinh sau bỏ học, thi vào học trường Sư Phạm Hà Nội. Vào làng văn từ 1927, nổi tiếng qua Giọt Lệ Thu đăng trên Nam Phong số 131 (07/1928). Tác phẩm: Giọt Lệ Thu (1929), Mưa Gió Sông Tương, Tình quê, Chia Phôi.
14. Nhất Linh (1905-1963): tên thật Nguyễn Tường Tam, gốc ở Cẩm Phô, tỉnh Quảng Nam, sinh ở Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. 1926 học trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội. Du học Pháp đỗ Cử Nhân Khoa Học (1930) và nghiên cứu thêm về báo chí, xuất bản. 1931 về nước dạy tư thục Thăng Long. 1932 chủ trương tuần báo Phong Hóa rồi thành lập Tự Lực Văn Đoàn. 1936 báo bị đình bản, ông ra tờ Ngày Nay. 1946 giữ chức Bộ Trưởng Ngoại Giao trong chính phủ liên hiệp, trưởng phái đoàn Hội Nghị Đà Lạt đàm phán với Pháp. 1958 chủ trương tập san Văn Hóa Ngày Nay. 1963 uống thuốc độc tự vẫn để phản đối việc chính phủ Ngô Đình Diệm đem ông ra toà xét xử. Tác phẩm: Nho Phong (1926), Hai Chị Em (1927), Người Quay Tơ (1927), Đoạn Tuyệt (1936), Lạnh Lùng (1937), Hai Buổi Chiều Vàng (1937), Nắng Thu (1938), Đôi Bạn (1938), Bướm Trắng (1941), Xóm Cầu Mới (1960), Dòng Sông Thanh Thủy (1961), Mối Tình Chân (1961). Viết chung với Khái Hưng: Gánh Hàng Hoa (1934), Anh Phải Sống (1937).
15. Tự Lực Văn Đoàn có 7 thành viên: Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, và Xuân Diệu (căn cứ trên dòng chữ “Trong Tự Lực Văn Đoàn” đề dưới tên tác giả của tác phẩm thì TLVĐ gồm 6 người, riêng Xuân Diệu được căn cứ trên bút tích của Nhất Linh).
16. Nguyễn Thái Học (1901-1930): đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng, quê làng Phổ Tang, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên, học trường Cao Đẳng Sư Phạm và Cao Đẳng Thương Mại Đông Dương. 1927 thành lập VNQDĐ. Khởi nghĩa ngày 20/02/1930, bị bắt cùng ngày tại làng Cổ Vịt, huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương, bị Pháp xử tử hình cùng 12 đồng chí ngày 17/06/1930 ở Yên Bái.
17. 12 liệt sĩ VNQDĐ gồm có: Phó Đức Chính, Bùi Tư Toàn, Đào Văn Nhật, Nguyễn Văn Tiềm, Hà Văn Lao, Bùi Văn Chuẩn, Nguyễn Văn Thịnh, Nguyễn Văn A, Bùi Văn Cửu, Nguyễn Như Liên, Ngô Văn Du, và Đỗ Văn Tú.
18. Đôi Bạn, Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, Tiêu Sơn Tráng Sĩ của Khái Hưng là những tác phẩm được dùng để gửi gấm tâm sự tác giả, có khuynh hướng yêu nước.
19. Khái Hưng (1896-1947): thành viên TLVĐ, cây bút nòng cốt của Phong Hóa, Ngày Nay, tên thật Trần Khánh Giư, quê làng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương. Bị Việt Minh thủ tiêu. Tác phẩm: Hồn Bướm Mơ Tiên (1933), Nửa Chừng Xuân (1934), Trống Mái (1936), Dọc Đường Gió Bụi (1936), Thoát Ly (1940), Hạnh (1940), Đẹp (1940), Những Ngày Vui (1941), Đồng Bệnh (1942), Đội Mũ Lệch (1942), Tiếng Suối Reo (1936), Tục Lụy (1937), Gia Đình (1938), Đợi Chờ (1939), Cái Ấm Đất (1940), Thanh Đức (1943), Cái Ve (1944). Viết chung với Nhất Linh: Anh Phải Sống (1934), Đời Mưa Gió (1934).
20. Huy Cận (1919-2005): tên thật Cù Huy Cận, sinh ngày 31 tháng 5, 1919, quê làng Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, thở nhỏ học ở Hà tĩnh, lớn lên học trường Quốc Học Huế, đậu Tú Tài Pháp Việt, ra Hà Nội học trường Cao Đẳng Nông Lâm. Viết cho các báo Ngày Nay, Tràng An, Sông Hương. Thanh Niên…1945: cùng Trần Huy Liệu và Nguyễn Lương Bằng vào Huế nhận chiếu thoái vị của Vua Bảo Đại. Giử chức Bộ Trưởng Canh Nông và Thanh Tra Đặc Biệt trong chính phủ lâm thời. 1946: Thứ Trưởng Nội Vụ. Sau ngày 19 tháng 12, 1946: Thứ Trưởng Canh Nông. 1946-1947: Thứ Trưởng Kinh Tế. 1949-1955: Tổng Thư Ký Hội Đồng Chính Phủ, rồi Thứ Trưởng Văn Hóa. 1956-1984: Bộ Trưởng đặc trách công tác Văn Hóa, Thông Tin tại văn phòng Hội Đồng Bộ Trưởng, kiêm Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Văn Học Nghệt Thuật Việt Nam. 2004: Phó Chủ Tịch Ủy Ban Toàn Quốc Liên Hiệp các Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam. Mất ngày 19 tháng 02, 2005 tại Hà Nội. Tác phẩm: Lửa Thiêng (thơ, 1940), Kinh Cầu Tự (văn, 1942), Vũ Trụ Ca (1942), Trời Mỗi Ngày Lại Sáng (thơ, 1958), Tính chất Dân Tộc trong Văn Nghệ (1958), Đất Nở Hoa (1960), Bài Thơ Cuộc Đời (1963), Hai Bàn Tay Em (1967), Phù Đổng thiên Vương (1968), Những Năm Sáu Mươi (1968), Cô Gái Mèo (1972), Những Người Mẹ, Những Người vợ (1974), Ngày Hằng Sống, Ngày Hằng Thơ (1975), Ngôi Nhà Giữa Nắng (1978), Sơn Tinh, Thủy Tinh (1986), Tuyển Tập Thơ (1986), Hạt Lại Gieo (1984), Nước Thủy Triều Đông (1994), Hồi Kí Song Đôi (1997).
21. Thạch Lam (1910-1942): thành viên TLVĐ, viết cho Phong Hoá, Ngày Nay, tên thật Nguyễn Tường Lân, em Nhất Linh, sinh ngày 07/07/1910 tại Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, mồ côi cha năm lên 7, đậu bằng Thành Chung năm 17 tuổi (1927). Cùng với nhóm TLVĐ khởi xướng đoàn Ánh Sáng với mục đích cải tạo nếp sống tối tăm, bùn lầy nước đọng của tầng lớp những người nghèo khổ. Mất ngày 27 tháng 06, 1942 vì bệnh lao phổi. Tác phẩm: Gió Đầu Mùa (1937), Nắng Trong Vườn (1938), Ngày Mới (1939), Theo Giòng (1941), Hà Nội 36 Phố Phường (1942).
22. Xuân Diệu (1916-1985): thành viên TLVĐ, kiện tướng đưa phong trào thơ mới tới thành công, tên thật Ngô Xuân Diệu, sinh ngày 01/02/1916, quán làng Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, công chức sở Thương Chánh. Đại Biểu Quốc Hội Khoá I (1946-1960), ủy viên trung ương Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật, ủy viên trung ương Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật. Mất ngày 18/12/1985. Tác phẩm: Phấn Thông Vàng (1939), Thơ Thơ (1938), Gửi Hương Cho Gió (1945), Trường Ca (1945), Thanh Niên với Quốc Văn (1945), Miền Nam Nước Việt (1945), Triều Lên (1958), Những Bước Đường Tư Tưởng Của Tôi (1958), Riêng Chung (1960), Thơ Văn Nguyễn Khuyến (1960), Riêng chung (1960), Hồ Xuân Hương (1960), Mũi Cà Mau (1962), Hai Đợt Sóng (1967), Tôi Giàu Đôi Mắt (1970), Cây Đời Mãi Mãi Xanh Tươi (1971), Hồn Tôi Đôi Cánh (1976), Các Nhà Thơ Cổ Điển Việt Nam (1981), Thanh Ca (1982),
23. Thanh Tịnh (1911-1988): tên thật Trần Thanh Tịnh, quê làng Dương Nổ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên (nay thuộc ngoại ô thành phố Huế), học trường Đông Ba, Pellerin Huế, đậu bằng Thành Chung, dạy các trường tư ở Huế. Cộng tác với các báo Phong Hóa, Ngày Nay, Hà Nội Báo, Tinh Hoa, Tiểu Thuyết Thứ Năm. Sau 1946 phụ trách đoàn kịch quân đội Liên Khu IV. Sau 1954 chủ nhiệm tạp chí Văn Nghệ Quân Đội một thời gian. Mất ngày 17/07/1988. Tác phẩm: Hận Chiến Trường (1937), Quê Mẹ (1941), Chị và Em (1942), Ngậm Ngải Tìm Trầm (1943), Xuân và Sinh (1944), Những Giọt Mưa Biển (1956), Đi Giữa Một Mùa Sen (1973)., Thanh Tịnh và Đời Văn (1996).
24. Vũ Đình Liên (1913-1996): nổi tiếng với bài thơ Ông Đồ, quê làng Châu Khê, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, học trường Hàng Vôi, trường Bưởi, Đại Học Luật Hà Nội, dạy trường Thăng Long, làm Tham Tá Thương Chánh ở Hà Nội. Cộng tác với các báo Phong Hóa, Phụ Nữ Thời Đàm, Thanh Nghị, Loa, Tinh Hoa. Từ 1954 dạy Đại Học Sư Phạm Hà Nội. Mất ngày 18/01/1996.
25. Đoàn Phú Tứ (1910-1989): sinh ngày 10/09/1910 tại Hà Nội, quê làng Tử Nê, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, đỗ bằng Tú Tài Pháp, dạy học, gia nhập làng báo từ 1925, cộng tác với các báo Đông Tây, Phong Hóa, Ngày Nay, Hà Nội Báo, Tinh Hoa, Thanh Nghị. Làm thơ và viết kịch. Trưởng nhóm thi phái Xuân Thu Nhã Tập. 1946: Dân Biểu Quốc Hội. Sau 1946 công tác trong Đoàn Sân Khấu Việt Nam chuyên viết và diễn kịch. Tác phẩm (trước 1945): Ngã Ba, Mơ Hoa, Sau Đêm Khiêu Vũ, Hai Vợ Chồng, Người Đàn Ông, Ghen.
26. Chế Lan Viên (1920-1989): tên thật Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 14/01/1920 tại thị xã Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, học trường Quốc Học Qui Nhơn, đậu bằng Thành Chung, ra hà Nội học Tú Tài, sau đó vào Sài Gòn làm báo, rồi vế dạy học ở Thanh Hóa. Từ 1946: Đại Biểu Quốc Hội, Ủy Viên thường trực Hội Nhà Văn, Tác phẩm: Điêu Tàn (thơ, 1937), Vàng Sao (văn, 1942), Gửi Các Anh (1954), Ánh Sáng và Phù Sa (1960), Nói Chuyện Văn Thơ (1960), Vào Nghề (1962), Phê Bình Văn Học (1962), Hoa Ngày Thường, Chim Báo Bão (1967), Hái Theo Mùa (1977), Suy Nghĩ và Bình Luận (1971), Nghĩ Cạnh Dòng Thơ (1971), Hoa Trên Đá (1985), Tuyển Tập Chế Lan Viên (1985), Di Cảo I, II, III (1995).
27. Hàn Mặc Tử (1912-1940): mắc bệnh phong (cùi), sinh ngày 22/09/1912 tại Lệ Mỹ (Đồng Hới), tỉnh Quảng Bình. 1932: làm ở sở Đạc Điền, Qui Nhơn. 1935: xin nghỉ việc vào Sài Gòn giữ trang văn chương cho các báo Sài Gòn, Công Luận, Tân Thời, Trong Khuê Phòng. Được một năm trở về Qui Nhơn rồi mắc bệnh phong, bị cưỡng bức vào nhà thương, ít lâu sau thì mất ngày 11/11/1940. Tác phẩm: Gái Quê (1936), Thơ Hàn Mặc Tử (1957).
28. Phạm Huy Thông (1916-1988): quê làng Đào Xá, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, tốt nghiệp Tiến Sĩ Văn Chương và Thạc Sĩ Sử Học ở Pháp. Làm thơ, viết kịch. Mất ngày 23/06/1988. Tác phẩm: Anh Nga (1934), Tần Ngọc (1937), Huyền Trân, Tiếng Địch Sông Ô (1945),
29. Bích Khê (1916-1946): tên thật Lê Quang Lương, thân phụ mất sớm năm mới lên 7, quê xã Phước Lộc, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Mở trường tư ở Phan Thiết. Có thơ đăng các báo Tiếng Dân, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Ngày Mới. Tác phẩm: Tinh Huyết (1939), Tinh Hoa, Mấy Dòng Thơ Cũ.
30. Nguyễn Tuân (1910-1097): sinh ngày 10/07/1910, quê xã Nhân Mục, huyện Từ Liêm, Hà Nội, nguyên quán Thanh Hóa, học ở Thanh hóa. 1937: sống bằng nghề viết, cộng tác với các báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Tao Đàn, Hà Nội Tân Văn, Trung Bắc Chủ Nhật, Thanh Nghị. Sau 1946 Tổng Thư Ký Hội Văn Nghệ Việt Nam, Ủy Viên Trung ương Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam, Ủy Viên Thường Trực, Cố Vấn Hội Nhà Văn Việt Nam. Mất ngày 28/07/1987. Tác Phẩm: Ngọn Đèn Dầu Lạc (1939), Nhà Bác Nguyễn (1940), Vang Bóng Một Thời (1940), Một Chuyến Đi (1941), Tùy Bút I & II (1941 & 1943), Tàn Đèn Dầu Lạc (1941), Chiếc Lư Đồng Mắt Cua (1941), Thiếu Quê Hương (1943), Quê Hương (1943), Tóc Chị Hoài (1943), Chùa Đàn (1944), Nguyễn (1945), Thằng Càn (1953), Đường Vui (1949), Tình Chiến Dịch (1950), Tùy Bút Kháng Chiến (1955), Truyện Một Cái Thuyền Đất (1958), Sông Đà (1960), Chuyên Nghề (1976).
31. Vũ Hoàng Chương (1916-1976): quê ở Nam Định, học trường Albert Sarraut, bỏ dở trường Luật Hà Nội đi làm ở sở Hỏa Xa Bắc Kỳ. 1941: thôi việc đi dạy học tư. 1954 di cư vào Nam, dạy học ở Sài Gòn. Sau khi Miền Nam thất thủ năm 1975 bị bắt đi học tập cải tạo, chết trong trại tù của Việt Cộng. Tác phẩm: Thơ Say (1940), Mây (1943), Thơ Lửa (1947), Rừng Phong (1954), Hoa Đăng (1959), Cảm Thông (1960), Tâm Sự Kẻ Sang Tần (1961), Tâm Tình Người Đẹp (1961), Trời Một Phương (1962), Lửa Từ Bi (1963), Thi Tuyển (1963), Bút Nở Hoa Đàm (1967), Ánh Trăng Đạo (1966), Cành Mai Trắng Mộng (1968), Loạn Trung Bút (1970), Ta Đợi Em Từ 30 Năm (1971), Ta Đã Làm Chi đời Ta (1973).
32. Ernest Fisher: chủ nghĩa lãng mạn thể hiện cái tôi (le moi) chống lại tất cả cái gì không phải là cái tôi (le non-moi).
33. Phan Cự Đệ, “Trào Lưu Văn Học Lãng Mạn Chủ Nghĩa”, (Văn học Việt Nam Thế Kỷ XX, trang 28.
34. Hoài Thanh và Hoài Chân, “Một Thời Đại Trong Thi Ca” (Thi Nhân Việt Nam, trang 29).
35. Victor Marie Hugo (1802-1885): dẫn đạo trào lưu lãng mạn ở Pháp. Các tác phẩm của ông biểu hiện tình yêu tự do, công lý và sót xa với sự khổ đau của thế nhân. Sinh tại Besancon, ông là con của một sĩ quan trong quân đội Hoàng Đế Napoleon I. Ông theo cha sống 10 năm đầu ở Corsica (Ý), và Tây Ban Nha, nhửng năm tháng này đã ảnh hưởng đến văn chương của ông sau này. 1822: Hugo lấy người yêu hồi mới lớn, cô Adele Foucher. Cùng thời gian đó ông quyết định trở thành nhà văn, ông làm thơ, viết kịch bản, sáng tác tiểu thuyết. Hugo là một chính trị gia bảo thủ hồi trẻ nhưng dần dà trở thành một kiện tướng của tự do. Sau cuộc cách mạng 1848 thiết lập nền Đệ Nhị Cộng Hòa Pháp, ông được bàu vào Quốc Hội mới. Lúc đầu Hugo ủng hộ Louis Napoleon, nhưng sau chống đối vì ông thấy tân Tổng Thống là một người chuyên quyền. Tháng 12, 1851, Louis Napoleon lật đổ nền Cộng Hòa, và trở thành Hoàng Đế Napoleon III. Vì chống đối ông phải lưu xứ gần 20 năm, trước tiên ở Bỉ, sau trên đảo Jersey ở Anh, và từ 1885-1870 ở đảo Guernsey. 1859: Hugo từ chối lời mời trở lại Pháp của chính quyền, ông tuyên bố chỉ về khi nào Pháp có tự do. Ông trở thành biểu tượng tự do của người Pháp trong những năm ông lưu xứ. Sau khi Napoleon bị hạ bệ năm 1870 trong cuộc chiến tranh với Nga, Hugo trở lại Pháp trong chiến thắng. Ông sống những năm còn lại trong sự tôn kính của dân chúng. Tác phẩm: The Orientals (Đông Phương, thơ, 1929), Leaves of Autumn (Lá Thu, thơ, 1931), The Hunchback of Notre Dame (Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà, 1831, tiểu thuyết), The Contemplations (Trầm Tư, thơ, 1856), The Legend of the Centuries (Huyền Thoại Thế Kỷ, thơ, 1869) Les Misérables (Những Kẻ Khốn Cùng, 1862, tiểu thguyết).
36. Alphonse de Lamartine (1790-1869): sinh ở Macon, giữ chức vụ nguyên thủ quốc gia một thời gian rất ngắn sau cuộc cách mạng 1848 của Pháp, mất ảnh hưởng và nợ nần chồng chất trước khi chết. Tác phẩm của Lamartine chứa đựng nỗi buồn mơ hồ, khát khao quá khứ, sự an ủi trong niềm tin tôn giáo, mối hy vọng bất tử, và những kỷ niệm của một mối tình lý tưởng. Ông đã bắt đầu phần lớn những tác phẩm có tính cách tượng trương diễn tả sự phấn đấu của con người để được đến gần thượng đế qua sự khổ đau và chộc tội. Tác phẩm: Poetic Meditations (1820), Jocelyn (1836), The Fall of an Angel (1838).
37. Francois-René de Chateaubriand (1768-1848): tác gia quan trọng trong trào lưu văn học lãng mạn Pháp. Tiểu thuyết Atala diễn tả cuộc tình bi thảm giữa hai người da đỏ ỡ Mỹ là một thí dụ về tính lãng mạn say mê ở Âu Châu với con người trong trạng thái ban sơ và đối tượng xa xăm. The Spirit of Christianity ca tụng đạo Thiên Chúa như một nền văn hóa vĩ đại, và là sức mạnh đạo đức. Rene, một phần của tác phẩm, là câu chuyện vế một người trẻ đa sầu có cảm giác mơ hồ tuyệt vọng đã tạo cho anh ta là một người hùng điển hình của lãng mạn. Tác phẩm: Atala (tiểu thuyết, 1801), The Spirit of Christianity (tiểu thuyết, 1802), Memoirs from Beyond the Grave (hồi ký, 1848).
38. Alfred de Musset (1810-1857): sinh ở Pháp, thi sĩ, nhà văn, kịch tác gia, người tình của nữ sĩ George Sand. Tác phẩm: Tales of Spain and Italy (thơ, 1829), Comédies et Proverbes (kịch, 1840).
39. Alfred de Vigny (1797-1863): sinh ở Loches, Một trong những người khởi xướng trào lưu lãng mạn Pháp. Hầu như suốt đời sồng cách biệt với mọi người. Chuyện tình nhiều đau buồn với một nữ diễn viên và sự thất bại trong việc mưu tìm chức vụ chính trị đã tăng thêm sự cô độc của ông. Tác phẩm: Poèmes Antiques et Modernes (thơ, 1826), Cinq-Mars (tiểu thuyết, 1826), Chatterton (kịch, 1835), Military Service and Greatness (tập truyện, 1835), Les Destinées (thơ, 1864).
40. Phái Thi Sơn (Parnasse): Parnasse là tên một đỉnh núi ở Hy Lạp nơi ngự trị của thần Apollo, vị thần của cái đẹp, mang ý nghĩa không phải ai cũng đạt được cái đẹp, phải nỗ lực mới đạt được tới cái đẹp.
41. Théophile Gautier (1811-1872): sinh ở Tarbes, Gascony, thi sĩ, nhà văn, phê bình gia. Lúc đầu thơ ông mô phỏng theo kỹ thuật và đề tài của các thi sĩ lãng mạn khác, nhưng ngay sau đó ông đổi ra lối miêu tả và khách quan, nhấn mạnh vào “cảm quan nhìn thấy” hơn là chỉ đơn thuần ý tưởng hay cảm nhận. Tác phẩm về thơ: Enames and Cameos (1852), Art (1857). Tiểu thuyết: Mademoiselle de Maupin (1835), The Novel of the Mummy (1858), Captain Fracasse (1863).
42. Arthur Rimbaud (1854-1891): bạn thân của Verlaine. Những bài thơ nổi tiếng của Rimbaud được sáng tác trong 5 năm xáo trộn tuổi trẻ từ 15 đến 20 tuổi. Le Bateau Ivre (Con Tàu Say, 1871), bài thơ đầu tiên khiến Rimbaud được chú ý tới, tượng trưng cho những khát vọng của con người về một thế giới mới. Nhìn chiếc tàu giả trong công viên, ông dùng sự tưởng tượng phong phú đưa con tàu căng buồm phiêu du qua những đại dương với cảnh sắc chói sáng. Tác phẩm: Les Illuminations (1886), Une Saison en Enfer (1873).
43. Paul Verlaine (1844-1896): bạn thân với Rimbaud. Những năm đầu thập niên 1870 Verlaine du lịch qua Anh, Hòa Lan, và Bỉ cùng với chàng thiếu niên Rimbaud, người bạn thơ của ông. Tình bạn của hai người chấm dứt năm 1874 khi Verlaine bắn Rimbaud bị thương trong một cuộc tranh luận. Sau khi ở tù một thời gian ngắn, ông cho ra đời thi tập Sagesse (1881). Tác phẩm: Fêtes Galantes (1869), Art Poétique (1871-1873), Romances sans Paroles (1874).
44. Stéphane Mallarmé (1842-1898): sinh ở Paris, thi sĩ, phê bình gia, nổi tiếng với tập thơ đầy mơ mộng L’Après Midi d’un Faune (The Afternoon of a Faun, 1865). Ngoài mỗi tuần họp mặt với các bạn thơ văn và các nghệ sĩ ở Paris, ông sống tách rời khỏi xã hội. Ông được coi như người dẫn đạo phái Tượng Trưng (symbolism). Bài thơ cuối cùng của ông ‘’ Un coup de dés jamais n’abolira le hasard ‘’ (1897) diễn tả sự đối đầu giữa sự hỗn loạn của vũ trụ (le hazards) và ước muốn của con người tự tạo cho mình một định mệnh (le coup de des).
Tài Liệu Tham Khảo

- Jean Claude Tadié, Introduction à la Vie Littéraire du 19è Siècle, nxb Bordas, Paris, France 1984.
- Jennifer Bothamley, Dictionary of Theories, nxb Gale Research International, Ltd, United Kingdom, 1993.
- Hoài Thanh & Hoài Chân, Thi Nhân Viêt Nam, nxb Nguyễn Đức Phiên, Hànội, VN, 1943.
- Lê Văn Siêu, Văn Học Sử Thời Kháng Pháp 1858-1945, nxb Trí Đăng, Sàigòn, VN, 12/1974.
- Một số tác giả (Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức), Văn Học Việt Nam 1900-1945, nxb Giáo Dục, Hànội, VN, 05/1999.
- Nguyễn Q. Thắng, Từ Điển Tác Gia Việt Nam, nxb Văn Hóa, Hànội, VN, 09/1999.
- Phạm Thế Ngũ, Viêt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, Quyển 3, Văn Học Hiện Đại 1862-1945, nxb Anh Phương, Sàigòn, VN, 1965.
- Phan Cự Đệ, Văn Học Việt Nam Thế Kỷ XX, nxb Giáo Dục, Hànội, VN, 11/2005.
- Phan Quang Định, Lịch Sử Văn Học Pháp, nxb Văn Hóa Thông Tin, Hànội, VN, 1997.
- Terry Eagleton, Literary Theory, Second Edition, nxb The University of Minnesota Press, Minneapolis, MN, USA, 1996.
- Vũ Ngọc Phan, Nhà Văn Hiện Đại, nxb Tân Dân, Hànội, 1942, nxb Thăng Long tái bản, Sàigòn, VN, 1960. - Xavier Darcos, Littérature Francaise, nxb Hachette, Paris, France, 1992.
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1265 Posted : Saturday, September 11, 2010 1:23:45 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,309

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)
Geri Ann Higgins và Caroline Crawford: tình bạn vô điều kiện
Oanh Thơ/Việt Herald
(09/02/2010)

Những câu chuyện về tình bạn luôn luôn làm cho người ta thấy tin yêu hơn trong đời sống. Sau đây là một câu chuyện cảm động về tình bạn hiếm có giữa Geri Ann Higgins và Caroline Crawford được viết bởi Connie Collins, một ký giả, một nhà văn và là một nhà hoạt động xã hội có 20 năm kinh nghiệm làm việc trong ngành truyền thông gồm các đài truyền hình nổi tiếng như ABC, CNN.

[img=left]http://www.vietherald.com//images/upload/Article/2010/9/2/634190263346943387_400x333.jpg[/img=left]
Bài viết này đã đăng trên nguyệt san Good Housekeeping, một trong nhiều tờ báo phụ nữ mà bà Collins công tác. Người dịch xin gởi đến bạn đọc sau đây.

Caroline Crawford trở thành bạn của Geri Ann Higgins khi họ gặp nhau ở trường Goucher College, thành phố Baltimore.

Sau khi tốt nghiệp vào năm 1991, cả hai chia tay nhau. Geri Ann trở về Burlington, Vermont nơi cô sinh trưởng và lớn lên, còn Caroline thì lập nghiệp ở New York City.

Thế nhưng hai năm sau đó, Caroline liên lạc với Geri Ann và ngỏ ý muốn dọn về ở chung với cô bạn thân. Thế là hai người bạn cũ hội ngộ và tình bạn của họ lại càng thêm gắn bó.

Chẳng bao lâu sau, cả hai đều có người yêu và rồi họ lập gia đình vào năm 1996. Caroline có một cuộc sống hạnh phúc bên người chồng tên là Alan. Trong khi đó, Geri Ann trải qua một cuộc hôn nhân đầy sóng gió. Vợ chồng Caroline luôn luôn hỗ trợ và an ủi Geri Ann trong giai đoạn khó khăn đó nhưng cuối cùng Geri ly dị vào năm 2001.

Chỉ vài tháng cùng năm đó, Alan Crawford biết mình bị bệnh ung thư máu. Lúc đó, anh ta 42 tuổi và Caroline 31 tuổi; họ có được với nhau một đứa con mới 2 tuổi. Caroline quá đau khổ để báo tin buồn ấy cho người thân và bạn bè nên Geri Ann đã thay mặt bạn để chia sẻ với mọi người về hoàn cảnh của gia đình cô. Hai vợ chồng Caroline và Alan nhận được sự hỗ trợ về tinh thần, nhưng dĩ nhiên, Geri Ann là người đã chia sẻ sự buồn khổ và làm tất cả mọi điều có thể cho cô bạn thân của mình.

Caroline nói: “Khi bạn biết một người nào đó lâu năm và là bạn thân của nhau, bạn không cần phải nói gì cả hay yêu cầu sự giúp đỡ của họ. Người bạn đó tự động nhúng tay vào vì họ thương yêu bạn một cách vô điều kiện và Geri Ann là người bạn mà tôi may mắn có được đó.”

Geri Ann luôn luôn là nhân vật chính lo toan mọi điều cho Caroline. Khi bất cứ ai ngỏ ý muốn giúp đỡ vợ chồng Caroline và Alan, Caroline đều nói với họ là hãy hỏi Geri Ann vì cô quá mệt mỏi và căng thẳng để nghĩ ngợi hay quyết định bất cứ điều gì một cách sáng suốt.

Trong thời gian Alan phải đi chữa bệnh ung thư bằng hóa trị (chemotherapy), Geri Ann đã phối hợp và phân công bạn bè và người quen để nhờ họ đi chợ mua thức ăn cho gia đình Caroline. Cô dọn dẹp nhà cửa, trông coi giùm con hay đôi khi ở bên cạnh Alan để Caroline có thể đi làm những công việc khác.

Trước khi Alan đi chữa trị chemo, anh đã để dành tinh trùng của mình trong ngân hàng. Chỉ 7 tháng sau khi được chữa trị, Alan trở lại làm công việc chụp hình của mình và vợ chồng họ hy vọng sức khỏe của Alan có cơ may phục hồi. Cho nên, một năm sau đó, vợ chồng Caroline quyết định là sẽ có đứa con thứ hai bằng phương pháp thụ thai nhân tạo để trong trường hợp nếu có xảy ra điều gì không may cho Alan, ít ra, anh ta cũng nhìn thấy mặt đứa con thứ hai của mình.

Caroline cấn thai ngay lần thử nghiệm đầu tiên ấy. Thế nhưng, tin mừng này chỉ kéo dài trong một tháng trời trước khi bác sĩ báo tin cho họ biết là Alan chỉ còn sống vài ba tháng nữa là cùng vì bệnh của anh tái phát. Họ đề nghị cách tốt nhất là giữ Alan ở nhà chăm sóc cuối đời (hospice care).

Lúc bấy giờ, Caroline trở thành một người vợ có chồng đang chờ chết, một đứa con 3 tuổi và lại đang mang thai nữa. Thế nhưng cô đã có Geri Ann bên cạnh. Cô bạn thân ấy trấn an Caroline: “Tao sẽ lo mọi điều cho mày.”

Và cô đã thực hiện lời hứa đó bằng cách chạy đi chợ, giữ con giùm và làm đủ thứ chuyện vặt vãnh khác giúp Caroline.

Alan qua đời vào tháng 9 năm 2002. Khi nhà thương gọi báo tin Alan hấp hối cho Caroline vào lúc 8 giờ tối, Geri Ann đã đến ở lại nhà của Caroline suốt đêm hôm ấy với con của họ khi cô vắng mặt. Nhờ vậy mà khi Alan ra đi vào lúc 12:30 sáng hôm sau, Caroline đã có mặt bên cạnh, cầm tay anh cho đến khi chồng trút hơi thở cuối cùng.

Khi Caroline trở về nhà vào lúc 4 giờ sáng, cô không phải bước vào một căn nhà vắng lặng và trống trải vì đã có Geri Ann ở đó với vòng tay thương yêu và cảm thông mở rộng. Đôi vai cứng cỏi của Geri Ann đã là nơi Caroline dựa đầu lên đó để khóc và tìm được sự an ủi.

Đối với Caroline, tình bạn của Geri Ann có ý nghĩa hơn hết mọi thứ khác trong đời sống.

Sáu tháng sau đó, Caroline sinh một cô con gái kháu khỉnh tên Elizabeth. Một lần nữa, Geri Ann lại là người báo tin cho mọi người thân quen và bạn bè, nhưng lần này là tin vui. Bé Elizabeth được rửa tội vào đúng ngày kỷ niệm đám cưới của vợ chồng Caroline và dĩ nhiên Geri Ann là mẹ đỡ đầu của bé.

Vào tháng 5 năm 2005, Geri Ann có được tin vui cho riêng mình. Cô gặp và kết hôn với một người đàn ông tốt bụng và hiền lành.

Hai người bạn gái vẫn tiếp tục gặp nhau thường xuyên và hai đứa con của Caroline Crawford yêu thương và quấn quít vợ chồng dì Geri Ann Higgins rất mực.
Caroline nói rằng khi con cô lớn lên, cô sẽ kể cho chúng nghe về tình bạn bất diệt của cô với Geri Ann để chúng biết là tại sao “dì Geri Ann” lại chiếm một chỗ đứng quan trọng trong cuộc đời của mẹ chúng. (O.T.)

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hà Phương Hoài  
#1266 Posted : Saturday, September 11, 2010 7:52:32 AM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,237
Location: USA

Thanks: 144 times
Was thanked: 102 time(s) in 61 post(s)
Những thông tin xoay quanh sự kiện 11-9
Ngay sau khi vụ hai toà nhà ở Trung tâm Thương mại thế giới bị phá sập vào ngày11/9/2001, đã có nhiều ý kiến tỏ ra nghi ngờ về sự thật của vụ khủng bố mà chính quyền Mỹ cho là của tổ chức Al-Qaeda chủ mưu. Một vụ khủng bố lớn đã có tác động đến cục diện chính trị của nhiều quốc gia…vì thế không ít ý kiến cho rằng, đây là “sản phẩm” của CIA, nhằm tạo cớ cho Mỹ tấn công Afghanistan…
Những ý kiến “trái chiều” này thực ra chỉ làm phong phú thêm các thông tin về sự kiện đau lòng xảy ra cách đây 8 năm về trước…
Tám năm đã trôi qua từ ngày xảy ra vụ "khủng bố" Trung tâm Thương mại thế giới - WTC ở Mỹ ngày 11/9/2001. Ngày 22/7/2004, chính quyền Bush cho công bố bản Báo cáo của Ủy ban 11/9, quy trách nhiệm cho Al-Qaeda và giải thích quanh co, lấp liếm về nhiều vấn đề nên ngay sau khi công bố, đã làm cho 66% dân chúng của New York không thỏa mãn. Trong một màn hài, danh hài người Pháp Jean-Marie Bigard đã chế giễu rằng mỗi trang của nó là một dịp để cười.
Còn trên trang cá nhân của mình, Marcel Dehaeseleer, nhà nghiên cứu độc lập về vụ ám sát J.F. Kennedy, đã viết: "Khi đọc bản báo cáo trứ danh của Ủy ban 11/9, người ta không thể không nhận thấy rằng đó là một sự nhục mạ đối với trí tuệ con người. Cái văn bản "chính thức" này, xem như được thảo ra để trình bày những sự kiện có thật, lại chứa đầy những chỗ khiếm khuyết, những điểm sai trái, những điều dối trá đáng xấu hổ”.

David Ray Griffin, Giáo sư Đại học Claremont (California) thì nêu ra 115 điều dối trá của bản báo cáo này trong quyển “The 9/11 Commission Report: Omissions and Distortions” (Báo cáo của Ủy ban 11/9: những điều bỏ sót và xuyên tạc).
Đó là một sự dối trá trắng trợn. Hai chiếc Boeing 767 làm sao đủ sức mà gây ra được tác dụng liên hoàn để làm đổ sập tan tành WTC. Thực ra, người ta đã biết là có những tiếng nổ bên trong hai cao ốc WTC1 (Tháp Bắc) và WTC2 (Tháp Nam), ngay cả trước khi 2 chiếc máy bay đâm vào đó. William Rodriguez, người gác cổng của WTC trong suốt 20 năm, được tưởng thưởng vì công lao cứu hộ, đã nhiều lần khẳng định chuyện này.
Barry Jennings, thuộc Văn phòng Nhà ở của thành phố New York - đã mất ngày 19/8/2008 trong một hoàn cảnh mờ ám - còn nghe thấy cả tiếng nổ trong tòa nhà WTC7 trước khi 2 chiếc máy bay đâm vào WTC1 và WTC2. Thế mà Mỹ và phương Tây thì cứ giấu giếm sự thật...
Nhiều nhân vật có uy tín trên thế giới đã lên tiếng về cái sự kiện mờ ám này. Cựu Tổng thống Italia Francesco Cossiga đã khẳng định rằng vụ 11/9 là do các cơ quan bí mật của Mỹ và Trung Đông dàn cảnh. Andreas von Blow, một cựu bộ trưởng của Đức, đã viết cuốn sách có nhan đề: “Die CIA und der 11. September” (CIA và vụ 11/9) để khẳng định rằng đó là một âm mưu nội bộ của Mỹ do CIA dàn dựng. Còn Giulietto Chiesa, chính trị gia và nhà báo kỳ cựu người Italia, nghị sĩ Nghị viện châu Âu, thì đã làm hẳn một bộ phim mang cái tên ý nhị là “Zero”, inchiesta sull'11, settember (Zero - Điều tra về vụ 11/9), để vạch trần những điều phi lý nghe được, thấy được từ cách giải thích chính thống.

Hiệp hội các nhà lãnh đạo chính trị vì sự thật về ngày 11/9 đã được thành lập, với hai đồng chủ tịch là Thượng nghị sĩ Nhật Bản Yukihisa Fujita và cựu Thượng nghị sĩ Mỹ Karen Johnson, với 20 thành viên sáng lập gồm cựu hoặc đương kim thượng nghị sĩ hoặc hạ nghị sĩ của Mỹ, Đức Nhật, Na Uy, Anh và Liên minh châu Âu. Trang web của họ là, yêu cầu Tổng thống Obama cho phép tiến hành một cuộc điều tra mới, độc lập đích thực, để xác minh xem chuyện gì thực sự đã xảy ra vào ngày 11/9/2001.
Một trong những thành viên sáng lập là Robert Bowman, người từng chịu trách nhiệm về chương trình "Chiến tranh giữa các vì sao", giải thích tính lợi hại của nó: "thảm kịch ngày 11/9 bị lợi dụng làm cái cớ cho hai cuộc chiến tranh xâm lược (Afghanistan và Iraq - AC), để tước đi quyền công dân của người Mỹ (ám chỉ USA PATRIOT Act - AC) và để phạm những tội ác chiến tranh mà hậu quả là làm hoen ố thanh danh của nước Mỹ. Ta chỉ có thể chấm dứt sự điên rồ này bằng cách nói lên sự thật về vụ 11/9".
Để đi đến kết luận chính xác về vụ án bẩn thỉu và tàn bạo này, nhiều tổ chức nghề nghiệp khác cũng đã được thành lập: của kiến trúc sư và kỹ sư, lính cứu hỏa, luật gia, ngành y tế, phi công, tu sĩ, giáo sư và cán bộ đại học, cựu chiến binh , v.v...
Ngày 11/1/2008, Thượng nghị sĩ Yukihisa Fujita đã nêu những điều nghi vấn của ông trước Thượng viện Nhật Bản: "Cho đến nay, chúng ta cũng chưa có câu trả lời nào từ những người có trách nhiệm của Washington, cũng như từ một thủ đô nào khác trên thế giới. Hiệp hội của chúng tôi được thành lập để khuyến khích sự trả lời". Còn cựu nữ Thượng nghị sĩ Mỹ Karen Johnson thì nói: "Hiệp hội cho rằng sự thật về ngày 11/9 phải được vạch trần ngay bây giờ chứ không phải 50 năm sau dưới hình thức những lời ghi chú cuối trang trong những quyển sách lịch sử". Quốc hội Venezuela cũng đã chính thức thông qua một bản kiến nghị đòi Mỹ phải làm rõ sự thật về vụ này.
Những sự kiện đầy ý nghĩa trong nửa đầu năm 2009 tạo điều kiện cho ta có thể thấy càng rõ hơn sự dối trá của Mỹ về vụ 11/9. Ngày 25/3, nghị sĩ châu Âu Giulietto Chiesa được mời đến trường quay của Đài Truyền hình Bordeaux TV7 để giới thiệu bộ phim “Zero” của ông. Bộ phim đã vạch ra hàng loạt chỗ bất cập và sai sót trong báo cáo chính thức của Mỹ.

Hai tuần lễ sau, đến lượt nhà khoa học Niels Harrit, 1 trong 9 đồng tác giả của một bài nghiên cứu mang tính quốc tế, hoàn thành sau 18 tháng, đăng trên tạp chí khoa học The Open Chemical Physics Journal ngày 3/4, được mời đến TV2, một trong hai kênh được tín nhiệm nhất của Đài Truyền hình Đan Mạch, để giải thích về vấn đề chính của bài nghiên cứu. Harrit thông báo rằng họ đã tìm thấy chất nano-thermite (một loại chất nổ siêu mạnh) trong đống đổ nát khổng lồ của WTC và khẳng định rằng WTC1, WTC2 và WTC7 đã bị đánh sập bằng một sự phá hủy có kiểm soát với thứ chất nổ này.
Cũng trong tháng 3, France Inter đã dành 3 buổi phát hình (các ngày 9, 16 và 23) để nêu lên những vùng tối của vụ 11/9. Đến ngày 8/5/2009, tại cuộc triển lãm sách hàng năm lần thứ 35 ở Buenos Aires, nơi ông đến sống lưu vong từ 2003, Kurt Sonnenfeld đã giới thiệu cuốn “El Perseguido” (Người bị hành hạ), trong đó ông đã kể lại cơn ác mộng liên miên mà nhà cầm quyền Mỹ đã gây ra cho mình chỉ vì ông đã chụp được những bức ảnh và quay được những cuộn băng video tại Ground Zero gây trở ngại cho việc nhà cầm quyền Mỹ bẻ cong, bóp méo sự thật.
Rồi ngày 28/5, khi France Inter chấm dứt chuỗi truyền hình đặc biệt của mình, thì đến lượt ở bên kia đại dương, kênh truyền hình Mỹ KMPH Fox 26, mời kiến trúc sư kiêm chuyên gia thượng thặng về các kết cấu bằng thép Richard Gage đến để trình bày những bằng chứng khó bác bỏ được về việc phá hủy có kiểm soát đối với 3 tòa cao ốc của WTC.
Theo dòng xoáy, ngày 3/6/2009, kênh truyền hình công cộng KBDI của Mỹ đã phát lần đầu tiên và đến 5 lần bộ phim tài liệu “9/11 Press for Truth”. (11/9 Báo chí vì sự thật). Trước đó, không một kênh nào của Mỹ chịu phát bộ phim điều tra tỉ mỉ này, quay năm 2006, nhằm vạch trần những sự dối trá trong cách giải thích chính thức về vụ 11/9. Thế là, tại Mỹ, càng ngày càng nhiều người được "lột lưỡi", ngay cả nhiều thành viên của Ủy ban điều tra vụ 11/9 cũng cố giữ khoảng cách đối với những lời giải thích, mà trước đó, thực ra họ đã là đồng tác giả.

Trường hợp gần đây nhất thuộc về cố vấn pháp luật của Ủy ban 11/9 khi ông ta khẳng định hồi tháng 4 để mào đầu cho quyển sách của mình rằng "ở một mức độ nào đó trong chính phủ (...), đã có một sự thỏa thuận để không nói lên sự thật về những gì đã xảy ra". Còn hồi tháng 3 thì thượng nghị sĩ, ủy viên ủy ban điều tra, đã khẳng định trong một bài đăng trên tờ Newsweek rằng từ đây "đã có những lý do thích đáng để cho chúng ta nghĩ rằng mình đã nhầm lẫn ở một số phương diện về vụ 11/9 và về Al - Qaeda", và rằng cần phải có một "Ủy ban thường trực để giải quyết tất cả các bí mật của vụ 11/9".
Ngay cả khi tiến hành điều tra hồi năm 2003, thì một ủy viên khác là Thượng nghị sĩ Max Cleland, cũng đã từ chức vì cho rằng cuộc điều tra là một scandal quốc gia và tố cáo Bush che giấu sự thật. Và ngay cả Thomas Keane, Chủ tịch và Lee Hamilton, Phó chủ tịch của Ủy ban 11/9, cũng giữ khoảng cách với bản báo cáo chính thức khi cảnh báo trong quyển sách “Without Precedent: The Inside Story of the 11/9 Commission” (Không có tiền lệ: Câu chuyện nội bộ của Ủy ban 11/9) của hai ông rằng cuộc điều tra tất sẽ thất bại vì người ta đã lừa dối họ.
Nhưng sớm hơn cả những sự kiện trên đây, ngày 12/9/2008, kênh truyền hình hàng đầu ORT của Nga đã công chiếu trong giờ vàng bộ phim “Zero” của Giulietto Chiesa. Ngay trước buổi chiếu là một cuộc tranh luận truyền hình, với sự góp mặt của nhiều chuyên gia hàng đầu, trong đó có Leonid Ivashov, Tổng tham mưu trưởng các quân chủng Nga hồi 2001, Giulietto Chiesa, tác giả bộ phim và Thierry Meyssan, người đã khởi động việc vạch trần những sự dối trá của Mỹ chung quanh vụ 11/9 với quyển sách gây chấn động của mình: “L'effroyable impos ture” (Sự bịp bợm kinh hoàng). Cuộc trình chiếu đã được 34 triệu khán giả truyền hình theo dõi.
Cứu nạn nhân trong vụ 11/9.

WTC đã "cháy" từ năm 2001 nhưng cho đến nay, “mặt chuột” trong vụ 11/9 vẫn chưa lòi ra. Những người dân New York có thân nhân tử vong trong WTC ngày 11/9/2001 hoặc chính những người còn sống mà đang bị bệnh hoặc tật nguyền vì công việc cứu hộ ngày hôm đó, không thể thỏa mãn với những câu chuyện hoang đường trong báo cáo của Ủy ban 11/9. Họ không thể kiên nhẫn thêm nữa. Và tổ chức NYCCAN (New York City Coalition for Accountability Now - thành phố New York liên kết kịp thời để quy trách nhiệm) đã ra đời với mục đích thu thập đủ số chữ ký trong một thỉnh nguyện thư yêu cầu bang New York cho trưng cầu dân ý để thành lập một ủy ban điều tra độc lập.
Thực ra thì, nhiều tháng liền sau ngày 11/9/2001, một nhóm gia đình nạn nhân đã tập hợp lại để đòi tiến hành một cuộc điều tra độc lập trước sự bất lực của chính phủ trong việc bảo vệ công dân của mình. Sự cố gắng bền bỉ của họ đã đưa đến việc chính phủ phải thành lập Ủy ban 11/9. Sau khi xem xét kỹ lưỡng mọi mặt, Ban chỉ đạo các gia đình (nạn nhân) đã cung cấp cho Ủy ban 400 câu hỏi. Nhưng khi báo cáo của Ủy ban 11/9 được công bố thì người ta nhận thấy chỉ có 130 vấn đề được trả lời; còn 270 vấn đề kia bị bỏ qua. Nhại lại khẩu hiệu tranh cử của Obama (Yes we can) và chơi chữ bằng chính cái tên NYCCAN, họ nói: "Nếu Ủy ban của Chính phủ Liên bang không thể điều tra thì NYC CAN, nghĩa là thành phố New York (NYC) có thể(CAN)".
Những lời giải thích trong Báo cáo của Ủy ban 11-9 thì hoang đường còn những chi tiết ở hiện trường thì lại rất ly kỳ. Có những mảnh xương người đã văng từ WTC sang các cao ốc lân cận. Phần lớn các cửa sổ ở cách đó dưới 130m đều nứt vỡ. Những mảnh thép xây dựng nặng đã bắn đi với tốc độ 130km/giờ, rồi có mảnh rơi xuống đất cách đó đến 200m. Hỏa hoạn có thể gây ra những hiện tượng đó ư? Hỏa hoạn có thể nghiền nát 400.000m3 bê-tông thành bụi nhuyễn, phủ khắp Manhattan à?
Không một tấm sàn nào còn tồn tại ở nền của mỗi tòa tháp; mỗi tòa có 110 tấm (110 tầng), mỗi tấm rộng 4.000m2. Vậy làm thế nào mà 880.000m2 bê-tông cốt thép dày 10cm có thể biến mất hoàn toàn? Hài hước nhất là trong cái đống đổ nát và tro bụi khổng lồ đó, người ta lại nhặt được tấm hộ chiếu của tên phi công hãy còn nguyên vẹn (như đã in trong bản báo cáo) trong khi thép còn chảy thành nước. v.v. và v.v...
AN CHI
hongvulannhi  
#1267 Posted : Saturday, September 11, 2010 1:17:52 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,309

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)
ĐÔI NÉT VỀ VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM
Nguyễn Vy-Khanh


Trong bài này chúng tôi ghi nhận lịch-sử hình thành và vài đặc điểm của văn-học công giáo xét qua sự có mặt và đóng góp cho nền văn-học chữ quốc-ngữ của một số các tác-giả Việt-Nam.

Nghiên cứu lịch-sử Việt-Nam hơn hai thế kỷ qua đã xác nhận có một nền văn-hóa công giáo và mặt khác đã có sự đóng góp của người Việt-Nam công giáo cho dân-tộc về nhiều phương diện, kể cả văn-hóa, văn-học. Chữ quốc ngữ đã xuất phát từ nhu cầu thực dụng truyền bá Tin Mừng khởi đầu được dùng trong môi trường Nhà Chung từ những thế kỷ XVII, XVIII, rồi do những tình cở và hệ lụy của địa lý, lịch-sử và chính trị, của những tham vọng thương mại, những tranh chấp, đụng độ, từ hậu bán thế kỷ XIX, đã trở thành ngôn ngữ và văn tự cho cả nước. Ngôn ngữ, văn tự qua chữ quốc ngữ được điển chế với các tự điển trong đó có sự tham gia của các tu sĩ người Việt. Mặt khác, người Tây phương đến Việt-Nam (bắt đầu với các nhà truyền giáo) đã đem đến các phương tiện in ấn theo kỹ thuật Âu Tây (in khắc gỗ, in thạch bản, với chữ in rời lúc đầu đúc ở Âu châu, v.v.) và cách tổ chức giáo dục, học đường của họ. Cơ sở, phương tiện vật chất hạ tầng tạo nền tảng thúc đẩy những phát triễn về tinh thần, tư tưởng. Nhu cầu hội nhập, tiếp thu tư tưởng không-Việt được đặt ra, với người Việt, công giáo cũng như trí thức, cả Nho lẫn tân học và dân giả. Và cuối cùng, khi các tu sĩ và giáo dân Việt-Nam nắm giữ các vai trò và chức vụ chính thức của giáo quyền và các cơ cấu tổ chức tôn giáo và giáo dục, xã hội, một nền văn-hóa công giáo đặc tính Việt-Nam, trước đó đã khởi mầm từ thế kỷ XVII trở đi, dần rõ ràng xuất hiện và ngày càng lớn mạnh, song hành với sự lớn mạnh về đức tin và truyền giáo, về số luợng cũng như phẩm tính.

Về giáo quyền, GM Gioan Baotixia Nguyễn Bá Tòng là giám mục Việt-Nam tiên khởi (11-6-1933), nhưng từ một, hai thế kỷ trước đó, các tu sĩ và giáo dân Lữ-y Đoan, Bento Thiện, Phan Văn Minh, Đặng Đức Tuấn, Huình Tịnh Paulus Của, Trương Vĩnh Ký, v.v. đã đi những bước tiên phong góp những viên gạch cho tòa nhà văn-hóa Việt-Nam cũng như công giáo Việt-Nam. Hơn nữa, trái với những gì nhiều người vẫn nghĩ, người Việt đã tham gia tích cực trong việc sáng chế ra chữ quốc ngữ: thầy giảng Bento Thiện đã viết về lịch sử nước ta từ năm 1659 bằng chữ quốc ngữ (1) và cuốn Từ Điển Tabert 'Nam Việt Dương Hiệp Tự Vị, 1838' là công trình của các cộng tác viên người Việt như linh mục Philippe Phan Văn Minh, tác giả Phi Năng Thi Tập 1842. Ngay từ buổi đầu theo như tài liệu văn khố, đã thấy sử dụng những hình thức văn nghệ bình dân Việt Nam, để giáo dân cảm nhận dễ dàng kinh nguyện và giáo lý đạo công giáo. Theo nhà nghiên cứu LM Georg Schuhammer, trong bài "Nền văn chương công giáo về Phanxicô Xavie tại Việt Nam" thì: "các giáo sĩ đã nghĩ đến sự cấu tạo một nền văn chương công giáo bản xứ; bằng Hoa ngữ là chữ thông dụng ở các xứ ấy (chữ Nôm) cũng như bằng La ngữ là thứ chữ mà các giáo sĩ áp dụng cho ngôn ngữ Việt Nam bằng cách thêm giọng và thêm dấu (Quốc ngữ). A-lịch-sơn Đắc Lộ, một trong những giáo sĩ sáng lập giáo hội Đàng ngoài, đã có soạn một quyển sách giảng đạo với một quyển tự vị và cũng vì người Việt Nam có thói quen vừa học vừa hát nên các thi phẩm xuất hiện rất mau chóng. Ca và kịch thường có cơ hội để được sáng tác, đặc biệt vào những ngày lễ Giáng Sinh. Các ngày đó với những cuộc lễ long trọng và máng cỏ luôn thu hút giáo dân và cả người ngoại đạo rất đông đảo đến nhà thờ ..."(2) . Sau đó, ông đã giới thiệu ba tác-giả thuộc Dòng Tên, là Girolamo Majorca (3), João Ketlâm (cũng gọi là João Vuang (4) và Philiphô Rôsariô (cũng gọi là Philipê Bỉnh 1959-1832, có thể xem là một trong những nhà văn hải-ngoại đầu tiên của nền văn-học chữ quốc-ngữ (5).

Nếu ở các thế kỷ XVII, XVIII, giới tu sĩ Công giáo đã viết chữ Nôm nhiều hơn chữ quốc ngữ thì từ nửa cuối thế kỷ XIX, các tác giả Thiên Chúa giáo đã là những người đầu tiên tiếp nhận những hình thức diễn tả văn hóa của Tây phương, họ đi những bước khởi đầu vì họ gần gũi và theo đa số hoặc vì tiện lợi phổ thông, thực tế: thể nhật ký với Philipphê Bỉnh (Sách Sổ Sang Chép Các Việc, 1822), thể kịch nói với Tuồng Cha Minh (1881), thể ký sự với Trương Vĩnh Ký (Chuyến Đi Bắc Kỳ Năm Ất Hợi, 1876), thể truyện với Nguyễn Trọng Quản (Thầy Lazarô Phiền, 1887), thể hồi ký với Michel Tình (Chơn Cáo Tự Sự, la petite biographie de Michel Tình par lui même, 1910), thể khảo cứu về thể loại văn học với GM Hồ Ngọc Cẩn tác giả loạt bài Thi Phú Qui Pháp trên Nam Kỳ Địa Phận năm 1913, v.v.

Để rao giảng truyền bá đức tin, giáo lý, các thầy giảng, thầy cả và tu sĩ không chỉ tùy theo vào nội dung tư tưởng đạo mà còn chủ yếu vào những hình thức biểu lộ diễn tả mà cả nội dung tư tưởng tìm những cách truyền đạt đáp ứng những quy pháp tâm lý quần chúng về việc tiếp thu một tư tưởng tôn giáo xa lạ từ ngoài được đưa vào - so với tam giáo trước đó, dù ở ngoài nhưng từ địa lý lân cận á-đông và tinh thần tương đối gần gũi người Việt hơn nhiều. Chủ hướng đó tỏ lộ qua việc trước thuật sách giáo lý, mới đầu là bộ sách các truyện thánh bằng chữ nôm của giáo sĩ Majorica, sách chữ nôm về tuần thánh của thầy giảng Gio-an Thanh Minh (1588-1663), Sấm Truyền Ca (1670, chữ nôm, dịch Cựu Ước dùng tư duy ngôn-ngữ ngũ thư và bằng thơ lục bát) của linh-mục Lữ-y (Louis) Đoan, thầy giảng ở Đàng Trong lúc soạn, ngoài ra, thầy Phanxicô, một cựu hòa thượng, soạn bản kinh nguyện Cảm Tạ Cầu Hồn, Cảm Niệm Từ (Phục dĩ chí tôn). Các kinh sách, vãn, v.v. phản ảnh ngôn ngữ bình thường, phải đợi đến các sáng tác thi ca tôn giáo đậm tính chất nghệ thuật, đáng kể là ca vãn phụng vụ bình dân truyền khẩu (như Văn Đức Bà) truyện thơ ca ngợi các danh nhân và các thánh bằng chữ nôm của Gio-an Thanh Minh, Văn và tuồng của nhiều tác giả khuyết danh viết bằng chữ quốc ngữ (như truyện trường thi I-nê tử đạo văn, 563 câu thơ lục bát, và theo Võ Long Tê, đã xuất hiện vào thế kỷ XVIII (6), được in trong cuốn Tự Vị Latinh-Việt Tabert (1838), trong khi linh-mục Philipphê Bỉnh trước tác nhiều thể loại, trong số là Sách Sổ Sang Chép Các Việc, thánh Phi-líp Phan Văn Minh (Phi năng thi tập), Linh-mục Đặng Đức Tuấn, linh-mục Trần Lục (1825-1899) với những tác-phẩm thơ lục bát Hiếu Tự Ca 1088 câu, Nữ Tắc Thường Lễ 1016 câu, Nịch ái Vong Ân 440 câu,... Đến nửa cuối thế kỷ XIX, những Trương Vĩnh Ký, Huình Tịnh Paulus Của, Nguyễn Trọng Quản,... đã đóng góp những nền móng ngôn-ngữ, văn tự và thể loại gầy dựng nên một nền văn-học chữ quốc-ngữ cho cả nước!
*

Có thể phân biệt hai dòng văn-học công giáo: một bác học, một đại chúng; một phân biệt có tính lý thuyết để dễ dàng cho sự trình bày. Ngay từ đầu đã có một hiện tượng hội nhập văn-hóa, từ những công trình của Lữ-y Đoan, v.v. qua đầu thế kỷ XX đã có các nhóm quanh các báo Nam-kỳ Địa phận, Công Giáo Tiến Hành, Tông Đồ, Văn Bút Trần Lục, Bùi Chu, Tiếng Kêu, ... rồi sau 1954 những Tinh Việt Văn Đoàn (Văn Đàn), Học hội Ra Khơi, Nhà Chúa, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Thẳng Tiến (tiếp nối của nhóm Nam Kỳ Địa Phận), ... Các nhóm và cá nhân người công giáo đã tích cực tham gia, đóng góp cho học thuật và văn-hóa Việt-Nam thời hiện đại. Thời miền Nam 1954-1975, trước những trào lưu, khuynh hướng hiện sinh, vô thần, hoài nghi (Kierkergard), siêu nhân (Nìetzsche), ... thì khuynh hướng xã-hội Thiên Chúa giáo (nhân vị trước 1963, dấn thân, phản kháng sau 1964, v.v.) đã như nguồn hứng cảm văn-nghệ và học thuật đóng góp tích cực cho sinh hoạt văn-hóa thời bấy giờ. Cũng trong thời chiến-tranh trước 1975, các nhóm Nam Sơn, Hành Trình, Trình Bày, Đất Nước, ... dù bị ngộ nhận và chống đối từ nhiều phía, cũng đã có những đóng góp cách khác cho nền văn-học công giáo, khi giới thiệu, trình trước công luận mảng văn-học phản kháng và đấu tranh xã hội, chính trị trong đó có các tác-phẩm dịch thuật từ văn-học châu Mỹ latinh, Đông Âu, các nước không liên kết, v.v.

Họ là những giáo sư, nhà văn, học thuật, nghiên cứu văn-học, ngôn-ngữ, triết lý, lịch-sử, là những Kim Định, Đỗ Quang Chính, Cao Văn Luận, Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Phương, Nguyễn Văn Trung, Lê Thành Trị, Thanh Lãng, Lê Văn Lý, Nguyễn Khắc Xuyên, Nguyễn Hưng, Võ Long Tê, Phạm Đình Khiêm, Lê Hữu Mục, Nguyễn Văn Thọ, v.v. trong số có người đã để lại những công trình, sự nghiệp lớn hoặc thiết yếu cho bước đi của học thuật, văn-hóa!

Lưu vong ra hải ngoại, người công giáo tiếp nối sinh hoạt, đã có những tạp chí và nhóm như Dân Chúa, Tin Nhà, Định Hướng, Đường Sống, Thời Điểm Công Giáo, Sứ Điệp, Triết Đạo, Diễn Đàn Giáo Dân v.v Những năm đầu thế kỷ XXI với phương tiện điện toán và Internet, nhiều mạng lưới đã là những quán văn thơ và diễn đàn công giáo sinh hoạt song hành với các phương tiện cổ điển in ấn: Dũng Lạc, Viet Catholic, Trung tâm Nguyễn Trường Tộ, ... Các nhà văn thơ đã khởi sự nghiệp trước 1975 tiếp tục sứ mạng và thêm những cây viết mới: LM Nguyễn Tầm Thường, LM Trần Cao Tường, LM Nguyễn Trung Tây, Đường Phượng Bay, Trần Văn Đoàn, Nguyễn Đăng Trúc, Trần Công Tiến, Nguyễn Văn Thành, Song Thao, Nguyễn Ngọc Ngạn, Vinh Hồ, Trần Phong Vũ, Nguyễn Ước, v.v.
*

Tính đại chúng đã được biểu tỏ qua các hiện tượng: văn đạo dùng tư tưởng Nho giáo truyền thống và bình dân; và sự sử dụng ngôn-ngữ bình dân chằng hạn trong các Vãn và tuồng bên cạnh việc sử dụng văn của nhà đạo, của cung sách, hạnh các Thánh, v.v. Mặt khác, giá trị nghệ thuật ở sự sử dụng những hình thức nghệ thuật quần chúng để làm cho việc trình bày, diễn tả, truyền đạt trở thành dễ nghe, thích nghe, dễ nhớ, muốn nhớ ... như thơ, vè của Trần Lục, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Văn Thích, ... Văn nghệ đại chúng công giáo khởi từ những sinh hoạt tôn giáo theo nghi lễ và có tính cách cộng đồng như cung sách, cung kinh; hoặc theo đúng nghi lễ phụng vụ hoặc không có tính cách cộng đồng, ngoài nhà thờ: qua các hình thức vãn, vè, truyện, tuồng. Nhờ thế mà người công giáo bình thường không thể cảm thấy nếp sống đạo của mình là xa lạ với nếp sống của người Việt Nam vì đã được diễn tả, biểu lộ bằng những hình thức quen thuộc của tiếng nói nghệ thuật dân gian... (7) .

Các văn bản đạo công giáo nhưng đồng thời cũng là những tác-phẩm văn-học đại chúng còn lưu lại có thể kể như sau: Vãn Và Tuồng (nhà in Tân định, khoảng 1874-1877), I nê tử đạo vãn (đã in bằng bốn thứ tiếng quốc ngữ, La tinh, Pháp, Anh trong tự điển Taberd 1838). Vãn, thơ lục bát, và tuồng là các thể loại văn bình dân phổ biến ở Đàng Trong và đã được giới công giáo sử dụng để diễn tả hạnh các thánh, phổ thông giáo lý và cả đạo lý ảnh hưởng Nho học cũng như về các ngày lễ tôn giáo lớn trong năm. Những bài Vãn, Tuồng đã được in trong tập Vãn Và Tuồng và sau đó được in riêng, phần nào chứng tỏ những bài vãn tuồng này được phổ biến rộng rãi trong giới công giáo. Nếu về Vãn có hạnh các thánh, các nhân vật đạo đức, giáo lý, luân lý,.. thì về Tuồng, là những Ceulia đồng trinh tử đạo vãn và tuồng , Đavit thánh vương tuồng, tuồng thánh Antôn, Gioan Lều tuồng... Tuồng có tên tác giả như Trương Minh Ký được diễn công khai là Tuồng Joseph (Tuồng Joseph, tragédie tirée de l'histoire sainte par Trương Minh Ký, représentée à Cholon pour la 1re fois, le 13 Juillet, 1887, Saigon, bản in nhà Rey et Curiel, 1888). Đây là vở tuồng do một người không công giáo viết (đồ đệ của Trương Minh Ký) theo đúng thể loại tuồng cổ Việt Nam và cũng không do nhà xuất bản công giáo Tân Định ấn hành (8). Đến Tuồng Cha Minh (1881, thật ra gần kịch nói hơn là tuồng, văn đối thoại đã rất gần gũi với lời nói của dân giả, mới mẻ và đơn giản hơn cả câu văn đầu thế kỷ XX như văn Nam Phong sau đó vẫn chuộng lối văn biền ngẫu và cách điệu! Theo giáo sư Nguyễn Văn Trung, đó là "những bài văn đã được làm ra, do những tác giả vô danh mượn các thể văn học bình dân phổ biến ở miền Nam để diễn tả nội dung tư tưởng, tình cảm tôn giáo của mình và được giới bình dân công giáo tiếp nhận, đọc hoặc truyền miệng. Có thể nêu giả thuyết: đã có rất nhiều bài vãn, vè, tuồng, nhưng đó chỉ có một số ít được lưu truyền, những bài in đến lần thứ mười hai trong vòng vài chục năm chứng tỏ chúng được ưa thích như thế nào..."(9) .

Người công giáo Việt-Nam với hành trang văn-hóa nguồn cội và truyền thống, đã tiếp nhận và hội nhập văn-hóa đạo Thiên Chúa; việc đã không dễ dàng khi căn bản nguồn cội đã ăn sâu thành nền, đã nên một với con người và giá trị văn-hóa này lại vẫn bị/được những thế lực chính trị sử dụng khi cần đến. Đấy có thể là một trong những lý do khiến nỗ lực Việt hóa Thánh Kinh của Sấm Truyền Ca đã bị các thừa sai tây-phương nghi ngờ, nên thay vì được in ấn thì đã phải chép tay lưu truyền hạn chế, bản thơ Nôm di chuyển nhiều lần đến phải hư nát, Si-mong Phan Văn cận diễn ra chữ quốc-ngữ chỉ ghi lại được 5135 câu. Lữ-y Đoan là một trong bốn linh mục Đàng Trong đầu tiên được thụ phong tại Kẻ Chàm (Quãng Ngãi) năm 1676, đã Việt hóa và Đông phương hóa Kinh Thánh với một tinh thần dân tộc rất cao, việc làm mà chỉ từ công đồng Vatican II (1962) mới được cho phép. Ông đã dùng những quan niệm Tam cương, Ngũ Thường của nền luân lý Á đông cũng như những thực tế và truyền thống văn hóa dân tộc để giải thích giáo lý của Kinh Thánh về vũ trụ vạn vật. Ông đã theo sát Kinh Thánh Cựu Ước nhưng đồng thời chứng tỏ có óc sáng tạo độc đáo và tầm trí tuệ hiểu Thần học cao hơn cả các vị bề trên người Pháp của ông ; ngoài việc không hiểu văn hóa Đông phương, đó có thể là lý do những người này loại Sấm Truyền Ca cho là dị đoan, sái đạo, đi lệch ra ngoài tinh thần cơ bản của Kinh Thánh. Lữ-y Đoan chứng tỏ giới linh mục, tu sĩ thời đó có tinh thần độc lập, tự chủ, tự hào về văn hóa Việt Nam, bình đẳng với các thừa sai ngoại quốc chứ không mất độc lập và bình đẳng như sau này khi thực dân Pháp đã thôn tính cả nước Việt Nam. (...). Lữ-y Đoan đã Việt hóa tên người tên địa dư của nguyên tác cũng như dịch rất văn hóa tựa Kinh Thánh Cựu Ước là Sấm Truyền Ca, Genesia là Tạo Đoan Kinh, Exodus là Lập Quốc Kinh. Hãy đọc đoạn thơ "Vào Đề" quyển I Tạo Đoan Kinh:

"Ngày ngày trước mắt chúng sinh
Chữ đời chữ đạo phân minh đôi đường
Xưa nay trong kiếp vô thường
Thấy điều vân cẩu mà thương nhơn phàm
Loài người từ thuở A-đam
Đua nhau xây dựng mộng ham làm trời
Một pho Kinh Thánh ra đời:
Chứng minh vạn đại những lời do Thiên ...".

Sấm truyền ca của Lữ-y Đoan (1670) đã sử-dụng những từ ngữ thô sơ, bây giờ vẫn còn thấy trong các sách kinh, sách đạo cũ, nên dễ có thể làm cho hiểu lầm là tiếng nhà đạo, mà thực ra kinh sách truyện đạo chỉ dùng tiếng của ngôn ngữ đương thời: Cả và (tất cả) : "Cả và mặt đất đã chìm dưới sâu" (đoạn 7); "Cả và thiên hạ nhờ đây phước lành" (đoạn 18), .... Rồi những kiểu nói trở thành thành ngữ, hoặc thuần túy Nôm, hoặc Hán Việt, đối hay không đối trong câu bốn chữ: Gần đất xa trời, Nghìn thu an nghỉ, Thiên thời địa lợi, Cứu nhân độ thế, Mưu sự tại nhân, Thế thái nhân tình, v.v.

Thế kỷ XX ghi nhận sự đóng góp của nhiều tác-giả công giáo khác, khi chữ quốc ngữ hết còn là vấn đề: Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư, Hồ Dzếnh (Tác Phẩm Đầu Xuân 1944), Thụy An Hoàng Dân, Quách Thoại, Phạm Đình Tân, Bàng Bá Lân, Phạm Việt Tuyền, Nhất Tuấn (Truyện Chúng Mình), Hoàng Ngọc Liên (Hình Ảnh Những Mùa Trăng, ... ), Quyên Di, Lê Đình Bảng, Thảo Trường, Hồ Minh Dũng, Nguyễn Ngọc Ngạn, v.v, các linh-mục Nguyễn Văn Thích, Xuân Ly Băng, Vũ Đức Trinh, Trăng Thập Tự, Nguyễn Xuân Văn (trường thiên Sứ Điệp Tình Thương 9764 câu lục bát),... Nhìn chung, thế kỷ XX đã cung cấp cho văn học Công giáo nhiều tài năng và tác-phẩm đáng kể. Chúng ta có thể nói đến một truyền thống công giáo với các nhà văn công giáo (kể cả các vị tân tòng), với những tác-phẩm (đề tài, bối cảnh) và nghệ thuật của họ nhưng nội dung và nguồn đạo Thiên-chúa thì lại khác, và có những tác-phẩm bắt nguồn cảm hứng từ tín lý đạo Thiên Chúa dù tác-giả chúng không nhất thiết là tín đồ đạo như Trương Minh Ký cuối thế kỷ XIX cũng như những Nguyễn Viện, Nguyễn Đình Chính, Tạ Duy Anh, Đỗ Minh Tuấn, v.v. trong nước gần đây, như kiếm tìm về một nguồn tâm linh, tư tưởng đáp ứng được nhu cầu tinh thần, cảm xúc. Thật ra, có một khó khăn khi xác định đặc tính nguồn đạo Thiên Chúa qua các tác-phẩm cũng như các tác-giả, vì nhiều đặc tính đạo đã trở thành phổ quát, của cả nhân loại (công bằng, bác ái, đức tin vào một Thiên Chúa hay Thượng đế, vào đời sau, v.v.), và thứ nữa, một tác-phẩm hay một tác-giả, như Hàn Mặc Tử, nhiều nguồn cảm hứng sáng tác (Thiên Chúa, Phật, Lão, ...) và đã được nhiều 'cách nhìn' phân tích khác nhau (triết lý, biểu tượng, lãng-mạn, siêu thực, thơ loạn,...). Đạo vĩnh cữu phải chăng là Nguyên Lý Đệ Nhất và Thiên Chúa Tối Thượng? Do đó, phân tích nguồn cảm hứng, cơ cấu con chữ, văn bản, đi sâu với văn bản có thể tránh ngộ nhận (tác-phẩm, tác-giả công giáo) và giúp ích cho các công tác hàn lâm, học thuật. Có chấp nhận đa dạng, đa nội dung ở một tác-phẩm hay tác-giả thì mới có thể có những khám phá thú vị và hữu ích. Nguồn đạo đòi hỏi tinh túy, nội dung, tạo thành truyền thống, có thể xếp vào lớp này những tác-giả Phan Văn Minh (thánh), Hàn Mặc Tử, Xuân Ly Băng, Trăng Thâïp Tự, Quyên Di, Đường Phượng Bay, ... cũng như những tác-phẩm dịch thuật, phổ thơ, thánh vịnh, phổ thông hóa, v.v. như Sấm Truyền Ca của Lữ-y Đoan, Vè của Trần Lục, v.v.
*

Thơ là bộ môn văn-chương nghệ thuật nhất, nhất là mảng văn-học tôn giáo, đã khơi mầm từ thời khởi đầu như LM Georg Schuhammer đã đề cập và kho tàng truyện văn vần, vãn và tuồng là những bằng chứng.

Thánh Phi-líp Phan Văn Minh (1815-1853) đã để lại tác phẩm Phi năng thi tập được truyền tụng đến nay, gồm 35 bài lục bát của ngài và 93 bài ngâm vịnh xướng họa của thi đàn. Đối với thánh nhân, thơ "ca tụng lòng lân mẫn vô biên của Thiên Chúa" (Lời phi lộ phần I), thi tập là "một bổn kinh nguyện" (10). Như vậy, thánh nhân đã đồng hóa thi ca với lờI cầu nguyện:

"Đội ơn Chúa Cả Ba Ngôi
Dựng nên muôn vật cho tôi hưởng dùng.
Chúa là vô thủy vô chung,
Thường sinh thường vượng, không cùng không sai.
Chúa là toàn đức toàn tài,
Suốt trong trời đất không ai ví tầy"
(Tạ ơn Chúa Cả Ba Ngôi).

"Gia Tô Cơ đốc đấng Con Trời
đặc cách lâm phàm cứu khắp nơi
Chẳng lấy lợi danh mà tạo nghiệp,
Không dùng Vương Bá để xây đời.
(. . ) Dĩ nhược thắng cương minh chứng rõ:
Kiếp sau hiện hữu sống muôn đời.
(Đấng Cứu Thế).

Linh-mục Đặng Đức Tuấn (1806-1874) là tác-giả các tập thơ trường thiên Việt Nam Giáo Sử Diễn Ca, Lâm Nạn Phụng Quốc Hành, cùng các bài văn tế và hịch yêu nước: Sát Tả Bình Tây Hịch, Văn Tế Các Đẳng, Văn Tế Giáo Nhơn Tử Nạn, ....Ngài được xếp vào hàng Tinh Hoa Công Giáo Ái Quốc Việt Nam mà "cả cuộc đời ông là tấm gương sáng chói về tôn chỉ "độc thư cứu quốc" của người xưa"(11).

Trần Lục (1825-1899), tác-giả của trên 6.000 câu lục bát, song thất lục bát và thơ 4 chữ trong kho ca vè của Cụ Sáu. Những bài ca vè về Đức Maria, về Chúa "Jêsu", về "Đức Chúa Lời Ba Ngôi" và "Lễ San-Ti", và về Chúa Giêsu, về Thánh Anna và Thánh Gioan Kim, v.v. Thơ ca vè nói chung là dạy nên người và dạy làm Kitô hữu. Cụ Sáu dùng thi ca bình dân "Làm Truyền Thống" theo kiểu của mình để gieo rắc ánh sáng Phúc Âm.

1. Mừng Bà Thánh Anna:

"Cúi đầu lạy Thánh Anna
Phúc Người to tát người ta ai bì
Chúa làm phép lạ uyên vi
Cho người sinh đẻ trong khi đã già".

2. Bản dạy cách lần hạt 15 người:

"Dạy về cách lần hạt chung
Là điều rất dễ mà trông ơn nhiều
Việc tẻo teo mà công to tát
Ơn như mưa giào giạt hơn mưa v.v..."

Hiếu Tự Ca :

Mấy lời hiếu tự nói qua
Để cho ai nấy trẻ già nhớ ơn
Làm người sống ở thế gian
Ai không đội đức cao san (sơn) nạng dầy
Nói sao cho hết cho rồi
Biết bao khí huyết tài bồi cho ta
Phần hồn thì Chúa sinh ra
Xác nầy Chúa phó mẹ cha sinh thành
Phụ tình mẫu huyết đúc hình
Cho ta toàn vẹn mà sinh làm người" (12)

Kho tàng ca vè của Cụ Sáu Trần Lục đa dạng về ngôn ngữ Việt Nam vào hậu bán thế XIX, một ngữ liệu về số lượng cũng như cách diễn đạt tư tưởng vừa đạo vừa Việt.

Trương Vĩnh Ký, tác-giả Chuyện Đời Xưa (1866), ấn phẩm văn xuôi đầu tiên bằng chữ quốc ngữ, đã phiên âm và hiệu-đính một số tác-phẩm Hán Nôm như Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca và hàng trăm công trình biên khảo, nghị luận về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử và văn-học, đã chứng minh là người thật sự sống đạo, đạo làm người công giáo và trước hết, làm người Việt-Nam, như chúng tôi đã có lần bàn đến : "... Cho đến khi có Cộng đồng Vatican II, người Công-giáo không Tây-phương - trong đó có người Việt Nam, vẫn luôn có mặc cảm hoặc băn khoăn sống tách khỏi nếp suy nghĩ và tâm hồn dân-tộc. Trương Vĩnh Ký, một người hiểu biết lịch-sử và nhu cầu tiến bộ xã-hội, đã vượt được thân phận "dépaysé" (xa lạ trên đất nước mình) và chứng minh người Việt có thể vừa sống đạo vừa giữ được tinh thần dân-tộc - tương quan Đạo-Đời vừa kính Chúa vừa làm người dân yêu nước - điều bất khả thể ở một nước quân-chủ nơi mà yêu nước hoặc có tinh thần dân-tộc phải là trước hết Trung-quân. Ông biết đạo Chúa đến đảo lộn một số giá trị văn-hóa truyền thống, ở những điểm nhân bản hóa, hiện-đại hóa các quan hệ xã-hội kể cả quân-thần, vua-dân (ở trong nước và hải-ngoại vẫn có những người chống đạo và chống Trương Vĩnh Ký cũng ở những điểm này)! Có thể ông nhìn thấy đạo Thiên-Chúa bị thế-lực thực-dân lợi dụng, do đó khi ông đề-cao đạo lý truyền thống dân-tộc (hay đông phương) với người đọc và dân chúng Việt Nam, để trở về nguồn, là vô tình ông đã đi ngược chiều gió - vừa của triều đình, nho sĩ, vừa của giáo-hội La Mã (nhất là các cha Dòng Đa Minh và tiếp đến là Hội Truyền giáo Paris cấm đoán việc thờ cúng tổ tiên; trong khi dòng Tên thì chấp thuận). Ông nối kết Đạo-Đời khiến đời sống tâm linh phong phú hơn và cũng có nghĩa là Trương Vĩnh Ký ý thức rằng bổn phận hiện-tại cũng quan trọng như hy-vọng ở thế-giới ngày sau. Vào thập niên 1960, ở miền Nam một nhóm trí thức Công-giáo (Lý Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung, ...) đã cổ võ người Công-giáo "tìm về dân-tộc", một việc Trương Vĩnh Ký đã làm và làm thật từ cả thế-kỷ trước đó!..." (13).

Huình Tịnh Paulus Của: Ngoài công trình ngôn-ngữ Quốc âm Tự Vị, giáo khoa và các tuyển tập, ông còn viết Chuyện Giải Buồn cũng như những bài Văn Thánh Minh (628 câu thơ lục bát ) và Văn Lái Gẫm (540 câu thơ lục bát.), v.v. Những bài sau cho thấy một khía cạnh khác của con người văn-hóa thường được gọi là Paulus Của; ông là người "đem đạo vào đời" theo đường lối nhà trường, học thuật. Bài Phụ Văn Đức Tính Cha Minh :

"Hỡi ôi!

Phép Chúa khiến đổi đời,
Lẽ tử sinh khôn dò cho thấu.
Cuộc đời hay tráo chác,
Nghĩa họa phước kho giải cho ra.

Tưởng đến lòng thêm ngao ngán,
Nghe thôi dạ lại thiết tha.
Nhớ cha xưa.
Vốn nhà lương thiện,
Đức tính hiền hòa.

Lúc bé thơ đã khuất bóng tòng duân,
Bề khôn dại chỉn nhờ nơi anh chị.
Vừa khôn lớn sẽ chạnh niềm kiều tử,
Việc ở ăn còn có của mẹ cha.
Tư chất thông minh,
Học hành chẳng lo bề tấn thối.
Nết na khiêm nhượng,
Cư xử hằng giữ mực thật thà,
Dốc một lòng dưỡng tánh tu chân,
Nào chuộng công danh lợi lộc.

Nguyện hết sức an nhơn hòa chúng, Chi màng phú quí vinh hoa.

Tích đức tu nhơn.
Lòng khắn khắn như vàng như đá.
Răn mình sửa tính,
Gương làu làu tợ ngọc tợ ngà.
Cám mến vì tận tăm báo Chúa,
Đang khi khói lửa nồng nàn,
Ắt không khỏi mắc chưng nạn tám.
Tiếc thương hay thủ nghĩa xả sinh,
Nhằm lúc muông lang lừng lẫy,
Âu đã đành lâm phải tay ba.

Ôi

Thảm bấy Nhan-hồi mạng bạc,
Lạ thay Bành-tổ tuổi xa.
Lẽ còn mất sánh dường chớp nháng,
Cuộc dinh hư khác thể gió qua.
Biết đâu là họa phước,
Một phen đổ máu vì đạo thánh;
Hay đâu nghĩa tử sinh,
Ngàn thuở trả công rạng nghĩa ta.
Hỡi ôi! Thương thay".

Saigon, le 23 Novembre 1900

Giám mục Hồ Ngọc Cẩn (1876 - 1948): Thơ văn sáng tác của Ngài đăng tải rải rác khắp các báo đạo đời, như Nam Kỳ Địa Phận, Nam Kỳ tuần báo, Vì Chúa, Sacerdos Indonensis, Đaminh bán nguyệt san, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí. Ngài còn lập nhà in Thánh Gia; nhà sách Đa Minh và là chủ biên tạp chí Đa Minh bán nguyệt san, Thời Mới, ... Tác-phẩm : Ngạn ngữ kinh thư. (1915), Văn chương thi phú Annam (1919), Thánh giáo thuyết minh (1938), Tuồng bảy mối tội đầu (1922), ...

Ca dao về Đức Mẹ ngài soạn cho Nghĩa Binh Thánh Thể học thuộc lòng:

"Nghĩa binh con Mẹ dấu yêu
Lắng nghe giót các điều Mẹ khuyên
Mẹ nay đau đớn buồn phiền
Vì lòng người thế đảo điên gian tà
(...) Chúng con cơ đội Nghĩa Binh
Hãy mang khí giới đi bình giặc mau
Súng gươm là sự nguyện cầu
Siêng năng chịu lễ là tàu máy bay
Misa chầu kính hằng ngày
Ấy là xe cát phá mưa giặc thù
Vua la Đức Chúa Giêsu
Tướng là đức thánh Phêrô Giáo Hoàng
Có vua quyền phép cao sang
Có quan tướng mạnh đầy tràn khôn ngoan
Chúng con hãy cứ kiên gan
Ắt là thắng trận khải hoàn chẳng sai
Tiến lên chớ có giật lùi - Amen.

Bài Ca Tạ Ơn, người công giáo Việt-Nam nào mà không biết, và đã được phổ nhạc :

Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa
Ngợi mừng thêm nhảy múa tâm thần
Mừng trong Chúa cả muôn dân
Mừng Vì Cứu Chuộc thi ân đền bồi
Bởi vì Chúa thương tôi tớ mọn
Đã khấng thương kén chọn cách riêng
Vậy từ nay, khắp chân thiên
Khen tôi có phúc có duyên lạ lùng
Chúa chí tôn vô cùng phép tắc
Uy danh Người vằng vặc cao quang
Thương tôi nên đã rủ ban
Ơn lành phúc cả chứa chan no đầy
Lòng thương Chúa hằng ngày che chở
Thương những người dái sợ kính tôn
Chúa hằng gìn giữ bảo tồn
Duệ miêu kế tiếp, tử tôn lưu truyền
Chúa ra tay uy quyền sức mạnh
Kẻ kiêu căng Người đánh tan tành
Truất ngôi những kẻ quyền hành
Những người khiêm nhượng Chúa dành nhắc lên
Kẻ cơ bần an tâm nghèo khó
Chúa ban ơn giầu có phủ phê
Những người phú túc no nê
Phải ra thiếu thốn bẽ xiêu nghèo nàn.
Israel thuộc ràn Thiên Chúa
Chúa dành cho vào sổ Dân riêng
Lòng thương quảng đại vô biên
Chúa hằng gìn giữ chẳng quên bao giờ
Hẳn như lời thuở xưa Chúa phán
Phán hứa cùng các đấng tổ tiên
Abraham là đấng thánh hiền
Tử tôn miêu duệ kế liên muôn đời.

LM Sảng Đình Nguyễn Văn Thích (1891-1978), chủ nhiệm sáng lập tờ Vì Chúa (1935, ba tiếng Việt, Hán và Pháp), tác-giả Sảng Đình Thi Tập (1943), Cổ Việt Phong Dao (1968); tập đầu gồm 152 bài thơ Việt, Hán và Pháp với những thể loại vè 4 chữ, lục bát, tứ tuyệt, v.v. mà năm 2001, giáo sư Đoàn Khoách đã biên tập và thực hiện ấn hành. Ngài còn dịch vở kịch Polyeucte của Corneille thành "Tuồng Phổ Liệt". Bài Đức Mẹ Ru Con với phong cách Việt:

Ru Con, Con ngủ cho muồi
Như buồng nho chín trên đồi Bêlem

Ru Con Con ngủ cho êm
Ngày đông thì vắn mà đêm thì dài

(...) Ru Con Con ngủ cho yên,
Đoàn chiên lài lạc, Chúa chiên lạc lài.

Ru Con Con ngủ cho may,
Cho người mau lớn để ngày hy sinh.

Ru Con Con ngủ cho lành,
Bằng yên dưới đất, rạng danh trên trời"..

Hàn Mặc Tử lấy nguồn cảm hứng từ Kinh Thánh nhưng cũng như Lữ-y Đoan của 300 trước, ông đã sử dụng từ ngữ dân gian thông thường, đặt đúng chỗ và biến hóa thành những câu thơ có khi siêu thực, đầy ma lực, khi khác rất kinh nguyện, nhưng nói chung đều làm choáng váng người đọc: lời thơ của ông là những ngọn lửa đức tin, những ánh sáng lúc chói lòa lúc mơ hồ, nói như Trần Tuấn Kiệt : "Nhà thơ đi lọc ánh sáng để gieo vần, đơn độc đẩm mình trong suối ngọc cỏ thơm, trong niềm đau thương xô đẩy đến một thế giới trăng sao lộng lẫy. Thi ca là nguồn suối ở trên cõi siêu hình đảo lộn cả mọi suy tưởng đậm đà của tình nhân gian sầu mộng. Ở đó chỉ có linh hồn thi nhân và trân châu ngọc bích của Thượng Đế. Ở đó sự kỳ lạ được nhà thơ điểm vào óng ánh tinh khí, thực thể trơ thành huyền hoặc lý lẽ cõi đời không có đất nẩy mầm, cõi điên loạn dị thường được soi trong cặp kính của một vì Sáng Thế, được gảy bởi cung đàn thiên tiên bất tuyệt" (14).

Hàn Mặc Tử đã phát biểu về vai trò thi nhân: "... Đức Chúa trời tạo ra trăng, hoa, nhạc, hương là để cho người đời hưởng thụ (éléments de la poésie), nhưng người đời u mê phần nhiều không biết tận hưởng một cách say sưa, và nhân đấy, chiêm nghiệm lẽ màu nhiệm, phép tắc của Đấng Chí tôn. Vì thế, trừ hai loài trọng vọng là " thiên thần" và loài người ta", Đức Chúa Trời phải cho ra đời một loài thứ ba nữa: loài Thi Sĩ ! Loài nầy là những bông hoa rất quí và rất hiếm, sinh ra đời với một sứ mạng rất thiêng liêng: phải biết tận hưởng những công trình châu báu của Đức Chúa Trời đã gây nên, ca ngợi quyền phép của Người, và trút vào linh hồn người ta những nguồn khoái lạc đê mê, nhưng rất thơm tho, rất tinh sạch (but de la poésie)...".(15).

Nhà văn Đặng Tiến khi viết về Đức tin trong hồn thơ Hàn Mặc Tử" đã xem đức tin ở Hàn là một đề tài hệ trọng và bao quát đã chứng minh "toàn tập thi phẩm Hàn Mặc Tử là một tiếng vọng của Thánh Tự". Ông đã khai triển các nhận xét của Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, để đi đến "chứng minh là kiến trúc toàn bộ của bài thơ Hàn Mặc Tử đều vang dội lời truyền giảng của Phúc Âm". Vũ Ngọc Phan nhận xét: "Có lẽ ông là người Việt Nam ca ngợi Thánh nữ Đồng trinh Maria và Chúa Jésus bằng thơ trước nhất. Ông ca tụng đạo Giatô một giọng rất chân thành. Lần này cũng là lần đầu, thi ca Việt Nam thấy được một nguồn hứng mới". Theo Đặng Tiến, "nếu Gái Quê là thế giới đợi chờ Điềm lạ, đợi chờ Chúa ra đời thì Đau Thương là một tâm hồn mong mỏi Ngày Chúa trở lại (...) thì Xuân như ý còn nhiều còn nhiều hình ảnh dựa theo tín lý Thiên Chúa, là mùa xuân hồi sinh" toàn bộ tác phẩm Hàn Mặc Tử như một Thánh thể kết tinh triền miên vươn tới Ánh Sáng, vươn tới Ánh hào quang chan chói ngát lưu ly. Hãy trở về Ánh Sáng (16).

Nhiều người đã viết về thơ Hàn Mặc Tử, ở đây, xin ghi lại dăm ý tưởng chính về khía cạnh tôn giáo và đức tin. Kinh nghiệm đau khổ sống chết của bản thân cộng với đức tin đã giúp Hàn những cảm nghiệm thống thiết:

"Ôi hồn thiêng liêng không hề chết đặng,
Làm sao hồn chẳng hiểu nghĩa vô biên
Ngày tận thế là ngày tán loạn,
Xác của hồn, hồn của xác y nguyên"
(Hồn lìa khỏi xác)

"Phượng Trì! Phượng Trì! Phượng Trì! Phượng Trì!

Thơ tôi bay suốt đời chưa thấu
Hồn tôi bay đến bây giờ mới đậu
Trên triều thiên ngợi sáng vạn hào quang"
(Thánh nữ đồng trinh Maria)

Thi sĩ vội nguyện cầu gội rửa kiêu căng phạm thượng có thể có nơi nhà thơ cũng là con người tội lỗi:

"Tôi van lơn thầm gọi Chúa Giê su
Ban ơn xuống cho mùa xuân hôn phối
Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi
Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng"
(Đêm Xuân cầu nguyện)

Lòng thành tín đưa nhà thơ đến với Chúa, và trong không khí tiết lễ, Chúa đến như tiên tri được thế gian mong đợi:

" ... Cả trời bỗng tiêu diêu như báu vỡ:
Nên tiếng vang thầm dội đến thâm tâm,
Mà ta ngỡ đấng tiên tri muôn thuở
Giữa đêm nay còn đứng giảng Phúc Âm.
(...) Ta há miệng cho nguồn thơm trào vọt:
Đường thơ bay sáng láng như sao sa ...
Trên lụa trắng mười hai hàng chữ ngọc
Thêu như thêu rồng phượng kết tinh hoa .
Ta cao ngâm giọng vô cùng thanh thoát
Khiến châu thân rung động thể tơ trăng.
Toan ngất đi trong cơn mê khoái lạc
Mẹ yêu dấu liền vội đến tay nâng...
- "Đây thi sĩ của đạo quân Thánh giá,
Nửa đêm nay vùng dậy để tung hô,
Để sớt cho cả xuân xuân thiên hạ

Hương mến yêu là lộc của lời thơ".
(Nguồn Thơm, Xuân Như Ý)

Quan hệ không còn đơn thuần cá nhân với Trời, mà còn tỏa ra cùng cả và thiên hạ! Đức Mẹ Maria là một đề tài thường gặp trên con đường khổ nạn của Hàn Mặc Tử:

"Đây rồi! Đây rồi! Chuỗi ngọc vàng kinh
Thơ cầu nguyện là thơ quân-tử ý
... Maria! Linh-hồn tôi ớn lạnh,
Run như run thần-tử thấy long-nhan,
Run như run hơi thở chạm tơ vàng...
Nhưng lòng vẫn thấm-nhuần ơn trìu-mến.
Lạy Bà là Đấng tinh tuyền thánh vẹn
Giàu nhânđdức, giàu muôn hộc từ-bi,
Cho tôi dâng lời cảm-tạ phò nguy
Cơn lâm-lụy vừa trải qua dưới thế.

(...) Phượng Trì! Phượng Trì! Phượng Trì! Phượng Trì!
Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu,
Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu
Trên triều-thiên ngời chói vạn hào-quang? "
(Ave Maria)

Hàn Mặc Tử sử dụng ngôn-ngữ đến tài tình lạ lẫm, tính nhạc phong phú, nhất là ở những bài đạo :

"Trí rất ngợp bởi chưng xuân hồn hậu
Đã ra đời theo lịnh của Ngôi Hai
Ôi thánh tai, thánh tai và thánh tai!
Cả trời bỗng nổi lên muôn điệu nhạc
Rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác
Rất phương phi trên hết cả anh hoa

Xuân ra đời!
Điềm ngọc ấm như ngà,
Thơ có tuổi và chiêm bao có tích"
(Ra đời)

Nhà thơ Quách Thoại (1929-1957) bệnh tật, mệnh yểu, hy vọng rồi tuyệt vọng, nhưng đức tin vững mạnh, giúp chống chọi với gian nguy. Từng yêu vô vọng vì Như Băng người "em hồn ngưỡng vọng Chúa Trời" nên "trong tình em" cũng là "trong tim Chúa Giêsu", đành

"viết lời thơ thành lời kinh kêu gọi
Nào vơi chi sầu hận của nhân gian
Như-Băng em, xin ngó nẻo thiên đàng
Để nguy hiểm ta sống đời địa ngục
Ta chỉ sợ rồi đây nơi nhà phúc
Máu tai ương sẽ vấy tấm thân em",

Và đành chỉ xin
"Mà hôm nay ta khóc lạy than rằng
Xin chầm chậm hoàng hôn đừng vội lặn
Ôi, đau thương loài người xin hữu hạn"
(Như Băng trường tình).

Nhưng chỉ là mộng ước, vì chiều tận thế đang chực chờ:

(...) Đau thương, đau thương dường vô kể
Liệu loài người sẽ quyết định chi đây
Văn minh rồi nguy hiểm nắm trong tay
Tưởng hy vọng ngờ đâu thành tuyệt vọng
Không! Không! tôi vẫn hãy còn trông ngóng

Chúa Trời! - Chúa Trời! - Chúa Trời! - Chúa Trời!

Cả cuộc đời không lẽ chỉ trò chơi
Ôi! ma quỷ và Thánh Thần lẫn lộn
Sáng hôm nay chiều hoang sơ hỗn độn
Đã gặp nhau cùng trong một buổi ngày
Người ra đời bèn bị chặt hai tay

Không ôm kịp lấy đầu hay trí óc
Kể vào đâu những lời than tiếng khóc
Một quả bom chỉ vài quả bom thôi
Ôi thôi rồi chủ nghĩa với xa xôi
Chỉ minh chứng một lời kinh Thánh nói
Chiều tận thế tưởng chừng như réo gọi
Rùng mình thay cho thảm cảnh cuối cùng
Rùng mình thay cho cái phút lâm chung
Ôi! mệnh hệ ai ngờ đâu mệnh hệ
Loài người nay trần truồng không Thượng Đế
Dắt nhau đi trong tiến bộ diệu kỳ
Ngày tàn rồi bóng tối đến lâm ly
Đêm u khổ vào cuộc đời tội lỗi
Đêm đã đến chiều nhân gian hấp hối
Ánh sáng ơi! khao khát đến vô cùng"
(Chiều tận thế) (17).

Phạm Đình Tân (1913-) thành viên Tinh Việt Văn Đàn, tác-giả tập Tiếng Thầm-Lời Thiêng (tựa của Thế Lữ, 1952, tb 1960):

"Đau Đớn là Đường lên Ánh sáng!
(...) Tự thuở nào, Người trụt xuống trần gian,
Tổ tiên xưa con cháu cả nhân hoàn,
Vì một tội mà trầm luân muôn kiếp.

(...) Đau đớn là đường lên Ánh sáng!
Chúa hiến mình làm bia bắn của Đau thương.
Tay nâng niu ôm ấp mối sầu trường,
Tim khắc khoải trong muôn nghìn cay đắng, ...
(Đau Đớn) (18)

LM Vũ Đức Trinh (1922-1964): Các tập thơ Ánh Vàng 1956, Hương Thiêng 1956, Đuốc Trời Cao, Thục Nữ Thiên Hương, Bảo Tàng Ân Ái, Những Quả Tim Non, Mấy Áng Phong Dao (dịch sang Anh ngữ, 1957). Thơ ông mang âm hưởng thời đại thập niên 1950 là những vần tươi sáng, vui mầng, nhất là những bài "phong dao":

"Ánh trăng lộng lẫy, tưng bừng.
Bao loài dương thế đón mừng ánh trăng!
Trời còn yêu đất hay chăng ? ...
Đất thì một dạ khăng khăng yêu trời".

Thơ đạo ở ông cũng vậy, giọng thành kính nhưng chứa đầy tin yêu:

"Chiều xế bóng, chim ngàn tung khắp nẻo;
Các tầng mây xếp núi rộn chân trời;
Ánh hoe vàng lưu luyến chỗ xa khơi,
Trông tô điểm ngọn cây và đỉnh tháp.
... Chuông hổn hển, ngập ngừng, xong vội vã
Thúc tiếng lòng khiêm tốn nảy lên cao,
Cầu Chúa thương, Chúa đổ trận mưa rào,
Mong tắm rửa muôn hồn vương tội lỗi.
Cung oanh liệt cất vang, chào buổi tối,

Lên trăng ngà, rung chuyển ánh xinh tươi ..." (Chuông cầu nguyện) (19)

Xuân Ly Băng (Đức Ông JB Lê Xuân Hoa 1926-) tác-giả Thơ Kinh 1956, Hương Kinh 1957, Trầm Tư, Kinh Trong Thời Gian, .., đã thường xuyên có mặt trên các tạp chí công giáo từ thập niên 1950. Thơ Xuân Ly Băng ca tụng Thiên Chúa, Đức Mẹ, cuộc đời, với lý lẽ của cảm xúc, đức tin và chữ dùng nhẹ nhàng dễ đi vào lòng người. Tha thiết như những lời kêu gọi, như một đáp trả ơn trên:

"Hồn ơi!

Thắp lên hai hàng bạch lạp
Vạn nén trầm hương / Cho ta ca hát / Bài ca yêu thương.

(...) Hồn ơi! / Hay chim ơi!

Tung cao lên, cao vút đến tận trời
Nhạc say sưa trong lòng chim kính mến
Cho âm thanh đến muôn đời tuyền vẹn
Khúc trường ca tình ái diệu huyền thay...

(...) Nghĩa yêu thương ai giăng bủa khắp trời mây?" (Tỏ tình)

Trăng Thập Tự (LM Võ Tá Khánh, 1947-) tác-giả Tâm Tình Tu Viện (1969), Điệu Buồn Học Trò (1971), Có Ai Về Cát Minh (tuyển tập Thơ 1963-2004), v.v... Qua thơ, Trăng Thập Tự đã để hồn mình nhập vào Thánh Kinh, cầu nguyện với lời thánh thiện, diễn tả sự vật và biểu hiện tâm cảm qua lăng kính của Đức Tin. Trong bài dẫn nhập tuyển tập Có Ai Về Cát Minh, Trăng Thập Tự đã cho biết về bút hiệu: "Trăng tượng trưng cho nghệ thuật, thập tự tượng trưng cho đời ta. Một bên tròn một bên vuông, tưởng chừng không sao hòa hợp được, thế nhưng khi Đức Giêsu gục đầu trên cây giá gỗ ấy thì quanh đầu Ngài tỏa ra một vòng hào quang... ". Như vậy tuyên ngôn thi ca của Trăng Thập Tự đặt nền tảng trên Thánh Kinh và với ông, có giằng co giữa nghệ thuật và đời tu: "Sau bốn mươi năm nhìn lại, con thấy biểu tượng trăng trong thơ con cũng có nhiều thay đổi, có lẽ phần nào cũng nói lên được sự gặp gỡ ngày càng sâu đậm giữa hai đối cực. Thoạt đầu, nghệ thuật dường như chỉ thuần là một cám dỗ có nguy cơ đe doạ đời thánh hiến"(20).

"Nàng trăng hỡi thôi đừng trêu ghẹo nữa,
Kẻ tu hành xin khẩn khoản van lơn".

Thế nhưng rồi một lúc nào đó, trăng đã thành biểu tượng của tình thương Thiên Chúa, như tấm bánh thánh bẻ ra:

"Trăng bẻ làm đôi tấm bánh đời,
Nghe tình dìu dặt, tứ chơi vơi...".
Và hơn nữa, trăng lại cũng là chính Chúa Kitô:

"Con trăng chết rũ bêu cành
Sáng nay nó dậy hoá thành Vầng Dương.
Con trăng máu nhỏ dọc đường,
Sáng nay đơm huệ kết hường lắm hoa.
Rồi trăng cũng là chính bản thân người đầy tớ Chúa".

Như ở cuối bài Êlia suy niệm về sứ mạng của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II :

"Con ngoảnh lại mé đồi ngó thử
Con thỏ bạch quỳ dưới chân thập tự
Hoà ánh trăng vào ánh bình minh".

Nguyễn Tầm Thường (LM Giuse Nguyễn Trọng Tước, 1951-): Tình thơ thập giá, Mùa hoa trên thánh giá gỗ, Nước mắt và hạnh phúc, Chúa biết con cần Chúa, Đường về thượng trí, v.v. Trích đoạn về lời tận hiến:

"... Yêsu ơi Yêsu

Trong nắng thu vàng gió
Với đôi bờ vai nhỏ
Với tóc mây sầu thơ
Con xin dâng Chúa đó
Ân tình lễ yêu thương
Con xin chọn khổ giá
Thay nhẫn cưới gối hoa
Con xin chọn khổ giá
Thay chén ngà rượu quý
Con xin chọn khổ giá
Bằng cả mười ngón tay (...).
(Gởi Chúa Giêsu).

Hay tâm sự với Chúa:

" ... Rừng âm u quán trọ con một mình
Con thắc mắc nhưng không lời đáp trả
Chúa như chết, chết thật trên thập giá
Chiều âm thầm trĩu nặng một niềm thương
Nếu tiếp tục lên đường về thượng trí
Đường thì dài mà lắm quãng hồ nghi
Lắm mưa mùa sa mù nẻo tương lai
Vó ngựa này có cuồng say mãi mãi
Nhưng bỏ thầy đời con biết theo ai
Con hỏi nhỏ nghe lòng hiu quạnh quá
Đường siêu bạo ôi đường về thập giá
Chúa chẳng nhìn chẳng nói chỉ lặng thinh
Trong cô đơn con tự hỏi lòng mình
Tình chỉ đẹp khi âm thầm đau khổ
Giang tay mãi trên gác lầu chuông gỗ
Như thập giá nhện giăng phủ mặt mày
Quán trọ buồn con mỏi mệt chiều nay
Ngựa lững thững chán chường từng bước nhỏ
Thấy trước mặt một đường đời lộng gió
Con u hoài nghi ngại quá Chúa ơi"
(Chiều Bên Quán Trọ)
*

Bên cạnh các thi nhân khoác áo tu là những giáo dân sống đạo với thơ. Lệ Khánh (1945-), một nhà thơ nổi tiếng thời văn-học miền Nam trước 1975, đã xuất bản 7 tập Em Là Gái Trời Bắt Xấu (1963-), ngoài ra còn những tập Vòng Tay Nào Cho Em 1966, Nói Với Người Yêu 1966. Bà đã có những bài hướng về Thiên Chúa:

"Ngày xưa xin Chúa một điều:
Chúng con mong nhận thật nhiều tình nhau.
Cứ gì pháo đỏ trầu cau,
Mới nên nghĩa nặng tình sâu cả đời.
Chỉ xin được Chúa nhậm lời,
Chúng con thề sẽ suốt đời yêu nhau.
Nhưng rồi Chúa ở trên cao,
Lời thề ai đã bay vào hư không."
(Nguyện cầu)

"Con ngợi ca Thiên Chúa đến vô cùng
Vinh danh Chúa không bao giờ sao lãng
Dù núi Sọ gập ghềnh con chẳng quản
Nguyện một lòng thờ lạy Chúa toàn năng".
(Ngợi ca Chúa, 1991)


Thơ Trần Vạn Giã có lời dâng, lời cầu, với Thiên Chúa:

"Chúa ơi trong đời tạm này
Con như một chiếc lá bay xuống đường
Trải qua gành thác, tai ương
Trải qua bao nỗi đoạn trường, trải qua
Lời dâng trong bản Thánh ca
Sông còn có khúc huống là đời con
Dù cho nước chảy đá mòn
Tình yêu Thiên Chúa vẫn còn trong thơ
Mai sau cũng như bây giờ
Cầu xin con tới được bờ tình yêu"
(Lời dâng, 1959)

Thơ Cao Huy Hoàng (1956-) là thơ của một đức tin vật lộn với thực tế đời thường, thơ của những ơn gọi sống thánh thiện giữa lòng đời ô trọc nhiều thử thách:

"Bụi hồng còn vướng gót chân
Dẫu là hơi thở có ngần ấy thôi
Người về hỏi lại lòng ơi
Còn bao mộng ước cuộc đời phù du?
Trái tim chưa thoát ngục tù
Vòng vây gai kẽm: khúc ru dịu dàng?
Thời gian mây nắng chia tan
Kiếp người một thoáng võ vàng tàn vong
Bên kia cơn lốc bụi hồng
Có không một cõi phiêu bồng thiên thu
Hay chăng tiếng búa tình thù
Đóng đinh tội trộm xác phu thê người
Người về khẻ gọi lòng ơi
Trời ơi lòng đã qua đời từ lâu
Cõi lòng rữa dưới vực sâu
Trần truồng nhoi nhúc giữa lầu nguyệt hoa
Bên đời âm động thu ba
Vỡ tràn thành tiếng rên la nghìn trùng
Xót mình bất tín bất trung
Vực sâu thăm thẳm mịt mùng thương đau
Ngữa tay xin tiếng kinh cầu...
(Ngữa tay xin tiếng kinh cầu)
*

Về văn xuôi, tính chất đạo nhẹ nhàng hơn về tính nghệ thuật, văn-chương, nhưng biểu tỏ hoặc qua nội dung hoặc qua thành quả đóng góp cho văn học, học thuật nói chung. Hãy đọc văn Bento Thiện và GM Hồ Ngọc Cẩn để biết văn phong, bút pháp và chữ dùng thời các ngài. Văn Bento Thiện của thời 1659:

"... Cả và thiên hạ năm mươi mốt phủ, một trăm bẩy mươi hai huyện, bốn mươi tám chu, bẩy nghĩa chia trăm tám mươi bẩy xã. Nước Annam đi bề dọc từ Kẻ Quảng cho giáp cõi Đại Minh, đi bộ năm mươi ngày. Bên ngang từ biển đến rừng đi hai mươi ngày.

Thói nước, trong nhà thì thờ Tiên sư, là dạy học các nghề nghiệp gì, thì có Tiên sư thay thảy.

Bếp thì thờ Táo quân, gọi là Vua bếp. Nó lấy chồng trước thì sa vào lửa mà chết, nó lại lấy chồng sau mà lòng còn thương nghĩa chồng trước, thì chồng sau đi xem nơi lỗ xưa, thì mình cũng sa xuống mà chết. Chồng sau thấy vợ chết, thì cũng gieo mình xuống mà chết, thì ba người vào một lỗ ấy; thì người ta nói bày đặt rằng: ấy là Vua bếp, thì phải cậy cho làm mọi việc nên ..."(21) .

GM Hồ Ngọc Cẩn qua bài Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo: "Đấng Tạo hóa cho con người một thiên cơ xảo gài máy nhơn tâm, ấy là cái lưỡi mềm giữa hàm răng cứng. Tính coi một miếng thịt ngó chẳng bao lăm mà mấy hòn cân nhấc lên cũng không nổi. Ngó trùi trùi không mài ma sát, biết bao nhiêu mạng cũng chém như không. Coi nhỏ nhỏ tưởng vắn mà dài, dẫu mấy dặm đàng phóng đưa cũng thấu. Nằm núp cửa hang chật hẹp, hai hàng cừ đóng tựa thảo lang; ngo ngoe một chỗ tối mù, liếc dao găm độc hơn vuốt hổ. Bởi vậy thiên hạ có ca rằng: Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo. Đường tắc đường rì, đường bát đường cạy, đường Nam Bắc Đông Tây, đường thượng hạ tả hữu, thì lưỡi cũng uốn theo được hết, nghĩa là uốn xuôi cũng được, uốn ngược cũng xong, uốn dữ cũng lanh, uốn lành cũng lạ.

"Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo
Khen ngạn đời đã khéo ngâm nga,

Gẫm coi quanh khắp sơn hà...
Không chi lắt léo cho qua miệng người.
Khoanh mình giấu ẩn một nơi,
Giết người có thủa, bán trời đòi phen

Dầu chua ngọt, dầu trắng đen,
Ngược suôi tự tại, chê khen cũng mình.
Nhớ lời Tuân Tử đinh ninh:
Gươm chém dễ lành, lưỡi cắt khó tiêu.

Khuyên người nghe luận mấy điều,
Kíp lo sửa lưỡi, chớ liều uổng oan.
Nhớ câu: bế khẩu thâm tàng,
Mình đà khỏi rối, người vàng được yên (22).

Chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu khi phê bình văn thơ ngài, nhất là bài Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo, đã kết rằng: "Thật là một lối văn chém sắt chặt đanh vậy".

Nhưng văn xuôi tiểu thuyết thì Nguyễn Trọng Quản là tác-giả đầu tiên theo ảnh hưởng Âu Tây Thầy Lazarô Phiền trong đó ý tưởng đức tin đạo Thiên Chúa cùng những ý niệm sám hối, ăn năn. Truyện Thầy Lazarô Phiền cho thấy tác giả chịu nhiều ảnh hưởng của tiểu thuyết Âu tây, kể cả cách diễn tả tiếng Việt. Nội dung phân tích tâm lý, tả đời sống nội tâm, sự hối hận - một loại tiểu thuyết tâm lý. Kỹ thuật kết cấu và thắt mở câu chuyện lúc đó hãy còn xa lạ với người đọc. Các nhân vật lại chỉ là những người thường mà không phải là những anh hùng liệt nữ. Tác giả tin tưởng và đề cao một số lý tưởng văn hóa đạo đức căn bản của thời đại, tin ở một trật tự và tin ở lương tâm con người. Truyện được mở đầu như sau:

" Ai xuống Bà-rịa, mà có đi ngang qua đất thánh ở trong Cát tại làng Phước-lễ, thì tôi xin bước vô đất thánh ấy, kiếm cái mồ có cây thánh giá bằng ván, sơn nửa đen nửa trắng, gần một bên nhà thờ những kẻ Tử-đạo mà thăm mồ ấy kẻo tội nghiệp! Vì đã hai năm nay không ai thăm viếng, không ai màng ngó tới.

"Mồ đó là mồ một thầy đã chịu lương tâm mình cắn rứt đã mười năm, bây giờ mới đặng nằm an nơi ấy. (...) Tôi có bịnh tức đã hai năm nay; song tôi tưởng đi cũng vô ích, vì tôi biết tôi không còn sống đặng hơn nửa tháng nữa đâu." Tôi nghe lời ấy, thì tôi nói rằng: "Xin thầy đừng nói làm vậy. Chúa lòng lành vô cùng người thường làm phép lạ hoài, nên thầy đừng có ngã lòng nản chí, ít ngày đây thầy sẽ lành." Thầy tu ấy lắc đầu mà nói rằng: "Thầy ôi ! Phải thầy biết tội tôi thì thầy không muốn cho tôi sống làm chi..." Nói chưa dức lời thầy lấy tay che mặt mà khóc ròng. Tôi thấy vậy mới nói cùng thầy rằng: Dầu mà tội thầy nặng thể nào thì Chúa cũng đã tha cho thầy rồi: vì thầy chịu cực cũng đã đủ cho nên xin thầy chớ muốn chết làm chi, vì thầy còn thuộc về những người phải dạy những kẻ chưa biết đạo Chúa; nên thầy phải sống mà đem những kẻ ấy vào đàng ngay." Thầy tu nghe tôi nói như vậy mới cất đầu lên chùi nước mắt mà nhìn tôi ...".

Văn bản tiểu-thuyết văn xuôi đầu tiên bằng chữ quốc-ngữ này kể một câu chuyện tình tiết tâm lý éo le nhưng lại được đặt trong khung cảnh nhà tu và đất thánh nơi có "nhà thờ những kẻ Tử-đạo tại Bàrịa là nhà thờ nhỏ cất nơi mồ chôn xương những kẻ chịu đốt tại Bàrịa. Trong nhà thờ ấy, ở giữa có một cái mồ nơi đầu mồ có một cái bàn thờ, nơi mồ ấy thì có sáu câu như vầy:

Ba trăm bổn đạo xác nằm đây
Những trông sống lại hưởng phước đầy

Vì chúa tù lao dư ba tháng,
Cam lòng chịu đốt chết chỗ nầy,
Lập mồ táng chung vào một huyệt,
Giáo nhơn coi đó nhớ hằng ngày",

Với những nhân vật nhà tu và ngôn-ngữ liên hệ do đó có thể đã bị tưởng là chuyện nhà thờ. Tiếng Việt bị gán là tiếng "nhà thờ" đó thực ra là tiếng Việt của thời đó! Chính Phan Khôi, một trí thức không công giáo khi làm báo (Thần Chung, Phụ Nữ Tân Văn, v.v.) và dịch kinh sách hội Tin lành ở Sài-Gòn, đã hơn một lần quả quyết nhận xét rằng "Chữ quốc ngữ hồi đầu chỉ có tín đồ đạo Thiên Chúa dùng mà thôi. Họ lấy nó mà dịch kinh, dịch sách rồi đem dạy trong các nhà trường của họ. Sự đó suốt từ Bắc chí Nam như nhau, không khác. Nghĩa là trong dân Annam thì người có đạo Thiên Chúa dùng chữ quốc ngữ trước hết thảy. Mà họ lại dùng theo y một lối; Bắc phải theo sự đúng của Nam, Nam phải theo sự đúng của Bắc, từ đó cho đến bây giờ. ... Tôi muốn nói xứ Nam Kỳ là thầy dạy chữ quốc ngữ cho cả và dân Annam cũng không phải là quá đáng... Mà là thầy thiệt. Hồi đó có hai ông đại sư về quốc ngữ, là ông Trương Vĩnh Ký và ông Paulus Của, tức là Huỳnh Tịnh Trai. Vì mỗi ông có làm ra một bộ tự vị tiếng Annam. Các ông cũng là học trường bên Đạo mà ra, cho nên các ông viết chữ quốc ngữ y như người bên Đạo, nghĩa là viết đúng"(23) .

Phan Khôi cũng đã có lần chứng minh "Kinh thánh có quan hệ với văn-học ngày nay", và khuyên "văn quốc ngữ ta cũng nên dùng chữ Kinh thánh vào. Làm như vậy thì tiếng mình được dồi dào thêm, chớ có hại gì đâu ..." (24).

trong lúc ngoài xã hội vẫn ?ang thống trị văn vần hay văn xuôi biền ngẫu chứa ?ầy ?iển tích thì ở ?ây ra ?ời một thứ văn xuôi ?ơn sơ, dễ dãi gồm những lời ăn tiếng nói hàng ngày, ít chữ Hán, ít ?iển tích; trong lúc ngoài xã hội vẫn ?ang thống trị tuồng hát như tuồng chèo với tính ước lệ rất cao thì ở ?ây ra ?ời thứ tuồng nói nôm na dễ hiểu. ?ây là những ?ột phá ?ê? về sau cho ra ?ời những thể loại chủ ?ạo của văn học Việt Nam hiện ?ại hóa như văn xuôi, tiểu thuyết, kịch nói. Tuy văn học Ki tô giáo không có kiệt tác, nhưng ?ã ?ưa ra tư tưởng mới, thể loại mới, công cụ diễn ?ạt mới mở ?ầu cho nền văn học quốc ngữ ?ầu tiên ở Nam bộ, sau ?ó trên cả nước.
Nay xin xét qua một số tác-giả công giáo thời hiện đại. Thụy An Hoàng Dân trong Một Linh Hồn (1940) kể chuyện tình yêu rất đẹp nhưng đổ vỡ vì ngang trái gia đình, vì đạo đức thanh giáo (mẹ cô gái sống nghề bị xã-hội xem là xấu xa), đưa đến cái chết của cô gái và cuộc sống còn lại của người nam trong hối hận ăn năn phải tìm đến nhà Chúa. Hoàn cảnh khác nhưng cùng chủ đề sám hối như Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản thế ký XIX.

Nguyễn Thạch Kiên (1926-2007) tên thật Nguyễn Văn Khánh, tác-giả các tiểu-thuyết lý tưởng Hương Lan (1947), Màu Hoa Phượng (đăng báo Thời Luận, 1956, xb1959, lồng trong hoạt động đảng phái cho lý tưởng quốc gia), Mái Tóc Huyền (1970), và gần đây, ở ngoài nước, tập hồi ức tình cảm xã-hội Búp Xuân Đầu (2004). Trích dẫn một bài thơ, bài Chim Trắng:

Hỡi sứ giả người từ đâu bay lại
Mộng nõn nà trên đôi cánh êm tơ
Vừa trông ngươi cả lòng ta điên dại
Vượt tươi lên như thuở nhỏ trăng thơ

Đời ta lạnh đã nhờ ngươi ấm lại
Hào quang trong chiếu rạng trán ươn hèn
Đường xa thẳm những chiều đau thất bại
Đã quên vì linh cảm bóng đêm đen.

Hỡi chim trắng mông triều thiên sáng chói
Dừng nơi đâu giòng đất mung lung
Đây trần gian nhớp nhơ đời tăm tối
Ngàn năm còn vương chuyển ánh sao rung.

Sao vương mắc như rừng chiều hối lỗi
Ngửng nhìn lên non nước tuyệt mù xa
Buồn thăm thẳm trông về bao giông tố
Lệ nhân lành thương cảm bỗng tuôn ra.

Hỡi chim trắng vội bay về nước biếc
Bãi trần qua vừa một thoáng mong manh
Ta còn đứng suy tìm bao luyến tiếc
Xót sa chiều nắng quái áo phai xanh.

Nguyễn Duy Diễn (1920-1965) ký bút hiệu Phương Khanh (1953), tác-giả Những Ngày Đẫm Máu là cuốn tiểu thuyết đầu tiên về các Thánh Tử đạo Việt Nam. LM Petrus Vũ Đình Trác đã là tác-giả của tiểu-thuyết lý tưởng Đời Anh (1959) và tập thơ Đắc Đạo Thi Nhân (1960) trước khi xuất bản những tham luận triết học và văn-hóa. Phạm Đình Tân ngoài thơ và khảo cứu, còn là tác-giả truyện Duy Đức học-sinh trinh-thám, tiểu thuyết giáo dục (Văn Đàn, 1966). LM Nguyễn Duy Tôn tác-giả các tiểu-thuyết tôn giáo và tình cảm Trái Cam Máu 1959, Hai Tâm Hồn 1959, v.v.

Bùi Hoàng Thư tác-giả nhiều tiểu-thuyết tình cảm, xã-hội vào thập niên 1960 ở miền Nam : Sống Cho Nhau, Ảo Ảnh, Nàng, v.v. Nhân vật ông trẻ, sống vội. Trong khi đó, nhà văn Thảo Trường để các nhân vật của mình dấn thân sống đạo giữa đời, ngay cả trên bãi chiến trường, với những Thử Lửa (1962), Chạy Trốn (1965), Người Đàn Bà Mang Thai Trên Kinh Đồng Tháp (1966), Vuốt Mắt (1969), Th. Trâm (1969), Bên Trong (1969), Ngọn Đèn (1970), Mé Nước (1971), Cánh Đồng Đã Mất (1971), Bên Đường Rầy Xe Lửa (1971), Người Khách Lạ Trên Quê Hương (1972), Lá Xanh (1972), Cát (1974) và sau khi ông tái định cư ở Hoa-kỳ năm 1993, đã xuất-bản Tiếng Thì Thầm Trong Bụi Tre Gai (1995), Đá Mục (1998), Tầm Xa Cũ Bắn Hiệu Quả (1999), Mây Trôi (2002), Miểng (2005) và mới nhất, cuốn truyện dài Thềm Đá Xanh Rêu (2007) - trong các tác-phẩm mới này, đời sống tâm linh được chú tâm hơn và một cái nhìn khác về sống đạo ở đất người (Hoa-kỳ).

Hà Thúc Sinh ngoài thơ, nhạc, còn là tác-giả Đại Học Máu (1985) hồi ký tù 'cải tạo' nổi tiếng về tính văn chương và nhiều truyện dài ngắn cũng như tuyển tập truyện, kịch và thơ Tống Biệt Hai Mươi (1999), ... Quyên Di chủ biên tạp chí Tuổi Hoa và tác-giả nhiều truyện và tiểu-thuyết giáo dục, hướng thượng từ trước 1975: Tuổi Trăng Tròn, Cánh Phượng Rơi, Tuổi Ươm Mơ, Chuông Đêm, ... cho đến thời hải ngoại Hoa Hồng Nhà Kín (1995).

Đường Phượng Bay một thời nổi ở ngoài nước với các tiểu-thuyết tình cảm xảy ra ở các họ đạo và các nhân vật chính thuộc giới tu hành: Mây Vẫn Nhớ Ngàn (1984), Yêu Màu Áo Đen 1989, Qua Cửa Thần Phù 1989, Tạm Biệt Rừng Hoa (1990). Mây Vẫn Nhớ Ngàn còn đựợc biết với tựa đề Vì Tôi Là Linh Mục, là một chuyện tình đẹp nhưng buồn thảm của Cha Thảo và cô Nga. Đoạn kết : "... Thảo bỗng ngước lên tháp ngôi nhà nguyện phía bên phải, cây thập giá gỗ sơn trắng vươn lên bầu trời mờ đục tự nhiên làm chàng lóa cả mắt. Ô hay, sao hôm nay bóng cây thập tự lại hùng vĩ khác thường thế kia! Thảo mở to đôi mắt: Không, vẫn là cây gỗ mọi ngày. Nhưng sao giờ đây như đang phóng ra những luồng điện siêu tần làm rúng động đầu óc chàng thế này? Chàng bỗng thấy rõ ràng tinh thần trở nên sảng khoái tươi tỉnh, như vừa giật mình thức giấc sau một cơn mê loạn đắm chìm. Giác quan chàng tự nhiên thông suốt, như cảm, như thấy, như nghe được tiếng nói dịu dàng của cả sỏi cát, cỏ cây. Chàng hít một hơi dài để làn khi mát nhập đầy buồng phổi khiến toàn thân bỗng thấy nhẹ lâng lâng. Gió sớm mai như bất ngờ tấu lên những nốt nhạc trầm bổng réo rắt gọi mời. Khoảng không gian như đầm ấm lạ lùng, mặc dù mặt trời còn e ấp chưa ló dạng. Đây rồi, bóng đêm phải nhường chỗ cho một ngày mới rạng sáng sắp sửa khởi đầu. Mau tan đi những uẩn khúc tăm tối để đón chào nét diệu kỳ của nguồn hoan lạc từ Trên Cao. Đăm đăm nhìn lên bóng thập tự, Thảo thấy một thoáng như xuất thần. Như một bàn tay vô hình đang nhấc kéo. Như một nụ cười vừa nồng nàn mời đón và cũng như một giọng nói thiết tha khích lệ. Phải rồi, câu giải đáp của vấn đề là đây. Vươn lên đi ...

... Vui lên Nga ạ. Đời mình đâu chỉ là điêu tàn hoang phế và hạnh phúc mình nào mãi tan vỡ hư hao! Chúng mình đã biết tình yêu không thể trung lập, nên Nga và tôi cũng chấp nhận như đã được tiền định sẽ không thể sống bên nhau.

Hôm nay tôi lại ra đi vì tôi vẫn luôn là một linh mục".

Yêu Màu Áo Đen khởi đầu bằng chuyện tình thường của một nam một nữ và kết thúc bằng con đường hiến thân của người nam nay là cha Hoàng và nữ nay là sơ Têrêsa Quế Thanh.

Nguyễn Ngọc Ngạn trong Xóm Đạo (Tokyo: Tân Văn, 1998) nêu vấn đề tôn giáo ở xã-hội Việt-Nam, đã trình bày đời sống và các sinh hoạt của những người công giáo ở một xóm đạo di cư sau 1954 ở miền Nam, vai trò của các chủ chăn, những liên hệ giưã các giáo dân và với người bên lương, tình yêu và ngăn trở giữa những người trẻ không đồng đạo, v.v.
*

Thánh Kinh từ nhiều thế kỷ đã là nguồn mạch văn hóa và văn chương của nhân loại. Các tác-giả Việt Nam về mặt này cũng không ra ngoài nguồn mạch vô tận đó. Đức Ki Tô, những sứ điệp, Tin Mừng, mầu nhiệm, các nhân vật Cựu Ước, Tân Ước .., đã là những tứ thơ văn và đề tài quen thuộc.

Các thể loại đều được các tác-giả công giáo sử dụng, và đã có những tác-phẩm sáng giá, để đời, nhưng ngược lại, đối với một số thì các hình thức văn-chương được sử dụng như phương tiện sống đạo và giảng đạo. Các truyện ngắn, tùy bút và thơ của linh-mục Nguyễn Tầm Thường, Nguyễn Trung Tây, v.v. là những thể hiện khác của những bài giảng hay suy niệm, tĩnh tâm. Về thể loại, nguồn Đạo tỏ rõ hơn qua thi ca vì kỹ thuật thơ giúp thể hiện, trình biểu.

Các tác-giả văn-học công giáo Việt-Nam ít nhiều đã đụng đến ý nghĩa cuối cùng của đời người trần thế, và đa số họ nói đến đời sống hôm nay của người công giáo như là một người Việt-Nam, một thành phần của dân-tộc. Tư tưởng đạo Thiên Chúa, tư duy đạo, đã thật sự thấm nhuần vào văn-hóa và văn-học nghệ thuật nước ta. Và đã sinh ra một truyền thống văn-học có nền nếp và hiển nhiên trong thực tế lịch-sử và đất nước. Nguồn Đạo tỏ rõ hơn qua thi ca. Một hội nhập đức tin và văn-hóa cội nguồn Việt-Nam phát sinh hoa trái nghệ thuật. Trong Thi Nhân Việt Nam, nhà phê bình Hoài Thanh đã công nhận tài năng và vai trò chứng nhân đức tin Công giáo của Hàn Mặc Tử đã nhập thể trong dòng sống chung của một dân tộc. "Với Hàn Mặc Tử, Chúa gần lắm ... Thơ Hàn Mặc Tử ra đời, điều ấy chứng rằng đạo Thiên Chúa ở xứ này đã tạo ra một cái không khí có thể kết tinh lại thành thơ. Tôi tin rằng chỉ những tình cảm có thể diễn ra thơ mới thiệt là những tình cảm đã thấm tận đáy hồn đoàn thể" (25) .

Một đặc điểm của công giáo: trong khi tam giáo Khổng-Phật-Lão từ khi được đưa vào Việt-Nam, kinh sách đã chỉ bằng chữ Hán, một ngăn trở hiểu biết cho tín đồ bình dân. Trong khi đó, người công giáo, thừa sai ngoại quốc cũng như thầy giảng và tín đồ người Việt, đã bắt đầu trước tác, ghi chép với chữ Nôm (rất ít chữ Hán) và đã rất sớm phiên âm ngôn-ngữ Việt ra chữ alphabet cũng như tiếp đó đã chú tâm phiên dịch ra chữ Nôm và chữ quốc-ngữ Kinh thánh và các kinh sách khác.

Nói chung, các nhà nghiên cứu về văn-học công giáo Việt-Nam cũng như chúng tôi qua bài này, đã đồng thuận rằng người công giáo, tu sĩ cũng như giáo dân, trí thức cũng như các nhà văn thơ, đã sống chung thuận hảo với tập thể cộng đồng dân-tộc. Hơn thế nữa, trước khi là người công giáo, họ đã là người Việt, và khi đã chịu các phép bí tích làm người đạo Chúa, họ đồng thời là những con người Việt-Nam đúng nghĩa. Sự thực đó thể hiện qua những trang văn thơ và qua các nỗ lực thực thi văn-hóa. Người Việt-Nam đã theo đạo Chúa trước khi thực dân Pháp đặt chân đến nước Việt, trước khi Hội thừa sai Paris gửi người đến; người Việt đã góp phần "sáng tác" nên thứ chữ Việt alphabet về sau được gọi là chử quốc-ngữ trước khi guồng máy hành chính đô hộ của người Pháp ra nghị định và chỉ thị sử dụng chữ quốc-ngữ đó. Những ngộ nhận về người công giáo Việt-Nam từ khi thực dân Pháp đặt nền đô hộ miền lục tỉnh Nam-kỳ lan ra bảo hộ Trung và Bắc, do những người chống Pháp (như Văn Thân, cộng-sản) hoặc chống người Công giáo ngay trong những năm gần đây cũng có, mà do cả chính những người công giáo vì một lẽ gì đó, vì nhu cầu nghiên cứu lịch-sử, văn-hóa, đặt giả thuyết chẳng hạn, khiến những ngộ nhận đã ngày càng nặng nề dù bên cạnh đã có những hiểu biết chân chính và thật sự. Giáo sư Nguyễn Văn Trung trong tập tài liệu Vấn Đề Công Giáo Đặt Cho Dân Tộc (1988) đã hết lòng chứng minh chống lại cái "thiên kiến hần như đã trở thành chân lý là người công giáo Việt-Nam liên hệ với thực dân đế quốc và lai căng về văn-hóa", thành kiến mà chính một số người công giáo (trong đó có giáo sư thời trước 1975) đã nhìn nhận và từ đó tìm trở về dân-tộc (như nhóm Đối Diện, Lý Chánh Trung, Nguyễn Ngọc Lan, v.v.). Trong chiều hướng thời thượng đó, trong Chữ Văn Quốc Ngữ Thời Kỳ Đầu Pháp Thuộc (1974), giáo sư Trung đã đưa ra luận điểm bôi đen thành quả đóng góp với dân-tộc, cho rằng việc "sáng lập và sử dụng chữ quốc-ngữ nhằm mục đích cô lập người công giáo Việt-Nam với cộng đồng dân-tộc bằng cách xóa bỏ chữ Nho, chữ Nôm, ..."(26). Ông tiếc việc có những người ngoài công giáo đã trích dẫn những lập luận của ông thời đó. Ông lập lại và chứng minh thêm qua hai biên khảo khác là Đạo Chúa Ở Việt-Nam (1999?) và Dịch Thuật Và Lý Luận Dịch Thuật (2002).

Tóm một chữ, người công giáo Việt-Nam, các giáo dân cũng như các văn-nghệ sĩ, đã và luôn sống đạo với tinh thần dân-tộc; riêng các vị sau đã sáng tác, làm văn-chương và đã thể hiện đức tin một cách chân thành và sâu sắc qua tác-phẩm.
Chú thích:

1. Lịch sử nước Annam, Về văn bản, xem: , trích từ Đỗ Quang Chính. Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ 1620-1659 (Sài Gòn: Ra Khơi, 1972), tr. 107-129. Tuy nhiên dấu vết chữ quốc-ngữ xưa nhất là lá thư đề ngày 12-9-1659 của thầy giảng Igesicô Văn Tín.
2. Georg Schurhammer. " Nền Văn Chương Công giáo về Phanxicô Xaviê tại Việt Nam" ("Annamitisch Xavierus Literatur") in Missioswisenschafliche Studien Aachen (Aix-la-Chapelle: Aacher, 1951, p. 300-314) do Đỗ Văn Anh và Trương Bửu Lâm dịch từ bản tiếng Pháp đăng trong Việt Nam khảo cổ tập san, số 2, Bộ QGGD, Saigon, 1961, tr. 143-171). X.
3. Theo G. Schurhammer, bđd, "Ông viết tất cả 15 tác phẩm bằng tiếng Việt. Ngoài ra, theo lời yêu cầu của các giáo sĩ, ông có soạn truyện bà thánh Maria Mađalêna, và theo lời yêu cầu của rất nhiều người, truyện các thánh Inhatiô đờ Loyola, Phanxicô Xaviê, Dominico và Catarina, tất cả bằng lời thơ hết sức chải chuốt cùng với lòng thành kính lớn lao đến nỗi làm cho các truyện ấy được ưa thích bởi tất cả mọi người trong xứ. Tác phẩm chót của ông là một quyển sách về tuần trai lấy sự ăn chay của Chúa Cứu Thế trong sa mạc làm chủ điểm".
4. G. Schurhammer, bđd: "Năm 1818, ông viết một quyển sách rất dày về tiểu sử thánh Phanxicô Xaviê, năm 1819, tiểu sử của thánh Inhatiô đờ Loyola, năm 1820, tiểu sử của Phanxicô Borgia, năm 1822-23, một bộ lịch sử Việt Nam gồm có hai quyển và cũng trong thời gian này, ông khởi đầu tập ký ức. Năm 1830, lại có một tác phẩm vĩ đại về bà thánh Anna. Đó là tác phẩm cuối cùng của ông".
5. Philiphê Bỉnh (1759-1832), linh-mục Dòng Tên, sống 34 năm 1796-1830 ở Lisbonne, Bồ, tác-giả nhiều văn bản chữ quốc-ngữ về nhiều đề tài, từ lịch-sử đến tôn giáo, xã-hội: Sách Sổ Sang Chép Các Việc 1822 (LM Thanh Lãng giới thiệu, Viện Đại học Đàlạt xb 1968), Truyện nước An-Nam Đàng Ngoài chí Đàng Trão 1827, v.v.
6. Võ Long Tê. "Góp phần nghiên cứu một trong những truyện thơ công giáo đầu tiên viết bằng quốc-ngữ : Inê Tử đạo văn" (Văn-hóa tập san, XVII, 1, 9-1968, tr. 82-101), dẫn lại trong Dẫn Nhập Nghiên Cứu Tiếng Việt và Chữ Quốc Ngữ (Reichstett : Định Hướng Tùng Thư, 1997), tr. 109, 152. Theo LM Petrus Vũ Đình Trác (Công Giáo Việt-Nam Trong Truyền Thống Văn-Hóa Dân-Tộc: biên khảo về văn-hóa giáo dục. Orange, CA : Thời Điểm Công Giáo, 1996, tr. 49), tập Inê Tử đạo văn "được coi như do ngòi bút của thánh Phan Văn Minh".
7. X. Nguyễn Văn Trung. “Vấn Đề Công Giáo Đặt Cho Dân Tộc: tài liệu nội bộ”, 1988. Phần 13.
8. Nguyễn Văn Trung. Tlđd
9. Nguyễn Văn Trung. Tlđd
10.Trích từ trang Internet dunglac.net
11.Chữ dùng của Võ Ngọc Nhã và Lam Giang trong Đặng Đức Tuấn, Tinh Hoa Công Giáo Ái Quốc Việt Nam (dunglac.net).
12. Trích từ trang Internet dunglac.net
13. Nguyễn Vy-Khanh. " Trương Vĩnh Ký sống đạo người Việt". Đặc San Petrus Ký (San Jose CA), Xuân 2005, tr. 5-13.
14. Trần Tuấn Kiệt. Thi Ca Việt Nam Hiện Đại, Quyển I, 1880-1965, Khai Trí 1968.
15. "Quan niệm Thơ" in Chơi Giữa Mùa Trăng (Xuân Thu tb), tr. 34-35.
16. Đặng Tiến. Vũ Trụ Thơ. Sài-gòn : Giao Điểm, 1972.
17. Trích từ Phạm Thanh. Thi Nhân Việt-Nam Hiện Đại (Sài-Gòn: Khai Trí; Xuân Thu tb 1990). Thi phẩm duy nhất, Giữa Lòng Cuộc Đời (1963), xuất bản sau ngày ông mất.
18. Trích từ Phạm Thanh. Sđd.
19. Trích từ Phạm Thanh. Sđd.
20. Trích từ trang Internet dunglac.net
21. Trích từ Đỗ Quang Chính. Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ 1620-1659 (Sài Gòn: Ra Khơi, 1972), tr. 107-129.
22. Trích từ trang Internet dunglac.net
23. Phan Khôi. "Chữ quốc ngữ ở Nam Kỳ với thế lực của phụ nữ", Phụ Nữ Tân Văn, số 28, 7.11.1929, trích theo Thanh Lãng. 13 Năm Tranh Luận Văn Học (Saigon: Văn học, 1995), tr. 471-473.
24. Phan Khôi. "Văn học với Kinh thánh" Trung Lập, đăng lại PNTV 74, 16-10-1930, tr. 7; trích lại từ Thanh Lãng, sđd, tập 3, tr. 206-207.
25. Hoài Thanh-Hoài Chân. Thi Nhân Việt-Nam (Sài-Gòn: Hoa Tiên, 1967), trang 212. 26. Nguyễn Văn Trung. Vấn Đề ... Sđd, trang mở đầu.
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1268 Posted : Saturday, September 11, 2010 2:23:49 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,309

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)

UserPostedImage
GIỌT LỆ CHÍN NĂM
( Giọt lệ xót xa tiếc nhớ những nạn nhân ngày 11/9/2010 tại Hoa Kỳ)

Chín năm giọt lệ chưa vơi
Của người sống khóc thương người thiên thu
Đành rằng rồi cũng phù du
Nhưng sao nỗi chết thảm như thế này !!!
Chết mềm bởi đám khói cay
Chết nung vì lửa của bày bất nhân
Chết trong kinh hoảng, thất thần
Chết không nhắn được người thân một lời
Chết khi mộng vẫn còn tươi
Công danh hứa hẹn, bước đời thênh thang
Chết không được chết bình an
Chẳng như cái chết nhân gian, luật thường !

Chín năm, giọt lệ màu sương
Của người tị nạn tha hương khóc Người
Cầu xin Người hưởng phước Trời
Linh siêu hồn thoát về nơi vĩnh hằng
Ngô Minh Hằng

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1269 Posted : Saturday, September 11, 2010 5:21:46 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,309

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)


UserPostedImage
NGỌN NẾN BUỒN THƯƠNG

Nỗi kinh hoàng bỗng vỡ oà
Phi cơ đâm thẳng vào Toà Tháp Đôi
Nổ tung cột khói ngút trời
Lửa tràn nhanh đốt bao người thành than
Tiếng chuông điện thoại reo vang
Mẹ con chồng vợ vội vàng gọi nhau
Tiếng la thét xé lòng đau
Rơi dòng lệ cuối gục đầu chết oan
Thịt da khắc dấu bạo tàn
Trái tim thế giới bàng hoàng xót xa
Hỡi lòng ai đó mù loà
Gieo tang tóc để lệ nhoà mắt môi
Một ngày uất nghẹn bao người
Mười Một Tháng Chín mây rời rã mây

Chín năm tang tóc còn đây
Chín năm sương khói giăng đầy âm dương
Thắp ngàn ngọn nến tiếc thương
Khóc hồn oan khuất bốn phương khói mờ
Tháp xưa tiếng gió vật vờ
Bóng người thân thuộc đứng chờ ai kia
Nhớ thương lệ đẫm chia lìa
Rưng rưng ánh nến lập lòe bóng đêm
Mong trời cao rải ơn trên
Xoá tan cái ác bình yên cõi đời
Trầm Vân
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Tu Bich  
#1270 Posted : Sunday, September 12, 2010 12:55:54 AM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

5 Đại Sứ Gửi Thư VN: Kinh tế Đi trật WTO,
Cổ Phiếu VN Sụt Giá, Rơi Tự Do;
WTO Tố VN Kinh Tế Thiếu Nhất Quán, Thiếu Minh Bạch...

HANOI (VB) -- Tài chánh VN dao động lớn: thông tấn Reuters cho biết chứng khoán Việt Nam sụt tới mức thấp nhất trong một tuần lễ.
Reuters hôm Thứ Sáu nói rằng trị giá cổ phiếu Việt Nam chỉ số VNI sụt giảm 2.7%, tới mức thấp nhất kể từ ngày 1-9-2010.

Bản tin trên báo Tuổi Trẻ hôm Thứ Sáu nhan đề “Chứng khoán bị bán tháo” cho biết cổ phiếu VN đã rớt vào tình trạng ‘rơi tự do.”
Báo Tuổi Trẻ viết:
“...sáng nay (10-9) thị trường chứng khoán lại xuống dốc mạnh. Chỉ số VN-Index giảm mất 12,29 điểm (tương đương 2,65%) về còn mức 451,39 điểm.

Khối lượng giao dịch phiên này tăng gần 5 triệu cổ phiếu chuyển nhượng, đạt mức hơn 53 triệu cổ phiếu; tương ứng giá trị giao dịch 1.329,4 tỉ đồng.

Nhiều mã cổ phiếu lớn bị bán ra mạnh ngay từ đầu phiên đã kéo thị trường rơi tự do. Hầu hết cổ phiếu ngành ngân hàng sáng nay cũng giảm mạnh. Kết thúc phiên giao dịch cuối tuần, chỉ có 26 mã tăng giá. Trong đó, một số mã tăng giá trần như: VPH, BTT, NBB, TDC, VNH...

Tại sàn Hà Nội, chỉ số HNX-Index đảo chiều giảm 5,09 điểm (tương đương 3,74%) còn mức 131,15 điểm. Tổng khối lượng giao dịch tại thị trường Hà Nội phiên này tăng hơn 10 triệu cổ phiếu, đạt mức 57,7 triệu cổ phiếu; tương ứng tổng giá trị giao dịch 1.369,5 tỉ đồng.
Áp lực thị trường nghiêng về bên bán nhiều hơn đã khiến thị trường điều chỉnh giảm mạnh. Trong khi đó, bên mua vẫn cố chờ mua chứng khoán giá thấp.”

Đặc biệt, báo Sài Gòn Tiếp Thị (SGTT) có bản tin cho thấy quốc tế quan ngại về tình hình kinh tế VN. Bản tin có nhan đề “5 vị đại sứ đề nghị hoãn thi hành thông tư quản lý giá” ghi nhận:
“Theo nguồn tin của SGTT, đại sứ các nước: Hoa Kỳ, Úc, Canada, New Zealand, liên minh châu Âu tại Việt Nam vừa gửi một bức thư cho bộ trưởng Tài chính đề nghị hoãn thực thi thông tư quản lý giá số 112 do bộ này mới ban hành...

Theo như nội dung bức thư, các ông đại sứ “bày tỏ sự thất vọng” về những nội dung trong thông tư mới dù trước đó đại sứ các nước này, khi trao đổi với bộ Tài chính đã không đồng tình. Đại sứ các nước nói trên cho biết đã gửi thư cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ quan điểm cho rằng, việc thực thi cơ chế giá mới theo dự thảo thông tư (nay vẫn được giữ nguyên) khiến Việt Nam đi chệch khỏi định hướng cơ chế thị trường, làm gia tăng quan ngại về sự tuân thủ các cam kết WTO của Việt Nam.

Theo các vị đại sứ này, thông tư mới của bộ Tài chính sẽ không khuyến khích các nhà đầu tư mới và ảnh hưởng tiêu cực đến việc làm, làm gia tăng gánh nặng về hành chính và chi phí cho các công ty (nước ngoài) ở Việt Nam. Bức thư chung còn nêu quan điểm cho rằng, nếu bộ Tài chính ban hành thông tư với mục đích chống lạm phát thì để đạt mục tiêu chống lạm phát cần thực hiện các giải pháp khác...(...)

Thông tư 112/2010/TT-BTC do bộ Tài chính ban hành bắt đầu có hiệu lực từ 1.10, theo đó Chính phủ sẽ có quyền áp đặt những biện pháp kiểm soát giá lên một loạt các sản phẩm được sản xuất bởi các công ty tư nhân và nước ngoài. Các mặt hàng này bao gồm các nguyên liệu đầu vào công nghiệp như ximăng, thép, gas, phân bón, vắcxin, thức ăn chăn nuôi, than đá, và các mặt hàng thiết yếu hàng ngày như muối, sữa bột, đường, gạo, giấy, sách giáo khoa và vé tàu.”

Trong khi đó, Đài RFI từ Paris cũng nêu quan ngại từ quốc tế, nhưng phía VN đã bác bỏ. Bản tin RFI loan:
“Trong báo cáo hàng năm về kinh tế Việt Nam, được công bố hôm thứ tư 8/9 vừa qua, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, IMF, đã chỉ trích sự thiếu nhất quán và thiếu minh bạch trong chính sách kinh tế của Việt Nam và cho rằng điều này có thể tác động tiêu cực đến tăng trưởng, hệ thống tài chính, cũng như sự tin cậy của thị trường.

Bên cạnh đó, theo giới chuyên gia IMF, chính phủ Việt Nam đề ra quá nhiều mục tiêu đã làm cho thị trường nghi ngờ về khả năng thực hiện những mục tiêu này.
Trả lời phỏng vấn tờ Financial Times hôm qua, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Gia Khiêm đã bác bỏ những lời chỉ trích nói trên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, cho rằng đây là một báo cáo «thiếu chính xác»...”
Linh Phuong  
#1271 Posted : Sunday, September 12, 2010 2:42:02 AM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

California khó lòng dứt bỏ được di dân

Saturday, September 11, 2010

(OC Register) - California đang “trong cơn ghiền” lao động di dân. Trong hơn bốn thập niên qua, tiểu bang California trở nên lệ thuộc đậm sâu vào khối óc cũng như bắp thịt của di dân, tới mức mà không một tiểu bang hay quốc gia phát triển nào có thể so sánh được.

Ðiều này đặt California vào tâm điểm của tranh luận mang tính cách chính trị về di dân, ít nhất là 3 lần trong lịch sử của tiểu bang.

Vào lúc mà Quốc Hội đang chuẩn bị có hành động về vấn đề di dân, để giới hạn hay lấy thêm, để ban cho di dân bất hợp pháp “đường vào quốc tịch” hay để quấy nhiễu họ cho đến khi họ phải bỏ xứ mà đi. Thành công hay thất bại, tất cả còn tùy thuộc phần lớn vào chính sách ấy ở California mang đến kết quả nào.

UserPostedImage

Alma Nieto, cư dân Orange, đang nhận bánh lễ của Linh Mục Avelino Orozceo
ngay tại nhà mình. Năm 1984, bà vào Mỹ bất hợp pháp khi bò theo đường cống
từ Tijuana sang San Diego. Nay bà là công dân Hoa Kỳ và làm quản lý văn phòng
của một nhà thờ. (Hình: Cindy Yamanaka/OC Register)

California nay là nhà của hơn 9.8 triệu di dân, nhiều hơn bất cứ quốc gia nào khác ngoại trừ Nga và Ðức. Ða số họ ở đây hợp lệ, hậu quả của đợt di dân hợp pháp lớn nhất trong một thế kỷ.

Một phần ba nhân công của California là di dân, tỉ lệ này cao hơn tất cả tiểu bang và quốc gia có nền kinh tế tiên tiến, ngoại trừ Luxembourg. Họ thu nhập được $260 tỉ trong năm 2008, nhiều hơn tiểu bang chi tiêu để nhập cảng dầu, xe cộ và linh kiện điện tử gộp lại.

Gần 1/10 nhân công của tiểu bang, tức 1.75 triệu người là di dân bất hợp pháp. Họ tụ về đây đông vì tuy Washington bỏ ra hằng tỉ dollar để tăng cường biên giới nhưng lại hầu như không làm gì cả để ngăn không cho họ đi tìm việc, một khi họ đã qua biên giới được trót lọt rồi hay visa đã hết hạn mà không bị bắt.

Di dân chiếm hầu hết công việc mới tạo thêm ở California từ năm 1970. Không có họ, nhân lực của tiểu bang ắt đã teo thắt lại trong thập niên 1990. Theo dữ kiện của Census PUMS, di dân chiếm hết 52% tất cả công việc tạo ra trong thời gian từ 1970 đến 2008, và 70.6% từ 1990 đến 2008; trong thời gian thập niên 1990, nhân lực bản xứ bị giảm bớt 115,000.

Năm 1861, William Brewer, sinh quán ở New York, tỏ ra kinh ngạc khi dự thánh lễ ở Mission Santa Barbara, trong đám đông giáo dân ông thấy có người Mỹ, Ái Nhĩ Lan, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, và ngay cả hai người Trung Hoa nữa. Hồi đó ông viết, “Không đâu ngoài California mới có một nhóm người đa sắc tộc như thế.”

Tuy nhiên trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng của thập niên 1870, dân California da trắng thấy người Hoa là mối hiểm họa cho đời sống của họ. Họ hô hào “Người Hoa phải cút đi!” khiến đưa đến đạo luật tống xuất người Hoa của năm 1882, được coi là đạo luật giới hạn di dân đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ.

Hai mươi lăm năm sau, California đòi hỏi giới hạn tương tự đối với người Nhật, và một lần nữa Washington đồng ý.

Sau cùng vào năm 1924, Quốc Hội đặt vấn đề di dân Á Châu ra ngoài vòng pháp luật và giới hạn tối đa di dân từ Nam và Ðông Âu.

Một so sánh cho thấy, trong năm 1860 ở California di dân chiếm hết 40% nhưng sang 1960 chỉ dưới 9% là người sinh ở ngoại quốc.

Năm 1965, Quốc Hội ra một luật mới sửa đổi lại những khía cạnh có tính cách kỳ thị của luật năm 1924, đặt nền tảng hợp pháp cho một kỷ nguyên mới của sự di dân ồ ạt.

Khi làn sóng di dân bắt đầu dâng cao trong hai thập niên 1980 và 1990, California đã có các cộng đồng di dân nhỏ sẵn sàng đón nhận những người mới đến. Kỹ sư từ Ấn Ðộ, dân tị nạn từ Somalia, di dân bất hợp pháp từ Guatemala, tất cả đều biết nằm lòng rằng chỉ ở California họ mới tìm được thức ăn quen thuộc, nghe được tiếng mẹ đẻ của mình và ngay cả gặp được những khuôn mặt quen thuộc.

Kinh tế của California bị tan tác vào đầu thập niên 1990 trong cơn suy thoái của thời kỳ hậu Chiến Tranh Lạnh, khiến hơn 1 triệu nhân công bản xứ tìm về quê nhà ở khắp các tiểu bang. Ðiều này tạo giai đoạn cho vấn đề lệ thuộc vào lao động di dân hiện nay.

Họ bỏ California mà đi do sự cắt giảm công việc trong ngành kỹ nghệ hàng không vào thời kỳ hậu Chiến Tranh Lạnh làm mất đi hằng trăm ngàn công việc lương cao. Lý do khác cũng do giá nhà ở tiểu bang này lên quá cao so với các nơi khác.

Trong khi nhân công từ Iowa, Michigan và Texas lần lượt dọn ra thì từ Mexico, Philippines và hằng trăm nước khác, người ta lũ lượt kéo vào tìm việc. Tính đến năm 2008, lao động di dân vượt qua lực lượng bản xứ ở trong mọi hạng tuổi.

Nếu không có di dân, lực lượng lao động của California sẽ bị hụt mất 100,000 người trong thập niên 1990. Thay vì vậy con số đã tăng đến 875,000. Chính di dân đã giúp cho California vực lại nền kinh tế của tiểu bang và giữ tăng trưởng mãi cho đến khi xảy ra cuộc Ðại Suy Thoái.
Ngày nay di dân chiếm hết 2/3 công việc không cần kinh nghiệm của tiểu bang như làm gác dan, cắt cỏ hay thợ xây cất. (T.P.)


hongvulannhi  
#1272 Posted : Sunday, September 12, 2010 4:00:37 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,309

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)
Trung Quốc sắp thử nghiệm tên lửa diệt tàu sân bay Mỹ?

To: tynanvietnam@yahoogroups.com
Date: Thursday, August 26, 2010, 5:48 PM

Thời gian gần đây, báo chí nước ngoài đồng loạt đưa tin về việc quân đội Trung Quốc đang nghiên cứu và chuẩn bị cho phóng thử nghiệm tên lửa Đông Phong 21D (ASBM) có biệt danh “sát thủ diệt tàu sân bay”. Một số nhà phân tích cho rằng, đây như động thái phản ứng lại hoạt động tập trận chung của Mỹ và các đối tác trên biển Hoàng Hải.
Trung Quốc sắp thử nghiệm tên lửa diệt tàu sân bay Mỹ?

Theo tin tức được Đài phát thanh nhân dân trung ương Trung Quốc (CNR) đưa hôm 13/8, Tập đoàn công nghệ Hàng không Trung quốc (CASIC) tuyên bố sẽ tiến hành thử nghiệm một loại vũ khí mới quan trọng cấp quốc gia.

UserPostedImage

Ảnh mô phỏng DF-21C tấn công Hàng Không Mẫu Hạm

Tuy thông báo trên không nêu cụ thể loại vũ khí mới được thử nghiệm là gì nhưng lại cho đăng hình ảnh đi kèm là cảnh mô phỏng tên lửa Đông Phong 21C đang tấn công Hàng Không Mẫu Hạm của Mỹ.

Ngoài ra, CNR cũng đưa tin cho biết Hứa Đạt Triết, Bí thư đảng ủy, Tổng giám đốc CASIC trong ngày 5 và 6/8 đã 4 lần đích thân tới hiện trường thử nghiệm tên lửa để đôn đốc cổ vũ nhân viên.

Tờ Chosun Ilbo của Hàn Quốc phân tích, có thể loại vũ khí mới đó chính là tên lửa đạn đạo tầm trung Đông phong 21D, cùng dòng và là phiên bản mới của Đông phong 21C. Bắc Kinh có lẽ vừa kết thúc giai đoạn nghiên cứu chế tạo mặc dù nhiều người vẫn hoài nghi là làm thế nào mà Trung Quốc có thể nhanh chóng hoàn chỉnh độ chính xác của loại tên lửa này để “diệt” được một tàu sân bay đang di chuyển trên đại dương.

Còn phía Bắc Kinh vẫn không khẳng định hay bác bỏ những thông tin trên. Trong khi tờ Wen Wei Po Daily của Hong Kong trong loạt bài viết về chủ đề trên đã trích dẫn lời một đô đốc Mỹ giấu tên cho biết: "Nếu Trung Quốc tấn công một tàu sân bay của Hoa Kỳ bằng một quả tên lửa DF-21, Hoa Kỳ sẽ phản công lại bằng một vũ khí hạt nhân".
* Lịch sử phát triển tên lửa đạn đạo của Trung Quốc

Đông Phong là tên gọi chung cho một loạt các loại tên lửa đạn đạo chiến lược và chiến thuật do Trung Quốc sản xuất và đang giúp nước này lấy thế cân bằng sức mạnh với các cường quốc khác.

Đông Phong có phiên âm tiếng trung là Dongfeng (Dong Feng) hay còn được gọi tắt là DF.

Sau khi ký Hiệp ước Hữu nghị Trung – Xô liên minh với nội dung hỗ trợ lẫn nhau năm 1950, Liên Xô đã giúp đỡ Trung Quốc đào tạo, chuyển giao các tài liệu kỹ thuật, sản xuất thiết bị và cấp giấy phép sản xuất vũ khí của Liên Xô cho nước này.

Viên gạch đầu tiên của nền móng binh chủng tên lửa đạn đạo của Quân Giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLA) bắt đầu kể từ khi nước này đạt được thỏa thuận với Liên Xô về việc làm quen, huấn luyện sử dụng những loại vũ khí chiến lược trong thời gian từ năm 1957 tới năm 1962.

Và chính trong thời gian này, phía Moscow đã chuyển giao cho Bắc Kinh rất nhiều tài liện nghiên cứu thiết bị quân sự kỹ thuật cao trong đó có bản chi tiết kỹ thuật của các loại tên lửa đất đối đất R-1 (hay còn được NATO đặt tên là SS-1), R-2 (SS-2) và R-11F.

Dựa trên các tài liệu và tên lửa mẫu loại R-2, năm 1960 Trung Quốc đã chế tạo và bắn thử thành công tên lửa đầu tiên của mình có tên gọi là Đông Phong 1 (DF-1). Kể từ đó, quốc gia này đã đạt được nhiều tiến bộ trong nghiên cứu, công nghệ chế tạo các loại tên lửa đạn đạo.
* Một số loại tên lửa tiêu biểu Đông phong
Đông phong - 1 (DF-1, SS-2)

Tên lửa đầu tiên do Trung Quốc chế tạo mang tên Đông phong 1 là bản sao tên lửa R-2 được cấp giấy phép của Liên Xô, được sản xuất trong những năm 1960.

UserPostedImage

DF-1 nằm trong bảo tàng Trung Quốc

DF-1 có chiều dài 17,68m, đường kính 1,65m, khối lượng 20,4 tấn và có tầm bắn lớn nhất là 550km. Tên lửa DF-1 sử dụng nhiên liệu lỏng gồm hỗn hợp của oxi và cồn, có khả năng mang theo một đầu đạn quy ước nặng 1,3 tấn.
Đông Phong 2 ( DF-2, CSS-1)

Một số nhà quan sát phương Tây cho rằng, lửa tầm trung DF-2, được Trung Quốc tuyên bố là sản xuất với công nghệ tự cứu, nhưng thực chất được phát triển trên cơ sở của loại tên lửa R-5 (SS-3 Shyster) của Liên Xô. DF-2 được đưa vào phục vụ trong quân đội kể từ cuối thập niên 1960 và nghỉ hưu vào năm 1980.

UserPostedImage

Mặc dù thử nghiệm đầu tiên của loại tên lửa này thất bại ngày 21/3/1962, Trung Quốc không nản chí và họ đã thành công trong cuộc thử nghiệm đầu tiên ngày 29/6/1964 sau khi giảm khối lượng tên lửa từ 45,5 tấn xuống 40,5 tấn và hạ tầm bắn xuống còn 1.050km.

Phiên bản DF-2A có khả năng mang đầu đạn hạt nhân ra mắt năm 1966, chiều dài 20,6 mét; đường kính 1,65 mét; khối lượng 32 tấn và có khả năng mang một đầu đạn hạt nhân 12 Kiloton đi xa 1.250 km. DF-2A có thời gian chuẩn bị khá lâu, phải mất khoảng 3 giờ đồng hồ người ta mới có khả năng phóng một tên lửa loại này.
Đông Phong 3 (DF-3, CSS-2)

DF-3 thường được xem là tên lửa đạn đạo tầm trung “hiện đại” đầu tiên mà nước này chế tạo. Sau khi Liên Xô từ chối cung cấp cho Trung Quốc thiết kế của tên lửa R-12, Trung Quốc quyết định phát triển loại tên lửa đạn riêng của mình trong những năm 1960 và cho bắn thử lần đầu năm 1967.

Chương trình chế tạo DF-3 còn được bắt đầu trước cả chương trình chế tạo DF-1. Nhưng do sự yếu kém về kỹ thuật lúc bấy giờ, họ đã không thể hoàn thành mẫu thiết kế này của mình.

UserPostedImage

Phiên bản ban đầu của DF-3 có tầm bắn 2.650 km với đầu đạn 2.150 kg, sau đó năm 1981, DF-3 được nâng cấp lên DF-3A có tầm bắn 2.800 km và có khả năng mang theo 3 đầu đạn hạt nhân loại từ 50 - 100 Kiloton.

Cho đến khi ngừng sử dụng năm 2002, Trung Quốc đã sản xuất rất nhiều DF-3. Quân đội Trung Quốc từng sử dụng từ 90 - 120 tên lửa và 36 - 60 tên lửa đã được bán cho Ả Rập Xê-út kèm đầu đạn hạt nhân. Từ thiết kế của tên lửa DF-3, Trung Quốc đã thiết kế thành công tên lửa CZ-1 (Trường Chinh-1) để phóng vệ tinh đầu tiên của họ lên vũ trụ năm 1971.

Hầu hết DF-3 và DF-3A đã không còn được quân đội Trung Quốc sử dụng nữa. Còn lại 30-40 chiếc dự kiến sẽ được thay thế bằng DF-21.
Đông Phong 4 (DF-4, CSS-3)

Đây là loại tên lửa liên lục địa DF-4 (ICBM) đầu tiên của Trung Quốc này được thiết kế với tầm bắn lên tới 4.750 km có thể vươn tới các căn cứ quân sự Mỹ ở Guam, hoặc tấn công thủ đô Moscow của Nga.

Sử dụng loại động cơ tương tự DF-3, nhưng DF-4 đã được cải tiến tăng thêm một tầng đẩy giúp nó có thể mang một đầu đạn hạt nhân 3 Megaton nặng 2.200kg, có thể bay xa từ 5.500 đến 6.000km. Phiên bản cải tiến DF-4A có thể bắn được các mục tiêu ở khoảng cách xa đến 7.000 km. DF-4 thường được đặt trong các hầm phóng thẳng đứng giấu kín trong núi và có thể phóng sau hai giờ chuẩn bị.

UserPostedImage

DF-4 được thử thành công lần đầu tiên vào tháng 11/1971, tuy nhiên mãi đến năm 1984, loại tên lửa này mới được trang bị cho quân đội. Lý do chính của việc chậm trễ này là tiềm lực của Trung Quốc có giới hạn khi liên tục phát triển và sản xuất các loại tên lửa đạn đạo trong thời gian ngắn. Đến năm 1997, quân đội nước này đã có tất cả 20 tên lửa DF-4. Hiện cả 20 tên lửa này vẫn còn phục vụ và dự kiến sẽ được thay thế bằng DF-31 trong giai đoạn 2010-2015.
Đông Phong 5 (DF-5, CSS-4)

Các DF-5 là một tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM), được thiết kế để mang một đầu đạn hạt nhân 3 megaton nặng 3,2 tấn và có tầm bắn tối đa lên tới 12.000 km có thể được sử dụng để phóng các vệ tinh. Với tầm bắn này, tên lửa DF-5 có thể vươn tới phần phía tây của nước Mỹ cũng như toàn bộ châu Âu.

DF-5 cũng là loại tên lửa đạn đạo có kích thước lớn nhất trong lực lượng tên lửa của Trung Quốc với chiều dài 33m, đường kính 3,4m và khối lượng lúc phóng lên tới 183m. DF-5 sử dụng động cơ nhiên liệu lỏng hai tầng đẩy với nhiên liệu chính là Dimetylhydrazin và Nito Tetraoxit.

UserPostedImage

DF-5 được phát triển từ những năm 1960 nhưng cho tới năm 1981 nó mới được biên chế vào lực lượng quốc phòng Trung Quốc sau khi thử nghiệm thành công vào năm 1981, nó đã bắn trúng mục tiêu ở khoảng cách 9.000 km trên biển Thái Bình Dương.

Năm 1986, một biến thể cải tiến của nó là DF-5A ra đời được cho là có độ chính xác cao hơn (độ lệch 1km) với tầm bắn lên tới 13.000 km có thể vươn tới hầu hết các điểm trên nước Mỹ. Đến năm 2000, còn lại 30 tên lửa loại này được trang bị cho quân đội Trung Quốc đều là phiên bản DF-5A.
Đông Phong - 11 ( DF-11)

Đông phong – 11 hay còn được gọi là M-11 được Trung Quốc sản xuất để cạnh tranh với tên lửa Scud của Nga. PLA đã được trạng bị 500 quả tên lửa loại này từ năm 1987.

UserPostedImage

DF-11 có tầm phóng 300 km và mang theo đầu đạn nặng 800 kg và phiên bản cải tiến DF-11A có tầm xa tăng lên 825 km. Năm 1992, Trung Quốc đã bán 34 quả DF-11 cho Pakistan và dựa trên loại tên lửa này quân đội Pakistan đã chế tạo loại tên lửa nội địa Shaheen với tầm bắn xa hơn và được biên chế trong quân đội Pakistan kể từ năm 1999.

DF-11 sử dụng nhiên liệu rắn, được chuyên chở và phóng trên khung xe 8 bánh với thời gian chuẩn bị phóng chỉ từ 30 đến 45 phút trong khi các nhiên liệu lỏng đòi hỏi thời gian khởi động là 2 giờ. Đây cũng là loại tên lửa có độ chính xác cao với độ lệch mục tiêu chỉ trong khoảng 200m.
Đông Phong - 15 (DF-15)

Được biết tới nhiều hơn với tên gọi M-9 (phiên bản xuất khẩu), tên lửa DF-15 là loại tên lửa chiến thuật tầm ngắn với khả năng mang đầu đạn 500 kg đến mục tiêu ở khoảng cách 600km với độ lệch 280m, thời gian khởi động là 30 phút. DF-15 được phát triển bởi Học viện Công nghệ Rocket Motor.

UserPostedImage

DF-15 sử dụng nhiên liệu rắn, bản cải tiến độ lệch giảm xuống chỉ còn khoảng 30-45m. Trong cuộc khủng hoảng chính trị tại eo biển Đài Loan năm 1995-1996, Trung Quốc đã tổ chức tập trận cho bắn thử 10-11 quả loại tên lửa này để “nhắc nhở” vùng lãnh thổ này cân nhắc quyết định tuyên bố độc lập. Hiện quân đội Trung Quốc có khoảng 200 quả tên lửa loại này.
Đông Phong - 21 (DF-21/JL-1)

DF-21 là tên lửa tầm trung sử dụng nhiên liệu rắn có thể phóng từ xe phóng đạt tầm xa lên tới 1.800 km và mang theo một đầu đạn hạt nhân nặng 600 kg.

UserPostedImage

DF-21 được chế tạo để thay thế hoàn toàn DF-3 với khả năng phóng cực nhanh khi thời gian chuẩn bị 10-15 phút, độ chính xác cao (độ lệch 3-400m). Đây cũng là tên lửa đạn đạo đầu tiên được Trung Quốc cải tiến để trang bị cho lực lượng tàu ngầm chiến lược có tên JL-1 (Cực Lãng 1). Theo sách trắng của Nhật Bản công bố năm 2002, hiện Trung Quốc có khoảng 70 quả tên lửa đạn đạo có thể chạm tới đất Nhật trong đó đa số là DF-21.
Đông Phong - 31 (DF-31)

Là loại tên lửa hiện đại sử dụng ba tầng đẩy sử dụng nhiên liệu rắn, được trang bị cho quân đội Trung Quốc trong khoảng những năm 2006 - 2007.

UserPostedImage

Được thử nghiệm thành công lần đầu tiên vào ngày 4/9/2006, tên lửa DF-31 với tầm bắn lên tới 8.000 km, có khả năng mang một đầu đạn 1.000 kiloton hoặc tối đa 3 đầu đạn MIRV 20-150 kiloton. Từ tên lửa DF-31, Trung Quốc cũng đã phát triển phiên bản dành riêng cho tầu ngầm với tên JL-2 (Cự Lãng - 2).
Đông Phong - 41 (DF-41)

DF-41 được thiết kế có tầm xa từ 12.000-14.000 km và có thể trạng bị 3 đến 6 thậm chí là 12 đầu đạn MIRV.

UserPostedImage

DF-41 được nghiên cứu chế tạo từ năm 1984, thử nghiệm thành công tháng 5/1995 trước cả DF-31. Tuy nhiên DF-41 vẫn còn một số nhược điểm như độ chính xác chưa cao cùng nhiều vướng mắc kỹ thuật chưa giải quyết được nên chưa được trang bị cho các đơn vị chiến đấu.
Đông Phong - 25 (DF-25)

Khi Thế vận hội Bắc Kinh kết thúc, ngày 29/8/2008, kênh CCTV-7 thuộc Đài truyền hình trung ương Trung Quốc trong mục “Điểm báo quân sự” đã công bố thông tin về việc nước này sản xuất loại tên lửa mới nhất DF-25.

Mọi thông số kỹ thuật của DF-25 đến giờ vẫn chưa chính thức được Trung Quốc công bố nhưng theo các nhà phân tích của Đài Loan và Mỹ thì phiên bản DF-25 gần giống DF-21, có trọng lượng khoảng 28 tấn, với tầm bắn trên 3.000 km.
Đông phong 21C

Có trọng lượng 14,7 tấn/quả với tầm bắn xa nhất lên tới 3.000 km mang theo đầu đạn 600 kg, tầm bắn trung bình 1.700 km; được sử dụng chủ yếu trong tấn công các mục tiêu căn cứ không quân, mục tiêu trên biển.

Quân đội Mỹ cũng đã lên tiếng cho rằng loại vũ khí này có khả năng gây nguy hiểm cho các tàu sân bay, tàu ngầm hạng nặng của mình. Còn giới quân sự Trung Quốc đánh giá, DF-21C có khả năng cơ động, nhận biết mục tiêu di động, tấn công chính xác và tránh tên lửa đánh chặn.

Tên lửa Đông Phong 21C được phát triển từ tên lửa Đông Phong 21 với sự khác biệt lớn nhất là thay đầu đạn hạt nhân bằng đầu đạn thông thường gắn thiết bị định vị đường đạn bởi hệ thống ra đa hiện đại.
Đông Phong 21D

Bộ Quốc phòng Mỹ tuyên bố Trung Quốc đang phát triển tên lửa hành trình đất đối hạm sử dụng chất nổ phi hạt nhân được phát triển dựa trên nguyên mẫu DF-21. Đây sẽ là tên lửa đẩy ASBM đầu tiên và duy nhất trên thế giới có khả năng tấn công tàu sân bay đang di chuyển từ các bệ phóng di động trên mặt đất. Các bệ phóng này gồm các phương tiện di động có khả năng thay đổi mục tiêu sau khi phóng (MaRV) và các hệ thống dẫn đường.

Mặc dù thông số kỹ thuật của loại tên lửa này vẫn chưa chính thức được công bố, nhưng theo các nguồn tin, DF-21D có thể mang 6 đầu đạn với trọng lượng tối đa 450 kg/đầu đạn, tầm bắn từ 1.300 đến 1.800 km, có thể bắn trúng mục tiêu di động với độ chính xác cao. Sau khi bắn thủng lớp vỏ tàu sân bay vào trong khoang, đầu đạn sẽ tiếp tục phát nổ nên chỉ cần một quả có thể đánh đắm gã khổng lồ này ngay lập tức.

DF-21D, thông minh hơn, và rẻ hơn rất nhiều, có thể tấn công thành công tàu sân bay Mỹ hay ít nhất là ngăn không cho nó tiến gần hơn vào Trung Quốc đại lục
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1273 Posted : Sunday, September 12, 2010 9:14:42 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,309

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)
Bí Mật Lăng Mộ Của Nữ Hoàng Đế Võ Tắc Thiên
Võ Tắc Thiên là một nữ Hoàng Đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc, bà nổi tiếng không chỉ bởi tài năng, sự độc ác mà còn nổi tiếng về tình sử có một không hai.

Khám phá mới về lăng mộ của Võ Tắc Thiên Là Lăng mộ của nữ Hoàng Đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc, thuộc khu Càn Lăng nổi tiếng cách Tây An 80km về phía Tây bắc. Mới đây, các nhà khảo cổ tỉnh Thiểm Tây Trung Quốc đã có nhiều phát hiện mới về lăng mộ này và bí ẩn di địa hạ cung dần dần được khai phá.


UserPostedImage Đường vào khu Càn Lăng
Đường Càn Lăng được xây trên núi, quy mô rộng lớn là nơi an nghỉ của Hoàng đế đại Đường Cao Tông Lý Trị Hòa và Hoàng Đế Võ Tắc Thiên, là lăng mộ Hoàng Đế nhà Đường duy nhất chưa hề bị khai quật ở Trung Quốc, nơi đây thường được gọi là “Đường Lăng chi quán”.

Mộ đạo vào địa cung gồm hai phần hào đệm và đường hầm đá. Hào đệm sâu tới 17m, toàn bộ lát nền bằng đá phiến dài 1,25m, rộng từ 0,4 đến 0,6m. Mộ đạo nằm theo độ dốc, dài 63,1m, Nam rộng Bắc hẹp, với độ rộng bình quân là 3,9m. Đá phiến được xây móc xếp từng tầng thuận theo chiều dốc từ nam tới bắc cộng là 39 tầng. Mặt bằng dùng khoảng 8.000 phiến đá.
Giữa các phiến đá được liên kết với nhau bằng chốt (cá) rãnh cánh én bằng thép gió. Giữa phiến trên và phiến dưới đục lỗ thông và dùng cây thép xuyên quan níu chặt với nhau, rồi nung chảy thiếc sắt rót vào cho đông cứng, khiến các phiến đá kết thành một khối. Các nhà khảo cổ khảo sát quanh Càn Lăng tịnh không phát hiện dấu hiệu bọn trộm mộ từng phát hiện ra cửa đường hầm vào địa cung. Điều này chứng tỏ Càn Lăng là lăng mộ duy nhất của các hoàng đế nhà Đường chưa bị đào trộm thành công.


UserPostedImage Thạch Tượng bao vây Càn Lăng lộ
Hạ cung Càn Lăng được biến hóa từ Tẩm Cung trước đây mà thành, chủ yếu bao gồm Phụng mộ chủ Linh quỷ, người đời sau hay cúng bái ở nơi đây. Còn về Đường Thái Tông Lý Thế Dân khi qua đời và an táng ở Tẩm Cung, sau này do hỏa hoạn đã dời tới chân núi, hậu thế thường gọi là Hạ Cung.

UserPostedImage Tượng đá không đầu - bí ẩn chưa lời giải đáp
Theo các nguồn tin được biết thì nơi đây được coi là một bộ phận quan trọng của “Hạng mục bảo hộ đại di sản Đường Lăng Thiểm Tây”. Năm 2000, các nhà khảo cổ đã được cấp phép nghiên cứu chi tiết và đã phát hiện một điều rất lý thú là kết cấu địa môn phía Dông, Tây và Bắc của Càn Lăng có những đặc điểm rất giống nhau.

UserPostedImage Tấm bia vô danh để hậu thế phán xét "công" và "tội"

UserPostedImage Đường Cao Tông Càn Lăng
Ngoài ra, khảo cổ gia còn nghiên cứu chi tiết khu Bắc môn thì phát hiện ra Thạch Mã, Thạch Hổ, Thạch Sư, Thạch Khắc, trong đó phát hiện ra Thạch Hổ là tư liệu quan trọng giúp con người hiểu hơn về ngoại thạch Bắc môn Lăng hoàng đế đời Đường. Và đặc biệt là tượng không đầu vẫn là bí ẩn đối với hậu thế.

UserPostedImage Hạ cung Càn Lăng
Võ Tắc Thiên - Thiên tài hay ác quỷ?
Cuộc đời của Võ Tắc Thiên đã trải qua các vị trí tài nhân, chiêu nghi, hoàng phi, hoàng hậu, hoàng thái hậu, hoàng đế, thái thượng hoàng, nhưng cuối cùng trước khi qua đời đã quay lại với vị trí hoàng hậu của nhà Đường. Việc bà nổi lên nắm quyền cai trị bị các nhà sử học Khổng giáo chỉ trích mạnh mẽ nhưng các nhà sử học từ sau thập kỷ 1950 đã có cái nhìn khác về bà.


UserPostedImage
Võ Tắc Thiên xuất thân từ huyện Văn Thủy, thuộc quận Tinh Châu nay là thành phố Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây. Sinh ra trong một gia đình quý tộc danh tiếng ở Sơn Tây. Bà được đưa vào hậu cung Đường Thái Tông nhà Đường vào khoảng năm 637 và là một Tài Nhân, tức là một trong chín người thiếp cấp thứ năm.

Thấy tên Võ Chiếu không đẹp, Đường Thái Tông đặt tên cho bà là Mị, có nghĩa là "duyên dáng, xinh đẹp", và vì vậy còn được người Trung Quốc gọi là Võ Mị Nương. Trong thời gian này bà đã gặp thái tử Lý Trị và đã có quan hệ thân thiết với vị vua tương lai này.

Năm 649, Đường Thái Tông băng hà, theo luật lệ, Võ Mị Nương phải rời cung để vào chùa Cảm Nghiệp xuống tóc. Thái tử Lý Trị lên ngôi, tức là Đường Cao Tông đã đưa bà quay trở lại.

Năm 654, Võ Tắc Thiên sinh một con gái, nhưng đứa trẻ bị chết sau khi sinh vài ngày. Trước khi đứa trẻ chết, Vương hoàng hậu có đến thăm, do đó Cao Tông nghi ngờ hoàng hậu đã hạ thủ.

Truyền thuyết cho rằng chính Võ Tắc Thiên đã giết con để vu tội cho hoàng hậu. Võ Chiêu nghi được phong làm Thần phi. Rất nhiều người đã chống lại Võ Tắc Thiên nhưng đều bị giết hại, bà nghiễm nhiên bước lên ghế hoàng hậu.

Năm 660, Đường Cao Tông bị trúng gió đột quỵ, Võ hậu liền tham gia chính sự từ phía sau rèm cùng vua, nên gọi là Nhị thánh lâm triều. Cao Tông nhất nhất đều nghe theo lời Võ hậu, tuy nhiên nhận thấy sự nguy hiểm của bà, nên đã ngầm ra lệnh cho Thượng Quan Nghi tìm cách phế truất.

Việc bại lộ, Thượng Quan Nghi bị Võ hậu xử tội chết, Cao Tông cũng mất hết quyền lực, hoàn toàn phụ thuộc vào Võ hậu. Thái tử Lý Trung (con của Cao Tông và một người thiếp thấp kém, Vương hoàng hậu nhận làm con) bị giáng và bị giết. Con cả của Võ hậu là Lý Hoằng được phong thái tử.

Năm 667, Cao Tông quá yếu, giao cho thái tử Lý Hoằng giám quốc, thực ra vẫn do Võ hậu làm chủ. Năm 674, triều đình tôn Cao Tông là Thiên hoàng, Võ hậu là Thiên hậu. Võ Tắc Thiên thích dùng tôn xưng Thiên hậu cho đến tận khi làm hoàng đế. Võ hậu phế Thái tử Lý Hoằng, đưa con thứ hai là Lý Hiền lên làm thái tử, rồi lại giáng Lý Hiền, đưa con thứ ba là Lý Hiển lên thay. Trong giai đoạn này, Võ hậu đã có nhiều chính sách chính trị đổi mới, được đánh giá cao.

Năm 683, Đường Cao Tông băng hà, thái tử Lý Hiển lên ngôi, tức là Đường Trung Tông, Võ Tắc Thiên làm Hoàng thái hậu, nắm toàn bộ chính sự. Một tháng sau, với lý do Đường Trung Tông để vợ là Vi hoàng hậu lộng quyền, Võ hậu phế vua xuống làm Lư Lăng Vương, lập con trai thứ tư (Lý Đán) lên làm vua, tức Đường Duệ Tông. Trong các năm tiếp theo, Võ hậu lần lượt ra tay với các vương gia là con của Đường Thái Tông như Việt vương Lý Trinh, Lang Nha vương Lý Trọng.

Đồng thời Võ hậu cho xây dựng nhiều cung điện, lớn nhất là tòa Minh Đường cao gần ba trăm trượng, sau đổi là Vạn Tượng Thần cung. Minh Đường hoàn thành, có kẻ dâng viên đá trên có chữ "Thánh mẫu lâm nhân, Vĩnh xương đế nghiệp" nên Võ hậu đổi tôn hiệu của mình là Thánh mẫu thần hoàng.

Năm 690, sư Pháp Minh dâng bốn quyển Đại Vân kinh ca ngợi Võ hậu là Phật Di Lạc xuống trần, là chủ của thiên hạ. Võ Hậu sai in rồi phát ra khắp nơi, đề cao Phật giáo trên Đạo giáo.
Tháng 9 năm 690, Võ hậu lên ngôi Hoàng đế, đổi quốc hiệu là Chu với ý kế tục sự nghiệp nhà Chu xưa kia, quốc tính là họ Võ, tôn Chu Văn Vương làm Thủy tổ Văn hoàng đế. Giáng Đường Duệ Tông xuống làm Hoàng tự, rồi sau đó phế bỏ, lại phong cháu là Võ Thừa Tự làm Ngụy vương, Võ Tam Tư làm Lương vương.


UserPostedImage
Đến năm 705, Võ hậu ngoài 80 tuổi đã rất ốm yếu. Tháng 2, tể tướng Trương Giản Chi lãnh đạo cuộc đảo chính giết hai anh em họ Trương, xông vào cung buộc Võ hậu truyền ngôi cho thái tử Lý Hiển. Đường Trung Tông Lý Hiển lại lên làm vua lần nữa, Võ hậu trở thành Thái thượng hoàng, rồi qua đời vào tháng 11 năm 705. Khi lâm chung bà yêu cầu dùng thụy hiệu là Hoàng hậu chứ không phải Hoàng đế, do đó không có miếu hiệu.

Nhìn vào các sự kiện trong cuộc đời bà theo ám chỉ trong văn chương có thể mang lại nhiều ý nghĩa: một phụ nữ đã vượt qua những giới hạn của mình một cách không thích hợp, thái độ đạo đức giả khi thuyết giáo về lòng trắc ẩn trong khi cùng lúc ấy lại tiến hành mô hình tham nhũng và hành xử một cách xấu xa, và cai trị bằng cách điều khiển từ phía hậu trường.

Lăng mộ Võ Tắc Thiên

3 lần đào bới bất thành
Bọn trộm mộ thường nhòm ngó đào bới hôi của; triều đại mới nổi lên, trả thù triệt “long mạch” của triều đại cũ; các nhà khảo cổ khai quật để nghiên cứu... Thế nhưng lăng mộ của nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên thì người ta đào không nổi.

Miếng mồi béo bở

Bắt đầu từ chuyện xây dựng Càn Lăng, thầy địa lý phong thủy đời nhà Đường cho rằng: Lương Sơn ở huyện Càn rất có lợi cho nữ hoàng. Bởi vậy mà nữ hoàng Võ Tắc Thiên liền chọn Lương Sơn làm nơi an giấc ngàn thu cho mình và chồng là Đường Cao tông Lý Trị sau khi qua đời.

Việc xây dựng Càn Lăng đúng vào thời kỳ cường thịnh của nhà Đường. Lúc đó, quốc lực dồi dào. Người ta xây dựng quy mô lăng mộ cực rộng, rất hoành tráng, được tôn vinh là Lăng quán quân trong lăng các hoàng đế mọi thời đại. Càn Lăng chôn chung Đường Cao tông Lý Trị và Võ Tắc Thiên, phát triển và hoàn thiện theo phong cách của Chiêu Lăng (an táng Đường Thái tông).

Kết cấu của lăng viên phỏng theo thành Tràng An (kinh đô nhà Đường), chia thành hoàng thành, cung thành và ngoại quách. Đường trục chính Nam Bắc của nó dài 4,9 km. Về lượng của cải, vàng bạc châu báu tùy táng chứa trong hầm mộ dưới lăng thì qua khảo sát nhiều năm, một chuyên gia văn vật thâm niên suy đoán chỉ ít cũng là 500 tấn!

Với lượng của cải khổng lồ như vậy, Càn Lăng đã trở thành miếng mồi ngon lôi cuốn bọn trộm mộ chuyên nghiệp, bọn quan lại, quân phiệt, thổ phỉ, thậm chí là cả quân khởi nghĩa nông dân. Họ ùn ùn vác xà beng, cuốc thuổng tới đào bới, thậm chí dùng cả máy khoan, đánh mìn để hòng moi được vàng bạc châu báu. Chuyện này từng xảy ra đến mấy lần trong lịch sử Trung Quốc.

Ba lần đào bới bất thành

Lần đầu tiên, lăng mộ Võ Tắc Thiên bị đào bằng cuốc xẻng là do Hoàng Sào, lãnh tụ đại quân tạo phản thời Đường mạt chỉ huy. Ông ta huy động tới hơn 40 vạn binh sĩ, đào bới mé tây đồi Lương Sơn. Chỉ trong một thời gian ngắn, lực lượng đào bới đã vạc hẳn một nửa quả đồi, từ đó để lại một “hố Hoàng Sào” sâu tới 40m.

Thế nhưng cung điện ngầm Càn Lăng dường như không có cửa vào. Về sau, quân đội vương triều Đường tập trung binh lực tổng phản công Tràng An. Hoàng Sào buộc phải bỏ dở công trình cướp mộ, bỏ chạy.

Kẻ thứ hai sờ vào Càn Lăng với mưu đồ hôi của là Ôn Thao, tiết độ sứ tại Diệu Châu thời Ngũ Đại. Thời Ngũ Đại kéo dài từ năm 907 đến năm 960. Trước khi đào Càn Lăng, Ôn Thao đã đào trộm 17 ngôi hoàng lăng nhà Đường, chỉ chừa lại có Càn Lăng. Nhưng ý đồ đào Càn Lăng của hắn cũng hoàn toàn phá sản.

Giống như Hoàng Sào, hắn cũng huy động đến mấy vạn người ngang nhiên đào bới giữa thanh thiên bạch nhật. Không ngờ trước sau ba lần, cứ lên tới đồi định “động thổ” thì lập tức trời nổi giông bão, sấm chớp ầm ầm, mưa như trút nước. Nhưng khi binh mã của hắn rút về thì trời lại quang, mây lại tạnh. Ôn Thao lấy làm lạ, chẳng hiểu thần linh báo ứng thế nào, sợ quá liền bỏ hẳn ý định đào mộ. Nhờ vậy mà Càn Lăng thoát được kiếp nạn lần thứ hai.

Nhưng nguy hiểm nhất là lần thứ ba. Lần này, một sư đoàn quân đội hiện đại, dùng bộc phá, thần công đại bác để phá Càn Lăng. Kẻ chủ mưu là tướng quân đội Quốc Dân đảng thời Trung Hoa Dân quốc tên là Tôn Liên Trọng. Hắn ngụy trang chuyện trộm cướp này bằng một cuộc diễn tập quân sự, dùng bộc phá cực mạnh phá bung, để lộ ra đường hầm mộ bằng đá dựng.

Cả bọn chuẩn bị chui vào thì đột nhiên tỏa ra một luồng khói đặc mù mịt cuồn cuộn bốc lên cao, tạo thành một cột vòi rồng lốc xoáy, tối đất đen trời, lăn đá cuốn cát. Bảy tên lính người gốc Sơn Tây hoảng loạn bỏ chạy, đập đầu vào tảng đá, gốc cây, hộc máu miệng chết tốt. Những kẻ còn lại sợ hãi, không còn dám tiến lên. Một tên hét lên kích động, lập tức cả ngàn tên quay đầu, co giò chạy thục mạng. Nhân đó bọn lính cũng đào ngũ gần hết. Nhờ vậy mà Càn Lăng lần thứ ba thoát nạn.

Sau ngày thành lập nước Trung Quốc mới (10-1949), trong một dịp tình cờ, có mấy người nông dân ngẫu nhiên phát hiện cửa hầm lăng mộ. Năm 1960, tỉnh Thiểm Tây thành lập hẳn Ủy ban khai quật Càn Lăng và ngày 3-4-1960 đã bắt đầu mở cửa đường vào địa cung Càn Lăng. Càn Lăng nằm ở lưng chừng nửa đông nam ngọn đồi chính Lương Sơn.

Ghi chú:

Trên thế giới này, mộ khó đào nhất là lăng mộ Võ Tắc Thiên. Mộ Võ Tắc Thiên có tên gọi là Càn Lăng. Ở thời binh khí cổ điển, lăng mộ này đã bị đao kiếm, dáo mác băm vằm. Ở thời kỳ binh khí hiện đại, lăng mộ bị súng máy, lựu đạn, đại pháo oanh kích tơi tả.

Trong hơn 1.200 năm qua, kẻ đào trộm mộ Càn Lăng có họ có tên ghi trong hồ sơ sử sách khi ít là 17 tên. Lần đào mộ quy mô nhất huy động đông tới hơn 40 vạn người. Lương Sơn, quả đồi lớn đặt lăng mộ dường như bị vạc mất hẳn một nửa.
Cho tới nay, diện mạo Càn Lăng vẫn còn nguyên vẹn. Người ta không khỏi đặt câu hỏi: Mậu Lăng của Hán Vũ đế bị vét sạch bách, Chiêu Lăng của Đường Thái tông cũng bị càn quét như chùi, Khang Hy đại đế ngay cả xương cốt nhặt gom lại xếp không đầy một cái quách nhỏ. Vậy mà với Càn Lăng, huy động cả hàng chục vạn người đào khoét vẫn còn nguyên vẹn là vì sao?


UserPostedImage
Nữ hoàng Võ Tắc Thiên:
Ngàn năm “công” và “tội”

Hình tượng về Nữ hoàng Võ Tắc Thiên dung nhan lộng lẫy, thao lược hơn người, là Nữ hoàng đế duy nhất trong lịch sử phong kiến Trung Hoa đã trở thành chủ đề hấp dẫn cho các sáng tác văn học và điện ảnh.

Trong một bộ phim dài tập, minh tinh màn bạc Lưu Hiển Khánh đã rất nổi tiếng với vai Võ Tắc Thiên từ lúc là thiếu nữ 16 tuổi đến khi trở thành bà già 80.

Sử sách Trung Quốc đã ghi chép rất nhiều về Nữ hoàng Võ Tắc Thiên. Xung quanh vấn đề công, tội của bà cũng tồn tại nhiều ý kiến trái ngược. Ngay cả tấm bia mộ “không chữ” của bà trên núi Lương Sơn – ngọn núi lưu giữ 18 lăng mộ của các Hoàng đế Đại Đường, cũng gây nhiều tranh cãi cho người đời sau.

Tấm bia mộ có một không hai trong lịch sử này cao 7,53m, rộng 2,1 m, dày 1,49 m, nặng 98,84 tấn, nhưng không có một dòng chữ nào khắc trên đó, chỉ khắc 8 đầu rồng quấn vào nhau biểu hiện quyền uy tối thượng của Nữ hoàng đế. Hai bên thân bia khắc hai con đường dài 4,12m, rộng 0,66m.

Trên con đường đó chạm một con tuấn mã và một con sư tử đực thần thái uy nghiêm... Luận giải về “Bia không chữ”, đa số người cho rằng, Võ Tắc Thiên tự cho mình công lao không thể nói hết, không thể dùng văn tự biểu đạt được.

Một số khác thuận theo ý kiến Trung Tôn Hoàng đế không biết nên gọi Võ Tắc Thiên là Hoàng đế hay Mẫu hậu. Lại có một số người giải thích, Võ Tắc Thiên cho dựng bia không chữ là để người đời sau bình phẩm, đánh giá về mình rồi khắc vào!

Lịch sử thế giới đã ghi danh những người đàn bà chiếm giữ đỉnh cao quyền lực như: Nữ hoàng Ai Cập Cleopatra, Nữ hoàng Anh Elizabeth, Nữ Hoàng Nga Catherine và Nữ hoàng Võ Tắc Thiên... Do đặc điểm xã hội, lịch sử của mỗi quốc gia, đường đến ngai vàng của những người đàn bà này chẳng mấy giống nhau.

Cleopatra kết hôn với em trai Ptoleme cùng kế thừa ngai vàng ở Ai Cập theo di chúc của phụ vương Ptoleme 12. Elizabeth được trở thành Nữ hoàng Anh theo chúc thư của Quốc vương Enjoy VIII. Catherine nước Nga giết chồng, chiếm ngôi...
Còn người con gái bình dân họ Võ, tên Chiếu lấy cả hai bố con vua Đường để trở thành Nữ hoàng đế - một hiện tượng hy hữu trong lịch sử phong kiến Trung Hoa! Võ Chiếu tuy không được liệt vào hạng “tứ đại mỹ nhân”, song nhan sắc của nàng cũng đã khiến cả vua Đường Thái Tông (cha) và vua Đường Cao Tông (con) phải nghiêng ngả.


UserPostedImage
Hình ảnh Nữ hoàng Võ Tắc Thiên thường xuyên được tái hiện trên các bộ phim truyền hình Trung Quốc.

Sách cũ chép rằng: Lần đầu được dâng lên vua Đường Thái Tông, Võ Chiếu mới 14 tuổi, nhưng đã phổng phao, xinh đẹp, đối đáp trôi chảy, khiến cho ông vua háo sắc tuổi đã ngoại tứ tuần, bên mình không thiếu gì thê thiếp phải mê mẩn. Sự hấp dẫn của một thiếu nữ đang tuổi mơn mởn đào tơ khiến vua yêu đến nỗi, trời vừa sắp hoàng hôn đã gọi cô vào “hầu ngủ”. Sử sách chép rằng, bấy giờ Thái Tông đã 41 tuổi, thấy thiếu nữ 14 tuổi, lo thân thể cô không chịu nổi vóc dáng vạm vỡ của mình. Nhưng ngược lại, cô đã hiểu phong nguyệt nên chủ động hoàn toàn không ngại ngùng.

Xuân phong âu yếm, khi khóc, khi cười đều đẹp càng làm lòng người mềm yếu, khiến người không say tự say, không mê tự mê. Thái Tông tuy có rất nhiều phi tần, vẫn chưa từng nếm mùi vị như thế. Đến khi mặt trời lên khỏi ngọn dâu, Thái Tông mới miễn cưỡng vào triều.

Sau lần được “thấy mặt Rồng”, Võ Chiếu được vua đặt cho tên Mỵ Lang, phong làm Tài nhân, cho ở cung Phúc Tuy. Vua Đường Thái Tông yêu Mỵ Lang đến mức ngày nào cũng đến cung Phúc Tuy, lại còn cho tất cả cung nữ lớn tuổi ra khỏi cung.

Cả Doãn Kỷ, Trương Kỷ là hai người được sủng ái nhất trước đó cũng không được ở lại. Mỵ Lang được vua Thái Tông sủng ái 12 năm. Trong 12 năm đó, Võ Chiếu đã trưởng thành về cả thể chất lẫn tinh thần, học được những thủ đoạn cần thiết để thực hiện giấc mộng làm vua.

Khi vua Đường Thái Tông lâm bệnh trọng, sự sống chỉ còn tính từng ngày, Mỵ Lang đã khéo dùng lời ngon ngọt xin được cắt tóc đi tu, tránh lệ bị chết theo vua.

Thái Tử Lý Trị lên ngôi Hoàng đế thay cha, vì mê sắc đẹp của Mỵ Lang nên vừa mãn tang cha đã đến chùa Cảm Nghiệp tìm người tình cũ và hoài thai Thái tử. Sau đó Mỵ Lang được hoàn tục, tiến cung, lập làm Chiêu Nghi, hiệu Thần phi. Khi Thái tử Vi Cường chào đời, Mỵ Lang quyết hạ bệ Vương Hoàng hậu và Tiêu Thục Phi, giành ngôi Hoàng hậu, dần dần tham dự vào triều chính.

Có 800 tấn châu báu trong lăng mộ Võ Tắc Thiên?

2-7-2006 là ngày kỷ niệm 1.300 năm phong lăng hợp táng nữ hoàng Võ Tắc Thiên với hoàng đế Đường Cao Tông Lý Trị tại Càn Lăng. Lúc ấy, Cục Bảo vệ Di sản tỉnh Thiểm Tây, Viện Bảo tàng Càn Lăng đã gửi lên Quốc vụ viện Trung Quốc phương án khai quật khu di sản lừng danh này, nhưng không được chấp thuận. Năm 1960, Thủ tướng Chu Ân Lai cũng đã bác bỏ một đề nghị tương tự...

Nhà văn hóa Quách Mạt Nhược từng nói với Thủ tướng Chu Ân Lai: “Không nghi ngờ gì nữa, chắc chắn là có rất nhiều thư tích, danh họa, thư pháp cất giấu trong mộ.
Nếu khai quật Càn Lăng, không biết chừng sẽ có thể thấy được 100 quyển Thùy củng tập và 10 cuốn Kim luân tập của Võ Tắc Thiên, hoặc có cả họa tượng của Võ Hậu, bút tích của Thượng Quan Uyển Nhi. Nhất định đây là một chuyện long trời lở đất!”.

Trong mấy ngàn năm lịch sử Trung Quốc, người duy nhất dám phá vỡ truyền thống, đội mũ hoàng đế chỉ có một mình Võ Tắc Thiên. Năm 66 tuổi bà dũng mãnh lật đổ ngai vàng Lý Đường, lập nên triều Võ Chu. 15 năm làm hoàng đế, bà ra lệnh đặt trước lăng mộ mình một tấm bia đen không chữ (vô tự bi), để công tội một đời mặc cho người sau luận định. Người như thế tất có tâm sự riêng, nhưng hai cuốn Thùy củng tập và Kim luân tập do bà trước tác không ai được thấy, có lẽ chúng nằm với chủ nhân trong Càn Lăng như nhận định của Quách Mạt Nhược chăng?

Rất có thể tập Lan Đình tự nổi tiếng của thánh thủ Vương Hy Chi cũng đang nằm trong Càn Lăng. Đường Cao Tông Lý Trị là người cực yêu thư họa, khi lâm chung có di chiếu đưa tất cả những bức họa, thư pháp mà ông thích vào trong lăng. Vua cha là Lý Thế Dân đặc biệt thích Lan Đình tự, có di chiếu là phải đặt tập thư pháp này dưới đầu ông ta khi băng hà, như vậy vật báu này phải nằm ở Thiệu Lăng. Nhưng khi Đạo Ôn khai quật Thiệu Lăng thì không thấy vật báu này, như thế chỉ có thể là ở Càn Lăng.

CÀN LĂNG TAM TUYỆT.- Theo các nhà khảo cổ Trung Quốc, Càn Lăng không chỉ là một kho tàng hấp dẫn mà nó còn ẩn chứa một bức màn thần bí khó lý giải.

Tháng 7-1971, Mỹ phóng thành công phi thuyền Apollo. Khi bay vào quỹ đạo Mặt Trăng, các phi hành gia bất ngờ phát hiện ở 40o vĩ Bắc, 107o11 kinh Đông thuộc phía Nam Vạn Lý Trường Thành có 9 điểm đen xếp thành hàng ngang, trong đó điểm đen ở mé cực Tây là rõ nhất.

Các phi hành gia cho rằng đó là địa điểm thiết lập vũ khí bí mật kiểu mới nên lập tức chụp ảnh và báo về Lầu Năm Góc. Năm 1981, một phi hành gia Mỹ đến Trung Quốc du lịch đã tìm đến 9 điểm đen trên ở Vị Bắc. Thì ra đấy chẳng phải là vũ khí bí mật gì mà là một hệ thống lăng mộ đế vương thời Hán Đường với hơn 20 tòa, điểm sáng nhất ở mé cực Tây chính là Càn Lăng.

Từ đời Đường Thái Tông Lý Thế Dân trở đi, hoàng đế các đời đều tuân theo nguyên tắc “Dĩ sơn vi lăng” (lấy núi làm lăng), quy mô nhất và điển hình nhất là Càn Lăng nằm trên vùng núi Lương Sơn, cách huyện Càn, tỉnh Thiểm Tây 5 km về phía Bắc.

Trong 18 lăng mộ đế vương triều Đường tập trung ở cao nguyên Vị Bắc thì Càn Lăng nằm ở cuối phía Tây, thuộc hướng Tây Bắc thành Trường An, theo hậu thiên bát quái thì Tây Bắc thuộc cung Càn (Kiền, tượng trưng cho trời, vua, cha...) nên đây gọi là Càn Lăng.

Càn Lăng có 3 điểm đặc biệt mà không lăng mộ đế vương nào có được.

Thứ nhất, đây là lăng mộ duy nhất trong lịch sử Trung Hoa và thế giới hợp táng hai vị hoàng đế có quốc hiệu khác nhau (Lý Trị là hoàng đế Đại Đường, Võ Tắc Thiên là hoàng đế triều Chu). Thứ hai, Càn Lăng là lăng mộ của nữ hoàng đế duy nhất Trung Hoa. Thứ ba, trong 18 tòa lăng mộ triều Đường ở đất Quan Trung, Càn Lăng là nơi duy nhất chưa từng bị kẻ trộm đột nhập vì quá kiên cố. Nếu đứng nhìn từ xa, Càn Lăng giống như hình một mỹ nữ đang nằm ngủ, cách tạo hình độc nhất vô nhị.

BA LẦN PHÁ MỘ ĐỀU VÔ ÍCH

Càn Lăng khởi công xây từ năm 683, qua 23 năm mới hoàn thành, chiếm 2,3 triệu m3. Toàn lăng khí thế hùng vĩ, có 2 vòng thành bao bọc. Tường thành phía trong dài 5.920 m, xây dựng 378 gian huy hoàng lộng lẫy gồm Hiến điện, Khuyết lâu, Vương tân điện, từ đường của 61 công thần, hạ cung.

Vòng thành ngoài có chu vi 80 km, chiếm diện tích hơn 200.000 ha. Phần chính lăng có 4 cửa, bố trí đường tư mã, trụ hoa biểu, tượng ngựa, lạc đà, sư tử, bia ký, trụ khắc đá... đều to lớn khác thường. Đường từ đầu cổng lăng đi vào cửa mộ dài 631 m, rộng 3,9 m, có 39 lớp, toàn dùng đá xanh khổng lồ lát kín, dùng chốt sắt khóa cố định, những khe hở đều dùng sắt nấu chảy ra rồi trám vào, nên 1.300 năm qua Càn Lăng chưa hề suy suyển, tránh được nạn trộm mộ.

Theo lịch sử ghi chép, Càn Lăng có 17 lần bị đào mộ được ghi lại rõ ràng, trong đó có 3 lần lớn nhất, còn những vụ đào trộm nhỏ khác thì nhiều không kể xiết. Cuối đời Đường, lãnh tụ nông dân Hoàng Sào đứng lên khởi nghĩa, thanh thế lừng lẫy, chia đôi sơn hà. Hoàng Sào đã dùng đến 40 vạn dân binh từ phía Tây của Lương Sơn đào thẳng xuống Càn Lăng, kết quả là để lại “khe Hoàng Sào” sâu 40 m mà chẳng gặp gì cả. Đó là vì trong quân ít người am tường địa lý, không hiểu cấu trúc Càn Lăng là theo hướng “tọa Bắc triều Nam”. Sai phương hướng nên nhọc công vô ích.

Đời Ngũ Đại, thứ sử Diệu Châu là Ôn Đạo, một quan chức trộm mộ có tiếng, từng cho binh sĩ đào hơn 10 tòa lăng Đường, kiếm được khá nhiều châu báu. Có tiền, Ôn Đạo cho 2 vạn người ngang nhiên đào bới Càn Lăng. Nhưng kỳ lạ là công việc luôn gặp điều bất lợi, lại thêm trời cứ nổi mưa to gió lớn khiến cho Đạo Ôn rất kinh hãi, bèn ngừng việc đào Càn Lăng.

Đến đầu năm Dân Quốc, tướng Quốc dân đảng là Tôn Liên Trọng, muốn bắt chước tướng Tôn Điện Anh đào lăng Càn Long và Từ Hy, sử dụng một binh đoàn đóng quân trên đỉnh Lương Sơn, mượn danh nghĩa là diễn tập quân sự, dùng thuốc nổ phá 3 tầng nham thạch bên đường vào mộ, nhưng rốt cuộc chỉ là “mò kim đáy bể”.

Các chuyên gia khảo cổ cho rằng Càn Lăng chưa từng bị trộm, vì mộ đạo quá chắc chắn, nếu không phá mộ đạo mà từ bụng núi đá Lương Sơn đục đường vào thì vô phương.

Theo “Kế hoạch khai quật Càn Lăng” của nhiều chuyên gia tỉnh Thiểm Tây, muốn khai quật Càn Lăng phải áp dụng một hệ thống bảo mật với công nghệ cao, chỉ cho 2 nhân viên trang bị hệ thống dưỡng khí trong điều kiện vô khuẩn (hoặc người máy) vào mộ đạo, dùng máy ảnh đặc biệt để thu thập hiện trạng, lấy đó làm cơ sở để quyết định cách thức khai quật.

Cần phải biết chính xác vị trí của phần địa cung mới có thể khai quật, nếu không sẽ phá vỡ cảnh quan mà chẳng được gì. Theo suy đoán, kết cấu địa cung của Càn Lăng sẽ là từ mộ đạo, qua động, qua thiên tỉnh đến đường thông trước sau, hai bên trái phải là cung điện, bên trái là chỗ nằm của Đường Cao Tông, bên phải là chỗ nằm của Võ Tắc Thiên.

800 tấn châu báu trong Càn Lăng?
Ở phía Đông Nam Càn Lăng có 17 lăng mộ bồi táng sắp xếp theo ngôi vị cao thấp của chủ nhân. Có 2 tòa lăng mộ thái tử, 3 tòa vương công, 4 tòa công chúa và 8 tòa đại thần. Từ năm 1960 đến 1972, các nhà khảo cổ Thiểm Tây đã khai quật 5 tòa lăng ở đây, trong số này có lăng mộ của thái tử Chương Hoài, thái tử Dục Đức, công chúa Vĩnh Thái, tổng số đồ châu báu quý giá trong 5 lăng mộ này là 4.300 món. Ở vách các lăng mộ phát hiện hơn 100 bức bích họa, có thể xem là tuyệt tác đời Đường, như Cung nữ đồ, Đả mã cầu đồ, Khách sứ đồ...
Nếu được khai quật thì Càn Lăng chứa bao nhiêu đồ quý giá?

Theo giáo sư Lưu Hậu Tân, khoa lịch sử Trường Đại học Nhân Dân Trung Quốc, Đường là triều đại phát triển cực thịnh của Trung Quốc cổ đại. Sinh hoạt của đấng quân vương thời này cũng thoải mái hơn, xa xỉ hơn đời Tần Hán, do đó trong các lăng mộ đế vương triều Đường, số của cải bồi táng cũng nhất định quý hiếm hơn và nhiều hơn.
Lưu giáo sư cho rằng, nếu lấy khoảng không gian trong địa cung (nơi đặt quan tài) của Càn Lăng là 5.000 m3, theo cách tính thông thường là đồ bồi táng chiếm 1/4, như vậy “thể tích” của đồ bồi táng là khoảng 1.200 m3, khối lượng ít nhất cũng là 800 tấn.

(Theo NLD)

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Tu Bich  
#1274 Posted : Monday, September 13, 2010 6:59:54 AM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Thử thách của mọi người Mỹ
Thursday, September 09, 2010
Ngô Nhân Dụng

Một người bạn trên mạng kể chuyện anh đi coi phim “Invictus” về Nelson Mandela; anh nhắc lại sau khi lên làm tổng thống Nam Phi, ông Mandela vẫn sử dụng hộ vệ là lính da trắng cũ. Người da trắng lúc đó hoang mang, sợ bị trả thù hay bị cướp hết tài sản, chuẩn bị sẵn sàng “vượt biên.” Ông Mandela giữ nguyên đội bóng bầu dục (rugby) quốc gia mặc dù dân da đen đa số muốn giải tán. Chỉ có dân da trắng thích chơi rugby, môn thể thao vẫn bị coi là biểu tượng của chế độ phân biệt chủng tộc. Sau khi đội rugby này thắng một giải quốc tế 1995, thì cả dân da trắng lẫn da đen đều cảm thấy hãnh diện. Nhờ thế họ thân thiện, đoàn kết hơn, Nam Phi cũng không bị khủng hoảng kinh tế hay chính trị. Ðội trưởng đội bóng rugby thắc mắc, không hiểu sao một người đã từng bị chế độ phân biệt chủng tộc bỏ tù 27 năm mà không thù người da trắng?

Nelson Mandela không phải chỉ là một vĩ nhân của Nam Phi. Ông là một biểu tượng của một người có mắt nhìn xa về chính trị, người có đức bao dung đáng làm gương cho mọi người thuộc tất cả mọi chủng tộc. Chúng ta nhìn những tấm gương như vậy để tự bảo mình cũng phải học cách sống độ lượng, bao dung. Vì thế giới lúc nào cũng cần những gương sáng như Mandela.

Một người Mỹ đang gây sóng gió, bị khắp nước phản đối, vì có ý định đi ngược lại với đức bao dung và quyền tự do tôn giáo ở Mỹ. Ông Terry Jones, một mục sư tại thành phố Gainesville, Florida, đang tính tổ chức một cuộc đốt Kinh Thánh Hồi Giáo vào Thứ Bẩy này, để tưởng niệm các nạn nhân ngày 11 tháng 9 năm 2001. Ông Jones không thuộc giáo hội lớn nào, lãnh đạo một nhà thờ chỉ có 30 tín đồ chính thức. Ðang là một người vô danh bỗng nhiên ông nổi tiếng khắp thế giới.

Ông Jones nhân danh quyền tự do phát biểu ghi trong Hiến Pháp Mỹ. Ông nói rằng: “Cảnh sát bảo vệ chúng tôi, Sở Cứu Hỏa nói việc chúng tôi đốt lửa trại không có vấn đề gì cả.” Ông kêu gọi người Mỹ khắp nước ai có cuốn Kinh Kuran nào cứ gửi về cho ông đốt. Trong khi đó, hội đồng thị xã Gainesville nói họ chưa hề cấp giấy phép.

Ðiều may mắn là ông Terry Jones cuối cùng đã quyết định không đốt kinh Kuran nữa. Nhưng câu chuyện không phải vì thế mà dừng lại.

Mạng điện tử mang tên Nhà thờ The Dove World Outreach Center của ông Jones đang bán những chiếc áo thun (T-shirts) với khẩu hiệu: Hồi Giáo là Quỷ dữ. Ðó cũng là khẩu hiệu treo trước nhà thờ của ông. Với dự án đốt kinh Kuran khiến ông nổi tiếng, có thể Jones sẽ thu hút thêm nhiều tín đồ, nhà thờ của ông sẽ nhận được thêm nhiều tiền quyên tặng. Ông có thể sẽ được mời đi diễn thuyết ở nhiều nơi, với thù lao lớn. Vì ở nước Mỹ cũng như ở bất cứ quốc gia nào khác, có rất nhiều người sẵn sàng ủng hộ những ý kiến quá khích như vậy, khi nó phù hợp với khuynh hướng kỳ thị và đầu óc thù hận của họ.

Vì vậy, cả nước Mỹ đã nỗ lực không để diễn ra việc đốt kinh sách ở Gainesville, Florida. Một mối lo cụ thể là người ta sợ hình ảnh công khai đốt Kinh Kuran ở Mỹ sẽ được chiếu trên ti vi khắp thế giới; sẽ khích động thêm nhiều người Hồi Giáo thù ghét nước Mỹ. Tất cả mọi người Mỹ, các quân nhân hay du khách Mỹ tới các nước như Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, hoặc Indonesia, Mã Lai, vân vân, có thể sẽ trở thành mục tiêu để trả thù, trút hận. Việc đó có thể xẩy ra ngay bây giờ và sẽ kéo dài trong nhiều năm sắp tới. Ðức bao dung thường giúp nẩy sinh thêm đức bao dung. Hành động cuồng tín sẽ cũng khích động các hành động cuồng tín khác. Những tổ chức khủng bố như al Qeda sẽ thêm hình ảnh làm động cơ tuyển mộ các thanh niên cuồng nhiệt với đầu óc chống Mỹ. Nhiều thanh niên mù quáng sẽ sẵn sàng tự sát trong những vụ khủng bố giống như ngày 11 tháng 9 năm 2001.

Trước mối lo cụ thể này, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc đã lên án dự định của ông Terry Jones, vì lo cho quân đội Mỹ ở khắp nơi. Tổng thư ký khối Minh Ước Bắc Ðại Tây Dương (NATO) Anders Fogh Rasmussen sau khi gặp Tổng Thống Barck Obama, đã lên án dự định đốt Kinh Kuran, gọi đó là một hành động bất kính, có thể gây thêm nguy hiểm cho quân đội NATO tại ở Afghanistan. Tướng David Petraeus, chỉ huy quân đội Mỹ và đồng minh ở Afghanistan cũng cảnh cáo như vậy. Sau khi ông Jones loan báo vào cuối tháng 7 dự định đốt Kinh Kuran ở nhà thờ của ông, trong tháng qua nhiều người đã biểu tình phản đối tại các nước Hồi Giáo. Mấy trăm thanh niên, phần lớn là học sinh các trường Hồi Giáo đã tập họp trước Thánh đường Milad ul-Nabi ở Kabul, thủ đô Afghanistan hô khẩu hiệu “Death to America” - Giết Chết Mỹ! Ông Terry Jones đã vô tình hỗ trợ tích cực cho các nhóm Taliban và al Qaeda. Họ không những sẽ lợi dụng vụ đốt kinh sách này mà sẽ nhắc nhở các tín đồ Hồi Giáo khác hãy nhớ đến những cuộc chiến tranh, thù hận xẩy ra từ hàng ngàn năm trước, để khích động mối hận thù lịch sử.

Nhưng mối lo sợ của người Mỹ, của nước Mỹ không phải chỉ liên quan tới sinh mạng của binh sĩ và thường dân của mình. Ðiều quan trọng hơn cả mạng sống con người, là linh hồn của quốc gia trẻ trung này. Người Mỹ thường vẫn hãnh diện về các quyền tự do mà họ muốn giúp tất cả loài người đều được hưởng, trong đó có tự do tín ngưỡng. Họ cũng hãnh diện là, trong suốt lịch sử, họ đã cố gắng phát triển đức bao dung, vượt qua được óc kỳ thị hẹp hòi dưới nhiều hình thức: chủng tộc, tôn giáo, màu da. Từ thế kỷ 17, vùng đất miền Bắc Châu Mỹ đã là nơi tỵ nạn của những người dân Âu Châu bị bức hại về tôn giáo; cho nên các di dân tị nạn này rất thiết tha với quyền tự do hành đạo. Từ tình trạng trước đây một thế kỷ rưỡi nhiều dân Mỹ coi người da đen không đáng gọi là người, hoặc không đáng được chấp nhận là công dân; nước này giờ đã bầu một vị tổng thống da mầu đen. Cuộc hành trình dài hơn 200 năm không đơn giản, chắc chắn không dễ dàng; nhưng đã được thể hiện thực sự trong luật pháp, trong các định chế quốc gia và trong hành động. Ðức bao dung và quyền tự do tôn giáo là những niềm tin tưởng nhiệt thành, tự nhiên gần như một bản năng của mọi người Mỹ biết suy nghĩ. Mọi người Mỹ đều muốn bảo vệ được những giá trị tinh thần là đức bao dung và quyền tự do tôn giáo, như những đặc tính của dân tộc trẻ trung và phức tạp này; nếu họ không bảo vệ được tất cả mọi binh sĩ, mọi thường dân có thể trở thành nạn nhân của khủng bố ở khắp nơi.

Cho nên, trước dự án đốt kinh sách của một tôn giáo với hàng tỷ tín đồ khắp thế giới, những người có tín ngưỡng ở Mỹ đã lên án mạnh mẽ. Cuộc họp của các nhà lãnh đạo tôn giáo, trong đó có Ðức Hồng Y tổng giám mục vùng thủ đô Washington, Cardinal Theodore McCarrick, Tiến Sĩ Michael Kinnamon thuộc Hồi Ðồng Quốc Gia Các Giáo Hội (National Council of Churches) và Pháp Sư Do Thái Giáo David Saperstein, đứng đầu Liên Hiệp Do Thái Giáo Cải Cách (Union for Reform Judaism), đã đưa bản tuyên cáo bày tỏ mối quan tâm về hiện tượng chống Hồi Giáo đang lên một cách cuồng nhiệt ở Mỹ, và sự “kinh hoàng trước thái độ bất kính với một kinh sách thiêng liêng” là Kinh Kuran.

Cũng trong ngày Thứ Bẩy, sau một lễ tưởng niệm các nạn nhân ngày 11 tháng 9 năm 2001, hai cuộc biểu tình dự trù sẽ được tổ chức song song tại nơi đã xảy ra vụ khủng bố đó tại New York. Những người ủng hộ, và những người chống việc xây một Thánh đường Hồi Giáo trong khu phố này sẽ tập họp để cổ động cho lập trường của họ. Hai cuộc biểu tình ôn hòa đó có thể sẽ bị những phần tử quá khích quấy rối biến thành bạo động nếu không ai kiểm soát được họ.

Buổi tối ngày Thứ Sáu này cũng là Lễ Iftar, khi mọi tín đồ Hồi Giáo ăn mừng ngày chấm dứt Tháng Chay Ramadan. Người Hồi Giáo khắp thế giới và trên nước Mỹ sẽ tụ họp nhau trong bữa tiệc Iftar này, và chắc chắn câu chuyện được mọi người nói tới nhiều nhất sẽ là vụ đốt Kinh Kuran ở thành phố Gainesville nước Mỹ.

Ngoại Trưởng Hillary Rodham Clinton tổ chức một tiệc Iftar mời các tín đồ Hồi Giáo tham dự. Bà đã tuyên bố ủng hộ bản tuyên ngôn của các nhà lãnh đạo tôn giáo vừa qua, lên án việc đốt kinh Thánh của Hồi Giáo là hành động bất kính và không có tư cách. Ông P J Crowley, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao kêu gọi mọi công dân Mỹ hãy đứng lên bảo vệ những giá trị tinh thần của đất nước họ. Ông lên án hành động đốt kinh sách là “phản Mỹ” (un-American).

Nhiều người Mỹ theo Hồi Giáo đã đứng lên. Ủy Hội Liên Lạc Mỹ-Hồi Giáo (Council on American-Islamic Relations) đã kêu gọi các tín đồ ở quanh vùng Gainesville hãy tổ chức một sinh hoạt “Chia Sẻ Kinh Kuran,” đem Kinh Thánh Hồi Giáo tặng cho mọi người muốn tìm hiểu, cho người thường, các cảnh sát viên và báo chí.

Chúng ta hy vọng sau khi cả nước Mỹ lên tiếng một cách rõ ràng như vậy, người Hồi Giáo khắp thế giới sẽ hiểu nhóm ông Terry Jones chỉ là một thiểu số không đáng kể. Họ phải hiểu rằng ông này không đại diện cho nước Mỹ hay cho nền văn minh theo truyền thống Do Thái và Thiên Chúa Giáo. Cũng như mọi người Mỹ phải hiểu rằng Osama bin Laden không đại diện tất cả người Hồi Giáo.

Nhưng chính phủ Mỹ và mọi người Mỹ sẽ còn phải tiếp tục giải thích thêm nhiều nữa. Hoa Kỳ là một xứ sở tự do, quyền tự do của mọi người, kể cả những thiểu số quá khích cũng được tôn trọng. Ðừng hiểu lầm hành động của một nhóm người Mỹ là tiêu biểu cho cả nước Mỹ. Tiến Sĩ Ingrid Mattson, chủ tịch Hội Hồi Giáo Bắc Mỹ (Islamic Society of North America) đã giúp việc giải thích đó. Bà kêu gọi các tín đồ Hồi Giáo trên thế giới hãy “lui một bước,” xin họ đừng lợi dụng những “lời ăn to nói lớn” của một thiểu số người Mỹ để biện hộ cho các hành động chống các người Mỹ theo đạo Thiên Chúa hoặc đạo Do Thái. Bà Mattson cũng là người tổ chức và tham dự cuộc họp của các tôn giáo ở Washington vừa qua.

Hy vọng dự án đốt kinh của nhóm ông Terry Jones sẽ bị chính quyền thành phố Gainesvilles ngăn chặn một cách khôn khéo, tìm được những lý do để cấm việc làm tai hại của nhóm này. Như thi sĩ Heinrich Heine đã viết: “Kẻ đốt sách sẽ có ngày giết người.” Nếu những cuốn sách bị đốt lại là kinh thánh của một tôn giáo, thì không phải chỉ một người giết một người. Cảnh giết chóc có thể trở thành tập thể và kéo dài, còn kinh khủng, khó tưởng tượng nổi.

Chúng ta biết hành động của một cá nhân có thể gây ra những phản ứng dây chuyền làm thay đổi lịch sử, khi các điều kiện chín mùi vì quyền lợi xung khắc giữa các quốc gia thúc đẩy. Tháng 7 năm 1914, một thanh niên 20 tuổi bị bệnh lao sắp chết Gavrilo Princip đã bắn chết Arch Duke Ferdinand, người sẽ kế vị hoàng đế Áo Hung, tại thành phố Sarajevo, lúc đó thuộc Serbia. Vụ ám sát này do một nhóm ái quốc Serbia chủ mưu, đã châm ngòi cho cuộc Ðại Chiến Thứ Nhất, kéo dài 4 năm, giết 8 triệu người, làm 22 triệu người bị thương nặng, và 4 đế quốc sụp đổ. Hiệp ước chấm dứt cuộc chiến đó lại gieo mầm cho Ðại Chiến Thứ Hai, hơn 20 năm sau.

Chúng ta phải ngăn ngừa không cho những hành động lẻ loi của một cá nhân châm ngòi cho mối thù hận kéo dài giữa các tập thể. Nhiều cuộc chiến tranh vì lý do tôn giáo đã từng diễn ra nhiều lần trong lịch sử, có khi kéo dài hàng trăm, hàng ngàn năm chưa dứt. Phải dập tắt những ngọn lửa hận thù, dù nhỏ bé nhất, khi chúng mới chớm lóe lên. Ðể tránh hậu họa, có thể là thảm họa.

Nếu nước Mỹ có một nhân vật như Thánh Gandhi hoặc Nelson Mandela thì chắc người đó có thể tự mình đi tới thành phố Gainesvilles yêu cầu người ta hãy đốt chính mình cùng với các cuốn Kinh Kuran. Các vị lãnh đạo tôn giáo có thể phát động cuộc hành trình này. Chắc nhiều người Mỹ khác sẽ cùng đi theo họ, để cho thấy nước Mỹ thực sự là một quốc gia bao dung và tôn trọng các tôn giáo. Có ai sẵn sàng hay không?
Tu Bich  
#1275 Posted : Monday, September 13, 2010 7:35:47 AM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Thái Lan không cho ông Võ Văn Ái nhập cảnh
Ông Võ Văn Ái đã nhận khuyến cáo sẽ không được nhập cảnh Thái Lan

Lãnh đạo tổ chức đấu tranh cho nhân quyền Việt Nam đặt tại Paris nói Hà Nội gây áp lực khiến họ không được nhập cảnh Thái Lan.

[img=left]http://wscdn.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2010/09/13/100913060854_vovanai_226.gif[/img=left]
Ông Võ Văn Ái, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam, và bà Penelope Faulkner, Phó Chủ tịch tổ chức nay, đã không thể tới Bangkok để thực hiện một cuộc họp báo về tình hình nhân quyền ở Việt Nam vào hôm 13/09/2010 như dự kiến.

Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam trong thông cáo mới ra cho hay tổ chức này có kế hoạch chủ trì một cuộc họp báo tại Câu lạc bộ Phóng viên Nước ngoài (FCCT) ở trung tâm Bangkok vào thứ Hai 13/09.
Tại họp báo, Ủy ban này cùng một tổ chức khác là Liên đoàn Quốc tế về Nhân quyền sẽ công bố phúc trình"Từ Viễn mơ đến Thực tế : Nhân quyền Việt Nam dưới quyền chủ tọa của Asean".
Việt Nam hiện đang giữ chức chủ tịch luân lưu của Asean.
Tuy nhiên, dưới sự can thiệp của Bộ Ngoại giao Thái Lan, cuộc họp báo nay bị hủy bỏ.

Phát ngôn nhân của Bộ Ngoại giao Thái Thaini Thongpakdi gửi công văn tới FCCT nói: "Chính quyền Hoàng gia Thái Lan coi trọng các nguyên tắc tự do ngôn luận và đa dạng quan điểm, thế nhưng lâu nay cũng có lập trường là không cho phép các tổ chức và cá nhân sử dụng Thái Lan để thực hiện các hoạt động chống lại các quốc gia khác".
"Vì vậy tôi hy vọng FCCT sẽ tôn trọng lập trường của chúng tôi và không cho phép sử dụng địa điểm của mình cho hoạt động này."
Vi phạm Tuyên ngôn LHQ

Ông Võ Văn Ái trong thông cáo của Ủy ban Bảo vệ Quyền l̀am Người Việt Nam cho hay ông đã được cấp thị thực vào Thái Lan, nhưng ngay trước ngày lên đường đã nhận được điện thoại của Đại sứ quán Thái Lan tại Paris thông báo rằng theo yêu cầu của chính quyền Việt Nam, ông "sẽ bị cấm nhập cảnh tại phi trường Bangkok".

Phó Chủ tịch ủy ban này, bà Penelope Faulkner, được chọn đi thay ông, nhưng cũng bị chặn lại tại sân bay Charles De Gaulle.
Ủy ban của ông Võ Văn Ái cực lực phản đối hành động của Bộ Ngoại giao Thái Lan, cho đây là vi phạm nghiêm trọng Tuyên ngôn LHQ về nhân quyền.

Bản thông cáo cũng nói đây "là minh chứng hùng hồn cho khả năng gây hại cực điểm trong khu vực, đồng thời cho thấy sự bất lực toàn diện của nhà cầm quyền Việt Nam trong việc chấp nhận đối thoại về tình hình nhân quyền Việt Nam".
Chính phủ Việt Nam chưa có tuyên bố gì về vụ này.

Câu lạc bộ FCCT tại Bangkok trong khi đó bày tỏ sự đáng tiếc rằng Chính phủ Thái Lan đã "gây áp lực bằng cách thức này" và hy vọng Bộ Ngoại giao Thái sẽ cân nhắc lại.
Tuy nhiên, tới trưa ngày 13/09, gần như chắc chắn là cuộc họp báo sẽ không thể diễn ra.
FCCT là nơi từng tổ chức nhiều cuộc họp báo và gặp gỡ với các nhân vật thu hút chú ý dư luận quốc tế. http://www.bbc.co.uk/vie...3_thailand_vovanai.shtml



Hà Phương Hoài  
#1276 Posted : Monday, September 13, 2010 11:23:32 AM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,237
Location: USA

Thanks: 144 times
Was thanked: 102 time(s) in 61 post(s)
Tổng Thống Chống Mỹ
NGUYỄN XUÂN NGHĨA . Việt Báo Thứ Hai, 9/13/2010, 12:00:00 AM

Đảng Dân Chủ sẽ đại bại - Và còn đại bại với Obama...
Nếu có một lời khuyên cho phe Dân Chủ thì mùng hai Tháng 11 này, họ nên... ở nhà. Thà là ngồi nhà vùng vằng tủi thân còn hơn là đi bầu mà vẫn đại bại.
Nhưng đây là một lời khuyên... thừa.
Bề nào, tỷ lệ dự tính đi bầu của các cử tri xưng danh Dân Chủ năm nay giảm nặng so với các kỳ bầu cử trước. Mọi cuộc thăm dò ý kiến đều nói như vậy.

Thông thường, trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tổng thống, đảng của tổng thống thường mất phiếu vì cứ bị coi như chịu trách nhiệm về mọi sự phật ý lớn nhỏ của dân chúng. Lần này, người ta không chỉ có sự phật ý mà là bất mãn. Và bất mãn lan rộng vào các thành phần ôn hòa, độc lập và cả những người trước đây đã bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ và ông Obama. Nguyên do của sự phật ý là tình hình kinh tế chưa khả quan, thất nghiệp vẫn quá cao trong khi bội cho ngân sách và quốc trái thì vọt lên trời.
Nhưng, đảng Dân Chủ không chỉ bị thất cử - từ các đơn vị xôi đậu tới cả các quận hạt lâu nay là thành trì của đảng - vì vấn đề kinh tế. Còn bảy tuần đến ngày bầu cử, không ứng cử viên nào dám nhắc đến kế hoạch kích thích kinh tế nữa vì sợ bị mắng! Ngoài chuyện kinh tế, đảng Dân Chủ còn bị trừng phạt vì đã chiếm đa số tuyệt đối trong hai kỳ bầu cử 2006 và 2008, rồi chứng tỏ khả năng kiêu mạn và thủ đoạn cao độ.
Vì vậy, Quốc hội trong tay Dân Chủ mất tín nhiệm nặng, chỉ còn tỷ lệ tin tưởng khoảng 20%.
Chuyện bao che các dân biểu tham ô đã bị Quốc hội điều tra, đàn hặc và truy tố mà vẫn giữ được ghế ngồi chỉ là một phần. Cách giải quyết vấn đề quốc kế dân sinh rất tệ mới là phần chính. Quốc hội đã nhân vụ suy trầm kinh tế quyết định tăng chỉ không phải vài chục vài trăm tỷ mà cả ngàn tỷ, trong các đạo luật dầy ngàn trang. Nhồi bên trong là nhiều khoản chi béo bở cho địa phương mình. Quốc hội ấy không chỉ tăng chi mà còn mở rộng tầm kiểm soát lên rất nhiều lãnh vực sinh hoạt của dân chúng.
Một số ứng cử viên Dân Chủ đã thấy sợ, rồi phản ứng bậy vì suy đoán sai.

Họ suy đoán là đã gây bất mãn vì ủng hộ đường lối chánh sách của Tổng thống Barack Oabama. Vì vậy, nhiều người sợ bị nhiễm phóng xạ Obama bèn tránh xuất hiện bên cạnh Tổng thống khi Obama tới tận nơi vận động tranh cử cho họ. Nhiều người khác thì cố chứng minh rằng họ cũng đã có lúc bỏ phiếu chống lại một số đề nghị của Obama!
Phản ứng này sai vì tự thân họ đáng bị thất cử chứ không chỉ vì sát cánh với một ông tổng thống cực tả. Chính là việc Lưỡng viện Quốc hội thuộc hai khoá 110 và 111 đã thông qua hàng loạt đạo luật quy mô, vĩ đại và tốn kém, bằng thủ thuật chính trị - kể cả lấy công quỹ chi cho các địa phương để mua phiếu của giới dân cử - mới làm công chúng khó chịu.
Đâm ra, thay vì cải sửa lề thói chính trị xấu xa của đảng Cộng Hoà như hứa hẹn trước đó, đảng Dân Chủ đã đưa lề thói này lên một đỉnh cao hơn.
Tuần qua, khi lại phát động tranh cử (nữa), Obama cũng không làm khác các dân biểu nghị sĩ kia, là trình bày sự thể đen tối ngày nay như là di sản của vị tiền nhiệm và lỗi của phe Cộng Hoà. Lý luận này coi thường cử tri - vốn cũng nên coi thường vì quả thật nhiều cử tri không hiểu gì cả. Xin mở ngoặc đơn với vài lời giải thích về chuyện đó để khỏi mang tiếng thiên vị.

Một vị tổng thống, dù là Mỹ, cũng chẳng thể gây ra nạn suy trầm kinh tế. Nó là hiện tượng chu kỳ kinh doanh thường xảy ra sáu bảy năm một lần, mỗi lần trên dưới một năm. Mà tổng thống cũng không gây ra bội chi ngân sách. Chỉ vì thẩm quyền chi thu ngân sách thuộc về Quốc hội, chủ yếu tại Hạ viện là nơi xuất phát các đề nghị công chi trong dự luật tài chánh. Tổng thống chỉ có khả năng tiêu cực là dùng quyền phủ quyết, nếu vượt nổi hàng rào rất cao là hai phần ba số phiếu.
Nếu nhớ lại thì Tổng thống Bill Clinton lãnh di sản của hai vị tiền nhiệm khi Chiến tranh lạnh kết thúc nên có thể giảm chi quốc phòng - và hưởng "cổ tức hoà bình". Nhưng sau khi đắc cử, chủ trương thiên tả của ông lại giúp đảng Cộng Hoà chiếm lại Hạ viện năm 1994, lần đầu tiên từ 40 năm. Chính là Quốc hội đó đã triệt để giữ kỷ luật công chi nên mới đạt thặng dư ngân sách, lần đầu tiên từ 25 năm.
Qua thời George W. Bush, Hoa Kỳ bị vụ suy trầm 2001 - xảy ra từ nạn bể bóng đầu tư thời Clinton - rồi khủng bố 9-11 và lâm chiến, trong khi Quốc hội đã lại đổi chủ từ năm 2006. Trách nhiệm rất lớn của Bush là không dám phủ quyết các dự luật ngân sách với công chi quá mạnh của Quốc hội Dân Chủ. Nhưng ông có liêm sỉ là không đổ lỗi cho người tiền nhiệm về nạn suy trầm kinh tế 2001, vụ khủng bố 9-11 hay vụ khủng hoảng của các tổ hợp bất lương như Enron vào cuối năm 2001.
Thí dụ thứ hai là vụ khủng hoảng tài chánh.

Việc giải toả kiểm soát nghiệp vụ tài chánh là quyết định của Chính quyền Clinton năm 1999. Việc dung dưỡng thói tật kinh doanh nguy hại của hai doanh nghiệp bán công là Fannie Mae và Freddie Mac là của đảng Dân Chủ - chống lại đề nghị cải cách của Bush năm 2004. Ông Bush có lỗi là không đẩy mạnh hơn việc cải tổ ấy và đảng Cộng Hoà sai lầm là không cảnh báo về nguy cơ khủng hoảng này, dù trước đó, từ năm 2003, Thống đốc Ngân hàng Trung ương là Alan Greenspan cũng đã báo động. Từ nhiều năm trước, cột báo này cũng đã đề cập tới chuyện ấy, trước khi thiên hạ biết Obama là ai.
Nhưng không phải ngẫu nhiên mà hai cơ sở đáng phá sản này lại chi tiền rất bộn cho các dân biểu nghị sĩ Dân Chủ. Thật ra, hai ổ tham nhũng ấy cũng chỉ làm như các đại gia Wall Street, là tung tiền mua chuộc các chính khách, mà đa số là Dân Chủ - kể cả Nghị sĩ Barack Obama.
Đảng Cộng Hoà đáng thất cử năm 2006 vì không tôn trọng kỷ luật ngân sách như đã cam kết và cũng sinh bệnh kiêu mạn, làm ẩu, gây quá nhiều tai tiếng. Nhưng mọi chuyện ngày nay không thể do đảng này chủ động gây ra. Ông Bush cũng vậy, không thể bị chửi vì tội tiêu xài vô trách nhiệm của đảng Dân Chủ trong Quốc hội từ đầu năm 2007 tới nay.
Vì vậy, Obama nói gì thì nói, đảng Dân Chủ đang làm dân Mỹ nhìn lại đảng Cộng Hoà với nhiều... tin tưởng hơn. Nhiều người Mỹ gặp sự thất vọng của kẻ mua hớ - buying remorse - và sẽ có phản ứng, cho dù truyền thông báo chí trong dòng chính vẫn thiên về đảng Dân Chủ và tường trình chưa đầy đủ về sự thất vọng này.
Về thống kê thì thành phần xưng danh Cộng Hoà thường ít hơn đảng Dân Chủ. Vậy mà trong kỳ bầu cử tới, nội cái danh hiệu Cộng Hoà cũng dẫn trước Dân Chủ 10 điểm, là điều chưa từng thấy bao giờ. Làm gì với niềm tin ấy của dân chúng là chuyện của đảng Cộng Hòa, và không thuộc phạm vi bài viết.
Phạm vi bài viết là về Barack Obama.

Ông ta còn tỷ lệ ủng hộ rất thấp - sự kiện hiếm hoi của một tổng thống chưa hoàn tất phân nửa nhiệm kỳ đầu. Hoá ra vọt lên như sao băng và rớt xuống cũng nhanh không kém. Nhưng dù sao, mức ủng hộ 44-46% này vẫn còn gấp đôi tỷ lệ tin tưởng của dân Mỹ vào Quốc hội trong tay Dân Chủ! Vì vậy, đảng Dân Chủ đừng trách Obama mà nên nhìn lại cái tội chủ quan duy ý chí của mình.
Bây giờ mới nói về Barack Obama.

Khi ông tranh cử cùng Nghị sĩ Hillary Clinton trong vòng sơ bộ của đảng Dân Chủ, người viết đã gọi ông là "Cậu bé quàng khăn đỏ". "Cậu bé" vì Obama có kinh nghiệm rất mỏng chứ không vì tuổi tác. Năm 1992, ông Bill Clinton đắc cử tổng thống ở tuổi rất trẻ là 46 - trẻ thứ ba trong các tổng thống Mỹ - nhưng sau khi đã làm thống đốc từ năm 1978, và lần lượt thắng bốn ứng viên Cộng Hoà để tái đắc cử. Obama không có kinh nghiệm ấy.
Obama được đảng Dân Chủ thổi lên như pháo bông năm 2004 và vừa lên làm Nghị sĩ Liên bang có bảy tháng thì đã lo tranh cử tổng thống sau một quá trình gọi là xây dựng cộng đồng và nghị sĩ tiểu bang. Những hoạt động ấy rất đáng ngợi khen nhưng từ đó mà đi tranh cử Tổng thống thì vấn đề kinh nghiệm về điều hành phải được đặt ra.
Và bảo rằng "quàng khăn đỏ" vì ông có chủ trương cực tả - không chỉ thiên tả như Bill Clinton.
Với người viết, màu da của Obama không là vấn đề. Ai không đồng ý với chủ trương cực tả này cũng chẳng thể có tội kỳ thị da màu như nhiều người vẫn nhập nhằng xuyên tạc. Thật ra, nếu Đại tướng Colin Powell không lạnh cẳng rút lui thì ông đã là ứng viên da đen đầy hy vọng của đảng Cộng Hoà trong cuộc tranh cử tổng thống năm 1996 - chứ không đến lượt Nghị sĩ Bob Dole.
Bây giờ nhìn lại sau 19 tháng cầm quyền của Obama thì cách đánh giá như vậy coi bộ không đúng.
Vì còn quá nhẹ.

Obama là người thông minh, có tài hùng biện. Nhưng, yếu tố thắng lợi ban đầu là ông được phe cực tả trong đảng Dân Chủ bốc qua đầu Hillary Clinton vào tháng Sáu năm 2008 để thành ứng cử viên của đảng. Ta không nên quên vòng sơ bộ khét lẹt ấy và vai trò của Ted Kennedy cùng cánh tả của đảng Dân Chủ đã muốn trừng phạt Hillary về tội trung dung của Bill.
Ban tham mưu tranh cử của Obama cũng thuộc loại xuất sắc - hơn hẳn đối thủ là Nghị sĩ John McCain - và biết chụp lấy thời cơ là vụ khủng hoảng tài chánh bùng nổ hôm 15 Tháng Chín năm 2008. Sự ngờ nghệch của McCain trong mấy tuần hoảng hốt sau đó làm nốt phần vụ còn lại: thổi lên kỳ vọng lớn vào Obama giữa cơn khủng hoảng tâm lý của nước Mỹ.
Rồi dẫn tới "Hội chứng Obamê" - "Obamaniac" - hiện tượng tâm thần khiến thiên hạ tung hô mà khỏi xét vào lý lịch hay nội dung chương trình hành động. Tờ Newsweek còn sánh Obama với Thượng đế!
Điều đáng nói là sau khi nhậm chức, Obama quả nhiên tiến hành việc "cải tạo xã hội" - theo nghĩa của Hà Nội sau 1975 - trong tinh thần cực tả, bao cấp và tin tưởng vào khả năng "phổ độ" của Chính quyền. Từ đó, chính quyền và bộ máy nhà nước mở rộng sự can thiệp vào rất nhiều lãnh vực, kinh tế, kinh doanh, ngân hàng, y tế, môi sinh, v.v... Nạn suy trầm sản xuất và thất nghiệp cao không là ưu tiên.

Nhưng, trong khi bành trướng chế độ bao cấp này ở bên trong nước Mỹ, Obama cũng lại là "Người vái tứ phương" ở bên ngoài. Một nghịch lý lý thú mà ít ai chịu chú ý.
Nhìn lại thì ông đã cố gắng hoà giải với các chế độ hung đồ công khai coi Mỹ là kẻ thù - gần nhất và hề nhất là Venezuela. Lại như muốn xin lỗi cả thế giới Hồi giáo qua các bài diễn văn tại Cairo của Egypt và Ankara của Turkey (loại thí dụ này nhiều lắm, xin khỏi kể hết ở đây). Ông ra tối hậu thư cho Iran rồi lùi, đấu dịu với Liên bang Nga - chuyện "reset the button" của danh hài thủ vai Phó Tổng thống Joe Biden - và hai lần đỡ đòn cho Trung Quốc về tỷ giá đồng Nhân dân tệ - chống lại áp lực của Quốc hội Dân Chủ, v.v...
Nếu Hoa Kỳ còn chứng tỏ một chút gân cốt về đối ngoại thì đấy là nhờ Ngoại trưởng Hillary Clinton, nhân vật khéo léo tránh xa những tai tiếng về đối nội của Chính quyền Obama.

Mà không chỉ vuốt ve các đối thủ, Obama xẵng giọng với các đồng minh truyền thống của Mỹ. Ngẫu nhiên sao lại là các nước tư bản Tây phương, dẫn đầu là nước Đức. Có cái gì đó không ổn...
Bây giờ nhìn lại thì có lẽ người ta đã hiểu sai hoặc đánh giá sai Barack Obama. Ngày nay, hơn phân nửa dân Mỹ (55%) tin rằng Obama là người theo chủ nghĩa xã hội, với Hoa Kỳ thì đây là lời kết án rất nặng. Nhưng, chuyện quàng khăn đỏ như vậy không sai, mà... vẫn chưa đúng.
Obama không chỉ là kẻ viễn mơ còn tin vào giải pháp hoang tưởng đã phá sản của Marx và các nước xã hội chủ nghĩa. Tổng thống Mỹ không chỉ là người quàng khăn đỏ. Chủ nghĩa xã hội hay vai trò bao cấp của nhà nước chỉ là phương tiện cho một cái gì khác...
Cái đó là cái gì?

Thiếu thời, Barack Hussein Obama Junior (hay Obama II) sống ngoài nước Mỹ lục địa tổng cộng 17 năm. Thời gian đó gồm có giai đoạn ở Hawaii và được một nhà thơ da đen đảng viên Cộng sản dìu dắt, hoặc phiêu dạt ở Indonesia, Pakistan và ghé thăm lục địa Phi Châu nhiều lần. Từ bên ngoài, ông nhìn vào Hoa Kỳ với giác độ khác với dân Mỹ, trắng đen, tư sản hay lao động, ngoan đạo hay phóng túng, bảo thủ hay cấp tiến, lý tưởng hay lý tài...

Ông nhìn nước Mỹ với con mắt của "Thế giới thứ ba", các quốc gia nạn nhân chế độ thuộc địa Tây phương. Trong Đệ tam Thế giới đó, có quê hương của người cha, Barack Hussein Obama Senior (hay Obama I), một nhân vật thuộc bộ tộc Luo tại Kenya, đa thê, nghiện ngập, mắc bệnh tâm thần và thù ghét trật tự Tây phương đến xương tủy.
Thần tượng của người cha không chỉ có Karl Marx và tuyên ngôn giải phóng mà còn có những người như lãnh tụ Kwame Mkrumah của xứ Ghana hay Frantz Fanon, tác giả của "Les Damnés de la Terre" - Những kẻ khốn khổ trên ruộng đất - cuốn sách không phải viết về chuyện cải cách ruộng đất mà về chủ nghĩa thực dân, với lời tựa nổi tiếng của Jean Paul Sartre.
Với nhiều nhà tư tưởng của chủ nghĩa Đệ tam Thế giới, cách mạng chống bọn thực dân da trắng là sứ mệnh thiêng liêng vì chế độ thuộc địa ấy chưa cáo chung, và chủ nghĩa "thực dân mới" vẫn là hiện thực. Nó thoát xác thành chủ nghĩa đế quốc, với những âm mưu mờ ám của tài phiệt, doanh gia, thị trường, v.v... Nó làm ung thối ngay các nước thực dân đế quốc.
Trong thập niên 60 của thế kỷ trước, trí thức thiên tả Âu Châu và Á Phi đã từng lý luận như vậy mà đa số dân Mỹ không biết và có lẽ cũng chẳng cần biết.
Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc hay thực dân mới ấy đang kết tinh vào Hoa Kỳ.

Siêu cường toàn cầu này đang khống chế cả thế giới về kinh tế lẫn ngoại giao và quân sự nhưng bên trong đã bị ung thối, bị "tha hoá" - chữ của cánh tả để nói về khái niệm "vong thân" của Marx. Vì vậy, muốn hoàn thành sứ mạng giải phóng nhân loại thì trước tiên phải giải trừ cái căn tính "thực dân mới" ngay trong lòng xã hội Mỹ, một quốc gia thật ra chẳng có gì đáng là siêu hạng cả. Đó là giấc mơ của Obama I nay được Obama II thực hiện.
Cho nên ta đừng ngạc nhiên khi Tổng thống Obama phủ nhận cả đặc tính - hay đức tính - "exceptionalism" của Hoa Kỳ mà dân Mỹ tin là đương nhiên.
Cuốn hồi ký của Obama II có thổ lộ ảnh hưởng của Obama I ngay trên bìa, ở tựa đề mà thiên hạ không thèm hiểu. Đó là "Những giấc mơ từ cha tôi" - chứ không phải "Những giấc mơ của cha tôi". Obama là cánh tay nối dài thực hiện các giấc mơ đó từ người cha. Không phải giấc mơ của Mục sư Martin Luther King như nhiều người đã cả tin hiểu lầm.
Thành thử, chuyện "cải tạo xã hội" của cậu bé quàng khăn đỏ nhắm vào mục tiêu cao hơn là củng cố một nhà nước bao cấp. Đó là lột xác Hoa Kỳ. Từ trên đầu xuống. Hãy thử kiểm nghiệm lại mà xem...
Nhìn như vậy thì việc đảng Dân Chủ có thất cử năm nay chỉ là chuyện nhỏ!
hongvulannhi  
#1277 Posted : Monday, September 13, 2010 5:25:29 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,309

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)
Luat Nhan Qua trong cac ton giao, y hoc, tam ly hoc

[1 Attachment]
Luật Nhân Quả
Trong Đời Sống Xã Hội và Khoa Học
Thái Minh Trung, MD


Nhân quả không phải là một khái niệm tôn giáo (dogma) mà là một quy luật thiên nhiên (natural law) ảnh hưởng thế giới nội tâm và thế giới vật chất. Nhân quả còn là một lực (force) gắn liền hai biến cố với nhau qua không gian và thời gian.
LUẬT NHÂN QUẢ LÀ MỘT CUỘC CÁCH MẠNG TÂM LINH

Khi con người không hiểu luật nhân quả, con người sống trong sự sợ hãi mê tín mù mờ. Họ giải thích những hiện tượng thiên nhiên qua sự mê tín dị đoan. Thí dụ khi hạn hán mất mùa, họ nghĩ là vì ông thần đất đai giận nên phải hối lộ ông ta bằng cách cúng bái mới có được trời mưa. Mới đầu thì tế lễ bằng con gà không có hiệu quả, rồi đến con bò, đến khi sự cuồng tín lên cao có thể dẫn đến giết một em bé hay một trinh nữ để tế thần như dân tộc Incas đã từng làm. Ngoài ra trong cuộc sống hàng ngày, đi, đứng, làm cái gì quan trọng thì phải coi ngày giờ tốt như vậy để tránh sự sợ hãi của những điều xấu xảy ra bất thần chớ không hẳn là tránh được những điều xấu. Nếu quả thật có như vậy thì thế giới này không có sự đau khổ vì mọi sự đều theo ý muốn của con người. Nếu vị vua nhờ thầy địa lý giỏi nhất nước để xây cung điện nhưng nếu không thương dân, sưu cao thuế nặng, chính sách hà khắc thì ngai vàng khó giữ vững bền lâu vì bị nội loạn. Nói về hành động cá nhân, nếu không nhận thức có luật nhân quả thì không có gì ngăn cản con người làm việc ác miễn sao trốn tránh được cặp mắt của luật pháp là được, cho nên xã hội rất bấp bênh. Nếu vua và dân hiểu được luật nhân quả thì đất nước dễ thanh bình và nhân dân sẽ được hạnh phúc.

Khi Đức Phật giác ngộ thì Ngài nhận ra luật nhân quả là nền tảng của thế giới tâm linh và vật chất. Mọi hiện tượng từ tâm lý đến vật chất đều có những sự liên quan vô hình rất chặt chẽ, đó là luật nhân quả. Luật nhân quả là sợi dây vô hình nối liền hai biến cố xuyên qua thời gian và không gian. Cho nên khi hiểu luật nhân quả, ta có thể thay đổi biến cố đó theo chiều thuận cho ta, thay vì phải lo sợ hối lộ hoặc cầu khẩn một vị thần linh tưởng tượng nào đó phù hộ cho ta hoặc thỏa mãn điều ta mong ước. Sự mê tín cuối cùng sẽ đưa đến sự thất vọng và mặc cảm tội lỗi (ta có tội nặng quá nên vị thần không giúp được).

Luật nhân quả rất đơn giản, nếu muốn có một kết quả tốt thì ta phải tạo nhân lành. Thí dụ như khi ta nuôi dưỡng một ý nghĩ hận thù thì ta không thể vui cười hồn nhiên được. Khi ta gạt gẫm người khác thì tối về ngủ không yên giấc vì sợ bị phát hiện. Khi ta gieo hạt lúa thì không bao giờ được cây cổ thụ. Khi con người bắt đầu hiểu được như vậy thì họ lấy về được một phần sức mạnh của những vị thần linh. Họ bắt đầu làm chủ được tương lai của họ và lấy lại định mệnh của họ từ tay các vị thần.. Hiểu và tin được luật nhân quả là một cuộc cách mạng tâm linh (spiritual revolution) vì sự nhận thức đó sẽ phá tan gông cùm của sự mê tín và giúp con người làm chủ được cuộc sống của họ.
LUẬT NHÂN QUẢ VÀ KHÁI NIỆM KHÔNG GIAN THỜI GIAN

Khi đi từ thế giới tâm linh qua thế giới vật chất thì sự thể hiện của luật nhân quả thay đổi từ rõ đến mờ. Sự thể nghiệm ở thế giới tâm linh rất nhanh và rõ nhưng khi qua cái màn nặng nề của thế giới vật chất thì luật nhân quả bị loãng ra vì phải trải qua nhiều thời gian mới hiện ra rõ được. Cũng vì thế mà khi con mắt bị vật chất làm mờ rồi rất khó mà nhận thức luật nhân quả. Thí dụ như kẻ trộm thành công một vài lần rất khó nhận thức rằng mình sớm muộn gì sẽ vào tù. Nếu kẻ trộm đó nhận thức rằng mình cần phải thay đổi lòng tham của mình (thế giới tâm lý) thì trong tức khắc có khả năng thay đổi được chiều hướng cuộc sống mình bằng cách học nghề và làm ăn lương thiện. Ngược lại nếu anh ta cứ tiếp tục hành nghề bất lương, lòng tham càng lớn và ăn trộm càng táo bạo hơn, thì một thời gian sau đó anh bị bắt vào tù và sẽ hối hận (thế giới vật chất). Như vậy khi nhận thức ở tâm linh thì chuyển nghiệp rất nhanh, đợi khi nó thể hiện ở cõi vật chất rồi thì cái thời gian thay đổi rất chậm chạp, khó khăn, phức tạp và khổ sở. Với đời sống con người có giới hạn thời gian, sự nhận thức có được khi hoàn cảnh xấu xảy ra đôi lúc quá trễ. Con người có thể không còn đủ thời giờ để cải thiện. Ngoài ra khi họ tiến quá sâu trong hoàn cảnh xấu, trở lại điểm ban đầu rất là gian nan. Thí dụ như anh trộm khi ra tù muốn học lại thì tuổi cao, kiến thức đổi khác nhiều, bạn bè cùng lứa đã có sự nghiệp thành công hết. Anh ta phải khuất phục sự chậm chạp của tuổi cao và lòng mặc cảm để đi học lại. Mặc dù như thế, anh ta sẽ khó mà ngang hàng với các bạn được vì mất khoảng thời gian quá lâu trong tù.

Khi hiểu được luật nhân quả thì câu hỏi có định mệnh hay không là tùy nơi con người. Định mệnh có thật khi ta để lực nhân quả lôi cuốn và thụ động để cái nhân ở tâm lý biến thành cái quả ở thế giới vật chất. Định mệnh không có khi ta chủ động biến chuyển những tư tưởng (nhân) xấu thành tốt và theo đó diễn biến (quả) tốt lành sẽ đến với ta. Đôi lúc cái nhận thức nhân quả ở thế giới vật chất rất khó khăn vì có người làm lành mà sao lại gặp ác, rồi họ đâm ra chán nản và cho rằng không có luật nhân quả. Sở dĩ như vậy vì con mắt phàm không thể nhìn thấu được quá khứ và không hiểu được những khúc mắc của nghiệp. Nhưng nếu có người nào đói giữ được tâm hồn tha thứ buông xả thì mặc dù biến cố xấu đến với họ đó, nhưng cái tác động trên tâm lý tạo sự đau khổ giảm đi rất nhiều. Thì đó chẳng qua là một điều lành trong một biến cố dữ. Hiểu được luật nhân quả ở tâm thì ta nhận thức rõ hơn và ta sẽ thấy sự thay đổi nhanh hơn.
NHÂN-DUYÊN-QUẢ

Nghiệp là những biến cố vui buồn xảy ra trong đời người. Nghiệp, dòng sông nhân quả trong cuộc đời con người, rất là phức tạp. Nghiệp không phải đơn giản như một cái máy, ta bấm nút (nhân) thì máy hoạt động (quả). Nghiệp có thể ví như một dòng sông và nhân quả là những phân tử (molecule) nước lưu chuyển, tác động lẫn nhau trong dòng sông đó. Ngoài nhân-quả ra còn yếu tố duyên nữa. Duyên là những yếu tố ở không gian và thời gian giúp nhân trở thành quả hoặc ngược lại ngăn cản hoặc đình trệ sự nối liền của nhân quả, làm giảm sức mạnh của quả. Sự sống đa dạng và sáng tạo là nhờ duyên. Như vậy duyên đóng vai trò điều chỉnh nhân-quả. Thí dụ dễ hiểu là khi ta gieo hạt lúa (nhân) trong đồng ruộng ẩm ướt phì nhiêu (duyên) thi vài tháng ta sẽ có những cộng lúa xanh mượt (quả). Nếu có người lữ hành băng qua sa mạc và làm rơi một hạt lúa thì ngàn năm sau hạt lúa đó vẫn là hạt lúa (nghịch duyên). Nếu hạt lúa đó được gió thổi rơi vào một nơi ẩm ướt trên sa mạc thì hạt lúa sẽ mọc thành cộng lúa nhưng rất yếu ớt vì thiếu phân bón. Như thế ta thấy rằng cùng một nhân, qua nhiều duyên khác nhau sẽ cho ta kết quả khác nhau. Thực tế nhân quả không đơn giản như trên mà hoạt động như một mạng lưới nhện (web).
Một nhân có thể là khởi đầu của một chuỗi phản ứng. Những yếu tố duyên tác động lên chuỗi phản ứng đó để cho ra nhiều kết quả ở nhiều từng lớp khác nhau. Thí dụ: Có một người vì lòng tham (nhân) phá rừng bán gỗ làm lợi nhuận cho riêng mình. Trời mưa, không có rễ cây hút nước (duyên) nên tạo thành lụt (quả), loài chim mất môi sinh (duyên) dời đi nơi khác (quả). Không có chim ăn (duyên) nên sâu bọ lan tràn đồng ruộng (quả). Không có cây hút thán khí (CO2) nên từ đó khí hậu bị ô nhiễm. Một nhân thiếu sáng suốt sẽ gây ra rất nhiều hậu quả tai hại về sau mà ta khó có thể lường trước được.

Giới luật là nhằm biến đổi cái duyên để cho cái nhân tham, sân và si không có cơ hội để biến thành quả dữ (tham-ăn trộm, sân-giết choc,si-đau khổ). Xuất gia là tránh xa những duyên có thể dẫn đến quả dữ và gần gũi với những duyên khuyến khích quả lành được biểu hiện. Tuy nhiên thay đổi duyên ở thế giới vật chất không bền vững lắm. Thí dụ lòng tham tiền có thể biến thành tham chùa mình được đẹp nhất, sân (giận) có thể biến thành bực bội khi đệ tử quên chắp tay xá mình, và si là chấp vào thời gian tụng kinh mà không hiểu ý kinh tạo ra sự tranh chấp hơn thua. Cho nên vào cảnh tịnh mà còn giữ mầm mống tham, sân, si thì cảnh tịnh đó sẽ trở nên cảnh ưu phiền.

Thiền tông chú trọng đến cái duyên ở tâm là tư tưởng. Tham, sân, si mà không có tư tưởng để nuôi dưỡng chúng thì dần dần sẽ tự tiêu mòn. Cho nên giữ giới nơi tâm thì hiệu nghiệm hơn là giữ ở thân hay cảnh. Nếu tâm ta nuôi dưỡng sự bực dọc mà miệng thì tụng kinh thì khó có thể mà ta có được hạnh phúc vì càng tụng kinh, càng mệt mỏi thì sự bực dọc càng nhiều hơn nữa. Một trong những phương pháp thiền là ta nhận thức sự bực bội và từ bi hỷ xả phóng sanh nó ra theo từng hơi thở nhẹ nhàng rồi dần dần sự bực bội đó sẽ tan biến. Đó là một cách “tụng kinh sống” hữu hiệu nhất. Tụng kinh sống là tụng ý (thay vì chữ) kinh trong từng hơi thở, trong lúc đi, đứng, nằm và ngồi. Nói một cách khác, thiền hay tụng kinh sống là khi ta ý thức không tạo cái duyên nuôi dưỡng tham, sân, si trong tâm ta. Nếu ta không nuôi chúng thì tự động chúng sẽ rời bỏ ta. Rồi ta sẽ trở về sống với con người hạnh phúc của ta.
NHÂN QUẢ VÀ THIÊN CHÚA GIÁO

Mặc dù Thiên Chúa giáo không đề cập nhân quả một cách trực tiếp nhưng tất cả những câu chuyện trong Thánh kinh đều khuyên răng con chiên hãy củng cố lòng tin Chúa, thương người, giúp đỡ xã hội thì sẽ được cuộc sống hạnh phúc trong vĩnh cửu. Nói một cách khác Chúa khuyên con chiên tạo nhân lành (lòng tin, thương người, tha thứ), tạo duyên lành (xây dựng một xã hội lấy nền tảng là sự yêu thương đùm bọc lẫn nhau, truyền bá công bằng bác ái cho nhiều người được nhận thức) thì kết quả cuộc sống hạnh phúc sẽ dễ được thực hiện trên thế gian này và nếu tất cả mọi người làm được thì sẽ được hạnh phúc trong vĩnh cửu.

Tuy nhiên có nhiều con chiên quá cuồng tín dùng sức mạnh áp đặt niềm tin lên kẻ khác và kết quả là hận thù và chiến tranh. Điều dễ hiểu là vì cái nhân là tham (muốn cá nhân mình được nhiều phước khi dẫn người khác vào đạo), sân (bực tức khi người ta không theo đạo mình) và si mê (ngạo mạn coi đạo mình trên tất cả các đạo khác) thì kết quả sẽ là chiến tranh và đau khổ. Vấn đề này không hẳn xảy ra ở đạo Thiên Chúa mà còn gặp ở nhiều tôn giáo khác. Đó là vì con người mê lầm không chữa trị cái tham, sân, si nơi chính mình mà muốn thay đổi thế gian. Muốn cái quả khác cái nhân thì không bao giờ có được. Nếu có kẻ nào nói làm được, hẳn là họ tự gạt chính họ, sống trong ảo tưởng u mê. Tôn giáo cũng như thuốc, trị đúng bệnh thì thuốc hay, dù có thuốc quý mà dùng sai bệnh thì thuốc quý có thể thành độc dược. Vì thế không thể nói thuốc này hay hơn thuốc kia được. Đạo Phật có thí dụ ngón tay (phương tiện) chỉ mặt trăng, nếu ta ở nhiều nơi khác nhau thì ngón tay sẽ chỉ nhiều hướng khác nhau, nhưng khi nhìn thấy mặt trăng (cứu cánh) thì chỉ có một.

Tác động trên tâm lý của Thiên Chúa giáo là dùng tình thương người và sự tha thứ tạo cái duyên lành làm giảm bớt ảnh hưởng của hoàn cảnh xấu (quả). Nếu ta tin vào một Thượng Đế công bằng bác ái ở bất cứ mọi nơi và mọi lúc, thì ta giao phó cho Ngài xử phạt những bất công trong cuộc đời ta. Như thế ta không mất ngủ bực tức tìm cách trả thù hay tìm những lời nói đâm thọc xỏ xiêng. Với lòng tin đó ta sẵn sàng tha thứ kẻ muốn ám hại ta, tâm ta được an ổn và ta gieo rắc sự an ổn đó cho những người chung quanh ta. Làm được như vậy, mặc dù ta không mở miệng truyền giáo nhưng sẽ có rất nhiều người theo vì họ mến ta. Như thế lời cầu nguyện hữu hiệu nhất phát xuất từ tư tưởng tha thứ thương yêu chớ không phải từ miệng nói tiếng thương yêu trống rỗng. Giáo đường chân thật của một linh mục hay mục sư là sự an ổn của con chiên khi họ cảm nhận được tình thương và sự tha thứ chân tình qua hành động của vị mục sư đó, chớ không phải cái giáo đường bằng ngói, bằng gạch. Cái giáo đường vật chất không bao giờ làm ấm được lòng người. Ta không thể nào gieo rắc sự an lành chung quanh ta nếu ta không có cái nhân của sự an lành đó trong tâm ta. Ta có thể dối chính ta chớ không thể dối với Thượng Đế và luật nhân quả được.
NHÂN QUẢ VÀ Y HỌC

Tuy nhân-quả xuất xứ từ Phật giáo nhưng không hạn chế ở phạm vi tôn giáo. Hiểu được nhân quả giúp ta rất nhiều trong việc phòng ngừa bệnh tật. Trong Đông Y có câu người y sĩ giỏi trị bệnh lúc mà bệnh chưa phát triển. Y khoa hiện đại cũng đồng ý với vấn đề ngưà bệnh hơn là chữa bệnh. Cách tốt nhất cho con người về vấn đề sức khỏe và xã hội về vấn đề tài chánh là thay đổi cuộc sống để ngừa bệnh. Muốn ngừa bệnh (quả) ta phải hiểu cho ra lẽ những yếu tố gây ra bệnh (nhân), tìm cách làm suy giảm những nguyên nhân gây ra bệnh, tìm cách không tạo duyên xấu để cho hậu quả bệnh dễ xảy ra và củng cố những duyên lành để ngăn ngừa bệnh.

Bây giờ ta hiểu nguyên nhân của nhiều chứng bệnh là do vi trùng (bacteria) và vi khuẩn (virus) có kích thước nhỏ hơn vi trùng gây ra. Để làm suy giảm những nguyên nhân tạo ra bệnh, những nhà thuốc sáng chế ra các loại thuốc trụ sinh. Sự ỷ y có thuốc trụ sinh để trị bệnh mà không cần phòng ngừa hoặc dùng thuốc trụ sinh một cách không phân biệt đưa đến sự ra đời của những siêu vi trùng (“super bugs”) có sức kháng trụ sinh. Về phần bệnh nhân phải ráng ăn ở vệ sinh để không tạo cái duyên cho những loại vi trùng xâm chiếm cơ thể họ. Vaccine (chích ngừa) là cách phòng ngừa bệnh bằng cách dùng bộ kháng nhiễm (immune system) để chống lại bệnh. Vaccine là một cách thay đổi duyên làm cơ thể không thuận cho sự phát triển của bệnh. Một cách ngừa bệnh khác nữa là ta ăn ở vệ sinh, tìm cách tránh những nơi dễ gây ra bệnh tật là góp phần vào sự củng cố những duyên không thích hợp cho bệnh phát triển. Thực tế, ta không thể nào diệt trừ được tất cả những nhân tạo bệnh mà cách dễ dàng nhất là biến đổi cái duyên không thuận cho bệnh (quả) phát triển. Con đường trị bệnh bằng cách diệt trừ nhân một cách hoàn toàn rất nguy hiểm vì có thể đưa đến sự mất cân bằng môi sinh và có thể tạo nhiều mối hiểm nguy khác. Thí dụ như khi ta đi du lịch ở những nước khác dễ bệnh tiêu chảy vì ở điều kiện ta sống không có loại vi trùng đó (nhân bị diệt) nên cơ thể ta không có chất miễn nhiễm, dễ sanh ra bệnh. Đứng trên phương diện năng lượng (sức lực, thời gian, tài chánh), dùng duyên để phòng ngừa quả là áp dụng năng lượng một cách hữu hiệu nhất.
NHÂN QUẢ VÀ TÂM LÝ HỌC

Stress, sự căng thẳng tinh thần, là vấn đề lớn của thời đại. Stress có thể coi như cái cửa mở cho nhiều bệnh tật vào thân thể ta. Những triệu chứng khởi đầu của stress là lo âu, bực bội và mất ngủ. Ngoài ra nhức đầu, buồn nôn, mất ăn, cao máu với nhịp tim đập nhanh cũng có thể là một triệu chứng của stress nữa. Thửơ xưa, Đức Phật có cho một thí dụ rất thích hợp với stress ngày nay. Thí dụ rằng có một người bị mũi tên bắn bị thương. Người đó lo âu muốn biết mũi tên này từ đâu tới, ai bắn, lý do nào bắn, rồi lo sợ cho tính mạng, không biết vết thương như thế nào... người đó cứ mãi lo mà quên tìm cách tháo gỡ mũi tên ra. Tính chất của lo âu là nó không bao giờ chịu dừng ở hiện tại mà lại có chiều hướng lẩn quẩn ở quá khứ hoặc tương lai. Chính vì vậy mà sự lo âu ngày càng tăng vì khi tư tưởng lẩn quẩn ở quá khứ và tương lai thì ta sẽ không giải quyết được vấn đề và tình trạng vô định đó tạo nên cái duyên làm cho lo âu càng lớn dần.

Một khoa tâm lý trị liệu (psychotherapy) trị stress là Cognitive behavioral psychotherapy, tạm dịch là tâm lý trị liệu qua nhận thức. Ta nhận thức ta có những tư tưởng sai lầm dẫn đến sự lo âu đau khổ (1), quán xét kỹ càng rằng những tư tưởng đó không có liên hệ ở thực tế (2), sau cùng thay thế vào đó những tư tưởng thích hợp với thực tại hơn (3). Khi nhận thức thích hợp với thực tại thì ta sẽ tìm được biện pháp giải quyết vấn đề một cách hữu hiệu và từ đó nhẹ gánh lo âu.. Thí dụ anh A có triệu chứng hay lo (general anxiety disorder). Khi bị chủ sở phê bình, anh về ngủ không được, liên tưởng đến ngày mai mình sẽ mất việc, không có tiền trả tiền nhà, vợ anh sẽ bực bội bỏ anh (1)... Qua khâu tâm lý trị liệu, anh kiểm duyệt lại thực tế thì không thấy có dấu hiệu nào chủ sở sẽ đuổi anh, chủ anh chỉ muốn anh sửa khuyết điểm nhỏ mà thôi, vợ chồng lúc nào cũng hòa thuận(2)... Khi nhận thức như vậy, anh cảm thấy yên tâm và hiểu rằng mình có phản ứng quá đáng (3). Khi nhìn ở khía cạnh nhân duyên quả, thì khi anh nhận thức rằng cái nhân sai lầm không quan trọng lắm, không để những tư tưởng lo âu thổi phòng sự thật (nghịch duyên), và anh tìm cách học hỏi trau dồi nghề nghiệp thì kết quả sẽ tốt đẹp. Như thế hiểu được nhân quả thì cuộc sống ta sẽ nhẹ gánh lo âu.
Lời Kết:

Nhân quả không phải là một khái niệm tôn giáo (dogma) mà là một quy luật thiên nhiên (natural law) ảnh hưởng thế giới nội tâm và thế giới vật chất. Nhân quả còn là một lực (force) gắn liền hai biến cố với nhau qua không gian và thời gian.

Ta khó có thể thay đổi nhân ở quá khứ, nhưng điều dễ làm là thay đổi duyên ở hiện tại để quả dữ khó có thể biểu hiện được. Ở thế giới vật chất, duyên lành là bạn tốt, nơi chốn yên tịnh (chùa, tu viện, thiền đường, học đường...).. Ở thế giới tâm lý, duyên lành là ý muốn học hỏi, trau dồi trí tuệ, cố giữ lòng nhân từ, bác ái và tha thứ. Gần duyên lành thì quả xấu khó thể hiện hoặc thể hiện một cách yếu ớt hơn.

Nếu ta còn giữ tâm tham, sân, si làm nhân và nuôi dưỡng những tư tưởng tham, sân, si (ác duyên) thì không bao giờ biến đổi được cuộc sống hay xã hội một cách tốt lành được (quả). Cảnh lúc nào cũng hiện theo tâm. Người mang tâm xấu lên thiên đàng sớm muộn gì cũng biến cảnh thiên đàng thành địa ngục.

Hiểu được nhân – quả thì ta nắm giữ được chìa khóa mở cửa tự do trong đời ta và giúp ta làm chủ lấy cuộc đời. Không hiểu nhân quả thì ta sẽ sống trong mê tín dị đoan hay trong sự lo âu của cuộc sống vô định, bấp bênh.

Hiểu được nhân quả giúp ta định hướng dễ dàng và có một hướng đi và một quan niệm sống vững chắc trước mọi hoàn cảnh khó khăn. Thái Minh Trung, MD
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

mv  
#1278 Posted : Monday, September 13, 2010 5:45:05 PM(UTC)
mv

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 2,454

Thanks: 5 times
Was thanked: 8 time(s) in 8 post(s)
Sao chị thức khuya thế Wink
hongvulannhi  
#1279 Posted : Monday, September 13, 2010 6:04:45 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 31,309

Thanks: 2492 times
Was thanked: 5339 time(s) in 3585 post(s)
* mv ơi, gửi em xem nè. -hvln- ---------------------------------------
Subject: Quá tuyệt - Great performance AMAZING

Cặp vũ công này biểu diễn quá hay và đầy nghệ thuật....
Các đoàn vũ Ballets chỉ nhón gót xoay xoay, xem hoài phát chán... So với cặp này, vừa là nghệ sĩ vừa là khác xa 1 trời 1 vực....!!!!


http://www.youtube.com/watch?v=GsTqmEeBKhw&NR=1
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Tu Bich  
#1280 Posted : Monday, September 13, 2010 11:00:55 PM(UTC)
Tu Bich

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 1,508

Quá khứ và hận thù.
Phạm Bá Hoa


Trong paltalk tối 30/04/2010 trên Diễn Đàn Chính Nghĩa Việt Nam Cộng Hòa, tôi đóng góp đề tài “Việt Nam sau 35 năm bị cộng sản cai trị”. Nội dung, nhận định về những chính sách của lãnh đạo cộng sản Việt Nam (CSVN) cai trị nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ 1954 đến 1975, và trên toàn cõi Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa từ 1976 đến nay. Tôi có nhận định này do mắt thấy tai nghe trong thời gian bị giam hơn 12 năm trong 4 trại tập trung từ Nam ra Bắc, cộng với hơn 3 năm làm thủ tục xuất ngoại, và từ khi tị nạn cộng sản tại Hoa Kỳ trong đợt HO5 đến nay. Theo đó, những chính sách cai trị của cộng sản lồng trong hệ thống giáo dục học đường và giáo dục xã hội với mục đích duy nhất là thực hiện bản chất độc tài tàn bạo, tạo cho người dân thường xuyên sống trong sợ hãi mà phục tùng, vì có như vậy chúng mới bảo vệ được đảng cộng sản để chúng nắm giữ quyền lực trọn đời như những triều đại phong kiến xa xưa. Chính bản chất đó của cộng sản đã tạo nên một xã hội dối trá. Lãnh đạo dối trá, cán bộ dối trá, đảng viên dối trá, giáo dục dối trá, kinh tế dối trá, y tế dối trá, tư pháp dối trá, ..v..v.. Tất cả đều dối trá, vì vậy mà người dân phải sống với nhau cũng bằng dối trá mới tồn tại được trong một xã hội toàn dối trá bắt nguồn từ bản chất của CSVN

Chẳng những vậy, cộng sản Việt Nam còn dối trá với thế giới nữa. Bản chất đó ngày càng xảo trá gian manh cộng thêm hành động côn đồ đối với đồng bào, nhưng lại vô cùng khiếp nhược trước những hành động lấn chiếm trên đất liền, lấn chiếm các đảo và quần đảo trong vùng Biển Đông, kể cả vịnh Bắc Việt. Chưa hết, các nhà thầu Trung Hoa cộng sản còn “được trúng thầu” các dự án lớn nhất là xi măng, điện, hóa chất, hầm mỏ. Sau khi trúng thầu, chúng được đưa toàn bộ công nhân -hay lính trá hình- và gia đình sang xây dựng làng mạc tại các địa điểm thực hiện dự án. Liệu, vào một buổi sáng xấu trời nào đó, khi mọi người thức dậy nghe bản tin từ hệ thống truyền thanh truyền hình cho biết “Việt Nam trở thành tỉnh A của Trung Hoa cộng sản” chăng? Với tình trạng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay, thật sự trong tình trạng lâm nguy! Bởi:
Về kinh tế. Tồng sản phẩm quốc gia tính theo đầu người năm 2009 vừa hơn 1.000 mỹ kim, nhưng theo thống kê của ngân hàng thế giới thì 65% dân số bên ngoài các thành phố lớn, mỗi người chỉ thu nhập 400 mỹ kim/năm. Như vậy, số 600 mỹ kim sai biệt của khoảng 56 triệu người (56% dân số) mà đa số là dân nông thôn, trở thành tài sản riêng của các cấp lãnh đạo CSVN.
Về chính trị. Lý tưởng mà CVSN đưa ra từ những năm 30 đã sụp đổ trong thế giới cộng sản từ đầu thập niên cuối của thế kỷ 20, từ đó CSVN sử dụng tham nhũng để che chắn cho nhau và cùng nhau chịu sự che chắn của Trung Cộng để bảo vệ ngôi vị quyền lực. Vì vậy mà CSVN vô cùng khiếp nhược với Trung Cộng để được Trung Cộng thỏa hiệp, và sự thỏa hiệp này cho phép Trung Cộng thản nhiên gậm nhấm từng mảng đất và biển của Việt Nam. Sự khiếp nhược của CSVN đến mức tưởng chừng Việt Nam đang là một phần lãnh thổ dưới hình thức nào đó của Trung Cộng vậy. Đối với đồng bào: (1) CSVN chỉ “mở cửa kinh tế”, cánh cửa phát triển và hướng xã hội ra khỏi cánh cửa chính trị, đồng thời cũng là cánh cửa dành cho lãnh đạo các cấp tham nhũng. (2) Nhưng CSVN lại “đóng chặt cánh cửa chính trị”, cánh cửa của dân chủ tự do và quyền con người.
Về giáo dục. Với chính sách giáo dục của CSVN từ trước đến nay, chỉ trong mục đích đào tạo những thế hệ thần dân để tuân phục họ trong mục đích bảo vệ đảng và phục vụ cho đảng, mà đảng chỉ là một nhóm đảng viên hơn 100 người trong Ban Chấp Hành Trung Ương của chúng, cho nên Việt Nam không có những công dân đúng nghĩa để phục vụ quốc gia dân tộc.
Về xã hội. Việt Nam ngày nay là một xã hội băng hoại, một xã hội mà mọi người sống với nhau bằng những cách những kiểu lọc lừa dối trá, do chủ trương của CSVN tạo nên. Vì chế độc tài cộng sản không có bất cứ điều gì đem lại lợi ích thật sự cho đồng bào, nên chúng phải che giấu sự thật bằng dối trá với người dân, dối trá với đảng viên của chúng, và dối trá ngay với bản thân của chúng nữa.
Về ngoại giao. CSVN dối trá với các quốc gia dân chủ tự do, nhưng lại tuân phục Trung Cộng đến mức như thể Việt Nam chuẩn bị trở thành một đơn vị hành chánh của Trung Cộng, mà bài viết “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” của tác giả Đỗ Ngọc Bích đang là du sinh tại đại học Hawaii nối vào trưởng ban Việt ngữ đài BBC vừa qua, “”phải chăng là quả bóng vừa thăm dò vừa chuẩn bị giai đoạn thi hành lệnh của Trung Cộng núp dưới điều mà CSVN và CSTH gọi là 16 chữ vàng chăng?”
Tóm tắt. Cho dẫu từ những góc độ khác nhau, và từ những nét nhìn khác nhau, trong đó vẫn có nét nhìn chung rằng: “Sau 35 năm cai trị Việt Nam, chế độ độc tài toàn trị đã và đang là thảm họa cho dân tộc Việt Nam, gây ra vô vàn tộc ác với lịch sử và dân tộc, trong đó, chính sách giáo dục thần dân để tuân phục lãnh đạo CSVN là tội ác nặng nhất, vì đã dẫn đến một xã hội băng hoại tất cả các lãnh vực sinh hoạt, ảnh hưởng trực tiếp đến những thế hệ hiện nay và dài lâu đối với những thế hệ tiếp sau. Tội ác của CSVN như vậy, nhưng người dân các thành phần trong xã hội rất ít biết được, bởi chính sách bịt mắt bịt tai bit mệng của CSVN.

Ngay sau 45 phút phát biểu, một người xưng là “Em gái Mỹ Tho” -có lẽ là người trong nước- nêu câu hỏi: “Với một quá khứ như vậy, ông có hận thù cộng sản không?”

Tôi đáp: “Tôi không hận thù cộng sản, nhưng tôi không bao giờ quên quá khứ của cộng sản”. Tiếp đó, tôi giải thích một cách tổng quát câu trả lời này với một số dẫn chứng.

Trong bài viết này, xin dẫn chứng rõ thêm những sự kiện thể hiện bản chất hận thù của CSVN đối với tất cả mọi người không tuân phục chúng:

Thứ nhất. Tôi không hận thù, vì lòng hận thù thường xuyên trói buộc sự suy nghĩ của mình, làm cho mình chỉ quanh quẩn với những ý nghĩ tìm cách trả thù. Đó, chính là lúc mà tâm hồn mình trong trạng thái ở địa ngục, vì thiên đường hay địa ngục không phải là nơi chốn, không phải trên trời hay trong lòng đất, cũng không phải chỗ này hay chỗ kia, mà thiên đường hay địa ngục chỉ là một trạng thái tâm hồn. Và khi không thoát ra được sự trói buộc đó thì mình không thể có được suy nghĩ gì để đóng góp vào sinh hoạt Cộng Đồng, nhất là không đóng góp được gì cho cuộc đấu tranh thực hiện một xã hội công bằng, dân chủ, tự do, cho đồng bào trên quê hương. Dù chì là những đóng góp nhỏ nhoi của mỗi cá nhân, nhưng khi những cá nhân kết hợp lại sẽ trở thành một sức mạnh vùng lên lật đổ chế độ độc tài chỉ biết thù hận thù và trả thù. CSVN nuôi dưỡng hận thù vì chúng sợ hãi mọi người giành quyền lực, nên đầu óc của chúng chỉ suy nghĩ tìm những cách trả thù.

Xin nhìn lại vài sự kiện thể hiện sự trả thù của CSVN:
1. Vì hận thù mà tiêu diệt giai cấp trong cải cách ruộng đất 1954-1956.

Tháng 3/1953, CSVN ban hành sắc lệnh qui định những thành phần xã hội, gồm: Ðịa Chủ là những người có từ 3 mẫu ta ruộng đất trở lên, Phú Nông có 3 mẫu ruộng và 1 con trâu, Trung Nông có 1 tới 3 mẫu ruộng và 1 con trâu, Bần Nông có chút ít ruộng đất, và Bần Cố Nông là những tá điền không đất ruộng. Trong đại hội đảng CSVN vào cuối tháng 11/1953 đưa ra luật “cải cách ruộng đất”‘ và Quốc Hội bù nhìn thông qua. Sau tháng 07/1954, CSVN tịch thu toàn bộ đất đai tài sản của bất cứ ai bị gán cho cái tội phản động, Việt gian, địa chủ, và cường hào ác bá, trong đó bao gồm cơ sở tôn giáo, những người từng theo CSVN ngụy trang dưới tên gọi Việt Minh trong kháng chiến chống Pháp 1946-1954. Một Ủy Ban Cải Cách Ruộng Ðất tại trung ương do Trường Chinh đứng đầu. Tại địa phương, thành lập mỗi tỉnh 10 đoàn với nhân số mỗi đoàn có 100 cán bộ, đoàn trưởng có chức vụ ngang hàng với bí thư tỉnh ủy, chỉ làm việc thẳng với trung ương . Mỗi đoàn lại chia thành nhiều đội với nhân số từ 6-7 người mà đội trưởng lại là thành phần bần cố nông sinh sống tại địa phương. Chủ trương của CSVN “Thà giết oan 10 người còn hơn bỏ sót 1 tên phản động”‘.
Kết quả Cuộc Cải Cách Ruộng Ðất 1954-1956, đã giết chết từ 120.000-200.000 người, trong số này có khoảng 40.000-60.000 cán bộ đảng viên. Hằng trăm ngàn người liên hệ gia đình, bị đày trong các trại tập trung cải tạo. Sự tàn bạo có một không hai trong dòng sử Việt, khiến cho cả nước oán hận căm thù nên họ bất chấp súng đạn, nổi lên phản đối dữ dội nhất tại huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An). Nngày 13/11/1956 CSVN sử dụng Sư Đoàn 325 thẳng tay đàn áp cuộc nổi dậy của nông dân trong tay chỉ có gậy gộc, cuốc xẻng ... kéo dài hơn 10 ngày. Kết quả có hơn 1.000 người vô tội bị bắn chết, hằng ngàn người khác bị đẩy vào các trại tù. (tham khảo bài Cuộc Nổi Dậy Quỳnh Lưu 1956 dường như của tác giả Trần Quốc Việt)

Nhưng theo nhật báo “Nhân Dân” của CSVN ngày 20/7/1955, sau 6 đợt cải cách ruộng đất có 10.303.004 nạn nhân. Theo bộ “Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945-2000” do Viện Kinh Tế Việt Nam xuất bản tại Hà Nội năm 2004, số người bị đấu tố lên đến 172.008 người, và sau giai đoạn sửa sai xác định trong tổng số đó có đến 132.266 người bị oan. (trích bài “Con Số 100 Triệu Nạn Nhân” của ông Tú Gàn ngày 25/6/2007)

Vậy, con số nào tin được? Cho dẫu là con số nào đi nữa, vẫn là một bằng chứng CSVN hận thù giai cấp.
2. Vì hận thù xã hội mà đánh sụp xã hội miền Nam 1975-1978.

Ngày 20/8/1975, Bộ Văn Hoá Thông Tin cộng sản Việt Nam, ra lệnh mọi người phải tiêu hủy toàn bộ văn hoá phẩm thời Việt Nam Cộng Hòa mà họ gọi là văn hóa phẩm đồi trụy và phản động. Họ mở chiến dịch truy lùng bắt giữ những ai tàng trữ, buôn bán, bắt giữ, và truy tố ra “tòa án nhân dân”. Chính sách này giống chính sách của vua Tần Thỉ Hoàng thời Trung Hoa phong kiến, và thời Mao Trạch Đông thời cộng sản. Nhà văn nữ cộng sản Dương Thu Hương viết rằng: “Sau 30/4/1965, tôi vào miền Nam choáng váng khi nhận thấy hệ thống thông tin ở đây quá phong phú. Trên các quầy sách với vô số các tác phẩm văn chương, khoa học, triết học của thế giới kim cổ Đông Tây. Rất nhiều sách triết học Mác-Lê, sách văn học Nga và Sô Viết. Trong khi ở miền Bắc mấy chục năm trời chỉ có một luồng thông tin, làm sao nhìn hết sự vật để đánh giá!”

Ngày 18/9/1975, lãnh đạo cộng sản Việt Nam bất thình lình thực hiện chính sách đổi tiền. Họ không giới hạn số tiền mang đến đổi, nhưng chỉ được nhận lại tối đa là 200 đồng mới, mà họ qui định 1 đồng bạc mới bằng 500 đồng bạc cũ (1 mới = 500 cũ). Số tiền còn lại, mỗi khi gia đình có nhu cầu phải làm đơn xin và phải được Phường/Xã chứng nhận mới được cứu xét. Còn cứu xét như thế nào thì tùy họ khi vui lúc buồn. Tháng 5/1978 đổi tiền lần nữa với trị giá 1 đồng mới = 10 đồng đang lưu hành. Như vậy, 1 đồng bạc mới = 5.000 đồng Việt Nam Cộng Hòa cũ. Một chút so sánh: Đến ngày 6/3/2009, 1 mỹ kim = 17.380 đồng VNCS. Nếu đem 1 mỹ kim x 17.380 đồng VNCS x 5.000 VNCH năm 1975 sẽ là = 86.900.000 đồng. Con số này nói rât rõ về sự mất giá của đồng bạc VNCS đến mức nào sau 33 năm cầm quyền!

Cuối trung tuần tháng 8/2010, ngân hàng Việt Nam phá giá đồng bạc lần 2 (tính từ đầu năm 2010 đến nay), từ 18.544 đồng bạc VN đổi 1 mỹ kim hồi tháng 6/2010, nay phải 18.932 đồng mới đổi được 1 mỹ kim, trong khi hối suất trên thị trường ngày 2/7/2010 đã lên đến 19.140 đồng VN = 1 mỹ kim. Những con số này cho thấy thối suất đồng bạc VN chỉ là theo đuôi thị trường tự do.

Ngày 10/11/1975, chính sách đánh vào ngành kinh doanh thương mãi, ép mọi chủ nhân mà họ gọi là “vận động” hiến tặng cho nhà cầm quyền toàn bộ cơ sở kinh doanh thương mãi, kể cả nhà ở, rồi chuyển đến các khu hoang vắng mà họ gọi là “khu kinh tế mới” tự mưu sinh. Trường hợp không chấp hành sự vận động của họ thì bị bắt vào trại tập trung, còn tài sản bị họ tịch thu. Có nghĩa là, cho dù bằng cách nào đi nữa thì tài sản cũng vào tay nhà nước cộng sản, chỉ khác ở chổ là những chủ nhân có bị vào trại tập nhỏ -tức nhà tù- hay vẫn trong trại tập trung lớn -tức xã hội- thế thôi.

Tháng 6/1977, lại một chính sách khác buộc tất cả nông dân có ruộng mà họ gọi là “vận động”, đem tập trung vào Hợp Tác Xã. Nông dân vẫn canh tác nhưng sản phẩm do Hợp Tác Xã quản trị, còn nông dân tùy theo lao động của mình bỏ ra mà nhận lại đồng lương bằng sản phẩm do Hợp Tác Xã quyết định. Và họ quản trị lao động công việc đồng áng chẳng khác những trại lính. Trần Bá Đệ, một sử gia miền bắc viết rằng: “Trong khi nông nghệp miền bắc đang trên con đường hợp tác hóa trên 15 năm đang ở lối nghẽn chưa tìm ra lối thoát, đảng lại chủ trương đưa nông nghiệp miền nam đi tiếp trên con đường đó”. (trích quyển “Lịch sử hiện đại Việt Nam 1945-2006” của tiến sĩ sử học Hoàng Ngọc Thành, xuất bản năm 2008, trang 643)

Cái chính sách toàn bộ đất đai trên toàn cõi Việt Nam thuộc về nhà nước mà nhà nước lả đảng cộng sản mả đảng là một nhóm hơn 10 đảng viên trong Bộ Chính Trị. Chính từ chính sách này mà phát sinh vô số người dân phải kêu oan khiếu nại. Từ năm 2006, sự kiện từng đoàn dân oan từ chấp nhận mọi khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày và nguy hiểm đến tính mạng, đã các tỉnh kéo vào thành phố kinh tế Sài Gòn và thành phố chính trị Hà Nội ở đó tháng này sang tháng khác, kêu oan khiếu nại với các cơ quan thẩm quyền, là bằng chứng mạnh mẽ nhất về sự áp bức bóc lột người dân về đất đai, dưới danh nghĩa xây dựng công ích quốc gia nhưng hầu hết đem bán cho các cơ quan đầu tư ngoại quốc xây dựng cơ sở sản xuất cũng như cơ sở giải trí với giá cao trong khi đền bù cho dân quá thấp. Nhà nước cộng sản dành cho cái quyền quản trị đất đai, cho người dân sử dụng nhưng khi cần là họ lấy lại đúng nghĩa của “chế độ (dân) xin và (nhà nước) cho”, nhưng khi thấy có lợi cho họ là họ lấy lại. Tình trạng dân oan khiếu nại kiện thưa từ đó đến cuối năm 2008 càng thêm phức tạp, các cấp lãnh đạo đều gian trá dối gạt đồng bào đến mức người dân oan không còn tin lãnh đạo hứa hẹn, cũng không sợ Công An đàn áp. Các cơ quan truyền thông quốc tế ước lượng có khoảng từ 30.000 đến 50.000 dân oan tham dự khiếu nại thưa kiện tại các tỉnh và thành phố mà nhiều nhất là Sài Gòn và Hà Nội.
3. Vì hận thù chế độ mà đày đọa quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Hòa 1975-1992.

Ngay sau khiếm chiếm Việt Nam Cộng Hòa, cộng sản chứng tỏ chúng là chế độ cướp công khai, cướp nhà cửa cướp cơ sở kinh doanh thương mại, nói chung là cướp mọi thứ tài sản của người dân Việt Nam Cộng Hòa cũ, nhưng họ gắn cho sĩ quan viên chức Việt Nam Cộng Hòa cái tội trấn lột tài sản của dân rồi họ giành quyền dạy dỗ để thành người lương thiện. (2) Do lòng thù hận, họ không cần đến luật pháp mà ngang nhiên bắt nhốt hằng trăm ngàn công dân Việt Nam Cộng Hòa cũ (năm 2004 mới biết được con số bị chúng bắt giam là 222.809 người) mà họ nói là giúp chúng tôi không bị dân giết. Con số trên đây do báo cáo của phòng lưu trữ hồ sơ thuộc Ban An Ninh/Sở Công An thành phố Sài Gòn mà CSVN gắn cái tên họ Hồ vào đó, đến ngày 30/7/1975, đã có 154.772 sĩ quan công chức của Việt Nam Cộng Hòa cũ chịu ra trình diện và bị bắt tập trung cải tạo. Cũng theo bản báo cáo này, tính đến ngày 30/10/1975, đã bắt thêm được 68.037 người trốn trình diện và đưa vào trại cải tạo. Như vậy, tính từ đầu tháng 5 đến cuối tháng 10/1975, số quân nhân cán bộ và viên chức Việt Nam Cộng Hòa cũ bị họ giam giữ tập trung cải tạo là 222.809 người. Đây mới chỉ là con số chánh thức do chúng công bố.

Tờ L’ humanité của đảng cộng sản Pháp, số ra ngày 21/3/1976 tại Paris, có đăng tải danh sách 321 văn nghệ sĩ thời Việt Nam Cộng Hòa, đã bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam bắt vào trại tập trung cải tạo từ ngày 13/6/1976.

Thứ hai. Tôi không quên quá khứ của cộng sản Việt Nam, vì cái quá khứ hơn nửa thế kỷ qua mà cộng sản Việt Nam gây ra cho dân tộc và quê hương Việt Nam, quá sức tưởng tượng của mọi người dân Việt bình thường! Tôi nói “bình thường” để phân biệt với người cộng sản là con người không bình thường khi nhìn từ góc độ đạo lý trong văn hoá Việt Nam.

Cùng với cái quá khứ tàn bạo của CSVN đối với mọi thành xã hội dưới quyền cai trị của chúng, xin nhìn lại cái quá khứ vô cùng khiếp nhược của CSVN trước một Trung Hoa cộng sản bá quyền, bất cứ cơ hội thuận lợi nào từ trong lịch sử xa xưa đến thời cận đại và ngay trong đương đại, là chúng lấn chiếm hoặc gậm nhấm đất nước ta. Vậy mà:

Ngày 14/9/1958, Thủ Tướng CSVN Phạm Văn Đồng ký văn kiện ngày 14/9/1958, công nhận vùng Biển Đông bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trở thành lãnh thổ của nước Trung Hoa. Đây là hành động chư hầu của nhóm lãnh đạo VNCS đối với THCS chẳng khác thời phong kiến xa xưa trong lịch sử! Với văn kiện này không thể do ông Thủ Tướng họ Phạm quyết định mà phải là lệnh của Bộ Chính Trị do ông Hồ lãnh đạo. Từ đó khẳng định ông Phạm ký văn kiện đó là theo lệnh ông Hồ.

Ngày 30/12/1999, Lê Khả Phiêu, Tổng Bí Thư đảng CSVN ký Hiệp Ước dâng 789 cây số vuông dọc biên giới để trừ nợ mua vũ khí đạn dược sử dụng trong chiến tranh xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa 1955-1975, là hành động cắt đất bán cho THCS!

Ngày 25/12/200, ông Trần Đức Lương đến Bắc Kinh cùng Giang Trạch Dân ký Hiệp Ước cắt 11.362 cây số vuông trên vịnh Bắc Việt cho Trung Hoa cộng sản, là hành động cắt biển bán cho THCS để lấy 2.000.000.000 mỹ kim, mà theo lời ông Lương để “vuốt ve” sức phản kháng của ông Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, và những người khác trong Quốc Hội. Phải viện dẫn lý do thăm viếng, vì sau khi những tin tức loan truyền khá rộng rãi tại Hà Nội, loan dần vào miền Nam về Hiệp Ước ngày 31/12/1999 bán đất cho THCS và đã âm thầm đưa Hiệp Ước ra Quốc Hội phê chuẩn ngày 9/6/2000. Với hành động không công khai minh bạch, chứng tỏ lãnh đạo VNCS biết những hành động đó là hành động tội ác nên phải che giấu người dân dưới quyền. Biết vậy mà vẫn hành động, chính xác là lãnh đạo VNCS đặt quyền lợi đảng cộng sản Việt Nam lên trên quyền lợi tổ quốc quyền lợi dân tộc, vì quyền lợi của đảng đồng nghĩa với quyền lợi riêng tư của nhóm lãnh đạo hơn 100 đảng viên trong ban chấp hành trung ương của họ.

Vậy là, ngoài nhóm 4 tên lãnh đạo với tội ác nói trên đã bán đất bán biển cho THCS, thêm nhóm lãnh đạo với tội ác thỏa hiệp cho THCS sáp nhập quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào quận Tam Sa tỉnh Hải Nam hồi đầu tháng 12/2007. Rồi tội thêm tội khi họ sử dụng “hung thần” Công An ngăn chận thanh niên sinh viên học sinh biểu tình ngày 9 & 16/12/2007 phản đối THCS chiếm hai quần đảo nói trên của Việt Nam. Chưa hết, lại tội thêm tội khi các thành phần phẫn uất hành động của THCS lẫn phản ứng của VNCS chuẩn bị mít tinh biểu tình trước tòa đại sứ THCS vào ngày 14/9/2008, phản đối chúng trưng dẫn văn kiện của Phạm Văn Đồng gởi THCS vào ngày này 50 năm trước, lại bị đám “hung thần” Công An tại Hà Nội cũng như tại các địa phương, ra sức ngăn chận bắt giữ thẩm vấn những ai mà họ nghi sẽ tham gia mít tinh biểu tình. Nhóm lãnh đạo tội ác này là Nguyễn Minh Triết trong chức Chủ Tịch nước và Nguyễn Tấn Dũng trong chức Thủ Tướng.

Với những hành động gian trá giấu diếm khi ký ba văn kiện ngày 14/9/1958, ngày 30/12/1999, ngày 25/12/2000, cộng với những hành động gian trá của Quốc Hội khi phê chuẩn hai Hiệp Ước nói trên, cộng thêm sự thỏa hiệp để Trung Hoa cộng sản thành lập huyện Tam Sa bao gồm Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam, lại còn sử dụng Công An đàn áp những ai thể hiện ý thức chính trị ôn hòa qua hành động mít tinh biểu tình phản đối hành động của THCS lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam, đích danh Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, là những tên bán đất bán biển cho THCS, một quốc gia với chiến lược trường kỳ xâm chiếm Việt Nam chúng ta! Chỉ riêng cái tội kinh hoàng này mà dân gian gọi là “trời không dung đất không tha”, đã quá đủ để đưa những tên này ra tòa án quốc gia phán xét, và lưu mãi trong sử sách truyền mãi trong dân gian cho đến ngàn năm sau như những tên bán nước từ ngàn năm trước. Kẻ bán nước không được gọi bằng ông hay bất cứ cách gọi nào khác dành cho người tử tế cho dù họ bao nhiêu tuổi.

Chưa hết, tháng 12 năm 2008, Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố rằng: “Khai thác quặng Bauxite là chủ trương lớn của đảng” (mà đảng là nhóm lãnh đạo)”. Thỏa hiệp này cho Trung Hoa cộng sản đưa hằng ngàn thậm chí là hằng chục ngàn công nhân và lực lượng quân đội dưới danh nghĩa bảo vệ an ninh vùng khai thác quặng Bauxite trên Cao Nguyên miền Trung tạo môi trường sống vùng này trở nên tồi tệ. Và tồi tệ hơn hết nếu giả thuyết sau đây rất có thể trở thành sự thật là một lực lượng quân đội THCS sẽ đồn trú dài hạn nơi đây dưới danh nghĩa nào đó mà lãnh đạo VNCS không thể khước từ do lệ thuộc THCS”.

Nước Việt Nam ta qua nhiều ngàn năm lịch sử với biết bao thăng trầm vinh nhục, nhưng chưa có triều đại nào cũng chưa có nhóm lãnh đạo nào tồi tệ đê hèn như nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam, đã vì quyền lợi riêng tư mà dâng nộp cho Trung Hoa cộng sản 789 cây số vuông (năm 1999) trên dãi đất biên giới, 11.362 cây số vuông (năm 2000) trong vùng vịnh Bắc Việt, và mặc nhiên thỏa hiệp cho Trung Hoa cộng sản sáp nhập quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa vào huyện Tam Sa của Trung Hoa cộng sản (2007), cộng với nhiều chục ngàn công nhân lẫn đơn vị quân đội THCS trong khu vực khai thác quặng mỏ Bauxite vùng Dak Nong Cao Nguyên Miền Trung (năm 2008), và làm ngơ trước hằng những hành động tàu của Trung Cộng ngang nhiên ủi chìm tàu đánh cá Việt Nam ngay trong vùng biển của Việt Nam, rồi bắt hằng trăm ngư phủ buộc phải nộp tiền chuộc (2009-2010)
Kết luận.

Xin trích một đoạn trong bài viết ngày 16/8/2010 của tác giả Bùi Tín để kết luận bài này.

“..... Và khi mà Trung Cộng (Tác giả dùng chữ Trung Quốc, tôi mạn phép thay bằng chữ Trung Cộng. PB Hoa) đã nắm trọn chìa khóa về kinh tế -hiện họ đã trúng thầu hầu hết các công trình trọng điểm về khai khoáng, luyện kim, điện lực, cơ khí, giao thông… , khi họ vào sâu tận vùng chiến lược Tây nguyên, khi về chính trị họ có thể sai bảo Bộ chính trị ngoan ngoãn đến vậy, và khi họ cài được vào Bộ quốc phòng một con người thân tín - tình báo đầu sỏ lợi hại đến vậy- (tôi nghĩ tác giả muốn nói đến tên Nguyễn Chí Vịnh, Trung Tướng cộng sản, đang là Thứ Trưởng Quốc Phòng. PB Hoa), thì đất nước ta sẽ ra sao đây? Diễn biến hòa bình là đây chứ ở đâu! Không gặp kháng cự mạnh mẽ, họ sẽ làm tới! Và một cuộc đảo chính êm ru, theo tính toán, thăm dò từng bước, lặng lẽ, không tiếng súng, đang được thai nghén, đang diễn ra trước nhãn tiền. Đất nước lâm nguy! Thậm cấp! Chí nguy! Chí nguy! Kẻ thù không phải đã đến sát biên giới, không, kẻ bành trướng đã kéo quân vào sâu trong nội địa, chiếm lĩnh những lãnh vực, vị trí quyền lực xung yếu nhất. Mọi người Việt ta đã nhận rõ chưa?” Hết trích./.
Phạm Bá Hoa
Houston, 25 tháng 8 năm 2010.
Users browsing this topic
Guest
88 Pages«<6263646566>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.